1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố ngữ cảnh đối với việc tạo lập và tiếp nhận ngôn bản qua các ví dụ cụ thể

16 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố ngữ cảnh đối với việc tạo lập và tiếp nhận ngôn bản qua các ví dụ cụ thể
Tác giả Nhóm 2
Người hướng dẫn ThS Trần Thị Ly Na
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ dụng học
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 185,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Untitled BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN HỌC PHẦN NGỮ DỤNG HỌC Người thực hiện Nhóm 2 Đề tài Phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố ngữ cảnh đối với việc tạo lập[.]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN HỌC PHẦN: NGỮ DỤNG HỌC Người thực hiện: Nhóm 2

Đề tài: Phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố ngữ cảnh đối với việc tạo lập và

tiếp nhận ngôn bản qua các ví dụ cụ thể

Lớp: Ngữ dụng học_LT_04

Giảng viên hướng dẫn: ThS TRẦN THỊ LY NA

NGHỆ AN, 2022

Trang 2

LỜI CẢM ƠN 2

I MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của vấn đề 3

3 Phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

II NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 1: NGÔN BẢN, NGỮ CẢNH 4

1 Ngôn bản 4

1.1 Khái niệm: 4

1.2 Các thành phần của ngôn bản 5

2 Ngữ cảnh và các nhân tố của ngữ cảnh 6

1 Hoàn cảnh giao tiếp 7

1.1 Khái niệm hoàn cảnh giao tiếp 7

1.2 Hoàn cảnh giao tiếp có thể chia làm 2 loại: 7

2 Nhân vật giao tiếp 9

2.1 Khái niệm: 9

3 Hiện thực được nói tới 12

3.1 Khái niệm 12

4 Ngôn cảnh 13

4.1 Khái niệm: 13

PHẦN KẾT LUẬN 14

TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

“Lời đầu tiên, nhóm em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Trường đã đưa môn Ngữ dụng vào chương trình giảng dạy đến sinh viên khoa giáo dục chúng em Đặc biệt, chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến giảng viên bộ môn – Cô Trần Thị Ly

Na đã dạy dỗ và tâm huyết truyền đạt những kiến thức quý giá cho em trong suốt thời

gian học tập vừa qua Trong thời gian tham gia lớp học của cô, nhóm em đã được trau dồi cho bản thân nhiều kiến thức bổ ích, tinh thần học tập nghiêm túc và hiệu quả Đây chắc chắn sẽ là những kiến thức có giá trị sâu sắc, là hành trang để em vững bước sau này

Chúng em đã cố gắng hết sức nhưng do chưa có nhiều kinh nghiệm ở ngoài nên bài còn có nhiều thiếu sót trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và trình bày Nhóm chúng em rất mong sẽ nhận được sử đóng góp ý kiến của Cô để bài tiểu luận được hoàn chỉnh hơn

Chúng em xin chân thành cảm ơn!

 Thành viên của nhóm:

1 Trần Thị Thu Hường (NT)

2 Nguyễn Thị Thu Hà

3 Phạm Nguyễn Thu Hà

4 Hồ Việt Hà

5 Nguyễn Thị Hà

6 Nguyễn Thị Quỳnh Giang

7 Trần Thị Giang

8 Trần Thị Hương Giang

9 Nguyễn Thị Huyền

10 Chu Thị Huyền

11 Đậu Thị Mai Hương

Trang 4

I MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài.

Đối với một tác phẩm văn học, ngữ cảnh là yếu tố quan trọng trong việc tạo nên thành công của văn bản Ngữ cảnh bao gồm các nhân tố sau: nhân vật giao tiếp, bối cảnh ngoài ngôn ngữ, văn cảnh Giả sử nếu như thiếu đi một trong số các nhân tố trên vậy tác phẩm có thật sự truyền đạt đến người đọc tất cả nội dung mà nhà văn muốn nói hay không? Lấy một ví dụ cụ thể như sau: Trong tác phẩm “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân có một đoạn như sau: "Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại Bà lão nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này:

- Tràng ạ Khi nào có tiền ta mua mua lấy đôi gà Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quá Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy chốc mà có ngay đàn gà cho mà xem…”

Qua đoạn trích, ta biết được một số thông tin về bối cảnh sau: Câu nói đó là của

bà cụ Tứ - mẹ Tràng, mang cả gánh nặng cuộc đời trên vai nhưng vẫn giữ một thái độ lạc quan về một tương lai tươi sáng khi nói với con và nàng dâu mới, dù biết đó là ước

mơ có thể thực hiện được Rộng hơn nữa ta có thể hiểu đây là ước mong của người dân trong thời kì 1945, khi nạn đói đang hành hoành

Từ ví dụ trên, ta có thể thấy mỗi câu đều được xuất phát trong một bối cảnh nhất định và chỉ được lĩnh hội đầy đủ, chính xác trong bối cảnh của nó Bối cảnh đó được gọi là ngữ cảnh, ta có thể hiểu ngữ cảnh chính là bối cảnh ngôn ngữ, ở đó người nói sản sinh ra lời nói thích ứng còn người nghe căn cứ vào đó để lĩnh hội lời nói Nếu như đột nhiên nghe một câu nói mà không biết bối cảnh sử dụng của nó thì không một

ai có thể hiểu được câu chuyện Bởi vậy chúng em quyết định chọn đề tài này để nghiên cứu nhằm chỉ rõ được ảnh hưởng của các nhân tố ngữ cảnh đối với việc tạo lập

và tiếp nhận ngôn bản qua các ví dụ cụ thể

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của vấn đề.

- Ý nghĩa khoa học:

+ Giải thích được ngữ cảnh và các nhân tố ngữ có ảnh hưởng trực tiếp và chi phối việc tạo lập và tiếp nhận ngôn bản

Trang 5

+ Các nhân tố ngữ cảnh góp phần vào việc giải thích diễn ngôn, thể hiện mối quan hệ cá nhân của nhân vật giao tiếp, chi phối việc sử dụng ngôn ngữ, nội dung diễn ngôn, quyết định việc tiếp nhận nội dung, ý nghĩa của ngôn bản ở người nghe

- Ý nghĩa thực tiễn:

+ Giúp người học có thể sử dụng ngôn ngữ một cách linh hoạt hơn, sao cho phù hợp với mục đích nói mà đưa ra chiến lược giao tiếp thích hợp nhất hoặc có thể suy ý, phân tích để xác định mục đích của người đối thoại

+ Nâng cao năng lực giao tiếp của bản thân, vận dụng tri thức về ngôn bản, ngữ cảnh vào việc nghiên cứu phương pháp dạy học Tập Làm Văn, Tập đọc ở tiểu học

3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu là sự ảnh hưởng của các nhân tố ngữ đến việc tạo lập và tiếp nhận ngôn bản thông qua các ví dụ cụ thể

4 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu vấn đề này, chúng em đã phối hợp sử dụng những phương pháp sau:

- Đưa ra khái niệm để hiểu rõ hơn những nhân tố của ngữ cảnh, đưa ra ví dụ để phân tích các nhân tố ngữ cảnh và vai trò của các nhân tố đó

- Phương pháp chủ yếu được sử dụng là phân tích các nhân tố của ngữ cảnh dựa trên các ví dụ cụ thể, qua đó chứng minh sự ảnh hưởng của các nhân tố ngữ cảnh đối với việc tạo lập và tiến nhận diễn ngôn

- Phương pháp nghiên cứu lí luận

II NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: NGÔN BẢN, NGỮ CẢNH

1 Ngôn bản

1.1 Khái niệm:

- Ngôn bản là những lời được nói ra (một chuỗi câu) hoặc được viết ra khi chúng ta

giao tiếp với nhau Ngôn bản còn được gọi là diễn ngôn

- Ngôn bản nhỏ nhất có thể chỉ tương ứng một câu, đơn vị tối thiểu nhất có thể sử dụng để truyền đạt thông tin Ngôn bản lớn nhất có thể là một bộ tiểu thuyết

- Ngôn bản thường hướng tới một đích nào đó Đích của ngôn bản là đích của giao tiếp

Trang 6

- Đích của ngôn bản bao gồm: Đích tác động về nhận thức, đích tác động về tình cảm, đích tác động về hành động

1.2 Các thành phần của ngôn bản

Theo ngữ dụng học, mỗi ngôn bản bao gồm 2 thành phần: thành phần nội dung

và thành phần hình thức

- Thành phần nội dung của ngôn bản là thành phần phản ánh thực tế, phảm ánh thái

độ, tình cảm, sự đánh giá hiện thực được nói tới và bên cạnh đó là sự mong muốn tác động tới hành động ở người nghe người đọc Có thể chia thành hai thành phần nhỏ hơn: thành phần nội dung sự vật và thành phần nội dung liên nhân

+ Thành phần nội dung sự vật: là thành phần quan trọng, phản ánh thực tế, bao gồm tất cả những điều liên quan đến hiện thực được nói tới trong ngôn bản đó

+ Thành phần nội dung liên nhân: là tất cả thái độ tình cảm, sự đánh giá của người nói, người viết đối với hiện thực được nói tới trong ngôn bản

 Ví dụ:

“Cứ hàng năm hàng năm Khi gió mùa đông tới

Bà lo đàn gà toi Mong trời đừng sương muối

Để cuối năm bán gà Cháu được quần áo mới

Ôi cái quần chéo go Ống rộng dài quét đất

Cái áo cánh chúc bâu

Đi qua nghe sột soạt.”

(Tiếng gà trưa – Xuân Quỳnh) Đây cũng là một ngôn bản có nội dung sự vật là bà nuôi gà đẻ trứng để mua cho đứa cháu một bộ đồ mới Nội dung liên nhân là nói về tình yêu thương thầm lặng giản

dị cao cả của bà dành cho đứa cháu bé nhỏ

- Muốn truyền tải được nội dung tới người nghe, người đọc ngôn bản phải có thành phần hình thức Đó là cách tổ chức bản thân các yếu tố ngôn ngữ lẫn việc sử dụng các yếu tố đi kèm như: lời nói, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ,…để thể hiện nội dung

Trang 7

Người nhận tiếp nhận nội dung ngôn bản thông qua việc tiếp nhận các yếu tố hình thức của ngôn bản đó

2 Ngữ cảnh và các nhân tố của ngữ cảnh

Ngữ cảnh là những yếu tố tồn tại xung quanh ngôn bản, ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung và hình thức của ngôn bản Có thể nói, trong hoạt động giao tiếp, ngoại trừ ngôn bản ra, các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp được gọi chung là ngữ cảnh Tức là, ngữ cảnh là nhân tố có mặt trong cuộc giao tiếp nhưng nằm ngoài ngôn bản (diễn ngôn)

Có 4 nhân tố ngữ cảnh, gồm:

- Hoàn cảnh giao tiếp

- Nhân vật giao tiếp

- Hiện thực được nói tới

- Ngôn cảnh

 Ví dụ : “Tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các

ngõ vào làng lại càng sẫm đen hơn nữa Giờ chỉ còn ngọn đèn con của chị Tí, và cái bếp lửa của bác Siêu chiếu sáng một vùng đất cát; trong cửa hàng, ngọn đèn của Liên,…Thêm được một gia đình bác xẩm ngồi trên manh chiếu, cái thau sắt trắng để trước mặt, nhưng bác chưa hát vì chưa có khách nghe

Chị Tí phe phẩy cành chuối khô đuổi ruồi bò trên mấy thức hàng, chậm rãi nói: – Giờ muộn thế này mà họ chưa ra nhỉ?”

(Hai đứa trẻ,Thạch Lam ) => Ngữ cảnh trong đoạn trích này là : Trời sập tối Chị em Liên mới thu hàng, chị

Tí mới bày hàng, bác Siêu mới gánh phở đến, gia đình bác xẩm còn chưa hát, và chuyến tàu chở những người khách từ phố huyện chưa đi ra và những người khách quen chưa đến Ngữ cảnh ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung trò chuyện giữa chị Tí

và mọi người

CHƯƠNG 2: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG CỦA NGỮ CẢNH ĐỐI VỚI VIỆC TẠO LẬP VÀ TIẾP NHẬN NGÔN BẢN QUA CÁC VÍ DỤ CỤ THỂ

Trang 8

1 Hoàn cảnh giao tiếp.

1.1 Khái niệm hoàn cảnh giao tiếp.

Hoàn cảnh giao tiếp là không gian thời gian cụ thể mà cuộc giao tiếp diễn ra và

rộng hơn là bối cảnh lịch sử xã hội môi trường văn hoá, kinh tế… mà hoạt động giao tiếp diễn ra

1.2 Hoàn cảnh giao tiếp có thể chia làm 2 loại:

- Hoàn cảnh giao tiếp rộng: bao gồm những hiểu biết về lịch sử, xã hội, văn học, thời đại, kinh tế, chính trị… của cộng đồng ngôn ngữ trong đó cuộc giao tiếp đương nhiên diễn ra

- Hoàn cảnh giao tiếp hẹp: bao gồm những hiểu biết về cách ứng xử về nơi chốn

cụ thể trong đó cuộc giao tiếp đang diễn ra Chẳng hạn như trong lớp học, trong quán nước, trong công viên, ở siêu thị

Hoàn cảnh giao tiếp cụ thể không những chi phối việc lựa chọn, sử dụng ngôn ngữ của người nói mà còn giữ vai trò quyết định việc tiếp nhận nội dung, ý nghĩa của diễn ngôn ở người nghe

 Để chứng minh ảnh hưởng của hoàn cảnh giao tiếp đối với ngôn bản, chúng

tôi xin làm rõ vai trò nhân tố hoàn cảnh giao tiếp qua các ví dụ cụ thể:

trẻ tuổi cùng nhau xướng họa rồi đề thơ lên một bức tranh sơn thủy:

“Nước non nặng một lời thề Nước đi đi mãi không về cùng non Nhớ lời nguyện nước thề non Nước đi chưa lại non còn đứng không Non cao những ngóng cùng trông Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày Xương mai một nắm hao gầy

Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương Trời tây ngả bóng tà dương

Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha Non cao tuổi vẫn chưa già

Non thời nhớ nước, nước mà quên non!

Dù cho sông cạn đá mòn

Trang 9

Còn non còn nước hãy còn thề xưa.”

Hãy căn cứ vào hoàn cảnh (hoàn cảnh hẹp và hoàn cảnh rộng: lúc đó đất nước

ta rơi vào tay giặc Pháp xâm lược đã mấy chục năm) để lí giải về ba tầng nghĩa của bài thơ

Trả lời:

- Hoàn cảnh hẹp: hoàn cảnh có thể cảm nhận rằng non và nước (tức nước và

sông) là hai nhân vật (được nhân cách hóa) và bày tỏ tình cảm cùng nhau trong hoàn cảnh bị chia li

- Cùng trong hoàn cảnh hẹp, đây là lời đối đáp của hai người nam và nữ trẻ

tuổi Hơn nữa trong bài thơ có những chi tiết như: nước non nặng một lời thề, những ngóng cùng trông, khô dòng lệ, chờ mong tháng ngày, xương mai, tóc mây, tuổi vẫn chưa già,…

- Hoàn cảnh rộng: bài thơ được sáng tác vào thời kì đất nước ta bị thực dân

Pháp đô hộ đã mấy chục năm Nỗi đau mất nước đã giày vò nhiều thế hệ người Việt Nam, nhưng các cuộc khởi nghĩa nhằm giải phóng đất nước đều bị đàn áp và thất bại Nhiều trí thức phải biểu lộ lòng yêu nước bằng những cách kín đáo, nhẹ nhàng Trong ngữ cảnh đó, bài thơ dễ được cảm nhận là lời biểu hiện tấm lòng nhớ nước một cách kín đáo, hàm ẩn

 Ví dụ 2 : Trong tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố có đoạn:

“Chị Dậu xám mặt, vội vàng đặt con xuống đất, chạy đến đỡ lấy tay hắn:

- Cháu van ông, nhà cháu vừa mới tỉnh được một lúc, ông tha cho!

- Tha này! Tha này!

Vừa nói hắn vừa bịch luôn vào ngực chị Dậu mấy bịch rồi lại sấn đến để trói anh Dậu.”

- Hoàn cảnh giao tiếp ở đoạn trích trên là:

+ Hoàn cảnh giao tiếp hẹp: Tại nhà chị Dậu, Cai lệ muốn bắt anh Dậu đi nhưng

bị chị Dậu ngăn lại

+ Hoàn cảnh giao tiếp rộng: Đó là xã hội Việt Nam vào những năm trước Cách

mạng tháng Tám Cuộc sống người dân đã rất cực khổ còn phải chịu sưu thuế cho bọn thực dân phong kiến

Trang 10

2 Nhân vật giao tiếp

2.1 Khái niệm:

Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra các ngôn bản qua đó tác động lẫn nhau Nhân vật giao tiếp bao gồm người nói, người viết và người nghe, người đọc

- Mối quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp bao gồm: Quan hệ vai giao tiếp và quan hệ liên cá nhân

+ Quan hệ vai giao tiếp là quan hệ giữ các nhân vật giao tiếp đối với chính sự

phát - nhận trong quá trình giao tiếp

 Ví dụ 1 : Xác định và phân tích vai trò của nhân tố giao tiếp (quan hệ vai giao tiếp và

quan hệ liên cá nhân) qua các diễn ngôn sau:

“… Ít lâu nay hắn xe thóc Liên đoàn lên tỉnh Một lần hắn đang gò lưng kéo

cái xe bò thóc vào dốc tỉnh, hắn hò một câu chơi cho đỡ nhọc Hắn hò rằng:

Muốn ăn cơm trắng mấy giò này!

Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì!

Chủ tâm hắn cũng chẳng có ý chòng ghẹo cô nào, nhưng mấy cô gái lại cứ đẩy vai cô ả này ra với hắn, cười như nắc nẻ:

- Kìa anh ấy gọi! Cô muốn ăn cơm trắng mấy giò thì ra đẩy xe bò với anh ấy! Thị cong cớn:

- Có khối cơm trắng mấy giò đấy! Này, nhà tôi ơi, nói thật hay nói khoác đấy?

- Thật đấy, có đẩy thì ra mau lên!

Thị vùng vằng đứng dậy, ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng

- Đã thật thì đẩy chứ sợ gì, đằng ấy nhỉ – Thị liếc mắt, cười tít

Tràng thích lắm Từ cha sinh mẹ đẻ đến giờ, chưa có người con gái nào cười với hắn tình tứ như thế.”

Trích Vợ nhặt, SGK Ngữ văn 12, NXB Giáo dục Việt Nam

Tr

ả lời:

- Các diễn ngôn trên có những nhân vật giao tiếp là: Tràng, mấy cô gái và “thị” Những nhân vật đó có đặc điểm:

+ Về lứa tuổi: Họ đều là những người trẻ tuổi

+ Về giới tính: Tràng là nam, còn lại là nữ

+ Về tầng lớp xã hội: Họ đều là những người dân lao động nghèo đói

Trang 11

- Các nhân vật giao tiếp chuyển đổi vai người nói, vai người nghe và luân phiên lượt lời như sau:

+ Lượt lời 1: Hắn (Tràng) là người nói, mấy cô gái là ngời nghe

+ Lượt lời 2: Mấy cô gái là người nói, Tràng và "thị" là người nghe

+ Lượt lời 3: “Thị” là người nói, Tràng (là chủ yếu) và mấy cô gái là người nghe

+ Lượt lời 4: Tràng là người nói, "thị" là người nghe

+ Lượt lời 5: “Thị” là người nói, Tràng là người nghe Lượt lời đầu tiên của

“thị” hướng tới Tràng

- Các nhân vật giao tiếp trên bình đẳng về vị thế xã hội: họ đều là những người dân lao động cùng cảnh ngộ

- Khi bắt đầu cuộc giao tiếp, các nhân vật giao tiếp trên có quan hệ hoàn toàn xa lạ

=> Những đặc điểm về vị thế xã hội, quan hệ thân-sơ, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, chi phối lời nói của các nhân vật khi giao tiếp Ban đầu chưa quen nên chỉ là trêu đùa thăm dò Dần dần, khi đã quen họ mạnh dạn hơn Vì cùng lứa tuổi, bình đẳng

về vị thế xã hội, lại cùng cảnh ngộ nên các nhân vật giao tiếp tỏ ra rất cởi mở, thoải mái

+ Quan hệ liên cá nhân còn chi phối mạnh mẽ qua quá trình giao tiếp, cả nội dung lẫn hình thức của diễn ngôn Dễ thấy nhất là cách dùng từ xưng hô Qua cách xưng hô, có thể xác định quan hệ vị thế, quan hệ thân cận giữa các nhân vật Khi thay đổi cách xưng hô thường sẽ liên quan đến sự thay đổi khoảng cách và tính chất quan

hệ Chính vì đặc điểm của từ xưng hô mà người nói sẽ lựa chọn từ xưng hô phù hợp với chiến lược giao tiếp đã hoạch định (tạo lập ngôn bản), còn người nghe có thể thực hiện thao tác suy ý để xác định ý định giao tiếp, chiến lược giao tiếp của người nghe

(tiếp nhận ngôn bản)

 Ví dụ 2 : Phân tích sự thay đổi từ xưng hô trong chiến lược giao tiếp của Bá Kiến

trong ngôn bản sau:

“Cụ hãy quát mấy bà vợ đang xưng xỉa chực tâng công với chồng:

– Các bà đi vào nhà: đàn bà chỉ lôi thôi, biết gì?

Rồi quay lại bọn người làng, cụ dịu giọng hơn một chút:

– Cả các ông, các bà nữa, về đi thôi chứ! Có gì mà xúm lại như thế này?

Ngày đăng: 15/04/2023, 16:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Đặng Thị Hảo Tâm, Đại cương ngôn ngữ học tập hai – Ngữ dụng học (NXB Giáo dục, 2001) Khác
[2]. Đỗ Hữu Châu, Giáo trình cơ sở Ngữ dụng học (Tập 1), NXB Đại học sư phạm, Hà Nội, 2010 Khác
[3]. Bùi Minh Toán – Lê A – Đỗ Việt Hùng, Tiếng Việt thực hành, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2002 Khác
[4]. Nguyễn Thiện Giáp, Dụng học Việt ngữ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2004 Khác
[5]. Chu Thị Thủy An – Trần Thị Hoàng Yến, Giáo trình ngữ dụng học, NXB Đại Học Vinh Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w