ĐẠI HỌC QUỐC GIA ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP HỒ CHÍ MINH BÀI TẬP LỚN MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC ĐỀ TÀI NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ ĐÁP ỨNG YÊU[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP HỒ CHÍ MINH
BÀI TẬP LỚN MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
ĐỀ TÀI:
NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN
THIỆN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NHÀ
NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
LỚP L24 - NHÓM 18 - HK 211
NGÀY NỘP: 15/10/2021
Giảng viên hướng dẫn: ThS Đoàn Văn Re
Trang 2Thành phố Hồ Chí Minh – 2021
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOAKHOA KHOA HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM VÀ BẢNG ĐIỂM BTL
Môn: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC (MSMH: SP1035)
Nhóm/Lớp: L24 Tên nhóm: nhóm 18 HK 211 Năm học 2020 - 2021
Đề tài:
NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ ĐÁP ỨNG YÊU
CẦU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Trang 43 1915593 Trần Lê Thu Trang Chương 2 (phần 2.1, 2.2) 20%
Phạm Chánh Toàn
Trang 5MỤC LỤC
I PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Đối tượng nghiên cứu 3
3 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Mục tiêu nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Kết cấu của đề tài 4
II PHẦN NỘI DUNG 4
Chương 1 NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 4
1.1 Khái niệm và sự ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa 4
1.1.1 Khái niệm nhà nước xã hội chủ nghĩa 4
1.1.2 Sự ra đời và phát triển của nhà nước xã hội chủ nghĩa 4
1.2 Bản chất và chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa 6
1.2.1 Bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa 6
1.2.2 Chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa 7
Tóm tắt chương 1 9
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 10
2.1 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 10
2.1.1 Khái niệm, tính tất yếu ra đời nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa 10
2.1.1.1 Khái niệm 10
2.1.1.2 Tính tất yếu ra đời nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa 10
2.1.2 Đặc điểm của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 11
Trang 62.2 Chính phủ điện tử và các vấn đề liên quan 12
2.2.1 Khái niệm chính phủ điện tử 12
2.2.2 Các vấn đề có liên quan đến chính phủ điện tử 13
2.2.2.1 Dịch vụ công trực tuyến 13
2.2.2.2 Mô hình giao dịch trong Chính phủ điện tử 13
2.2.2.3 Ưu và nhược điểm 14
2.2.2.4 Chính phủ điện tử và sự bảo mật 15
2.3 Thực trạng hoàn thiện chính phủ điện tử đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta thời gian qua 16
2.3.1 Những mặt đạt được và nguyên nhân 16
2.3.1.1 Những mặt đạt được: 16
2.3.1.2 Nguyên nhân đạt được 21
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 22
2.3.2.1 Hạn chế 22
2.3.2.2 Nguyên nhân hạn chế 24
2.4 Giải pháp hoàn thiện Chính phủ điện tử đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta thời gian tới 25
2.4.1 Giải pháp phát huy các mặt đạt được 25
2.4.2 Giải pháp khắc phục các mặt hạn chế 26
2.4.2.1 Giải pháp giải quyết hạn chế về lãnh đạo và quản trị 26
2.4.2.2 Giải pháp giải quyết hạn chế về người dân và người sử dụng dịch vụ công 26
2.4.2.3 Giải pháp giải quyết hạn chế về việc thay đổi quy trình làm việc 27 2.4.2.4 Giải pháp giải quyết hạn chế về năng lực, tập quán văn hóa và kỹ năng 27
Trang 72.4.2.5 Giải pháp giải quyết hạn chế về việc thiếu các quy định liên quan đến
các công nghệ mới 28
2.4.2.6 Giải pháp giải quyết hạn chế về chính sách vẫn chỉ là cơ hội ở dạng tiềm năng, chưa thể khai thác 28
2.4.2.7 Giải pháp giải quyết hạn chế về an ninh mạng, quyền riêng tư và khả năng phục hồi 28
Tóm tắt chương 2 28
III KẾT LUẬN 29
IV TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
Trang 8I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước kiểu mới có bản chất khác với bảnchất của các kiểu nhà nước bóc lột thời kì trước Bản chất đó do cơ sở kinh tế xã hộichủ nghĩa và đặc điểm của quyền lực chính trị trong chủ nghĩa xã hội quy định Trongchủ nghĩa xã hội, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được thiết lập và củng cố dựa trên
cơ sở của chế độ công hữu về tư liệu sản xuất - đó là kiểu quan hệ sản xuất thể hiện sựhợp tác, tương trợ không có áp bức bóc lột và giai cấp vô sản là người giữ địa vị thốngtrị về chính trị Do vậy, nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa có bản chất giai cấp công nhân,vừa có tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc
Nhìn chung, Nhà nước pháp quyền là hình thức Nhà nước cộng hòa mà trong
đó, Nhà nước xây dựng nên pháp luật để quản lý xã hội và tự đặt mình dưới pháp luật.Mọi cơ quan Nhà nước đều phải được tổ chức và chỉ được phép hoạt động trongkhuôn khổ quy định của pháp luật Mục tiêu của nhà nước pháp quyền là xây dựng vàthực thi một nền dân chủ, đảm bảo quyền lực chính trị thuộc về nhân dân
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân, được tổ chức và hoạtđộng trên cơ sở Hiến pháp, tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp Nhà nước pháp quyền ViệtNam quản lý xã hội bằng pháp luật, bảo đảm vị trí tối thượng của pháp luật trong đờisống xã hội, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, các quyền và tự do của công dân,giữ vững mối liên hệ giữa Nhà nước và công dân, giữa Nhà nước và xã hội Trong nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sựphân công và phối hợp kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện cácquyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp, có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thựchiện quyền lực nhà nước Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhànước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
Mối quan hệ giữa cá nhân và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Namđược xác định chặt chẽ về phương diện luật pháp và mang tính bình đẳng Tính chất vàcách thức phân công, kiểm soát quyền lực nhà nước là quyền lực nhà nước không thể
Trang 9tập trung vào một người, vào một cơ quan, mà phải được phân công, phân chia giữacác cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền
tư pháp Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hướng đến thượng tôn phápluật, xây dựng bộ máy nhà nước linh hoạt, đáp ứng và phục vụ tốt nhất các nhu cầucho nhân dân Nhà nước luôn hướng đến cải cách, đổi mới tổ chức và thực hiện phápluật, phát huy tốt nhất vai trò quản lý của nhà nước và quyền làm chủ nhân dân
Trong thời buổi công nghệ thông tin - cách mạng công nghiệp 4.0 thì cụm từ
“Chính phủ điện tử” cũng không còn quá xa lạ Việc tiếp cận mạng di động, sử dụngInternet và số hóa các loại dữ liệu cá nhân đã trở nên vô cùng phổ biến Qua đó, việctiếp cận với pháp luật và sự quản lý của nhà nước thông qua không gian mạng ngàycàng mang lại nhiều thành quả đáng kể
Trong năm 2020, tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 đã gấp 3 lần năm
2019, hoàn thành chỉ tiêu được nêu ra trong Nghị quyết 17 (tháng 3/2019) về một sốnhiệm vụ và giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019-2020,định hướng đến 2025 Cụ thể, trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ công trực tuyến, sauhơn một năm triển khai, Cổng dịch vụ công Quốc gia đã tích hợp hơn 2.900 thủ tụchành chính của 21 bộ, ngành và 63 tỉnh, thành phố Hơn 57 triệu hồ sơ đã được xử lý,tiết kiệm ngân sách khoảng 8.000 tỷ đồng mỗi năm Vào năm 2020, thứ hạng pháttriển Chính phủ điện tử của Việt Nam đã tăng 2 bậc, lên vị trí thứ 86/193 quốc gia,vùng lãnh thổ Theo báo cáo của Bộ Thông Tin và Truyền Thông, đến tháng 12/2020
đã có gần 40 nền tảng Make in Vietnam do cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam xâydựng đã được giới thiệu, ra mắt Và cũng trong năm 2020, một dấu ấn đáng ghi nhậnkhi có thêm khoảng 13.000 doanh nghiệp công nghệ số được ra đời.1
Đạt được những thành quả lớn lao là vậy, tuy nhiên trong công cuộc hoànthiện chính phủ điện tử, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế Tuy năm 2020, thứ hạng phát triển Chính phủđiện tử của Việt Nam đã tăng 2 bậc, lên vị trí thứ 86/193 quốc gia, vùng lãnh thổ Tuynhiên, so với các nước trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam vẫn giữ nguyên vị trí
trực tuyến, Chính phủ điện tử, Chính phủ số Truy cập từ
http://daithainguyen.vn/chi-tiet-tin-tuc/thuc-day-dich-vu-cong-truc-tuyen-chinh-phu-dien-tu-chinh-phu-so-26423.html
Trang 10thứ 6 trong thứ hạng phát triển Chính phủ điện tử Điều này khiến cho lợi thế cạnhtranh của Việt Nam trong thu hút đầu tư, phát triển đất nước chưa thực sự bứt phá.Một trong số những nguyên nhân hạn chế sự phát triển của chính phủ số là sự phânhóa kỹ thuật giữa các khu vực, cụ thể là độ bao phủ và kết nối internet, khả năng thaotác công nghệ không đồng đều giữa các thành phần dân số dẫn đến hạn chế của ngườidân trong việc tiếp cận dịch vụ công trực tuyến Ngoài ra, Việt Nam vẫn còn rất nhiềuhạn chế về nhận thức của người dân, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và công nghệ chưa đồng
2 Đối tượng nghiên cứu
Thứ nhất, nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, thực trạng và giải pháp hoàn thiện chính phủ điện tử đáp ứng yêu cầu
xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực trạng và giải pháp hoàn thiện chính phủ điện tử đápứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
4 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Thứ nhất, làm rõ lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà nước xã hội
chủ nghĩa; nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; chính phủ điện tử
Thứ hai, đánh giá thực trạng hoàn thiện chính phủ điện tử đáp ứng yêu cầu
xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta thời gian qua
Trang 11Thứ ba, đề xuất giải pháp hoàn thiện chính phủ điện tử đáp ứng yêu cầu xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta thời gian tới
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yếu nhất
là các phương pháp: phương pháp thu thập số liệu, phương pháp phân tích và tổnghợp, phương pháp lịch sử - logic,…
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2chương:
Chương 1: Nhà nước xã hội chủ nghĩa
Chương 2: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện chính phủ điện tử đáp ứng yêucầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
II PHẦN NỘI DUNG Chương 1 NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 1.1 Khái niệm và sự ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa
1.1.1 Khái niệm nhà nước xã hội chủ nghĩa
“Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một kiểu nhà nước mà ở đó, sự thống trị chính trị thuộc về giai cấp công nhân, do cách mạng xã hội chủ nghĩa sản sinh ra và có sứ mệnh xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, đưa nhân dân lao động lên địa vị làm chủ trên tất cả các mặt của đời sống xã hội trong một xã hội phát triển cao - xã hội xã hội chủ nghĩa.” 1
1.1.2 Sự ra đời và phát triển của nhà nước xã hội chủ nghĩa
Khát vọng về một xã hội công bằng, dân chủ, bình đẳng và bác ái đã xuất hiện
từ lâu trong lịch sử Khát vọng đó xuất phát từ nguyện vọng của nhân dân lao độngmuốn thoát khỏi sự áp bức, bất công và chuyên chế, ước mơ xây dựng một xã hội dânchủ, công bằng, những giá trị của con người được tôn trọng, bảo vệ và mọi người đều
gia – Sự thật, tr.143.
Trang 12có điều kiện để phát triển tự do tất cả năng lực của mình, nhà nước xã hội chủ nghĩa rađời là kết quả của cuộc cách mạng do giai cấp vô sản và nhân dân lao động tiến hànhdưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Tuy nhiên, chỉ đến khi xã hội tư bản chủ nghĩa xuất hiện, khi mà những mẫuthuẫn giữa quan hệ sản xuất tư bản tư nhân về tư liệu sản xuất với tính chất xã hội hóangày càng cao của lực lượng sản xuất trở nên ngày càng gay gắt dẫn tới các cuộckhủng hoảng về kinh tế và mâu thuẫn sâu sắc giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản,làm xuất hiện các phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản, thì trong cuộc đấu tranhcủa giai cấp vô sản, các Đảng Cộng sản mới được thành lập để lãnh đạo phong tràođấu tranh cách mạng và trở thành nhân tố có ý nghĩa quyết định thắng lợi của cáchmạng
Nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đã tạo ra những điều kiện làm cho giai cấp vôsản ngày càng phát triển về số lượng và trở thành giai cấp tiến bộ nhất của xã hội Giaicấp vô sản được trang bị bởi vũ khí lý luận sắc bén là chủ nghĩa Mác - Lênin với tưcách cơ sở lý luận để tổ chức, tiến hành cách mạng và xây dựng nhà nước của giai cấpmình sau chiến thắng Cùng với đó, các yếu tố dân tộc và thời đại cũng tác động mạnh
mẽ đến phong trào cách mạng của giai cấp vô sản và nhân dân lao động của mỗi nước.Dưới tác động của các yếu tố khác nhau và cùng với đó là mâu thuẫn gay gắt giữa giaicấp vô sản và nhân dân lao động với giai cấp bóc lột, cách mạng vô sản có thể xảy ra ởnhững nước có chế độ tư bản chủ nghĩa phát triển cao hoặc trong các nước dân tộcthuộc địa Từ sau năm 1917 khi nhà nước Xô Viết ra đời, hệ thống các nước xã hộichủ nghĩa đã được hình thành, có tác động mạnh mẽ và tạo điều kiện thuận lợi cho sựphát triển của cách mạng, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đã diễn ra trong
nhiều nước và giành được thắng lợi “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc gay go, phức tạp của nhân dân các nước vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Chủ nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khó khăn, thử thách Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hoá của lịch sử”.1
1 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng) (25/11/2019) Truy cập từ https://dangcongsan.vn/tu-lieu-tham- khao-cuoc-thi-trac-nghiem-tim-hieu-90-nam-lich-su-ve-vang-cua-dang-cong-san-viet-nam/tu-lieu-
Trang 13Nhà nước xã hội chủ nghĩa ra đời là kết quả của cuộc cách mạng do giai cấp
vô sản và nhân dân lao động tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Tuynhiên, tùy vào đặc điểm và điều kiện của mỗi quốc gia, sự ra đời của nhà nước xã hộichủ nghĩa cũng như việc tổ chức chính quyền sau cách mạng có những đặc điểm, hìnhthức và phương pháp phù hợp Song, điểm chung giữa các nhà nước xã hội chủ nghĩa
là ở chỗ, đó là tổ chức thực hiện quyền lực của nhân dân, là cơ quan đại diện cho ý chícủa nhân dân, thực hiện việc tổ chức quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội của nhân dân, đặtdưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
1.2 Bản chất và chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa
1.2.1 Bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa
So với các kiểu nhà nước khác trong lịch sử, nhà nước xã hội chủ nghĩa làkiểu nhà nước mới, có bản chất khác với bản chất của các kiểu nhà nước bóc lột tronglịch sử Tính ưu việt về mặt bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa được thể hiện trêncác phương diện:
Về chính trị, nhà nước xã hội chủ nghĩa mang bản chất của giai cấp công nhân,
giai cấp có lợi ích phù hợp với lợi ích chung của quần chúng nhân dân lao động Trong
xã hội xã hội chủ nghĩa, giai cấp vô sản là lực lượng giữ địa vị thống trị về chính trị.Tuy nhiên, sự thống trị của giai cấp vô sản có sự khác biệt về chất so với sự thống trịcủa các giai cấp bóc lột trước đây Sự thống trị của giai cấp bóc lột là sự thống trị củathiểu số đối với tất cả các giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động trong xã hội nhằm bảo
vệ và duy trì địa vị của mình Còn sự thống trị về chính trị của giai cấp vô sản là sựthống trị của đa số đối với thiểu số giai cấp bóc lột nhằm giải phóng giai cấp mình vàgiải phóng tất cả các tầng lớp nhân dân lao động khác trong xã hội Do đó, nhà nước
xã hội chủ nghĩa là đại biểu cho ý chí chung của nhân dân lao động
Về kinh tế, bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa chịu sự quy định của cơ sở
kinh tế của xã hội xã hội chủ nghĩa, đó là chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất chủyếu Do đó, không còn tồn tại quan hệ sản xuất bóc lột Nếu như tất cả các nhà nướcbóc lột khác trong lịch sử đều là nhà nước theo đúng nghĩa của nó, nghĩa là bộ máy
hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-vii-cua-dang-543514.html
Trang 14cuoc-thi/cuong-linh-xay-dung-dat-nuoc-trong-thoi-ky-qua-do-len-chu-nghia-xa-hoi-thong-qua-tai-dai-của thiểu số những kẻ bóc lột để trấn áp đa số nhân dân lao động bị áp bức, bóc lột, thìnhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là một bộ máy chính trị - hành chính, một cơ quancưỡng chế vừa là một tổ chức quản lý kinh tế - xã hội của nhân dân lao động, nókhông còn là nhà nước theo đúng nghĩa, mà chỉ là "nửa nhà nước" Việc chăm lo cholợi ích của đại đa số nhân dân lao động trở thành mục tiêu hàng đầu của nhà nước xãhội chủ nghĩa.
Về văn hóa, xã hội, nhà nước xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên nền tảng
tinh thần là lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và những giá trị văn hóa tiên tiến, tiến
bộ của nhân loại, đồng thời mang những bản sắc riêng của dân tộc Sự phân hóa giữacác giai cấp, tầng lớp từng bước được thu hẹp, các giai cấp, tầng lớp bình đẳng trongviệc tiếp cận các nguồn lực và cơ hội để phát triển
1.2.2 Chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa
Tùy theo góc độ tiếp cận, chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa được chiathành các chức năng khác nhau
Căn cứ vào phạm vi tác động của quyền lực nhà nước, chức năng của nhànước được chia thành chức năng đối nội và chức năng đối ngoại
Chức năng đối nội là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước trong nội bộđất nước Bao gồm: bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự antoàn xã hội; bảo vệ quyền tự do, dân chủ của nhân dân; bảo vệ trật tự pháp luật, tăngcường pháp chế xã hội chủ nghĩa; tổ chức và quản lý kinh tế; tổ chức và quản lý vănhóa, khoa học, giáo dục
Chức năng đối ngoại thể hiện vai trò của nhà nước trong quan hệ với các nhànước và dân tộc khác như bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; củng cố, tăng cường tìnhhữu nghị và hợp tác với các nước; ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, chống chủnghĩa phân biệt chủng tộc, chống chính sách gây chiến và chạy đua vũ trang, góp phầntích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc,dân chủ và tiến bộ xã hội
Căn cứ vào lĩnh vực tác động của quyền lực nhà nước, chức năng của nhànước xã hội chủ nghĩa được chia thành các chức năng như chính trị: bảo vệ thành quả
Trang 15cách mạng, giữ vững an ninh chính trị, đảm bảo ổn định trật tự xã hội, phát triển đấtnước, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội; chức năng kinh tế: đảm bảo nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển ổn định, lành mạnh, bền vững theoquy luật của thị trường thông qua hoạt động tạo lập môi trường kinh doanh, địnhhướng, hướng dẫn, điều tiết và kiểm soát các hoạt động kinh tế; chức năng văn hóa, xãhội: xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, bảo tồn và phát huy những giá trị vănhoá vật thể và phi vật thể, thực hiện chính sách phổ cập giáo dục phổ thông, thực hiện
xã hội hoá trong giáo dục, có chính sách học phí, học bổng thỏa đáng, đẩy mạnh hợptác quốc tế về giáo dục
Căn cứ vào tính chất của quyền lực nhà nước, chức năng của nhà nước đượcchia thành chức năng giai cấp (trấn áp) và chức năng xã hội (tổ chức và xây dựng)
Chức năng giai cấp chỉ ra rằng mọi nhà nước bao giờ cũng là công cụ chuyênchính của một giai cấp nhất định Mọi nhà nước đều sẵn sàng sử dụng bất cứ công cụ,biện pháp nào để bảo vệ sự thống trị của giai cấp mình Còn chức năng xã hội của nhànước là thực hiện việc quản lý những hoạt động chung vì sự tồn tại của xã hội, đồngthời, phải chăm lo một số công việc chung của toàn xã hội Trong một giới hạn xácđịnh, nhà nước phải hoạt động để thỏa mãn những nhu cầu chung của cộng đồng dân
cư nằm dưới sự quản lý của nó
Xuất phát từ bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa, nên việc thực hiện cácchức năng của nhà nước cũng có sự khác biệt so với các nhà nước trước đó Đối vớicác nhà nước bóc lột, nhà nước của thiểu số thống trị đối với đa số nhân dân lao động,nên việc thực hiện chức năng trấn áp đóng vai trò quyết định trong việc duy trì địa vịcủa giai cấp nắm quyền chiếm hữu tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội Còn trong nhànước xã hội xã hội chủ nghĩa, mặc dù vẫn còn chức năng trấn áp, nhưng đó là bộ máy
do giai cấp công nhân và nhân dân lao động tổ chức ra để trấn áp giai cấp bóc lột đã bịlật đổ và những phần tử chống đối để bảo vệ thành quả cách mạng, giữ vững an ninhchính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội Mặc dù trong thời
kỳ quá độ, sự trấn áp vẫn còn tồn tại như một tất yếu, nhưng đó là sự trấn áp của đa sốnhân dân lao động đối với thiểu số bóc lột V.I.Lênin khẳng định: “Bất cứ một nhànước nào cũng đều có nghĩa là dùng bạo lực; nhưng toàn bộ sự khác nhau là ở chỗ
Trang 16dùng bạo lực đối với những người bị bóc lột hay đối với kẻ đi bóc lột”1 TheoV.I.Lênin, mặc dù trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản, “cơ quan đặc biệt, bộmáy trấn áp đặc biệt là “nhà nước” vẫn còn cần thiết, nhưng nó đã là nhà nước quá độ,
mà không còn là nhà nước theo đúng nghĩa của nó nữa”2
Cải tạo xã hội cũ, xây dựng thành công xã hội mới là nội dung chủ yếu và mụcđích cuối cùng của nhà nước xã hội chủ nghĩa Đó là một sự nghiệp vĩ đại, nhưng đồngthời cũng là công việc cực kỳ khó khăn và phức tạp Nó đòi hỏi nhà nước xã hội chủnghĩa phải là một bộ máy có đầy đủ sức mạnh để trấn áp kẻ thù và những phần tửchống đối cách mạng, đồng thời nhà nước đó phải là một tổ chức có đủ năng lực đểquản lý và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, trong đó việc tổ chức quản lý kinh tế làquan trọng, khó khăn và phức tạp nhất
Tóm tắt chương 1
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là tổ chức thể hiện ý chí, quyền lực của nhân dân,
là công cụ quản lý do chính đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo nhân dân tổ chức ranhằm thực hiện quyền lực và lợi ích của nhân dân Nhà nước xã hội chủ nghĩa ra đời
là kết quả của cuộc cách mạng do giai cấp vô sản và nhân dân lao động tiến hành dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, với vũ khí lý luận sắc bén là chủ nghĩa Mác-Lênin
Về chính trị, nhà nước xã hội chủ nghĩa mang bản chất của giai cấp công nhân Về kinh tế, bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa chịu sự quy định của cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa, đó là chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất chủ yếu Về văn hóa, xã hội, nhà nước xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên nền tảng tinh thần là lýluận của chủ nghĩa Mác - Lênin và những giá trị văn hóa tiên tiến, tiến bộ của nhân loại, đồng thời mang những bản sắc riêng của dân tộc
Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là cơ quan quyền lực, vừa là bộ máy hành chính,vừa là tổ chức quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội của nhân dân được thể hiện tập trung qua hai chức năng chủ yếu là chức năng giai cấp và chức năng xã hội Nhà nước xã hội chủ nghĩa có những nhiệm vụ chính là: quản lý, xây dựng và phát triển kinh tế; cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; quản lý văn hóa – xã hội, xây
1 V.I.Lênin: Toàn tập (2005) Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia, tập 43, tr.380.
2 V.I.Lênin: Toàn tập (2005) Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia, tập 33, tr.111.
Trang 17dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa; giáo dục, đào tạo con người phát triển toàn diện, chăm sóc sức khỏe nhân dân, Ngoài ra, nhà nước xã hội chủ nghĩa còn có chức năngđối nội, đối ngoại nhằm mở rộng quan hệ hợp tác hữu nghị, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau với các nước trên thế giới.
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH PHỦ ĐIỆN
TỬ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 2.1 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2.1.1 Khái niệm, tính tất yếu ra đời nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
2.1.1.1 Khái niệm
“Nhà nước pháp quyền được hiểu là một kiểu nhà nước mà ở đó, tất cả mọi công dân đều được giáo dục pháp luật và phải hiểu biết pháp luật, tuân thủ pháp luật, pháp luật phải đảm bảo tính nghiêm minh; trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, phải có sự phân công, phối hợp, kiểm soát lẫn nhau, tất cả vì mục tiêu phục vụ nhân dân.” 1
2.1.1.2 Tính tất yếu ra đời nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Theo quan niệm chung, nhà nước pháp quyền là nhà nước thượng tôn phápluật, nhà nước hướng tới những vấn đề về phúc lợi cho mọi người, tạo điều kiện cho
cá nhân được tự do, bình đẳng, phát huy hết năng lực của chính mình Trong hoạtđộng của nhà nước pháp quyền, các cơ quan của nhà nước được phân quyền rõ ràng vàđược mọi người chấp nhận trên nguyên tắc bình đẳng của các thế lực, giai cấp và tầnglớp trong xã hội
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội củaĐảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra những nội dung khái quát liên quan đến nhà nướcpháp quyền: Đề cao vai trò tối thượng của Hiến pháp và pháp luật; đề cao quyền lợi vànghĩa vụ của công dân, đảm bảo quyền con người; tổ chức bộ máy vừa đảm bảo tậptrung, thống nhất, vừa có sự phân công giữa các nhánh quyền lực, phân cấp quyền hạn
và trách nhiệm giữa các cấp chính quyền nhằm đảm bảo quyền dân chủ của nhân dân,
1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021) Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr155.
Trang 18tránh lạm quyền Nhà nước có mối quan hệ thường xuyên và chặt chẽ với nhân dân,tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân Có cơ chế
và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lộng quyền,
vô trách nhiệm, xâm phạm quyền dân chủ của công dân Tổ chức và hoạt động của bộmáy quản lý nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thống nhất quyền lực, cóphân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương
Theo tiến trình của công cuộc đổi mới đất nước, nhận thức của Đảng ta vềNhà nước pháp quyền ngày càng sáng tỏ Với chủ trương: “Xây dựng Nhà nước phápquyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân” Đảng ta đã xác định: Nhà nước quản lý xãhội bằng pháp luật, mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa
vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật Nhận thức đó là tiền đề để Đại hội XII của Đảng
làm rõ hơn về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Quyền lực nhà nước
là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.1
2.1.2 Đặc điểm của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Đặc điểm của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Từ thực tiễnnhận thức và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thời
kỳ đổi mới, có thể thấy Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nước ta có một số đặcđiểm cơ bản của như sau:
Thứ nhất, xây dựng nhà nước do nhân dân lao động làm chủ, đó là Nhà nước
của dân, do dân, vì dân
Thứ hai, Nhà nước được tổ chức và hoạt động dựa trên cơ sở của Hiến pháp
và pháp luật Trong tất cả các hoạt động của xã hội, pháp luật được đặt ở vị trí tốithượng để điều chỉnh các quan hệ xã hội
Thứ ba, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rõ ràng, có cơ chế
phối hợp nhịp nhàng và kiểm soát giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.2
1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021) Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr157
2 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021) Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr157, 158.
Trang 19Thứ tư, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam phải do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, phù hợp với điều 4 Hiến pháp năm 2013 Hoạt động củaNhà nước được giám sát bởi nhân dân với phương châm: Dân biết, dân bàn, dân làm,dân kiểm tra” thông qua các tổ chức, các cá nhân được nhân dân ủy nhiệm
Thứ năm, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam tôn trọng quyền
con người coi con người là chủ thể, là trung tâm của sự phát triển Quyền dân chủ củanhân dân được thực hành một cách rộng rãi; “nhân dân có quyền bầu và bãi miễnnhững đại biểu không xứng đáng”; đồng thời tăng cường thực hiện sự nghiêm minhcủa pháp luật
Thứ sáu, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung
dân chủ, có sự phân công, phân cấp, phối hợp và kiểm soát lẫn nhau, nhưng bảo đảmquyền lực là thống nhất và sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương
Như vậy, những đặc điểm của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà ViệtNam chúng ta đang xây dựng đã thể hiện được các tinh thần cơ bản của một nhà nướcpháp quyền nói chung Bên cạnh đó, nó còn thể hiện sự khác biệt so với các nhà nướcpháp quyền khác Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam mang bản chấtgiai cấp công nhân, phục vụ lợi ích cho nhân dân; nhà nước là công cụ chủ yếu đểĐảng Cộng sản Việt Nam định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội.1
2.2 Chính phủ điện tử và các vấn đề liên quan
2.2.1 Khái niệm chính phủ điện tử
Chính phủ điện tử (e-Government) là việc ứng dụng công nghệ thông tin vàocác hoạt động của chính phủ, cung cấp các dịch vụ công cộng, thực hiện các hoạt độngcủa chính phủ trên các nền tảng như website Với tiềm năng của Internet, chính phủđiện tử sẽ thay đổi một số phương thức, cấu trúc hoạt động của cơ quan Nhà nước đểtạo ra nhiều cơ hội cho người dân có thể tương tác trực tiếp với chính phủ cũng nhưchính phủ có thể cung cấp các dịch vụ trực tiếp cho người dân của mình.2
1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021) Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr157, 158.
2 Wikipedia Chính phủ điện tử Truy câp từ: http://vi.wikipedia.org/wiki/Chính_phủ_điện_tử
Trang 202.2.2 Các vấn đề có liên quan đến chính phủ điện tử
2.2.2.1 Dịch vụ công trực tuyến
Dịch vụ công trực tuyến là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác của
cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng Gồm
Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3: là dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 vàcho phép người sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến cơ quan, tổ chứccung cấp dịch vụ Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ đượcthực hiện trên môi trường mạng Việc thanh toán lệ phí (nếu có) và nhận kết quả đượcthực hiện trực tiếp tại cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ
Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4: là dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 vàcho phép người sử dụng thanh toán lệ phí (nếu có) được thực hiện trực tuyến Việc trảkết quả có thể được thực hiện trực tuyến, gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đếnngười sử dụng 1
2.2.2.2 Mô hình giao dịch trong Chính phủ điện tử
Tham gia chính phủ điện tử có 3 thực thể: chính phủ, người dân và doanhnghiệp Trên cơ sở quan hệ giữa các chủ thể trên, ta có thể phân loại chính phủ điện tử
ra thành 4 loại, tương ứng với 4 dạng dịch vụ Chính phủ bao gồm: (1) G2C: Được hiểunhư khả năng giao dịch và cung cấp dịch vụ của chính phủ trực tiếp cho người dân, vídụ: Tổ chức bầu cử của công dân, thăm dò dư luận, quản lý quy hoạch xây dựng đô
việc cung cấp thông tin và đảm bảo khả năng truy cập thuận tiện đối với trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước, Truy cập từ: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Cong-nghe-thong-tin/Thong-tu-26-2009- TT-BTTTT-cung-cap-thong-tin-dam-bao-kha-nang-truy-cap-thuan-tien-trang-thong-tin-dien-tu-co-quan- nha-nuoc-92364.aspx