Một số biện pháp giúp trẻ 5 6 tuổi hứng thú và tích cực trong hoạt động làm quen với toán PAGE 14 PHẦN THỨ NHẤT ĐẶT VẤN ĐỀ 1 Lý do chọn đề tài Giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non là ngành học mở đầu tron[.]
Trang 1PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài.
Giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non là ngành học mở đầu trong hệ thống giáo dục quốc dân, chiếm vị trí quan trọng, có nhiệm vụ xây dựng những cơ sở ban đầu cho việc đặt nền móng cho việc hình thành nhân cách con người Với nhiệm vụ chăm sóc giáo dục toàn diện đã góp phần tích cực hình thành những yếu tố nhân cách con người xã hội mới xã hội chủ nghĩa, đồng thời tạo tiền đề phát triển ngồn nhân lực lao động cho tương lai Bởi vậy xây dựng hệ thống về phương pháp giáo dục mầm non nói chung và phương pháp Khoa học - Xã hội nói riêng là một việc làm cấp thiết và cấp bách
Đây là thời điểm mấu chốt và quan trọng nhất Chính vì vậy chúng ta đang sống ở thế kỉ XXI, thế kỉ của nền văn minh trí tuệ của nền khoa học hiện đại Muốn được như vậy, ngay từ tuổi ấu thơ trẻ mầm non, đặc biệt là trẻ 5-6 tuổi đang ở bước phát triển nhận thức, tư duy, về ngôn ngữ, về tình cảm Những thế giới khách quan xung quanh thật bao la, rộng lớn, có biết bao điều mới lạ, hấp dẫn và còn có lạ lẫm khó hiểu, trẻ tò mò muốn biết, muốn được khám phá, cho nên giáo dục mầm non góp phần không nhỏ vào việc giáo dục thế hệ trẻ
Khi nghe đến từ “khoa học”, chúng ta thường có cảm giác căng thẳng vì trong chúng ta thường có một suy nghĩ rằng khoa học là cái mà luôn cần đến nhiều tri thức và phải vắt óc suy nghĩ Thế nhưng, nếu suy nghĩ theo hướng khoa học dành cho trẻ mầm non chỉ là tìm hiểu những kinh nghiệm sống hằng ngày khoa học không phải là thứ gì đó rất khó và khô khan Ở trường mầm non, khám phá khoa học là một trong những hoạt động tạo ra nhiều cơ hội để rèn luyện và hình thành kĩ năng nhận thức cung cấp cho trẻ tri thức giúp hình thành những năng lực tư duy, khả năng phán đoán giải quết vấn đề, nuôi dưỡng lòng say mê, khám phá những tiền đê cần thiết cho trẻ trong cuộc đời
Hoạt động khám phá khoa học là một hoạt động rất độc đáo, hấp dẫn và lôi cuốn trẻ, giúp trẻ khám phá thế giới xung quanh tìm hiểu những điều bí ẩn ngay trong cuộc sống như là khám phá tìm hiểu các con vật gần gũi quanh trẻ, những cây cỏ, hoa lá, chim muông đến môi trường xã hội: Như công việc của mỗi người trong xã hội, mối quan hệ giữa con người với nhau, tìm hiểu về bản thân trẻ…Vì lấy trẻ làm trung tâm, nên trong quá trình hoạt động khám phá khoa học, tìm hiểu đặt câu hỏi trẻ sẽ nhận ra các sự vật hiện tượng con người có mối quan hệ tác động, hỗ trợ lẫn nhau từ đó suy nghĩ của trẻ trở nên khách quan Tất
cả những cái đó giúp trẻ hình thành nhân cách và trí tuệ giúp cho trẻ hình thành thái độ sống khoa học và tìm được phương pháp giải quết vấn đề một cách sáng tạo
Trang 2Tuy nhiên, nếu giáo viên không sáng tạo trong việc tổ chức các hoạt động nhằm cho trẻ hứng thú, tập chung chú ý thì hiệu quả sẽ không cao Trên thực tế hiện nay các hoạt động khám phá khoa học còn chưa được các giáo viên tìm tòi, sáng tạo đổi mới hình thức, phương pháp tổ chức nên trẻ lĩnh hội kiến thức còn
mờ nhạt và nhanh quên Và đây cũng là lí do tôi nghiên cứu và thực hiện đề tài:
“Một số biện pháp gây hứng thú cho trẻ 4-5 tuổi tham gia hoạt động khám phá khoa học – Xã hội trong trường mầm non” làm đề tài viết sáng kiến kinh
nghiệm cho bản thân
2 Mục đích nghiên cứu đề tài:
Tìm ra những giải pháp gây hứng thú cho trẻ 4-5tuổi tham gia hoạt động khám phá khoa học - Xã hội trong trường mầm non
Dạy trẻ như thế nào để trẻ mang lại sự hứng thú, ham thích và phát huy tính sáng tạo của trẻ với hoạt động khám phá khoa học
Thông qua việc tìm hiểu nghiên cứu đề tài này đã giúp tôi nhận thức sâu
sắc hơn và đầy đủ hơn về công tác dạy trẻ trong hoạt động khám phá khoa học
-Xã hội trong trường mầm non
3 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng khảo sát là 30 cháu lớp Mẫu giáo lớn lớp B1 - Trường Mầm Non Cam Thượng - Huyện Ba Vì - Thành Phố Hà Nội
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng một số các phương pháp khác nhau như:
+ Phương pháp lý luận: Đọc phân tích tổng hợp các tài liệu liên quan nhằm xây dựng cơ sở lí luận cho việc viết đề tài sáng kiến kinh nghiệm
+ Phương pháp trò chuyện: Thường xuyên trò chuyện cùng trẻ nắm bắt tâm
lí trẻ làm sao không thích và tìm ra hướng khắc phục
+ Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động khám phá của trẻ để uốn nắn, củng cố, rèn luyện thêm kĩ năng cho trẻ
+ Phương pháp toán học: Sử dụng phương pháp toán học để đánh giá kết quả tính phần trăm
5 Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại lớp Mẫu giáo 4 tuổi B1 tại Trường Mầm Non Cam Thượng nơi tôi đang công tác
Thời gian nghiên cứu đề tài trong một năm học từ tháng 8 năm 2020 đến tháng 4 năm 2021
Trang 3PHẦN THỨ HAI NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Cơ sở lí luận của đề tài
Trong hoạt động giáo dục ở trẻ mẫu giáo, hoạt động học là một trong những hoạt động chủ đạo Nhiệm vụ của cô giáo là tổ chức hoạt động khám phá như thế nào để trẻ lĩnh hội được kiến thức một cách đơn giản và hiệu quả Tiếp tục lấy trẻ làm trung tâm nhằm phát huy tính tích cực chủ động của trẻ
Môi trường xung quanh bao gồm các yếu tố của tự nhiên và xã hội bao quanh trẻ em, có quan hệ với nhau và quan hệ mật thiết với nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sự tồn tại của trẻ
Trò chơi trong hoạt động khám phá đóng vai trò quan trọng, trong cuộc sống hằng ngày của trẻ, khơi dậy ở tính tò mò, tạo cho trẻ tính tò mò, tạo cho trẻ khám phá về đặc điểm nổi bật và lợi ích sự việc hiện tượng quen thuộc, một vài mối quan hệ đơn giản giữa sự vật với môi trường xung quanh, cách chăm sóc bảo vệ chúng, đồng thời trau dồi óc quan sát, so sánh nhận xét phán đoán của trẻ với sự vật hiện tượng xung quanh trẻ
Tổ chức cho trẻ “Khám phá khoa học - Khám phá xã hội” nhằm giúp trẻ tiếp xúc với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, qua đó hình thành biểu tượng về thế giới xung quanh, giúp trẻ biết quan sát, xem xét đặt câu hỏi, thử nghiệm, phán đoán và giải quết với các sự vật hiện tượng, giúp trẻ nhận thức rằng mọi sự vật đều có sự thay đổi và những thay đổi này liên quan đến nhau Khuyến khích trẻ có suy nghĩ độc lập, tưởng tượng sáng tạo, phát triển cảm xúc
và có thái độ thân thiện, gẫn gũi với môi trường xung quanh, có mong muốn tham gia cải tạo môi trường xung quanh
2 Thực trạng của đề tài
Năm học 2020-2021 tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp Mẫu giáo lớn: 4TB1 với số trẻ là 30 cháu với 2 giáo viên trình độ đại học Trong quá trình tổ chức tiến hành nghiên cứu tôi đã gặp một số thuận lợi và khó khăn sau:
* Thuận lợi:
+ Được sự quan tâm giúp đỡ tạo điều kiện tốt nhất của Ban giám hiệu nhà
trường, và các cấp trên, luôn chỉ đạo sát sao về chuyên môn, các giáo viên trao đổi học tập kinh nghiệm lẫn nhau
+ Phòng học rộng rãi, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, sạch đẹp + Phụ huynh rất nhiệt tình trong việc trao đổi, phối kết hợp với tôi trong các hoạt động của trường lớp
+ Trẻ ngoan, có nề nếp, nhanh nhẹn hoạt bát và yêu thích hoạt động khám phá khoa học
Trang 4+ Bản thân tham gia đầy đủ các chuyên đề chuyên đề về đổi mới của nghành học mầm non của huyện, của trường tổ chức, luôn học hỏi, tự bồi dưỡng
để nâng cao trình độ chuyên môn Bản thân có một thuận lợi là rất yêu thích hoạt động khám phá nên tôi đã tự học hỏi chị em đồng nghiệp, nghiên cứu tài liệu, làm nhiều đồ dùng đẹp hấp dẫn để cuốn hút trẻ vào giờ học Qua đó giúp trẻ phát trển toàn diện về các mặt: Nhận thức, thẩm mĩ, thể chất, ngôn ngữ một cách tốt nhất
* Khó khăn:
Năm học 2020-2021 tôi được sự phân công của ban giám hiệu nhà trường, chủ nhiệm lớp Mẫu giáo 4-5 tuổi B1 tôi đã gặp một số khó khăn:
+ Khả năng tập trung vào đối tượng của trẻ còn chưa cao
+ Số trẻ còn nhút nhát thụ động, chưa tích cực tham gia hoạt động cùng cô tham gia vào hoạt động khám phá khoa học
+ Vốn hiểu biết về môi trường tự nhiên còn hạn chế
+ Phụ huynh còn chưa thực sự quan tâm đến con em ở bậc học mầm non nên việc tổ chức các hoạt động khám phá còn hạn chế
* Khảo sát thực trạng trước khi thực hiện đề tài.
Tổng số cháu là 30 cháu: Trong đó có 17 trẻ nam và 13 trẻ nữ
Qua khảo sát phân loại hoạt động khám phá của trẻ thể hiện qua số liệu sau:
Bảng 1: Số liệu khảo sát lần 1
Kết quả đầu năm
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
1 Trẻ hứng thú với giờ học
30
2
Kỹ năng quan sát tìm ra
đặc điểm, cấu tạo, tập tính,
mối quan hệ, cách sử
dụng
3 Kỹ năng so sánh các sự
4
Biết phân loại một số đối
tượng theo 2-3 đối tượng
cho trước Tự tìm ra dấu
hiệu phân loại
Trang 5Từ kết quả như trên, tôi luôn băn khoăn suy nghĩ tìm nhiều biện pháp để trẻ tham gia hoạt động khám phá khoa học xã hội đạt kết quả cao hơn Vì vậy tôi đã tìm ra cho mình một số biện pháp
3 Một số biện pháp gây hứng thú cho trẻ 4-5 tuổi tham gia hoạt động khám phá khoa học – Xã hội trong trường mầm non:
Việc gây hứng thú trong khám phá phải được thực hiện liên tục, lâu dài Để thực hiện tốt việc gây hứng thú cho trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non tôi đã áp dụng một số biện pháp sau:
3.1 Biện pháp 1: Tự rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn
Hoạt động khám phá khoa học xã hội là một hoạt động vô cùng quan trọng
và tương đối khó đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức sâu rộng về khoa học tự nhiên và xã hội Mặt khác để trẻ lĩnh hội được kiến thức về tự nhiên và xã hội một cách tốt nhất đòi hỏi giáo viên phải có nhiều biện pháp hay, có nhiều sáng tạo để gây hứng thú cho trẻ trong hoạt động học, kích thích sự tìm tòi khám phá
ở trẻ một cách tốt nhất, đào sâu về tri thức để trẻ lĩnh hội được kiến thức một cách tốt nhất
Xã hội ngày càng phát triển, giáo dục càng cần đòi hỏi giáo viên phải có phẩm chất, năng lực cao hơn Tự học, tự bồi dưỡng là phương thức tốt nhất giúp người giáo viên tiến bộ, trưởng thành, bản thân luôn có đủ phẩm chất và năng lực chuyên môn nghiệp vụ, hiểu biết chuyên sâu về kiến thức, về phương pháp dạy và học Hiểu được điều này tôi đã cố gắng học tập, phấn đấu tự tìm ra cho mình một số biện pháp hay để dạy trẻ hoạt động khám phá khoa học xã hội
Cụ thể như sau:
+ Ngay từ đầu năm học bản thân luôn xây dựng cho mình một kế hoạch tự học, tự bồi dưỡng khoa học Trong kế hoạch này cần xác định rõ mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp, thời gian tự học, tự bồi dưỡng
+ Thường xuyên đọc tài liệu sách báo, tiếp cận với công nghệ thông tin, qua sinh hoạt chuyên môn
+ Khi bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, cần lựa chọn tài liệu, nghiên cứu thu thập thông tin có chọn lọc phù hợp với yêu cầu thực tiễn
+ Luôn lắng nghe, tiếp thu ý kiến nhận xét của Ban Giám Hiệu và chị em đồng nghiệp để từ đó phát huy những mặt tốt, khắc phục những mặt hạn chế
( Hình ảnh 1: Giáo viên tiếp thu ý kiến sau tiết dạy)
3.2 Biện pháp 2: Xây dựng môi trường lớp học, tích cực làm đồ dùng
đồ chơi cho trẻ.
* Xây dựng môi trường lớp học
Trang 6Lớp học là ngôi nhà thứ hai của trẻ, là môi trường giáo dục gần gũi lôi cuốn trẻ tích cực hoạt động, kích thích sự hứng thú, ham hiểu biết, tò mò của trẻ, phát huy được khả năng sáng tạo của trẻ
Môi trường hoạt động vừa để thỏa mãn nhu cầu vui chơi, giao tiếp, nhận thức, nhu cầu hoạt động cùng nhau của trẻ, vừa tạo cơ hội cho trẻ được chơi và hoạt động theo sở thích, giúp trẻ độc lập, sáng tạo, vận dụng các kĩ năng đã học vào các hoạt động khác, các tình huống trong quá trình hoạt động
Việc xây dựng môi trường học tập và vui chơi cho trẻ sẽ là phương tiện,
là điều kiện giúp trẻ hình thành kĩ năng quan sát, phân tích và tìm hiểu, khám phá Chính vì vậy, khi vào năm học mới khi tham gia góc: “ Cảm nhận của bé” trẻ sẽ cảm nhận về xúc giác của bản thân khi chạm vào những bản cảm nhận
(Hình ảnh 2:Môi trường lớp học của trẻ)
Trong những giờ hoạt động góc tôi thường xuyên chuẩn bị các loại đồ dùng mà trong tự nhiên có sẵn để trẻ chơi và tham gia vào các hoạt động thực tế nhằm đem lại niềm vui cho trẻ, giúp trẻ phát triển tư duy, óc sáng tạo và quan tâm hơn đến khoa học một cách tự nhiên
(Hình ảnh 3: Trẻ sáng tạo với lá cây tạo ra các con vật)
Kết quả môi trường lớp học được xây dựng sáng tạo và hấp dẫn trẻ lớp tôi
đã rất tích cực tham gia vào các hoạt động khám phá Qua đó, vốn hiểu biết cho trẻ về thế giới xung quanh, phát huy tính tư duy sáng tạo Trẻ luôn tò mò , đặt câu hỏi về những sự vật, hiện tượng xung quanh với bạn, cô và người lớn Trẻ còn biết tự tìm tòi khám phá, tìm hiểu về cái mới lạ xung quanh
* Tích cực làm đồ dùng đồ chơi cho trẻ
Hoạt động khám phá khoa học xã hội đòi hỏi rất nhiều đồ dùng, đồ chơi
để dạy trẻ Bởi lứa tuổi mẫu giáo tư duy của trẻ là tư duy trực quan hành động Trẻ phải được trực tiếp quan sát và hoạt động với đối tượng đó Trẻ trực tiếp quan sát và hoạt động với đối tượng đó Qua đó việc tiếp thu kiến thức trở nên
dễ dàng và sự ghi nhớ trở nên bền vững và chính xác
Để cho hoạt động khám phá khoa học xã hội mang lại hiệu quả cao thì ngoài ngoài đồ dùng đồ chơi mà nhà trường đã cung cấp tôi đã cố gắng làm nhiều đồ dùng, đồ chơi tự tạo đẹp, hấp dẫn, lôi cuốn trẻ tích cực tham gia hoat động
Ví dụ: Khi dạy trẻ khám phá vật nuôi trong gia đình, con vật dưới nước, trong rừng, tôi đã làm thêm các con vật bằng bìa cát tông, bằng xốp, bằng vỏ hộp sữa, … để cho trẻ chơi củng cố sau giờ học
Dưới đây là hình ảnh minh họa đồ chơi các con vật được làm từ nguyên vật liệu phế thải
(Hình ảnh 4: Đồ chơi làm từ nguyên vật liệu phế thải)
Trang 7Để làm được thật nhiều tranh ảnh đồ dùng đồ chơi mà không gây lãng phí thì tôi đã tận dụng những nguyên vật liệu có sẵn của địa phương như: Các loại loại vải vụn, lá khô, vỏ cây khô, hoa ép khô, các loại hột hạt, nguyên vật liệu tái chế để làm tranh ảnh, đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho hoạt động khám phá khoa học khiến trẻ rất thích
(Hình ảnh 5: Giáo viên đang làm đồ dùng đồ chơi tự tạo cho trẻ)
Những loại đồ dùng đồ chơi tự tạo kích thích khả năng tư duy, phỏng đoán
và suy luận của trẻ, giúp trẻ phát triển trí tuệ ngày càng tốt hơn Tạo cho trẻ hứng thú khi tham gia chơi
(Hình ảnh 6: Đồ chơi lăn bi dích dắc)
3.3 Biên pháp 3: Ứng dụng công nghệ thông tin vào các tiết dạy khám phá Khoa hoc - khám phá xã hội.
Đối với trẻ em thế giới xung quanh bao la và rộng lớn và tưởng như rất xa vời hiện nay hiện ra trước mắt là điều hấp dẫn trẻ Như chúng ta đã biết, không phải ở tiết học nào cũng có thể cho trẻ trải nghiệm bằng vật thật mà có những tiết học phải sử dụng công nghệ thông tin Trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay, sự phát triển của hệ thống mạng cùng với những tiện ích, ứng dụng phong phú đã tạo nên một cuộc cách mạng trong mọi người, mọi ngành và đặc biệt là ngành giáo dục Chính vì vậy ngay từ cấp học mầm non trẻ đã được làm quen với công nghệ thông tin như một phần của hoạt động giáo dục không thể thiếu công nghệ thông tin luôn mang lại nhiều điều kì thú và hữu ích trong việc tiếp thu kinh nghiệm sống
Trong chủ đề thế giới động vật với bài khám phá: Vòng tuần hoàn của bướm với những tiết dạy trên tôi phải cho trẻ khám phá thông qua những hình ảnh sinh động, tôi copy trên mạng để giúp trẻ hiểu rõ hơn vòng tuần hoàn của bướm : từ con tằm -> nhộng-> bướm-> Đẻ trứng-> tằm-> nhộng-> bướm Qua việc sử dụng powerpoint tôi thấy trẻ thích thú say sưa khám phá giúp trẻ đạt được kết quả tốt hơn
Trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay, sự phát triển của hệ thống mạng cùng với những tiện ích, ứng dụng phong phú đã tạo nên một cuộc cách mạng trong mọi người, mọi ngành và đặc biệt là ngành giáo dục Chính vì vậy ngay từ cấp học mầm non trẻ đã được làm quen với công nghệ thông tin như một phần của hoạt động giáo dục không thể thiếu Không chỉ với người lớn mà đối với trẻ em mầm non thì công nghệ thông tin luôn mang lại nhiều điều kì thú
và hữu ích trong việc tiếp thu kinh nghiệm sống
Trong việc giáo dục, truyền đạt kiến thức cho trẻ không phải sự vật hiện tượng nào cũng có sẵn để trẻ có thể tiếp thu tri giác nhất là với hoạt động khám
Trang 8phá khoa học như tìm hiểu động vật sống dưới biển, quan sát máy bay, các hiện tượng tự nhiên,… Chính vì vậy để trẻ được tìm hiểu thế giới xung quanh một số cách bao quát nhất thì ứng dụng công nghệ thông tin vào tiết học là cần thiết Khi sử dụng công nghệ thông tin như các bài powerpoint vào các tiết học khám phá khoa hoc- Khám phá xã hội tôi nhận thấy trẻ tỏ ra hào hứng, thích thú
và giúp trẻ nhận ra sự vật – hiện vật một cách dễ dàng hơn
Ví dụ : Khám phá động vật sống trong rừng
Vì điều kiện khó khăn nên nhà trường khó khăn nên nhà trường không thể đưa trẻ đến vườn bách thú để trẻ quan sát thực tế các con vật đó Tôi cho trẻ xem hình ảnh các loài động vật rừng trên powerpoint Từ đó mà trẻ sẽ biết một số đặc điểm cơ bản như : tiếng kêu, thức ăn, vận động, cách kiếm ăn của chúng
(Hình ảnh 7: Trẻ khám phá động vật sống trong rừng trên màn hình)
3.4 Biện pháp 4: Tích hợp hoạt động khám phá Khoa học – Xã hội trong các hoạt động khác.
Môi trường xung quanh rất phong phú và đa dạng, sinh động, hấp dẫn với trẻ Tất cả trẻ em đều rất thích tiếp xúc và hoạt động với thiên nhiên, rau, quả,
cỏ, cây, hoa, lá… với các dồ dùng, đồ chơi Chính vì vậy, cho trẻ khám phá Khoa học – Xã hội không chỉ là dạy trẻ trong giờ hoạt động khám phá mà tôi còn có thể tích hợp với các hoạt động khác để trẻ có thêm hiểu biết về môi trường tự nhiên cũng như môi trường xã hội thông qua các hoạt động khác
Ví dụ: Khi tôi cho trẻ ra trải nghiệm về bác nông dân làm vườn tôi đã chuẩn bị các dụng cụ như: Cuốc, bình tưới, ủng, tất tay đầu tiên tôi cho trẻ đi lấy dụng cụ bảo hộ lao động, sau đó trẻ bắt đầu công việc của bác nông dân, các con
sẽ dùng dụng cụ là để xới đất, sau đó trẻ sẽ trồng một loại rau theo luống, hằng ngày trẻ sẽ ra chăm bón và quan sát rau lớn lên như thế nào, sau đó bạn tổ trưởng sẽ vẽ hình minh họa rau đó lên bảng xem hôm nay cây rau mọc được mấy lá rồi, vài hôm sau cây rau phát triển thêm gì? Cho đến khi rau được thu hoạch rau mà trẻ trồng và chăm sóc Điều này rất có ý nghĩa với trẻ
(Hình ảnh 8 : Trẻ trải nghiệm chăm sóc vườn rau của trường)
Kết quả là trẻ rất thích khi được trải nghiệm và hăng say làm việc, mong từng ngày để được ra chăm sóc, quan sát xem cây rau mình trồng hôm nay nó thế nào ? và luôn luôn đặt câu hỏi giúp trẻ tư duy tốt, ham hiểu biết, kích thích
sự tò mò muốn được khám phá, được trải nghiệm
Ví dụ: Hoạt động ngoài trời tôi cho trẻ quan sát góc thiên nhiên của lớp,
để cung cấp thêm cho trẻ về sự phát triển của cây xanh, các loại hoa đểtrẻ quan sát và đặt câu hỏi một cách hiệu quả nhất
(Hình ảnh 9: Trẻ quan sát các loại hoa)
Trang 9Ví dụ: Trong hoạt động văn học với bài đồng dao: “Con cua mà có hai càng”
Con cua mà có hai càng Đầu, tai không có bò ngang cả đời Con cá mà có cái đuôi Hai vây ve vẩy nó bơi rất tài Con rùa mà có cái mai Cái cổ thụt ngắn, thụt dài vào ra Con voi mà có hai ngà Cái vòi nó cuốn đổ nhà, đổ cây Con chim mà có cánh bay Bay cùng nam, bắc, đông, tây tỏ tường Qua bài đồng dao này trẻ nhận biết được nét đặc trưng nhất của từng loại con vật như: Con cua thì có tám cẳng và hai càng, con cá có đuôi và vây, con rùa có mai, con voi có ngà và con chim có cánh để bay.Ngoài những hình thức trên ta có thể cung cấp biểu tượng về thế giới xung quanh cho trẻ qua hình ảnh
mô hình, vật thật
3.5 Biện pháp 5: Cho trẻ làm thí nghiệm, thực nghiệm.
Ở độ tuổi mẫu giáo, trẻ rất hứng thú với những sự vật, hiện tượng mới lạ bên ngoài đặc biệt là khi trẻ được tham gia vào những hoạt động thí nghiệm Khi
tổ chức cho trẻ làm thí nghiệm tôi thấy trẻ rất hào hứng, thích thú khi tìm ra được những điều mới lạ Khác với việc quan sát thông thường khi trẻ được làm thí nghiệm trẻ có thể nhìn thấy rõ hơn những tính chất, đặc điểm riêng của sự vật, hiện tượng của những loài động, thực vật Các thí nghiệm kích thích trẻ so sánh, lập luận từ đó giúp trẻ phát triển khả năng quan sát, tri giác và tư duy Một số thí nghiệm do trẻ thực hiện:
Thí nghiệm 1: Thổi bóng không dùng hơi
* Mục đích: Trẻ quan sát và nhận biết các đặc tính của giấm và bột
bakingsoda: Tạo nên khí co2 bay ra khỏi miệng chai đẩy bóng phồng lên
* Chuẩn bị: Một số quả bong bóng, 2 vỏ chai 0,5 đến 1,5 lít, một muỗng cà
phê, một chiếc phễu, giấm và bakingsoda
* Tiến hành:
Bước 1: Đổ giấm vào 1/3 chai
Bước 2: Cho 2-3 thìa bakingsoda vào quả bóng bằng cách dùng phễu Bước 3: Đặt bong bóng vào cổ chai và quan sát trình tự bơm căng của của
nó Hỏi trẻ chuyện gì xảy ra? (Bong bóng sẽ thổi phồng to dần lên)
Trang 10* Giải thích: Đây là phản ứng hóa học giữa bakingsoda và giấm tạo nên co2, lượng khí này tăng dần và thoát ra khỏi chai, khiến cho bóng tự thổi phồng
(Hình ảnh 10: Thí nghiệm thổi bóng không dùng hơi)
Thí nghiệm 2: Tác hại của nước ngọt với răng
* Mục đích: Trẻ biết được tác hại nước ngọt với men răng như thế nào
* Chuẩn bị: 1 cốc nước, 2 chai nước ngọt, 1 quả trứng, 1 bàn chải, 1 thìa,
2 khăn, 2 bàn
* Tiến hành:
Bước 1: Cho trứng vào cốc nước ngọt
Bước 2: Ngâm trứng vào cốc nước ngọt
Bước 3: Vớt trứng ra khay, dùng bàn chải đánh răng đánh sạch màu bám trên vỏ trứng
* Giải thích: Vỏ trứng giống như men răng của chúng ta, nếu như các con
ăn uống hằng ngày không chịu đánh răng thì men răng bị ố vàng, và sâu răng
(Hình ảnh 11: Thí nghiệm tác hại của nước ngọt với men răng)
Thí nghiệm 3: Hoa nở
* Mục đích: Trẻ biết bông hoa được cắt từ giấy và gấp lại từng cánh lại, nếu không thả xuống mặt nước thì hoa sẽ không nở được, nếu thả xuống mặt nước thì bông hoa từ từ nở ra
* Chuẩn bị: +1/2 chậu nước
+ Kéo, giấy, sáp màu
+ Bàn
* Tiến hành:
Bước 1: Cho trẻ quan sát và gọi tên các dụng cụ, đoán xem cô sẽ làm gì với những dụng cụ này
Bước 2: Lấy bút màu vẽ một bông hoa, dùng kéo cắt sắt viền theo hình bông hoa, tiếp theo gấp từng cánh hoa vào một
Bước 3: Thả bông hoa xuống chậu nước (bông hoa sẽ từ từ nở ra)
- Cho trẻ thực hiện
(Hình ảnh 12: Thí nghiệm nở hoa)
Thí nghiệm 4: Chiếc cốc úp ngược
* Mục đích : Trẻ biết được khi nước có trong cốc nhưng khi dùng vật bịt kín miệng cốc thì nước sẽ không bị chảy ra
* Chuẩn bị : Cốc nước, bìa giấy
* Tiến hành :
Bước 1: Cho trẻ quan sát và gọi tên các đồ dùng dụng cụ
Bước 2: Thực hiện