Xác định thành phần dân tộc là quá trình tiến hành các biện pháp khoa học, thống kê tình hình dân cư của một quốc gia theo những tiêu chí khoa học nhất định để định vị nhóm người này hoặ
Đặ t v ấn đề
Việt Nam, với hàng ngàn năm văn hiến, là một quốc gia có cộng đồng dân tộc đa dạng, bao gồm 54 dân tộc, mỗi dân tộc đều góp phần vào quá trình dựng nước và giữ nước Qua các thời kỳ lịch sử thăng trầm, sức mạnh và vị thế của dân tộc Việt Nam được hình thành từ truyền thống đoàn kết, yêu nước, cùng với sự cần cù, thông minh và nhân nghĩa Những giá trị văn hóa và lịch sử quý giá này chính là di sản của cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Nhận thức đúng đắn về cộng đồng các dân tộc Việt Nam hiện nay rất quan trọng, giúp tạo sự đồng thuận xã hội và tăng cường lòng tự hào dân tộc Điều này không chỉ phát huy truyền thống yêu nước và đoàn kết dân tộc mà còn củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước Đây là cơ sở tư tưởng quan trọng để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái từ các thế lực thù địch, nhằm bảo vệ chế độ và giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Tri thức về cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với cơ sở khoa học và lý luận vững chắc, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về dân tộc và quốc gia Điều này không chỉ củng cố niềm tin mà còn phát huy sức mạnh nội sinh của con người, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước trong cả hiện tại và tương lai.
Một số thuật ngữ liên quan đến cộng đồng dân tộc
Việt Nam là một quốc gia với 54 thành phần dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số và 01 dân tộc đa số
"Dân tộc" ở Việt Nam được hiểu là một cộng đồng người thống nhất, có chung nhà nước, lãnh thổ, nền kinh tế và chế độ chính trị - xã hội, cùng ngôn ngữ và văn hóa Khái niệm này liên quan đến dân tộc - quốc gia, gắn liền với sự hình thành nhà nước dân tộc, có thể bao gồm một hoặc nhiều thành phần dân tộc Dân tộc - quốc gia Việt Nam là một cộng đồng chính trị - xã hội đa dạng, có lãnh thổ và chủ quyền được công nhận, với nhà nước, ngôn ngữ pháp luật, và những đặc điểm lịch sử, kinh tế, văn hóa riêng biệt, tạo nên bản sắc khác biệt so với các quốc gia khác.
"Dân tộc" ở Việt Nam được hiểu theo nghĩa hẹp là chỉ một tộc người cụ thể như Tày, Thái, Ba Na, Khmer, Kinh, tức là các "thành phần dân tộc" trong cộng đồng quốc gia Dân tộc - tộc người là một cộng đồng nhỏ hơn quốc gia Do đó, khi nói đến Dân tộc ở Việt Nam, cần phân biệt giữa Dân tộc - Quốc gia và Dân tộc - Tộc người, bao gồm 54 thành phần dân tộc trong cộng đồng dân tộc - quốc gia Việt Nam.
Các tộc người ở nước ta được xác định bởi những tiêu chí khoa học cụ thể, bao gồm ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác Cộng đồng tộc người là tổ chức xã hội hình thành trong lịch sử, với những đặc điểm riêng về lãnh thổ, kinh tế và văn hóa Các loại hình cộng đồng tộc người có đặc điểm và cấp độ khác nhau, vừa độc lập vừa có mối quan hệ với quốc gia Những tiêu chí này giúp nhận biết sự khác biệt giữa các thành phần dân tộc.
Xác định thành phần dân tộc là quá trình khoa học và thống kê nhằm phân loại dân cư theo tiêu chí nhất định, giúp nhận diện các nhóm dân tộc với đặc điểm và bản sắc riêng Quá trình này không chỉ phân biệt các dân tộc mà còn hỗ trợ quản lý nhà nước và thực hiện các mục tiêu phát triển cho từng dân tộc, đặc biệt là đối với dân tộc đa số.
Theo Nghị định số 05/2011/NĐ-CP, dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số cả nước Tại Việt Nam, dân tộc Kinh là dân tộc đa số với 82.085.826 người, chiếm 85,3% dân số Trên thế giới, một dân tộc có thể là đa số ở quốc gia này nhưng lại là thiểu số ở quốc gia khác Tại Việt Nam, do nhu cầu quy hoạch dân cư và phát triển kinh tế - xã hội, có những trường hợp dân tộc chiếm đa số ở một địa phương nhưng lại là thiểu số ở địa phương khác.
Theo Nghị định 05/2011/NĐ-CP, dân tộc thiểu số được định nghĩa là những dân tộc có số lượng dân cư ít hơn so với dân tộc đa số trong lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Theo thống kê từ năm 1979 đến 2019, Việt Nam có 53 dân tộc thiểu số, với khoảng 14,119 triệu người, chiếm 14,7% dân số cả nước Quá trình di trú giữa các dân tộc diễn ra vì nhiều lý do khác nhau, dẫn đến sự hình thành các lớp dân cư và các thành phần dân tộc thiểu số tại chỗ, cũng như những dân tộc mới di trú đến các vùng miền.
Dân tộc thiểu số tại chỗ là những cộng đồng có nguồn gốc lịch sử và tổ tiên lâu đời, sinh sống tại một địa phương cụ thể Họ đã hình thành các giá trị văn hoá và kinh tế gắn liền với điều kiện tự nhiên và xã hội của khu vực đó, khác biệt với các cư dân mới chuyển đến từ nơi khác trong thời gian gần đây Dân tộc thiểu số thường có số lượng dân cư rất ít.
Theo Nghị định 05/2011/NĐ-CP, "dân tộc thiểu số rất ít người" được định nghĩa là những dân tộc có số dân dưới 10.000 người và đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, bao gồm cả những khó khăn đặc thù.
Vào ngày 31/12/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 39/2020/QĐ-TTg, quy định các tiêu chí xác định các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn và có những khó khăn đặc thù trong giai đoạn 2021 - 2025.
Dân tộc thiểu số vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn, đặc biệt là những cộng đồng sinh sống ổn định tại các xã khu vực III và các thôn đặc biệt khó khăn Những khu vực này thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, theo quy định tại Quyết định số 33/2020/QĐ-TTg ngày 12 tháng 11 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ, và cần đáp ứng ít nhất một trong các tiêu chí đã được đề ra.
(1) Có tỷ lệ hộ nghèo lớn hơn từ 1,5 lần trở lên so với bình quân chung tỷ lệ hộ nghèo của 53 dân tộc thiểu số
Tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên không biết đọc, biết viết tiếng phổ thông ở nhóm này cao hơn 1,5 lần so với mức trung bình của 53 dân tộc thiểu số.
Tỷ suất tử vong của trẻ em dưới 1 tuổi ở nhóm dân tộc này cao hơn 1,5 lần so với mức trung bình của 53 dân tộc thiểu số khác.
Dân tộc thiểu số gặp khó khăn đặc thù khi sinh sống ổn định thành cộng đồng tại các xã khu vực III và các thôn đặc biệt khó khăn Theo Quyết định số 33/2020/QĐ - TTg ngày 12 tháng 11 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ, những cộng đồng này có dân số dưới 10.000 người và thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1227/2021/QĐ - TTg vào ngày 14/7/2021, phê duyệt danh sách 32 dân tộc gặp nhiều khó khăn và 14 dân tộc có khó khăn đặc thù trong giai đoạn 2021-2025.
Một số lưu ý khi sử dụng thuật ngữ và vận dụng kiến thức
a Lưu ý khi sử dụng thuật ngữ“Sắc tộc” và “Bản sắc dân tộc”
Từ “sắc tộc” ban đầu được sử dụng để chỉ những đặc điểm về màu da và văn hóa của các dân tộc, nhưng đã bị một số học giả sử dụng với hàm ý phân biệt và miệt thị Do đó, trong các vấn đề liên quan đến dân tộc, nên thay thế “sắc tộc” bằng “bản sắc dân tộc” để tránh hiểu lầm Cần lưu ý sự khác biệt giữa thuật ngữ “Dân tộc” - Quốc gia và “Dân tộc” - Tộc người.
Khi đề cập đến 54 thành phần dân tộc, cần phân biệt rõ giữa Dân tộc - Tộc người và Dân tộc - Quốc gia, như đã nêu trong khái niệm trước đó.
Sự phân biệt giữa "Thành phần dân tộc" và "Dân tộc - Quốc gia Việt Nam" là rất quan trọng, giúp mọi người hiểu rõ hơn về các khái niệm này Điều này giúp xác định khi nào một nhóm được gọi là tộc người và khi nào được xem là dân tộc trong bối cảnh quốc gia.
“dân tộc Ê Đê, Tày, Khmer”… khi nào gọi là “dân tộc Việt Nam” c Lưu ý khi sử dụng thuật ngữ“Dân tộc thiểu số” và “Dân tộc ít người”
Trong quá trình thông tin và tuyên truyền, cần tránh sử dụng thuật ngữ “Dân tộc ít người” và thay vào đó là “Dân tộc thiểu số” Thuật ngữ “thiểu số” được dùng để so sánh với cộng đồng “đa số” dựa trên tiêu chí “dân số” tại Việt Nam Nghị định 05/2011/NĐ-CP đã xác định rõ hai thuật ngữ “Dân tộc thiểu số” và “Dân tộc đa số” Cần lưu ý khi sử dụng thuật ngữ “Dân tộc rất ít người”.
Dân tộc thiểu số rất ít người ở Việt Nam bao gồm các tộc người có dân số dưới 10.000 người Dữ liệu từ các cuộc điều tra về thực trạng kinh tế - xã hội cho thấy sự đa dạng và đặc thù của các nhóm này.
53 dân tộc thiểu số năm 2019, có 14 tộc người thuộc nhóm “rất ít người” (1 Pà Thẻn, 2
Chứt, 3 Lự, 4 Lô Lô, 5 Mảng, 6 Cơ Lao, 7 Bố Y, 8 Cống, 9 Ngái, 10 Si la, 11 Pu Péo,
Hiện nay, trong các văn bản chính sách và quản lý nhà nước, các tộc người như Rơ Măm, Brâu, và Ơ Đu được gọi là “dân tộc thiểu số” Đặc biệt, những nhóm có dân số dưới 10.000 người được phân loại là “dân tộc thiểu số rất ít người” Cần lưu ý khi sử dụng các thuật ngữ “Dân tộc bản địa” và “Dân tộc tại chỗ”.
Khi sử dụng thuật ngữ “Dân tộc bản địa” hay “Dân tộc tại chỗ”, thuật ngữ “Dân tộc tại chỗ” hiện nay được coi là phù hợp hơn Gần đây, một số thế lực thù địch đã lợi dụng “Tuyên ngôn của Liên hợp quốc về Quyền của các dân tộc bản địa” để tuyên truyền đòi công nhận một số dân tộc ở Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ là các dân tộc bản địa, đồng thời yêu cầu các quyền phi lý không phù hợp với thực tiễn Việt Nam Hành động này nhằm phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, chia cắt đất nước và chống phá sự nghiệp xây dựng, phát triển của quốc gia Cần lưu ý khi đề cập đến quan hệ giữa Dân tộc và Tôn giáo.
Hiện nay, các thế lực thù địch ở nước ta thường lợi dụng những vấn đề nhạy cảm về dân tộc và tôn giáo để tạo ra những “điểm nóng”, kích động chủ nghĩa dân tộc và tư tưởng đòi tự trị, gây mất ổn định xã hội Do đó, khi đề cập đến các thành phần dân tộc và tình hình tôn giáo trong đời sống của đồng bào, cần chú ý đến những hiện tượng tà đạo và việc lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng nhằm gây chia rẽ giữa các tôn giáo và dân tộc, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.
KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH LỊ CH SỬ C ỦA C ỘNG ĐỒNG CÁC DÂN T ỘC VI Ệ T NAM
Trong buổi đầu lập nước
Các nghiên cứu khoa học cho thấy Việt Nam từ thời thượng cổ đã là nơi tụ cư của nhiều thành phần cư dân thuộc các bộ lạc khác nhau, với nguyện vọng xây dựng cuộc sống dựa trên nền văn minh nông nghiệp Những cư dân này đã dần thoát khỏi cuộc sống săn bắt, hái lượm để tiến tới định cư Kết quả khảo cổ học cho thấy sự hình thành cộng đồng quốc gia từ những cuộc đấu tranh sinh tồn, với ý thức quần tụ giữa các nhóm dân tộc khác nhau Ý thức cộng đồng này đã tạo nên những giá trị lịch sử lớn lao, được phản ánh qua các huyền thoại và cổ tích như Nạn hồng thủy, Mẹ Âu, Bố Lạc của người Việt, và nhiều truyền thuyết khác của các dân tộc thiểu số Những câu chuyện này không chỉ khẳng định tính độc lập của các cộng đồng mà còn thể hiện sự thống nhất đa dạng của cư dân Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam, ngay từ buổi sơ khai Bên cạnh sự khác biệt về tộc người, còn có những điểm tương đồng về nhân chủng, ngôn ngữ và văn hóa, thể hiện ý thức chung sống trong một quốc gia - dân tộc.
Thời kỳ lập nước Văn Lang, cộng đồng dân tộc Việt hình thành từ liên minh 15 bộ lạc, sớm hơn các quốc gia Đông Nam Á khác Nước Văn Lang được xây dựng trên nền tảng của các công xã nông thôn, phân bố ở các vùng đồng bằng ven sông lớn tại Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, với các khu cư trú là những xóm làng định cư cùng các dòng họ chính và nhỏ Phạm vi văn hóa Đông Sơn trùng khớp với cương vực nước Văn Lang thời Hùng Vương, bao gồm 15 bộ lạc lớn và nhiều bộ lạc nhỏ có mối quan hệ kinh tế, xã hội và văn hóa chặt chẽ.
Quá trình đó trong buổi bình minh của lịch sử có ý nghĩa và vai trò rất quan trọng:
Vào những thế kỷ trước công nguyên, các bộ lạc Lạc Việt và Âu Việt ở miền Bắc Việt Nam đã hợp nhất thành nước Văn Lang, Âu Lạc Nhân dân Văn Lang - Âu Lạc đã hình thành một cộng đồng dân cư ổn định với lối sống và nền văn hóa riêng, dựa trên nền tảng nông nghiệp trồng lúa nước phát triển Điều này đã tạo ra cơ sở quan trọng giúp họ vượt qua hơn một nghìn năm đô hộ và đồng hóa của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán Những thành quả ban đầu trong việc dựng nước đã chứa đựng những yếu tố mầm mống của quá trình hình thành dân tộc.
2 GS Phan Huy Lê (1990), Về quá trình dân tộc của Lịch sử Việt Nam, Trường Đại học Tổng hợp, Khoa Lịch sử, Hà Nội, tr 31
Nhà nước Văn Lang, mặc dù còn sơ khai, đã đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử dân tộc Việt Nam, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững sau này Sự hình thành cộng đồng cư dân Âu Lạc là sự tiếp nối của Văn Lang, tạo ra một cộng đồng dân tộc mới nhưng vẫn giữ gìn truyền thống phong tục tập quán của thời các Vua Hùng.
Trong thời kỳ Bắc thuộc và quốc gia phong kiến độc lập
a Cộng đồng dân tộc Việt Nam thời Bắc thuộc
Sau năm 43, cộng đồng cư dân Âu Lạc đã phải đối mặt với cuộc xâm lược của nhà Hán, với mục tiêu thôn tính lâu dài đất nước Thời điểm đó, cộng đồng các dân tộc bao gồm cư dân của ba quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, và Nhật Nam, nhưng đã được chia thành sáu quận nhỏ hơn: Giao Chỉ, Tân Xương.
Vũ Bình, Cửu Chân, Cửu Đức và Nhật Nam là những vùng đất của cộng đồng dân tộc Việt Nam, nơi vẫn giữ vững phong tục tập quán và nếp sống truyền thống từ thời các Vua Hùng Lãnh thổ của cộng đồng này trải dài từ quận Giao Chỉ đến quận Nhật Nam, với sự đa dạng về thành phần dân tộc Mặc dù các triều đại phong kiến Trung Quốc thực hiện chính sách cai trị tàn bạo và đồng hóa, thay thế luật pháp của người Giao Chỉ bằng luật Bắc phương và chia đất nước thành nhiều quận huyện, người dân Việt Nam vẫn kiên cường giữ gìn bản sắc văn hóa Điều này thể hiện sự cố kết vững chắc của các dân tộc, phản ánh giá trị “bản lĩnh, bản sắc dân tộc” trong văn minh sông Hồng và sông Mã.
Trong suốt ngàn năm Bắc thuộc, dân tộc Việt Nam không chỉ giữ gìn bản sắc văn hóa mà còn tiếp thu, sàng lọc và làm phong phú thêm nền văn hóa của mình bằng những yếu tố từ văn minh Trung Hoa và các nước lân cận Điều này đã giúp nước ta trưởng thành và bước vào thời kỳ phát triển rực rỡ, thời kỳ độc lập tự chủ, với nhiều chiến công và thành tựu trong việc xây dựng đất nước Cộng đồng dân tộc Việt Nam trong thời kỳ quốc gia phong kiến độc lập đã thể hiện rõ nét sự kiên cường và sáng tạo trong việc gìn giữ và phát triển văn hóa dân tộc.
Dựa trên những cải cách của Khúc Thừa Dụ, cộng đồng dân tộc đã được củng cố chặt chẽ hơn, mặc dù chưa hoàn thiện Sự gắn kết này được xây dựng dựa trên phong tục tập quán truyền thống Vào đầu năm 939, Ngô Quyền đã xưng vương và thiết lập đô ở Cổ.
Đặng Nghiêm Vạn (2003) trong tác phẩm "Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam" đã đề cập đến các vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ, cũng như miền trung du và đồng bằng Thanh, Nghệ.
Thời Đinh, Lê, Đinh Tiên Hoàng đã chia đất nước thành 10 đạo, phản ánh cương vực Việt Nam xưa Cộng đồng dân tộc thời kỳ này chủ yếu là những cư dân đã sinh sống lâu đời trong lãnh thổ nước ta.
Năm 1009, Lý Công Uẩn quyết định dời đô từ Hoa Lư đến Đại La, đánh dấu sự khởi đầu của triều đại Lý Đến năm 1069, lãnh thổ quốc gia đã mở rộng bao gồm các vùng phía Bắc Việt Nam và kéo dài xuống Lâm Ấp, cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của cộng đồng dân tộc Việt Nam Qua các triều đại Trần, Hồ và Nguyễn, cộng đồng này tiếp tục phát triển rộng khắp từ Bắc chí Nam, giữ vững sự thống nhất cho đến khi đất nước giành độc lập từ thực dân Pháp vào năm 1945.
Trong thời đại Hồ Chí Minh
Thời đại Hồ Chí Minh bắt đầu với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930) và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945) Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 đánh dấu bước chuyển quan trọng của dân tộc Việt Nam vào thời đại mới, với mục tiêu giải phóng đất nước khỏi ách thực dân phương Tây và xây dựng nền dân chủ, cộng hòa Đây là thời kỳ mà các dân tộc Việt Nam nỗ lực vượt qua đói nghèo, lạc hậu để đạt được độc lập, tự do và hạnh phúc Hồ Chí Minh khẳng định quyền tự do và độc lập của dân tộc Việt Nam, nhấn mạnh rằng "dân tộc đó phải được tự do! dân tộc đó phải được độc lập!" và toàn thể dân tộc quyết tâm bảo vệ quyền tự do, độc lập của mình.
Cộng đồng dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh đã bước vào một giai đoạn mới, với sự lãnh đạo của một chính Đảng và Nhà nước “của dân, do dân và vì dân.” Mỗi người dân trở thành chủ nhân của một quốc gia độc lập, tự do và có chủ quyền, phấn đấu để sánh vai với các quốc gia trên trường quốc tế Điều này được khẳng định trong Hiến pháp đầu tiên của chế độ mới năm 1946, nhấn mạnh rằng “Cuộc Cách mạng tháng Tám đã giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân và lập ra nền dân chủ cộng hòa.” Hiến pháp phải được xây dựng trên nguyên tắc này.
“- Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo
- Đảm bảo các quyền tự do dân chủ
- Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân
Dưới tinh thần đoàn kết và nỗ lực của toàn dân, Việt Nam đang tiến bước trên con đường độc lập và thống nhất, trong một chính thể dân chủ rộng rãi Quốc gia này không ngừng phấn đấu để đạt được vinh quang và hạnh phúc, đồng thời hòa nhịp với xu thế tiến bộ của thế giới và nguyện vọng hòa bình của nhân loại.
Hiến pháp năm 2013, qua nhiều lần sửa đổi và bổ sung, khẳng định vai trò quan trọng của cộng đồng các dân tộc trong một quốc gia độc lập, tự do và thống nhất Điều 5 của Hiến pháp 2013 nêu rõ điều này.
“1 Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam
2 Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc
3 Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình
4 Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”
Cộng đồng các dân tộc Việt Nam luôn thể hiện tinh thần yêu nước và đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn trong lịch sử Họ gắn bó với nhau, có ý chí vươn lên và hướng về tương lai, đạt được những kỳ tích vĩ đại trong quá trình dựng nước và giữ nước Đây là di sản quý giá mà chúng ta cần gìn giữ và phát huy để thực hiện khát vọng vươn lên tầm cao mới trong thời đại hiện nay.
ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM
Đặc điểm về dân số và phân bố dân cƣ
Việt Nam là một quốc gia gồm 54 thành phần dân tộc, trong đó dân tộc Kinh là đa số và 53 dân tộc thiểu số
Theo kết quả điều tra thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019,
Việt Nam có 53 dân tộc thiểu số, chiếm khoảng 14,7% tổng dân số Các dân tộc này chủ yếu sinh sống ở miền núi cao, biên giới và các vùng sâu, xa, tập trung ở một số tỉnh miền núi phía Bắc (khoảng 6,7 triệu người), Tây Nguyên (khoảng 2 triệu người), Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (1,9 triệu người), Tây Nam Bộ (1,4 triệu người) Một số dân tộc như Khmer, Chăm, Hoa lại sống chủ yếu ở vùng đồng bằng và thành phố Quy mô dân số giữa các dân tộc không đồng đều, với 6 dân tộc có trên 1 triệu người (Tày, Thái, Mường, Hmông, Nùng, Khmer) và 14 dân tộc có dưới 10.000 người, trong đó có 5 dân tộc dưới 1.000 người là ƠĐu, Brâu, Rơ Măm, Pu Péo và Si La.
Xu hướng đan xen giữa các dân tộc ngày càng phổ biến, đặc biệt ở các xã, huyện, tỉnh vùng dân tộc thiểu số và miền núi, nơi nhiều thành phần dân tộc cùng chung sống Nguyên nhân chủ yếu là do lịch sử, nhu cầu sản xuất và đời sống dẫn đến hiện tượng du canh, du cư, cùng với các chính sách định canh định cư và quy hoạch dân cư của Đảng và Nhà nước Tình trạng cư trú xen kẽ này thúc đẩy giao lưu kinh tế - văn hóa, tăng cường sự hiểu biết và hòa hợp giữa các dân tộc, hỗ trợ nhau phát triển và xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.
Đặc điểm về địa bàn cƣ trú
Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam sinh sống trên diện tích rộng lớn, chủ yếu tại các vùng miền núi, biên giới và những khu vực hẻo lánh Bên cạnh đó, một số dân tộc thiểu số cũng phân bố tại các khu vực trung du, đồng bằng, ven biển và các đô thị lớn.
Theo Quyết định số 861/QĐ - TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi bao gồm 3.434 xã thuộc 51 tỉnh, được phân chia theo trình độ phát triển Trong đó, có 1.551 xã thuộc khu vực III (đặc biệt khó khăn), 210 xã thuộc khu vực II (còn khó khăn) và 1.673 xã thuộc khu vực I (bước đầu phát triển).
Tuyến biên giới đất liền dài hơn 3.200 km tiếp giáp với các nước như Lào, Trung Quốc và Campuchia chủ yếu là nơi sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số.
Dân cư tại các xã biên giới có đặc điểm riêng biệt, với mật độ dân số thưa thớt do nằm ở vùng núi cao, sâu và xa Nơi đây có sự hiện diện của nhiều dân tộc thiểu số, họ có mối quan hệ dân tộc và dòng họ chặt chẽ, cùng với những đặc điểm văn hóa phong phú tương đồng với các dân tộc ở phía bên kia biên giới.
14 đồng bào các dân tộc thiểu số sống trong điều kiện đặc biệt khó khăn, với xuất phát điểm kinh tế - xã hội thấp và hạ tầng yếu kém Giao thông đi lại vất vả do địa hình phức tạp và hiểm trở, cùng với việc thường xuyên chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu và thiên tai Đời sống vật chất và tinh thần của người dân còn cách xa so với mức trung bình của cả nước.
Vùng cư trú của các dân tộc thiểu số và miền núi có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng và an ninh Đây là khu vực giàu tiềm năng về nông nghiệp, lâm nghiệp, khoáng sản, thủy điện, du lịch và kinh tế biên mậu, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường sinh thái Lịch sử và hiện tại cho thấy, vùng này từng là "phên dậu" của Tổ quốc, với nhiều căn cứ cách mạng, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, cùng các di tích lịch sử và lễ hội dân tộc truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa đa dạng và độc đáo.
Đặc điểm về truyền thống lịch sử
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã hình thành những truyền thống và giá trị lịch sử quý báu, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của dân tộc trong tương lai Một số đặc điểm nổi bật bao gồm:
Cộng đồng các dân tộc Việt Nam có một vận mệnh lịch sử chung, gắn bó từ thời kỳ dựng nước và đã trải qua nhiều thử thách trong quá trình lịch sử, hình thành nên truyền thống yêu nước mạnh mẽ.
Tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước đã hình thành sự cộng cảm và tình đoàn kết giữa các dân tộc Việt Nam, giúp đỡ lẫn nhau trong mọi hoàn cảnh Bản chất của cộng đồng dân tộc Việt Nam là sự cưu mang và đùm bọc, thể hiện sức sống và sức mạnh vượt qua gian khó Truyền thống đoàn kết này là di sản quý báu, phản ánh tinh thần yêu nước, một giá trị văn hoá quan trọng Tuy nhiên, để xây dựng "Truyền thống yêu nước" bền vững, cần có những điều kiện tự nhiên và sự kiên cường trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm.
Truyền thống đoàn kết của các dân tộc Việt Nam đã được hình thành qua hàng ngàn năm lịch sử, cùng nhau vượt qua thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm Mặc dù có sự khác biệt về lịch sử, quá trình phát triển và văn hóa, nhưng các dân tộc thiểu số vẫn sống hòa hợp, tạo nên ý thức cộng đồng mạnh mẽ Đại đoàn kết dân tộc là sức mạnh của Việt Nam, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công.” Ông cũng chỉ ra rằng, khi dân tộc đoàn kết, đất nước sẽ độc lập và tự do, ngược lại, sự chia rẽ sẽ dẫn đến xâm lấn từ bên ngoài Do đó, cần phải đoàn kết nhanh chóng và vững chắc dưới ngọn cờ Việt Minh để khôi phục độc lập và tự do.
Truyền thống đoàn kết dân tộc là tài sản vô giá trong lịch sử và chính sách phát triển đất nước Tuy nhiên, sự phong phú và đa dạng của các tộc người tại Việt Nam đã dẫn đến một số vấn đề cần chú ý, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay Những vấn đề này bao gồm sự hình thành các cộng đồng tộc người xuyên biên giới, các cộng đồng dân tộc - tôn giáo, và âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc từ các thế lực thù địch.
- Cộng đồng dân tộc Việt Nam có truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất
Từ lâu, cha ông ta đã coi trọng tinh thần lao động, thể hiện qua câu nói “khen nết hay làm, ai khen nết hay ăn”, trong bối cảnh thiên nhiên nhiệt đới với nhiều thách thức Tinh thần vượt khó trong việc sản xuất lương thực và hoa màu, từ đồng bằng đến vùng núi, đã hình thành đức tính cần cù, với hình ảnh “hai sương, một nắng” và sự quý trọng đất đai như “tấc đất, tấc vàng” Lao động không chỉ tạo ra của cải vật chất mà còn định hình giá trị và tiêu chuẩn đạo đức của con người, là cơ sở để cộng đồng đánh giá và lựa chọn.
4 Báo “Việt Nam độc lập” số 117, ra ngày 1/2/1942 trong H ồ Chí Minh: Toàn t ậ p (2011), Nxb Chính trị Quốc gia 2011, Tập 3
Trong bối cảnh nền văn minh nông nghiệp và thủ công nghiệp truyền thống, quá trình lao động sản xuất đã hình thành ý thức yêu lao động trong ông cha ta Lao động không chỉ tạo ra giá trị kinh tế mà còn góp phần vào các giá trị văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ, xã hội và giáo dục, tạo nên bản sắc riêng biệt của Việt Nam so với các quốc gia khác Đây là một truyền thống và giá trị lịch sử quan trọng, góp phần xây dựng văn hiến Việt Nam từ ngàn xưa đến nay.
Truyền thống văn hoá ứng xử nhân nghĩa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam thể hiện những giá trị tư tưởng và tình cảm sâu sắc, được lưu giữ qua triết lý và lối sống Người Việt coi trọng “tình sâu, nghĩa nặng”, gắn bó với nhau không chỉ bằng lễ giáo mà chủ yếu bằng tình người Trong gia đình, ứng xử nhân văn được thể hiện qua mối quan hệ cha mẹ - con cái, vợ chồng, anh em và xóm giềng, với những câu nói như “công cha, nghĩa mẹ” hay “tắt lửa, tối đèn có nhau” Ở cấp độ quốc gia, tư tưởng nhân nghĩa trở thành niềm tự hào và lối ứng xử cao đẹp của dân tộc, với những nhân vật lịch sử như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi và Nguyễn Trãi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc “nới sức dân” và “lấy nhân nghĩa làm gốc”.
“làm lật thuyền mới biết dân như nước”…
Truyền thống ứng xử đoàn kết và nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam là một giá trị cao đẹp, thể hiện niềm tự hào của nhiều thế hệ Giá trị này hình thành từ cuộc sống thích ứng với thiên nhiên và đấu tranh chống lại các thế lực ngoại xâm để sinh tồn và phát triển Nó xuất phát từ nhận thức, tâm lý, tình cảm và tâm hồn cao đẹp của con người, tạo dựng nguyên lý ứng xử trong giao tiếp giữa các cá nhân và các cấp độ xã hội khác nhau, từ gia đình đến quốc gia Những giá trị này được bồi đắp và hoàn thiện qua dòng chảy lịch sử của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Đặc điểm về kinh tế - xã hội
Sự phát triển của cộng đồng các dân tộc Việt Nam thể hiện một bức tranh đa dạng và không đồng đều từ góc độ kinh tế - xã hội, phản ánh nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan trong quá trình lịch sử phát triển.
Kinh tế truyền thống của các dân tộc Việt Nam chủ yếu là nông nghiệp tự cung tự cấp, phân bố từ đồng bằng châu thổ đến miền núi Hoạt động kinh tế này bao gồm trồng lúa nước, nương rẫy, chăn nuôi, thủ công và hái lượm Trước năm 1986, kinh tế hàng hóa chưa phát triển, đặc biệt ở các dân tộc sống tại vùng núi cao và biên giới, nơi có địa hình hiểm trở và giao thông khó khăn Sự khác biệt trong tập quán sinh hoạt và sản xuất giữa các dân tộc đã dẫn đến sự phân hóa rõ rệt trong phát triển kinh tế.
Trong những năm gần đây, kinh tế của cộng đồng các dân tộc, đặc biệt là vùng dân tộc thiểu số, đang dần chuyển mình sang nền kinh tế hàng hóa và dịch vụ Quá trình này hướng tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời cơ cấu lại nền kinh tế nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực lao động, quản lý và hạ tầng kỹ thuật.
Bức tranh xã hội của cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã có nhiều thay đổi, hòa nhập vào xu thế phát triển toàn cầu Tuy nhiên, các giá trị và thiết chế xã hội truyền thống vẫn giữ vai trò quan trọng trong phát triển bền vững và bản sắc văn hóa quốc gia Mối quan hệ gia đình, dòng họ và cộng đồng, cùng với các quan niệm sống, tập quán, tín ngưỡng và giá trị đạo đức, là nền tảng cho sự phát triển cá nhân và xã hội Sự phát triển không đồng đều giữa các dân tộc cũng là một vấn đề cần được chú ý.
5 Báo cáo số 732/BC-UBDT ngày 10/6/2021 về Tổng kết chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020 của Ủy ban Dân tộc chỉ rõ:
Tỷ lệ hộ nghèo giữa các nhóm dân tộc có sự chênh lệch lớn, với nhiều nhóm có tỷ lệ hộ nghèo trên 40%, gấp 8 lần so với mức trung bình cả nước Năm 2015, thu nhập bình quân hàng tháng của người dân tộc thiểu số chỉ đạt 1,1614 triệu đồng, tương đương khoảng 30% so với mức trung bình quốc gia Sự không đồng đều trong thu nhập giữa các dân tộc cũng rõ rệt, với người dân tộc Ngái có thu nhập 1,716 triệu đồng, cao gấp 3 lần so với người dân tộc Ơ Đu chỉ đạt 0,566 triệu đồng.
Trong quá trình phát triển đất nước, có 18 điểm quan trọng cần lưu ý Đảng và Nhà nước ta đã đề ra các chủ trương, chính sách nhằm phát triển kinh tế - xã hội, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các dân tộc và vùng miền, đồng thời đảm bảo sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, hỗ trợ lẫn nhau để cùng phát triển.
Đặc điể m v ề văn hóa
Văn hóa cộng đồng các dân tộc Việt Nam phản ánh chiều sâu lịch sử và mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên cũng như giữa con người với nhau Tiến trình lịch sử dựng nước của dân tộc ta đồng thời hình thành và phát triển các giá trị văn hóa quốc gia Những hoàn cảnh lịch sử, kinh tế và xã hội đặc thù đã tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo của cộng đồng.
Văn hóa các dân tộc Việt Nam, được hình thành từ 54 thành phần dân tộc, thể hiện bản lĩnh sinh tồn và phát triển của cộng đồng Sự kế thừa và phát huy tinh hoa văn hóa từ các thế hệ trước là nền tảng quan trọng Trong bối cảnh quốc gia đa thành phần, văn hóa của từng dân tộc đóng vai trò thiết yếu trong việc nhận diện văn hóa quốc gia, với những đặc điểm nổi bật đáng chú ý.
Văn hóa các dân tộc Việt Nam thể hiện sự thống nhất cơ bản của văn hóa quốc gia, đồng thời phản ánh sự đa dạng với những sắc thái văn hóa đặc trưng của từng địa phương và vùng miền.
Tính thống nhất của các tộc người được thể hiện qua ý thức chung về Tổ quốc - Quốc gia, với ngôn ngữ chung là tiếng Việt bên cạnh các ngôn ngữ dân tộc khác Điều này còn được thể hiện qua các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể mang đặc trưng truyền thống, khác biệt với các quốc gia láng giềng và thế giới Hơn nữa, tâm lý đoàn kết và truyền thống yêu nước gắn bó, cùng chung số phận với dân tộc - quốc gia cũng là những yếu tố quan trọng trong việc xây dựng tính thống nhất này.
Tính đa dạng ngôn ngữ tại khu vực Nam Á và Nam Đảo thể hiện qua nhiều hệ ngôn ngữ khác nhau, như Hán - Tạng, với các nhóm ngôn ngữ phong phú như Việt - Mường, Thái - Ka Đai, và Môn - Khmer Bên cạnh đó, sự đa dạng văn hóa còn được thể hiện qua các giá trị vật thể như nhà cửa, trang phục, ẩm thực, và các giá trị phi vật thể như tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội, nghệ thuật dân gian Những giá trị này không chỉ phản ánh đặc trưng của từng tộc người mà còn mang đậm sắc thái vùng miền.
Bộ, Tây Nam Bộ…), địa phương (các tỉnh, thành phố…)
Văn hóa các dân tộc Việt Nam đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển lâu dài, bắt nguồn từ nền văn hóa tại chỗ với những giá trị của nền văn minh nông nghiệp, kỹ thuật thủ công và văn hóa dân gian Nền văn hóa này không chỉ vận hành mà còn đứng vững trên nền tảng của mình, đồng thời giao thoa và tiếp biến với các nền văn hóa khác.
Văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, từ thời kỳ đồ đá, đồng, sắt đến các giai đoạn lịch sử như Văn Lang, Âu Lạc và thời kỳ Bắc thuộc, đã phát triển liên tục và mang đậm bản sắc riêng Đây là niềm tự hào của dân tộc, được UNESCO và cộng đồng quốc tế công nhận và tôn vinh, điều mà không phải quốc gia nào cũng có được.
Trong suốt lịch sử, văn hóa Việt Nam đã giao thoa với văn hóa Trung Hoa, Ấn Độ và văn hóa phương Tây, nhưng vẫn giữ được bản sắc riêng Việt Nam không chỉ tiếp thu mà còn làm phong phú thêm kho tàng văn hóa của mình bằng cách hấp thụ những tinh hoa từ các nền văn hóa khác.
Đặc đ i ể m v ề tín ngƣỡ ng, tôn giáo
Ở Việt Nam, các dân tộc đều có đời sống tín ngưỡng phong phú và đa dạng, với nhiều tôn giáo khác nhau, thể hiện giá trị văn hóa tâm linh đặc sắc Tín ngưỡng dân gian là phần không thể thiếu, đồng hành cùng cộng đồng dân tộc trong đời sống, phản ánh nhu cầu văn hóa và tâm linh, đồng thời ảnh hưởng đến kinh tế, ứng xử và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội Một số tôn giáo như Phật giáo, Công giáo, Hồi giáo, Nho giáo được du nhập từ bên ngoài, trong khi các tôn giáo như Cao Đài và Hòa Hảo mang yếu tố bản địa.
Trong những năm qua, Việt Nam đã được UNESCO công nhận nhiều di sản thiên nhiên và văn hóa, bao gồm 5 di sản vật thể như Quần thể Di tích Cố Đô Huế, Khu đền tháp Mỹ Sơn, Đô thị Hội An, Khu Di tích Trung tâm Hoàng Thành Thăng Long - Hà Nội, và Thành nhà Hồ Ngoài ra, còn có 1 di sản hỗn hợp văn hóa và tự nhiên là Quần thể Danh thắng Tràng An, cùng với 13 di sản văn hóa phi vật thể như Nhã nhạc Cung đình Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Quan họ Bắc Ninh, Ca Trù, Hát Xoan, và Đờn ca Tài tử Nam Bộ.
7 Dân ca Ví Giặm Nghệ Tĩnh, 8 Lễ hội Gióng, 9 Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, 10 Nghi lễ và trò chơi kéo co, 11 Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, 12 Nghệ thuật Bài Chòi Trung bộ Việt Nam, 13 Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ); có 7 di Sản Tư liệu (1 Mộc bản triều Nguyễn, 2 Bia đá các khoa thi tiến sĩ triều Lê và Mạc - Văn Miếu, 3 Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm, 4 Châu bản triều Nguyễn, 5 Hệ thống thơ văn trên kiến trúc Cung đình Huế, 6 Mộc bản trường học Phúc Giang, 7 Hoàng hoa sứ trình đồ)
Việt Nam có 54 thành phần dân tộc với nhiều loại hình tín ngưỡng phong phú, bao gồm tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng nông nghiệp và tín ngưỡng đa thần, trong đó mọi vật đều có linh hồn Đất nước này cũng nổi bật với sự đa dạng tôn giáo, với các tôn giáo như Đạo Phật Bắc tông, Công giáo và Tin Lành hiện diện trong cộng đồng người Kinh, Hoa, Hmông Đạo Phật Nam tông phổ biến trong cộng đồng Khmer ở miền Tây Nam Bộ, trong khi đạo Hồi Islam và đạo Bàlamôn gắn liền với người Chăm ở miền Trung và Nam Bộ.
Trong những năm gần đây, đời sống tín ngưỡng và tôn giáo của các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc, Tây Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ đã có những biến động đáng kể Sự mở rộng ảnh hưởng của các tôn giáo lớn như Phật giáo, Công giáo và Tin lành đã tác động mạnh mẽ đến cộng đồng Bên cạnh đó, sự xâm nhập của các hiện tượng tôn giáo mới cũng đang diễn ra, tạo nên một bức tranh đa dạng và phong phú về tín ngưỡng trong khu vực.
Hoạt động tuyên truyền và lôi kéo đồng bào dân tộc thiểu số tham gia vào các hiện tượng này đang ảnh hưởng đến sự ổn định về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội tại một số vùng dân tộc thiểu số.
Mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo trong văn hóa có những đặc điểm riêng biệt, với sự khác biệt rõ rệt giữa các tín đồ đạo Phật và đạo Tin Lành Văn hóa của các tộc người thường chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ văn hóa vùng miền so với tôn giáo, cho thấy văn hóa dân tộc có vai trò chi phối mạnh mẽ hơn Gần đây, sự phát triển của các hiện tượng tôn giáo mới đã tác động đáng kể đến đời sống cộng đồng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Mỗi thành phần dân tộc có thể theo nhiều tôn giáo khác nhau, và một tôn giáo có thể được tín đồ của nhiều dân tộc tin theo Khi một dân tộc cùng theo một tôn giáo, ý thức tôn giáo sẽ củng cố sự bền chặt của cộng đồng Ngược lại, sự khác biệt về tôn giáo trong một dân tộc có thể dẫn đến sự phân ly trong cộng đồng ở nhiều mức độ khác nhau.
Mỗi tôn giáo tại Việt Nam đều có phương châm hành đạo riêng, thể hiện vai trò của mình trong cộng đồng dân tộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhấn mạnh triết lý “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”, trong khi Giáo hội Công giáo Việt Nam khuyến khích “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào” Các hội thánh Tin Lành cũng đóng góp vào sự đa dạng tôn giáo của đất nước.
Trong số 2.104.816 người dân tộc thiểu số được điều tra, có 358.080 người theo tôn giáo, chiếm 17%, trong khi 1.746.736 người giữ tín ngưỡng truyền thống hoặc không theo tôn giáo cụ thể, chiếm 83% Kết quả này phản ánh sự đa dạng văn hóa tôn giáo tại Việt Nam, với câu slogan của Phật giáo Hòa Hảo: “Vì đạo pháp, vì dân tộc” thể hiện rõ nét các sắc thái văn hóa tôn giáo trong cộng đồng.
MỐI QUAN HỆ CỦA CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC
Quan hệ giữa các thành phần dân tộc với quốc gia
Trong lịch sử, mối quan hệ giữa các thành phần dân tộc và quốc gia thể hiện sự gắn bó và trách nhiệm với tư cách là thành viên của một quốc gia thống nhất Hiện nay, mối quan hệ này đặc biệt được thể hiện qua sự kết nối với Đảng và Nhà nước, những chủ thể lãnh đạo và quản lý quốc gia Công dân thể hiện thái độ ủng hộ và thừa nhận quyền lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, thực hiện tốt các chủ trương, chính sách không chỉ vì lợi ích của cộng đồng các dân tộc mà còn vì lợi ích cao cả của quốc gia.
Quan hệ giữa các dân tộc và quốc gia được thể hiện qua thái độ của người dân đối với đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị Người dân vừa chấp hành sự lãnh đạo của cán bộ, đảng viên, vừa tích cực tham gia góp ý để xây dựng đội ngũ cán bộ ngày càng trong sạch và vững mạnh Họ cũng tham gia củng cố hệ thống chính trị cơ sở, đấu tranh chống lại các âm mưu của thế lực thù địch, nhằm bảo vệ Đảng và chế độ Đặc biệt, tỷ lệ cán bộ, đảng viên là người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị đang ngày càng gia tăng.
Từ năm 1945, mối quan hệ giữa các dân tộc và quốc gia ngày càng gắn bó, dựa trên nguyên tắc “của dân, do dân và vì dân” Đảng nhấn mạnh tầm quan trọng của sự bình đẳng, đoàn kết và tôn trọng giữa các dân tộc, đồng thời chú trọng đến đặc thù của từng vùng dân tộc thiểu số trong chính sách phát triển Để củng cố mối quan hệ này, cần nâng cao chất lượng chính sách và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước.
8 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I, tr 170
Quan hệ giữa các dân tộc thiểu số với dân tộc đa số
Mối quan hệ giữa các dân tộc thiểu số và dân tộc đa số đã hình thành và phát triển qua các giai đoạn lịch sử, từ thời nhà nước Văn Lang đến thời đại Hồ Chí Minh Sự ra đời của nhà nước kiểu mới năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã khẳng định nguyên tắc “bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển” Quan hệ này không chỉ tạo nên sức mạnh của dân tộc - quốc gia mà còn góp phần vào sự thành công trong cuộc chiến chống ngoại xâm, giành độc lập và phát triển trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.
Việc thực hiện quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề dân tộc đã tạo ra một môi trường chính trị, pháp lý và kinh tế - xã hội vững chắc, củng cố mối quan hệ giữa các dân tộc thiểu số và dân tộc đa số Nguyên tắc “Bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết và giúp nhau cùng phát triển” đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự hiểu biết và đồng cảm giữa các dân tộc, từ đó cùng nhau phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng và bảo tồn bản sắc văn hóa một cách bền vững.
Quan hệ giữa các dân tộc thiểu số với nhau
Quan hệ giữa các thành phần dân tộc là yếu tố thiết yếu trong quốc gia đa dân tộc, thể hiện sự phổ biến trong các vùng miền và địa phương, cũng như mối quan hệ xuyên biên giới Mối quan hệ này được thể hiện rõ ràng trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng.
Hiện nay, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam vẫn giữ gìn mối quan hệ thân tộc và đồng tộc Quá trình định cư xen kẽ và phát triển kinh tế, xã hội đã thúc đẩy giao lưu và hợp tác giữa các dân tộc Kể từ Cách mạng tháng Tám năm 1945, dưới chế độ mới, mối quan hệ giữa các dân tộc thiểu số diễn ra theo hướng đồng thuận và hài hòa, phù hợp với quan điểm chỉ đạo của Đảng về việc bảo đảm quyền lợi cho các dân tộc.
Quan hệ kinh tế giữa các dân tộc thiểu số đang được củng cố, đặc biệt trong nông nghiệp và thương mại truyền thống Các yếu tố kinh tế thị trường đang dần ảnh hưởng, tạo ra những thay đổi trong phương thức hoạt động và cơ cấu lao động tại các khu vực và vùng miền nơi các dân tộc sinh sống và làm ăn.
Xu hướng hiểu biết và gắn bó giữa các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ngày càng gia tăng Nhà nước đã thực hiện nhiều chương trình và dự án đầu tư vào phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo, và nâng cao y tế, văn hoá, giáo dục tại các vùng dân tộc thiểu số và miền núi Những nỗ lực này đã tạo ra tiền đề quan trọng cho ý thức tộc người gắn liền với ý thức quốc gia, giúp khắc phục khó khăn và hạn chế tư tưởng tiêu cực, từ đó thúc đẩy sự kết nối và gắn bó giữa các dân tộc.
Quan hệ văn hoá giữa các tộc người ngày càng trở nên toàn diện, với sự lan tỏa và giao thoa mạnh mẽ của các yếu tố văn hoá dân tộc trong bối cảnh kinh tế thị trường, toàn cầu hoá và công nghệ thông tin 4.0 Các chính sách văn hoá dành cho dân tộc thiểu số trong hơn 35 năm đổi mới đã đóng góp tích cực vào việc chấn hưng và thúc đẩy sự phát triển văn hoá giữa các dân tộc thiểu số Những yếu tố này là rất quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá của các dân tộc thiểu số trong thời đại công nghiệp hoá và hiện đại hoá.
Quan hệ trong nội bộ các dân tộc thiểu số
Quan hệ nội bộ giữa các dân tộc thiểu số phản ánh sự tương tác trong các cấu trúc xã hội như gia đình, dòng họ và cộng đồng, với sự đa dạng về sắc thái dựa trên luật tục, đạo đức và giá trị xã hội Các thiết chế xã hội truyền thống, bao gồm tín ngưỡng và luật tục, vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc kết nối và bảo tồn các giá trị, góp phần củng cố sự gắn kết trong cộng đồng.
Mối quan hệ trong gia đình, dòng họ và cộng đồng của các dân tộc thiểu số chứa đựng nhiều giá trị nhân văn, đạo đức và xã hội Những giá trị này được lưu truyền và biến đổi qua nhiều thế hệ thông qua "lăng kính luật tục" Đây là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong việc hình thành bản sắc văn hóa của các dân tộc này.
9 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I, tr 170
24 sắc văn hoá và góp phần quan trọng vào ổn định xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc và địa phương.
Trong mối quan hệ giữa các tộc người, ý thức tộc người ngày càng đóng vai trò quan trọng, góp phần tăng cường sự gắn kết và chia sẻ trong cộng đồng Điều này tạo ra sức mạnh đoàn kết, thúc đẩy sự phát triển của các thành phần dân tộc và quốc gia.
Quan hệ thành phần dân tộc xuyên biên giới
Quan hệ dân tộc xuyên biên giới là một thực tế phổ biến trên toàn cầu Tại Việt Nam, nhiều dân tộc như Thái, Tày, Nùng, Mông, Dao, Khơ Mú, Lô Lô, Hoa, Lào, Brâu, Rơ Măm, Chăm, Khmer và Kinh có mối liên hệ với các cộng đồng dân tộc tương ứng ở các quốc gia láng giềng như Trung Quốc, Lào và Campuchia.
Nguyên nhân của tình hình các dân tộc sinh sống ở nhiều quốc gia hay “xuyên biên giới” là do:
1) Sự phân chia biên giới của các quốc gia diễn ra sau quá trình cƣ trú của các dân tộc (tộc người)
2) Trong quá trình sinh sống, vì một lý do nào đó, có thể do quá trình di dịch cƣ, có thể do thiên tai, địch họa và hậu chiến… nên phải di trú ở những địa bàn, lãnh thổ quốc gia khác nhau
3) Do chính sách của các nhà nước trước đây (nhất là thời kỳ phong kiến) về sự phân biệt dân tộc, chủng tộc, dân tộc lớn, dân tộc nhỏ… nên buộc một số dân tộc phải đi tìm nơi cƣ trú mới
4) Trong thời kỳ hiện tại, thực hiện các chính sách hội nhập, du học, xuất khẩu lao động, đầu tư nước ngoài…đã xuất hiện cộng đồng cư trú ở một số quốc gia (như một số quốc gia Đông Âu)
Trong bối cảnh cư trú tại các quốc gia khác nhau, các cộng đồng tộc người vẫn duy trì mối liên hệ chặt chẽ dựa trên ý thức tộc người Dù sống phân tán, họ vẫn bảo tồn các giá trị văn hóa như tập quán, tín ngưỡng và lối sống Khi có cơ hội, họ thường kết nối với nhau qua những yếu tố này Bên cạnh đó, các mối quan hệ kinh tế, xã hội, văn hóa và an ninh quốc phòng cũng gia tăng, đặc biệt là hiện tượng hôn nhân và các mối quan hệ khác Tuy nhiên, sự gia tăng các hoạt động tội phạm như buôn bán người, buôn lậu và xuất cảnh trái phép đang trở nên phức tạp Mối quan hệ dân tộc xuyên biên giới và lãnh thổ quốc gia đóng vai trò quan trọng, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều vấn đề nhạy cảm liên quan đến ổn định chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.
Quan hệ thành phần dân tộc xuyên biên giới mang lại nhiều giá trị tích cực, nhưng cũng đặt ra thách thức trong việc duy trì ổn định khu vực biên giới Điều này ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững và chiến lược phát triển lâu dài của quốc gia.
Quan hệ giữa các dân tộc với các tôn giáo
Trong suốt lịch sử, các cộng đồng dân tộc đã phát triển những hình thức tín ngưỡng và tôn giáo đa dạng Những tín ngưỡng và tôn giáo này không chỉ là một phần quan trọng trong bản sắc văn hóa mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển và vận động của các dân tộc.
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo với 54 thành phần dân tộc, mỗi nhóm đều có những biểu hiện tín ngưỡng và tôn giáo riêng Theo Điều 2 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14, tín ngưỡng được định nghĩa là niềm tin của con người thông qua các lễ nghi và phong tục truyền thống, nhằm mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng Tôn giáo, ngược lại, là niềm tin tồn tại với hệ thống quan niệm, hoạt động, đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức Do đó, mối quan hệ giữa tín ngưỡng, tôn giáo và dân tộc là phức tạp và tương hỗ, có sự tác động lẫn nhau.
Mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo thể hiện qua một số vấn đề cơ bản: Dân tộc và quốc gia là nền tảng cho sự hình thành và tồn tại của tôn giáo; sự ra đời và phát triển của tôn giáo gắn liền với biến động của cộng đồng tộc người và quốc gia trong lịch sử; quá trình tiếp biến tôn giáo chịu ảnh hưởng từ các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội của dân tộc; tôn giáo không chỉ bị chi phối bởi các yếu tố này mà còn có thể tác động trở lại, đồng hành hoặc cản trở sự phát triển của dân tộc.
Quan hệ giữa các dân tộc và tôn giáo là sự ràng buộc, tác động qua lại, chi phối lẫn
Mối quan hệ giữa các nhóm trong nội bộ một quốc gia hoặc giữa các quốc gia có ảnh hưởng lớn đến sự ổn định chính trị và phát triển bền vững Điều này đặc biệt quan trọng đối với các quốc gia đa dân tộc và đa tôn giáo, nơi mà sự phức tạp của các mối quan hệ xã hội có thể tác động mạnh mẽ đến đời sống cộng đồng.
Hiện nay, một số tôn giáo và tổ chức lợi dụng danh nghĩa tôn giáo để thực hiện các hoạt động chính trị, kích động ly khai và tự trị, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự đoàn kết dân tộc và ổn định chính trị - xã hội của đất nước.
Quan hệ giữa các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước mang lại nhiều giá trị tích cực, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ bất ổn ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển bền vững Các vấn đề như nghèo đói, sự xuất hiện của tôn giáo mới, tệ nạn xã hội, và tác động tiêu cực từ các thế lực thù địch tại vùng dân tộc thiểu số cần được quan tâm giải quyết Đặc biệt, sự giảm sút lòng tin của người dân, mai một bản sắc văn hóa, và hạn chế trong tiếp cận dịch vụ công và an sinh xã hội là những thách thức cần được các cấp, các ngành chú trọng theo tinh thần Báo cáo Chính trị Đại hội XIII của Đảng (2021).
Giải quyết hài hòa lợi ích giữa các giai tầng xã hội là cần thiết để bảo đảm sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc Cần tập trung vào việc hoàn thiện và triển khai các chính sách dân tộc, tôn giáo, đồng thời có những chính sách đặc thù hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số Việc thực hiện đoàn kết tôn giáo và đại đoàn kết toàn dân tộc là rất quan trọng Cần nghiêm trị mọi âm mưu và hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết, nhằm thúc đẩy sự phát triển của đất nước.