ĐẠI HỌC QUỐC GIA ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP HỒ CHÍ MINH BÀI TẬP LỚN MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC ĐỀ TÀI DÂN TỘC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH T[.]
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Kết quả điều tra của Ủy ban dân tộc và Tổng cục thống kê năm 2019 đã cung cấp thông tin quan trọng về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số tại Việt Nam Báo cáo này, được xuất bản bởi NXB Thống kê tại Hà Nội, là tài liệu quý giá cho việc nghiên cứu và phát triển các chính sách hỗ trợ cho các dân tộc thiểu số Để tìm hiểu chi tiết, bạn có thể truy cập vào tài liệu qua liên kết: [Báo cáo 53 dân tộc thiểu số 2019](https://www.gso.gov.vn/wp-content/uploads/2020/07/01-Bao-cao-53-dan-toc-thieu-so-2019_ban-in.pdf).
Kết quả điều tra của Ủy ban dân tộc và Tổng cục thống kê năm 2019 đã thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số Báo cáo này được xuất bản bởi NXB Thống kê tại Hà Nội, trang 96 Để biết thêm chi tiết, bạn có thể truy cập vào tài liệu qua liên kết: [Báo cáo 53 dân tộc thiểu số 2019](https://www.gso.gov.vn/wp-content/uploads/2020/07/01-Bao-cao-53-dan-toc-thieu-so-2019_ban-in.pdf).
2 Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam thời gian qua.
3 Đề xuất giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam thời gian tới.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó nổi bật nhất là phương pháp thu thập tài liệu, phân tích và tổng hợp.
KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2 chương:
1 Chương 1: Dân tộc trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội.
2 Chương 2: Thực trạng và giải pháp giải phát triển kinh tế- xã hội, nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay.
4
CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC
1.2.1 Hai xu hướng khách quan cúa sự phát triển dân tộc
Nghiên cứu về vấn đề dân tộc thì V.I.Lênin đã phát hiện ra hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc
Xu hướng đầu tiên là các cộng đồng dân cư mong muốn tách ra để hình thành các dân tộc độc lập Nguyên nhân của xu hướng này là sự thức tỉnh và trưởng thành về ý thức dân tộc, cũng như nhận thức về quyền sống của chính mình Các cộng đồng dân cư đang khao khát tách biệt để xây dựng các dân tộc độc lập.
Xu hướng đấu tranh giành độc lập của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc ngày càng rõ nét, thể hiện qua nỗ lực thoát khỏi sự áp bức và bóc lột của các nước thực dân, đế quốc Một ví dụ điển hình là cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam chống lại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2019) Giáo trình Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr106
2 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2019) Giáo trình Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr107
3 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2019) Giáo trình Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr107
Xu hướng thứ hai: Các dân tộc trong từng quốc gia, thậm chí các dân tộc ở nhiều quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau 1
Xu hướng này xuất hiện khi chủ nghĩa tư bản chuyển mình thành chủ nghĩa đế quốc, dẫn đến việc bóc lột thuộc địa Sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học công nghệ, và giao lưu kinh tế, văn hóa trong xã hội tư bản đã tạo ra nhu cầu xóa bỏ rào cản giữa các dân tộc Điều này thúc đẩy mối liên hệ quốc tế và sự gắn kết giữa các quốc gia, như thể hiện qua các tổ chức như Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC), và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
Trong thời đại ngày nay, hai xu hướng này diễn ra với những biểu hiện rất đa dạng và phong phú.
Trong các quốc gia xã hội chủ nghĩa đa dân tộc, có hai xu hướng chính Thứ nhất, mỗi dân tộc nỗ lực đạt được sự tự chủ và phồn vinh riêng Thứ hai, có sự thúc đẩy mạnh mẽ để các dân tộc trong cộng đồng quốc gia xích lại gần nhau, hòa hợp hơn trong mọi lĩnh vực của cuộc sống.
Trong bối cảnh chủ nghĩa xã hội, hai xu hướng tương tác tích cực, hỗ trợ lẫn nhau diễn ra trong từng dân tộc và toàn bộ cộng đồng quốc gia Sự tự chủ và phồn vinh của mỗi dân tộc sẽ cung cấp điều kiện vật chất và tinh thần cần thiết để tăng cường hợp tác với các dân tộc anh em Sự gần gũi giữa các dân tộc, dựa trên nguyên tắc tự nguyện và bình đẳng, sẽ thúc đẩy sự phát triển và thịnh vượng cho từng dân tộc.
Xét trong phạm vi thế giới, quốc tế thì hai xu hướng này cũng thể hiện rất nổi bật.
1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2019) Giáo trình Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr107
Cương lĩnh dân tộc của Lênin đóng vai trò quan trọng trong việc định hình chính sách của Đảng và Nhà nước ta hiện nay Sự vận dụng linh hoạt các nguyên tắc này giúp củng cố và phát triển đất nước, đồng thời khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Trong thời đại hiện nay, phong trào giải phóng dân tộc nổi bật với mục tiêu chống lại chủ nghĩa đế quốc và các chính sách thực dân, nhằm xóa bỏ mọi hình thức áp bức và bóc lột Độc lập dân tộc trở thành mục tiêu chính trị hàng đầu của các quốc gia, thể hiện xu hướng khách quan và chân lý của thời đại Độc lập tự chủ không chỉ là khát vọng mà còn là sức mạnh thực tiễn thúc đẩy sự phát triển của mỗi dân tộc.
Xu hướng thứ hai thể hiện sự gần gũi và hợp tác giữa các dân tộc nhằm hình thành liên minh dân tộc ở cả khu vực và toàn cầu Ở cấp độ khu vực, các dân tộc được thu hút vào các liên minh dựa trên lợi ích chung, như Cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), với mục tiêu phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh Ở cấp độ toàn cầu, lợi ích chung giúp các dân tộc kết nối, như Liên hợp quốc (UN), tổ chức duy trì hòa bình và thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia, nhằm thực hiện sự hợp tác quốc tế.
1.2.2 Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin
1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2019) Giáo trình Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr108
Cương lĩnh dân tộc của Lênin đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng chính sách của Đảng và Nhà nước ta hiện nay Sự vận dụng linh hoạt các nguyên tắc này giúp củng cố và phát triển đất nước, đồng thời khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Cương lĩnh dân tộc của Lênin đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng chính sách của Đảng và Nhà nước ta hiện nay Luật Quang Huy là một trong những nguyên tắc cơ bản trong việc áp dụng cương lĩnh này, giúp thúc đẩy sự phát triển bền vững và bảo vệ lợi ích của dân tộc Việc vận dụng hiệu quả cương lĩnh của Lênin không chỉ thể hiện sự kế thừa mà còn là sự sáng tạo trong bối cảnh hiện đại.
Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác về mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, V.I Lênin đã khái quát Cương lĩnh dân tộc vào đầu thế kỷ XX, nhấn mạnh rằng “các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự quyết, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại.” Điều này phản ánh sự kết hợp giữa phân tích các xu hướng phát triển dân tộc và kinh nghiệm từ phong trào cách mạng thế giới, đặc biệt là thực tiễn cách mạng ở Nga.
1.2.2.1 Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng Đây là quyền thiên liêng của các dân tộc, không phân biệt dân tộc lớn hay nhỏ, trình độ phát triển cao hay thấp đều có quyền và quyền lợi ngang nhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, không dân tộc nào giữ đặc quyền, đặc lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa.
Trong quan hệ xã hội và quốc tế, không một dân tộc nào có quyền áp bức hay bóc lột dân tộc khác Quyền bình đẳng giữa các dân tộc trong một quốc gia cần được thể hiện qua các quy định pháp lý, nhằm giảm thiểu sự chênh lệch về kinh tế và văn hóa Để đạt được quyền bình đẳng này, cần phải xóa bỏ tình trạng áp bức giai cấp, từ đó loại bỏ áp bức dân tộc, đồng thời đấu tranh chống lại chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Quyền bình đẳng giữa các dân tộc là nền tảng cho việc thực hiện quyền tự quyết của mỗi dân tộc, đồng thời góp phần xây dựng mối quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các cộng đồng dân tộc.
1.2.2.2 Các dân tộc có quyền tự quyết
Quyền tự quyết là quyền của các dân tộc trong việc xác định vận mệnh của chính mình, bao gồm quyền lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển phù hợp với nhu cầu và nguyện vọng của dân tộc đó.
1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2019) Giáo trình Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr108
2 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2019) Giáo trình Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr108-109
12
ĐẶC ĐIỂM DÂN TỘC VIỆT NAM
Thứ nhất, có sự chênh lệch về số dân giữa các tộc người.
Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm 85.3% dân số với 82.085.826 người, trong khi 53 dân tộc còn lại chỉ chiếm 14.7% với 14.123.158 người Bảng số liệu về quy mô và tỷ lệ tăng dân số của 10 dân tộc lớn nhất và 10 dân tộc thiểu số nhỏ nhất cho thấy rõ sự chênh lệch này Các dân tộc có dân số chỉ vài trăm người như Si La, Pu Péo, Brâu, Ơ Đu, Rơ Măm đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc duy trì cuộc sống, bảo tồn văn hóa và ngôn ngữ Do đó, việc phát triển dân số hợp lý cho các dân tộc thiểu số, đặc biệt là các dân tộc ít người, đang được Đảng và Nhà nước chú trọng.
Thứ hai, các dân tộc cư trú xen kẽ nhau.
Ủy ban Dân tộc và Tổng cục Thống kê đã thực hiện một cuộc điều tra về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số vào năm 2019 Báo cáo này cung cấp thông tin quan trọng về tình hình phát triển và các vấn đề xã hội mà các dân tộc thiểu số đang đối mặt Dữ liệu thu thập được sẽ giúp các cơ quan chức năng xây dựng chính sách phù hợp nhằm nâng cao đời sống của các cộng đồng này Truy cập báo cáo chi tiết tại [đây](https://www.gso.gov.vn/wp-content/uploads/2020/07/01- Bao- cao-53-dan-toc-thieu-so-2019_ban-in.pdf).
Việt Nam là nơi cư trú của nhiều dân tộc từ khu vực Đông Nam Á, dẫn đến sự phân tán và xen kẽ trong bản đồ cư trú của các dân tộc Điều này khiến cho các dân tộc Việt Nam không có lãnh thổ riêng biệt, không có dân tộc nào cư trú tập trung và độc lập trên một địa bàn cụ thể.
Thứ ba, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam phân bố chủ yếu ở địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng.
Mặc dù chỉ chiếm 14.7% dân số, 53 dân tộc thiểu số Việt Nam lại sinh sống trên những vùng đất quan trọng về kinh tế, an ninh, quốc phòng và môi trường sinh thái, bao gồm các khu vực biên giới, hải đảo và vùng sâu vùng xa Các thế lực phản động thường lợi dụng những vấn đề này để kích động và chống phá cách mạng Việt Nam.
Thứ tư, các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển không đều.
Hiện nay, các dân tộc Việt Nam có sự chênh lệch rõ rệt về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội Trình độ tổ chức đời sống và quan hệ xã hội của các dân tộc thiểu số rất khác nhau Về kinh tế, các dân tộc thiểu số có thể được phân loại theo mức độ phát triển, từ hình thức kinh tế chiếm đoạt và khai thác thiên nhiên đến việc chuyển sang phương thức sản xuất tiến bộ Hầu hết các dân tộc đều đang nỗ lực công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật của nhiều dân tộc thiểu số vẫn còn thấp.
Các dân tộc Việt Nam có truyền thống đoàn kết lâu đời, tạo nên sức mạnh thống nhất trong cộng đồng Đoàn kết dân tộc là một di sản quý báu, đóng vai trò quan trọng trong việc đạt được thắng lợi qua các giai đoạn lịch sử, giúp đánh bại kẻ thù xâm lược và giành độc lập cho Tổ quốc Để bảo vệ và phát huy truyền thống này, các dân tộc cần nỗ lực phát huy nội lực, nâng cao cảnh giác và kịp thời đối phó với mọi âm mưu chia rẽ, bảo vệ khối đại đoàn kết dân tộc.
Thứ sáu, mỗi dân tộc dều có bản sắc văn hóa riêng, góp phần tạo nên sự phong phú đa dạng của nền văn hóa Việt Nam thống nhất.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, với mỗi dân tộc mang những sắc thái văn hóa riêng, tạo nên sự thống nhất và đa dạng trong văn hóa Việt Nam Điều này xuất phát từ lịch sử chung của nhân dân, với ý thức về một quốc gia độc lập và thống nhất được hình thành từ sớm.
2.2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, NÂNG CAO ĐỜI SỐNG ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN NAY.
2.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam thời gian qua
2.2.1.1 Những mặt đạt được và nguyên nhân.
Những điều chúng ta đã đạt được trên các lĩnh vực như:
Vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có những bước phát triển kinh tế rõ rệt, với đời sống được nâng cao và hạ tầng ngày càng hoàn thiện Đến năm 2015, 100% xã và 97,8% thôn có điện, 99,4% xã và 93,3% thôn có đường ô tô, gần 100% xã có trường tiểu học, và 92,9% xã có trường trung học cơ sở Hơn nữa, 99,5% xã có trạm y tế, 80% xã có công trình thuỷ lợi nhỏ, và 65% xã có công trình phục vụ nước sinh hoạt Nền kinh tế đã chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, phù hợp với điều kiện từng vùng, góp phần cải thiện đời sống người dân Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở miền núi phía Bắc đạt hơn 10%, miền Trung và Nam bộ 12%, và Tây Nguyên 12,5%.
Ủy ban Dân tộc và Tổng cục Thống kê đã công bố kết quả điều tra về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số vào năm 2019 Báo cáo này cung cấp thông tin chi tiết về các vấn đề kinh tế, xã hội và văn hóa của các dân tộc thiểu số, giúp nâng cao nhận thức và hỗ trợ các chính sách phát triển phù hợp Kết quả điều tra là nguồn tài liệu quan trọng cho các nghiên cứu và hoạch định chính sách liên quan đến sự phát triển bền vững của các cộng đồng dân tộc thiểu số tại Việt Nam.
15 dân tộc thiểu số không ngừng được nâng cao, nhiều hộ đã vươn lên thoát nghèo và có cuộc sống khá giả.
Chính trị tại Việt Nam thể hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc qua mọi lĩnh vực xã hội, với sự hòa hợp, tôn trọng và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình phát triển đất nước Hệ thống chính trị ở vùng dân tộc thiểu số ngày càng được củng cố và hoạt động hiệu quả hơn Đội ngũ cán bộ, đặc biệt là người dân tộc thiểu số, được chú trọng quy hoạch và đào tạo phù hợp với yêu cầu mới Kết quả khảo sát cho thấy 71,3% người dân tộc thiểu số đánh giá tốt về công tác đào tạo, trong khi 70,4% hài lòng với việc sử dụng cán bộ của họ Tỷ lệ cán bộ người dân tộc thiểu số trong các cơ quan Đảng và Nhà nước từ Trung ương đến địa phương cũng đang gia tăng.
Văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, với sự hoàn thiện của các thiết chế văn hóa Theo khảo sát, 100% số xã có bưu điện, 44% có nhà văn hóa, và 62,5% số thôn, bản có nhà sinh hoạt cộng đồng Đặc biệt, 15,9% hộ dân biết điệu múa truyền thống, 65,1% được nghe đài, và 88,8% có tivi Hệ thống loa truyền thanh hiện diện ở 56,8% thôn, bản, trong khi 75,4% hộ dân tộc thiểu số sở hữu điện thoại Nhiều giá trị văn hóa truyền thống được bảo tồn và phát huy, với ý thức của đồng bào trong việc giữ gìn các giá trị này và thực hiện nếp sống văn minh trong các nghi lễ như cưới, tang, lễ hội Công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số đang được nâng cao.
Ủy ban Dân tộc đã công bố báo cáo vào tháng 9 năm 2015 về hội thảo đề xuất các chính sách dân tộc cho giai đoạn 2016 - 2020 Báo cáo này có thể được truy cập tại địa chỉ: [http://www.cema.gov.vn/hoi-thao-de-xuat-chinh-sach-dan-toc-giai-doan-2016-2020.htm](http://www.cema.gov.vn/hoi-thao-de-xuat-chinh-sach-dan-toc-giai-doan-2016-2020.htm).
Kết quả điều tra năm 2019 của Ủy ban dân tộc và Tổng cục thống kê đã cung cấp thông tin quan trọng về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số tại Việt Nam Báo cáo này nêu rõ những thách thức và cơ hội mà các dân tộc thiểu số đang đối mặt, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải có các chính sách hỗ trợ phù hợp để nâng cao đời sống của họ Thông tin chi tiết có thể được tìm thấy trong tài liệu được công bố trên trang web của Tổng cục thống kê.
Trong số 16 tộc thiểu số, có 76,9% người dân tộc thiểu số được khảo sát cho rằng công tác này đã được thực hiện tốt và khá tốt Ngược lại, 21,3% cho rằng công tác chưa đạt yêu cầu, trong khi 1,9% gặp khó khăn trong việc đánh giá.
Sự phát triển xã hội, giáo dục và chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số đã có những bước tiến mới Cơ sở vật chất trường lớp được nâng cấp, hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú được củng cố và chất lượng hoạt động được cải thiện Chính sách giáo dục và chế độ cho giáo viên, học sinh được thực hiện đầy đủ, tạo điều kiện cho con em dân tộc thiểu số đến trường Tính đến tháng 7-2015, tỷ lệ người dân tộc thiểu số biết đọc, biết viết đạt 79,8%, tỷ lệ học sinh tiểu học đạt 98,6%, trung học phổ thông 41,8%, và cao đẳng, đại học 6,5% Công tác chăm sóc sức khỏe và phòng chống dịch bệnh cũng được cải thiện, với 48,8% người dân tộc thiểu số sử dụng thẻ bảo hiểm y tế Tỷ lệ phụ nữ dân tộc thiểu số khám thai đạt 70,9%, và 76,88% phụ nữ có chồng sử dụng biện pháp tránh thai Tuổi thọ trung bình của người dân tộc thiểu số là 73,23 tuổi Kết quả khảo sát cho thấy 47,2% người dân tộc thiểu số đánh giá chất lượng khám chữa bệnh tốt Công tác xóa đói, giảm nghèo cũng đạt kết quả đáng ghi nhận với tỷ lệ hộ nghèo giảm.