L ỜI NÓI ĐẦUMặc dù việc công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài trước năm 2015 đã đạt được những thành tựu đáng kể nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người đ
KHUÔN KHỔ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH TRỌNG TÀI VÀ HÒA GIẢI
Khuôn khổ pháp luật trong nước và nguồn luật áp dụng cho trọng tài
Pháp luật trọng tài hiện hành của Việt Nam bao gồm những nguồn sau:
- Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 ngày 15/11/2015(‚BLTTDS‛, Phụ lục 3);
- Luật Trọng tài thương mại số 54/2010/QH12, ngày 17/6/2010 (‚LTTTM‛, Phụ lục 2);
Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12, đã được sửa đổi theo Luật sửa đổi và bổ sung một số điều Luật thi hành án dân sự số 64/2014/QH13, quy định các quy trình và nguyên tắc thực hiện thi hành án dân sự tại Việt Nam.
- Nghị định số 63/2011/NĐ-CP ngày 28/7/2011 quy định chi tiết một số điều của Luật Trọng tài thương mại (‚Nghị định 63/2011‛);
Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP, được ban hành bởi Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao vào ngày 20/3/2014, cung cấp hướng dẫn thi hành một số quy định quan trọng của Luật Trọng tài thương mại.
Luật mẫu về trọng tài (Phụ lục 6) đã pháp điển hóa các nguyên tắc hoạt động tốt nhất trong trọng tài quốc tế, nhằm hài hòa hóa luật trọng tài và tôn trọng quyền tự quyết của các bên Luật mẫu thúc đẩy tính chung thẩm của trọng tài quốc tế bằng cách tối đa hóa thẩm quyền của tổ chức trọng tài và hạn chế sự can thiệp của tòa án Đây không phải là văn bản pháp luật chính thức, mà là mẫu tham khảo cho các quốc gia muốn ban hành luật trọng tài hiện đại Một số quốc gia áp dụng nguyên văn Luật mẫu, trong khi các nước như Việt Nam, Anh và Xứ Wales đã tham khảo nhưng ban hành quy định pháp luật khác biệt Đặc biệt, Singapore và Hồng Kông đã thông qua Luật mẫu.
Xung đột luật và trọng tài quốc tế
Trong trọng tài quốc tế có yếu tố nước ngoài, luật Việt Nam không tự động áp dụng cho việc giải quyết tranh chấp và thỏa thuận trọng tài Hội đồng trọng tài quyết định luật áp dụng dựa trên sự lựa chọn của các bên trong hợp đồng Các bên có quyền tự quyết định luật áp dụng cho hợp đồng và thỏa thuận trọng tài, và luật điều chỉnh thỏa thuận trọng tài không nhất thiết phải trùng với luật điều chỉnh hợp đồng Nếu không có sự lựa chọn cụ thể, Hội đồng trọng tài sẽ xác định luật áp dụng theo nguyên tắc xung đột pháp luật trong quy tắc trọng tài đã chọn hoặc theo quy tắc xung đột luật của nơi tiến hành tố tụng.
Tòa án cần áp dụng quy định về xung đột luật theo Phần 5 BLDS 2015 khi đánh giá giá trị pháp lý của thỏa thuận trọng tài Tuy nhiên, sai sót về luật hoặc lựa chọn luật của Hội đồng trọng tài không thể là lý do để từ chối công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài theo Điều V CƯNY.
Văn kiện quốc tế
1.3.1 Khuôn kh ổ pháp lu ậ t v ề thi hành phán quy ế t theo Công ướ c New York
CƢNY là một văn bản quan trọng trong hoạt động trọng tài quốc tế, được xem là một trong những thỏa thuận đa phương thành công nhất trong lịch sử Tính đến tháng 8/2016, có hơn 156 quốc gia là thành viên của CƢNY, giúp công nhận và thi hành phán quyết trọng tài trên toàn cầu Kể từ khi ban hành vào năm 1958, CƢNY đã tạo ra lợi thế lớn cho trọng tài so với quy trình tố tụng tại tòa án quốc gia nhờ vào tính lưu động của nó.
Việt Nam đã phê chuẩn CƢNY và trở thành quốc gia thành viên, đồng thời thỏa thuận công nhận và thi hành phán quyết trọng tài theo quy tắc thủ tục của Việt Nam (Điều 3 CƢNY).
CƢNY thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ việc cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài
Tại Đ.2 Quyết định số 453/QĐ-CTN ngày 28/7/1995 của Chủ tịch nước về việc tham gia CƯNY quy định:
Công ước chỉ áp dụng cho việc công nhận và thi hành tại Việt Nam các quyết định của trọng tài nước ngoài được tuyên tại các quốc gia là thành viên của Công ước Đối với các quyết định của trọng tài nước ngoài được tuyên tại các quốc gia chưa ký kết hoặc tham gia Công ước, việc áp dụng Công ước tại Việt Nam sẽ tuân theo nguyên tắc có đi có lại.
- Sẽ chỉ áp dụng Công ƣớc đối với tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật thương mại
Mọi việc giải thích Công ước trước Toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam phải tuân thủ các quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam.
Tuy nhiên, Đ I(3) CƯNY chỉ quy định hai bảo lưu:
Việt Nam áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong việc công nhận và thi hành phán quyết trọng tài, theo đó, phán quyết được ban hành tại lãnh thổ của các quốc gia thành viên sẽ được công nhận Danh sách các quốc gia thành viên được nêu trong Phụ lục 1 Đối với các phán quyết từ quốc gia không phải là thành viên, Việt Nam sẽ áp dụng nguyên tắc này dựa trên cơ sở có đi có lại.
Việt Nam chỉ áp dụng CƢNY cho các tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp lý được xác định là 'thương mại' theo quy định của luật pháp Việt Nam.
Vì Việt Nam là bên ký kết Công ước New York (CƢNY), việc công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài phải tuân thủ quy định của CƢNY và pháp luật Việt Nam Luật Việt Nam yêu cầu Tòa án căn cứ vào công ước quốc tế khi thực hiện phán quyết trọng tài nước ngoài.
Khi xem xét yêu cầu công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam, các Tòa án cần tuân thủ quy định của luật Việt Nam, đồng thời căn cứ vào các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia Ưu tiên áp dụng CƢNY, tiếp theo là quy phạm do các bên trong vụ kiện lựa chọn, và cuối cùng là các quy định pháp luật trong nước (Đ 2(3) và Đ.458(4) BLTTDS).
Khi xem xét đơn xin công nhận và thi hành phán quyết trọng tài của Hội đồng trọng tài Hiệp hội bông quốc tế (ICA) tại Việt Nam, Tòa án cần tuân theo trình tự quy định.
(ii) Thỏa thuận của các bên hoặc nguyên tắc do các bên lựa chọn (trong trường hợp này là Qui tắc trọng tài của ICA); rồi đến
(iii) Luật áp dụng do các bên lựa chọn; và cuối cùng
(iv) BLTTDS và các quy định khác của pháp luật Việt Nam về công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài
Nếu Tòa án chỉ dựa vào luật Việt Nam để xác định rằng một bên nước ngoài trong thỏa thuận trọng tài không có năng lực cam kết, thì quyết định của Tòa án là không đúng.
Khi xem xét đơn yêu cầu công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài, Tòa án Việt Nam chỉ có trách nhiệm kiểm tra và đối chiếu phán quyết cùng các tài liệu liên quan với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) và các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, mà không được xét xử lại nội dung tranh chấp đã được trọng tài nước ngoài giải quyết (Điều 458(4) BLTTDS).
1.3.2 Khuôn kh ổ pháp lu ậ t áp d ụ ng đố i v ớ i vi ệ c công nh ậ n và cho thi hành nh ữ ng phán quy ế t ngoài CƯNY
Việt Nam sẽ áp dụng CƢNY cho các phán quyết trọng tài được ban hành tại các quốc gia thành viên Tòa án Việt Nam cũng sẽ công nhận và thi hành các phán quyết trọng tài từ các quốc gia không phải thành viên CƢNY.
- Nếu có hiệp định song phương giữa Việt Nam và quốc gia đó (Đ 424(1)(a) BLTTDS);
- Trong những trường hợp khác, trên cơ sở có đi có lại (Đ 424(1)(b) BLTTDS).
Khuôn khổ pháp luật trong nước về hòa giải và các quy định khác
Pháp luật hòa giải của Việt Nam bao gồm những nguồn sau:
- Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (Phụ lục 3);
- Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại (Phụ lục 7);
Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 đã được sửa đổi và bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự số 64/2014/QH13.
Luật mẫu UNCITRAL về hòa giải thương mại quốc tế (2002) đã pháp điển hóa các nguyên tắc được công nhận toàn cầu về thực tiễn tốt nhất trong giải quyết tranh chấp ôn hòa Mục tiêu của Luật mẫu là hài hòa hóa luật pháp toàn cầu về hòa giải, khuyến khích quyền tự do tự nguyện thỏa thuận của các bên và tính chung thẩm của hòa giải, đồng thời hạn chế sự can thiệp của Tòa án Luật mẫu không phải là văn bản pháp luật chính thức, mà là hình mẫu cho các quốc gia tham khảo khi ban hành luật về giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng và hòa giải.
NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN
Trọng tài và các loại hình khác của phương thức giải quyết
Có nhiều phương thức giải quyết tranh chấp khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh và hình thức mà các bên tìm kiếm, bao gồm thương lượng, quyết định của chuyên gia, hòa giải-trọng tài, ủy ban giải quyết tranh chấp, và tố tụng tại tòa án Tại Hồng Kông, ba phương thức phổ biến nhất là hòa giải, tố tụng tại Tòa án và trọng tài.
Trong nửa thế kỷ qua, trọng tài đã trở thành phương thức phổ biến để giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, nhưng nó chỉ là một trong nhiều phương thức giải quyết tranh chấp Bài viết này sẽ phân biệt trọng tài với các phương thức khác, nêu rõ các đặc điểm của nó, cũng như chỉ ra những lợi thế và bất lợi của trọng tài so với các phương thức khác dành cho các bên tranh chấp.
Hòa giải ngoài Tòa án là một quy trình linh hoạt và bí mật, trong đó hòa giải viên, một người trung lập, hỗ trợ các bên tranh chấp đạt được thỏa thuận Hòa giải viên không đóng vai trò như Thẩm phán hay luật sư.
Thủ tục kết hợp hòa giải-trọng tài là quá trình mà một người trung gian, đóng vai trò hòa giải viên, hỗ trợ các bên trong việc đạt được thỏa thuận Nếu không đạt được thỏa thuận hòa giải, người trung gian này sẽ tiếp tục đảm nhận vai trò trọng tài để giải quyết tranh chấp giữa các bên.
Hướng dẫn của Nhóm Ngân hàng Thế giới (2011) về các phương thức giải quyết tranh chấp nhấn mạnh rằng không có thẩm quyền nào có thể ấn định quyết định cho các bên Thỏa thuận hòa giải thành có giá trị ràng buộc như một hợp đồng và có thể được công nhận, thi hành như bản án nếu một hoặc các bên yêu cầu Tòa án công nhận theo quy định tại Chương XXXIII BLTTDS.
Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp mà các bên đồng ý để một bên thứ ba trung lập (Trọng tài viên hoặc Hội đồng trọng tài) đưa ra quyết định có giá trị pháp lý Đây là lựa chọn thay thế cho tố tụng tại tòa án, và quyết định trong trọng tài có tính ràng buộc tương tự như phán quyết của Thẩm phán Do trọng tài hoạt động độc lập với hệ thống công quyền truyền thống, các bên cần phải lựa chọn trọng tài một cách rõ ràng.
Các biện pháp giải quyết tranh chấp có thể được xem như một chuỗi liên kết, với mỗi biện pháp mang lại những lợi thế và bất lợi riêng Các bên có thể lựa chọn phương án phù hợp với bối cảnh của mình, chẳng hạn như tiến hành hòa giải trước khi bắt đầu trọng tài hoặc thực hiện hòa giải sau khi quá trình trọng tài đã khởi động.
Hòa giải viên đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các bên đạt được thỏa thuận hợp lý khi tranh chấp xảy ra Với kỹ năng tạo điều kiện thuận lợi cho thương lượng, bên thứ ba trung lập hỗ trợ các bên tìm ra thỏa hiệp chấp nhận được Phương thức hòa giải hoàn toàn tự nguyện, tập trung vào lợi ích thay vì quyền lợi của các bên, mang lại kết quả tích cực cho quá trình giải quyết tranh chấp.
3 Từ điển chuyên ngành luật Black’s Law, xuất bản lần thứ sáu (1991)
Hòa giải là một phương thức sáng tạo trong giải quyết tranh chấp, không bị giới hạn bởi các chế tài pháp lý truyền thống như bồi thường thiệt hại Phương pháp này rất hữu ích cho những ai muốn duy trì quan hệ kinh doanh và vẫn hy vọng đạt được kết quả hòa giải Ngay cả khi hòa giải không thành công, nó vẫn giúp các bên xác định rõ vấn đề tranh chấp và giải quyết một số khía cạnh, từ đó giảm thiểu thời gian và chi phí cho các thủ tục tố tụng hoặc trọng tài sau này Tại Hồng Kông, hầu hết các đương sự đều phải hòa giải trước khi đưa vụ việc ra tòa, và bên từ chối hòa giải có thể bị bác yêu cầu đền bù chi phí nếu thắng kiện, cũng như phải chịu phí tòa án cho bên đối lập.
Tòa án có vai trò hạn chế trong tố tụng trọng tài, chỉ can thiệp theo quy định của LTTTM Nếu các bên đã có thỏa thuận trọng tài, Tòa án phải từ chối thụ lý vụ kiện, trừ khi thỏa thuận đó vô hiệu hoặc không thể thực hiện Khi Tòa án phát hiện có thỏa thuận trọng tài trong vụ đã thụ lý, cần ra quyết định đình chỉ để các bên khởi kiện ra trọng tài, trừ trường hợp thỏa thuận vô hiệu Nhiều quốc gia như Singapore, Hồng Kông, Pháp, Anh, Thụy Sỹ và Mỹ thường ủng hộ trọng tài và đảm bảo tố tụng được tiến hành Sau khi Hội đồng trọng tài ban hành phán quyết, Tòa án có thể cho thi hành hoặc xem xét các vi phạm thủ tục có thể dẫn đến việc hủy phán quyết.
Trọng tài thương mại trong nước và nước ngoài
Trong lĩnh vực trọng tài quốc tế, thuật ngữ "thương mại" không có một định nghĩa rõ ràng Luật mẫu UNCITRAL đề cập đến khái niệm này trong ghi chú về Điều 1(1).
Thương mại được hiểu rộng rãi, bao gồm mọi vấn đề phát sinh từ các quan hệ thương mại, bất kể có hợp đồng hay không Các mối quan hệ này bao gồm giao dịch buôn bán hàng hóa và dịch vụ, thỏa thuận phân phối, đại diện thương mại, sản xuất, cho thuê, xây dựng, tư vấn, công nghệ, cấp li-xăng, đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thỏa thuận khai thác, liên doanh và các hình thức hợp tác khác, cũng như vận chuyển hàng hóa và hành khách Theo Điều 3(1) Luật Thương mại 2005 tại Việt Nam, "hoạt động thương mại" bao gồm tất cả các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi như mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động sinh lợi khác.
Trọng tài trong nước: Mặc dù không có định nghĩa về trọng tài trong nước trong LTTTM, nhưng có thể suy ra từ định nghĩa
Trọng tài nước ngoài trong Luật Trọng tài Thương mại (LTTTM) đề cập đến các trường hợp mà địa điểm giải quyết tranh chấp bằng trọng tài diễn ra tại Việt Nam.
(i) Một tổ chức trọng tài đƣợc thành lập theo pháp luật Việt Nam tiến hành và theo thủ tục tố tụng trọng tài đƣợc quy định trong LTTTM; hoặc
(ii) Trọng tài vụ việc tiến hành theo LTTTM
Trọng tài nước ngoài là hình thức trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài, do các bên thỏa thuận lựa chọn để giải quyết tranh chấp, có thể diễn ra cả ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam.
Phán quyết trọng tài nước ngoài, theo Đ.I(1) CƯNY, được định nghĩa là các phán quyết được ban hành trên lãnh thổ của quốc gia khác với quốc gia yêu cầu công nhận và thi hành Những phán quyết này không được xem là phán quyết trọng tài trong nước tại quốc gia yêu cầu công nhận và thi hành.
Nhƣ vậy, theo Đ 424(3) BLTTDS, Đ 3(11) và Đ 3(12) LTTTM, một vụ tranh chấp tại trọng tài đƣợc coi là trọng tài
Theo luật Việt Nam, "phán quyết nước ngoài" được xác định bởi Hội đồng trọng tài trong các trường hợp nhất định, bất kể địa điểm giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam (Điều 3(11) LTTTM).
- Khi thủ tục tố tụng trọng tài đƣợc điều chỉnh bởi pháp luật trọng tài nước ngoài; hoặc
- Vụ tranh chấp đƣợc giải quyết tại một tổ chức trọng tài nước ngoài được thành lập theo pháp luật trọng tài nước ngoài
Một vụ tranh chấp trọng tài được giải quyết theo Quy tắc trọng tài của Phòng thương mại quốc tế (ICC) tại Việt Nam, với luật điều chỉnh là Luật Tố tụng Thương mại Phán quyết trọng tài trong trường hợp này được coi là phán quyết trọng tài nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam và cần được công nhận và thi hành theo Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 và Công ước New York.
Trọng tài đầu tƣ quốc tế
Trọng tài quốc tế không chỉ được sử dụng để giải quyết tranh chấp thương mại giữa các bên tư nhân mà còn thường xuyên được áp dụng cho các tranh chấp đầu tư xuyên quốc gia giữa nhà đầu tư nước ngoài và quốc gia tiếp nhận đầu tư Tại Việt Nam, pháp luật chưa định nghĩa rõ về trọng tài đầu tư quốc tế, nhưng nó có thể được hiểu qua các tranh chấp hợp đồng liên quan đến các hợp đồng đầu tư giữa nhà đầu tư và quốc gia tiếp nhận Nếu hợp đồng có điều khoản trọng tài, tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và quốc gia tiếp nhận có thể được đưa ra Hội đồng trọng tài và sẽ được giải quyết theo luật áp dụng cho hợp đồng đầu tư.
Một hình thức trọng tài đầu tư quốc tế mới cho phép nhà đầu tư nước ngoài kiện ra Hội đồng trọng tài quốc tế về các tranh chấp liên quan đến hành vi của quốc gia tiếp nhận đầu tư, ảnh hưởng đến tài sản hoặc quyền lợi của họ Hình thức trọng tài này dựa trên thỏa thuận trong các hiệp định đầu tư quốc tế, bao gồm hiệp định song phương và đa phương như Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN Các hiệp định này cho phép nhà đầu tư hoặc quốc gia thành viên khởi kiện để xem xét vi phạm cam kết quốc tế Hội đồng trọng tài sẽ đánh giá các hành động của chính phủ nước tiếp nhận đầu tư để xác định có vi phạm các biện pháp bảo hộ quốc tế hay không, bao gồm chống phân biệt đối xử và đảm bảo bồi thường đầy đủ Những tranh chấp này thường được giải quyết bởi Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế (ICSID).
Trọng tài quy chế và trọng tài vụ việc
Các bên lựa chọn trọng tài có thể lựa chọn giữa trọng tài quy chế hay trọng tài vụ việc
Bằng cách thỏa thuận tiến hành vụ tranh chấp tại một tổ chức trọng tài, các bên thực sự lựa chọn quy tắc của tổ chức đó
Tổ chức trọng tài sẽ điều hành quy trình tố tụng theo các quy tắc đã được thiết lập Trọng tài quy chế, theo định nghĩa trong Luật Trọng tài Thương mại (LTTTM), là phương thức giải quyết tranh chấp diễn ra tại một tổ chức trọng tài và tuân theo quy tắc tố tụng của tổ chức đó.
Các bên đồng ý giải quyết tranh chấp tại trọng tài mà không cần tổ chức trọng tài hỗ trợ, do đó cần xây dựng quy tắc tố tụng riêng hoặc lựa chọn Quy tắc trọng tài UNCITRAL, được thiết kế cho trọng tài vụ việc Trọng tài vụ việc được định nghĩa trong Luật Trọng tài Thương mại.
Trong cuốn sách "Trọng tài quốc tế: Luật và thực tiễn" của Gary B Born, các hình thức giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật Trọng tài Thương mại Quốc tế (LTTTM) được trình bày chi tiết Đặc biệt, quy trình và thủ tục trọng tài được xác định dựa trên thỏa thuận giữa các bên, như được nêu trong Điều 3(7) của LTTTM.
Tổng quan quy trình trọng tài
2.5.1 Nh ững đặc điể m c ủ a th ỏ a thu ậ n tr ọ ng tài Đặc điểm cơ bản của trọng tài là sự đồng thuận Sự đồng ý của các bên là nền tảng làm phát sinh thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, trao cho Hội đồng trọng tài thẩm quyền đƣa ra phán quyết cuối cùng và ràng buộc các bên mà không cần phải thông qua Tòa án quốc gia
Sự đồng thuận trong việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được thể hiện qua thỏa thuận trọng tài giữa các bên Trong lĩnh vực trọng tài thương mại, thỏa thuận này được định nghĩa là sự đồng ý của các bên về việc sử dụng trọng tài để giải quyết tranh chấp (Đ.3(2) LTTTM) Thỏa thuận thường xuất hiện trong hợp đồng giữa hai bên hoặc dưới dạng thỏa thuận riêng (Đ.16 LTTTM), mặc dù cũng có thể được xác lập thông qua việc viện dẫn đến các văn bản như vận đơn Thỏa thuận cũng có thể là một hợp đồng riêng, trong đó các bên đồng ý đưa tranh chấp đã phát sinh ra trọng tài, nhưng trường hợp này ít khi xảy ra.
Do vậy, thỏa thuận trọng tài có thể được giao kết trước hoặc sau khi tranh chấp phát sinh (Đ 5(1) LTTTM)
2.5.2 Luật áp dụng với thỏa thuận trọng tài Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, luật áp
Trong vụ kiện giữa Parkson Holdings Ltd và Vincent Lai & Partners (HK) Ltd [2008] HKCA 1985, luật Việt Nam được áp dụng cho thỏa thuận trọng tài, cụ thể là các quy định của Luật Trọng tài Thương mại và Nghị quyết 01/2014 Đối với các tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Tòa án cần xác định luật áp dụng để xem xét giá trị của thỏa thuận trọng tài.
Luật áp dụng cho thỏa thuận trọng tài không tự động là luật điều chỉnh hợp đồng có chứa thỏa thuận trọng tài Theo nguyên tắc độc lập, thỏa thuận trọng tài tách biệt với hợp đồng, và luật áp dụng cho thỏa thuận này được xác định độc lập với luật điều chỉnh phần còn lại của hợp đồng.
Luật áp dụng cho thỏa thuận trọng tài quốc tế phải do các bên tự chọn Trong trường hợp các bên không chỉ định luật, luật của địa điểm giải quyết tranh chấp sẽ được áp dụng Nếu địa điểm giải quyết tranh chấp nằm ở một quốc gia khác, Tòa án sẽ căn cứ vào luật của quốc gia đó để xác định hiệu lực của thỏa thuận trọng tài.
2.5.3 Tác độ ng c ủ a th ỏ a thu ậ n tr ọ ng tài: Th ỏ a thu ậ n tr ọ ng tài và Tòa án
Khi các bên đạt được thỏa thuận trọng tài, mọi tranh chấp pháp lý liên quan phải được giải quyết thông qua trọng tài, theo quy định tại Điều 5(1) Luật Trọng tài Thương mại Hệ quả pháp lý đầu tiên từ tính ràng buộc của thỏa thuận này là Hội đồng trọng tài sẽ có thẩm quyền giải quyết.
Khi các bên đã ký kết thỏa thuận trọng tài, Tòa án quốc gia phải từ chối xét xử tranh chấp, trừ khi thỏa thuận đó vô hiệu hoặc không thể thực hiện được (Đ 6 LTTTM) Theo Đ 6 LTTTM và các quy định liên quan, Tòa án có nghĩa vụ chuyển các bên tranh chấp sang trọng tài nếu có yêu cầu giải quyết tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài Hậu quả pháp lý này dẫn đến việc Tòa án không còn thẩm quyền và sẽ chuyển tranh chấp sang Hội đồng trọng tài.
Nguyên tắc này áp dụng cho cả trọng tài trong nước và nước ngoài, theo Đ II(3) CƯNY, Việt Nam cam kết với các quốc gia thành viên rằng Tòa án sẽ chuyển các bên sang trọng tài theo yêu cầu của họ Ngoại lệ duy nhất là khi Tòa án xác định rằng thỏa thuận trọng tài là vô hiệu hoặc không thể thực hiện được.
2.5.4 Th ủ t ụ c t ố t ụ ng tr ọ ng tài
Gần đây, Việt Nam đã thực hiện những sửa đổi trong Luật Trọng tài Thương mại và Bộ luật Tố tụng Dân sự nhằm ủng hộ trọng tài, đồng thời hạn chế và xác định rõ ràng vai trò của Tòa án trong trọng tài thương mại quốc gia và quốc tế Tòa án Việt Nam chỉ can thiệp vào trọng tài trong năm lĩnh vực chính.
- Thẩm quyền của Hội đồng trọng tài (Đ.44 LTTTM, Đ 414(4) BLTTDS);
- Vấn đề chỉ định và khiếu nại việc chỉ định trọng tài viên trong trọng tài vụ việc (Đ 42(4) LTTTM, Đ 414(1) BLTTDS);
- Hỗ trợ thu thập chứng cứ và triệu tập người làm chứng
- Ban hành biện pháp khẩn cấp tạm thời (chương VII của LTTTM, Đ 414(2) BLTTDS);
- Đăng ký phán quyết vụ việc (Đ 62 LTTTM, Đ 414(7) BLTTDS) và hủy phán quyết trọng tài (chương XI LTTTM, Đ 414(3) BLTTDS); và
- Công nhận và cho thi hành phán quyết nước ngoài (chương XXXVII BLTTDS)
Việc hạn chế vai trò của Tòa án trong hỗ trợ và giám sát trọng tài xuất phát từ ý chí của các bên trong thỏa thuận trọng tài, nhằm ưu tiên giải quyết tranh chấp qua thủ tục trọng tài và đảm bảo tính chung thẩm của phán quyết Do đó, trừ những trường hợp được quy định bởi pháp luật trọng tài Việt Nam, không Tòa án nào có quyền can thiệp vào quá trình giải quyết vụ việc.
2.5.5 Phán quy ế t tr ọ ng tài
Các bên tranh chấp có thể đưa vụ việc của mình lên Hội đồng trọng tài, bao gồm một hoặc ba trọng tài viên, để xem xét và đưa ra phán quyết ràng buộc Sau khi phán quyết được ban hành, nếu bên phải thi hành không tự nguyện thực hiện và không yêu cầu hủy phán quyết, bên được thi hành có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thực hiện phán quyết trọng tài.
Phán quyết trọng tài tại Việt Nam có thể được thi hành như một bản án của Tòa án theo Luật Trọng tài Thương mại (LTTTM) và Luật Thi hành án Dân sự (LTHADS) Một lợi thế lớn của trọng tài trong bối cảnh quốc tế là khả năng thi hành phán quyết một cách nhanh chóng và hiệu quả.
Phán quyết trọng tài tại Việt Nam có khả năng được công nhận và thi hành ở các quốc gia khác theo Công ước New York (CƯNY) Ngược lại, phán quyết trọng tài nước ngoài cũng có thể được công nhận và thi hành tại Việt Nam theo CƯNY và Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS).
Tổng quan về quy trình hòa giải
2.6.1 Nh ữ ng đặc điể m chính c ủ a th ỏ a thu ậ n hòa gi ả i
Thỏa thuận hòa giải là văn bản mà các bên trong một quan hệ pháp lý, dù có hợp đồng hay không, đồng ý giải quyết các tranh chấp đã xảy ra hoặc có thể xảy ra thông qua hòa giải Điều này không phụ thuộc vào việc thỏa thuận được đề cập trong tài liệu ký kết hay trong các trao đổi thư tín, cũng như bất kỳ phương tiện trao đổi thông tin bằng văn bản nào có thể được công nhận là chứng cứ.
Tranh chấp sẽ được giải quyết bằng hòa giải nếu các bên có thỏa thuận hòa giải bằng văn bản, có thể thực hiện trước hoặc sau khi tranh chấp phát sinh (Đ.3(2) và Đ 6, Đ 11 Nghị định 22/2017) Nhiều quốc gia yêu cầu hòa giải là bước bắt buộc trước khi khởi kiện Tại Việt Nam, hòa giải diễn ra hoàn toàn tự nguyện và bình đẳng (Đ 4(1) Nghị định 22/2017) Hòa giải tại Tòa án có thể là bước bắt buộc trong quy trình tố tụng, nhưng một số tranh chấp như yêu cầu bồi thường thiệt hại đến tài sản Nhà nước và các vụ vi phạm pháp luật không thuộc đối tượng hòa giải tại Tòa án (Đ 206 BLTTDS).
Một nguyên tắc cơ bản của hòa giải là tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên, với hòa giải viên được lựa chọn theo thỏa thuận chung (Đ 12 Nghị định 22/2017) Hòa giải viên khuyến khích các bên tham gia trực tiếp vào quá trình hòa giải và thực hiện quyền quyết định về quy trình và kết quả (Đ 14, Đ 15 Nghị định 22/2017) Khác với trọng tài viên, hòa giải viên không giải quyết tranh chấp mà tạo điều kiện cho quá trình thương lượng giữa các bên để họ tự tìm ra giải pháp (Đ 14(3) Nghị định 22/2017) Các bên có quyền dừng, rút khỏi hoặc chấm dứt quy trình hòa giải bất kỳ lúc nào (Đ 13(1)(b) và Đ 17(3) Nghị định 22/2017).
Hòa giải viên không chỉ xử lý các vấn đề tình tiết và pháp lý mà còn tập trung vào việc tìm kiếm giải pháp thực tiễn cho các bên liên quan, thay vì quyết định ai đúng ai sai Mục tiêu của hòa giải là hướng tới tương lai, bảo vệ lợi ích của tất cả các bên, bao gồm cả lợi ích pháp lý và các yếu tố khác như quan hệ cá nhân và danh dự Hòa giải viên đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý thông tin và đàm phán, giúp các bên xích lại gần nhau thông qua các phương pháp gợi mở và xây dựng Họ tạo ra môi trường hỗ trợ, giúp các bên hiểu quan điểm của nhau, tập trung vào giải quyết tranh chấp và tránh những cuộc trao đổi tiêu cực Hòa giải viên cũng làm rõ những hiểu lầm, quản lý quá trình thương lượng và hỗ trợ các bên đạt được thỏa thuận cuối cùng phù hợp.
Các bên tranh chấp thường chọn hòa giải để tiết kiệm chi phí và thời gian, tránh những khó khăn tài chính nghiêm trọng do tố tụng tại Tòa án Họ cũng có thể ưu tiên các lợi ích khác ngoài lợi ích pháp lý.
Một nguyên tắc quan trọng của hòa giải là tôn trọng tính bảo mật, theo quy định tại Đ 4(2) và Đ 9(2)(c) Nghị định 22/2017 Quy trình hòa giải được bảo mật nhằm tạo điều kiện cho các bên phát biểu thoải mái, không lập hồ sơ chính thức và thông tin trong quá trình này không được coi là chứng cứ trong các quy trình tố tụng sau Hòa giải không ảnh hưởng đến quyền pháp lý của các bên trong các thủ tục tố tụng sau này, như trọng tài hay tại Tòa án Việc vi phạm tính bảo mật sau khi có thỏa thuận hòa giải thành không cho phép bên bị thiệt hại hủy hợp đồng, mà thay vào đó, họ có thể khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do thông tin bị tiết lộ bất hợp pháp.
2.6.3 Th ỏ a thu ậ n hoà gi ả i thành
Thoả thuận hoà giải thành, hay còn gọi là kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, là văn bản ghi nhận kết quả hòa giải do hòa giải viên thực hiện, có thể là toàn bộ hoặc một phần, theo quy định của pháp luật.
Một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án công nhận thỏa thuận hòa giải thành công từ quá trình hòa giải, ngay cả khi Tòa án không thụ lý vụ tranh chấp (theo Điều 417(3) BLTTDS và Điều 16 Nghị định 22/2017) Việc công nhận này của Tòa án sẽ giúp thỏa thuận hòa giải có hiệu lực thi hành theo quy định của luật thi hành án dân sự (theo Điều 419(9) BLTTDS).
Thủ tục công nhận kết quả hòa giải ngoài Tòa án được quy định tại chương XXXIII BLTTDS (Điều 416-419) Thẩm phán có trách nhiệm xử lý đơn xin công nhận kết quả hòa giải ngoài Tòa án theo quy định tại Điều 363.
Theo Điều 419(1) BLTTDS, phiên họp xét đơn phải tuân thủ quy định tại Điều 367-369 BLTTDS Việc công nhận thỏa thuận hòa giải thành không ảnh hưởng đến hiệu lực của kết quả hòa giải ngoài Tòa án (Điều 419(6)) Tuy nhiên, nếu Thẩm phán nhận thấy thỏa thuận hòa giải không đáp ứng các tiêu chí công nhận theo Điều 417 BLTTDS, thì sẽ không công nhận kết quả hòa giải ngoài Tòa án Các tiêu chí này được quy định tại Điều 417 BLTTDS.
1) Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự
2) Các bên tham gia thỏa thuận có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận hòa giải Nếu nội dung thỏa thuận đƣợc hòa giải liên quan đến quyền, nghĩa vụ của bên thứ ba, thì phải có sự đồng ý của bên thứ ba đó
3) Một hoặc cả hai bên nộp đơn yêu cầu Tòa án công nhận
4) Nội dung thỏa thuận hòa giải hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội, hoặc không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hay với bên thứ ba
Trong thương mại, có thể xảy ra tình huống người đại diện không đủ thẩm quyền để ký kết thỏa thuận hòa giải hoặc kết quả hòa giải ngoài Tòa án Ngoài ra, việc thương lượng không thiện chí có thể dẫn đến chấp nhận sai lầm do hiểu lầm về các yếu tố cơ bản như chất lượng hàng hóa hoặc giá trị của công ty, xuất phát từ việc mô tả sai về giao dịch, cơ sở khách hàng hoặc kênh phân phối.
Thẩm phán phải tôn trọng nguyên tắc tự do tự nguyện thoả thuận trong luật dân sự, trừ khi có sai sót về sự thoả thuận của các bên Trong một trường hợp, một gia đình điều hành công ty sợi thủ công và nhà phân phối đã tranh chấp về phân chia lợi nhuận do những cách giải thích hợp đồng khác nhau và một lỗi kế toán vô ý Hợp đồng quy định rằng việc không tuân thủ sẽ dẫn đến chấm dứt hợp đồng, nhưng họ đã duy trì mối quan hệ thương mại tốt trong nhiều năm Nhà phân phối đối mặt với rủi ro nghiêm trọng về dòng tiền nếu thanh toán cho nhà sản xuất, dẫn đến tình trạng tiến thoái lưỡng nan Cuối cùng, các bên đã chọn hòa giải và đồng ý gia hạn hợp đồng thêm ba năm, hoàn trả số tiền thanh toán vượt quá cho công ty sợi kèm lãi suất Họ cũng thỏa thuận một thủ tục phòng ngừa để tránh sai sót trong tương lai và đưa điều khoản hòa giải vào hợp đồng gia hạn Hợp đồng này là hợp pháp và có giá trị ràng buộc, do đó không có căn cứ để Thẩm phán thi hành hợp đồng gốc.
Nếu hòa giải không đạt được kết quả, các bên có quyền yêu cầu trọng tài hoặc Tòa án can thiệp để giải quyết tranh chấp theo quy định pháp luật (Điều 15(4) Nghị định 22/2017).
VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN VIỆT NAM ĐỐI VỚI TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI TRONG NƯỚC VÀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI NƯỚC NGOÀI CÓ ĐỊA ĐIỂM GIẢI QUYẾT
Thẩm quyền của Tòa án đối với hoạt động trọng tài
Tòa án đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ trọng tài thương mại, cả trong nước và quốc tế, với địa điểm giải quyết tranh chấp tại Việt Nam Các quy định liên quan được nêu rõ trong các văn bản pháp lý như CƢNY (Điều I(1)), LTTTM (Điều 7), BLTTDS (Điều 414, 415 và 424) và Nghị quyết 01/2014.
Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nhân dân tỉnh và thành phố trực thuộc trung ƣơng (Đ 7(3) LTTTM)
Khi các bên đạt được thỏa thuận về việc Tòa án Việt Nam có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài theo Điều 7(3) LTTTM, thỏa thuận này sẽ được thi hành theo Điều 7(1) LTTTM Tuy nhiên, nếu thỏa thuận về thẩm quyền không tuân thủ quy định của pháp luật, thì sẽ bị coi là không có thỏa thuận về lựa chọn Tòa án có thẩm quyền.
Khi các bên không thống nhất về việc lựa chọn Tòa án Việt Nam có thẩm quyền cho hoạt động trọng tài, thẩm quyền của Tòa án sẽ được xác định theo quy định tại Điều 7(2) của Luật Trọng tài Thương mại.
Vấn đềTòa án có thẩm quyềnTrọng tài trong nước
Trong tài nước ngoài giải quyết tranh chấp tại Việt Nam
Trọng tài nước ngoàigiải quyết tranh chấp ngoài Việt Nam
Căn cứ pháp lý Chỉ định trọng tài viên của Hội đồng trọng tài vụ việc
Bị đơn có thể bị kiện tại tòa án nơi họ cư trú hoặc làm việc, hoặc tại tòa án nơi tổ chức của họ đặt trụ sở Nếu bị đơn có nơi cư trú hoặc trụ sở ở nước ngoài, nguyên đơn có thể khởi kiện tại tòa án nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở của mình.
√√ Đ.7(2)(a) LTTTM; Đ 5.5 NQ 01/2014 Thay đổi trọng tài viênTòa án nơi Hội đồng√√Đ 7(2)(b)
Hội đồng trọng tài có trách nhiệm giải quyết tranh chấp theo quy định tại Điều 5.5 Nghị quyết 01/2014, liên quan đến việc khiếu nại quyết định của Hội đồng về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài và thẩm quyền của trọng tài.
Tòa án nơi Hội đồng trọng tài ban hành quyết định có thẩm quyền thu thập chứng cứ theo Điều 7(2)(c) của Luật Trọng tài Thương mại và Điều 5.5 Nghị quyết 01/2014 Đồng thời, Tòa án nơi có chứng cứ cần thu thập cũng có quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Điều 7(2)(d) của Luật Trọng tài Thương mại và Điều 5.5 Nghị quyết 01/2014.
Tòa án nơi biện pháp khẩn cấp tạm thờicần đƣợc áp dụng√√ Đ 7(2)(đ) LTTTM; Đ 5.5 NQ 01/2014 Triệu tập người làmTòa án nơi người làm√√Đ 7(2)(e)
39 chứngchứng cƣ trúLTTTM; Đ 5.5 NQ 01/2014 Hủy phán quyết trọng tài hoặc đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc
Tòa án nơi Hội đồng trọng tài tuyên phán quyết√ Đ 7(2)(g) LTTTM; Đ 5.5 NQ 01/2014 Công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam
Tòa án có thẩm quyền thi hành phán quyết là nơi cá nhân cư trú hoặc làm việc, hoặc nơi tổ chức có trụ sở Ngoài ra, tòa án cũng có thẩm quyền nếu có tài sản liên quan đến việc thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài.
Phạm vi thẩm quyền của Tòa án đối với hoạt động trọng tài phụ thuộc vào loại trọng tài, bao gồm trọng tài trong nước và trọng tài nước ngoài Địa điểm giải quyết tranh chấp, có thể nằm trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam, là yếu tố quan trọng để xác định loại trọng tài Việc xem xét địa điểm Hội đồng trọng tài tiến hành giải quyết tranh chấp theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quyết định của Hội đồng trọng tài là cần thiết, như quy định tại Điều 3(8) Luật Trọng tài Thương mại và Điều 5(4) Nghị quyết 01/2014.
Địa điểm giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là một khái niệm pháp lý, không phải địa lý Các hoạt động như phiên họp giải quyết tranh chấp, biểu quyết, ký phán quyết và các sự kiện khác trong quy trình trọng tài có thể diễn ra ở nhiều nơi khác nhau.
3.1.1 Phân đị nh th ẩ m quy ề n gi ữ a Tòa án và Tr ọng tài thương mạ i
Luật: Đ 6 LTTTM Đ 3(1) Luật thương mại Đ 2 Nghị quyết 01/2014
Việc phân định thẩm quyền giữa Tòa án và Trọng tài thương mại phát sinh khi những tranh chấp dưới đây được đưa ra tòa án (Đ.2 LTTTM):
Tranh chấp thương mại giữa các bên thường phát sinh từ các hoạt động nhằm tạo ra lợi nhuận, bao gồm mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ và đầu tư, theo quy định tại Điều 3(1) của Luật Thương mại.
7 Phần III.1.1, Hướng dẫn giải thích Công ước New York 1958 của ICCA (Hướng dẫn ICCA)
- Tranh chấp phát sinh giữa các bên khi ít nhất một bên tham gia hoạt động thương mại; hoặc
Các tranh chấp giữa các bên có thể được giải quyết bằng trọng tài theo quy định của pháp luật, bao gồm tranh chấp hàng hải theo Điều 338 Bộ luật hàng hải 2015, tranh chấp liên quan đến nghị quyết của Hội đồng thành viên và Đại hội cổ đông theo Điều 63 và Điều 147 Luật doanh nghiệp 2014, cũng như tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ theo Điều 198 Luật sở hữu trí tuệ số 2005, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Khi tranh chấp được đưa ra Tòa án, Tòa án cần xem xét kỹ lưỡng và cân nhắc các tài liệu kèm theo đơn để đưa ra quyết định phù hợp cho từng trường hợp cụ thể.
(i) Theo Đ.II(3) CƢNY và Đ 6 LTTTM, Tòa án phải trả lại đơn và tài liệu kèm theo cho người khởi kiện căn cứ vào Đ 191(3)(d) BLTTDS nếu:
- Tồn tại thỏa thuận trọng tài có hiệu lực và giá trị pháp lý để giải quyết tranh chấp đó (xem thêm Đ.2(2)(b) Nghị quyết
- Đã có yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp và Hội đồng trọng tài đang xử lý tranh chấp (xem thêm Đ 2(2)(c)
Điều khoản giải quyết tranh chấp giữa các bên quy định về trọng tài và Tòa án Nếu một bên đã khởi kiện ra trọng tài, Tòa án cần áp dụng quy định tại Điều 6 LTTTM để trả lại đơn khởi kiện.
Nếu Tòa án đã thụ lý vụ tranh chấp, theo quy định tại Đ 217(1)(g) BLTTDS, Tòa án cần đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại đơn cùng tài liệu kèm theo, như được nêu trong Đ 2(2)(c) và Đ 2(4)(b) Nghị quyết 01/2014.
Nếu Toà án sơ thẩm đã giải quyết vụ án nhưng Toà án cấp phúc thẩm phát hiện tranh chấp thuộc tình huống nêu trên, Toà án cấp phúc thẩm sẽ huỷ bản án sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại đơn cùng tài liệu kèm theo theo quy định tại Điều 192(1)(đ), Điều 217(1)(g), Điều 308(4) và Điều 311 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Hỗ trợ của Tòa án đối với tố tụng trọng tài
Tòa án có vai trò hỗ trợ trọng tài trong quá trình tố tụng, bao gồm việc thu thập chứng cứ, triệu tập nhân chứng và áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
3.3.1 Tòa án h ỗ tr ợ thu th ậ p ch ứ ng c ứ
Luật: Đ 46 LTTTM Đ 11 Nghị quyết 01/2014 Đ 414(5) BLTTDS
LTTTM quy định hai nguyên tắc cơ bản trong việc thu thập chứng cứ Các bên có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ liên quan đến các vấn đề tranh chấp cho Hội đồng trọng tài (Đ 46(1) LTTTM) Đồng thời, Hội đồng trọng tài cũng có thẩm quyền trong việc thu thập chứng cứ.
- Theo yêu cầu của một hoặc các bên, yêu cầu người làm chứng cung cấp thông tin và tài liệu liên quan đến việc giải quyết tranh chấp (Đ 46(2) LTTTM);
Theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, việc đánh giá hoặc định giá tài sản tranh chấp là cần thiết để có cơ sở giải quyết tranh chấp hoặc thu thập ý kiến từ chuyên gia (Đ 46(3)).
Trong trường hợp Hội đồng trọng tài hoặc các bên không thể thu thập chứng cứ cần thiết, họ có quyền đề nghị Tòa án yêu cầu các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác lưu giữ và cung cấp chứng cứ cho Tòa án theo quy định tại Điều 46(5) Luật Trọng tài Thương mại.
Văn bản đề nghị Tòa án cần xác định rõ vấn đề tranh chấp đang được trọng tài giải quyết, liệt kê chứng cứ cần thu thập và lý do chưa thu thập được Đồng thời, cần cung cấp tên và địa chỉ của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đang quản lý và lưu giữ chứng cứ Văn bản này phải được gửi kèm với đơn khởi kiện trọng tài, thỏa thuận trọng tài và các tài liệu chứng minh việc không thu thập được chứng cứ theo quy định.
Tòa án có thẩm quyền phải xử lý yêu cầu thu thập chứng cứ nhƣ sau:
- Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận đƣợc yêu cầu, Chánh án phải phân công một Thẩm phán xem xét và giải quyết yêu cầu;
Trong vòng 05 ngày làm việc kể từ khi được phân công, Thẩm phán có trách nhiệm gửi thông báo bằng văn bản đến cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đang quản lý và lưu giữ chứng cứ, yêu cầu họ cung cấp chứng cứ đó cho Tòa án.
Thẩm phán cần gửi thông báo đến Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để Viện kiểm sát thực hiện chức năng và nhiệm vụ theo quy định của pháp luật (Đ 46(6) LTTTM).
Trong vòng 15 ngày kể từ khi nhận yêu cầu của Tòa án, các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đang quản lý và lưu giữ chứng cứ phải nộp chứng cứ đó lên Tòa án theo quy định tại Điều 46(6) đoạn 2 Luật Tố tụng thương mại và Điều 106(3) đoạn 2 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nếu cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân không thể giao nộp chứng cứ trong thời hạn quy định, họ phải thông báo bằng văn bản cho Tòa án về lý do không giao nộp.
Khi hết thời hạn giao nộp chứng cứ, Tòa án sẽ thông báo ngay cho Hội đồng trọng tài và người yêu cầu, đồng thời gửi thông báo bằng văn bản đến cơ quan hoặc tổ chức có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật (Đ 46(6) đoạn 4 LTTTM).
Cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân không tuân thủ yêu cầu của Tòa án mà không có lý do chính đáng sẽ bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, tùy thuộc vào bản chất và mức độ nghiêm trọng của vi phạm, theo quy định tại Điều 106(3) đoạn 2 và Điều 495(1) Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong vòng 05 ngày làm việc kể từ khi nhận chứng cứ từ cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân, Tòa án có trách nhiệm thông báo cho Hội đồng trọng tài và người yêu cầu để thực hiện việc giao nhận chứng cứ (theo Điều 46(6) đoạn 3 Luật Trọng tài Thương mại).
3.3.2 Tòa án h ỗ tr ợ tri ệ u t ậ p ngườ i làm ch ứ ng
Luật: Đ 47 LTTTM Đ 11 Nghị quyết 01/2014 Đ 414(6) BLTTDS
Hội đồng trọng tài có quyền yêu cầu người làm chứng tham gia phiên họp giải quyết tranh chấp khi cần thiết (Đ 47(1) LTTTM) Nếu người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng, và sự vắng mặt này cản trở việc giải quyết tranh chấp, Hội đồng trọng tài có thể đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng đó (Đ 47(2)LTTTM).
Yêu cầu triệu tập người làm chứng phải ghi rõ những thông tin sau đây:
(i) Nội dung vụ việc hiện đang đƣợc trọng tài giải quyết; (ii) Họ tên và địa chỉ người làm chứng;
(iii) Lý do triệu tập người làm chứng; và
(iv) Thời gian và địa điểm người làm chứng cần có mặt (Đ 47(2) LTTTM)
Văn bản đề nghị triệu tập người làm chứng cần kèm theo bản sao đơn khởi kiện, thỏa thuận trọng tài và các tài liệu liên quan Nếu người làm chứng không có mặt tại phiên trọng tài mà không có lý do chính đáng, điều này có thể cản trở việc giải quyết tranh chấp, theo quy định tại Điều 11(3) Nghị quyết 01/2014.
Tòa án có thẩm quyền phải xỷ lý yêu cầu triệu tập người làm chứng nhƣ sau:
Trong vòng 07 ngày làm việc kể từ khi nhận yêu cầu bằng văn bản từ Hội đồng trọng tài, Chánh án Tòa án có thẩm quyền sẽ phân công một Thẩm phán để xem xét và giải quyết yêu cầu đó, theo quy định tại Điều 47(3) của Luật Trọng tài Thương mại.
Đăng ký và hủy phán quyết trọng tài
3.4.1 Đăng ký phán quyế t tr ọ ng tài v ụ vi ệ c
Luật: Đ 7(2)(g) và 62 LTTTM; Đ 13 Nghị quyết 01/2014
Việc đăng ký phán quyết trọng tài không bắt buộc, nhưng nó rất quan trọng để hỗ trợ thực thi phán quyết tại Việt Nam, đặc biệt khi bên phải thi hành không tự nguyện thực hiện.
Liên quan đến phán quyết trọng tài, TAND TP A đã quyết định rằng phán quyết này “được đăng ký”, trong đó nêu rõ trách nhiệm của Cơ quan thi hành án dân sự, Hội đồng trọng tài/Trọng tài viên và các bên liên quan trong việc thi hành quyết định Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành phán quyết, giúp cơ quan thi hành án có cơ sở để thực hiện quyết định trọng tài.
Trước khi yêu cầu Cơ quan thi hành án thực hiện phán quyết trọng tài, các bên trong thỏa thuận trọng tài cần nộp đơn đăng ký phán quyết tại Tòa án nơi Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết, trong thời hạn 1 năm kể từ ngày ban hành phán quyết Nếu đơn yêu cầu được nộp sau thời hạn này, Tòa án có thẩm quyền sẽ bác đơn Đơn yêu cầu phải kèm theo các tài liệu theo quy định tại Điều 62(2) LTTTM.
Trong vòng 5 ngày làm việc kể từ khi nhận yêu cầu và tài liệu liên quan, Chánh án Tòa án có thẩm quyền sẽ phân công một Thẩm phán để giải quyết đơn Sau đó, trong thời hạn 10 ngày làm việc, Thẩm phán phải kiểm tra tính xác thực của các tài liệu kèm theo đơn yêu cầu Khi xem xét yêu cầu, Thẩm phán sẽ
- Không mở phiên họp xét đơn yêu cầu;
- Không xem xét lại nội dung phán quyết trọng tài mà chỉ xác minh các tài liệu kèm theo có thực hay không;
- Có thể triệu tập một hoặc cả hai bên tranh chấp để nghe ý kiến của họ về yêu cầu đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc
Nếu các tài liệu đính kèm được xác thực và đáp ứng yêu cầu tại Đ 62(2) LTTTM, Thẩm phán sẽ ban hành quyết định đăng ký phán quyết trọng tài theo mẫu số 04 của Nghị quyết 01/2014 Một số Tòa án thực tế chấp nhận đăng ký phán quyết trọng tài khi tài liệu kèm theo là bản sao phán quyết và bản sao thỏa thuận trọng tài đã được chứng thực hợp lệ.
Nếu phán quyết trọng tài được xác định là không có thật, Thẩm phán sẽ ra quyết định từ chối đăng ký phán quyết đó, nêu rõ lý do từ chối theo mẫu số 05 của Nghị quyết 01/2014 Trong tình huống này, Thẩm phán cần thông báo ngay cho người nộp đơn và trả lại các tài liệu liên quan.
3.4.2 H ủ y phán quy ế t tr ọ ng tài a) Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài và thủ tục
Một bên tham gia tố tụng trọng tài có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền hủy phán quyết trọng tài theo các căn cứ tại Điều 68(2) Luật Thương mại Để yêu cầu hủy phán quyết, bên yêu cầu cần gửi kèm bản chính hoặc bản sao có chứng thực của phán quyết trọng tài, thỏa thuận trọng tài, và bản dịch tiếng Việt có chứng thực của các tài liệu kèm theo nếu bản gốc là tiếng nước ngoài, theo quy định tại Điều 70 Luật Thương mại.
Thời hạn nộp đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là 30 ngày kể từ ngày nhận phán quyết Nếu đơn được gửi muộn do sự kiện bất khả kháng, thời gian xảy ra sự kiện này sẽ không được tính vào thời hạn yêu cầu hủy phán quyết.
Thủ tục, thời hạn và việc ban hành quyết định (Đ 71 LTTTM):
Sau khi tiếp nhận đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, Tòa án cần thông báo cho Trung tâm trọng tài, các thành viên của Hội đồng trọng tài, các bên tranh chấp và Viện kiểm sát cùng cấp.
Trong vòng 07 ngày làm việc kể từ khi thụ lý, Chánh án Tòa án sẽ chỉ định một Hội đồng xét đơn yêu cầu gồm ba Thẩm phán, trong đó có một Thẩm phán chủ tọa theo sự phân công của Chánh án để giải quyết yêu cầu.
- Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày đƣợc chỉ định, Hội đồng xét đơn yêu cầu phải mở phiên họp để xét đơn yêu cầu;
Trong vòng 7 ngày làm việc trước khi phiên họp diễn ra, Tòa án cần chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp để nghiên cứu Sau thời gian này, Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ cho Tòa án để tiến hành mở phiên họp xét đơn yêu cầu.
- Kiểm sát viên và các bên liên quan phải có mặt tại phiên họp (Đ 71(3) LTTTM) b) Phân tích những căn cứ cụ thể để hủy phán quyết trọng tài
Tòa án căn cứ vào quy định tại Đ 68 LTTTM và các tài liệu kèm theo để quyết định và không đƣợc xem xét lại nội dung tranh chấp
Toà án đã nhận định rằng Công ty X không hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc giao hàng trễ và không đạt chất lượng, nhưng các vấn đề mà Công ty X viện dẫn đều thuộc nội dung tranh chấp đã được Hội đồng trọng tài giải quyết Do đó, theo quy định tại Đ 71(4) LTTTM, Hội đồng xét đơn quyết định không chấp nhận yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.
Các căn cứ để hủy phán quyết trọng tài đã đƣợc liệt kê cụ thể tại Đ 68 LTTTM:
Căn cứ thứ nhất cho việc không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu được quy định tại Điều 68(2)(a) của Luật Trọng tài Thương mại Căn cứ này cần được hiểu kết hợp với các điều khoản tại Điều 16, Điều 18 của Luật Trọng tài Thương mại và Điều 14(2)(a) của Nghị quyết 01/2014.
Trong trường hợp không có thỏa thuận trọng tài nhưng một bên đã khởi kiện ra trọng tài và bên kia tham gia tố tụng cũng như đồng ý với thẩm quyền của trọng tài, thì được xem như các bên đã có thỏa thuận trọng tài mới.
Toà án đã nhận định rằng trong trường hợp tranh chấp về chi phí đổ bỏ chất thải, Công ty H đã khởi kiện tại Trung tâm trọng tài thương mại A, và Tổng công ty M cũng đồng ý chọn trung tâm này cùng với Hội đồng trọng tài Thoả thuận này phù hợp với các quy định tại Đ 5(1) và Đ 16(2) LTTTM, do đó, yêu cầu của Tổng công ty M về việc Trung tâm trọng tài thương mại A không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là không có căn cứ.