1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lý thuyết phân tâm học về nhân cách và những ứng dụng của thuyết; nội dung quy luật tri giác và ứng dụng của quy luật trong cuộc sống

37 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý thuyết phân tâm học về nhân cách và những ứng dụng của thuyết; nội dung quy luật tri giác và ứng dụng của quy luật trong cuộc sống
Tác giả Đinh Nhật Thiên Thanh
Người hướng dẫn Tiến Sĩ Mai Hiền Lê, Tiến Sĩ Lê Duy Hùng
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 159,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT PHÂN TÂM HỌC VỀ NHÂN CÁCH VÀ ỨNG DỤNG CỦA NÓ (4)
    • 1.1. Khái quát chung về học thuyết Phân tâm học (4)
    • 1.2. Khái quát chung về nhân cách và lý thuyết Phân tâm học về nhân cách5 1. Bản năng (5)
      • 1.2.2. Bản ngã/Cái tôi (10)
      • 1.2.3. Cái siêu tôi (Siêu ngã) (12)
    • 1.3. Sự tương tác giữa bản năng, bản ngã và cái siêu tôi (15)
    • 1.4. Ứng dụng của lý thuyết Phân tâm học về nhân cách (17)
      • 1.4.1 Ứng dụng (17)
      • 1.4.2. Các mặt hạn chế khi ứng dụng lý thuyết Phân tâm học về nhân cách vào đời sống (22)
  • CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ ỨNG DỤNG CỦA QUY LUẬT CỦA TRI GIÁC (26)
    • 2.1. Các quy luật cơ bản của tri giác (26)
    • 2.2. Quy luật về tính đối tượng của tri giác và ứng dụng (28)
    • 2.3. Quy luật về tính lựa chọn của tri giác và ứng dụng (28)
    • 2.4. Quy luật về tính có ý nghĩa của tri giác và ứng dụng (30)
    • 2.5. Quy luật về tính ổn định của tri giác và ứng dụng (31)
    • 2.6. Quy luật về tính ảo ảnh của tri giác và ứng dụng (32)
    • 2.7. Quy luật về tính tổng giác của tri giác và ứng dụng (32)
  • KẾT LUẬN (35)

Nội dung

Lý thuyết Phân tâm học về nhân cách và những ứng dụng của thuyết; nội dung quy luật tri giác và ứng dụng của quy luật trong cuộc sống BẢNG MỤC LỤC LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3 CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT PHÂN TÂM HỌC VỀ NHÂN CÁCH VÀ ỨNG DỤNG CỦA NÓ 4 1.1. Khái quát chung về học thuyết Phân tâm học 4 1.2. Khái quát chung về nhân cách và lý thuyết Phân tâm học về nhân cách 5 1.2.1. Bản năng 8 1.2.2. Bản ngãCái tôi 10 1.2.3. Cái siêu tôi (Siêu ngã) 12 1.3. Sự tương tác giữa bản năng, bản ngã và cái siêu tôi 15 1.4. Ứng dụng của lý thuyết Phân tâm học về nhân cách 17 1.4.1 Ứng dụng 17 1.4.2. Các mặt hạn chế khi ứng dụng lý thuyết Phân tâm học về nhân cách vào đời sống 22 CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ ỨNG DỤNG CỦA QUY LUẬT CỦA TRI GIÁC TRONG CUỘC SỐNG, HỌC TẬP VÀ CÔNG VIỆC 26 2.1. Các quy luật cơ bản của tri giác 26 2.2. Quy luật về tính đối tượng của tri giác và ứng dụng 28 2.3. Quy luật về tính lựa chọn của tri giác và ứng dụng 28 2.4. Quy luật về tính có ý nghĩa của tri giác và ứng dụng 30 2.5. Quy luật về tính ổn định của tri giác và ứng dụng 31 2.6. Quy luật về tính ảo ảnh của tri giác và ứng dụng 32 2.7. Quy luật về tính tổng giác của tri giác và ứng dụng 32 KẾT LUẬN 35 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 36

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ

MINH



KHOA TÂM LÝ HỌC BÀI TIỂU LUẬN HỌC PHẦN: TÂM LÝ HỌC CƠ BẢN

TÊN ĐỀ TÀI: LÝ THUYẾT PHÂN TÂM HỌC VỀ NHÂN CÁCH VÀ NHỮNG ỨNG DỤNG CỦA

THUYẾT; NỘI DUNG QUY LUẬT TRI GIÁC VÀ ỨNG DỤNG CỦA QUY LUẬT TRONG CUỘC SỐNG

HỌC TẬP VÀ CÔNG VIỆC

Sinh viên thực hiện: Đinh Nhật Thiên Thanh MSSV: 46.01.611.110

Lớp: K46 – TLH.B Tên giảng viên: Tiến sĩ Mai Hiền Lê và Tiến sĩ Lê Duy Hùng

Trang 2

BẢNG MỤC LỤC

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3

CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT PHÂN TÂM HỌC VỀ NHÂN CÁCH VÀ ỨNG DỤNG CỦA NÓ 4

1.1 Khái quát chung về học thuyết Phân tâm học 4

1.2 Khái quát chung về nhân cách và lý thuyết Phân tâm học về nhân cách5 1.2.1 Bản năng 8

1.2.2 Bản ngã/Cái tôi 10

1.2.3 Cái siêu tôi (Siêu ngã) 12

1.3 Sự tương tác giữa bản năng, bản ngã và cái siêu tôi 15

1.4 Ứng dụng của lý thuyết Phân tâm học về nhân cách 17

1.4.1 Ứng dụng 17

1.4.2 Các mặt hạn chế khi ứng dụng lý thuyết Phân tâm học về nhân cách vào đời sống 22

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ ỨNG DỤNG CỦA QUY LUẬT CỦA TRI GIÁC TRONG CUỘC SỐNG, HỌC TẬP VÀ CÔNG VIỆC 26

2.1 Các quy luật cơ bản của tri giác 26

2.2 Quy luật về tính đối tượng của tri giác và ứng dụng 28

2.3 Quy luật về tính lựa chọn của tri giác và ứng dụng 28

2.4 Quy luật về tính có ý nghĩa của tri giác và ứng dụng 30

2.5 Quy luật về tính ổn định của tri giác và ứng dụng 31

2.6 Quy luật về tính ảo ảnh của tri giác và ứng dụng 32

2.7 Quy luật về tính tổng giác của tri giác và ứng dụng 32

KẾT LUẬN 35

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 36

Trang 3

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Hiện tại, Tâm lý học chưa phải là ngành được chú trọng nhiều ở Việt Nam Dù thế,tiềm năng của ngành là rất lớn Và, sau khoảng thời gian theo học tại trường Đại học

Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, trải nghiệm học phần Tâm lý học cơ bản, bản thân

em học được rất nhiều kiến thức chuyên ngành cần thiết Là một sinh viên ngành Tâm

lý học, em nghĩ việc hiểu rõ về học thuyết Phân tâm học của Sigmund Freud – mộttrong những học thuyết lớn của ngành Tâm lý, đặc biệt là phần lý thuyết về cấu trúccủa nhân cách và hiểu được các quy luật cơ bản của Tri giác cũng như cách ứng dụngchúng vào đời sống, học tập, công việc là rất quan trọng Chính vì vậy, em quyết địnhchọn đề tài: “Lý thuyết Phân tâm học về nhân cách và những ứng dụng của thuyết;nội dung quy luật Tri giác và ứng dụng của quy luật trong cuộc sống, học tập, côngviệc” để làm tiểu luận Phân tâm học có thể không phải là thế lực thống trị như thờiđiểm năm 1910, nhưng các học thuyết của Freud có một tầm ảnh hưởng lâu dài lên cảngành tâm lý học và văn hóa đại chúng, tìm hiểu về học thuyết này sẽ giúp em nângcao tầm hiểu biết của mình, Các quy luật của tri giác giúp em hoàn thiện bản thân.Qua đề tài này, em hi vọng sẽ có một cái nhìn sâu hơn về lý thuyết Phân tâm học vềcấu trúc nhân cách con người cũng như các quy luật cơ bản về Tri giác

asdasdasdf

Trang 4

CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT PHÂN TÂM HỌC VỀ NHÂN CÁCH VÀ ỨNG

DỤNG CỦA NÓ 1.1 Khái quát chung về học thuyết Phân tâm học

Năm 1896, Sigmund Freud, bác sĩ tâm thần và thần kinh gốc Do Thái lần đầu tiên đưa

ra thuật ngữ “Phân tâm học” (Giáo trình tâm lý học đại cương, 2019) Phân tâm họcđược định nghĩa là một chuỗi các học thuyết và kỹ thuật trị liệu tâm lý có nguồn gốc

từ những công trình và học thuyết của Sigmund Freud Ý tưởng chủ đạo của phân tâmhọc chính là quan điểm cho rằng tất cả mọi người đều sở hữu những suy nghĩ, cảmxúc, ham muốn, và ký ức ẩn sâu trong vô thức Lý thuyết phân tâm nhấn mạnh yếu tốsinh học quy định bản chất nhân cách, động lực phát triển cũng như các giai đoạn pháttriển nhân cách (Freud, 2018)

Sự ra đời của thuyết Phân tâm học đã cung cấp cho nhân loại những kiến thức nềntảng để có thể đi sâu nghiên cứu những vấn đề cụ thể và cách thức ứng dụng của nó,tạo tiền đề để có thể phát triển nó trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống, giúpgiải quyết các vấn đề mà xã hội đang gặp phải, tạo cơ sở cho sự phát triển của xã hộinói chung (Freud, 2018) Các kết quả của Phân tâm học được rút ra từ những nghiêncứu thực hành chữa bệnh tâm thần do chính Sigmund Freud thực hiện Những thànhtựu mà ông mang đến cho khoa học loài người nói chung, khoa học nghiên cứu vềtâm lý con người nói riêng là một khám phá vô cùng lớn về một mảng hiện tượng vôthức ở con người Cho đến nay chưa ai vượt qua được những nghiên cứu của ông Nóichung, việc xuất hiện một học thuyết mới trong lĩnh vực nghiên cứu về con người củaSigmund Freud đã đóng góp một phần quan trọng vào kho tàng kiến thức nhân loại,làm phong phú hơn các kiến thức về lĩnh vực khoa học Hơn nữa, Phân tâm học cũnggiúp xã hội giải quyết những trường hợp nằm trong lĩnh vực nghiên cứu của Phân tâm

Trang 5

học mà trước đó, các ngành khoa học khác vẫn chưa thể giải quyết được Freud cònđược đánh giá cao khi là người đã khám phá ra một lĩnh vực nghiên cứu mới của tâm

lý học: vô thức Ông có công lớn trong việc nghiên cứu động lực hành vi vủa conngười là động cơ vô thức, và đưa ra những khái niệm: Sự dồn nén, cơ chế tự vệ, sựđồng hoá, xung đột, sự xã hội hoá… Ông cũng là người đưa ra một số cơ chế tâm lýnhư cơ chế tự vệ, dồn nén, các mặc cảm, đồng nhất hóa, các giai đoạn phát triển nhâncách Học thuyết Phân tâm của Sigmund Freud ra đời cách đây cả thế kỉ, thế nhưngnhững đóng góp của nó cho tâm lí học, nhất là trong tâm lí học trị liệu lâm sàng vẫncòn giá trị Những công trình nghiên cứu mà Freud để lại đã mở ra cho các nhà tâm línhững nền tảng căn bản trong nghiên cứu vô thức của con người

Winfred Overholser đã nhận định: “Có nhiều lý do để nói rằng từ một năm nay Freud được đặt ngang hảng với Copernicus và Newton và là một trong những vĩ nhân đã mở ra những chân trời mới cho tư tưởng con người Một điều chắc chắn là ở thời đại chúng ta chưa ai lại đem nhiều ánh sáng rọi vào sự hoạt động của trí não con người bằng Freud.”

1.2 Khái quát chung về nhân cách và lý thuyết Phân tâm học về nhân cách

Thuật ngữ nhân cách theo nghĩa thông thường dùng để chỉ phẩm chất, đạo đức củamột người, cũng có khi được dùng với ý nghĩa chỉ giá trị, cốt cách làm người của họ(Giáo trình tâm lý học đại cương, 2019) Nhân cách thường được hiểu là đức tính,phẩm chất tốt đẹp của con người Trong khoa học, khái niệm nhân cách là một phạmtrù đa diện với ý nghĩa rộng và phức hợp

Theo Sigmund Freud, sự phát triển của nhân cách bao gồm hàng loạt các xung đột

giữa một bên là cá nhân luôn mong muốn được thỏa mãn các xung động bản năng với một bên là xã hội – cái thường xuyên kìm hãm, hạn chế những mong muốn đó

Trang 6

của cá nhân Trong quá trình phát triển, cá nhân tìm ra những phương thức thỏa mãn được những mong muốn của bản thân dưới sự kìm hãm của xã hội Sự thích nghi này hình thành nên nhân cách.

Trong tâm lý học của Freud, cõi vô thức là tối thượng và mọi hoạt động ý thức chỉ có

1 vị trí phụ thuộc (Freud, 2018) Nếu hiểu được bí mật sâu xa của cõi vô thức ắtchúng ta sẽ hiểu được bản chất nội tâm của con người Chúng ta thường suy nghĩ mộtcách vô thức và thỉnh thoảng suy tư của chúng ta mới có tính chất ý thức Tâm linh vôthức là nguồn gốc chính gây ra bệnh tâm thần, do bệnh nhân thường cố gắng gạt rangoài cõi ý thức những ký ức khó chịu, mọi ước vọng bị dồn nén vô hiệu, nhưng kếtquả là anh ta tích tụ ngày càng nhiều những ký ức, ước vọng và dồn thành bệnh Vì xãhội buộc mỗi con người phải kiềm chế nhiều ham muốn, theo cách nói của Freud thìmỗi cá nhân đã vô tình tích trữ được rất nhiều “dồn nén” Bình thường thì ý thức conngười vẫn thành công trong việc ngăn trở, không cho những “sức mạnh vô thức đentối” bị dồn nén kia xuất hiện Nhưng sự kiểm soát ấy có thể làm cho những ngườibệnh tâm thần trải qua những giai đoạn rối loạn xúc cảm sâu xa

Theo Sigmund Freud, nhân cách con người luôn phức tạp và được cấu thành từ nhiềuyếu tố khác nhau Trong Thuyết phân tâm học nổi tiếng của ông, Freud chỉ rõ rằng

nhân cách được hợp thành từ 3 yếu tố là bản năng (Id), cái tôi (Ego) và cái siêu tôi (Superego) Những yếu tố này hợp thành với nhau và tạo ra sự phức tạp về hành

vi nhận thức của con người Mỗi yếu tố góp phần tạo ra sự riêng biệt cho nhân cách

và khiến cho mỗi cá nhân chịu sự chi phối từ mạnh mẽ từ 3 yếu tố tác động này Mỗi yếu tố của nhân cách thể hiện rõ ở nhiều mặt trong đời sống Theo thuyết của

Sigmund Freud, một vài khía cạnh của nhân cách khiến con người hành động phầnnhiều dựa trên những yêu cầu chính của bản thân Phần khác nhân cách của con người

Trang 7

thì hoạt động theo cách ngược lại, chống đối những yếu tố thúc giục theo bản năng và

cố gắng khiến con người hành động phù hợp với nhu cầu thực tế Quá trình phát triển nhân cách là sự đấu tranh không ngừng nghỉ giữa bản năng và cái siêu tôi, qua đó ổn định và hình thành cái tôi phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội.

Động cơ thực sự của nhân cách là những ham muốn bản năng nằm sâu trong vô thức,

đó là bản chất thực của con người được che đậy dưới cái tôi hiện thực

Sigmund Freud là cha đẻ của ngành phân tâm học và phương pháp tiếp cận tâm độnghọc trong tâm lý học Trường phái tư tưởng này nhấn mạnh ảnh hưởng của tâm trí vôthức lên hành vi Freud tin rằng tâm trí con người, hay nói cách khác – mọi hoạt độngtinh thần của con người được tạo lập từ 3 thành tố: Bản năng (Id), bản ngã (Ego) và

siêu ngã (Superego) Ông đã chia sự phát triển nhân cách từ sơ sinh đến trưởng thành trải qua 5 giai đoạn phát triển tâm tính dục, mỗi giai đoạn tập trung vào 1

cơ quan đặc biệt của cơ thể: Giai đoạn cảm xúc miệng (trong vòng 1 tuổi), trẻ khoái cảm khi bú mẹ, cắn và ăn uống; giai đoạn hậu môn (2 – 3 tuổi), trung tâm khoái cảm

ở hậu môn khi trẻ thải và kìm nén chất thải qua đường hậu môn; giai đoạn cảm xúc dương vật (4 – 6 tuổi), trẻ thích thú khám phá bộ phận sinh dục của mình; giai đoạn tiềm ẩn (7 – 11 tuổi), xung lực tính dục tạm thời bị nén lại, trẻ hầu như không còn

thích thú về tính dục mà hướng mối quan tâm vào việc tiếp thu các kĩ năng mới ở

trường học; giai đoạn sinh dục (từ 12 – 13 tuổi trở đi), trẻ dậy thì và bước vào thời kỳ

cảm xúc ở cơ quan sinh dục (Giáo trình tâm lý học đại cương, 2019) Trong 5 giai

đoạn về sự phát triển nhân cách, Sigmund Freud khẳng định rằng nhân cách được hình thành vào cuối giai đoạn 3 (lúc gần 5 tuổi), sau đó cá nhân phát triển các chiến

lược chủ yếu để bộc lộ bản năng là cái tạo thành hạt nhân của nhân cách

Trang 8

“Freud đã vẽ bản đồ khoa học tâm lý học Ông là một nhà tiên phong vĩ đại và phần lớn những thành công của ông là nhờ ở cái mới lạ cùng bút pháp của ông… Ông đã buộc thế giới phải suy tư theo kiểu tâm lý học, đó là một nhu cầu cốt yếu của thời đại chúng ta Ông cũng đã buộc con người phải tự đặt cho mình những câu hỏi liên quan đến hạnh phúc của loài người Đánh đổ luận thuyết tâm lý khô khan, cầu kỳ của thế

kỷ mười chín, Freud đã đưa ra phản luận phân tâm chứa đầy rối ren.” (Robert Hamilton)

1.2.1 Bản năng

Khối bản năng có ngay từ lúc mới sinh, chỉ những lực lượng nguyên thủy của sự sốnggiống nhau cho tất cả các sinh vật; nó là nguồn động lực, sức mạnh cho hoạt động(Trung, 2018) Mục đích của bản năng là hướng tới khách thể, thế giới bên ngoài làđối tượng để thỏa mãn, nó đòi hỏi khách thể phải thỏa mãn ngay lập tức và trực tiếp

Các hành động đều có nguồn gốc từ sự khoái lạc vô thức Bản năng tượng trưng cho phần vô thức và chống đối xã hội của cá nhân

Theo Freud, phạm vi của bản năng là phần nhân cách tối tăm và không thể đi đến được của chúng ta (Freud, 2018) Bản thân ông chỉ biết chút ít về bản năng qua

nghiên cứu các giấc mộng và qua sự biểu hiện các triệu chứng bên ngoài của các bệnhtâm thần Id là nơi trú ngụ của các bản năng nguyên thủy và các xúc cảm đi ngược lêntới quá khứ xa xưa, khi mà con người còn là một con thú Bản chất của nó là thuộc vềdục tính (sexual in nature) Nó vốn vô thức Con người khi chưa tiến hóa hoàn toàn

thì cũng bị chi phối bởi bản năng Bản năng bao gồm tất cả những gì do di truyền,

là thành phần duy nhất của nhân cách đã tồn tại từ khi nhân cách sinh ra Mục

đích độc nhất của nó là thỏa mãn các bản năng nguyên thủy và các khoái cảm, không

Trang 9

cần biết đến hậu quả Thomas Mann nhận định về bản năng như sau: “Nó không biết

gì đến giá trị, thiện hay ác, và cả đạo đức nữa.” (Freud, 2018)

Tuy vậy, bản năng là nguồn của mọi nguồn năng lượng tâm lý, khiến nó trở thành yếu

tố chính của nhân cách Bản năng được dẫn lối bởi các nguyên lý tiêu khiển, nhằmngay lập tức thỏa mãn các mong muốn, khát vọng và nhu cầu Nếu không thỏa mãnđược những nhu cầu này ngay lúc đó, cá nhân sẽ cảm thấy bồn chồn, lo lắng, căngthẳng Ví dụ như cảm giác đói hay khát gia tăng sẽ làm cá nhân có mong muốn được

ăn/uống ngay lập tức Bản năng rất quan trọng trong giai đoạn đầu, bởi lẽ nó đảm bảo việc đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của trẻ sơ sinh Nếu trẻ đói hay không thoải

mái, trẻ sẽ khóc cho tới khi các nhu cầu về bản năng được thỏa mãn Trẻ sơ sinh hoàntoàn bị chi phối bởi bản năng, không có gì khó hiểu khi chúng đòi hỏi được thỏa mãnnhững nhu cầu cơ bản Hãy tưởng tượng việc cố gắng thuyết phục 1 đứa bé sơ sinh

chờ đến giờ trưa để được thưởng thức bữa ăn của mình Bản năng của trẻ đòi hỏi được thỏa mãn ngay lập tức, và bởi vì các thành phần khác của nhân cách chưa xuất hiện, đứa bé sẽ liên tục khóc tới khi nhu cầu của bé được đáp ứng.

Tuy nhiên, không phải lúc nào ta cũng đáp ứng ngay lập tức những yêu cầu của bản năng được Nếu chúng ta bị chi phối hoàn toàn do các nguyên lý tiêu khiển,

chúng ta có thể nhận ra mình đang cố gắng chiếm lấy thứ chúng ta muốn từ ngườikhác nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân Hành vi này bị xã hội phê phán và sẽ gây

ra làn sóng phản đối trong dư luận Theo Freud, bản năng cố gắng giải quyết sự căngthẳng do nguyên tắc tiêu khiển tạo ra thông qua việc sử dụng tư duy trực quan, thứbao gồm việc hình thành hình ảnh tinh thần về đối tượng mong muốn như một cách

để thỏa mãn nhu cầu

Trang 10

Mặc dù con người đã học được cách để kiềm chế bản năng của mình, một phần bản năng này của nhân cách vẫn còn giống như trẻ sơ sinh, tồn tại như một phần còn sót

lại từ nguyên thủy trong suốt cuộc đời chúng ta Chính sự phát triển của cái tôi và

cái siêu tôi giúp con người kiểm soát những bản năng cơ bản nhất và hành động trong chuẩn mực đạo đức xã hội đề ra (Cherry, Freud's Id, Ego, and Superego,

2020).

1.2.2 Bản ngã/Cái tôi

Cái tôi là một phần của vô thức đã biến cải dưới ảnh hưởng trực tiếp cùa ngoại giới

và nhờ sự trung gian của hệ thống – ý thức – tri giác (Lưu, 1969) Cái tôi vận động

trong ý thức, tiền ý thức và vô thức Cái tôi là thành phần của nhân cách chịu trách nhiệm đối diện với thực tại.

Đứa bé sơ sinh là bản năng được nhân cách hóa Dần dần, bản năng phát triển lên

thành Ego (bản ngã) Khi đứa bé lớn lên, thay vì được hoàn toàn dẫn dắt bằng nguyên

lý khoái lạc, cái tôi của đứa bé bị chi phối bởi nguyên lý thích ứng với thực tại Trongquá trình trưởng thành, đứa bé sẽ có va chạm xã hội và tiếp xúc để học hỏi Lúc này

sẽ hình thành ego – tức là cái tôi Cái tôi của đứa bé biết được thế giới xung quanh, nhận ra rằng phải kìm hãm những khuynh hướng phạm pháp của bản năng để ngăn ngừa mọi xung đột với luật lệ xã hội Như Freud đã viết, cái Ego là vị trọng tài “giữa những đòi hỏi bạt mạng của bản năng và sự kiểm soát của thế giới bên ngoài” Vì vậy, cái tôi đảm bảo rằng những xung động, bốc đồng của bản năng được

thể hiện ra trong khuôn khổ phù hợp với thế giới thực và tình hình thực tế, dù biếtrằng việc tự bảo toàn bản thân tránh khỏi sự trừng phạt của xã hội đều phải tùy thuộcvào mức độ “bị dồn nén” Tuy nhiên, cuộc đấu tranh giữa bản năng và cái tôi có thểgây ra những bệnh tâm thần, ảnh hưởng nghiêm trọng tới nhân cách cá nhân

Trang 11

Bản ngã cố gắng thỏa mãn những mong ước của bản năng theo nguyên tắc thực

tế và phù hợp với định kiến xã hội Các nguyên tắc thực tế cân đo đong đếm chi phí

và lợi ích của một hành động trước khi quyết định thực hiện hay từ bỏ hành động đó

Trong nhiều trường hợp, sự thúc đẩy của bản năng có thể được thỏa mãn thông qua quá trình trì hoãn sự hài lòng tức thì – cái tôi cuối cùng sẽ chấp thuận cho cá

nhân thực hiện hành vi đó, nhưng chỉ trong thời gian và địa điểm thích hợp Ví dụ nhưkhi ăn một chiếc bánh kem dâu rất ngon, nhiều người có xu hướng chừa dâu tây trangtrí ở chóp bánh ra ăn sau cùng; hay tự kiềm chế bản thân – làm xong hết bài tập mớichơi game giải trí Bên cạnh việc kiểm soát nhu cầu của bản năng, bản ngã còn giúpchủ thể cân bằng được những thôi thúc cơ bản, những lý tưởng và thực tế

Bản ngã được thể hiện trong các hoạt động có ý thức: tri giác, ngôn ngữ, kiềm chế

hành vi cá nhân trong quan hệ với ngoại cảnh Bản ngã có thể đè nén xung đột bản năng và kiềm chế khoái lạc Như vậy, bản ngã vượt khỏi sự thống nhất sinh vật của thân xác để đạt tới một sự thống nhất cao hơn là sự tự chủ Bản ngã tượng

trưng cho phần ý thức và ý chí của mỗi cá nhân Sigmund Freud đã nhấn mạnh rằngcái tôi (bản ngã) vừa là đầy tớ vừa là chủ nhân của bản năng

Freu so sánh bản năng và bản ngã như là con ngựa và người cưỡi ngựa Con ngựacung cấp sức kéo, người cưỡi điều khiển con ngựa theo phương hướng và cung cấpcác chỉ dẫn cần thiết Nếu không có người điều khiển, con ngựa có thể đơn giản là đilang thang qua bất cứ nơi nào nó muốn và làm bất kì điều gì nó thích Người cưỡi chỉđường và ra lệnh con ngựa đi đến nơi người điều khiển muốn

Bản ngã cũng giải phóng căng thẳng tạo ra bởi những xung động không được đáp ứngtrong quá trình tư duy thứ cấp, trong đó bản ngã cố gắng tìm một đối tượng trong thếgiới thực phù hợp với hình ảnh tinh thần được tạo ra bởi quá trình nguyên sinh của

Trang 12

bản năng Ví dụ thực tiễn cho việc này là hãy tưởng tượng rằng bạn đang bị mắc kẹttrong một cuộc họp dài tại nơi làm việc Bạn thấy mình càng ngày càng đói khi cuộchọp kéo dài Trong khi bản năng có thể buộc bạn phải nhảy lên khỏi chỗ ngồi củamình và lao vào phòng nghỉ để ăn nhẹ, thì cái tôi hướng dẫn bạn ngồi yên lặng và đợicuộc họp kết thúc Thay vì hành động theo sự thúc giục ban đầu của bản năng, bạndành phần còn lại của cuộc họp để tưởng tượng mình đang ăn một chiếc bánh mì thịt.Sau khi cuộc họp kết thúc, bạn có thể tìm kiếm đối tượng mà bạn đang tưởng tượng(cụ thể ở đây là bánh mì thịt) và đáp ứng các yêu cầu của bản năng một cách thực tế

1.2.3 Cái siêu tôi (Siêu ngã)

Vậy siêu ngã là gì? Đây là yếu tố thứ ba quan trọng trong quá trình sinh hoạt tinh

thần Siêu ngã là thành phần phát triển cuối cùng của nhân cách Theo Freud, siêu ngã bắt đầu xuất hiện vào khoảng năm tuổi Siêu ngã thể hiện lương tri của chúng

ta Đó là các giá trị đạo đức về đúng, sai mà chủ yếu được thấm dần vào chúng ta từ

bố mẹ, thầy cô và xã hội Bản chất của siêu ngã là lương tâm và cái tôi lý tưởng Siêu ngã được hình thành thông qua quá trình thưởng và phạt (Lưu, 1969) Siêu ngã khiến chúng ta cảm thấy tội lỗi khi làm một điều sai trái Cũng chính siêu ngã

khiến chúng ta hoàn thiện mình hơn và sống theo những lý tưởng của mình Siêu ngãnắm giữ các tiêu chuẩn và lý tưởng đạo đức đã được nội tại hóa mà chúng ta có được

Trang 13

từ cha mẹ và xã hội (ý thức của chúng ta về đúng và sai) (Giáo trình tâm lý học đạicương, 2019)

Siêu ngã có thể được định nghĩa đại khái là lương tâm A A Brill đã viết: “Cái

siêu ngã (superego) là sự phát triển tinh thần cao hơn hết mà con người có thể đạtđược và bao gồm lẫn lộn mọi sự cấm đoán, mọi quy tắc cư xử do cha mẹ tạo ra nơi

đứa trẻ Tri giác lương tâm hoàn toàn phụ thuộc vào sự phát triển của cái siêu ngã.” Cũng như cái bản năng, cái siêu tôi nằm trong vô thức và cả hai đều luôn ở thể tương tranh, trong khi cái tôi hoạt động ở giữa như 1 trọng tài Lý tưởng đạo

đức và quy tắc cư xử đều nằm trong cái siêu tôi (Cherry, Freud's Id, Ego, andSuperego, 2020)

Cái siêu tôi hình thành trong suốt năm năm đầu đời từ sự dạy dỗ của cha mẹ, từ

những lời khen thưởng hay chê trách Sự phát triển này diễn ra như là kết quả từ

việc con trẻ tiếp thu những tiêu chuẩn đạo đức của cha mẹ (Freud, 2018) Cái

siêu tôi đang phát triển học hỏi truyền thống gia đình và cộng đồng xung quanh, đồng thời học cách để kìm chế các xung động và những yếu tố không được xã

hội chấp nhận Việc vi phạm các tiêu chuẩn đạo đức sẽ làm cái siêu tôi lo lắng, tội

lỗi và thôi thúc cảm giác muốn chuộc lỗi nảy sinh (Lưu, 1969) Cái siêu tôi vẫn tiếptục phát triển trong quá trình một cá nhân trưởng thành, khi mà cá nhân đó đặt chân

ra ngoài xã hội, gặp những đối tượng bản thân ngưỡng mộ và đương đầu với các quytắc của một xã hội lớn hơn (Trung, 2018)

Cái siêu tôi là các chuẩn mực bên ngoài được phóng chiếu vào bên trong do kết quảnhập tâm của những lời dạy từ gia đình, nền giáo dục, nền văn hóa, nó hoạt động theonguyên tắc kiểm duyệt, ngăn không cho con người bộc lộ những bản năng tính dục vàhiếu chiến theo cách gây ra ảnh hưởng xấu đến xã hội và trật tự xã hội nói chung Cái

Trang 14

siêu tôi đấu tranh để hoàn thiện các hành vi bằng cách xác định giá trị hành vi hoặcthái độ đối với hành vi là đúng hay sai Siêu bản ngã biểu hiện cho phần giá trị vănhóa với chức năng như là lương tâm của cá nhân Cái siêu tôi luôn có ý đồ áp chếhoàn toàn những dục vọng của bản năng.

Nói ngắn gọn thì cái siêu tôi là phần luân lý trong nhân cách con người,bao gồm cácgiá trị đạo đức cơ bản mà cái tôi vận hành (Superego psychology, 2021) Sự phêphán, cấm đoán và giới hạn của cái siêu tôi tạo nên sự lí trí của một người, và các lítưởng, khát vọng của cái siêu tôi ấy đại diện cho hình ảnh tự lí tưởng hóa của bảnthân người đó – hay còn gọi là bản ngã lý tưởng (Superego psychology, 2021) Cụthể thì, cái siêu tôi có hai phần:

+ Lương tâm bao gồm thông tin về những điều bị cha mẹ và xã hội coi là xấu Nhữnghành vi này thường bị cấm và dẫn đến hậu quả xấu như là hình phạt hoặc cảm giác tộilỗi và hối hận (Cherry, Freud's Id, Ego, and Superego, 2020)

+ Bản ngã lý tưởng bao gồm các quy tắc và tiêu chuẩn cho các hành vi mà bản ngãmong muốn (Cherry, Freud's Id, Ego, and Superego, 2020)

Siêu ngã cố gắng hoàn thiện và văn minh hóa hành vi của chúng ta Nó hoạt độngnhằm ngăn chặn tất cả những xung động không thể chấp nhận được của bản năng vàđấu tranh để khiến bản ngã hành động theo các tiêu chuẩn lý tưởng hơn là dựa trêncác tiêu chuẩn thực tế Siêu ngã hiện diện trong ý thức, tiềm thức và vô thức (Freud,2018)

“Siêu ngã, giống như bản năng, trở nên dễ nhận biết trong trạng thái mà nó tạo ra bên trong bản ngã: Ví dụ như khi những lời chỉ trích gợi lên cảm giác tội lỗi.” (Anna Freud)

Trang 15

1.3 Sự tương tác giữa bản năng, bản ngã và cái siêu tôi

Khi nói về bản năng, bản ngã và cái siêu tôi, điều quan trọng cần nhớ là đây khôngphải là ba thực thể riêng biệt với ranh giới được xác định rõ ràng Những khía cạnhnày linh hoạt và luôn tương tác với nhau để ảnh hưởng đến tính cách và hành vi tổngthể của một cá nhân Với nhiều lực lượng cạnh tranh, có thể dễ dàng thấy xung đột cóthể nảy sinh như thế nào giữa bản năng, cái tôi và siêu tôi Freud đã sử dụng thuật ngữsức mạnh bản ngã để chỉ khả năng của bản ngã hoạt động bất chấp những lực lượngđang đấu tranh này (Lưu, 1969) Một người có sức mạnh bản ngã tốt có thể quản lýhiệu quả những áp lực này, trong khi một người có sức mạnh bản ngã quá nhiều hoặcquá ít có thể không chịu khuất phục hoặc gây rối Theo ông, mọi thành phần trong cấutrúc tâm thần thực hiện những chức năng khác nhau và có quan hệ với nhau, cấu trúcnày được Freud ví như việc lái một chiếc ô tô, cái nó (bản năng) tương ứng với cáiđộng cơ, cái tôi tương ứng với tay lái và cái siêu tôi là nguyên tắc chuyển động(Trung, 2018)

Vậy nếu ba nhân tố này không cân bằng lẫn nhau thì sao? Nếu bản ngã có thể điều tiếtmột cách thỏa đáng giữa những đòi hỏi của thực tại, cái tôi và cái siêu tôi, một nhâncách lành mạnh và được điều chỉnh tốt sẽ xuất hiện Lý thuyết của Freud cung cấpmột khái niệm về cấu trúc cơ bản của nhân cách và cách các yếu tố của nhân cáchhoạt động (Freud, 2018) Theo quan điểm của Freud, sự cân bằng trong tương tác linhhoạt của bản năng, bản ngã và cái siêu tôi là điều cần thiết để xây dựng một nhân cáchlành mạnh Và vì vậy, Freud tin rằng sự mất cân bằng giữa các yếu tố này sẽ dẫn đếnmột nhân cách không tốt (Cherry, Freud's Id, Ego, and Superego, 2020)

Cụ thể hơn, một nhân cách lành mạnh, trưởng thành là một tập hợp năng lượng đượckiềm chế và giữ thăng bằng Cái bản năng sản sinh ra những nhu cầu cơ bản, cái tôi

Trang 16

kiềm chế những xung năng của cái nó đủ lâu để tìm những giải pháp thực tế làm thỏamãn những nhu cầu này, còn cái siêu tôi quyết định liệu kế hoạch giải quyết vấn đềcủa cái tôi có được chấp nhận về phương diện đạo đức hay không (Freud, 2018) Rõràng cái tôi ở giữa và phải đáp ứng hai thế lực bằng cách hướng tới sự công bằng giữahai đòi hỏi trái ngược nhau của cái ấy và cái siêu tôi, cần phải trợ giúp cái tôi đủ sức

để giải quyết mâu thuẫn nội tại trong nhân cách con người, một khi cái tôi đủ sức giảiquyết mâu thuẫn này thì con người sống khỏe mạnh và nhân cách phát triển bìnhthường (Trung, 2018) Ví dụ: Một cá nhân có bị bản năng lấn át có thể trở nên bốcđồng, không kiểm soát được hoặc thậm chí là phạm tội Một cá nhân như vậy sẽ hànhđộng theo những xung động cơ bản nhất mà không quan tâm đến việc liệu hành vi của

họ có phù hợp, có thể chấp nhận được hay hợp pháp hay không Mặt khác, một tínhcách siêu tôi vượt trội có thể dẫn đến việc một con người trở nên cực kỳ đạo đức, khắtkhe và hay phán xét Một người được cai trị bởi cái siêu tôi có thể không thể chấpnhận bất cứ điều gì hoặc bất kỳ ai mà họ cho là "xấu" hoặc "vô đạo đức"

Trong khi bản ngã gánh trên vai một trọng trách khó khăn, nó không phải hành độngmột mình (Cherry, Freud's Id, Ego, and Superego, 2020) Lo lắng cũng đóng một vaitrò trong việc giúp bản ngã đứng vững trước lằn ranh giữa những đòi hỏi của xungđộng nguyên thủy với các giá trị đạo đức và thế giới thực (Giáo trình tâm lý học đạicương, 2019) Khi bạn trải qua các kiểu lo lắng khác nhau, các cơ chế phòng vệ có thểhoạt động để giúp bảo vệ bản ngã và giảm bớt sự lo lắng mà bạn đang cảm thấy Cơchế phòng vệ là một chiến lược bản ngã sử dụng để bảo vệ bản thân khỏi lo âu (Freud,2018) Những công cụ phòng vệ này hoạt động như một người bảo vệ ngăn những thứkhó chịu hay đau buồn của vô thức đi vào vùng ý thức Khi có một thứ gì đó quá sức

Trang 17

chịu đựng hay thậm chí là không phù hợp thì cơ chế phòng vệ sẽ ngăn thông tin này

đi vào ý thức để giảm thiểu sự khó chịu nó gây ra

Khi ba thành tố bản năng, cái tôi và cái siêu tôi tương đối hòa hợp thì cá nhân lúc ấy ởtrạng thái điều hòa và hạnh phúc (Trang, 2018) Nếu cái siêu tôi để cho bản năng viphạm các luật lệ, nó sẽ gây ra cảm giác lo lắng, tội lỗi và các biểu lộ khác của lươngtâm tác động lên cái tôi (Trang, 2018)

1.4 Ứng dụng của lý thuyết Phân tâm học về nhân cách

1.4.1 Ứng dụng

Thuyết Phân tâm học có ảnh hưởng rộng khắp trên toàn thế giới, nó đã tạo ra mộtphương pháp cho việc ứng dụng vào những ngành liên quan (Trung, 2018) Việc xuấthiện một học thuyết mới trong lĩnh vực nghiên cứu về tâm lý con người đã đóng gópmột phần quan trọng vào kho tàng khoa học, làm phong phú hơn cho lĩnh vực khoahọc (Trung, 2018) Nội dung của Thuyết Phân tâm học là đi sâu tìm hiểu về đời sốngnội tâm con người, nhằm hiểu rõ những suy nghĩ của con người được hiện thực bằnghành vi, liệu rằng đằng sau hành vi đó thì cái gì thuộc về bên trong con người sẽ nhưthế nào Nhờ học thuyết Phân tâm học, ta hiểu rõ hơn về tâm lý con người, cụ thể làhiểu rõ bản chất suy nghĩ của cá nhân Từ tiền đề đó, chúng ta có thể tìm ra nhữnggiải pháp để kiềm chế những xung đột trong nội tâm và thực tại của một cá nhân (do

có sự nhận thức không đúng đắn về các giá trị đạo đức và xã hội mà xâm hại đếnnhững giá trị đó) và đưa cá nhân ấy trở lại trạng thái bình thường, phát triển bìnhthường (Lưu, 1969) Học thuyết này cũng giúp cho xã hội có thể giải quyết đượcnhững trường hợp thuộc lĩnh vực nghiên cứu của Phân tâm học mà trước đó, cácngành khoa học khác vẫn chưa thể giải quyết được như điều trị bệnh nhân bằng liệupháp tâm lý, điều tra tội phạm, tội phạm học để tìm ra những nguyên nhân dẫn đến

Trang 18

những phản kháng tiêu cực đối với các chuẩn mực xã hội do hành vi, để đưa cá nhân

đó đi theo con đường đúng đắn

Theo Sigmund Freud, ở người bệnh đã xảy ra sự chuyển hóa quan trọng, từ có ý thứcthành vô thức, nghĩa là người ta chỉ mắc bệnh tâm thần khi nào người ta để những thứ

có ý thức trở thành vô thức, tạo ra các lỗ hỏng trong trí nhớ và mất trí nhớ (Freud,2018) Như thế nghĩa là những biến cố xảy ra trong cơn xúc động không tự phát sinh

ra bệnh khi nó còn nằm trong lĩnh vực ý thức, chỉ khi nào nó bị đẩy ra khỏi lĩnh vực ýthức và trở thành vô thức thì khi đó mới tạo ra sự mất cân bằng trong đời sống tinhthần của con người Theo hướng này, ta sẽ thấy, Phân tâm học mở ra một khả nănglớn để chữa trị cho các chứng bệnh tâm thần Với thuyết Phân tâm học, SigmundFreud đã đề xuất được một phương pháp “liên tưởng tự do” nhằm giải tỏa tâm lý,chữa trị cho những người bị bệnh tâm thần Có thể nói, Phân tâm học đã mở ra mộtgóc nhìn mới về bệnh tâm thần, nêu rõ rằng nói chuyện về vấn đề với một chuyên gia

có thể giúp giảm bớt các triệu chứng tâm lý khó chịu Hướng tiếp cận trị liệu của ông– cho rằng bệnh lý tâm thần có thể chữa được bằng cách nói chuyện về các vấn đề để

có thể giúp thân chủ thấy khá hơn – là một khái niệm mang tính cách mạng, ghi dấu

ấn vững bền lên cách con người tiếp cận việc điều trị các bệnh lý tâm thần.Trong một bài tổng quan xem xét tính hiệu quả của Phân tâm học, nhà nghiên cứu vànhà phân tâm học Peter Fonagy cho rằng liệu pháp tâm động học có thể có hiệu quảtrong điều trị trầm cảm, rối loạn ăn uống, rối loạn triệu chứng thực thể và một số rốiloạn lo âu,… (Cherry, Freud's Id, Ego, and Superego, 2020) Một số nghiên cứu vềtính hiệu quả của phân tâm học đã dấy lên làn sóng ủng hộ cho phương thức điều trịnày Và, một nghiên cứu phân tích tổng hợp đã thấy rằng phân tâm học có thể có hiệuquả như các phương pháp khác, cụ thể hơn, phân tâm học có thể điều trị hiệu quả trầm

Ngày đăng: 15/04/2023, 14:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w