TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT DÂN SỰ Môn LUẬT LAO ĐỘNG BUỔI THẢO LUẬN THỨ HAI CHẾ ĐỊNH II VIỆC LÀM VÀ ĐÀO TẠO NGHỀ Lớp 127 DS46B Nhóm 1 DANH SÁCH CÁC SINH VIÊN THỰC HIỆN 1 Hồ Ngọ[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
- -Môn: LUẬT LAO ĐỘNG BUỔI THẢO LUẬN THỨ HAI CHẾ ĐỊNH II: VIỆC LÀM VÀ ĐÀO TẠO NGHỀ Lớp: 127-DS46B Nhóm 1 DANH SÁCH CÁC SINH VIÊN THỰC HIỆN 1 Hồ Ngọc Sung 2153801012195
2 Nguyễn Văn Sơn 2153801012194
3 Trịnh Đức Toàn 2153801012202
4 Ksor Pôn 2153801012168
5 Lò Thụy Hồng Nhung 2153801012160
6 Nguyễn Ngọc Bảo Nhi 2153801012157
Niên khóa: 2023 – 2024
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 Phân tích định nghĩa việc làm theo quy định của pháp luật Việt Nam Hãy cho biết ý nghĩa pháp lý của những định nghĩa này.
- Theo khoản 1 Điều 9 BLLĐ 2019 quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cấm” Theo đó, các yếu tố cấu thành việc làm gồm: + Thứ nhất, là hoạt động lao động, tức là hoạt động có việc sử dụng sức lao động của
con người để tác động vào thế giới khách quan, với mục đích nhằm tạo ra giá trị vật chất, tinh thần phục vụ đời sống con người Việc thực hiện hoạt động lao động phải mang tính hệ thống, trong thời gian tương đối ổn định và trong phạm vi nghề nghiệp nhất định
+ Thứ hai, tạo ra thu nhập, mục tiêu hướng tới của lao động là tạo ra khoản thu nhập
trực tiếp hoặc có khả năng tạo ra thu nhập Cần lưu ý, không phải hoạt động nào tạo ra thu nhập cũng là hoạt động lao động như cho thuê nhà lấy tiền thuê, Ngược lại, không phải hoạt động lao động nào cũng tạo ra thu nhập như tập thể dục, bơi lội nhằm rèn luyện sức khỏe…
+ Thứ ba, phải là hoạt động lao động mà pháp luật không cấm Trong trường hợp là
hoạt động lao động tạo ra thu nhập, nhưng hoạt động này không tuân thủ quy định của pháp luật, bị pháp luật cấm như buôn bán, vận chuyển ma túy, thì không được xem
là việc làm
- Có ba dạng việc làm phổ biến hiện nay: Làm thuê để nhận tiền công, tiền lương; Tự tạo việc làm; Lao động sản xuất trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp
*Ý nghĩa pháp lý: Quyền lao động là một trong những quyền cơ bản của con người và
đảm bảo quyền lao động cho công dân là tiêu chí quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước Quy định của pháp luật về khái niệm việc làm là cơ sở để hình thành, duy trì và mở rộng quan hệ lao động, góp phần phân biệt
Trang 3cụ thể hơn quan hệ lao động so với các quan hệ pháp luật khác có nét tương đồng Đồng thời, định nghĩa này còn giúp xác định được quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ lao động, khẳng định vai trò, trách nhiệm của Nhà nước, NSDLĐ và
xã hội trong vấn đề giải quyết việc làm, bảo vệ quyền lợi NLĐ, tạo điều kiện cho NLĐ, bảo đảm mọi người có khả năng, có nhu cầu lao động đều có cơ hội tìm việc làm
2 So sánh trung tâm dịch vụ việc làm với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm.
Tiêu chí Trung tâm dịch vụ việc
làm
Doanh nghiệp dịch vụ việc làm
Giống
nhau
+ Tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động
+ Cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động
+ Đều có trụ sở làm việc
Căn cứ
pháp lý
- Điều 37 Luật Việc làm 2013
- Nghị định 23/2021/NĐ-CP
- Điều 39 Luật Việc làm 2013
- Luật Doanh nghiệp 2020
- Nghị định 23/2021/NĐ-CP
Cách
thức
thành lập
và hoạt
động
Được thành lập và hoạt động theo quy định của Chính phủ
Được thành lập và hoạt động theo quy định
của Luật Doanh nghiệp
Hình
thức
Đơn vị sự nghiệp công
lập
Doanh nghiệp
Nhiệm
vụ
- Thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật Việc
- Tìm kiếm lợi nhuận: Hoạt động dịch vụ việc làm có thu phí
Trang 4- Tuyên truyền, phổ biến
chính sách, pháp luật về
lao động, việc làm
Điều kiện
thành lập
- Có ít nhất 15 người làm
việc là viên chức
- Có đầy đủ trang thiết bị
đạt tiêu chuẩn để thực
hiện nhiệm vụ quy định
tại Điều 7 NĐ
23/2021/NĐ-CP
- Có giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm
do UBND tỉnh hoặc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội được UBND tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính ủy quyền (sau đây gọi chung là cơ quan nhà nước có thẩm quyền) cấp
Trách
nhiệm
- Thực hiện tư vấn, giới
thiệu việc làm cho người
lao động và cung cấp
thông tin thị trường lao
động miễn phí
- Bảo đảm chất lượng
dịch vụ sự nghiệp công
về việc làm theo các tiêu
chí, tiêu chuẩn do cơ
quan nhà nước có thẩm
quyền quy định
- Tổ chức thực hiện các
hoạt động giao dịch việc
làm, xây dựng dữ liệu
người tìm việc, việc làm
trống để kết nối cung cầu
lao động
- Thực hiện đúng quy
định của pháp luật về tổ
chức và hoạt động của
- Theo dõi tình trạng việc làm của người lao động do doanh nghiệp giới thiệu hoặc cung ứng tối thiểu 03 tháng hoặc trong thời gian thực hiện Hợp đồng lao động (đối với những trường hợp thực hiện hợp đồng lao động dưới 03 tháng)
- Lập, cập nhật, quản lý dữ liệu lao động đăng ký tư vấn, giới thiệu việc làm; người
sử dụng lao động đăng ký tuyển lao động và thực hiện kết nối, chia sẻ khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu
- Doanh nghiệp thực hiện một phần hoặc toàn bộ quy trình hoạt động cung ứng dịch
vụ việc làm bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác thì phải thực hiện theo quy định của Nghị định này và quy định của Chính phủ về thương mại điện tử
Trang 5trung tâm dịch vụ việc làm
- Xây dựng giá cung ứng dịch vụ việc làm
và niêm yết công khai giá cung ứng dịch vụ việc làm cho người lao động tại trụ sở của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật
3 Phân tích trách nhiệm giải quyết việc làm của Nhà nước và của người sử dụng lao động.
*Trách nhiệm giải quyết việc làm của Nhà nước:
- Nhà nước định ra chỉ tiêu việc làm mới trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm Định ra chỉ tiêu việc làm mới là bước đầu tiên trong chính sách giải quyết việc làm cho người lao động Dựa vào chỉ tiêu việc làm mới nhà nước có thể đánh giá được mức độ cung - cầu của thị trường lao động Từ đó nhà nước có những
kế hoạch phát triển kinh tế tạo ra việc làm mới, đồng thời quy hoạch mạng lưới đào tạo nghề để đảm bảo cầu đủ cho cung và cung đủ đáp ứng cầu.
- Nhà nước có các chính sách hỗ trợ tạo ra việc làm cho người lao động Nhà nước hỗ trợ người lao động để họ tự tạo việc làm, hỗ trợ người lao động tìm kim việc làm trong nước hoặc nước ngoài, thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng lao động phát triển, mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh để tạo ra việc làm cho người lao động.
- Nhà nước lập chương trình việc làm và quỹ Quốc gia về việc làm để hỗ trợ tạo ra việc làm cho người lao động Chương trình việc làm chỉ được thực hiện ở địa phương, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong xây dựng chương trình việc làm ở địa phương trình lên hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định Cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội và người sử dụng lao động khác trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tham gia thực hiện chương trình việc làm.
- Nhà nước cho phép thành lập và phát triển hệ thống tổ chức dịch vụ việc làm Tổ chức dịch vụ việc làm có vai trò quan trọng trong việc làm cầu nối giữa người lao động và người sử dụng lao động Đây là một trong những giải pháp giúp cung “gặp đúng” cầu, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động.
*Trách nhiệm giải quyết việc làm của người sử dụng lao động:
Trang 6- Theo quy định tại Bộ luật Lao động năm 2019, khi có nhu cầu nhân công lao động thì người sử dụng lao động có quyền và trách nhiệm như sau:
+ Người sử dụng lao động có quyền trực tiếp hoặc thông qua tổ chức dịch vụ việc làm
để tổ chức tuyển chọn người lao động.
+ Người sử dụng lao động phải có trách nhiệm giải quyết việc làm cho một số đối tượng lao động đặc thù, trường hợp nhiều người cùng có đủ điều kiện tuyển dụng thì phải ưu tiên tuyển dụng lao động là thương, bệnh binh; con liệt sĩ, con thương bệnh binh, con em gia đình có công; người tàn tật, phụ nữ, người có quá trình tham gia lực lượng vũ trang, người tham gia lực lượng thanh niên xung phong, người đã bị mất việc làm từ một năm trở lên.
+ Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, mọi hình thức sở hữu phải nhận một tỷ
lệ người lao động là người tàn tật, lao độngũ nữ vào làm việc Doanh nghiệp tiếp nhận
số người lao động là người tàn tật vào làm việc thấp hơn tỷ lệ quy định thì hàng tháng phải nộp vào quỹ việc làm cho người tàn tật một khoản tiền theo quy định, nếu cao hơn thì khi sản xuất kinh doanh gặp khó khăn hoặc có dự án phát triển sản xuất sẽ được xét cho vay vốn với lãi suất thấp hoặc được xét hỗ trợ từ quỹ việc làm Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ thì được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước.
+ Trong quá trình sản xuất kinh doanh và hoạt động dịch vụ, người sử dụng lao động phải đảm bảo công việc thường xuyên liên tục theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể, phải có trách nhiệm tổ chức nâng cao trình độ nghiệp vụ cho người lao động theo kịp tiến bộ khoa học kỹ thuật và làm việc có trách nhiệm, hiệu quả cao Phải đào tạo lại trước khi chuyển người lao động sang làm việc mới trong doanh nghiệp.
+ Khi có sự thay đổi về cơ cấu hoặc công nghệ mà cần phải cho người lao động thôi việc, người sử dụng lao động căn cứ vào nhu cầu của công việc và thâm niên làm việc, tay nghề, hoàn cảnh gia đình và những yếu tố khác của từng người để lần lượt cho thôi việc sau khi đã trao đổi nhất trí với ban chấp hành công đoàn cơ sở và phải công bố danh sách Trước khi quyết định cho thôi việc phải báo cho cơ quan lao động địa phương biết để cơ quan này nắm được tình hình lao động của địa phương và có kế hoạch hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp hoặc tạo điều kiện giải quyết việc làm cho người lao động mất việc làm.
4 Hãy cho biết ý nghĩa của Quỹ giải quyết việc làm đối với vấn đề giải quyết việc làm.
Trang 7*Quỹ giải quyết việc làm có các ý nghĩa như sau:
- Đóng vai trò hạt nhân trong quá trình giải quyết việc làm quốc gia.
- Hỗ trợ vay cho các đối tượng thuộc Điều 12 Luật việc làm 2013 có đủ các điều kiện vay vốn theo Điều 13 Luật việc làm 2013 để giải quyết việc làm tạm thời cho người lao động, trong khoảng thời gian ngắn hoặc thu hút thêm lao động.
- Quỹ có mục đích trực tiếp hỗ trợ, duy trì và tạo việc làm cho người lao động, người
sử dụng lao động.
- Trợ giúp các chương trình, dự án tạo việc làm, trung tâm dạy nghề và dịch vụ việc làm, trung tâm áp dụng khoa học kĩ thuật và chuyển giao công nghệ sử dụng lao động.
- Quỹ được sử dụng làm vốn cho vay để giải quyết việc làm theo đúng mục tiêu của chương trình giau quyết việc làm của địa phương và hỗ trợ cho giải quyết việc làm cấp huyện.
5 Theo bạn, nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong vấn đề học nghề, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề đối với người lao động được pháp luật lao động Việt Nam quy định như thế nào?
- Theo Điều 60 BLLD 2019 quy định:
1 Người sử dụng lao động xây dựng kế hoạch hằng năm và dành kinh phí cho việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, phát triển kỹ năng nghề cho người lao động đang làm việc cho mình; đào tạo cho người lao động trước khi chuyển làm nghề khác cho mình
2 Hằng năm, người sử dụng lao động thông báo kết quả đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh
=> Người sử dụng lao động có hai trách nhiệm:
+ Một là: Trách nhiệm xây dựng kế hoạch hằng năm và dành kinh phí cho việc đào
tạo và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho người lao động đang làm việc cho mình; đào tạo cho người lao động trước khi chuyển làm nghề khác cho mình Theo đó, một trong những nhiệm vụ bắt buộc của người sử dụng lao động là phải đào tạo nghề cho người lao động trước khi chuyển họ sang làm nghề khác cho mình
+ Hai là: Trách nhiệm thông báo kết quả đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ
năng nghề cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh Mục đích của việc yêu cầu người sử dụng lao động thực hiện nghĩa vụ thông báo là
Trang 8nhằm thông qua việc nắm bắt kết quả đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, Nhà nước có thể nắm được nhu cầu, xu hướng nghề nghiệp của người lao động, năng lực đào tạo, bồi dưỡng nghề nghiệp của các cơ sở dạy nghề, từ đó kịp thời có những chính sách phù hợp phục vụ cho việc phát triển nghề nghiệp
II BÀI TẬP TÌNH HUỐNG:
1 Tình huống 1:
1 Thỏa thuận bảo lãnh và phạt vi phạm trong vụ việc trên đây là đúng hay trái pháp luật? Vì sao?
- Thỏa thuận bảo lãnh và phạt vi phạm trong trường hợp trên là đúng pháp luật
- Căn cứ theo khoản 1 Điều 335 BLDS 2015 quy định thì ông Hoàng có quyền bảo lãnh cho anh Văn, khi anh Văn không thể thực hiện nghĩa vụ thì ông Hoàng phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đó khi bên được bảo lãnh không thể thực hiện nghĩa
vụ và bao gồm nghĩa vụ trả tiền phạt hợp đồng (khoản 2 Điều 336 BLDS 2015) Và công ty L cũng yêu cầu ông Hoàng trả tiền (Điều 342 BLDS 2015)
- Trong tình huống có đoạn: “Để đảm bảo cho các Hợp đồng lao động và Hợp đồng đào tạo nêu trên; ngày 01/3/2017, ông Hoàng là bố đẻ của anh Văn đã ký với Công ty
L cam kết bảo lãnh của gia đình cho anh Văn Trong đó, ông Hoàng cam kết: ”
2 Xác định các trường hợp người học nghề, người lao động phải chịu trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo?
- Trường hợp 1: NSDLĐ và NLĐ có ký kết hợp đồng đào tạo nghề theo Điều 62 Bộ
luật Lao động 2019 và trong hợp đồng có điều khoản về trách nhiệm hoàn trả chi phí đào và các khoản bồi thường khác (nếu có) khi NLĐ vi phạm cam kết về thời gian làm việc cho doanh nghiệp Trong trường hợp này, nếu NLĐ không thực hiện đúng theo các cam kết, thỏa thuận trong hợp đồng đào tạo nghề thì NLĐ sẽ phải hoàn trả chi phí đào tạo và các khoản bồi thường khác (nếu có) cho NSDLĐ nếu vi phạm các cam kết trong hợp đồng đào tạo nghề, kể cả khi NLĐ chấm dứt hợp đồng lao động hay đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật
- Trường hợp 2: Nếu NLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
thì NLĐ phải hoàn trả chi phí đào tạo cho NSDLĐ theo quy định tại khoản 3 Điều 40
Bộ luật Lao động 2019, kể cả trong trường hợp giữa NSDLĐ và NLĐ không ký hợp đồng đào tạo nghề, hoặc có ký hợp đồng đào tạo nghề nhưng trong hợp đồng không
Trang 9quy định về thời gian NLĐ cam kết làm việc cho doanh nghiệp sau khi được đào tạo, chi phí đào tạo và trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo cho NSDLĐ
+ Anh Văn đã ký với Công ty L hợp đồng đào tạo có nội dung là: “Anh Văn có trách nhiệm hoàn trả cho Công ty L chi phí đào tạo khi không hoàn thành khóa đào tạo vì bất kỳ lý do nào hoặc đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động trong thời gian đào tạo, không đảm bảo thời gian làm việc cho Công ty L như cam kết…” , mà anh Văn
đã “tách khỏi đoàn và không trở lại Hiện tại, anh Văn đang cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc Mặc dù đã được nhiều đồng nghiệp công tác tại Công ty L khuyên nhủ nhưng anh Văn đã trao đổi và nhắn tin cho họ cũng như gia đình là không trở lại theo học khóa đào tạo do Công ty L tổ chức.” cho thấy là anh Văn ko hoàn thành khóa đào tạo nên đã vi phạm hợp đồng đào tạo anh đã ký thuộc trường hợp 1 nên anh Văn phải hoàn trả lại toàn bộ chi phí mà Công ty L đã chi anh Văn theo học khóa học nghiệp
vụ tại Hàn Quốc
*Giả sử anh Văn hoàn thành khóa đào tạo và sau khi đã làm việc được 35% tổng thời gian cam kết làm việc theo hợp đồng đào tạo thì anh Văn chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật Vậy, anh Văn phải chịu trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo như thế nào?
- Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 40 BLLĐ 2019 thì Người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.”, BLLĐ không có quy định về việc chấm dứt Hợp đồng lao động đúng luật thì có phải bồi thường hay không
- Bên cạnh đó, theo khoản 2 Điều 61 Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 quy định:
“Người tốt nghiệp các khóa đào tạo do người sử dụng lao động cấp học bổng, chi phí đào tạo phải làm việc cho người sử dụng lao động theo thời hạn đã cam kết trong hợp đồng đào tạo; trường hợp không thực hiện đúng cam kết thì phải bồi hoàn học bổng, chi phí đào tạo.” Do vậy, vấn đề trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo của NLĐ chỉ phát sinh khi NLĐ chấm dứt hợp đồng lao động trước khi hết thời hạn làm việc được cam kết trong hợp đồng đào tạo
=> Như vậy, Công ty L có quyền yêu cầu ông Văn bồi thường chi phí đào tạo là cam kết mà các bên đã thỏa thuận về các trường hợp bồi thường chi phí đào tạo trong hợp đồng đào tạo mà hai bên ký kết Theo đó:
+ Nếu trong hợp đồng đào tạo hai bên thỏa thuận thực hiện theo Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 (tức trong mọi trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động đều phải bồi
Trang 10thường chi phí đào tạo), thì NLĐ sẽ phải bồi thường chi phí đào tạo theo cam kết mặc
dù chấm dứt Hợp đồng lao động đúng pháp luật;
+ Nếu hợp đồng đào tạo hai bên thỏa thuận thực hiện theo quy định của Bộ luật Lao động thì trường hợp NLĐ đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động trước hạn đúng pháp luật thì không phải bồi thường
- Như vậy đối với trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động đúng quy định pháp luật thì có phải hoàn trả chi phí đào tạo hay không phụ thuộc vào thỏa thuận trong hợp đồng đào tạo nghề của người lao động và người sử dụng lao động Theo tình huống trên thì nội dung của hợp đồng đào tạo hai bên có thỏa thuận Anh Văn có trách nhiệm hoàn trả cho Công ty L chi phí đào tạo khi không hoàn thành khóa đào tạo vì bất kỳ lý
do nào hoặc đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động trong thời gian đào tạo, không đảm bảo thời gian làm việc cho Công ty L như cam kết Do đó, anh Văn phải có trách nhiệm hoàn trả toàn bộ chi phí đào tạo mặc dù anh Văn chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật
2 Tình huống 2
Hỏi: Hãy đưa ra quan điểm và các lập luận, chứng cứ cần có để giải quyết tranh chấp trên.
- Về phía công ty E:
+ 17/02/2012 theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, sau đó bà N và Công ty E ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn, công việc làm là công nhân may, mức lương 3.486.000đ/tháng Vậy công ty E và bà N đã phát sinh quan hệ lao động dựa trên Điều 13 BLLD 2019
+ Ngày 05/02/2013, bà N và Công ty E ký hợp đồng lao động đưa bà N đi tu nghiệp
kỹ thuật kinh nghiệm sản xuất với thời gian là 01 năm tại Công ty U (tại Nhật) nhưng Công ty E không giao cho bà N 01 bản hợp đồng đã ký Căn cứ theo Điều 62 BLLD
2019 thì công ty E đã có sai phạm
*Đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà N Cụ thể:
- Về quan hệ lao động: giữa công ty E có xác lập 2 hợp đồng lao đồng, cụ thể một hợp đồng lao động “làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn E (sau đây gọi tắt là Công ty E) từ ngày 17/02/2012 theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, sau đó bà N
và Công ty E ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn, công việc làm là công nhân may, mức lương 3.486.000đ/tháng.” ; hai là hợp đồng lao đồng (thực tế là hợp đồng đào tạo nâng cao tay nghề) cho bà N sang Công ty U (tại Nhật) để đào tạo với thời hạn là 01 năm
- Về thời hiệu khởi kiện: Công ty E không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà N vì cho rằng hết thời hiệu khởi kiện là sai Theo quy định tại khoản 3 Điều 190 BLLĐ