Có thể hiểu thêm, Hợp đồng là một cam kết tự nguyện giữa hai hay nhiều bên thể nhân hoặc pháp nhân để làm hoặc không làm một việc nào đó trong khuôn khổ pháp luật, được pháp luật thừa nh
Trang 1Sample Footer Text
Trang 28 Trần Minh Quyết 1
Trang 3NHÓM 2
Chủ đề: Các vấn đề về
“Quasi contract, consideration and estoppel”
Trang 4NỘI DUNG TRÌNH BÀY
thường )
3
Trang 5Từ 2 chủ thể (các bên) trở lên tham gia.
Thỏa thuận nguyên tắc tinh thần tự nguyện.
Được pháp luật thừa
Trang 6Hợp đồng là gì?
Theo điều 385 Bộ luật Dân sự 2015 quy định Hợp đồng
là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập , thay đổi
hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Có thể hiểu thêm, Hợp đồng là một cam kết (tự nguyện) giữa hai hay nhiều bên (thể nhân hoặc pháp nhân) để làm hoặc không làm một việc nào đó trong khuôn khổ pháp
luật, được pháp luật thừa nhận và có hiệu lực. 5
Trang 71 Quasi contract (Chuẩn hợp đồng)
debet locupletari ex aliena jactura”, tuyên bố rằng không ai nên giàu lên
từ sự mất mát của người khác Từ Quasi có nghĩa là có một số điểm tương đồng nhưng không hoàn toàn => Có nghĩa là các luật giống như luật hợp đồng thông thường nhưng không hoàn toàn.
Quasi contract (còn được gọi là một hợp đồng ngụ ý) là thỏa thuận được хâу dựng theo hệ thống pháp luật tòa án, nó gần như là một thỏa thuận hồi tố giữa hai bên không có nghĩa vụ trước đó với nhau Được tạo
ra bởi tòa án để áp dụng nguyên tắc đối xử công bằng, sửa chữa một tình huống trong đó một bên có được một thứ gì đó với chi phí của bên kia, từ
đó tạo ra nghĩa vụ giữa hai bên Nó nhằm ngăn chặn một bên
hưởng lợi bất chính từ tình huống bằng chi phí của bên kia.
Trang 8Các yếu tố cấu thành Quasi contract
Nguyên đơn cung cấp cho bị đơn một lợi ích, hoặc yêu cầu được nhận một lợi ích và sẽ được bồi thường nếu bên vi phạm không đáp ứng được những kỳ vọng của nguyên đơn.
Bị đơn phải biết rõ và chấp nhận những lợi ích được
đề nghị trước đó và đã thu được lợi ích từ nó.
Bị đơn đã thu được những lợi ích mà bị xem là
không công bằng trong khi nguyên đơn không được
bù đắp lại xứng đáng.
Trang 9Đặc điểm của Quasi contract 2/1/20XX
Được хâу dựng theo hệ thống pháp luật tòa án, nó có thể được thi hành một cách hợp pháp, ᴠì ᴠậу không bên nào phải đồng ý ᴠới nó Nó ra lệnh cho bị đơn trả tiền bồi thường cho nguyên đơn
Phác thảo nghĩa vụ của một bên đối với bên khác khi bên đó sở hữu tài sản của bên ban đầu
Các bên có thể không nhất thiết phải có thỏa thuận trước với nhau Thỏa thuận được áp đặt thông qua thẩm phán như một biện pháp khắc phục khi Bên A
nợ một thứ gì đó của Bên B vì họ sở hữu tài sản của Bên A một cách gián tiếp hoặc
do nhầm lẫn Hợp đồng trở nên có hiệu lực nếu Bên B quyết định giữ tài sản đó mà không trả tiền cho nó.
8
Trang 10Ví dụ:
Nhà hàng giao một chiếc bánh pizza đến địa chỉ sai, và người nhận được không phải là người trả tiền cho nó Nếu người ở địa chỉ không chính xác đó nhận pizza, thì người này được coi là đã chấp nhận thực phẩm, và do đó
có nghĩa vụ phải trả tiền Mặc nhiên giữa họ đã xuất hiện hợp đồng yêu cầu người nhận pizza phải trả lại chi phí thức ăn cho bên đã mua nó hoặc cho tiệm bánh pizza và giao một chiếc bánh thứ hai cho người mua Việc này nhằm mục đích giải quyết vấn đề công bằng,
9
Trang 11Mục đích
Mục đích của Hợp đồng gần như là đưa ra một kếtquả công bằng trong tình huống một bên có lợi thế hơn một bên khác Bịđơn, bên bị kiện mua lại tài sản, phải trả tiền bồi thường cho nguyên đơn
để bảo vệ giá trị của món hàng
Theo pháp luật Việt Nam, căn cứ để Tòa án ra phán quyết buộc tráchnhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng gồm: Có thiệt hại xảy ra; Cóhành vi trái pháp luật; Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi đó và thiệthại xảy ra Còn đối với khi Hợp đồng bị vô hiệu thì các bên hoàn trả chonhau những gì đã nhận và bên có lỗi làm HĐ vô hiệu thì phải bồi thường
thiệt hại cho bên kia.
10
Trang 122 Consideration
(Đối ứng, Sự xem xét, Bồi thường)
Trang 13Khái niệm: “Consideration”
Pháp luật Anh - Mỹ, Consideration được coi là một trong những vấn đề tiên quyết trong việc có đồng ý giao kết hợp đồng hay không Cụ thể có thể hiểu Consideration là yếu tố đầu tiên và là là sự biểu thị cam kết của ít nhất một trong các bên tham gia
John D Calamari và Joseph M.Perillo cho rằng “Consideration liên quan đến các loại hứa hẹn mà pháp luật sẽ thực thi”.
Gordon W Brown, và Paul A Sukys, “Consideration” là “điều có giá trị hứa hẹn của một bên nhằm đổi lấy một cái khác có giá trị của bên còn lại trong hợp đồng Sự trao đổi này ràng buộc các bên với nhau”
Vậy, “Consideration” được coi là “một cái gì đó có giá trị được đưa ra nhằm đổi lại cho việc thực hiện hoặc hứa hẹn thực hiện với mục đích hình thành một hợp đồng; nói chung là cần thiết để thực hiện một lời hứa ràng buộc và thực hiện thoả thuận của
các bên được thi hành như một hợp đồng.
Trang 1413
Trang 15Ví dụ:
Dù A đang điều hành một doanh nghiệp phát triển thịnh vượng ở xa nhà và thích thú với cuộc sống đơn thân, nhưng A đồng ý trở về nhà để chăm sóc mẹ già Nhằm thể hiện sự biết ơn, người mẹ hứa cho A khoản tiền trong tài khoản ngân hàng Không văn bản nào được kí kết, sau khi mẹ A chết, các con khác phản đối việc A sở hữu tài khoản ngân hàng trên Những người này cho rằng không hợp đồng nào được thiết lập giữa
mẹ A và A vì A không đưa ra một consideration nào để đổi lại tài khoản ngân hàng đó Toà án nhìn nhận:
(1) A chăm sóc mẹ trên cơ sở đề nghị của mẹ
(2) Việc A từ bỏ việc kinh doanh thịnh vượng đã cấu thành lên “consideration” và theo
đó lời hứa phải được thực thi.
14
Trang 16Về bản chất “consideration” là điều gì đó cho
đi để đổi lại nhận được điều gì từ người khác sẽ trở thành giao ước được ràng buộc theo luật pháp
Tính pháp lý của “consideration” ở chỗ lợi ích
và sự hi sinh của các bên phải hợp pháp Thiếu vắng sự hợp pháp này, “consideration” vô hiệu
Trang 17Đặc tính:
Hứa hẹn trong suốt quá trình thương thuyết, mặc cả
phụ thuộc vào “consideration” các bên nhận
“Consideration” bao gồm một cái gì đó giá trị
(something of value)
Lợi ích và sự hi sinh của các bên là hợp pháp
16
Trang 18ga tự nhiên…)
17
Trang 20xã hội, vì vậy các cam kết làm từ thiện cũng được coi là một
“Consideration”, ràng buộc bên còn lại tham gia giao kết hợp đồng
19
Trang 21Một số loại hình “Consideration”
3 Hứa không kiện:
Lời hứa không kiện xảy ra khi một bên có quyền khởi kiện Các bênthoả thuận điều kiện và điều khoản để bên có tố quyền không thực hiệnviệc khởi kiện Đổi lại, bên bị đơn sẽ trả cho bên có tố quyền một khoảntiền Phương thức này mang tính tập quán trong việc giải quyết các vụ kiệnbồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Loại hình “consideration” này thường được thực hiện đối với các vụkiện tốn kém chi phí và mất thời gian
20
Trang 22Ví dụ: 2/1/20XX
Có một vụ tai nạn xe giữa A và công ty Taxi
B, lỗi là do xe của công ty taxi B vô ý tông vào
A khi A đang bang qua đường Vì muốn giải
quyết nhanh chóng, phía công ty đã đề nghị
5.000.000vnd bồi thường cho A, và đề nghị A
không kiện phía công ty Trường hợp này đã
xuất hiện Hợp đồng “Condideration bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng”
Trang 2321
Trang 24Một số loại hình “Consideration”
4 Đối ứng được thực thi (executed consideration) là một hành động
trao đổi cho một sự hứa hẹn
5 Đối ứng có thể thực thi (executory consideration) là một sự hứa
hẹn trao đổi cho một sự hứa hẹn
6 Đối ứng trong quá khứ (past consideration) Bất kỳ việc gì đã được
thực hiện trước khi một lời hứa được đưa ra là đối ứng trong quá khứ.Nhìn chung, việc này không đủ để ràng buộc lời hứa
22
Trang 253 Thuyết Estoppel
(Không phủ nhận)
Trang 26Khái niệm 2/1/20XX
Từ điển Collins của nước Anh định nghĩa như sau: "Estoppel"
là quy tắc về bằng chứng, theo đó, một cá nhân không được phép
phủ nhận sự thật về điều mà trước đây người này đã tuyên bố hoặc
về những sự kiện mà người này cho là có thật’ Nói một cách đó là
nguyên tắc phải “trước sau như một”.
"Estoppel" (Không phủ nhận) trong nghĩa rộng nhất của nó là
một thuật ngữ pháp lý đề cập đến một loạt các học thuyết pháp lý
và công bằng mà ngăn cản "một người từ chối hoặc khẳng định
mọi điều trái ngược đó mà có, trong chiêm niệm của pháp luật,
được thành lập như là sự thật, hoặc do hành vi của cán bộ tư pháp
hoặc lập pháp, hoặc bằng hành động của mình, hành vi, hoặc cơ
quan đại diện, thể hiện rõ ràng hay ngụ ý ".
Trang 27“Estoppel” Thuật ngữ này xuất hiện đến từ estoupail tiếng Pháp (hoặc biến thể), có nghĩa là "nút cắm", đề cập đến việc
một dừng lại trên sự mất cân bằng của tình hình Thuật ngữ
là liên quan đến động từ "không nhân" xuất phát từ tiếng Pháp
cổ estopper hạn, có nghĩa là "dừng lại lên, cản trở."
Hiểu một cách chung nhất, thì “Estoppel” là một học thuyết/nguyên tắc/tập quán, mà
theo đó, một quốc gia phải nhất quán trong ứng xử và không được bác bỏ một thực tế đã
được chính quốc gia này thừa nhận trước đó.
Mục tiêu chính của thuyết này là không cho phép một quốc gia được hưởng lợi hoặc
gây thiệt hại cho một quốc gi khác thông qua cách ứng xử không nhất quán của mình
25
Trang 28Estoppel còn được mở rộng để hiển thị
các lời hứa.
Ví dụ, sau khi một lời hứa quyên góp được thực hiện, bên kia đã dựa vào điều này để thực hiện các hành động khác nhau Học thuyết được tạo ra để coi lời hứa này là ràng buộc về mặt pháp lý khi không thể chấp nhận việc rút lại lời hứa quyên góp Điều này được gọi là estoppel
hứa hẹn.
Trang 29Phân xử đền Preah Vihear giữa Thái Lan và
Cambodia
Trong án lệnh, tòa án dùng hai thuyết khác nhau để xử là Thái Lan
đã mất quyền đòi đền Preah Vihear.
* Sự đồng tình (acquiescence), rằng Thái Lan đã không phản đối khi Pháp (cai trị Cambodia) khẳng định chủ quyền trên đền này.
*Dầu cho Thái Lan không có đồng tình đi nữa, sự ậm ừ nửa vời của Thái Lan đã khiến cho Pháp và Cambodia dựa vào đó, tin tưởng vào
đó, nên Thái Lan bị mất quyền (bị estopped) không được đòi nữa.
27
Trang 30(1) Lời tuyên bố
Các yếu tố thuyết
hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan
đại diện cho quốc
gia phát biểu và phải được phát biểu
hoạt động;
28
Trang 31lời tuyên bố của
quốc gia kia,mình đã bị thiệthại, hoặc quốcgia kia đã hưởng
lợi khi phát biểu
Trang 32* Áp dụng những nguyên tắc trên của “Estoppel”, người Việt Nam, nhất là những cơ quan hoặc cá nhân người có thẩm quyền hay các cơ quan báo chí truyền thông cần phải thật sự thận trọng, cân nhắc khi phát biểu, tuyên bố có liên quan đến chủ quyền lãnh thổ quốc gia.
30
Trang 3331