1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện kỹ thuật sản xuất cá rô phi chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu

203 706 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện kỹ thuật sản xuất cá rô phi chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu
Tác giả Nguyễn Công Dân, Trần Đình Luân, Bùi Huy Cộng, Nguyễn Văn Chiến, Lê Minh Toán, Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Văn Sáng, Đinh Thị Thủy, Phạm Đình Khôi, Vũ Hải Định
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Công Dân
Trường học Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản 1
Thể loại Báo cáo tổng kết dự án
Năm xuất bản 2007
Thành phố Bắc Ninh
Định dạng
Số trang 203
Dung lượng 4,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm tắt báo cáo Dự án sản xuất thử: Hoàn thiện kỹ thuật sản xuất cá rô phi chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, thuộc chương trình KHCN cấp nhà nước ứng dụng công nghệ tiên tiến tron

Trang 1

Bộ thủy sản

Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I

=====================================

Báo cáo tổng kết dự án cấp nhà nước

Hoàn thiện kỹ thuật sản xuất

cá rô phi chất lượng cao

đạt tiêu chuẩn xuất khẩu

Trang 2

Tµi liÖu nµy ®−îc chuÈn bÞ trªn c¬ së kÕt qu¶ thùc hiÖn Dù ¸n s¶n xuÊt thö cÊp Nhµ n−íc, m· sè KC.06 – DA.12 NN

Danh s¸ch nh÷ng ng−êi thùc hiÖn

Hä vµ tªn Häc vÞ Chøc danh Tªn c¬ quan phèi hîp

NguyÔn C«ng D©n TiÕn sü Chñ nhiÖm Dù ¸n ViÖn NCNTTS 1

TrÇn §×nh Lu©n Th¹c sü Thµnh viªn ViÖn NCNTTS 1

Bïi Huy Céng Kü s− Thµnh viªn ViÖn NCNTTS 1

NguyÔn V¨n ChiÕn Ký s− Thµnh viªn ViÖn NCNTTS 1

Lª Minh To¸n Kü s− Thµnh viªn ViÖn NCNTTS 1

NguyÔn V¨n H¶o TiÕn sü Thµnh viªn ViÖn NCNTTS 2

NguyÔn V¨n S¸ng Th¹c sü Thµnh viªn ViÖn NCNTTS 2

§inh ThÞ Thñy Th¹c sü Thµnh viªn ViÖn NCNTTS 2

Ph¹m §×nh Kh«i Kü s− Thµnh viªn ViÖn NCNTTS 2

Vò H¶i §Þnh Th¹c sü Thµnh viªn ViÖn NCNTTS 2

Trang 3

Tóm tắt báo cáo

Dự án sản xuất thử: Hoàn thiện kỹ thuật sản xuất cá rô phi chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, thuộc chương trình KHCN cấp nhà nước (ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất các sản phẩm xuất khẩu và sản phẩm chủ lực) được Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt, cho phép tiến hành thực hiện từ tháng 1/2003 đến tháng 12/2004 và được

Bộ cho phép kéo dài đến 30/6/2005 để hoàn tất mọi nội dung nghiên cứu của dự án Mục tiêu của Dự án này là: 1) Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất cá rô phi

đơn tính với tỷ lệ đực đạt > 95 %, giá thành hạ ở quy mô sản xuất lớn, tạo ra sự ổn định về sản lượng giống chất lượng cao phục vụ nghề nuôi cá rô phi thương phẩm và 2) Xây dựng quy trình công nghệ nuôi cá rô phi cao sản, chất lượng cao trong ao và lồng bè, theo hướng công nghiệp mở rộng để áp dụng vào sản xuất

Để đạt được mục tiêu trên, phương án tiếp cận của Dự án là phối hợp thực hiện với

2 Viện NCNTTS 1, 2 và một số cơ sở sản xuất có khả năng đầu tư vốn và lao động cho mục tiêu sản phẩm khoa học và công nghệ của Dự án Tại Viện NCNTTS 1, Dự án đã sử dụng 5 tấn cá rô phi bố mẹ (1-3 năm tuổi, cỡ 250-500g/con) để sản xuất cá rô phi hương

đơn tính (cỡ 2-3 cm/con), trong đó các chỉ tiêu kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ, mùa vụ sinh sản, mật độ ương cá con thích hợp trong thời gian và sau khi xử lý hormon cần được nghiên cứu bổ sung để nâng cao năng suất sinh sản và tỷ lệ sống của cá con nhằm hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá rô phi đơn tính Tại Trung tâm giống thủy sản Cái Bè (Tiền Giang) thuộc Viện NCNTTS 2, 1,2 triệu cá hương rô phi đơn tính đã được Dự án chuyển từ Viện NCNTTS 1 vào để ương thành cá giống (cỡ 7-10 g/con) rồi phối hợp với 1 chủ bè và Công ty lương thực Vĩnh Long nuôi cá rô phi thương phẩm trong bè trên sông Tiền Giang, Vĩnh Long Dự án còn phối hợp với chủ nuôi cá lồng-Lê Thành Trung để nuôi cá rô phi thương phẩm trong 98 lồng lưới trên hồ chứa Đồng Quan, Sóc Sơn (Hà Nội), phối hợp với trại cá Đồng Kỵ, Từ Sơn (Bắc Ninh) để nuôi cá thịt trong 1,35 ha ao

đất Những chỉ tiêu kỹ thuật chính trong nuôi cá ao, lồng bè như mật độ thả thích hợp, chế

độ dinh dưỡng, thức ăn, quản lý môi trường và dịch bệnh được tiến hành nghiên cứu nhằm

đưa ra quy trình nuôi cá rô phi thương phẩm trong các hệ thống nuôi này với giá thành sản xuất hạ, dễ dàng áp dụng trong sản xuất và mang lại lợi ích kinh tế cao

Sau 30 tháng thực hiện, Dự án đã thu được đầy đủ các sản phẩm khoa học và sản phẩm công nghệ theo như Hợp đồng khoa học và phát triển công nghệ mà dự án đã ký với

Bộ Khoa học và Công nghệ Cụ thể là trên cơ sở hoàn thiện các chỉ tiêu kỹ thuật, dự án đã xây dựng được quy trình kỹ thuật sản xuất giống cá rô phi đơn tính đạt tỷ lệ cá đực trên

95 % và tỷ lệ sống trên 80 %, kỹ thuật nuôi cá rô phi thương phẩm công nghiệp trong lồng bè và ao đất đạt năng suất 60-70 kg/m3 bè, 40-45 kg/m3 lồng lưới và 20 tấn/ha ao

đất Về sản phẩm công nghệ, Dự án đã sản xuất được 8,7 triệu cá hương rô phi đơn tính

đạt các yêu cầu kỹ thuật đề ra (vượt 45 % so với mục tiêu: 6 triệu cá hương rô phi đơn tính), 345,5 tấn cá thịt (trong đó 295,9 tấn cá nuôi bè đạt kích thước 500-700g/con, 25 tấn cá thịt nuôi lồng lưới trên sông và 24,6 tấn nuôi ao; cỡ trên 500g/con) đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Trong tổng số 345,5 tấn cá thịt có 190 tấn xuất khẩu và 155,5 tấn tiêu thụ ở thị trường nội địa So với chỉ tiêu (250 tấn) thì Dự án đã vượt 38,2% Những quy trình kỹ thuật sản xuất giống rô phi đơn tính và nuôi cá rô phi thương phẩm theo hướng công nghiệp tập trung đã được xây dựng xong và sẽđược chuyển giao cho các cơ sở sản xuất

Trang 4

Mục lục

Trang

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước và trong nước 1

3.2.1 Hoàn thiện công nghệ sản xuất giống cá rô phi đơn tính 4 3.2.2 Xây dựng các chỉ tiêu kỹ thuật và công nghệ nuôi cá rô phi trong ao, lồng bè 4

4.1 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu của nội dung

Hoàn thiện công nghệ sản xuất giống cá rô phi đơn tính 5

4.2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu của nội dung

nuôi cá rô phi thương phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu 7

4.2.2 Nuôi cá trong bè (trên sông Tiền Giang) 8

5.1 Kết quả nghiên cứu, sản xuất thử để hoàn thiện quy trình

công nghệ sản xuất giống cá rô phi đơn tính 10 5.1.1 Thí nghiệm về năng suất sinh sản của cá bố mẹ 10 5.1.2 Thí nghiệm ương cá hương trong thời gian xử lý hormone (năm 2003 -2004) 10 5.1.3 Thí nghiệm ương cá giống sau thời gian xử lý hormone 11 5.1.4 Kết quả nghiên cứu sử dụng các liều hormone khác

5.1.5 Kết quả sản xuất cá hương rô phi đơn tính

(Kết quả chi tiết xem trong phụ lục 1: Sản xuất giống cá rô phi đơn tính) 13 5.1.6 Hiệu quả kinh tế của sản xuất giống cá rô phi 16 5.1.7 Quy trình công nghệ sản xuất giống rô phi đơn tính (xem quy trình) 17 5.2 Kết quả nghiên cứu, nuôi cá rô phi thâm canh trong ao, trong bè trên

Trang 5

6 Kết luận và kiến nghị 23

3.1 Sự biến động của các yếu tố môi trường trong ao nuôi thâm canh cá rô phi 41

Trang 6

3.1 Biến động các yếu môi trường xung quanh và trong bè cá 55 3.2 Tỷ lệ sống và tăng trưởng cá rô phi dòng GIFT nuôi thâm canh trong bè 59 3.3 Cơ cấu đàn cá, chất lượng thức ăn ảnh hưởng đến năng suất bè nuôi 59

Phụ lục 3.2: Nuôi thâm canh cá rô phi trong bè trên sông Tiền Giang năm 2004 63

2.1 Thiết kế lồng bè với việc sử dụng vật liệu thích hợp 63 2.2 Nhu cầu dinh dưỡng, thức ăn và phương pháp cho ăn để giảm hệ số thức ăn 63 2.3 Phương pháp quản lý môi trường nuôi và sản phẩm nuôi sạch 63

Phụ lục 4: Nuôi thâm canh cá rô phi trong lồng lưới trên sông và hồ 68

2.4 Thu thập và xử lý số liệu

3.1 Kết quả nuôi cá rô phi thương phẩm trong lồng trên hồ chứa 72 3.2 Kết quả nuôi cá rô phi thương phẩm trong lồng trên sông 74 3.3 Phân tích hiệu quả kinh tế của nuôi cá rô phi nuôi trong lồng lưới 75

Trang 8

Bộ Khoa học và công nghệ

Báo cáo tổng kết dự án

Tên Dự án: Hoàn thiện kỹ thuật sản xuất cá rô phi

chất lợng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu

Mã số: KC.06 – DA 12 NN

Thuộc chơng trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nớc giai đoạn 2001-2005: ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất các sản phẩm xuất khẩu và sản phẩm chủ lực

Trang 9

1 Đặt vấn đề (xuất xứ của dự án)

95 % Cho đến nay, công nghệ sản xuất cá rô phi đơn tính đã được chuyển giao cho một

số trung tâm giống thủy sản cấp tỉnh và trại cá giống tư nhân Tuy nhiên, công nghệ này chưa được thực hiện ở phạm vi sản xuất lớn, thêm vào đó các trung tâm sản giống thủy sản tiếp nhận công nghệ vẫn chưa có khả năng sản xuất giống đạt tỷ lệ chuyển giới tính cao và hạ giá thành sản xuất Một số chỉ tiêu kỹ thuật cần được nghiên cứu thêm để hoàn chỉnh quy trình công nghệ sản xuất giống rô phi đơn tính như: xác định tuổi cá bố mẹ và

kỹ thuật nuôi vỗ thích hợp để nâng cao năng suất sinh sản và tỷ lệ sống của cá con trong

và sau khi xử lý hormon 17 α - Methyltestossterone

- Đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật nuôi cá rô phi cao sản” với giống thả là cá rô phi

đơn tính đã được thực hiện tại Viện NCNTTS 1 trong 3 năm (1998-2000), và đã thu được năng suất cá nuôi đạt > 20 tấn/ha/vụ (5-6 tháng) với cỡ cá đạt bình quân là 400g/con Tuy nhiên, giá thành sản xuất còn khá cao trong đó chi phí cho thức ăn chiếm tới 80 %, nên sản xuất không có lãi Với kết quả nghiên cứu này thì đề tài chưa thể đưa ra được hướng dẫn kỹ thuật để áp dụng trong sản xuất Từ năm 2001 đến nay, Viện vẫn tiếp tục đề tài nghiên cứu này và đã thu được kết quả khả quan hơn, năng suất cá nuôi đạt 20 tấn/ha/vụ (6 tháng), cỡ cá thương phẩm bình quân đạt 500 g và đã giảm được hệ số thức ăn, nên đã thu được lãi suất 60 triệu đồng/ha/vụ Để thu được cỡ cá nuôi lớn hơn với chất lượng thương phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, đồng thời thu được lợi nhuận cao trong mô hình nuôi thâm canh tập trung ở các hệ thống nuôi lồng, bè, ao đất thì các chỉ tiêu kỹ thuật như mật độ cá thả, dinh dưỡng thức ăn, quản lý môi trường và dịch bệnh cần được tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm, từ đó hoàn thiện thêm quy trình công nghệ nuôi để chuyển giao cho các cơ sở sản xuất

- Đề tài “Chọn giống cá rô phi Oreochromis niloticus dòng GIFT nhằm nâng cao

sức sinh trưởng và khả năng chịu lạnh” đã được thực hiện tại Viện NCNTTS 1 từ năm

1998 đến 2000 Sau 3 năm thực hiện, đề tài đã chọn được dòngcá có sức sinh trưởng cao hơn dòng cá gốc là 20 % Dòng rô phi GIFT chọn giống đã được phát tán rộng trong cả nước để thay thế các dòng cá rô phi địa phương, góp phần nâng cao nâng suất và sản lượng cá rô phi nuôi Cá rô phi dòng GIFT vẫn đang được Viện tiến hành nghiên cứu chọn giống và sử dụng để sản xuất cá giống đơn tính phục vụ nuôi thương phẩm

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước và trong nước

Trong thập kỷ qua, sản lượng cá rô phi của thế giới đã tăng lên gấp đôi; từ 830.000 tấn (năm 1990) tăng lên 1,6 triệu tấn (năm 1999) (Helga, 2001) Trong đó sản lượng cá nuôi tăng từ 400,000 tấn lên hơn 1 triệu tấn Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực của

Trang 10

đạt 2 triệu tấn, riêng sản lượng cá nuôi đạt khoảng 1,4 triệu tấn Các nước châu á đóng góp tới 80 % tổng sản lượng cá rô phi nuôi của thế giới (Helga, 2001)

Trung Quốc, Ai Cập, Thái Lan, Philippines, Đài Loan, Indonesia là những nước

đang đứng đầu thế giới về sản lượng cá rô phi nuôi (Pullin và Capili 1988, Capili 1995, Macintosh và Little 1995, Guerrero 1996) Trong năm 1999, Sản lượng cá rô phi nuôi của Trung Quốc đạt 600.000 tấn, và sẽ còn tăng hơn nhiều trong những năm tới khi mà cá rô phi đã được xác định là đối tượng nuôi quan trọng ở nước này Sản lượng cá rô phi nuôi hiện nay ở Thái Lan chiếm trên 50 % tổng sản lượng cá nuôi nước ngọt Cá rô phi là loài cá đứng thứ 10 trong số những loài cá nuôi có giá trị kinh tế trên thế giới ở Mỹ, cá rô phi phi được xếp vào hàng thứ 3 sau cá hồi và cá nheo

Công nghệ nuôi cá rô phi trên thế giới ngày càng được phát triển nhằm thu được năng suất cao và tạo ra lượng sản phẩm tập trung Các hệ thống nuôi bao gồm nuôi thâm canh trong ao xây, hệ thống bể nước chảy, trong lồng bè trên sông hồ Hệ thống nuôi cá rô phi thâm canh trong ao xây được áp dụng rộng rãi ở các nước như Đài Loan, Trung Quốc và Thái Lan Hệ thống nuôi này đã cho năng suất từ 10-50 tấn/ha/năm Nuôi cá rô phi trong lồng bè là rất phổ biến ở Đài Loan, Indonesia, Phillipines, Malaysia Năng suất cá rô phi nuôi lồng dao động từ 40-300kg/m3tuỳ thuộc vào kích thước lồng và trình độ thâm canh Lồng có kích thước nhỏ sẽ cho năng suất cao hơn lồng nuôi có kích thước lớn

do khả năng trao đổi nước trong và ngoài lồng cao hơn Lồng nuôi cá rô phi có kích thước giới hạn từ 5-20m3 là phù hợp nhất (Schmittou và ctv 1998) Nuôi cá rô phi trong hệ thống nước chảy cho năng suất tương đương với nuôi trong lồng bè, song cần đầu tư nhiều về cơ sở hạ tầng và kỹ thuật nên ít được áp dụng

Cá rô phi vừa là đối tượng nuôi phục vụ tiêu thụ nội địa, cung cấp nguồn đạm

động vật rẻ tiền cho người dân nghèo, vừa có thể xuất khẩu thu ngoại tệ Thị trường tiêu thụ cá rô phi lớn nhất trên thế giới là Mỹ Hiện thời, giá 1 pound (0,45 kg) fi lê cá rô phi dao động từ 2,5-3 Đô la (Helga, 2001) ở thị trường Mỹ Các nước xuất khẩu cá rô phi lớn nhất trên thế giới gồm có Đài Loan, Thái Lan, Indonesia, Singapore, Costa Rica và Ecuador (Helga, 2001)

Trong tổng sản lượng cá rô phi nuôi của thế giới thì sản lượng cá rô phi vằn (Nile

tilapia) Oreochromis niloticus chiếm tới 80 % Loài cá có nguồn gốc từ sông Nile (Ai

Cập) này có tốc độ sinh trưởng nhanh, cỡ cá thương phẩm lớn và cho tỷ lệ thịt cao hơn so với các loài rô phi khác, chính vì thế mà nó được nuôi ở hầu hết các nơi trên thế giới

Năm 1973, loài cá rô phi vằn đã được nhập vào miền nam nước ta từ Đài Loan, sau

đó nó được phát tán nuôi trong cả nước ở thập kỷ 70-80 Tuy nhiên, do sự tạp giao với

loài cá rô phi đen Oreochromis mossambicus trong các hệ thống nuôi, khiến cho chất

lượng di truyền của loài cá rô phi vằn này đã bị thoái hoá, kéo theo sản lượng cá rô phi của nước ta trong những năm cuối 80 đầu 90 bị giảm sút nghiêm trọng (Nguyễn Công Dân và ctv, 1997) Để góp phần khôi phục và phát triển nghề nuôi cá rô phi ở nước ta,

trong những năm 1994-1997, Viện NCNTTS 1 đã nhập nội và thuần hoá 3 dòng rô phi

Oreochromis niloticus từ Philippines và Thái Lan Trong đó, dòng GIFT là dòng có sức

sinh trưởng cao nhất, nó được sản xuất tiếp nhận và phát triển ở nhiều nơi, đặc biệt là ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng (Nguyễn Công Dân và ctv, 2000) Để ổn định và nâng cao phẩm giống của dòng rô phi (GIFT) mới nhập, từ năm 1998 đến nay, Viện đã tiến hành chương trình chọn giống dòng cá này nhằm tăng sức sinh trưởng và khả năng chịu lạnh

Trang 11

Sau 3 năm thực hiện, đến năm 2000 đã chọn được đàn cá rô phi có sức sinh trưởng cao hơn 16,6 % so với đàn cá GIFT thường (Nguyễn Công Dân và ctv, 2001) Chương trình chọn giống này vẫn đang được tiến hành ở Viện NCNTTS 1 với nguồn kinh phí của dự án NORAD Từ năm 2000 đến nay, dòng cá GIFT chọn giống đã được công nhận là ưu việt

và đề nghị phát tán nuôi trong cả nước Trong năm 2004, thực hiện dự án phát tán giống rô phi dòng GIFT của Trung tâm khuyến ngư Quốc gia, Viện NCNTTS 1 đã cấp hơn 1,5

triệu cá GIFT giống thế hệ thứ 3-4 cho 60 tỉnh thành để nuôi thành cá bố mẹ, sản xuất

giống, cung cấp cho người nuôi

Cùng với chương trình chọn giống, điều khiển giới tính cá rô phi dòng GIFT cũng

đã được tiến hành và tốc độ sinh trưởng của rô phi GIFT đơn tính trong nuôi thương phẩm cũng đã được khảo nghiệm tại Viện NCNTTS 1 ở cả hai hệ thống nuôi trong ao đất và bể

xi măng Kết quả cho thấy rằng cá rô phi đơn tính dòng GIFT lớn nhanh hơn dòng Thái Lan và đặc biệt là có thể nuôi đến cỡ cá thương phẩm lớn (> 1 kg) Trong những năm 2000-2003, Viện NCNTTS 1 đã sản xuất được 3-4 triệu con rô phi đơn tính/năm, cung cấp cho nhiều tỉnh thành trong cả nước để nuôi thương phẩm trong ao đất, lồng bè trên sông đạt cỡ cá xuất khẩu (500 g/con) Theo báo cáo của sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh An Giang thì cá rô phi đơn tính dòng GIFT (mua từ Viện NCNTTS 1 năm 2001) nuôi thương phẩm trong lồng bè trên sông Tiền Giang đã cho kết quả rất khả quan

Đó là cá lớn nhanh, đạt kích thước thương phẩm lớn, giá thành sản xuất 1 kg cá thương phẩm chỉ có dưới 10.000 đồng, trong khi đó giá bán cho công ty xuất khẩu là 13.000

đồng/kg (cá nguyên con), vì thế người nuôi đã thu được 3.000 đồng lãi /kg cá Cũng từ năm 2000 - 2003, Viện NCNTTS 1 đã chuyển giao công nghệ sản xuất giống cá rô phi

đơn tính cho khoảng 24 tỉnh, trong đó một số tỉnh đã sản xuất được con giống và một số công ty tư nhân đã sản xuất được một số lượng lớn cá giống rô phi đơn tính

Tình hình nuôi cá rô phi ở nước ta trong những năm vừa qua chưa được phát triển

do cá rô phi vẫn chỉ được coi là loài cá thứ yếu trong cơ cấu đàn cá nuôi nước ngọt ở miền bắc, cá rô phi được nuôi ở 1 số tỉnh như Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh Vĩnh Phúc và Bắc Giang ở miền nam, cá rô phi được nuôi chủ yếu ao đầm thuộc các tỉnh miền Đông, thành phố Hồ Chí Minh và trong lồng bè trên sông Tiền và sông Hậu Theo báo cáo của Bộ Thủy sản tại hội nghị cá rô phi tổ chức ở tỉnh An Giang (ngày 12/8/2002), sản lượng cá rô phi nuôi của cả nước trong năm 2001 chỉ đạt khoảng

1000 tấn, trong đó tiêu thụ ở thị trường nội địa là chủ yếu Tình hình xuất khẩu cá rô phi thương phẩm mới chỉ bắt đầu trong vòng 2 năm trở lại đây do 1 số công ty xuất nhập khẩu ở An Giang, Vĩnh Long xuất sang thị trường Mỹ và châu Âu Sản lượng cá rô phi xuất khẩu ước tính mới chỉ đạt khoảng vài trăm tấn/năm

Hiện nay, phong trào nuôi cá rô phi đang phát triển mạnh, nhất là từ khi có nghị

định 80 CP của chính phủ về khuyến khích tiêu thụ sản phẩm nông sản xuất khẩu Thực

tế là nhu cầu về giống rô phi đơn tính ngày càng tăng trong khi sản lượng giống chưa đáp ứng nhu cầu của sản xuất Mặt khác, do sử dụng các dòng rô phi địa phương để sản xuất giống đơn tính nên chất lượng con giống của nhiều cơ sở sản xuất cũng chưa đảm bảo khiến cho người nuôi gặp nhiều rủi ro như cá chậm lớn, cỡ cá thương phẩm nhỏ dẫn đến năng suất nuôi thấp và không có lãi Việc phát triển nuôi cá rô phi thương phẩm ở các hệ thống ao, lồng bè trên sông, hồ theo hướng công nghiệp tập trung đòi hỏi cần có quy trình công nghệ tiên tiến, ổn định để áp dụng Hiện tại, Viện NCNTTS 1 đang nuôi đàn cá bố mẹ dòng GIFT chọn giống bao gồm hàng vạn con, có khả năng tạo ra một lượng

Trang 12

giống rô phi dòng GIFT để nuôi thành cá bố mẹ Nếu các địa phương quản lý tốt đàn giống và có kỹ thuật sản xuất giống ổn định thì dòng cá rô phi GIFT sẽ được phát triển nuôi trong cả nước

Dự án “Hoàn thiện kỹ thuật sản xuất cá rô phi chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu” được thực hiện sẽ bổ sung hoàn chỉnh và nâng cao thêm trình độ công nghệ sản xuất giống rô phi đơn tính và công nghệ nuôi cá rô phi cao sản Sau đó, những quy trình này sẽ mau chóng được chuyển giao, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của sản xuất hiện nay Mặt khác, đưa nhanh một dòng cá rô phi (GIFT) có chất lượng cao vào sản xuất để có

được hiệu quả kinh tế cao hơn là rất cần thiết

3 Mục tiêu và nội dung dự án

3.1 Mục tiêu

Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất giống cá rô phi đơn tính với tỷ lệ đực đạt

> 95 %, giá thành hạ ở quy mô sản xuất lớn, tạo ra sự ổn định về sản lượng giống chất lượng cao phục vụ nghề nuôi cá rô phi thương phẩm

Xây dựng quy trình công nghệ nuôi cá rô phi cao sản, chất lượng cao trong ao và lồng bè, theo hướng công nghiệp mở rộng để áp dụng vào sản xuất

3.2 Nội dung

3.2.1 Hoàn thiện công nghệ sản xuất giống cá rô phi đơn tính

Để hoàn thiện công nghệ sản xuất giống cá rô phi đơn tính, một số chỉ tiêu kỹ thuật cần phải được nghiên cứu bổ sung như: xác định tuổi, phương pháp nuôi vỗ và thời gian cho đẻ phù hợp để thu được năng suất sinh sản cao Xác định mật độ ương cá bột, cá hương hợp lý trong thời gian và sau khi xử lý hormone để nâng cao tỷ lệ sống của cá Những chỉ tiêu kỹ thuật bổ sung này được nghiên cứu đồng thời trong quá trình sản xuất thử Những kết quả nghiên cứu kịp thời được kiểm nghiệm trong sản xuất thử với sản lượng lớn cá giống để khảng định tính ổn định của công nghệ và làm cơ sở cho việc xây dựng quy trình kỹ thuật

Sản phẩm khoa học công nghệ của nội dung nghiên cứu này là: 1) Quy trình sản xuất giống cá rô phi đơn tính chất lượng cao và 2) Sản lượng cá hương rô phi đơn

tính là 6 triệu con (cỡ cá: 2-3 cm/con, tỷ lệ cá đực đạt: > 95%, tỷ lệ sống đạt > 80%

3.2.2 Xây dựng các chỉ tiêu kỹ thuật và công nghệ nuôi cá rô phi trong ao, lồng bè

Những chỉ tiêu kỹ thuật cần xác định là: mật độ cá giống thả, thức ăn và phương pháp cho ăn, sức sinh trưởng, theo dõi môi trường và bệnh cá trong các hệ thống nuôi ao, lồng/bè trên sông và hồ Những chỉ tiêu kỹ thuật này được theo dõi trong quá trình sản xuất thử Trong đó một số thí nghiệm so sánh về hiệu quả của các loại thức ăn khác nhau lên tốc độ sinh trưởng của cá nuôi trong bè, lồng lưới đã được tiến hành Hệ số sử dụng thức ăn và giá thành sản xuất trong các hệ thống nuôi cũng đã được xác định

Trang 13

Sản phẩm khoa học công nghệ của nội dung nghiên cứu này là: 1) Quy trình công

nghệ nuôi cá rô phi cao sản chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu (năng suất nuôi đạt

100 kg/m3 bè, 20-25 tấn/ha ao, cỡ cá thương phẩm đạt 800g và 2) Sản lượng 250 tấn cá

thương phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu

4 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu của nội dung: Hoàn thiện công nghệ sản

xuất giống cá rô phi đơn tính

4.1.1 Vật liệu

Cá bố mẹ: đàn cá bố mẹ rô phi dòng GIFT lấy từ Viện NCNTTS 1, lứa tuổi từ 1-3

năm, tỷ lệ cá đực: cá cái là 1:2 Số lượng cá bố mẹ đã sử dụng trong sản xuất thử được

trình bày trong Bảng 1

Bảng 1: Số lượng cá bố mẹ đã dùng để sản xuất cá giống

Đàn cá bố mẹ Năm

Số lượng (con)

Khối lượng TB (g/con)

Tổng khối lượng (kg)

Ao sử dụng để nuôi vỗ cá bố mẹ và ương cá con: Dự án đã sử dụng 6 ao tại Viện

NCNTTS 1, có diện tích từ 1000 m2 - 6000 m2 để nuôi vỗ cá bố mẹ, cho cá đẻ và ương cá

con Ao có độ sâu từ 1,5 -3,5 m, có nguồn nước sạch, không bi ô nhiễm đảm bảo cho việc

sinh sản, ấp trứng và ương cá con (Bảng 2)

Bảng 2: Số lượng, diện tích ao nuôi vỗ và ương cá con

Ao nuôi vỗ cá bố mẹ Ao ương cá con Năm

Số lượng (cái) T.diện tích (m2) Số lượng (cái) T.diện tích (m2)

Giai sử dụng để nuôi vỗ, cho cá đẻ và ương cá con: Giai nuôi vỗ và cho cá đẻ được

làm bằng lưới cước, mắt lưới dầy, kích thước giai: 8 x 5 x 1,2 m Giai ương cá con trong

thời gian xử lý hormone cũng được làm bằng lưới cước mắt dầy, kích thước: 2 x 2 x 1 m

Trang 14

Bảng 3: Số lượng, thể tích giai nuôi vỗ, cho đẻ và ương cá con

Thức ăn dùng nuôi cá bố mẹ và ương cá con: Thức ăn viên dùng để nuôi cá bố mẹ

được sản xuất tại Viện NCNTTS 1 từ những nguyên liệu địa phương như: bột cá nhạt, bột

đậu tương, khô đỗ, cám gạo và các loại vitamine cần thiết Hàm lượng đạm thô của loại thức ăn tự chế này dao động từ 25- 30 % Thức ăn có độ đạm cao được cho cá ăn trong thời gian nuôi vỗ thành thục Thức ăn cho cá bột trong giai đoạn xử lý hormone là một loại thức ăn đặc biệt, thức ăn này chỉ có 2 thành phần chính là bột cá mịn trộn với hormone 17α - Methyltestossterone (17α - MT) áp dụng 3 công thức phối trộn loại thức ăn này ứng với 3 liều lượng hormone: 35, 50 và 60 mg 17α - MT được hoà tan trong 0,5 lít cồn tuyệt đối rồi trộn vào 1 kg bột cá mịn, phơi trong bóng mát cho đến khi cồn bay hết và thức ăn khô Cả 2 loại thức ăn đều được bảo quản nơi khô ráo để không bị mốc (Bảng 4)

Bảng 4: Lượng thức ăn dùng nuôi cá bố mẹ và ương cá bột trong giai đoạn xử lý hormone

- Số lượng khay ương ấp: 150 chiếc

- Công suất ương ấp: 4-6 triệu cá bột/mùa sinh sản

4.1.2 Phương pháp

• Hoàn thiện công nghệ sản xuất giống cá rô phi đơn tính được thực hiện tại Viện NCNTTS 1, nơi có đầy đủ các điều kiện vật chất (cá bố mẹ, nhà ương ấp, ao hồ, nguồn nước sạch, phòng thí nghiệm) và nhân lực kỹ thuật để tiến hành nội dung này

• Sử dụng cá rô phi dòng GIFT chọn giống (của Hợp phần chọn giống cá rô phi, Dự án NORAD đang thực hiện tại Viện NCNTTS 1) để nuôi thành cá bố mẹ

• Nuôi vỗ cá bố mẹ trong ao đất đến khi cá phát dục thì chuyển vào giai để nuôi vỗ thành thục, cho cá đẻ và thu trứng Trước khi đưa vào nuôi vỗ, cá bố mẹ được tuyển chọn theo những tiêu chuẩn sau: chọn những cá thể cá bố mẹ khoẻ mạnh, không bị di hình, lứa tuổi từ 1-3 năm tuổi, khối lượng cá thể dao động từ 250-500g/con, tỷ lệ cá

đực: cá cái là 1:2 Đã bố trí thí nghiệm so sánh khả năng sinh sản của cá bố mẹ ở các lứa tuổi khác nhau để xác định lứa tuổi phù hợp, cho năng suất sinh sản cao

Trang 15

• Xác định mùa vụ sinh sản chính để cho cá đẻ tập trung Trong điều kiện khí hậu nóng quanh năm như ở miền nam, cá rô phi có thể đẻ mỗi tháng một lứa Còn ở các tỉnh phía bắc có khí hậu lạnh vào mùa đông thì cá ngừng đẻ trong thời gian từ tháng 11

đến tháng 3 năm sau Tuy nhiên, vào những tháng hè khi nhiệt độ nước tăng trên 30oC thì rất ít cá đẻ và trong thực tế khi cá đã đẻ 3 lứa liên tục, năng suất sinh sản giảm đi

rõ rệt ở những lứa đẻ tiếp theo Để cho cá đẻ tập trung và cho năng suất cao, sau 3 tháng cho đẻ liên tục, cá bố mẹ đã được ngừng cho đẻ bằng cách thả cá ra ao đất và nuôi bình thường trong khoảng 1 tháng, sau đó cá bố mẹ lại được nuôi vỗ tích cực để cho đẻ ở chu kỳ tiếp theo

• Thí nghiệm so sánh liều lượng hormone (17α-MT) và mật độ ương cá con khác nhau (trong và sau giai đoạn xử lý hormone) nhằm xác định liều lượng hormone và mật độ

ương hợp lý để nâng cao tỷ lệ sống đã được bố trí thực hiện Kết quả thí nghiệm đã

được áp dụng để kiểm nghiệm trong sản xuất thử

• Tỷ lệ cá đực của mỗi đợt sản xuất giống đều đã được kiểm tra (soi tiêu bản tuyến sinh dục nhuộm mầu dưới kính hiển vi) và ghi chép lại tỷ lệ cá đực của tất cả các đợt sản xuất để xác định mức độ ổn định của công nghệ sản xuất giống cá rô phi đơn tính Tất cả những giải pháp kỹ thuật bổ sung trên nhằm nâng cao năng suất và chất lượng cá giống, giảm giá thành sản xuất so với quy trình công nghệ hiện hành Dây truyền công nghệ sản xuất giống cá rô phi đơn tính được mô tả tóm tắt như sau:

• Những số liệu về môi trường ao nuôi vỗ và ương cá con đã được thu và xử lý: Nhiệt

độ, ô xy hoà tan, pH, CO2, H2S

• Những số liệu về năng suất sinh sản và tỷ lệ sống của cá con đã được thu và xử lý: Số lượng trứng/cá thể/đợt đẻ, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ cá nở và ra bột, tỷ lệ sống của cá 21 ngày tuổi (sau thời gian xử lý hormone), tỷ lệ sống của cá giống (3-5g/con) ương sau giai đoạn xử lý hormone, tỷ lệ cá đực trong các lần sản xuất thử

4.2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu của nội dung nuôi cá rô phi thương phẩm

đạt tiêu chuẩn xuất khẩu

4.2.1 Nuôi cá trong ao

- Địa điểm: Đồng Kỵ, Đồng Quang, Từ Sơn, Bắc Ninh

- Thời gian nuôi: 6 tháng (15/4/2003 – 15/10/2003)

- Số lượng ao: 2 cái Diện tích: 1,35 ha

ương cá bột trong 3 ngày

Trang 16

Dự án đã phối hợp với Trại nuôi cá Đồng Kỵ, Từ Sơn (Bắc Ninh) để nuôi cá rô phi thương phẩm trong ao Dự án chịu những trách nhiệm sau:

- ương cá giống rô phi đơn tính dòng GIFT (đảm bảo tỷ lệ cá đực đạt trên 95 %)

để cung cấp cho cơ sở thả nuôi từ đầu tháng 3 khi nhiệt độ nước tăng trên 20oC

- Hướng dẫn kỹ thuật chuẩn bị ao, thả cá, cho cá ăn, thay nước, quạt nước, thu hoạch và tiêu thu sản phẩm

- Theo dõi các yếu tố môi trường ao nuôi như: nhiệt độ, ô xy hoà tan, pH, độ trong, H2S, NH3

- Kiểm tra tốc độ sinh trưởng của cá hàng tháng, điều chỉnh luợng thức ăn cho phù hợp với khối lượng tăng trưởng của cá trong ao

- Thu mẫu để kiểm tra bệnh cá, đề ra các biện pháp phòng trị thích hợp

- Hướng dẫn cơ sở ghi chép các loại chi phí sản xuất, thu nhập và phân tích hiệu quả kinh tế về nuôi cá rô phi thương phẩm trong ao

- Xây dựng những chỉ tiêu kỹ thuật, kinh tế trong nuôi cá rô phi thương phẩm trong ao để cho cơ sở sản xuất áp dụng và nhân nhân rộng mô hình nuôi

- Phân tích giá thành sản xuất, thu nhập và lợi nhuận của mô hình nuôi

Trại nuôi cá Đồng Kỵ chịu trách nhiệm:

- Cung cấp ao có nguồn nước tốt đảm bảo nuôi cá đạt chất lượng cao

- Cung cấp nhân lực lao động

- Đầu tư kinh phí để mua cá giống, thức ăn cho cá, mua máy quạt nước

- Chi phí điện, nước, giao thông liên lạc

- Thu hoạch và tiêu thụ sản phẩm

4.2.2 Nuôi cá trong bè (trên sông Tiền Giang)

- Địa điểm: Vĩnh Long

- Chuyển cá hương rô phi đơn tính dòng GIFT (đảm bảo tỷ lệ cá đực đạt trên 95

%) từ Viện NCNTTS 1 vào ương ở Trung tâm thủy sản Cái Bè, Tiền Giang (thuộc Viện NCNNTS 2) thành cá giống lớn rồi cung cấp cho cơ sở sản xuất

- Hướng dẫn kỹ thuật chuẩn bị bè, thả cá, cho cá ăn, thu hoạch và tiêu thu sản phẩm

- Theo dõi các yếu tố môi trường nước trong bè như: nhiệt độ, ô xy hoà tan, pH

- Kiểm tra tốc độ sinh trưởng của cá hàng tháng, điều chỉnh luợng thức ăn cho phù hợp với khối lượng tăng trưởng của cá trong bè

- Nghiên cứu tập tính ăn, dinh dưỡng, so sánh hiệu quả của các loại thức ăn công nghiệp và thức ăn tự chế đối với cá rô phi nuôi thương phẩm trong bè

- Nghiên cứu bệnh cá nuôi trong bè, đề ra các biện pháp phòng trị kịp thời và thích hợp

Trang 17

- Hướng dẫn cơ sở ghi chép các loại chi phí sản xuất, thu nhập và phân tích hiệu quả kinh tế về nuôi cá rô phi thương phẩm trong bè

- Xây dựng những chỉ tiêu kỹ thuật, kinh tế trong nuôi cá rô phi thương phẩm trong bè để cho cơ sở sản xuất áp dụng và nhân rộng mô hình nuôi

- Phân tích giá thành sản xuất, thu nhập và lợi nhuận của mô hình nuôi

Chủ bè và Công ty lương thực chịu trách nhiệm:

- Cung cấp đủ số lượng và khối lượng bè, đảm bảo nuôi cá an toàn

- Cung cấp nhân lực lao động

- Đầu tư kinh phí để mua cá giống, thức ăn cho cá và thuốc phòng trị bệnh

- Chi phí điện, nước, giao thông liên lạc

- Thu hoạch và tiêu thụ sản phẩm

4.2.3 Nuôi cá trong lồng lưới trên hồ chứa

- Địa điểm: Đồng Quan, Sóc Sơn, Hà Nội

- Thời gian: 10/6/2004 đến 10/12/2004

- Số lượng lồng: 98 chiếc

- Kích thước lồng: 2 x 2 x 2 m Tổng thể tích: 588 m3

- Số lượng cá giống thả: 58.800 con Cỡ cá: 20-50 g/con

- Loại thức ăn công nghiêp (22-26 % đạm) Khối lượng: 10.000 kg

- Phân tích giá thành sản xuất, thu nhập và lợi nhuận của mô hình nuôi

Chủ nuôi cá lồng chịu trách nhiệm:

- Làm đủ số lượng và khối lượng lồng, đảm bảo nuôi cá an toàn

- Cung cấp nhân lực lao động

- Đầu tư kinh phí để mua cá giống, thức ăn cho cá và thuốc phòng trị bệnh

- Chi phí điện, nước, giao thông liên lạc

Trang 18

11

5 Kết quả và thảo luận

5.1 Kết quả nghiên cứu, sản xuất thử để hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất giống cá rô phi đơn tính

5.1.1 Thí nghiệm về năng suất sinh sản của cá bố mẹ

Nghiên cứu về nâng cao năng suất sinh sản của cá bố mẹ được tiến hành trên 3 thí nghiệm so sánh: 1) Nuôi vỗ riêng và nuôi vỗ chung cá bố mẹ; 2) Cho cá đẻ trong giai có mắt lưới dầy và giai có mắt lưới thưa và 3) So sánh năng suất sinh sản của cá bố mẹ ở các

độ tuổi khác nhau Kêt quả của các thí nghiệm nghiên cứu này được trình bày chi tiết trong chuyên đề: Nâng cao năng suất sinh sản của cá rô phi (xem trong chuyên đề)

Trong 3 thí nghiệm thì thí nghiệm 3 là thí nghiệm quan trọng nhất Thí nghiệm này được tiến hành trong 2 tháng (từ 27/4 đến 7/6/2004) Kết quả thí nghiệm 3 được trình bày tóm tắt trong bảng 5 dưới đây:

Bảng 5 So sánh năng suất sinh sản của cá bố mẹ thuộc 3 lứa tuổi (1, 2 và trên 3 năm tuổi)

Kết quả sinh sản (SL: trứng + cá bột)

Năng suất cá bột (SL cá bột/cá cái) 1+ 300 1:3 213 - 261 363.381 + 35.298 3.230

2+ 300 1:3 488 - 585 425.669 + 60.606 3.793

> 3+ 300 1:3 550 - 700 335.319 + 83.476 2.987

Dựa vào kết quả của 3 nội dung nghiên cứu trên, một số kết luận đã được đề xuất như sau ;

- Nuôi vỗ cá đực, cá cái riêng rẽ trong ao, trong thời gian 1 tháng với loại thức ăn

có chứa 26 -30% đậm, khẩu phần cho ăn bằng 3% khối lượng cá/ngày, sau đó chọn các cá cái, cá đực thành thục đưa vào giai sinh sản sẽ thu được số lượng cá đẻ tập trung và năng suất trứng cao

- Giai cước mắt lưới dầy (kích thước: 4 m x 5m x 1 m = 20m3) dùng làm giai sinh sản đã thu được trứng và toàn bộ cá bột mới nở trong giai Xử lý hormone trên cá bột thu

được trong giai cho tỷ lệ cá đực và tỷ lệ sống cao, nhờ đó đã thu được năng suất cá hương

đơn tính cao

- Sử dụng cá bố mẹ 1+ hoặc 2+ cho năng suất sinh sản cao hơn so với cá > 3 tuổi do tần số đẻ dầy hơn Cá 1-2 tuổi có kích thước cơ thể nhỏ nên sử dụng thức ăn ít hơn cá lớn, vì thế đã giảm được chi phí trong quá trình sản xuất giống

5.1.2 Thí nghiệm ương cá hương trong thời gian xử lý hormone (năm 2003 -2004)

Trong 2 năm 2003 -2004, Dự án đã tiến hành 5 đợt ương cá bột thành cá hương (trong giai đoạn xử lý hormone) để xác định mật độ ương thích hợp Kết quả của 5 đợt

Trang 19

ương được trình bày trong bảng 6 (xem chi tiết trong chuyên đề: Nâng cao tỷ lệ sống của cá hương, cá giống cá rô phi đơn tính

Bảng 6: Tỷ lệ sống và sinh trưởng của cá hương ương ở các mật độ khác nhau

(con/m3)

Cỡ cá bột khi thả (g/con)

Cỡ cá hương khi thu (g/con)

0,81 0,60 0,57

95,5 97,3 94,3

2 800

10.000 12.000

0,025 0,025 0,025

0,55 0,34 0,25

95,3 86,5 64,0

3 6.000

8.000 10.000

0,022 0,022 0,022

0,71 0,61 0,36

92,7 89,1 84,0

4 5.000

7.000 9.000

0,022 0,022 0,022

0,77 0,63 0,47

87,6 84,2 78,5

5 10.000

15.000 20.000

0,022 0,022 0,022

0,12 0,08 0,07

89,5 88,0 87,0

Tỷ lệ sống của cá ương từ bột lên hương khá cao, đạt mức trung bình của 4 đợt

ương là >80% Tỷ lệ sống trung bình của cá trong đợt 1 đạt cao nhất (95,3%), giá trị tương ứng của đợt 2, đợt 3, đợt 4 là: 81,9%; 88,6%; 84,1 và 88,1% Trong khi đó mật độ thả của đợt 1 là thấp nhất, tiếp đến là đợt 4, đợt 3 và đợt 2 Tỷ lệ sống của các mật độ

ương có sự khác biệt có ý nghĩa (p < 0,05) giữa mật độ 12.000 con/m3 với các mật độ từ 2.000 đến 10.000 con/m3 Còn giữa các mật độ từ 2.000 đến 10.000 con/m3 thì sự sai khác về tỷ lệ sống không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

Kết quả thí nghiệm với mật độ ương thay đổi từ 2.000 đến 12.000 con/m3 cho thấy khi mật độ càng tăng thì tỷ lệ sống có chiều hướng giảm Để đảm bảo tỷ lệ sống của cá

ương đạt > 80% thì mật độ ương cần được duy trì ở mức 8.000 con/m3

Kích thước cá hương ương ở mật độ cao: 10.000 -20.000/m3 là nhỏ hơn đáng kể (p

> 0,05) so với kích thước cá hương ương ở các mật độ thấp từ 200 -8000 con/m3 (Bảng 6)

5.1.3 Thí nghiệm ương cá giống sau thời gian xử lý hormone

Kết quả của 3 đợt thí nghiệm ương cá hương lên cá giống trong giai với các mật

độ khác nhau đựơc trình bầy ở Bảng 7

Trang 20

K.lượng tb lúc thu (g/con)

Tỷ lệ sống (%)

Tăng trưởng (g/ngày)

ương giai đoạn sau xử lý hormone thì mật độ ương nên duy trì ở mức 600 con/m3 Trong thực tế sản xuất, giai đoạn ương cá hương lên cá giống thường được ương trong ao, còn

ương trong giai thường được áp dụng ở sông hồ, nơi mà cá giống được chuyển trực tiếp sang nuôi ở hệ thống lồng bè

Qua 3 đợt ương từ hương lên giống ở các mật độ ương khác nhau cho thấy mật độ

có ảnh hưởng đến sức sinh trưởng của cá Cỡ cá giống ở mật độ ương 200 con/m3 là 5,5g/con, con cỡ cá giống ương ở mật độ 600 con/m3 là 3,2g/con Để có hiệu quả ương cá giống thì cần lựa chọn mật độ thả sao cho phù hợp với cỡ cá thả ban đầu và cỡ cá dự kiến khi thu cũng như thời gian ương Nếu ương ngắn ngày (dưới 28 ngày) để thu được cá giống cỡ nhỏ hơn thì mật độ ương có thể cao hơn 400 con/m3 Còn nếu ương trong khoảng 4 - 5 tuần thì mật độ ương phù hợp là 400 con/m3 để ổn định tỷ lệ sống và sức sinh trưởng cá, đồng thời tăng hiệu quả sử dụng mặt nước ương nuôi

5.1.4 Kết quả nghiên cứu sử dụng các liều hormone khác nhau để nâng cao tỷ lệ cá

đực

Thí nghiệm được thực hiện với các nồng độ hormone khác nhau là 30, 35, 50 và

60 mg 17α-MT/kg thức ăn Kết quả thí nghiệm được trình bầy ở Bảng 8 Mật độ cá ương

là 10 con/lít cho tất cả các công thức thí nghiệm, chế độ cho cá ăn dựa vào quy trình sản xuất giống cá rô phi đơn tính

Trang 21

Bảng 8: Kết quả kiểm tra tỷ lệ cá đực trong các công thức thí nghiệm ở các nồng độ

Số cá đực (con)

Tỷ lệ đực (%)

Ghi chú * tỷ lệ cá đực trong quần đàn là tuyệt đối (100%), cỡ cá kiểm tra 5 – 7 g

Kết quả chuyển đổi giới tính như số liệu ở Bảng 8 cho thấy ngay ở liều lượng hormone thấp (35 mg/kg thức ăn) thì tỷ lệ cá đực là khá cao Tỷ lệ cá đực ở cả 3 liều lượng hormone khác nhau (35, 50 và 60 mg/kg thức ăn) đều cho kết quả từ 98 – 100% Trong khi đó, ở công thức thí nghiệm với liều hormone là 30 mg/kg thức ăn thì tỷ lệ cá

đực chỉ đạt 81,5 - 92 % Tỷ lệ biến đổi giới tính này là không đạt yêu cầu Liều lượng hormone 35 mg/kg thức ăn có thể là giới hạn liều thấp nhất để sử dụng trong sản xuất giống cá rô phi đơn tính Kết quả nghiên cứu về liều lượng hormone thấp (35mg/kg thức

ăn) có thể thay thế cho liều 60mg/kg thức ăn (như vẫn thường dung) Chỉ tiêu kỹ thuật này sẽ được đề cấp trong quy trình hoàn thiện kỹ thuật sản xuất giống cá rô phi đơn tính

5.1.5 Kết quả sản xuất cá hương rô phi đơn tính

(Kết quả chi tiết xem trong phụ lục 1: Sản xuất giống cá rô phi đơn tính)

Trang 22

15

Bảng 9: Kết quả sản xuất thử cá rô phi đơn tính chính vụ năm 2003

Kết quả thu trứng Kết quả thu cá bột

S.L cá

bột (mới nở)

Tỷ lệ ra cá bột (%)

Bảng 10 kết quả sản xuất thử cá rô phi đơn tính vụ thu năm 2003

Kết quả thu trứng Kết quả thu cá bột

S.L cá

bột (mới nở)

Tỷ lệ ra cá bột (%)

Trang 23

Bảng 11: Kết quả sản xuất thử cá rô phi đơn tính chính vụ năm 2004

Kết quả thu trứng Kết quả thu cá bột

S.L cá

bột (mới nở)

Tỷ lệ ra cá bột (%)

Tổng số cá

bột thu

được

Tổng số cá hương đơn tính thu

Kết quả sản xuất thử ở bảng 11 cho thấy trong mùa sinh sản đầu năm 2004 Dự án

đã tiến hành được 8 đợt thu và ấp trứng, tổng số cá bột thu được là 4.426.150 con Sau 21 ngày xử lý hormone và ương trong giai, tỷ lệ sống của cá hương đạt 85 %, nhờ vào đó đã thu được 3.772.570 con cá hương

Kết quả sinh sản vụ thu năm 2004:

Do điều kiện thời tiết không thuận lợi, trong vụ thu năm 2004 cá thành thục kém

và đẻ rất ít Có 4 lần thu trứng và cá bột ở 40 giai và chỉ thu được 700.000 trứng Số trứng này đưa vào ấp và thu được 350.671 con cá bột Sau 21 ngày xử lý hormone, số lượng cá hương thu được là 50.000 con

Tổng cộng số lượng cá hương rô phi đơn tính sản xuất được trong năm 2004 là 3,8 triệu con Tỷ lệ cá đực trong tất cả các đợt sản xuất đều đạt 98-100 %

Năm 2005

- Số lượng cá bố mẹ đưa vào nuôi vỗ trung năm 2005: 12.000 con

- Tổng khối lượng: 5.420 kg Thời gian nuôi vỗ: tháng 2-3

- Tỷ lệ thành thục: 85 % Thời gian cho cá đẻ: thnág 4-6

Bảng 12 Kết quả sản xuất cá hương rô phi đơn tính năm 2005

Kết quả thu trứng Kết quả thu cá bột

S.L cá

bột (mới nở)

Tỷ lệ ra cá bột (%)

Tổng số cá

bột thu

được

Tổng số cá hương đơn tính thu

Trang 24

17

Qua 4 đợt thu trứng, cá bột đầu năm 2005 đã thu được 2.457.495 cá bột Sau 21

ngày xử lý hormone, tổng số cá hương thu được là 2,04 triệu con Kết quả kiểm tra tỷ lệ

cá đực trong các đợt xử lý hormone đều đạt: 98-100% cá đực

Từ tháng 3 năm 2003 đến tháng 6 năm 2005, Dự án đã sản xuất được 8,7 triệu cá

rô phi đơn tính (cỡ 2-3 cm/con, tỷ lệ sống đạt 82,5 %) Trong đó Dự án đã sử dụng 2 triệu

con để nuôi cá thương phẩm, 6,7 triệu con đã cung cấp cho nhiều cơ sở nuôi trong cả

nước So với mục tiêu sản phẩm đề ra (6 triệu con cá hương rô phi đơn tính) thì Dự án đã

vượt 2,7 triêu con, tương ứng với 45 % Kết quả sản xuất thử này đã bổ sung và khảng

định nhiều chỉ tiêu kỹ thuật, kinh tế làm cơ sở cho việc hoàn thiện quy trình công nghệ

sản xuất giống cá rô phi đơn tính của Dự án

5.1.6 Hiệu quả kinh tế của sản xuất giống cá rô phi đơn tính

Trong 3 năm (2003-2005), Dự án đã sản xuất được 8,7 triệu cá hương rô phi đơn

tính tại Viện NCNTTS 1 Kết quả chi, thu và lợi nhuận của chương trình sản xuất giống

cá rô phi đơn tính được trình bày trong Bảng 13

Bảng 13 Phân tích hiệu quả kinh tế của chương trình sản xuất giống rô phi đơn tính

12 Sản lượng cá rô phi hương đơn tính 8,7 triệu con

13 Giá thành sản xuất 687.987.000 đ : 8,7 triệu con = 78 đ/con

14 Tổng thu nhập 120 đ x 8,7 triệu con = 1.044 triệu đồng

15 Lợi nhuận 1.044 tr đ - 687,987 tr đ = 356,013 tr đ

5.1.7 Quy trình công nghệ sản xuất giống rô phi đơn tính (xem quy trình)

5.2 Kết quả nghiên cứu, nuôi cá rô phi thâm canh trong ao, trong bè trên sông và

trong lồng lưới trên hồ

Trang 25

5.2.1 Kết quả nuôi thâm canh cá rô phi trong ao đất

Bảng 13: Tổng hợp các chỉ tiêu kỹ thuật, kinh tế nuôi thâm canh cá rô phi trong ao

Thuế sử dụng đất (ao)

Xây dựng sửa hữa nhỏ

Cá giống (50.000 con x 500đ/con)

Thức ăn (34.000 kg x 4500đ/kg)

Năng lượng, nhiên liệu

Vôi, hoá chất, thuốc phòng trị bệnh

Khấu hao máy quạt nước

234.000

2,14 1,28 10,68 65,39 6,41 2,14 2,99 1,70 6,41 0,85

3 Lợi nhuận: 278,4 triệu – 234 triệu 44.400

Kết quả nuôi cá rô phi thương phẩm trong ao đất được trình bày ở bảng 13 cho thấy Dự án đã thực hiện được mục tiêu sản phẩm là nuôi cá rô phi trong ao đạt năng suất

> 20 tấn/ha/6 tháng nuôi, với cỡ cá thương phẩm đạt bình quân > 500g/con đối với áo cá

số 1 (1 ha) Còn đối với ao cá số 2, cỡ cá trung bình khi thu hoạch chỉ đạt 432 g/con là do

Trang 26

19

- Cỡ cá bình quân khi thả là 3,1g/con (nhỏ hơn cá cá thả ở ao số 1)

- Sau khi thả nuôi được 1 tháng, bờ ao xây của ao số 2 bị đổ vỡ nên hơn 2000 cá tra (cỡ 150g/con) nuôi trong ao kế bên đã lẫn sang mà không thể nào loại ra được Mật độ cá nuôi ở ao số 2 trở nên quá dầy dẫn đến cá chậm lớn mặc dù đã cho ăn đủ lượng thức

ăn Cỡ cá thu hoạch nhỏ hơn cùng với tỷ lệ sống thấp hơn nên sản lượng cá thu được trong ao số 2 chỉ đạt 4,5 tấn (quy đổi thành 12,8 tấn/ha)

Những chỉ tiêu kỹ thuật nuôi như: mật độ và cỡ cá thả, thức ăn và chế độ cho ăn, quạt nước và thay nước để đảm bảo môi trường ao nuôi không bị ô nhiễm đã được nghiên cứu bổ sung (xem phụ lục: Nuôi tham canh cá rô phi trong ao đất) làm cơ sở cho việc xây dựng hoàn tất Quy trình nuôi thâm canh cá rô phi trong ao (xem quy trình nuôi thâm canh cá rô phi trong ao)

Phần hạch toán kinh tế (Bảng 14), Dự án chỉ lấy các khoản chi thu trong ao 1 ha

để phân tích, thu thập các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật bổ sung để làm cơ sở cho việc xây dựng quy trình nuôi kỹ thuật nuôi thâm canh cá rô phi trong ao Đối với ao số 2 (0,35 ha), năng suất nuôi không đạt 20 tấn/ha do những nguyên nhân khách quan đã trình bày trên

đã không sử dụng những thông tin kinh tế kỹ thuật của ao này để đưa vào quy trình kỹ thuật

Về tiêu thụ sản phẩm: Do không bán được cho thị trường xuất khẩu ở các tỉnh phía bắc (nói một cách khác ở các tỉnh phía bắc chưa có nơi nào nhận mua cá rô phi để xuất khẩu) nên toàn bộ sản lượng cá thu (24,6 tấn) đã phải ở thị trường nội địa Thị trường tiêu thụ nội địa cũng rất hạn chế khi mà chỉ có 24,6 tấn cá cũng đã phải bán thành nhiều lần cùng với nhiều lần thu hoạch diễn ra trong vòng 1 tháng mới hết Do kéo lưới thu hoạch nhiều lần, cá đã bỏ ăn và giảm sản lượng cá thu Giả thiết rằng có một lượng lớn sản phẩm cá rô phi thương phẩm thu được từ những vùng nuôi thâm canh thì sẽ phải tiêu thụ như thế nào? mà không bị thương lái ép giá ở thị trường nội địa để mang lại hiệu quả kinh

tế cho người nuôi Trong khi chưa có thị trường lớn ở cả nội địa và xuất khẩu thì công nghiệp nuôi cá rô phi trên diện rộng phải được xem xét kỹ để đưa ra khuyến nghị xác thực cho sản xuất

5.2.2 Kết quả nuôi cá thâm canh trong bè trên sông

(kết quả chi tiết xem trong phụ luc: Nuôi thâm canh cá rô phi trong bè trên sông Tiền Giang năm 2003 và 2004)

Kết quả tóm tăt về nuôi thâm canh cá rô phi trong bè trên sông Tiền Giang trong năm 2003, 2004 được trình bày trong Bảng 15, 16

Trang 27

Bảng 15 Kết quả nuôi cá rô phi thâm canh trong bè trên sông năm 2003

50 cá rô phi + 150 cá tra

40.000 cá rô

phi + 40.000 cá tra

10.000 cá rô

phi + 30.000 cá tra

Tổng cộng sản lượng cá rô phi nuôi bè trong năm 2003 là: 38.904 kg, trong đó 30

tấn cá đã bán cho nhà máy chế biến xuất khẩu và 8.904 kg tiêu thụ ở thị trường nội địa

Chi phí sản xuất bình quân cho 1 kg cá thịt ở 2 bè nuôi đơn cá rô phi (bè 1, 2)

là: 9.675 đồng/kg Giá bán: 15.500 đông/kg Lợi nhuận: 6.475 đồng/kg

Bảng 16: Kết quả nuôi cá rô phi thâm canh trong bè trên sông năm 2004

T thể tích

bè nuôi cá

(m3)

Tháng thu cá

Cỡ cá

thu TB (g/con)

Sản lượng (kg)

Năng suất kg/m3

Tổng số 257 tấn cá rô phi thương phẩm đã thu hoạch được từ các đợt nuôi trong bè

(trong năm 2004), cỡ cá đều đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Trong đó, 160 tấn đã bán cho nhà

máy chế biến xuất khẩu, số còn lại là 97 tấn đã được tiêu thụ ở thị trường nội địa

Trang 28

Từ tháng 2/ 2003 - đến tháng 2/2005, kết hợp với một chủ bè nuôi cá tra và Công

ty lương thực Vinh Long, Dự án đã triển khai chương trình sản xuất thử:: Nuôi cá rô phi

thâm canh trong bè trên sông Tiền Giang (thuộc Vĩnh Lông) với quy mô lớn, bao gồm:

- 1 đợt nuôi trong năm 2003 với 4 bè (856 m3), thả 91.376 con cá giống và đã thu

được 38.904 kg cá thương phẩm

- 3 đợt nuôi trong năm 2004 với 12 bè (4.584 m3), thả 685.200 cá giống và đã thu

được 257.000 kg cá thương phẩm Giá thành sản xuất của 1 kg cá thịt là 11.000 đ -

12.000 đ, được tính từ chi phí sản xuất và khấu hao tài sản cố định (bè nuôi cá)

- Cỡ cá thương phẩm nuôi trong bè trong 6 tháng đạt trung bình >500g/con Cỡ cá

này đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Trên thực tế, trong tổng sản lượng 295,9 tấn cá rô phi nuôi

thử nghiệm trong bè thu được ở Vĩnh Long thì 190 tấn bán cho nhà máy chế biến xuất

khẩu Trong dó có khoảng 45% số lượng cá đạt cỡ > 800g/con Tuy nhiên sản lượng cá

lớn (800g/con) này cũng chỉ bán được cùng giá với sản lượng cá nhỏ hơn (500g/con)

Như vậy cỡ cá 500g/con hay lớn hơn là có cùng giá bán và người nuôi đã thu cá bán khi

đạt cỡ 500g/con

- Trong đợt nuôi thứ 3 (7/2004 – 2/2005), cá được nuôi trong 7 tháng nên cỡ cá

thu hoạch đạt bình quân > 700g/con Tuy nhiên, nuôi trong tháng thứ 7, do mật độ dầy

nên cá chậm lớn hơn

Kết quả của 2 năm nuôi thâm canh cá rô phi trong bè trên sông đã giúp cho việc

xác định được những chỉ tiêu kỹ thuật nuôi cơ bản sau đây:

- Bè nuôi cá rô phi thích hợp có thể tích dao động từ 100-400 m3

- Cỡ cá thả: 7-10 g/con Mật độ thả: 150-160 con/m3

- Thời gian nuôi: 6 tháng, tỷ lệ sống trung bình đạt: 72%, cỡ cá bình quân đạt >

500g/con và năng suất: 60-70 kg/m3

Trên cơ sở các chỉ tiêu kỹ thuật nuôi đã được xác định, Dự án đã soạn thảo được

quy trình kỹ thuật nuôi cá rô phi trong bè trên sông, (xem quy trình kỹ thuật)

Trang 29

5.2.3 Kết quả nuôi thâm canh cá rô phi trong lồng lưới trên hồ chứa

Bảng 18 Các chỉ số kỹ thuật nuôi cá rô phi trong lồng lưới trên hồ chứa

Mặc dù thả cá giống lớn (20 g đến trên 40 g/con) nhưng tỷ lệ sống cá nuôi trong

lồng lưới trên hồ chỉ đạt 82% Điều này cho thấy nếu thả cá giống cỡ nhỏ hơn có thể cho

tỷ lệ sống thấp hơn Năng suất trung bình các lồng nuôi đạt 43,2 kg/m3 Tổng sản lượng

cá thu được là 25,06 tấn cá thưong phẩm, cỡ cá trung bình là 520g/con, cỡ cá này đạt tiêu

chuẩn xuất khẩu Tuy nhiên, toàn bộ sản lượng cá này không bán được cho xuất khẩu do

ở các tỉnh phía bắc không có khách hàng mua Sản lượng cá trên phải thu trong nhiều lần

để bán cho thương lái tiêu thụ ở thị trường nội địa

Bảng 19 : Phân tích hiệu quả kinh tế về nuôi cá lồng trên hồ chứa (Đơn vị : 1 lồng 6 m3 )

TT Chi phí đầu tư, thu nhập và lợi nhuận Số lượng Đơn giá (đ) Thành tiền (đ)

* Ghi chú: Chi phí làm lồng lưới ở thời điểm năm 2004 là 750.000 đồng/lồng Do đó khấu

hao tính cho 3 năm khoảng 250.000 đồng/năm (xem Phụ lục 1)

Trang 30

là 6.234,350 triệu đồng Lợi nhuận thu được là 1.534,267 triệu đồng, tính ra tỷ suất lợi nhuận (lợi nhuận: đầu tư) đạt 32,64% Tuy nhiên, tổng chi phí trên mới chỉ bao gồm các khoản chi phí trực tiếp cho sản xuất (vốn lưu động) và một phần khấu hao tài sản cố định

Các khoản đầu tư khác mà Dự án huy động từ các cơ sở sản xuất và từ các đề tài nghiên cứu khác của 2 Viện NCNTTS 1 & 2 phục vụ cho Dự án sản xuất thử được trình bày trong Bảng 21

Bảng 21 Các khoản đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, thiết bị phục vụ cho Dự án sản xuất thử

Tổng chi phí: 4.700,092 triệu đồng (Bảng 20) + tổng đầu tư: 1.112 triệu đồng

(Bảng 21) = 5.912,092 triệu đồng Trong khi đó kinh phí của nhà nước cho vay để thực hiện Dự án này là 1.400 triệu đồng (chiếm 23,68 % tổng đầu tư của dự án) Phần đầu tư còn lại: 4.512,092 triệu đồng (chiếm 76,32 % tổng đầu tư của dự án) là của các cơ sở sản xuất

Trang 31

Kết quả của Dự án sản xuất thử nghiệm trên cho thấy rõ mô hình hợp tác, gắn kết giữa các cơ quan nghiên cứu và các công ty, doanh nghiệp sản xuất là rất có hiệu quả và cần thiết Công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá rô phi đơn tính đã được nghiên cứu từ các viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1, 2 Công nghệ này được thử nghiệm ở quy mô sản xuất mở rộng để tiếp tục nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của công nghệ Trong khi đó, các cơ sở sản xuất hợp tác với Dự án

có vốn đầu tư sản xuất và đang cần sự trợ giúp kỹ thuật Sản lượng cá nuôi thu được với lợi nhuận cao của các cơ sở hợp tác với Dự án chứng tỏ rằng các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của công nghệ là phù hợp và có sức thuyết phục cao nên đã khiến cho các cơ sở sản xuất

tự nguyện bỏ vốn đầu tư Sự ổn định của các chỉ tiêu kỹ thuật đã giúp cho quá trình sản xuất thu được sản phẩm chất lượng cao mà không gặp phải rủi ro, đây cũng chính là yêu cầu của chương trình sản xuất thủ nghiệm

Quá trình hợp tác giữa Dự án và các cơ sở sản xuất kinh doanh cũng là quá trình chuyển giao công nghệ Các cơ sở sản xuất đã thực hành toàn bộ quá trình sản xuất và làm chủ sản phẩm của mình Khi Dự án kết thúc, họ có đủ năng lực về kỹ thuật để tiếp tục sản xuất vơi quy mô sản xuất mở rộng hơn Trên thực tế, trong năm 2005, công ty lương thực Vinh Long đã đầu tư nuôi cá rô phi trong 12 bè (> 400 m3/bè) và đã thu được năng suất cá nuôi tương tự như trong khi thực hiện sản xuất thử nghiệm Kết quả sản xuất của Công ty lương thực Vinh Long đã có tác động khuyến khích nhiều cơ sở nuôi cá rô phi bè trong vùng học tập làm theo Tác động này rất có ý nghĩa, khi công nghệ được áp dụng rộng rãi thì chắc chắn sẽ tạo ra một sản lượng lớn cá rô phi phục vụ cho tiêu thụ nội

địa và xuất khẩu

đơn tính và nuôi thâm canh cá rô phi trong 3 hệ thống: ao, bè và lồng trên sông, hồ ở quy mô sản xuất thử với tổng sản phẩm công nghệ cần phải đạt được bao gồm 6 triệu cá giống rô phi đơn tính (tỷ lệ cá đực là > 95%, tỷ lệ sống đạt > 80%) và 250 tấn cá rô phi thương phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Trong quá trình thực hiện sản xuất thử, nhiều chỉ tiêu kỹ thuật, kinh tế về sản xuất giống và nuôi cá thịt đã được nghiên cứu và hoàn thiện để làm cơ sở vững chắc cho việc xây dựng quy trình Sau 30 tháng thực hiện (1/2003 đến 6/2005), Dự án đã hoàn thành mục tiêu đề ra với những kết luận cụ thể như sau:

Về sản phẩm khoa học:

- Xây dựng hoàn thiện Quy trình công nghệ sản xuất giống cá rô phi đơn tính với

tỷ lệ đực đạt 98 – 100% và tỷ lệ sống đạt > 80%

Trang 32

25

- Xây dựng được Quy trình kỹ thuật nuôi thâm canh cá rô phi trong ao, bè và lồng trên sông, hồ đạt năng suất 20 tấn cá/1 ha ao/6 tháng nuôi, 60-70 kg/m3 bè/6 tháng nuôi, 40-45 kg/m3 lồng lưới/6 tháng nuôi với cỡ cá thương phẩm > 500g/con, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu

- 7 chuyên đề KHCN phục vụ cho việc xây dựng Quy trình đã được tiến hành nghiên cứu và có báo cáo tổng kết, đó là: 1) Nâng cao năng suất sinh sản của cá bố mẹ; 2) Nâng cao tỷ lệ sống của cá hương, cá giống rô phi đơn tính; 3) Thiết kế và xây dựng bè nuôi cá rô phi bằng các vật liệu thích hợp; 4) Quản lý môi trường nuôi cá rô phi trong bè tạo sản phẩm nuôi sạch; 5) Dinh dưỡng và thức ăn cho cá rô phi nuôi trong bè trên sông; 6) Nghiên cứu bệnh nguy hiểm thường gặp ở cá rô phi nuôi trong bè và phương pháp phòng trị bệnh có hiệu quả và 7) Thu hoach, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm Các báo cáo chuyên đề KHCN này là những tài liệu có giá trị tham khảo cho các chương trình nghiên cứu tiếp theo về sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá rô phi đơn tính

Hai quy trình công nghệ trên sẽ được phổ biến rộng rãi đến các cơ sở sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá rô phi, góp phần phát triển nghề nuôi cá rô phi trong cả nước

Về sản phẩm công nghệ:

- Dự án đã sản xuất được 8,7 triệu cá hương rô phi đơn tính, cỡ 2-3 cm/con, tỷ lệ cá

đực đạt 98-100 % và tỷ lệ sống đạt > 80% Trong đó, 2 triệu con đã được Dự án sử dụng

để ương thành cá giống, thả nuôi trong 3 hệ thống sản xuất thử (ao, lồng, bè) và 6,7 triệu con đã bán cho các cơ sở nuôi thương phẩm trong cả nước So với mục tiêu 6 triệu cá hương rô phi đơn tính phải sản xuất thì Dự án đã vượt chỉ tiêu 45%

- Dự án đã sản xuất được 345,5 tấn cá rô phi thương phẩm chất lượng cao (bao gồm: 295,5 tấn cá nuôi trong bè trên sông Tiền Giang, 25 tấn cá nuôi trong lồng lưới và 24,6 tấn cá nuôi trong ao) Trong đó, 190 tấn đã bán cho nhà máy chế biến xuất khẩu và 155,5 tấn đã được tiêu thi ở thị trường nội địa So với mục tiêu 250 tấn sản phẩm, Dự án

- Thời gian nuôi cá là 6 tháng thay vì nuôi trong vòng 8 tháng như dự định trong

đề cương Nếu cá được nuôi trong 8 tháng thì cỡ cá thu hoạch chắc chắn sẽ đạt được 800g/con Tuy nhiên, cỡ cá thương phẩm là 500g/con hay 800g/con thì giá bán ở thị trường là như nhau, nên cơ sở nuôi đã thu hoạch, bán cá khi cỡ cá đạt 500g/con mà không nuôi tiếp đến khi cá đạt 800 g/con để tránh rủi ro Trong khuôn khổ hợp tác sản xuất thử nghiệm, Dự án chỉ hỗ trợ kỹ thuật còn tất cả các loại chi phí là do cơ sở nuôi cá đầu tư nên họ là người quyết định thời điểm thu hoạch và tiêu thụ sản phẩm khi cá đã đạt được kích thước thương phẩm và giá bán phù hợp trên thị trường Đoàn kiểm tra của Chương trình KC.06 và Vụ Quản lý chuyên ngành, Bộ Khoa học Công nghệ (đợt kiểm tra lần thứ

Trang 33

1 tại địa điểm nuôi cá ao) đã có ý kiến rằng nếu tiếp tục nuôi thêm 2 tháng nữa để cá đạt

cỡ 800g/con mà không mang lại hiệu quả kinh tế (giá cá không tăng, cá chậm lớn, tiêu tốn thức ăn) thì nên khuyến cáo thời điểm thu hoạch khi cỡ cá đạt > 500 g/con Cỡ cá rô phi thương phẩm tiêu chuẩn bán ở thị trường thế giới là > 500 g/con (Helga, 2000), cỡ cá này cùng thường được thu hoạch khi nuôi ở các nước nuôi cá rô phi công nghiệp trong khu vực như Thai Lan, Trung Quốc, Indonesia Dự án cho rằng khuyến cáo thu hoạch khi

cỡ cá đạt 500g/con là phù hợp với thực tế về giá trị sản phẩm và lợi nhuận kinh tế

Liên quan đến năng suất nuôi cá trong bè và trong lồng trên sông hồ, cá chỉ được nuôi trong 6 tháng (với cỡ cá thu hoạch > 500g/con) nên năng suất nuôi chỉ đạt 60-70kg/m3 (nuôi trong bè) và 40-45 kg/m3 (nuôi trong lồng lưới) Trên thực tế, năng suất cá nuôi trong bè và lồng như vậy là hợp lý Nếu nuôi kéo dài thêm để đạt được cỡ cá lớn hơn thì mật độ thả sẽ trở nên dầy hơn, cá rất dể bị mắc bệnh nhất là bệnh ký sinh trùng

Tiêu thụ cá rô phi thương phẩm (chất lượng cao) ở các tỉnh phía bắc gặp rất nhiều khó khăn khi mà chưa có một cơ sở chế biến thủy sản nào mua cá rô phi để xuất khẩu, trong khi đó cá thu hoạch và bán vào cuối năm (đầu mùa đông) bị thương lái ép giá khiến cho người nuôi thu được lãi xuất thấp, không kích thích được sản xuất phát triển

6.2 Kiến nghị

- Nghiên cứu sản xuất thức ăn bằng các nguyên liệu sẵn có địa phương trong nuôi cá rô phi thịt cần được tiếp tục Kết quả nghiên cứu là những công thức thức ăn phù hợp, rồi chuyển giao cho các cơ sở sản xuất thức ăn cho cá áp dụng, tạo ra thức ăn giá rẻ nhằm giảm giá thành sản xuất và kích thích sản xuất phát triển

- Quy trình kỹ thuật sản xuất giống cá rô phi đơn tính hoàn thiện và các quy trình nuôi cá rô phi thương phẩm trong các hệ thống ao, lồng, bè do Dự án xây dựng nên từ các kết quả sản xuất thử nghiệm cần được phổ biến rộng rãi cho sản xuất áp dụng Cụ thể là các mô hình nuôi cá rô phi trong ao, lồng, bè cần được trình diễn ở nhiều nơi để cho các cơ sở sản xuất có thể học và làm theo

- Thị trường xuất khẩu và tiêu thụ nội địa đối với cá rô phi thương phẩm cần phải

được nghiên cứu để đưa ra được các giải pháp tiêu thụ sản phẩm thích hợp song song với

mở rộng sản xuất, tránh tình trạng khuyến khích phát triển nuôi thâm canh, tạo ra sản lượng lớn cá rô phi thương phẩm nhưng không xuất khẩu được mà phải tiêu thụ nội địa, giá rẻ, thu được lợi nhuận thấp hoặc lỗ vốn gây thiệt hại cho người sản xuất

Trang 34

27

8 Tài liệu tham khảo

Nguyễn Công Dân, Đinh Văn Trung, Nguyễn Thị An, 2000 Đánh giá kết quả thuần hoá

một số dòng cá rô phi (Oreochromis niloticus) nhập nội ở miền Bắc Việt Nam

Tuyển tập báo cáo khoa học tại Hội thảo khoa học toàn quốc về nuôi trồng thủy sản tháng 9 năm 1998 Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1, trang 168-171

Nguyễn công Dân, Trần Mai Thiên, Trần Đình Luân, Phan Minh Quý, 2001 Chọn giống

cá rô phi Oreochromis niloticus (dòng GIFT) nhằm nâng cao sức sinh trưởng và

khả năng chịu lạnh Tuyển tập báo cáo khoa học năm 2000 Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1, trang 46-53

Schmittou và ctv 1998 Nguyên lý nuôi cá mật độ cao trong lồng bè nhỏ Hội đậu tương Hoa

Kỳ (Tài liệu dịch từ tiếng Anh ra tiếng Việt, 120 trang)

Capill, J.B., 1995 Growth and sex determination in Nile tilapia Oreochromis niloticus

(L.) PhD thesis, University of Wales Swansea, UK

Dan, N.C, Thien, T.M and Trung, D.V., 1997b Dissemination and valuation of

genetically improved tilapia species in Vietnam, Final Technical Report RIA-1, Bac Ninh, Vietnam, 45 pp

Guerrero, R.D., 1996 Aquaculture in the Philippines World Aquaculture 27(1), 7-13

Helga, 2000 Tilapia supply In Subasinghe and Tariochan Singh (Editors), Tilapia

production, Marketing and Technological Developments, pp 4-6

Macintosh, D.J., and Little, D.C., 1995 Nile tilapia (Oreochromis niloticus) In: N.R

Bromage and R.J Roberts (Eds.), Brood stock Management and Egg and Larval Quality Institute of Aquaculture and Blackwell Science, pp 277-320

Pullin, R.S.V., 1988 Tilapia genetic resources for aquaculture Proceeding of The

Workshop on Tilapia Genetic Resources for Aquaculture, Bangkok, Thailand International Center for Living Aquatic Resources Management, Manila, Philippines

Trang 35

“Hoàn thiện kỹ thuật sản xuất cá rô phi chất

l−ợng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu”

Phụ lục 1

SảN XUấT giống Cá RÔ PHI ĐƠN TíNH

TS Nguyễn Công Dân

Bắc Ninh, 7 - 2005

Trang 36

đàn cá bố mẹ và tỷ lệ sống của cá con Để đạt được mục tiêu trên, từ năm 2003-2005 trung bình mỗi năm Dự án đã sử dụng 2-3 tấn cá rô phi bố mẹ dòng GIFT (khoảng 8.000 con cá bố mẹ) để nuôi vỗ, cho đẻ, thu trứng và thu cá con Một hệ thống ấp trứng cá rô phi nhân tạo đã được nâng cấp sửa chữa có năng lực sản xuất 4 - 6 triệu cá rô phi bột trong một mùa sinh sản

Từ năm 2003 – 2005 Dự án đã sản xuất được 8,7 triệu con cá hương (2-3 cm), tỷ lệ cá đực đạt 98-100 % Báo cáo này tổng hợp kết quả sản xuất của tất cả các đợt thu trứng,

ương ấp, xử lý hormone và sản lượng cá hương Kết quả xuất thử đã củng cố thêm tính ổn

định của những chỉ tiêu kỹ thuật, kinh tế làm cơ sở cho việc hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất giống cá rô phi đơn tính

2 Địa điểm và phương tiện sản xuất thử

- Địa điểm: Sản xuất thử cá rô phi đơn tính được thực hiện tại Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1

- Ao cắm giai cho cá đẻ và thu trứng (ảnh 1): Ao có diện tích 6.000 m2, có nguồn nước cấp trong sạch, thuận lợi cho cá sinh sản, thu trứng và cá bột

- Giai sinh sản: Sử dụng giai 48 m3 (8 x 5 x 1,2 m) được làm bằng lưới cước, mắt lưới dầy Giai được bố trí xung quanh ao, chiều dài hướng vào bờ, cách bờ 1,5 m để thuận tiện cho việc thu trứng

- Nhà ương ấp: Diện tích 150 m2, có hệ thống cấp thoát nước và bể chứa nước (3

m3) cung cấp cho dàn ấp trứng và bể thu nước xả (20 m3) để tái sử dụng

- Hệ thống ấp trứng cá rô phi: Hệ thống này bao gồm đường ống cấp nước, van, vòi và khay (nhôm) ấp trứng Tổng số có 120 khay ấp (Hình 2) có khả năng ấp 3 – 5 triệu cá bột/mùa sinh sản Dàn ương ấp trứng cá rô phi được thiết kế theo hệ thống tái sử dụng nước (tuần hoàn hở) Cứ mỗi đợt ấp trứng xong, toàn bộ nước trong bể cấp và bể xả đều

được tháo cạn, vệ sinh đường ống, khay ấp và cấp nước mới cho đợt ấp trứng tiếp theo

- Nguồn nước cấp: Nước cấp cho dàn ấp trứng và ương cá bột được lấy từ giếng

khoan Chất lượng nước đảm bảo tốt, hàm lượng sắt, can xi, nhôm trong nước ở giới hạn cho phép, không gây ảnh hưởng đến sự phát triển của phôi và cá bột

Trang 37

H×nh ¶nh 1: Ao c¾m giai sinh s¶n cña dù ¸n KC.06-DA.12.NN t¹i ViÖn NCNT TS 1

H×nh ¶nh 2: HÖ thèng Êp trøng c¸ r« phi t¹i ViÖn NCNT TS 1

Trang 38

31

3 Nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ

Tỷ lệ cá đực: cá cái là 1:2, tuổi từ 1-3 năm được tuyển chọn và đưa vào nuôi vỗ thành thục từ tháng 3, khi nhiệt độ nước tăng trên 20 oC Giai đoạn đầu nuôi vỗ thành thục, cá bố mẹ được nuôi trong ao với khẩu phần ăn là 3-5 % khối lượng cá/ngày bằng thức ăn có hàm lượng đạm (25-30%) Đến khi chín muồi sinh dục và chuẩn bị đẻ, cá

được chuyển vào giai cho đẻ và thu trứng Cá bố mẹ cũng có thể được nuôi vỗ trong giai lưới thưa ngay từ đầu và đến khi thành thục thì được chuyển sang giai (mắt lưới dầy) cho cá đẻ Mùa sinh sản của cá kéo dài từ tháng 4 đến tháng 6 và sau đó là giai đoạn tạm nghỉ từ tháng 7- tháng 8 do thời tiết nắng nóng Mùa sinh sản tiếp theo diễn ra trong 2 tháng 9-10 do thời tiết mát hơn, nhiệt độ nước giảm xuống < 30oC

4 Sinh sản, ương ấp và xử lý hormone

- Thu trứng: Trứng được thu riêng từng con một, phân loại theo giai đoạn phát triển của phôi, rửa sạch và chuyển vào khay ấp

- ấp trứng: mật độ ấp dao động từ 10.000 đến 15.000 trứng/lít nước, lưu tốc nước chẩy đảm bào trứng được đảo đều Thường xuyên vệ sinh khay ấp trứng để loại bổ tất cả các chất bẩn trong khay

- Ra cá bột: Cá bột sau khi vừa tiêu hết noãn hoàng thì được chuyển ra giai xử lý hormone

- ương xử lý đơn tính: Cá bột được chuyển ra ương trong giai cước dày (kích thước: 1,8 và 4,5 m2) mật độ thả là 15 con/lít và được cho ăn theo quy trình sản xuất cá rô phi đơn tính (xem Quy trình công nghệ)

ao nuôi vỗ rồi chuyển vào các giai sinh sản nói trên Ngoài ra, 500 cá cái và 250 cá đực

đã nhận được từ Hợp phần chọn giống, Dự án NORAD (đang thực hiện tại Viện NCNTTS 1) để bổ sung cho mùa sinh sản Khối luợng cá thể cá bố mẹ đưa vào sinh sản là 200 –

300 g/con

Kết quả sản xuất cá bột cá hương (sau giai đoạn xử lý hormone) từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2003 được trình bày trong Bảng 1

Trang 39

Bảng 1: Kết quả sản xuất thử cá rô phi đơn tính chính vụ năm 2003

Kết quả thu trứng Kết quả thu cá bột

S.L cá

bột (mới nở)

Tỷ lệ ra cá bột (%)

để cho đẻ vào vụ thu (tháng 8-11)

Kết quả sinh sản của cá từ đầu tháng 8 đến đầu tháng 11 năm 2003 được trình bày trong Bảng 2

Bảng 2: Kết quả sản xuất thử cá rô phi đơn tính vụ thu năm 2003

Kết quả thu trứng Kết quả thu cá bột

S.L cá

bột (mới nở)

Tỷ lệ ra cá bột (%)

Đã tiến hành 8 đợt cho cá đẻ vụ thu, Tổng số cá bột thu được là 1.597.947 Sau khi

xử lý hormone, tỷ lệ sống của cá hương đơn tính (sau 21 ngày tuổi) đạt > 80 % và tổng số

Trang 40

33

Tổng số cá rô phi đơn tính (21 ngày tuổi) sản xuất được trong năm 2003 là 2,89 triệu con Tỷ lệ sống trung bình trong các lần ương đạt 82% Cỡ cá trung bình đạt 2,0 cm, khối lượng cá thể dao động từ: 0.06 – 0.09 g/con Kết quả kiểm tra tỷ lệ chuyển đổi giới tính của cá sản xuất năm 2003 được trình bày ở Bảng 3

Bảng 3: Kết quả kiểm tra tỷ lệ cá đực của các đợt ương năm 2003

Ngày thả Ngày kiểm

tra

S.L cá kiểm (con)

S.L cá đực (con)

S.L cá cái (con)

Tỷ lệ đực (%)

Chuyển cá nuôi vỗ từ ao vào giai cho cá đẻ được tiến hành từ ngày 10 tháng 3 năm

2004 Giai cho cá đẻ kích thước 48 m3 tương tự như giai đã sử dụng trong năm 2003 Đã chọn được 6.400 cá cái, cỡ 280 – 320 g/con và 3.200 cá đực, cỡ 450 – 500 g/con thành thục để đưa vào giai cho đẻ Trong giai cho đẻ cá bố mẹ được cho ăn với lượng thức ăn hạn chế (1% khối lượng cơ thể/mgày) với thức ăn có hàm lượng đạm 25% Kết quả thu trứng và cá bột mới nở được trình bày trong bảng dưới đây

Bảng 4: Kết quả sản xuất thử cá rô phi đơn tính năm 2004

Kết quả thu trứng Kết quả thu cá bột

S.L cá

bột (mới nở)

Tỷ lệ ra cá bột (%)

Tổng số cá

bột thu

được

Tổng số cá hương đơn tính thu

Kết quả sản xuất thử ở Bảng 4 cho thấy trong vụ đầu năm 2004 Dự án đã tiến hành

được 8 đợt thu trứng, ương ấp, Tổng số cá bột thu được là 4.426.150 con Sau 21 ngày xử

lý hormone và ương trong giai, tỷ lệ sống của cá hương đạt 85 %, nhờ vào đó đã thu được 3.772.570 con cá hương

Ngày đăng: 14/05/2014, 15:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh 1: Ao cắm giai sinh sản của dự án KC.06-DA.12.NN tại Viện NCNT TS 1 - Hoàn thiện kỹ thuật sản xuất cá rô phi chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu
nh ảnh 1: Ao cắm giai sinh sản của dự án KC.06-DA.12.NN tại Viện NCNT TS 1 (Trang 37)
Hình 3: Biến động pH vào lúc sáng sớm  trong ao  nuôi thâm canh cá rô phi - Hoàn thiện kỹ thuật sản xuất cá rô phi chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu
Hình 3 Biến động pH vào lúc sáng sớm trong ao nuôi thâm canh cá rô phi (Trang 50)
Hình 6: Biến động H 2 S trung bình vào lúc sáng sớm trong ao nuôi thâm canh cá rô phi - Hoàn thiện kỹ thuật sản xuất cá rô phi chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu
Hình 6 Biến động H 2 S trung bình vào lúc sáng sớm trong ao nuôi thâm canh cá rô phi (Trang 52)
Hình 7: Biến động COD trung bình trong ao nuôi thâm canh cá rô phi. - Hoàn thiện kỹ thuật sản xuất cá rô phi chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu
Hình 7 Biến động COD trung bình trong ao nuôi thâm canh cá rô phi (Trang 52)
Hình 9: Biến động của PO4 3-  trong ao nuôi thâm canh cá rô phi - Hoàn thiện kỹ thuật sản xuất cá rô phi chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu
Hình 9 Biến động của PO4 3- trong ao nuôi thâm canh cá rô phi (Trang 54)
Hình 11: Tốc độ sinh trưởng của cá rô phi trong ao nuôi thâm canh - Hoàn thiện kỹ thuật sản xuất cá rô phi chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu
Hình 11 Tốc độ sinh trưởng của cá rô phi trong ao nuôi thâm canh (Trang 56)
Đồ thị 3.2 Biến động COD mg/L môi trường nước sôngvà trong các bè nuôi. - Hoàn thiện kỹ thuật sản xuất cá rô phi chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu
th ị 3.2 Biến động COD mg/L môi trường nước sôngvà trong các bè nuôi (Trang 64)
Đồ thị 3.3 cho biết sự giao động của hàm lượng ô xy hoà tan của nước trong bè và  ngoài sông - Hoàn thiện kỹ thuật sản xuất cá rô phi chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu
th ị 3.3 cho biết sự giao động của hàm lượng ô xy hoà tan của nước trong bè và ngoài sông (Trang 64)
Đồ thị 3.4 Biến động pH môi trường nước sông và các bè nuôi - Hoàn thiện kỹ thuật sản xuất cá rô phi chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu
th ị 3.4 Biến động pH môi trường nước sông và các bè nuôi (Trang 65)
Đồ thị 3.5 Biến động alkalinity nước sông và các bè nuôi - Hoàn thiện kỹ thuật sản xuất cá rô phi chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu
th ị 3.5 Biến động alkalinity nước sông và các bè nuôi (Trang 65)
Hình 1: Cách bố trí lồng nuôi trên sông và hồ chứa. - Hoàn thiện kỹ thuật sản xuất cá rô phi chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu
Hình 1 Cách bố trí lồng nuôi trên sông và hồ chứa (Trang 78)
Hình ảnh 1.Bố trí máy quạt n−ớc trong ao nuôi thâm canh cá rô phi - Hoàn thiện kỹ thuật sản xuất cá rô phi chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu
nh ảnh 1.Bố trí máy quạt n−ớc trong ao nuôi thâm canh cá rô phi (Trang 90)
Hình 3 : Hệ thống phao và đ−ờng đi của một khu lồng nuôi cá rô phi  trên sông - Hoàn thiện kỹ thuật sản xuất cá rô phi chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu
Hình 3 Hệ thống phao và đ−ờng đi của một khu lồng nuôi cá rô phi trên sông (Trang 101)
Đồ thị 1. Mùa vụ xuất hiện bệnh - Hoàn thiện kỹ thuật sản xuất cá rô phi chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu
th ị 1. Mùa vụ xuất hiện bệnh (Trang 166)
Đồ thị 2. Kết quả phân lập định danh vi khuẩn gây bệnh trong mùa m−a - Hoàn thiện kỹ thuật sản xuất cá rô phi chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu
th ị 2. Kết quả phân lập định danh vi khuẩn gây bệnh trong mùa m−a (Trang 167)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w