1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận môn học kinh tế nguồn nhân lực thực trạng về chính sách tiền lương của doanh nghiệp

20 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng về chính sách tiền lương của doanh nghiệp
Tác giả Đinh Xuân Hiên, Nguyễn Thị Tuyết Trâm, Hoàng Thị Thùy Trang
Người hướng dẫn Từ Thị Thanh Hiệp
Trường học Trường Đại Học Tây Nguyên
Chuyên ngành Kinh tế nguồn nhân lực
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Đắk Lắk
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 85,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN KHOA KINH TẾ TIỂU LUẬN MÔN HỌC KINH TẾ NGUỒN NHÂN LỰC THỰC TRẠNG VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG CỦA DOANH NGHIỆP GV Từ Thị Thanh Hiệp Sinh viên thực hiện MSSV Đinh Xuân Hiên 194100[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN

KHOA KINH TẾ

TIỂU LUẬN

MÔN HỌC: KINH TẾ NGUỒN NHÂN LỰC

THỰC TRẠNG VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG CỦA

DOANH NGHIỆP

GV: Từ Thị Thanh Hiệp Sinh viên thực hiện:

Đắk Lắk, tháng 12 năm 2021

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN

KHOA KINH TẾ

TIỂU LUẬN

MÔN HỌC: KINH TẾ NGUỒN NHÂN LỰC

THỰC TRẠNG VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG CỦA

DOANH NGHIỆP

GV: Từ Thị Thanh Hiệp Sinh viên thực hiện:

Đắk Lắk, tháng 12 năm 2021

Trang 3

PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết:

Bất cứ ngành nghề hay lĩnh vực nào từ sản xuất thương mai hay dịch vụ để muốn tồn tại và phát triển đều phải có các yếu tố như vốn, công nghệ… đặc biệt là lao động kể cả lao động chân tay hay lao động trí óc Lao động là yếu tố có tính chất quyết định nhằm biến đổi các vật thể tự nhiên thành những vật phẩm cần thiết để thỏa mãn nhu cầu xã hội Xã hội càng phát triển đòi hỏi lao động ngày càng phải tiến bộ phát triển cao hơn, từ đó tầm quan trọng và sự cần thiết của người lao động ngày càng được biểu hiện rõ hơn Để người lao động tồn tại, những hao phí mà họ đã bỏ ra nhằm tái sản xuất sức lao động, do đó cần có yếu tố là tiền lương Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, nó được xác định trên hai cơ sở chủ yếu là: số lượng và chất lượng lao động Bên cạnh tiền lương có chức năng bảo đảm cuộc sống cho người lao động, nó còn được sử dụng để khích lệ tinh thần, thúc đẩy người lao động làm việc tốt hơn, hiệu quả hơn Trên thực tế, mỗi doanh nghiệp đều có những đặc thù công việc và lao động riêng cho nên chính sách lương và các khoản trích lương khác nhau Việc sử dụng chính sách tiền lương đúng đắn, đầy đủ là tiền đề cho

sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

Trong nền kinh tế hội nhập, việc thu hút và giữ chân người lao động có năng lực

là một trong những chính sách hàng đầu của các doanh nghiệp Bên cạnh trang bị cơ sở vật chất tốt, môi trường làm việc lành mạnh, năng động thì chính sách tiền lương, tiền thưởng và các chế độ phúc lợi khác mà một trong các yếu tố không kém phần quan trọng để giữ các nhân viên ở lại doanh nghiệp và thu hút các nguồn nhân lực chất lượng cao từ bên ngoài cũng như tạo điều kiện để hài hòa, ổn định, góp phần phát huy tính sáng tạo và tài năng của người lao động nhằm tăng năng suất và chất lượng tiến bộ trong lao động Đó là cơ sở liên kết giữa người sử dụng lao động và người lao động Tuy nhà nước đưa ra mức lương cơ bản nhưng các doanh nghiệp cần nên có những chính sách tiền lương, tiền thưởng để phù hợp với mô hình của mình Đây chính là một trong những chiến lược kinh doạnh và lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, một chế độ tiền lương phù hợp là không quá cao nhầm để tránh ảnh

Trang 4

hưởng đến lợi ích của doanh nghiệp nhưng cũng không quá thấp để xứng đáng cho sự

nổ lực và cố gắng của người lao động trong quá trình làm việc đặc biệt là phù hợp với

sự biến động của thị trường mà tất cả các doanh nghiệp đều đang hướng tới Thấy được những điểm đó, chúng em quyết định trọn đề tài: “Thực trạng về chính sách tiền lượng của doanh nghiệp”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu:

Phân tích việc sử dụng chính sách tiền lương nhằm rút ra những kinh nghiệm và nâng cao hiệu quả việc sử dụng chính sách Tìm hiểu những khó khăn và thuận lợi của doanh nghiệp để có cái nhìn tổng thể sau đó đưa ra một số biện pháp khắc phục

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách tiền lương của Công ty Bất động sản Ngọc Trí

- Phạm vi nghiên cứu: Nội bộ công ty Bất động sản Ngọc Trí

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

Tiểu luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu như diễn dịch, quy nạp, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh… để làm rõ hơn về vấn đề Số liệu sử dụng trong bài tiểu luận được lấy trực tiếp từ các báo cáo tài chính và số liệu của công ty Bất động sản Ngọc Trí

Trang 5

PHẦN II: NỘI DUNG

2.1 Tiền lương:

2.1.1 Khái niệm về tiền lương:

Trong quá trình đổi mới nền kinh tế và chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, Khi sức lao động được coi là hàng hoá thì khái niệm tiền lương đã tồn tại những thay đổi cơ bản Phụ thuộc vào phương thức, phương thức hoạt động kinh tế và trình độ phát triển Kinh tế phát triển, mọi người có quan điểm khác nhau về tiền lương

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), tiền lương mà người sử dụng lao động

trả cho người lao động một số tiền nhất định không dựa trên giờ làm việc thực tế, thường là thanh toán hàng tháng hoặc nửa tháng Tiền lương là số tiền trả cho sức lao động theo hợp đồng lao động (Không bao gồm thuế thu nhập và các khoản khấu trừ theo luật định), tính dựa trên sản lượng hoặc thời gian làm việc thực tế

Ở Pháp, thù lao bao gồm tiền lương hoặc tiền công và bất kỳ khoản nào khác

nguồn gốc của các lợi ích trực tiếp và gián tiếp mà người sử dụng lao động trả cho người lao động dựa trên công việc của họ

Ở Nhật bản, tiền lương và tiền công được gọi khác nhau, là chỉ thù lao động mà

người sử dụng lao động chi trả cho công nhân Tiền lương không phải giá cả sức lao động

vì dưới cơ chế kế hoạch hóa tuân thủ theo nguyên tắc công bằng theo số lượng và chất lượng đã hao phí thì tiền lương đựơc kế hoạch hoá từ cấp trung ương đến cơ sở do nhà nước thống nhất quản lý Tiền lương đựơc coi là một bộ phận của thu nhập quốc dân Cơ chế phân phối tiền lương phụ thuộc vào thu nhập quốc dân do nhà nước quy định

Ngày nay, mọi người đã đạt được sự đồng thuận về khái niệm tiền lương, bất kể như thế nào cách diễn đạt của khái niệm này có thể có những điểm khác nhau Tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành trên cơ sở thoả thuận thông qua hợp đồng lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động, Phù hợp với quan hệ cung cầu Ngày nay, mọi người đã đạt được sự đồng thuận về khái niệm tiền lương, bất kể như thế nào cách diễn đạt của khái niệm này có thể có

Trang 6

những điểm khác nhau Tiền lương lao động trên thị trường lao động, phù hợp với việc tuân thủ các yêu cầu về tiền lương của luật lao động « Lương nhân viên Không được thấp hơn mức lương tối thiểu do nhà nước quy định»

Sự khác biệt giữa lương và tiền công

Nhiều nhà kinh tế cho rằng tiền lương chỉ là một biểu hiện, một tên gọi khác tiền công, vì tiền lương và tiền công đều là số tiền được trả (hoặc hiện vật), sức lao động của người lao động là biểu hiện của giá cả sức lao động hàng hoá Tuy nhiên, hai khái niệm này khác nhau:

- Tiền lương là số tiền được trả bởi người sử dụng lao động Nhân viên có tính

chất cố định, thường được liên kết với các quy chế, thành lập trong các doanh nghiệp, tổ chức

- Tiền công là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động lao

động để thực hiện một hoặc nhiều nhiệm vụ cụ thể, hoặc với một số việc trong một khoảng thời gian nhất định, thông qua hợp đồng lao động hoặc xác lập hợp đồng dân sự

Trong các nền kinh tế có quan hệ lao động - quản lý ngày càng phát triển, lực lượng lao động, tiền lương và phúc lợi ngày càng mở rộng, vì vậy trong nội dung của chủ đề này, chủ yếu là vấn đề tiền lương, nhưng trong nghiên cứu tiền lương của từng

bộ phận sẽ có cả vấn đề tiền công Qua nhiều nghiên cứu, tiền lương có hai loại: tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế:

- Tiền lương danh nghĩa: Là thu nhập mà người lao động nhận được khi làm

việc dưới hình thức tiền tệ

- Tiền lương thực tế: Là khối lượng tư liệu sinh hoạt và dịch vụ mà người lao

động có thể mua bằng tiền lương danh nghĩa

Cái mà người lao động quan tâm không phải là tiền lương danh nghĩa mà là tiền lương thực tế Vì chỉ có tiền lương thực tế mới phản ánh chính xác mức sống của người lao động Vì nó phụ thuộc vào sức mua của đồng tiền và sự biến động giá cả các tư liệu sinh hoạt Đặc biệt là giá cả của những tư liệu sinh hoạt chủ yếu khi tiền lương danh nghĩa không đổi

Trang 7

- Chỉ số giá cả: Là chỉ tiêu nói lên sự thay đổi của tổng mức giá cả của các

nhóm hàng hoá nhất định trong kỳ này so với kỳ khác được xem là kỳ gốc Chỉ số giá bán

lẻ hàng tiêu dùng (lương thực, thực phẩm, dịch vụ ) đựơc gọi là chỉ số giá sinh hoạt Chỉ

số giá cả tỉ lệ nghịch với tiền lương thực tế nên tiền lương danh nghĩa không tăng mà chỉ số gíá sinh hoạt cứ tăng lên thì tiền lương thực tế giảm xuống

IGC =

Trong đó:

IGC: Chỉ số giá cả

LDN: Tiền lương danh nghĩa

LTT: Tiền lương thực tế

- Tiền lương tối thiểu (hay còn gọi là mức lương tối thiểu): Được xem là “cái

ngưỡng” cuối cùng để từ đó xây dựng các mức lương khác, tạo thành hệ thống tiền lương thống nhất chung cho cả nước Mức lương tối thiểu là một yếu tố quan trọng của môt chính sách tiền lương Nó liên hệ chặt chẽ với 3 yếu tố sau:

Mức tăng trung bình của dân cư một nước

Chỉ số giá cả sinh hoạt

Loại lao động và điều kiện lao động

Mức lương tối thiểu đo lường giá cả loại sức lao động thông thường trong điều kiện làm việc bình thường yêu cầu một kỹ năng đơn giản, với một khung giá các tư liệu sinh hoạt hợp lý thông qua Nghị định 90/2019/NĐ-CP của nhà nước XHCNVN ngày 15/11/2019 về việc quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động

- Tiền lương kinh tế: Tiền lương thêm vào tiền lương tối thiểu để đạt yêu cầu

sự cung ứng lao động gọi là tiền lương kinh tế Vì vậy, có người quan niệm tiền lương kinh

tế giống như tiền lương thuần tuý cho những người hài lòng cung ứng sức lao động cho một doanh nghiệp nào đó với các điều kiện mà người thuê lao động yêu cầu

Cả tiền lương tối thiểu và tiền lương kinh tế đều thuần tuý xét theo cơ chế điều tiết của thị trường, tác nhân chủ yếu hình thức mức lương tối thiểu và tiền lương kinh

tế là các quan hệ cung cầu của thị trường

Trang 8

2.2.2 Bản chất của tiền lương:

Bản chất của tiền lương cũng thay đổi dựa theo các điều kiện, trình độ phát triển kinh tế xã hội và nhận thức của con người Trước đây, tiền lương thường được coi là giá cả sức lao động trong nền kinh tế thị trường Giờ đây với việc áp dụng quản trị nguồn nhân lực vào doanh nghiệp, tiền lương không phải đơn thuần chỉ là sức lao động Ở Việt nam hiện nay chỉ có sự phân biệt các yếu tố trong tổng thu nhập của người lao động từ công việc Tiền lương (dụng ý chỉ lương cơ bản), phụ cấp tiền thưởng và phúc lợi Tiền lương của người lao động do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc

Như vậy, tiền lương được hiểu là số tiền mà người lao động nhận được từ người

sử dụng lao động của họ thanh toán lại tương ứng với số lượng và chất lượng lao động

mà họ đã tiêu hao trong quá trình tạo ra của cải cho xã hội

2.2.3 Vai trò của tiền lương:

Đối với người lao động:

Tiền lương là phần cơ bản nhất trong thu nhập của người lao động cho họ và gia đình chi trả các chi phí cần thiết, sinh hoạt phí và phí dịch vụ Khi quy mô của tiền lương phụ thuộc vào hiệu quả toàn bộ công ty, đặc biệt là kết quả sản xuất của từng cá nhân người lao động, họ sẽ quan tâm đến việc cải tiến liên tục năng suất lao động và chất lượng công việc

Tiền lương là một trong những hình thức kích thích lợi ích vật chất Người làm việc

Đối với xã hội:

Tiền lương là một bộ phận quan trọng của chi phí sản xuất Tiền lương là đòn bẩy đảm bảo cho sự phát triển, duy trì và bảo dưỡng sản xuất giữ chân và thu hút đội ngũ công nhân kỹ thuật trình độ cao, nhằm kỷ luật nghiêm ngặt

Đối với tổ chức:

Trang 9

Tiền lương có thể có tác động quan trọng đến các nhóm và tổ chức xã hội cũng như sự khác biệt trong xã hội Tiền lương cao hơn làm cho người lao động cũng sẽ có sức mua cao hơn và chính điiều này có thể làm phát triển mức sống của một xã hội nhưng mặt trái của nó có thể làm tăng giá cả và làm giảm mức sống của những người

có thu nhập không theo kịp tốc độ tăng của giá cả hàng hóa

2.2.4 Ý nghĩa của tiền lương:

Tiền lương giữ một vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh Đối với chủ doanh ngiệp, tiền lương là một yếu tố của chi phí sản xuất Mục đích của người kinh doanh là thu về lợi nhuận, còn mục đích của người cung ứng sức lao động

là tiền lương Trong quá trình vận dụng và sáng tạo ra giá trị gia tăng của một sản phẩm, đối với người lao động nhận được sự thỏa mãn đó là khả năng hoạt động sáng tạo để tăng cường năng lực sản xuất

2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tiền lương:

2.2.1 Yếu tố thuộc về môi trường bên ngoài:

- Thị trường lao động: Tình hình cung và cầu lao động, thất nghiệp trên thị

trường lao động là yếu tố bên ngoài quan trọng nhất ảnh hưởng đến số lượng tiền lương mà người chủ sử dụng sức lao động sẽ đưa ra để thu hút và giữ chân lao động có trình độ Sự thay đổi cơ cấu ngũ lao động, các chế độ về giáo dục và đào tạo cũng ảnh hưởng đến mức tiền lương của doanh nghiệp

- Mong đợi của xã hội, văn hoá, phong tục tập quán: Mong đợi của xã hội, văn

hóa, phong tục, tập quán tại nơi kinh doanh đang kinh doanh cũng cần được lưu tâm xem xét khi xác định mức tiền lương vì tiền lương phải phù hợp với chi phí sinh hoạt của vùng địa lý

- Các tổ chức công đoàn: Công đoàn là một tổ chức có thế lực mạnh mà các

cấp quản trị phải thảo luận với họ về các tiêu chuẩn được sử dụng để xếp lương; các mức chênh lệch về tiền lương; các hình thức trả lương…Nếu doanh nghiệp được công đoàn ủng

hộ thì các kế hoạch đề ra rất dễ giành được thắng lợi

Trang 10

- Luật pháp và các quy định của chính phủ: Các điều khoản về tiền lương được

quy định trong Bộ luật Lao động đòi hỏi các tổ chức phải tuân thủ khi xác định và đưa ra các mức tiền lương

- Tình trạng của nền kinh tế: Tình trạng của nền kinh tế đang suy thoái hay

đang tăng trưởng nhanh sẽ tạo cho doanh nghiệp có khuynh hướng hạ thấp hoặc tăng lương cho người lao động Bởi vì, trong điều kiện nền kinh tế suy thoái nguồn cung về lao động tăng lên, còn trong điều kiện nền kinh tế tăng trưởng thì việc làm được tạo ra và cầu về lao động lại tăng lên

2.2.2 Yếu tố thuộc về tổ chức:

- Tổ chức/doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất hoặc lĩnh vực sản xuất kinh doanh nào;

- Doanh nghiệp có tổ chức công đoàn hay không?

- Lợi nhuận và khả năng chi trả tiền lương của tổ chức Các tổ chức kinh doanh thành công thường có khuynh hướng trả lương cao hơn mức lương trung bình của thị trường lao động bên ngoài và ngược lại;

- Quy mô của doanh nghiệp;

- Trình độ trang bị kĩ thuật của doanh nghiệp: hiện đại hay lạc hậu;

- Quan điểm, triết lý của tổ chức trong trả lương: Tổ chức đặt mức lương cao, thấp hay theo cá mức lương trên thị trường

- Một số công ty muốn đứng đầu trong việc trả lương cao hơn các công ty khác Trả lương cao cũng thúc đẩy người lao động làm việc có chất lượng cao, năng suất lao động cao và vì thế chi phí lao động của một đơn vị sản phẩm sẽ thấp hơn Vì họ cho rằng với cách đó vẫn thu hút được người lao động có trình độ lành nghệ phù hợp với yêu cầu công việc, đồng thời vẫn duy trì được vị trí cạnh tranh của công ty bằng cách không nâng giá sản phẩm hoặc dịch vụ của công ty

2.2.3 Các yếu tố thuộc về công việc:

Trang 11

Công việc là một yếu tố chính quyết định và ảnh hưởng đến mức tiền lương của người lao động trong tổ chức Các doanh nghiệp rất chú trọng đến giá trị thực của từng công việc cụ thể Tuy vậy, những đặc trưng chung nhất cần được phân tích và đánh giá cho mỗi công việc gồm:

- Kỹ năng: tuỳ thuộc vào mức độ phức tạp của công việc cũng như lao động trí

óc hay lao động chân tay mà yêu cầu kỹ năng khác nhau;

- Trách nhiệm: công việc đòi hỏi người lao động có trách nhiệm đối với vật tư, trang thiết bị, tài sản và máy móc dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như là trách nhiệm đối với công việc trong việc ra quyết định, các kết quả tài chính ;

- Sự cố gắng: là sự yêu cầu về thể lực và trí lực của người lao động, mức độ chịu áp lực của công việc;

- Điều kiện làm việc như: tiếng ồn, độ rung chuyển, nồng độ bụi cũng như mức độ độc hại đối với người lao động

2.2.4 Yếu tố thuộc về cá nhân người lao động:

Cá nhân người lao động là yếu tố có tác động rất lớn đến việc trả lương Mức tiền lương phụ thuộc vào sự hoàn thành công việc của người lao động, trình độ, kinh nghiệm, thâm niên công tác, sự trung thành, tiềm năng

- Sự hoàn thành công việc: người lao động giỏi, có thành tích xuất sắc năng

suất cao thường được trả lương cao hơn;

- Thâm niên công tác: là một yếu tố được tính đến khi trả lương Người lao

động có thâm niên lâu năm trong nghề cũng thường được nhận mức lương cao hơn;

- Kinh nghiệm: kinh nghiệm cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến mức tiền lương

và cần được xem xét khi trả lương;

- Thành viên trung thành: có nghĩa là người đó làm việc lâu năm hơn những

người khác trong tổ chức, đặc biệt trong những giai đoạn khó khăn và thăng trầm của tổ chức người lao động đó vẫn luôn đồng cảm cộng khổ để vượt khó và giành được thắng lợi Khi trả lương phải xem xét đến yếu tố này;

Ngày đăng: 15/04/2023, 04:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w