Phật giáo là một trường phái triết học – tôn giáo điển hình của nền tư tưởng Ấn Độ cổ đại có ảnh hưởng rộng rãi, lâu dài trên phạm vi thế giới. Hệ thống giáo lý của nó rất đồ sộ và có số lượng phật tử đông đảo phân bố rộng khắp. Cùng với quá trình lịch sử, Phật giáo đã có những đóng góp đáng kể cho nền văn hóa của nhân loại. Nhiều chuẩn mực, quy phạm, đạo đức, giáo luật đã được cụ thể hóa thành những hoạt động hữu ích thiết thực, trên cơ sở lựa chọn những điều tích cực, phù hợp để phát huy và hạn chế những điều không phù hợp, đã góp phần không nhỏ trong việc hình thành những giá trị, chuẩn mức trong đời sống của con người Việt Nam theo thời gian. Trong Phật giáo, Tứ Diệu Đế được coi là cốt tủy, là xương sống của toàn bộ giáo pháp của Phật pháp. Tất cả giáo pháp của Đức Phật sau này đều là sự phát triển mở rộng dựa trên nền tảng của Tứ Diệu Đế. Tứ Diệu Đế chỉ rõ sự thật về cuộc sống khổ đau của con người, về nguồn gốc nguyên nhân dẫn đến đau khổ, về sự chấm dứt đau khổ và phương pháp thực hành dẫn đến việc chấm dứt khổ đau. Đó là học thuyết lý giải về sự khổ, nguyên nhân cái khổ, sự diệt khổ và con đường cứu khổ. Chỉ khi con người giác ngộ được những chân lý tuyệt diệu này con người mới thoát khổ, được giải thoát khỏi kiếp luân hồi sinh tử, chứng ngộ được Niết bàn.Tìm hiểu về nhân sinh quan Phật giáo, qua đó hiểu rõ hơn về Phật giáo, một tôn giáo đang tồn tại và có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội ở Việt nam hiện nay, trên cơ sở đó có thể khai thác những giá trị tích cực trong giáo lý của Phật giáo. Do đó em chọn đề tài nghiên cứu “Nhân sinh quan của Tứ Diệu đế trong triết học Phật giáo” để phân tích và nghiên cứu về ý nghĩa của nhân sinh quan Phật giáo đối với con người Việt Nam nói chung và bản thân mình nói riêng.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI
NỘI DUNG TRIẾT HỌC CỦA THUYẾT TỨ DIỆU ĐẾ TRONG
TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ Ý NGHĨA
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO VÀ THUYẾT TỨ DIỆU ĐẾ 2
1 Khái niệm nhân sinh quan và nhân sinh quan trong Phật giáo 2
1.1 Khái niệm nhân sinh quan 2
1.2 Nhân sinh quan trong Phật giáo 3
2 Giới thiệu chung về thuyết Tứ diệu đế 4
2.1 Nguồn gốc ra đời của thuyết 4
2.2 Nội dung của thuyết Tứ diệu đế 5
CHƯƠNG II: NỘI DUNG THUYẾT TỨ DIỆU ĐẾ TRONG PHẬT GIÁO 7
1 “Khổ” trong Tứ diệu đế 7
2 “Tập” trong Tứ diệu đế 10
3 “Diệt” trong Tứ diệu đế 11
3.1 Quả vị tu tập của Nguyên thủy Phật giáo 11
3.2 Quả vị tu tập của Đại thừa Phật giáo 12
4 “Đạo” trong Tứ diệu đế 12
CHƯƠNG III: NHỮNG GIÁ TRỊ NHÂN SINH QUAN CỦA PHẬT GIÁO 14
1 Giá trị nhân sinh quan của Tứ diệu đế trong Phật giáo với con người Việt Nam 14
1.1 Giá trị nhân sinh dưới góc nhìn của Tứ diệu đế 14
1.2 Tứ Diệu Đế trong Phật giáo với con người Việt Nam 15
Trang 32 Giá trị nhân sinh quan của Tứ diệu đế trong Phật giáo với bản thân 16 2.1 Giá trị nhân sinh quan của Tứ diệu đế trong Phật giáo với bản thân trong công việc, học tập và làm việc 16 2.2 Giá trị nhân sinh quan của Tứ diệu đế trong Phật giáo với bản thân trong đời sống hằng ngày và cuộc sống gia đình 17 KẾT LUẬN 19 TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 4MỞ ĐẦU
Phật giáo là một trường phái triết học – tôn giáo điển hình của nền tư tưởng Ấn Độ
cổ đại có ảnh hưởng rộng rãi, lâu dài trên phạm vi thế giới Hệ thống giáo lý của nó rất đồ
sộ và có số lượng phật tử đông đảo phân bố rộng khắp Cùng với quá trình lịch sử, Phậtgiáo đã có những đóng góp đáng kể cho nền văn hóa của nhân loại Nhiều chuẩn mực,quy phạm, đạo đức, giáo luật đã được cụ thể hóa thành những hoạt động hữu ích thiếtthực, trên cơ sở lựa chọn những điều tích cực, phù hợp để phát huy và hạn chế nhữngđiều không phù hợp, đã góp phần không nhỏ trong việc hình thành những giá trị, chuẩnmức trong đời sống của con người Việt Nam theo thời gian
Trong Phật giáo, Tứ Diệu Đế được coi là cốt tủy, là xương sống của toàn bộ giáopháp của Phật pháp Tất cả giáo pháp của Đức Phật sau này đều là sự phát triển mở rộngdựa trên nền tảng của Tứ Diệu Đế
Tứ Diệu Đế chỉ rõ sự thật về cuộc sống khổ đau của con người, về nguồn gốcnguyên nhân dẫn đến đau khổ, về sự chấm dứt đau khổ và phương pháp thực hành dẫnđến việc chấm dứt khổ đau Đó là học thuyết lý giải về sự khổ, nguyên nhân cái khổ, sựdiệt khổ và con đường cứu khổ Chỉ khi con người giác ngộ được những chân lý tuyệtdiệu này con người mới thoát khổ, được giải thoát khỏi kiếp luân hồi sinh tử, chứng ngộđược Niết bàn
Tìm hiểu về nhân sinh quan Phật giáo, qua đó hiểu rõ hơn về Phật giáo, một tôngiáo đang tồn tại và có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội ở Việt nam hiện nay,trên cơ sở đó có thể khai thác những giá trị tích cực trong giáo lý của Phật giáo Do đó
em chọn đề tài nghiên cứu “Nhân sinh quan của Tứ Diệu đế trong triết học Phật giáo”
để phân tích và nghiên cứu về ý nghĩa của nhân sinh quan Phật giáo đối với con ngườiViệt Nam nói chung và bản thân mình nói riêng
Trang 5NỘI DUNGCHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO VÀ THUYẾT
TỨ DIỆU ĐẾ
1 Khái niệm nhân sinh quan và nhân sinh quan trong Phật giáo
1.1 Khái niệm nhân sinh quan
Từ buổi sơ khai của xã hội loài người cho đến thời kì xã hội văn minh hiện đại hiệnnay, có hai câu hỏi lớn luôn là nỗi trăn trở của con người mà mọi lời giải thích đều chưathực sự thỏa đáng: Vũ trụ là gì? Và con người từ đâu mà có? Hai câu hỏi nan giải nàyluôn là những thách thức, ám ảnh tâm thức con người Đã có biết bao nhà tư tưởng, triếtgia, đạo sĩ… mài mòn sách vở, dốc cạn tâm lực để mong mở được cánh cửa chân lý, tìmhiểu tường tận về vũ trụ và con người Nhưng tất cả đều như những kẻ lữ hành loanhquanh mãi trong rừng rậm của tri kiến, vẫn không tìm được lối ra, chưa có những lời giảiđáp hoàn hảo nhất Trong quá trình tồn tại, lao động và sinh sống, con người khác con vật
ở chỗ họ không chỉ tồn tại thích nghi một cách thụ động mà mục đích chính trong hoạtđộng sống của con người là chinh phục tự nhiên, tìm cách biến đổi thế giới theo yêu cầucuộc sống của mình Quá trình tìm tòi, giải đáp những câu hỏi về thế giới, về con người
đã làm hình thành nên những quan niệm nhất định về thế giới, về con người, về vai trò, vịtrí của con người trong thế giới đó Quá trình này chính là nhân sinh quan.
Nhân sinh quan là một khái niệm thuộc phạm trù triết học, có rất nhiều quan điểm,trường phái khái nhau giải thích về khái niệm nhân sinh quan. Nhân sinh là khái niệmxoay quanh cuộc sống của con người "Nhân sinh" là từ Hán - Việt, trong đó: Nhân mangnghĩa là con người, còn sinh là sự sống Có thể dịch nghĩa nhân sinh chính là sự sống haycuộc sống của con người.
Như vậy, từ khái niệm trên, có thể hiểu nhân sinh quan là cái nhìn về cuộc sống củacon người Cái nhìn ở đây không phải bề ngoài nói đến sự vật, hiện tượng mà nó đi khaithác cái bên trong, cái ý nghĩa nội tại của các sự vật hiện tượng trong cuộc sống của conngười Từ việc tìm ra các ý nghĩa đó, nhân sinh quan đúc kết nên quan điểm về triết lý
Trang 6thành một hệ thống quan niệm về cuộc đời, bởi nó đề cập đến nhiều vấn đề, những vấn đềnày đặt trong một xã hội, chúng có sự liên kết, tác động qua lại với nhau. Nhân sinh quan
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, hướng con người đến ý chí, phấn đấu Nó là nguồn gốccủa mọi suy nghĩ, chi phối hành vi và các hoạt động của con người trong đời sống
Việc nghiên cứu nhân sinh quan là nghiên cứu về con người và cuộc sống của họ.Trong đó, nghiên cứu về tư tưởng, thái độ, hành vi của con người đối với sự vật, hiệntượng xung quanh Sự thay đổi về quan niệm nhân sinh trong từng thời đại, môi trườngsống, xã hội khác nhau cũng là một phương hướng nghiên cứu khá phổ biến.
1.2 Nhân sinh quan trong Phật giáo
Nhân sinh quan Phật giáo được hình thành và phát triển dựa trên tiền đề kinh tế,chính trị, xã hội và tư tưởng văn hóa Ấn Độ cổ đại trước Công nguyên, đồng thời xuấtphát từ tấm lòng từ bi hỷ xả, cứu khổ cứu nạn
Nhân sinh quan trong Phật giáo là hệ thống quan điểm, quan niệm của đạo Phật vềnguồn gốc, bản chất và cấu tạo con người Hệ thống quan điểm về nhân sinh quan củaPhật giáo chịu sự chi phối của thế giới quan và bởi các ý thức xã hội khác Qua đó địnhhướng mục tiêu, thái độ sống và giá trị của con người Hướng con người đến sự giải thoátkhỏi nỗi khổ trong cuộc sống bằng việc đề ra nguồn gốc của sự khổ não, đưa ra phươnghướng giải thoát chúng sinh ra khỏi nghiệp quả của cuộc đời Đặc biệt là tạo ra các niềmtin lớn để con người tin tưởng, có động lực cố gắng phát triển bản thân
Nội dung cơ bản của nhân sinh quan Phật giáo tập trung vào 2 vấn đề chính cơ bảnnhất là sự khổ não của thế gian và sự giải thoát khỏi nỗi khổ Khổ là sự tất yếu, sự luânhồi, muốn thoát khỏi khổ đau thì con người phải tu tâm dưỡng tính, tích công đức để tựmình thoát khỏi vòng luân hồi, nghiệp chướng Nhân sinh quan Phật giáo bắt nguồn từthế giới quan Tuy nhiên, mục đích của Phật giáo là thoát khổ, giải phóng con người.Chính vì thế mà Phật pháp mang giá trị nhân sinh sâu sắc.
Đối với "cái khổ" nhân sinh quan Phật giáo đề cập đến các vấn đề sau đây:
+ Nhận thức về "cái khổ" trong thế gian;
+ Nhận thức về việc giải trừ "cái khổ" của con người;
Trang 7+ Nhận thức về vấn đề lìa xa, thoát khỏi "cái khổ" của con người;
+ Răn dạy, hướng con người tới thiện tâm "cứu khổ, cứu nạn" chúng sinh
2 Giới thiệu chung về thuyết Tứ diệu đế
2.1 Nguồn gốc ra đời của thuyết
Sự ra đời của Phật giáo xuất phát từ tồn tại xã hội Cũng như quan điểm của
Ang-ghen về tôn giáo: "Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc
của con người của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế".
Người sáng lập ra Phật giáo là Thái tử Tất Đạt Đa - con trai của Vua Thịnh Phạnthuộc vùng Bắc Ấn (nay thuộc Nepan) Ngài đã đi nhiều nơi, tận mắt chứng kiến đờisống cực khổ và sự bất lực của con người trong xã hội đương thời đã khiến Thái tử TấtĐạt Đa có ý định từ bỏ cuộc sống giàu sang để đi tìm đạo lý cứu đời.
Sau 49 ngày đêm thiền định dưới cội Bồ Đề, Thái tử Tất Đạt Đa thành tựu đạo quả
Vô Thượng Bồ Đề và trở thành bậc Chính Đẳng Chính Giác, hiệu là Phật Thích Ca Mâu
Ni Ngài đã chứng đạo tối thượng, thể nhập chân lý của pháp giới, thấu tỏ bốn sự thật củathế gian - chính là Tứ Diệu Đế Khi đó, tâm Ngài lắng trong thanh tịnh, diệt trừ hoàn toànmọi đau khổ, cấu uế và phiền não trong tâm
Với lòng từ bi vô tận, Đức Phật muốn đem sự thật căn bản ấy thuyết giảng, giáo hóacho khắp muôn loài để đưa chúng sinh thoát vòng sinh tử luân hồi Vậy nên, Tứ Thánh đếđược Đức Phật thuyết ngay trong bài kinh đầu tiên; gọi là chuyển bánh xe Pháp và thuyếttrong bài kinh chuyển Pháp luân khi Đức Phật đến thành Ba La Nại, đến vườn Nai đểthuyết Pháp độ cho năm anh em ông Kiều Trần Như
Đây là một bài pháp sống động, thực tiễn, dựa trên kinh nghiệm giác ngộ mà chínhĐức Phật đã trải qua sau quá trình suốt 6 năm tìm thầy học đạo và 5 năm tu tập khổ hạnh.Toàn bộ bài pháp này trực tiếp hướng về nhân sinh, giải quyết vấn đề thực tiễn cấp báchcủa loài người, vì vậy, nó có giá trị vô cùng lớn lao đối với xã hội thời bấy giờ và vẫn còn
là liều thuốc vô giá cho loài người hàng ngàn năm sau cho mãi tới tận ngày nay
Trang 82.2 Nội dung của thuyết Tứ diệu đế
Tứ Diệu Đế được coi là cốt tủy, là xương sống của toàn bộ giáo pháp của Phật pháp.Tất cả giáo pháp của Đức Phật sau này đều là sự phát triển mở rộng dựa trên nền tảng của
Tứ Diệu Đế Tứ Diệu Đế chỉ rõ sự thật về cuộc sống khổ đau của con người, về nguồngốc nguyên nhân dẫn đến đau khổ, về sự chấm dứt đau khổ và phương pháp thực hànhdẫn đến việc chấm dứt khổ đau Giáo lý này bao hàm đầy đủ cả hai mặt lý thuyết và thựchành
Đức Phật đã dạy rằng: “Nếu con người ta không hiểu rõ Tứ Diệu Đế là gì thì không
có cách nào khác có thể tránh được con đường sinh tử luân hồi, không hiểu rõ Tứ Diệu
Đế là gì thì sẽ không thể nào tìm được con đường để thoát ly khổ đau, trầm luân từ kiếp này sang kiếp khác”.
Tứ Diệu Đế, tiếng Pāli viết là Cattāri Ariya Saccāni Catvāry trong Phạn ngữ cónghĩa là con số bốn Ārya là một từ trong tiếng Phạn xưa, có nguồn gốc từ thời Ấn - Ba
Tư, hay thời tiền Ấn - Âu Ārya có nhiều ý nghĩa như sau: Người phục vụ với lòng nhiệtthành, tận tâm, trung tín, trung thành, thân thiện, chăm sóc, cao quý, đẳng cấp thứ batrong bốn giai cấp Bà - la - môn, đức tính, quý tộc, tốt hơn, chúa, làm chủ, đáng kính,danh dự, thầy, chủ nhân, chân chính, chiến binh tinh thần, anh hùng, người đã làm việccho sự bình đẳng, tiến bộ, văn minh, các kinh nghiệm, người tiên tiến, cấp trên CònSatyāni được dịch ra là Đế, có các nghĩa là: Đúng, sự thực tế, sự thật, lời hứa, lời thề,chân thành, trung thực Như vậy, Cattāri Ariya Saccāni được dịch là “Tứ Diệu Đế” hay
“Tứ Thánh Đế” có nghĩa là “bốn chân lý cao cả” Bốn chân lý cao cả là gốc căn bản củagiáo pháp Phật giáo, đó là Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế
1 Khổ đế (Dukkha) Khổ đế là chân lý chắc thật, trình bày rõ ràng cho chúng ta thấy
tất cả những nỗi đau trên thế gian này mà mỗi chúng sinh đều phải chịu, như Sống là khổ,Ðau là khổ, Già là khổ, Chết là khổ v.v… Những nỗi khổ dẫy đầy trên thế gian, bao vâychúng ta, chìm đắm chúng ta như nước biển Do đó, đức Phật thường ví cõi đời là một bểkhổ mênh mông.
Trang 92 Tập đế (Sameda Dukkha) Tập đế là chân lý chắc thật, trình bày nguyên nhân của
bể khổ trần gian, là lý do vì đâu có những nỗi khổ ấy Khổ đế như là bản kê hiện trạngcủa chứng bệnh; còn Tập đế như là bản nói rõ nguyên nhân của chứng bệnh, lý do vì sao
có bệnh.
3 Diệt đế (Nirodha Dukkha) Diệt đế là chân lý chắc thật, trình bày rõ ràng hoàn
cảnh quả vị an lành, tốt đẹp mà chúng sinh sẽ đạt đến khi đã diệt trừ được những nỗi khổ
và những nguyên nhân của đau khổ Diệt đế như là một bản cam đoan của lương y nói rõsau khi người bệnh lành thì sẽ ăn ngon, ngủ yên như thế nào, thân thể sẽ tráng kiện, tâmhồn khoan khoái như thế nào.
4 Ðạo đế (Nirodha Gamadukkha) Ðạo đế là những phương pháp đúng đắn, chắc
thật để diệt trừ đau khổ Ðó là chân lý chỉ rõ con đường quyết định đi đến cảnh giới bàn Nói một cách giản dị, đó là những phương pháp tu hành để diệt khổ và được vui. Ðạo đế cũng như cái toa thuốc mà vị lương y đã kê ra để người bịnh mua và những lờichỉ dẫn mà bịnh nhân cần phải y theo để lành bệnh.
Trang 10Niết-CHƯƠNG II: NỘI DUNG THUYẾT TỨ DIỆU ĐẾ TRONG PHẬT GIÁO
1 “Khổ” trong Tứ diệu đế
Sự thật đầu tiên mà Đức Phật thấy rõ là Khổ đế Khổ là một sự thật trong cuộc đờinày Dù giàu có như vua, hay nghèo khổ như ăn mày thì chúng ta cũng bị khổ Ngườinghèo có cái khổ của người nghèo, người giàu cũng có nỗi khổ của người giàu. “Khổ”chỉ tất cả những gì mình không ưa thích, khiến mình khó chịu, làm mình mệt mỏi căngthẳng chán nản đau đớn và muốn chối bỏ, xua đuổi, buông xuôi “Đế” là chân lý bất dibất dịch không thay đổi
Thuyết nêu ra những nỗi khổ ở đời, bao gồm 8 nỗi khổ: Sinh khổ - khổ vì sinh ra ởđời, Lão khổ - khổ vì già, Bệnh khổ - Bệnh tật, ốm đau là khổ, Tử khổ - mất đi thân mạngnày là khổ, Ái biệt ly khổ – Yêu thương mà phải lìa xa là khổ, Cầu bất đắc khổ – Cầu
mong không được là khổ, Oán tăng hội khổ - oán giận nhau mà phải gần nhau là khổ,
Ngũ thụ uẩn khổ - khổ vì sự tồn tại của thân xác
Trang 11Thứ nhất, Sinh khổ - khổ vì sinh ra ở đời Chúng ta sinh ra là khổ Mẹ mang thai
mình, mẹ khổ không? Làm mẹ rất khổ Rồi đến ngày sinh nở, rất là khổ Chúng ta ở trongbụng mẹ 9 tháng 10 ngày, tối tăm, mù mịt Mẹ ăn nóng thì mình bị nóng, mẹ ăn lạnh thìmình bị lạnh; bị chèn ép trong bụng, trong tử cung của người mẹ Sinh ra, ta khổ quá thì
ta mới kêu “Oa oa” “Oa oa” nghĩa là “Khổ quá, khổ quá, khổ quá” Cho nên nhà vănNguyễn Gia Thiều từng nói: “Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra.” Mới đẻ lọt lòng mẹ đãbiết kêu “Khổ quá, khổ quá, khổ quá” rồi Cho nên mở màn cuộc đời là tiếng kêu khổ.Mình ra ngoài gặp nóng, gặp lạnh, thời tiết là thấy đau khổ rồi Trong bụng mẹ khác, rangoài khác Thế cho nên Phật gọi là sinh là khổ Đây là sự khổ đầu tiên mà ai cũng gặpphải
Thứ hai, Lão khổ - khổ vì già Già, đối với một con người, có nghĩa là tóc bạc, răngrụng, da nhăn nheo, lưng còng, tai điếc, mắt mờ Nói cách khác, sự tàn hoại, sự hoại diệt
đã có sẵn bên trong của những tập hợp Uẩn thuộc về tinh thần và thể xác (danh sắc), rất
dễ nhận ra từng ngày Sự già đi về mặt tâm trí thì khó nhận thấy hơn, nhưng đến lúcngười đã rất già, thì sự mất trí nhớ cũng như sự lão suy, sự lú lẫn sẽ diễn ra, cũng là lúcgần kề với sự ra đi, một chuyến đi xa mới Sự già đi từng ngày trong giai đoạn còn sớm,
là lúc những Uẩn về tinh thần và vật chất còn đang trong giai đoạn tĩnh tại, tăng trưởngbình thường và thực sự cũng không thể gọi là đau đớn hay đau khổ gì cả. Vì nó chính nótạo ra một nguồn cùa sự khổ sở về mặt tinh thần và thể xác, nên già được cho là Khổ
Thứ ba, Bệnh khổ – Bệnh tật, ốm đau là khổ Đúng rồi, bệnh thì không ai muốn rồi Ai
cũng thích mình mạnh khỏe, không một chút bệnh tật Người ta mới bảo là: “Không ốm,không đau làm giàu mấy chốc” là thế đấy Cho nên các phòng tập thể dục, tập gym mọc
ra khắp nơi nơi Ai cũng cầu sức khỏe, sức khỏe là số một Bị bệnh thì đau đớn, mệt mỏi,
rã rượi, chán đời Thật sự là không ai muốn bệnh tật Một sự thật trên thế gian là ai cũngmong cầu sức khỏe cũng như mong mỏi khi về già vẫn có sức khỏe Tuy nhiên, điều đókhông thể xảy ra trong cuộc đời của chúng ta Khi bị bệnh, chúng ta sẽ thấm thía đượcnỗi khổ mà bệnh tật mang đến
Trang 12Thứ tư, Tử khổ – Mất đi thân mạng này là khổ Chết là sự chấm dứt một mạng
sống, vốn đã liên tục sống và hiện hữu từ lúc sinh của một kiếp sống hay một sự hiện hữunào đó Mọi chúng sinh hữu tình (có cảm giác, có suy nghĩ) đều luôn luôn sợ chết Nhưngchết bản thân nó không phải là sự đau đớn hay đau khổ, vì chính nó chỉ là một khoảng
khắc (sát-na) hoại diệt nguồn lực sống của nhóm năm Uẩn của tinh thần và vật chất.
Tuy nhiên, khi cái chết đến, một người phải từ bỏ thân xác và bỏ lại gia đình quyếnthuộc, bạn hữu và của cải. Chính cái ý nghĩ rời bỏ kiếp sống hiện tại và bóng
tối mù mịt về tương lai thì thật là đáng sợ. Khi cái chết đến gần, tất cả chúng
sinh cũng thường bị trải qua những cơn đau bệnh trầm trọng và đa số sẽ phải chịu nhiềuđau đớn, quằn quại Chết, là nguồn gốc và tác nhân gây ra những lo sợ & thống
khổ như vậy, nên chết được xem là Khổ
Thứ năm, Ái biệt ly khổ – Yêu thương mà phải lìa xa là khổ Người thương yêu phải
xa lìa là khổ Những người mình yêu thương, mình quý mến mà mình phải xa lìa Tronggia đình cha mẹ ly thân với nhau, ly dị nhau; mình khổ Hoặc người bạn, người yêu củamình phải điều chuyển đi công tác xa, hay gia đình nhà anh đi nước ngoài mất Thế làmình khổ Mình muốn làm sao người thân, người yêu của mình cứ ở bên cạnh mình.Nhưng mà sự đời nó lại không được thế Nó toàn trái ý mình thôi Cái người mình muốn
ở gần mình, toàn không được ở gần Thế cho nên Đức Phật mới dạy: “Yêu thương phải
xa lìa là nỗi khổ của chúng ta” Chúng ta thấy chắc rằng thương nhau mà phải xa rời làmột sự khổ Mà sự khổ này chúng ta ai cũng phải trải qua Trong đời sống, có rất nhiềungười để chúng ta thương yêu như cha mẹ, vợ chồng, bạn bè,… Nhưng không phải aicũng ở với mình suốt cả cuộc đời Nếu gặp duyên sự phải chia xa sẽ sinh ra buồn bã, khổđau
Thứ sáu, Cầu bất đắc khổ – Cầu mong không được là khổ Trong cuộc đời, trong 2
chữ “Sinh”, “Tử” của chúng ta, tất cả ai cũng có mong cầu Ví như khi kết thúc khóa thi,con làm luận văn tốt nghiệp, con được điểm cao, con được bằng xuất sắc Hay cầu chocha con mạnh khỏe, cầu cho mẹ con mạnh khỏe, cho gia đình con được yên ổn. Chúng
ta thấy mình cầu vô số cái, cuộc đời chúng ta cầu mong nhiều lắm nhưng mà được mấy