TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ oOo TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG HỘI NHẬ[.]
Trang 1THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
oOo TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY.
GVHD : ThS LẠI QUANG NGỌC
NHÓM: 8 LỚP : DHLKT17ATT
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI CẢM ƠN 2
PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU 3
PHẦN II : NỘI DUNG 4
1 QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI 4
1.1 Quan điểm của các nhà triết học trước Mác về con người 4
1.1.1 Quan niệm về con người trong triết học phương Đông 4
1.1.2 Quan niệm về con người trong triết học phương tây 5
1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người và bản chất của con người 7
1.2.1 Con người là thực thể sinh học - xã hội 7
1.2.2 Con người khác biệt với con vật ngay từ khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình 9
1.2.3 Con người là sản phẩm của lịch sử và của chính bản thân con người 10
1.2.4 Con người vừa là chủ thể lịch sử, vừa là sản phẩm lịch sử 10
1.2.5 Bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội 10
2 VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CON NGƯỜI TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ HIỆN NAY 11
2.1 Khái quát về hội nhập kinh tế quốc tế và vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế đên sự phát triển của Việt Nam hiện nay 11
2.2 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực của VN trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay 12
2.2.1 Thành tựu: 13
2.2.2 Hạn chế 13
2.2.3 Nguyên nhân 14
2.3 Giải pháp cơ bản nhằm phát huy nguồn lực con người ở nước ta hiện nay 16
PHẦN III: KẾT LUẬN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, nhóm 8 chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến
cô Lại Quang Ngọc đã giảng dạy tận tình, truyền đạt chi tiết những kiếnthức quý báu cho nhóm em trong suốt thời gian học tập vừa qua Trongthời gian tham gia lớp học môn Triết học Mác - Lênin đã có thêm chomình nhiều kiến thức bổ ích, để nhóm có đủ kiến thức và vận dụng vàobài tiểu luận này
Triết học Mác - Lênin là môn học vô cùng bổ ích và có tính thực tếcao Đảm bảo cung cấp đủ kiến thức, gắn liền với nhu cầu thực tiễn củasinh viên Tuy nhiên, do chưa có nhiều kinh nghiệm làm bài tiểu luậncũng như những hạn chế về kiến thức, nên trong bài tiểu luận chắc chắn
sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự nhận xét, ýkiến đóng góp, phê bình từ phía Cô để đề tài của chúng em được hoànthiện hơn Nhóm em xin chân thành cảm ơn cô!
Trang 4PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU.
Con người luôn là chủ thể quan trọng nhất trong đời sống xã hội,
và vấn đề phát triển con người luôn là mục tiêu lớn nhất của toàn nhânloại Có thể thấy, trong suốt chiều dài lịch sử con người luôn luôn tìmcách để nhận thức về chính con người và cho đến ngày hôm nay vấn đề
ấy vẫn luôn được nghiên cứu không ngừng Không ít những lập luận,quan điểm được đưa ra giải thích cho những câu hỏi về con người rằng:con người là gì ; Bản chất thực sự của con người và mối tương quan giữathế giới và con người ? ;… Song dù đã có biết bao những tiền đề lý luậntrước giải thích cách này cách khác, nhưng đứng dưới góc độ nhận thứcmột cách khách quan và khoa học những lý luận của Chủ nghĩa Mác -Lênin về con người vẫn tồn nguyên giá trị và đóng vai trò vượt trội trong
sự nghiệp phát triển con người
Có thể nói xu thế toàn cầu hóa, đặt ra một vấn đề quan trọng vềphát triển con người mà trọng tâm là phát triển nguồn nhân lực Đây là xuhướng chung của toàn thế giới, và Việt Nam không ngoại lệ, trong bốicảnh đất nước đang trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế như hiện naythì vấn đề ấy còn cấp thiết hơn cả và là con đường tất yếu để đất nướcchúng ta đạt đến thành công trong sự nghiệp “công nghiệp hóa - hiện đạihóa đất nước” Thực tế chỉ ra rằng, nền kinh tế Việt Nam sẽ mãi nghèonàn và lạc hậu nếu không có nguồn nhân lực chất lượng Chính vì lẽ đó
có thể thấy rằng vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn này làđiều cấp thiết hơn bao giờ hết
Với tầm quan trọng to lớn trong sự nghiệp phát triển đất nước,cùng với hội nhập kinh tế quốc tế Chúng ta nên vận dụng tư tưởng Mác -Lênin làm cơ sở, nền tảng để nhận xét đánh giá, những thành tựu, ưuđiểm cũng như hạn chế mà vấn đề phát triển nguồn nhân lực của ViệtNam chúng ta đang gặp phải Từ đó tiếp tục vận dụng những lý luận ấy
để xây dựng các chính sách và tầm nhìn chiến lược, góp phần hoàn thiệnmục tiểu phát triển con người, biến Việt Nam thành quốc gia dân giàunước mạnh
Nhận thức được sự quan trọng của vấn đề con người và đặc biệthơn là vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ hội nhập kinh tế
quốc tế của nước ta hiện nay, nhóm 8 chúng em chọn đề tài tiểu luận: “
Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người vàn vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay.”
Trang 5PHẦN II : NỘI DUNG.
1 QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI.
1.1 Quan điểm của các nhà triết học trước Mác về con người.
Có thể nói, con người luôn luôn là đề tài mà trong hầu hết mọi lĩnhvực đều nghiên cứu, phân tích về nó một cách sâu sắc, từ tâm lý, sinhhọc, y học, xã hội học, Vì thế con người có lẽ là vấn đề được quan tâm
và có tầm quan trọng nhất từ trước đến nay, là trung tâm mà các nhà khoahọc, nhà nghiên cứu không ngừng nghiên cứu suốt hàng ngàn năm nay.Bằng chứng là ngay từ những thời kỳ đầu, các nhà nghiên cứu cổ đại đãđặc biệt quan tâm sâu sắc vấn đề con người và đưa ra nhiều đề tài khoahọc có giá trị về con người
Mỗi lĩnh vực khi nghiên cứu về con người đều có những ý nghĩariêng và mang giá trị cao cả đối với sự phát triển của nhân loại Tuynhiên, có lẽ lĩnh vực có nhiều những quan điểm, ý kiến trái chiều, cùngvới những mâu thuẫn không ngừng đấu tranh lẫn nhau đó chính là lĩnhvực triết học Những lập trường chính trị, tư tưởng cùng nhận thức haynói cách khác là thế giới quan của những người nghiên cứu khác nhau,tùy thuộc vào trình độ cao thấp mà có những quan điểm và hướng nghiêncứu, giải quyết khác nhau
Bằng cách giải quyết hàng loạt các mâu thuẫn trong chính conngười, các nhà triết học nghiên cứu về con người sẽ giải quyết được câuhỏi rằng: “ Bản chất con người thực sự là gì ?”
1.1.1 Quan niệm về con người trong triết học phương Đông.
Do điều kiện kinh tế - xã hội và đặc điểm lịch sử của triết họcphương Đông, những vấn đề của con người được lý giải trên cơ sở thếgiới quan duy tâm, tôn giáo thần bí hay thuyết nhị nguyên luận
Triết học Phật giáo coi con người là sự kết hợp giữa danh và sắc(vật chất và tinh thần) Bản tính con người vốn tự có cái ác và cái thiện.Cuộc đời con người do chính con người quyết định qua quá trình tạonghiệp Quan điểm triết học Phật giáo, phủ nhận vai trò của Đấng sángtạo, phủ nhận cái Tôi của con người Và cuộc sống trần gian của conngười chỉ là ảo ảnh, hư vô, tạm bợ “vô thường”, con người phải đi đến
“Niết bàn”, nơi linh hồn con người được giải thoát và trở nên bất tử suycho cùng quan niệm này phản ánh sai lầm về bản chất con người, hướngtới thế giới quan thần linh
Trang 6Khác với quan niệm trong triết học Phật giáo, Với sự chi phối chếgiới quan duy tâm, hoặc duy vật chất phác triết học phương Đông còn cóquan điểm triết học Nho giáo, Lão giáo, đều bàn về tính người và số phậncủa con người Con người và vạn vật được tạo nên từ sự hỗn hợp giữaTrời với Đất trong khoảng giữa âm - dương và do bẩm thụ tính Trời nênbản tính con người vốn thiện Khổng Tử cho rằng bản chất con người do
“Thiên mệnh” chi phối quyết định, đức “Nhân” chính là giá trị cao nhấtcủa con người Ngược lại, Lão giáo lại cho rằng con người sinh ra từ
“Đạo” Do vậy, con người cần phải sống “Vô vi”, theo lẽ tự nhiên thuầnphác, v.v…
Có thể thấy rằng trong triết học phương Đông, có hệ thống quanniệm phong phú và đa dạng thể hiện vấn đề con người trong mối quan hệchính trị, đạo đức Nhìn chung, con người trong triết học phương Đôngbiểu hiện yếu tố duy tâm, có pha trộn tính chất duy vật chất phác ngâythơ trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội trong mối quan hệ chính trị,đạo đức
1.1.2 Quan niệm về con người trong triết học phương tây
Nói về triết học phương Tây, quan niệm về con người có lẽ được
ưu chuộng nhiều nhất có lẽ thuộc về trường phái triết học tôn giáo, mà cụthể hơn là Kitô giáo Quan niệm ấy cho rằng, Con người là vật cao quýnhất trong vũ trụ và là chủ nhân của vạn vật Chỉ sau thiên Chúa Conngười được chia thành hai phần, thể xác và linh hồn Những nhà duy tâm
và tôn giáo tin rằng linh hồn do Thượng đế sinh ra, nó điều chỉnh và kiểmsoát mọi hoạt động của cơ thể và linh hồn con người và tồn tại vĩnh viễn
dù cho thể xác có mất đi Theo Ki tô giáo, cuộc sống con người do đấngtối cao an bài, sắp đặt Bản chất con người là kẻ có tội và con người cầnnuôi dưỡng linh hồn để hướng đến nơi Thiên đường
Một trường phái triết học khác của phương Tây đó chính là triếthọc Hy Lạp cổ đại Các nhà triết học cổ cho rằng con người là khởinguyên của mọi tư duy triết học, giữa thế giới và con người là tấm gươngphản chiếu lẫn nhau Nổi bật nhất là quan niệm của Aristotle, ông quanniệm rằng chỉ có linh hồn, tư duy, trí nhớ, ý chí, năng khiếu nghệ thuật làlàm cho con người nổi bật lên, con người là thang bậc cao nhất của vũtrụ Như vậy, triết học Hy Lạp cổ đại bước đầu đã có sự phân biệt conngười với tự nhiên, nhưng chỉ là hiểu biết bên ngoài về tồn tại con người
Đến với thời kỳ kỳ trung cổ Tây Âu, khá tương đồng với trườngphái triết học KItô giáo, Họ cũng quan niệm rằng con người là sản phẩmcủa Thượng đế sáng tạo Thượng đế chi phối, sắp xếp đối với số phận củacon người, kể cả niềm vui, nỗi buồn, sự may rủi Các nhà triết học Trung
cổ cho rằng, ý chí của Thượng đế là tối thượng, trí tuệ con người thấp
Trang 7hơn lý chí tối cao của Thượng đế Sở dĩ, vào thời kì này Kitô giáo ảnhhưởng rất lớn đến gần như toàn cõi châu Âu, không những ở các lĩnh vựcđời sống xã hôi mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến cả lĩnh vực chính trị.
Triết học thời kỳ phục hưng - cận đại đặc biệt đề cao vai trò trítuệ, lý tính của con người, xem con người là một thực thể có trí tuệ Đó làmột trong những yếu tố quan trọng nhằm giải thoát con người khỏi mọigông cuồng chật hẹp mà chủ nghĩa thần học thời trung cổ đã áp đặt chocon người Tuy nhiên, để nhận thức đầy đủ bản chất con người cả về mặtsinh học và về mặt xã hội thì chưa có trường phái nào đạt được Conngười mới chỉ được nhấn mạnh về mặt cá thể mà xem nhẹ mặt xã hội
Đến những năm của thế kỷ XV-XVIII, ở thời kỳ này, Triết học thời
kỳ này đặc biệt đề cao vai trò trí tuệ, lý tính của con người Bắt đầu xuấthiện các trường phái triết học nghiên cứu con người trên cơ sở khoa học
tự nhiên đã phát triển và khác phục những lỗ hổng mà những tư tưởngtrước đó bất cập Chủ nghĩa duy vật máy móc coi con người như một bộmáy và vận động một cánh có quy luật Bên cạnh đó Chủ nghĩa duy tâmvẫn tồn tại và phát triển sâu rộng, chủ nghĩa duy tâm chủ quan và thuyếtbất khả tri một mặt coi cái tôi và cảm giác là trung tâm sáng tạo ra cáikhông tôi, mặt khác lại cho rằng cái tôi không thể vượt qua cảm giác củamình chính vì vậy họ cho rằng về bản chất con người là yếu đuối, bé nhỏ,
từ đó phụ thuộc vào thượng đế Các nhà triết học giai đoạn này, phầnthừa nhận khả năng sáng tạo nhận thức con người, phần lại cho rằng conngười là sản phẩm của hoàn cảnh và tự nhiên
Các nhà triết học cổ điển đức, từ Dercartes đến Hegel đã phát triểnquan điểm triết học về con người theo hướng của chủ nghĩa duy tâm Đặcbiệt nhất là Hegel, ông coi con người là hiện thân của tinh thần tuyệt dối
là con người ý thức Do đó đời sống của con người chỉ được quan tâmđến mặt tinh thần Bên cạnh đó Hegel cũng là người đầu tiên thông quaviệc xem xét cơ chế hoạt động của đời sống tinh thần mà phát hiện ra quyluật về sự phát triển của đời sống tinh thần cá nhân Đồng thời Hegelcũng đã nghiên cứu bản chất quá trình tư duy khái quát các quy luật cơbản của quá trình đó Từ đó, khẳng định vai trò chủ thể của con người đốivới lịch sử
Vượt qua những hạn chế của tư duy duy tâm trong triết học Hegel
để hy vọng tìm đến bản chất con người một cách đích thực nhà triết họcFeuerbach đã phê phán lối duy tâm tuyệt đối, siêu tự nhiên, phi vật chất,phi thể xác về bản chất con người trong quan niệm triết học của Hegel.Ông cho rằng con người là sản phẩm của tự nhiên, ông đã dùng nhữngthành tựu khoa học để chứng minh cho mối quan hệ gắn kết của tư duy vànhững hoạt động vật chất diễn ra trong cơ thể con người Tuy nhiên, khi
đi sâu vào bản chất của con người thì Feuerbach không thấy được bản
Trang 8chất xã hội trong đời sống con người, tách con người khỏi những điềukiện lịch sử cụ thể Chính vì thế Con người của Feuerbach là phi lịch sử,phi giai cấp và trừu tượng.
Có thể thấy rằng những quan điểm triết học trước Mác về conngười đã đi đến những lý luận một cách trừu tượng Các quan điểm duytâm thì tuyệt đối hóa phần hồn trong mỗi con người thành một con ngườitrừu tượng Đối với chủ nghĩa duy vật trực quan thì lại tuyệt đối hóa phầnxác thành một con người trừu tương Tuy nhiên các quan điểm ấy cònnhiều hạn chế, rõ ràng các quan niệm ấy vẫn chưa hoàn toàn giải quyếtmột cách triệt để câu hỏi rằng “bản chất con người thực sự là gì ?”
Mãi cho đến khi Chủ nghĩa Mác xuất hiện, đã kế thừa, phát triểnđồng thời khắc phục gần như toàn diện những hạn chế mà các quan điểmtrước ông tồn tại Bên cạnh đó, ông tiếp tục phát triển và đi đến quanniệm về con người hiện thực Bản chất con người vừa là sản phẩm của tựnhiên và xã hội đồng thời vừa là chủ thể cải tạo chúng
1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người và bản chất của con người
Triết học Mác đã kế thừa những quan niệm về con người trong lịch
sử Triết học Với Triết học Mác - Lênin, lần đầu tiên vấn đề con ngườiđược giải quyết một cách đúng đắn trên quan điểm duy vật biện chứng
1.2.1 Con người là thực thể sinh học - xã hội.
Theo C.Mác con người là một sinh vật có tính xã hội ở trình độ caonhất của giới tự nhiên và lịch sử xã hội, là chủ thể của lịch sử, sáng tạonên tất cả thành tựu của văn minh và văn hóa
Theo chủ nghĩa Mác - Lênin con người là khái niệm chỉ những cáthể người như một chỉnh thể trong sự thống nhất giữa mặt sinh học vàmặt xã hội của nó
Theo phương diện sinh học, C.Mác và Ăngghen nhiều lần khẳngđịnh lại các quan niệm của các nhà triết học đi trước rằng con người làmột thực thể sinh vật, là sản phẩm của giới tự nhiên, là một động vật xãhội và họ đã nhận định rằng : “Bản thân cái sự kiện là con người từ loàiđộng vật mà ra, cũng đã quyết định việc con người không bao giờ hoàntoàn thoát ly khỏi những đặc tính vốn có của con vật” và điều đó có nghĩarằng con người cũng giống như bao con vật khác, phải tự tìm kiếm thức
ăn, nước uống, phải “đấu tranh sinh tồn ” để tồn tại và phát triển Tuynhiên, không phải đặc tính sinh học, bản năng sinh học, sự sinh tồn thểxác là cái duy nhất tạo nên bản chất của con người mà con người còn là
Trang 9thực thể xã hội Và cũng chính vì điều đó, theo quan điểm triết học Mác Lênin khi xem xét con người, không thể tách rời hai phương diện sinhhọc và xã hội của con người thành những phương diện biệt lập, duy nhất,phương diện quyết định phương diện kia.
-Con người còn là một bộ phận của giới tự nhiên C.Mác vàĂngghen nhận định : “ Giới tự nhiên… là thân thể vô cơ của con người,
… đời sống, thể xác của con người gắn liền với giới tự nhiên” Về phươngdiện thực thể sinh học, con người phải phục tùng các quy luật của giới tự nhiên,các quy luật sinh học như di truyền, tiến hóa sinh học, các quá trình sinh họccủa giới tự nhiên Những biến đổi của giới tự nhiên và tác động của quy luật tựnhiên trực tiếp hoặc gián tiếp thường xuyên quy định sự tồn tại của con người
và xã hội loài người, nó là môi trường trao đổi vật chất giữa con người và giới
tự nhiên: ngược lại, sự biến đổi và hoạt động của con người, loài người luônluôn tác động trở lại môi trường tự nhiên và làm biến đổi môi trường đó Đâychính là điểm khác biệt đặc biệt, rất quan trọng giữa con người và các thực thểsinh học khác Về mặt thể xác thì con người sống bằng những sản phẩm tựnhiên Con người phải dựa vào giới tự nhiên, gắn bó với giới tự nhiên, hòa hợpvới giới tự nhiên mới có thể tồn tại và phát triển Quan điểm này là nền tảng lýluận và phương pháp luận quan trọng, có tính thời sự trong bối cảnh khủnghoảng sinh thái và yêu cầu phát triển bền vững như hiện nay
Con người là thực thể xã hội có các hoạt động xã hội Hoạt động xãhội của con người quan trọng nhất là hoạt động lao động sản xuất
“Người là giống vật duy nhất có thể bằng lao động mà thoát khỏi trạngthái thuần túy của loài vật” đây là một luận điểm của C.Mác và Ăngghenkhi nói về việc lao động sản xuất của con người Khác với những loàiđộng vận sống dựa hoàn toàn vào các sản phẩm tự nhiên,dựa vào bảnnăng thì con người lại sống bằng việc lao động, cải tạo tự nhiên, sáng tạo
ra các vật phẩm mới để thoả mãn chính nhu cầu cả mình Nhờ có laođộng sản xuất mà về mặt sinh học con người có thể trở thành thực thể xãhội, thành chủ thể của “ lịch sử có tính tự nhiên” có lý tính, có bản năng
xã hội.Lao động là điều kiện tiên quyết cần thiết và chủ yếu quyết định sựhình thành và phát triển của con người về cả phương diện sinh học vàphương diện xã hội Để khẳng định cho tiến trình phát triển lịch sử loàingười là sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội Mác quanniệm sự phát triển toàn diện của con người làm thước đo chung cho sựphát triển xã hội, Mác cho rằng xu hướng chung của tiến trình phát triểnđược quy định bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất, xã hội bao gồmcon người và những công cụ lao động do con người tạo ra
Trong phương diện xã hội, con người không chỉ có quan hệ lẫnnhau trong hoạt động sản xuất mà còn có hàng loạt các quan hệ xã hội
Trang 10khác Nói một cách dễ hiểu, xã hôi chính là sự tác động qua lại giữanhững con người Điều này tạo nên sự khác biệt to lớn giữ loài ngườikhác với bất kỳ loài nào khác Hoạt động của con người gắn liền với xãhội , và từ những hoạt động trong xã hội như thế, con người giao tiếp vớinhau, rồi sinh ra tư duy và ý thức con người, chúng chỉ được phát triểnthông qua lao động và giao tiếp xã hội, và cũng nhờ đó mà ngôn ngữ xuấthiện và phát triển Chính vì vậy con người không thể tách khỏi xã hội vàcon người chỉ có thể tồn tại và phát triển trong xã hội loài người Đó làđiểm cơ bản làm cho con người khác với các động vật khác.
Với phương pháp luận duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan
hệ giữa mặt sinh học và mặt xã hội, cũng như nhu cầu sinh học và nhucầu xã hội trong mỗi con người là thống nhất Mặt sinh học là cơ sở tấtyếu tự nhiên của con người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phânbiệt con người với loài vật Nhu cầu sinh học phải được nhân hoá đểmang giá trị văn minh của con người, và đến lượt nó, nhu cầu xã hộikhông thể thoát ly khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học Hai mặt trên thốngnhất với nhau, hoà quyện vào nhau để tạo thành con người, con người tựnhiên - xã hội
1.2.2 Con người khác biệt với con vật ngay từ khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình.
Khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình
từ đó bản thân con người bắt đầu tự phân biệt được với súc vật C.Mác đã
có nhận định rằng : “ Có thể phân biệt con người với súc vật bằng ý thức,bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được Bản thân conngười bắt đầu tự phân biệt được với súc vật ngay khi con người bắt đầusản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến do tổchức cơ thể của con người quy định Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạtcủa mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vậtchất của mình” Ông còn chỉ ra rằng điểm khác biệt căn bản giữa xã hộiloài người với xã hội loài vật là ở chổ : loài vượn may mắn chỉ hái lượmtrong khi con người chúng ta lại sản xuất Điều đó khẳng định rằng hoạtđộng sản xuất đóng to lớn hàng đầu trong việc phân biệt loài người vớiloài vật Và chỉ riêng sự khác biệt duy nhất nhưng cơ bản ấy cũng khiến
ta không thể chuyển nếu không kèm theo những điều kiện tương ứng các quy luật của xã hội loài vật sang loài người
-Các nhà tư tưởng trước Mác có đưa ra những ý kiến khác nhau vềcách phân biệt con người và động vật khác, chẳng hạn như Aristotelescho rằng con người là một động vật chính trị
Nhưng quan niệm triết học Mác về sự khác biệt giữa con người vàcác động vật khác thể hiện tính chất duy vật nhất quán: xác định sự khác