ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM TIỂU LUẬN PHONG TỤC VIỆT NAM THỰC HIỆN NHÓM 4 LỚP NNA B K10 GVHD VÕ NỮ HẠNH TRANG DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA VIẾT TIỂU LUẬN HỌC KỲ I NĂM HỌC 2022 2023 Nhóm 4[.]
Trang 1ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI
CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
TIỂU LUẬN -
-PHONG TỤC VIỆT NAM
THỰC HIỆN: NHÓM 4 LỚP: NNA B K10 GVHD: VÕ NỮ HẠNH TRANG
DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA VIẾT TIỂU LUẬN
Trang 2HỌC KỲ I NĂM HỌC 2022-2023
Nhóm: 4
Tên đề tài: PHONG TỤC VIỆT NAM
Trang 3B PHẦN NỘI DUNG 2
1 Phong tục hôn nhân 2
1.1 Quyền lợi của gia tộc 2
1.2 Hôn nhân cần phải đáp ứng nhu cầu các quyền lợi cá nhân của làng xã 2
1.3 Nhu cầu riêng tư 6
2 Phong tục tang ma 8
2.1 Đưa tiễn và xót thương 8
2.2 Tinh thần triết lý âm dương ngũ hành : 13
3 Lễ Tết và Lễ Hội 15
3.1 Tết 15
3.1.1 Nguồn gốc Tết Nguyên Đán 15
3.1.2 Một số phong tục ngày Tết Nguyên Đán Việt Nam 15
3.2 Lễ Hội 18
3.3 Mối tương quan giữa lễ hội và lễ tế 19
C KẾT LUẬN 20
PHỤ LỤC 21
Trang 4A PHẦN MỞ ĐẦU
“Phong” là gió, “Tục” lá thói quen lâu đời Phong tục đó là những thói quen lâuđời đã ăn sâu vào đời sống xã hội từ lâu đời, được đai đa số mọi người thừa nhận vàlàm theo Phong tục có thứ trở thành luật tục, ăn sâu, bén rễ bên trong nhân dân rấtbền chặt, có sức mạnh hơn cả những đạo luật Mỗi một quốc gia có phong tục tậpquán riêng biệt, những phong tục này làm cho tinh thần con người trở nên phong phúhơn Việt Nam là một quốc gia với 54 dân tộc anh em tao nên một nền văn hóa đadạng, đậm đà bản sắc dân tộc Bởi vậy, phong tục của vùng đất này cũng nhiều vô
số Trong bài luận này, chúng tôi đã tìm hiểu và trình bày một số phong tục tập quánđặc trưng của người Việt với mong muốn cung cấp phần nào kiến thức về chúng vàgóp phần nhỏ nào đó để có thể duy trì những truyền thống tốt đẹp này
Trang 5B PHẦN NỘI DUNG
1 Phong tục hôn nhân
Theo phong-tục Việt, cái gốc của gia-đình gọi là hôn-nhân Có hôn-nhân mới có vợchồng và con cái Mục-đích của hôn-nhân là để duy-trì gia-thống nên việc lập gia-đình làviệc quan trọng của đại gia-đình Việc lấy vợ lấy chồng gọi là hôn-nhân, cưới xin Như ta
đã biết; một trong hai đặc trưng cơ bản của làng xã Việt Nam là tính cộng đồng Mọi việcliên quan đến cá nhân cũng đồng thời liên quan đến cộng đồng; kể cả hôn nhân là lĩnh vựcriêng tư nhất Hôn nhân của người Việt Nam truyền thống không phải là việc hai người lấynhau mà là việc “hai họ” dựng vợ gả chồng cho con cái Tục lệ này xuất phát từ quyền lợicủa tập thể
1.1 Quyền lợi của gia tộc
Việc hôn nhân tuy là của hai người nhưng lại kéo theo việc xác lập quan hệ giữa hai giatộc Vì vậy; điều cần làm đầu tiên chưa phải là lựa chọn một cá nhân cụ thể; mà là lựa chọnmột dòng họ; một gia đình xem cửa nhà hai bên có tương xứng không; có môn đăng hộ đốikhôngtiếp theo; đối với cộng đồng gia tộc; hôn nhân là một công cụ duy nhất và thiêngliêng để duy trì dòng dõi và phát triển nguồn nhân lực Để đáp ứng nhu cầu nhân lực củanghề trồng lúa khi xem xét con người trong hôn nhân; người nông nghiệp Việt Nam quantâm trước hết đến năng lực sinh sản của họ.Kén dâu; lấy vợ thì phải chọn người Lưng chữcụ; vú chữ tâm (lưng gù chữ cụ: lưng cong hình chữ cụ; vú lồi chữ tâm: vú to, nhọn, khôngchảy sệ, như hình chữ tâm – tiếng Hán, một kinh nghiệm xem tướng: người phụ nữ có hìnhdáng lưng, vú như vậy là người lắm con”).; phải là Đàn bà thắt đáy lưng ong; Vừa khéochiều chồng; vừa khéo nuôi con (Thắt đáy lưng ong là cụm từ được dùng để chỉ vóc dáng,thân hình của người phụ nữ Đặc điểm của người có thân hình thắt đáy lưng ong là vòng eonhỏ, bằng phẳng, thắt lại, thân hình tròn trịa, đầy đặn Sở hữu tướng mạo này, người phụ nữđược đề cao không chỉ có vẻ đẹp bên ngoài mà còn ở cả trí tuệ, phẩm chất bên trong.)Nănglực sinh đẻ của người phụ nữ còn có thể nhìn thấy qua gia đình họ: Mua heo chọn nái; lấygái chọn dòng; Ăn mày nơi cả thể; lâm rể nơi nhiều con; Lấy con xem nạ (nạ = mẹ)
1.2 Hôn nhân cần phải đáp ứng nhu cầu các quyền lợi cá nhân của làng xã.
Sự ổn định của làng xã:
Mối quan tâm hàng đầu của người Việt Nam là sự ổn định của làng xã, vì vậy mà cótruyền thống khinh rẻ dân ngụ cư Cũng nhằm tạo nên sự ổn định, đã hình thành quan niệmchọn vợ chọn chồng cùng làng: Ruộng đầu chợ, vợ giữa làng; Ruộng giữa đồng, chồng giữalàng; Lấy chồng khó giữa làng, hơn lấy chồng sang thiên hạ; Ta về ta tắm ao ta, dù trong dùđục ao nhà vẫn hơn…
Tục nộp cheo.
2
Trang 6Nhớ có lần đọc bài viết của nhà văn Hoàng Minh Tường, có đề cập đến đám cưới củaNhà văn Vũ Trọng Phụng và bà Vũ Mỹ Lương, một đám cưới được cho là đình đám thời
đó Bài viết có đoạn: “Rồi đây sẽ có người chậm bước trên con đường lát gạch nghiêng từcổng làng Giáp Nhất để tìm xem có viên gạch nào được lát bằng bảy đồng tiền cheo cưới
mà Nhà văn đã góp cho làng” Bảy đồng tiền cheo, mức đóng góp cao nhất dành cho “cheongoại”, trong khi thời đó một tạ gạo có giá hai đồng, một chỉ vàng có giá ba đồng Mà mứcđóng lại áp dụng với Nhà văn Vũ Trọng Phụng, một tên tuổi lẫy lừng trong làng văn họcViệt Nam; một người theo “Tây học” trăm phần trăm Cho thấy lệ nộp cheo đã thành mộtluật tục có sức sống lâu đời Và như một biểu thị cho sức sống của phong tục, tập quán,những con đường lát gạch nghiêng được xây dựng bằng tiền cheo còn hiện hữu trong đờisống thôn làng đến tận những năm cuối thế kỷ Hai mươi trước khi được thay thế bởi nhữngcon đường bê tông đạt tiêu chí “Nông thôn mới”
Vậy lệ “nộp cheo” có từ bao giờ và ý nghĩa của luật tục này? Lệ nộp cheo có xuất
xứ từ tục Lan nhai (chăng dây) Xưa các đám cưới, khi đoàn rước dâu về nhà chồng, thanhthiếu niên trong làng thường đóng cổng làng hoặc chăng dây ngang đường xin đoàn rướcdâu một chút tiền lẻ gọi là xin khước lấy may Tục chăng dây xin tiền khước có ý nghĩa vừanhư một thử thách nhỏ đối với cô dâu, chú rể, vừa có ý nghĩa đóng một khoản tiền “mãi lộ”trên con đường đến với cuộc sống lứa đôi Từ ý nghĩa tượng trưng trong sáng ban đầu, càng
về sau, tục chăng dây càng sa vào tệ sách nhiễu, thành tệ tục (người xưa gọi là “bạc tục”)
Có những đoàn rước dâu vì sự sách nhiễu mà có phản ứng dẫn đến bọn trẻ cắt hoặc dứt đứtdây thì phiền Vì người xưa quan niệm chuyện đứt dây giữa đường thường ảnh hưởng xấuđến hạnh phúc lứa đôi Khi lệ mà trở thành tệ tục gây phiền nhiễu thì làng thôn có hình thứcđiều chỉnh, và lệ nộp cheo ra đời Lúc đầu lệ nộp cheo chỉ được đưa vào trong hương ướccủa những làng có truyền thống khoa bảng, làng mĩ tục, nhưng sau đó người ta thấy lệ nộpcheo cũng phù hợp nên đến thế kỷ XIX, các làng đều xây dựng lệ nộp cheo thành điềukhoản trong hương ước, tổ chức thực hiện
Trong điều kiện làng xã xưa chưa có hình thức giấy hôn thú thì việc nộp cheo có
ý nghĩa đôi nam nữ đã chính thức công bố với dân làng có cưới, có cheo đàng hoàng Có thểhiểu nộp cheo là hình thức thay cho giấy hôn thú; được dân làng chấp nhận coi là lẽ đươngnhiên: Nuôi lợn thì phải băm bèo/ Lấy chồng thì phải nộp cheo cho làng Vì ý nghĩa nêu trênnên làng xã rất coi trọng, đưa lệ nộp cheo thành điều khoản trong hương ước với những quyđịnh cụ thể mức đóng góp dành cho “cheo nội”, (trai giá trong làng
Trang 7lấy nhau), và “cheo ngoại” (con gái lấy chồng ngoài làng) Ngoài lệ cheo làng lại có lệ nộpcheo hàng xóm, cheo bản tộc (cheo trong họ) Lần giở những trang hương ước cổ, thấynhững điều khoản quy định về lệ nộp cheo rất cụ thể Như hương ước làng Mộ Trạch (PhủThượng Hồng – Trấn Hải Dương) được xây dựng năm 1665, điều 22 bản hương ước quyđịnh: “Đàn bà con gái trong làng mà lấy chồng ở ngoài làng thì phải tuân theo lệ nộp cheonhư định lệ trước đây của xã” Cũng về lệ nộp cheo, hương ước làng Ngọc Than quy định
“người con trai ngoài xã lấy con gái bản xã phải lo hai con gà trống béo, 20 đấu xôi trắng,rượu 2 vò giá một quan tiền và trầu cau trình lý dịch yết lễ Lễ xong giao lý dịch một nửa đểmời viên chức cùng giáp Trưởng có con gái đó ăn uống” Còn với “cheo nội”, đặc biệt ởnhững làng có nghề thủ công truyền thống (vì sợ con gái lấy chồng ngoài sẽ lộ bí mật nghề),hương ước các làng đều quy định mức đóng cheo nội chỉ bằng một nửa cheo ngoại, nhằm cổ
vũ “trâu ta ăn cỏ đồng ta”
Dân làng xưa ít ai thiếu lệ cheo Đối với làng thì nộp cheo có ý nghĩa đấy là mộtkhoản đóng góp bằng tiền hoặc hiện vật, góp cùng với tiền thu được từ những “lệ” khác như
lệ hậu thần, hậu Phật; lệ bán ngôi nhiêu (bán những ngôi thứ không có thực quyền); lệ nộptiền thế khao; tiền phạt vi phạm hương ước… Để làng có khoản kinh phí đáp ứng việc xâydựng đường làng hoặc tu bổ đình, chùa miếu mạo… Còn với gia đình thì tiền nộp cheo có ýnghĩa trả một phần nhỏ ân tình đối với làng Xong, từ thế kỷ XIX lệ nộp cheo bị chức dịchlợi dụng để mưu lợi riêng Từ quy định ban đầu, lệ nộp cheo chỉ thu một vài quan tiền lẻmang ý nghĩa tượng trưng; nay qua hương ước của một số làng, lệ thu cheo ngoại lên tới 20– 30 quan tiền, tương đương giá hai con trâu to Nhiều làng xã không những thu bằng tiềnmặt mà còn bắt đóng bằng hiện vật như mâm đồng, gạch, gốm Bát Tràng… Trước tình trạngnạn cường hào phổ biến ở nông thôn và tệ hà lạm các khoản thu, trong đó có khoản tiềncheo Năm 1921, thực dân Pháp đã ban hành Nghị định 1949 tiến hành công cuộc Cải lươnghương chính Tuy nhiên lệ nộp cheo cũng như việc chia cấp công điền, việc tế tự, ngôi thứtrong làng…, là những cổ tục đã ăn sâu vào nếp sống của từng làng, không dễ xóa bỏ Mộthình thức hôn nhân không có giấy giá thú, chỉ có một khoản đóng góp nhỏ theo lệ làng trước
sự chứng kiến của chức dịch và bà con trong làng mà sao có sức sống trải mấy trăm năm Đểgiúp độc giả có thêm hiểu biết về hình thức hôn nhân không có hôn thú này, tác giả bài viết
có cuộc trao đổi với cụ Lê Xuân Thọ, Lão thành cách mạng năm nay 98 tuổi (quê Châu Khê– Thúc Kháng – Bình Giang) và một số cụ năm nay đã ở tuổi “Kim cương”, các cụ đềukhẳng định: “Thôn làng xưa rất kỹ
4
Trang 8lưỡng trong vấn đề hôn nhân; trước khi nhận cheo, làng phải xét đôi nam nữ lấy nhau cóhợp thức không Nghĩa là có đúng luân thường đạo lý, tránh tình trạng trai gái trong nội tộclấy nhau, hoặc hôn nhân không tự nguyện Hình thức nộp cheo thay cho giấy giá thú, mớiđầu tưởng đơn giản lỏng lẻo dễ tan vỡ Nhưng thực ra hôn nhân này khá bền vững Hầu nhưthế hệ cha ông chúng tôi sau nạp cheo thành vợ, thành chồng đều yêu thương gắn bó, sốngvới nhau đến đầu bạc răng long Những trường hợp ly hôn là rất ít”.
Trao đổi với các cụ rồi lại thầm so sánh giữa hình thức hôn nhân “lấy chồng thìphải nộp cheo” với hôn nhân tiến bộ thời nay, thời của những giao thoa, tiếp biến văn hóa,bên cạnh giá trị hôn nhân truyền thống cơ bản vẫn được giữ gìn, trong lĩnh vực hôn nhân– gia đình đã có những biểu hiện lệch chuẩn Thời nay, thời nhiều người coi chuyện “bồbịch” là mốt, thậm chí người ta còn hài hước so sánh đàn ông chỉ có một vợ với… Bò Thời
mà không ít bạn trẻ thành đôi, nên duyên chỉ qua một vài lần “chát” qua không gian ảo đểrồi hình thành các cặp đôi “ba nhanh” (nhanh yêu – nhanh cưới – nhanh ly hôn) Qua báocáo tổng kết của ngành tòa án về các vụ ly hôn, thì số vụ ly hôn có xu hướng trẻ hóa đangtrở thành hiện tượng trong đời sống hôn nhân – gia đình
Qua việc đề cập đến hai hình thức hôn nhân gắn với hai thời kỳ lịch sử khácnhau, tác giả bài viết muốn gửi tới độc giả một thông điệp: Dù là hình thức hôn nhân nào,sau kết hôn đôi vợ chồng sống với nhau đến trọn đời phải được hiểu đó là mục đích cao đẹp
mà hôn nhân thời đại nào cũng cần hướng tới Và trong quá trình giao thoa, tiếp biến giữacác nền văn hóa, không phải cái gì mới cũng là cái văn hóa, tiến bộ và không phải cái gìthuộc xã hội phong kiến cũng bị cho là lỗi thời, lạc hậu
Kết luận
Nhìn chung, lịch sử hôn nhân Việt Nam luôn là lịch sử hôn nhân vì lợi ích của cộngđồng, tập thể: từ các cuộc hôn nhân vô danh của thường dân đến những cuộc hôn nhân nổidanh như Mị Châu với Trọng Thủy, công chúa Huyền Trân với vua Chăm Chế Mân, côngchúa Ngọc Hân với Nguyễn Huệ…, rồi vô số những cuộc hôn nhân của các con vua cháuchúa qua các triều đại được triều đình gả bán cho tù trưởng các miền biên ải nhằm củng cốđường biên giới quốc gia – tất cả đều là làm theo ý nguyện của các tập thể cộng đồng lớnnhỏ: gia đình, gia tộc, làng xã, đất nước
Trang 91.3 Nhu cầu riêng tư
Sự phù hợp của đôi trai gái
Tương thích là yếu tố then chốt trong bất kỳ loại mối quan hệ nào có thể trở nên lâudài Nhiều người lầm tưởng việc tranh cãi, cãi vã của hai vợ chồng với khái niệm không hợpnhau Một cặp vợ chồng có thể tương hợp và đồng thời có những xung đột không thườngxuyên do những vấn đề hàng ngày
Có sự tôn trọng trong mối quan hệ
Dành thời gian chất lượng với đối tác của bạn
Tình yêu không chỉ là sự hấp dẫn về thể xác
Sự hiện diện của giao tiếp tốt xét một cách trừu tượng bằng việc hỏi tuổi (lễ vấn danh,
mà ngày nay gọi là chạm ngõ, hay lễ dạm, "Lễ vấn danh" là lễ nhà trai đến nhà gái để hỏitên tuổi cô gái, trong xã hội hiện đại ngày nay lễ vấn danh được gọi là lễ "Chạm ngõ" hay là
lễ "Dạm" (có nhiều nơi kiêm cả lễ dạm và hỏi cùng một lúc gọi là lễ dạm hỏi), xem đôi traigái có hợp tuổi nhau hay không, còn nếu xung khắc thì thôi
Quan hệ vợ chồng
Khi cưới Đôi vợ chồng trẻ thời Hùng Vương có tục trao cho nhau nắm đất và gửi muối:nắm đất tượng trưng cho lời nguyền gắn hú với đất đai - làng xóm; gói muối là lời chúc chotình nghĩa giữa hai người mặn mà thủy chung (Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau).Sau này, thay cho đất và muối, trong lễ vật dẫn cưới luôn có một loại bánh đặc biệt rất có ýnghĩa là bánh su sẽ (tên đọc thích đi của phụ thể): Bánh "phu thê" (vợ chồng) hình tròn bọcbằng hai khuôn hình vuông úp khít vào nhau Đó chính là biểu tượng của triết lí âm dương(vuông tròn) và ngũ hành (ruột dừa trắng, nhân đầu vàng, rắc vùng đen, khuôn là xanh.Buộc lạt đỏ), biểu tượng cho sự vẹn toàn, hòa hợp - hòa hợp của đất trội và của con người.Khi làm lễ hợp cẩn, còn có tục hai vợ chồng ăn chung một đĩa cơm nếp, uống chung mộtchén rượu: ý nghĩa của tục này cũng là cầu chúc cho hai vợ chồng luôn gắn bỏ với nhau:dính nhau như cơm nếp và say nhau như say rượu Trong hôn nhân xưa chỉ chú trọng việc
có môn đăng hộ đối hay không, hay xem tuoi vo chong có hợp tuổi nhau hay không, giađình nào thận trọng mới tìm hiểu kỹ "Công, dung, ngôn, hạnh" (thường là các gia đình giagiáo) Chẳng những các chàng trai, trước khi cưới chưa biết mặt vợ, mà có những ông bốchồng là người chủ động đi hỏi dâu cũng không biết mặt con dâu, do đó trong gia đình saunày mới xảy ra nhiều chuyện oái oăm: -"Cảm ơn ông bà thương đến, tôi xin đồng ý gả,nhưng xin thưa chuyện trước: con tôi mồm mép chẳng bằng ai!" Tưởng như vậy là mình tìmđược con dâu hiền hậu, không đanh đá chua ngoa, ai ngờ cưới về mới biết con dâu sứt môi!.Nhưng đã nhỡ việc, biết tính sao? Lại có trường hợp đánh tráo: Khi đi hỏi thì cho thằng emnhanh nhẹn và "sạch mặt" hơn đóng vai chàng rể, đến khi cưới thì lại cưới cho thằng anhđần độn, xấu xí "Miếng trầu để dâu nhà người", biết tính sao đây? Dầu sao cũng mang tiếngmột đời chồng
6
Trang 10Quan hệ mẹ chồng - nàng dâu
Mẹ chồng, nàng dâu vốn hay mâu thuẫn vì những chuyện không đâu, chẳng qua là do
cả hai đều cảm thấy tình cảm của người con - người chồng đã không dành trọn cho mình Vìvậy mà khi cô dâu mới bước vào nhà, có tục mẹ chồng ôm bình với kinh sang nhà hàngxóm: Trong gia đình nông nghiệp Việt Nam, người phụ nữ được xem là nội tướng (xem 1-82.1); người mẹ chồng lánh đi là có ý nhường quyền "nội tướng" tương lại cho con dân đểcho trong gia đình trên thuận dưới hòa Nhưng đó là trong tương lai, còn hiện tại thì chưa,cho nên mẹ chồng mới ôm theo chiếc hình với — biểu tượng quyền lực của người phụ nữViệc mẹ chồng đối xử cay nghiệt với nàng dâu, còn nàng dâu luôn đối phó với mẹ chồng,không thể tồn tại mãi mãi và thực tế đã và đang có sự thay đổi theo bước phát triển, nhịpsống văn minh của xã hội, ở đất nước ta Mẹ chồng cũng sống thoáng hơn, vì thế nàng dâucũng kính trọng bố mẹ chồng, vì đó là người sinh ra và nuôi dưỡng người thân yêu nhất củamình - đó là người chồng cũng yêu quý người con gái đã yêu thương gắn bó và gửi gắm cảtâm hồn, thể xác và cuộc đời cho đứa con trai của mình và gia đình mình Người con dâumuốn được hạnh phúc trong gia đình chồng, thì phải kính trọng bố mẹ chồng, yêu quý anhchị em nhà chồng Tình cảm chân thật của người con dâu đổi lấy tình yêu thương thật sựcủa người mẹ chồng Còn mẹ chồng hay cả gia đình chồng muốn được con dâu đối xử vớimình, với gia đình mình như cô ta đã đối xử với gia đình thì phải yêu quý, tôn trọng condâu Quan hệ mẹ chồng - nàng dâu hòa thuận thì gia đình êm ấm, mẹ chồng - nàng dâu mâuthuẫn sẽ dẫn đến xung đột, cãi vã, đôi khi làm cho hạnh phúc trong gia đình tan vỡ Vì vậymối quan hệ mẹ chồng - nàng dâu không chỉ là vấn đề trong gia đình mà còn là vấn đề xãhội cần quan tâm, nhìn nhận và đánh giá
Trang 112 Phong tục tang ma
2.1 Đưa tiễn và xót thương
Khi cha mẹ hấp hối thì phải khiêng ra giữa nhà để tỏ rằng cha mẹ chết một cách quangminh chính đáng Lúc này phải đặt tên hiệu, tên thụy, còn gọi là tên cúng cơm, rồi thưa chocha mẹ biết để sau này mỗi khi cúng giỗ, nghe con cháu khấn tên thì cha mẹ về dự lễ Lạilấy một miếng lụa trắng dài đặt lên mặt, có người nói đặt lên ngực để hồn người sắp chếtnhập vào, rồi kết thành hình người, gọi là hồn bạch Khi tắt thở rồi thì tang chủ (người chủ
lễ, thường là con trai trưởng) lấy một chiếc đũa để ngang hàm, dùng một miếng khăn hoặcmột miếng giấy phủ lên mặt để tránh ma quỷ ám hại Xong, khiêng xác đặt xuống đất, rồilại khiêng lên giường, mong rằng người chết hấp thụ sinh khí của đất, may ra sống lại Tụcnày mang ý nghĩa là người ta bởi đất sinh ra thì khi chết lại về đất
Người con cầm cái áo của người chết mới thay, đi đường phía trước trèo lên mái nhà
hú vía ba lần (lễ phục hồn, chiêu hồn): ba hồn, bảy vía, cha đâu về với con hoặc ba hồn,chín vía mẹ đâu về với con, tỏ ý mong cha mẹ sống lại Theo quan niệm của Đạo giáo thìphách (hay vía) là phần tinh thần của người phải phụ vào xác mới tồn tại, khi người chết thìtan đi, còn hồn là phần tinh thần không có xác vẫn tồn tại được Hú vía xong tụt xuống bằnglối phía sau Mang áo vừa được hú vía phủ lên xác
Dùng nước thơm tắm rửa cho người chết (lễ mộc dục ), chải tóc, cắt móng tay móngchân, thay quần áo mới Con trai tắm rửa cho cha, con gái tắm rửa cho mẹ Người chết đượcmặc quần áo sang trọng hay đơn sơ tùy theo nhà giàu hay nghèo, có chức tước hay không,chết già hay chết trẻ
Các đồ dùng và nước tắm của lễ mộc dục được đem chôn
Sau đó làm lễ phạn hàm, hay ngậm hàm Bỏ một nắm gạo và ba đồng tiền (đồng kẽm,đồng chinh) vào miệng người chết Gạo để linh hồn người chết ăn, khỏi phải thành ma đói( ngạ quỷ) Tiền dùng để đi đò hay qua cầu sang bên kia thế giới Những người lúc sống ăn
ở bạc ác thì lúc chết linh hồn phải qua cầu Nại Hà Người lương thiện được qua cầu KimNgân Ngày xưa nhà giàu dùng gạo và vàng, ngọc để làm lễ phạn hàm
Từ lúc mặc quần áo đẹp cho người chết xong, con cháu không mặc đồ tốt đẹp, chảichuốt Ngược lại, càng ăn mặc tiều tụy càng tỏ lòng hiếu thảo
Tiếp đến là lễ khâm liệm Khâm liệm là dùng vải bọc xác trước khi đặt vào áo quan.Xác được chèn đồ bổ khuyết, bọc kín và buộc chặt thành một khối vuông vức Đám tangcủa người Việt
Lúc đặt xác vào áo quan (lễ nhập quan ), lót giấy bản, rắc bỏng hay trà khô để đề phònghút nước do xác tiết ra Nhiều nhà mời thầy phù thủy làm lễ phạt mộc (chém gỗ) Một taycầm dao, tay kia cầm bó hương, thầy phù thủy vừa niệm thần chú, vừa quát tháo,
8
Trang 12vừa chém vào thành áo quan để trừ ma quỷ còn ẩn nấp trong áo quan và trong những tấmván.
Phạt mộc xong, thầy phù thủy bỏ vào trong áo quan một miếng ván đục hình chòm saobắc đẩu, gọi là ván thất tinh (bảy ngôi sao) Gia đình nghèo thì chỉ vẽ chòm sao lên mộtmảnh giấy
Ván thất tinh có công dụng gì ? Theo quan niệm của Đạo giáo thì trên cõi trời có NgọcHoàng Thượng Đế và nhiều vị thần ngự trị Trong số các vị thần được người đời thờ kính cóNam Tào và Bắc Đẩu, hai vị thần chuyên ghi chép và kiểm soát sổ sinh, sổ tử của loàingười Chòm sao bắc đẩu (đại hùng tinh) tượng trưng cho thần Bắc Đẩu Bỏ tấm ván thấttinh vào trong quan tài, người ta hi vọng rằng linh hồn người chết sẽ được vị thần giữ sổ tửche chở
Người nào chết nhằm giờ xấu thì phải bỏ thêm vào áo quan một cỗ bài tổ tôm, ngàynay có chỗ dùng bộ bài tây, một quyển lịch tàu hoặc lịch ta Tục này mang ý nghĩa gì ? Chữbài (hán việt, bộ thủ), nghĩa là trừ bỏ, và chữ lịch (bộ chỉ) nghĩa là trải qua, vượt qua Chếtnhằm giờ xấu, người ta dùng bộ bài, quyển lịch để trừ bỏ điều xấu, vượt qua được mọi khókhăn Nhiều nhà còn dán thêm bùa bên trong và bên ngoài áo quan để trừ khử ma quỷ Cónhà dùng tàu lá gồi thay cho quyển lịch Lá gồi trừ được thần trùng Nhập quan rồi, chènthêm đồ bổ khuyết, đậy nắp áo quan, gắn sơn, đóng cá hoặc đóng đinh cho kín Linh cữuđược khiêng ra đặt giữa nhà, trên nóc bày một bát cơm úp, cắm một chiếc đũa vót cho sơ ranhư gai nhọn (có nơi gọi là chiếc đũa bông), một quả trứng luộc, ba nén hương Bát cơm,quả trứng, có thể là bữa ăn để linh hồn người chết khỏi trở thành ma đói Nhưng chiếc đũa
có gai nhọn thì chắc chắn không phải là để dùng ăn cơm Không ai có thể ăn với một chiếcđũa như thế
Vậy chiếc đũa gai này mang ý nghĩa gì ? Chiếc đũa chữ hán việt là khoái (bộ trúc) Chữkhoái (bộ tâm) có nhiều nghĩa : sướng thích, nhanh chóng, sắc bén, và lính đi bắt giặc cướp.Cái gai nhọn chữ Hán Việt là thứ (bộ đao), thứ còn có nghĩa là đâm chết Chiếc đũa gaitượng trưng cho một tên lính đi bắt và đâm chết giặc cướp, được người xưa dùng làm bùatrừ ma quỷ Nếu trong gia đình còn người ở bậc cao hơn người chết thì đặt linh cữu ở gianbên cạnh, đầu quay ra ngoài sân hoặc quay về hướng nam Sau vài ba ngày, chờ con cháu ở
xa về đông đủ, thì làm lễ thành phục, cũng gọi là phát tang Gặp mùa nóng bức hoặc lúc cóbệnh dịch thì phát tang sớm hơn Con cháu, họ hàng, tùy theo thứ bậc mà mặc đồ tang Đồtang của người vắng mặt được đặt trên linh cữu Luật xưa quy định rõ ràng năm hạng quần
áo, mũ khăn, cùng thời hạn để tang Làm lễ nhập quan rồi nhưng chưa phát tang thì concháu còn được phép cưới, gọi là cưới chạy tang Nhà nào rộng rãi, giàu sang thì đặt linhsàng (giường của linh hồn người chết) và linh tọa (bàn thờ