MỤC LỤC I Khái quát chung về Watson và tâm lý học hành vi 1 1 Đôi nét về Watson 1 2 Sự phát triển của tâm lý học hành vi 3 2 1 Hành vi cổ điển 3 2 2 Hành vi mới 4 2 3 Hành vi chủ quan 5 II Lý thuyết t.
Trang 1MỤC LỤC
I Khái quát chung về Watson và tâm lý học hành vi 1
1 Đôi nét về Watson 1
2 Sự phát triển của tâm lý học hành vi 3
2.1 Hành vi cổ điển 3
2.2 Hành vi mới 4
2.3 Hành vi chủ quan 5
II Lý thuyết tâm lý học hành vi của Watson 6
1 Thuyết hành vi 6
2 Thí nghiệm “Little Albert” và ý nghĩa của thí nghiệm 9
3 Ứng dụng khác trong quảng cáo của Watson: “Coffee – break” 11
III Đánh giá 11
1 Ưu điểm 11
2 Khuyết điểm 13
Kết luận 14
Trang 3Mở đầu
Ngày này, tâm lý học đang phát triển cách mạnh mẽ không chỉ trong giới học thuật với các lý thuyết, quan điểm mà cả việc ứng dụng tâm lý vào trong đời sống từ lãnh vực kinh tế, chính trị đến văn hoá, tôn giáo…Trải qua quá trình tạo lập và xây dựng ngành tâm lý học, các nhà tâm lý học cũng nỗ lực tìm hiểu và lý giải tâm lý của con người dưới nhiều góc độ John Broadus Watson là một nhà tâm lý học người Mỹ, người đã hệ thống hóa và công
bố trường phái tâm lý học về hành vi với quan điểm được giới hạn trong việc nghiên cứu thực nghiệm, khách quan về các mối quan hệ giữa các sự kiện môi trường và hành vi của con người Chủ nghĩa hành vi của Watson đã trở thành nền tâm lý học thống trị ở Hoa Kỳ trong suốt những năm 1920 và 1930 Bên cạnh đó, ông cũng là người đã thúc đẩy sự thay đổi trong nền tâm lý học theo hướng khoa học hơn về phương pháp và toàn diện hơn về nội dung
Trong khuôn khổ giới hạn, bài viết dưới đây xin sơ lược qua về cuộc đời và tư tưởng của John Broadus Watson
I Khái quát chung về Watson và tâm lý học hành vi
1 Đôi nét về Watson
John Broadus Watson (1878 - 1958) là một nhà tâm lý học người Mỹ đã thành lập
trường phái tâm lý học về hành vi. Watson được sinh ra ở Traveller Rest, South Carolina, với cha là Pickens Butler và mẹ là Emma Kesiah Watson. Mẹ Watson là một phụ nữ rất sùng đạo đặt tên Watson theo một mục sư Baptist nổi tiếng với hy vọng điều đó sẽ giúp anh nhận được lời kêu gọi rao giảng Tin Mừng Khi nuôi dạy con, bà đã bắt Watson phải tham gia khóa huấn luyện tôn giáo khắc nghiệt mà sau đó đã khiến anh ta phát triển ác cảm suốt đời đối với mọi hình thức tôn giáo và trở thành người vô thần Người cha nghiện rượu của anh đã rời bỏ gia đình để sống với hai người phụ nữ Ấn Độ khi Watson 13 tuổi Gia đình Watson đã chuyển nhiều chỗ khác nhau tạo cho anh cơ hội trải nghiệm nhiều loại người khác nhau, với kinh nghiệm này anh đã từng trau dồi lý thuyết về tâm lý học
Do học lực kém, nên Watson đã hoàn thành một vài khóa học tâm lý tại Đại học Furman, Nam Carolina, nhưng không xuất sắc
Trang 4Năm 1903 J.Watson nhận bằng tiến sỹ triết học của Đại học tổng hợp Chicago Luận án của ông mang tên “Dạy động vật: sự phát triển thể chất của chuột bạch” Một đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực tâm lý học động vật
Năm 1908 J Watson đã được đề nghị chức giáo sư Đại học tổng hợp John Hốpkin Watson đã sống ở đây 12 năm và đây là thời gian thành đạt nhất của ông Watson từng giữ chức Chủ nhiệm bộ môn tâm lý học của trường đại học này và Biên tập viên của tạp chí có danh tiếng “Bình luận tâm lý học”
Ở độ tuổi 31 J.Watson đã trở thành một nhân vật quan trọng trong tâm lý học Mĩ Ông đã ở đúng vị trí và đúng thời điểm
Từ năm 1903 ông đã bắt đầu suy nghĩ nghiêm túc về cách tiếp cận khách quan hơn đối với tâm lý học và lần đầu tiên ông phát biểu những ý tưởng ấy vào năm 1908 ở Bantimo Trong bài viết của mình J.Watson khẳng định rằng lý thuyết về các quá trình tâm lý hay các quá trình tư duy "không có giá trị khoa học nào cả" Năm sau ông cho công bố bài viết của mình trong tạp chí “Bình luận tâm lý học”: Tâm lý học dưới con mắt của Nhà hành vi Bài báo này được coi là tuyên ngôn của Tâm lý học hành vi, với tư cách là một chuyên ngành khoa học
Chỉ 2 năm sau khi công bố bài viết trên, J Watson đã được bầu là Chủ tịch hội tâm
lý học Mĩ Lúc đó ông mới 37 tuổi
Hoạt động nghề nghiệp của J.Watson đã bị đứt quãng bởi chiến tranh thế giới lần thứ nhất, ông trở thành thiếu tá không quân Sau chiến tranh, vào năm 1918 ông bắt đầu tiến hành nghiên cứu trẻ em, điều này đã trở thành một trong những nỗ lực ban đầu tiến hành thực nghiệm trên trẻ em
Cuốn sách được công bố năm 1919: “Tâm lý học dưới con mắt của Nhà hành vi” Đây là sự trình bày đầy đủ nhất những luận điểm cơ bản của Thuyết hành vi và khẳng định rằng những phương pháp và nguyên tắc được gợi ý đối với tâm lý động vật là thích hợp cả trong nghiên cứu hành vi con người
Trong các bài viết của mình, J.Watson đã cố gắng đưa những tư tưởng của Thuyết hành vi đến đông đảo công chúng Ông trình bày mọi vấn đề một cách đơn giản và dễ hiểu, thậm chí cả bằng ngôn ngữ thô thiển J.Watson vẫn bị nhiều giới khoa học xa lánh
Trang 5Sự tiếp xúc chính thức duy nhất của J.Watson với tâm lý học kinh viện (lý luận) là một loạt bài giảng của ông trong một trường mới ra thành phố New York, nghiên cứu những vấn đề xã hội Những bài giảng này là nền tảng cho cuốn sách trong tương lai “Thuyết hành vi” (1925) Trong đó ông trình bày chương trình của mình về sự lành mạnh hoá đạo đức - xã hội
Năm 1928, ông công bố cuốn sách "Giáo dục tâm lý trẻ em", trong đó mô tả những quy tắc chặt chẽ của hệ thống giáo dục trẻ - hệ thống tạo điều kiện hình thành ở trẻ những mối liên hệ bền vững với môi trường xung quanh
Năm 1957, khi J.Watson 79 tuổi, Hiệp hội tâm lý học Mĩ đã biểu quyết đưa tên ông vào danh sách danh dự đánh giá ông là một trong những người quyết định trong tâm lý học hiện đại, là xuất phát điểm của nhiều nghiên cứu thành công theo các hướng khác nhau Người ta mời J.Watson đến dự buổi lễ trọng thể này, nhưng vào phút chót ông đã
từ chối và yêu cầu cho con trai cả thay mình Ông sợ rằng trong giờ phút trọng đại, do xúc động, ông sẽ không kiểm soát được hành vi của mình"
Ông mất vào năm 1958, trước đó ông đã đốt tất cả thư, bản viết tay Ông không để lại cái gì cho các nhà lịch sử
2 Sự phát triển của tâm lý học hành vi
2.1 Hành vi cổ điển
Trường phái tâm lý học hành vi tuyên bố không quan tâm đến việc mô tả, giảng giải các trạng thái tâm lý của ý thức mà chỉ quan tâm đến hành vi của tồn tại người, đối tượng của tâm lý học hành vi là hành vi con người
J.Watson cho rằng: “Chỉ có hành vi của tồn tại người mới là đối tượng của thuyết hành vi, còn kí ức chỉ là một cái gì đó vu vơ, vô ích”
Theo đó, hành vi được xem là tổ hợp các phản ứng của cơ thể trước các kích thích của môi trường bên ngoài
Nghiên cứu hành vi của con người, điều ấy có nghĩa là đưa cuộc sống của con người trở thành đối tượng của tâm lý học Chẳng cần phải nói, ai cũng có thể thấy hành vi là cái gì
và nó tồn tại trong hiện thực một cách khách quan Nếu như trong tâm lý học truyền thống chỉ tìm hiểu nội quan thì tâm lý học hành vi lại là một bước tiến đáng kể, nghiên cứu nguồn
Trang 6gốc sinh ra “tâm hồn”, “hồn”, “tâm lý” Khái niệm hành vi dược xây dựng trên nền móng của sự chứng thực có thể quan sát từ phía ngoài
Tâm lý (của cả người và con vật) chỉ là các dạng hành vi khác nhau Hành vi là tập hợp các phản ứng R của cơ thể đáp lại các kích thích từ môi trường bên ngoài S, sơ đồ S →
R Nhiệm vụ của các nhà tâm lí học là mô tả và lượng hóa các hành vi đó, đúng như nó diễn
ra trong tình huống xác định Phương pháp của nhà tâm lí học là quan sát khách quan và thực nghiệm các phản ứng của cơ thể khi có tác nhân kích thích, nhằm mục đích xác định tương quan giữa kích thích và phản ứng
Chính sự quan sát đó là lập trường hiện thực của tâm lý học hành vi và toàn bộ cuộc sống của con người được xem như lịch sử của tính tích cực, từ đó hình thành khái niệm
“dòng tính tích cực”, đó là toàn bộ hành vi do các trả lời đơn thuần đối với các kích thích
Hầu hết các thực nghiệm của trường phái hành vi được thực hiện trên động vật (chuột, chim
bồ câu…) sau đó, các kết quả này được ứng dụng trên con người Cơ sở sinh lí thần kinh được quan tâm trong các thực nghiệm là phản xạ có điều kiện Cơ chế hình thành các hành
vi là sự mò mẫm của chủ thể, theo nguyên tắc “thử và sai” qua nhiều lần cho tới khi xác lập được các phản ứng phù hợp, luyện tập và củng cố nó
Theo các nhà tâm lý học hành vi, hành vi trí tuệ (của cả người và động vật) là các phản ứng có hiệu quả mà cá thể (chủ thể) học được, nhằm đáp lại các kích thích của môi trường sống Trong các công trình của J.Watson, hành vi trí tuệ được đồng nhất với ngôn ngữ bên trong
2.2 Hành vi mới
Vào ngay những năm đầu của thập kỷ thứ ba thế kỷ XX đã bắt đầu xuất hiện khủng hoảng tâm lý học kiểu Watson
Các đại biểu xây dựng lên thuyết hành vi mới là E.Tolman (1886-1959), K.Hull (1884-1952) Thuyết hành vi mới ở chỗ, trong công thức S-R truyền thống, những nhà hành vi mới đưa thêm vào các biến số trung gian làm khâu gián tiếp dẫn đến các kích thích và phản ứng Theo chủ nghĩa hành vi mới, năm 1922, trong “Công thức mới của thuyết hành vi” đã cho rằng “tâm lý học hành vi S-R” thuần túy của Watson chỉ là sinh lý học về hành vi, vì thế
đã đề ra “thuyết hành vi không sinh lý học” và gọi nó là “thuyết hành vi mới” Năm 1929,
Trang 7báo cáo “giải thích phản xạ có điều kiện theo chức năng” của Hull đưa ra đã tạo thêm điều kiện thúc đẩy thuyết hành vi mới phát triển
Theo chủ nghĩa hành vi mới, các biến số trung gian hiểu theo tinh thần thuyết tạo tác,
cụ thể là các kiến tạo lý luận có khả năng xác lập các quy luật chủ yếu của hành vi Chính nhờ các “kiến tạo lý luận”, “các yếu tố trung gian”, “các biến số can thiệp” và dùng các thuật ngữ của tâm lý học chủ quan mà có thể phân tích một cách khoa học các sự kiện thu thập được và giải thích chúng một các chính xác, nhờ vậy, theo các nhà hành vi mới đã định, có thể đưa thuyết hành vi ra khỏi tình trạng khủng hoảng
2.3 Hành vi chủ quan
Thuyết hành vi chủ quan - thuyết “TOTE” - chữ đầu của các từ tiếng Anh: T: Test, O: Operate; T: Test, E: Exit, tức là thuyết thử - thao tác - thử - thoát ra Đại biểu là O.Mille, Galanter, Pribram Thuyết này là tổng hợp của thuyết hành vi với tâm lý học nội quan, giữ hành vi lại làm đối tượng của tâm lý học Công thức trên bắt đầu từ sự tác động là cơ thể; hành vi nói chung tuân thủ sự kiểm tra của kế hoạch và biểu tượng, tức là của hoạt động tượng trưng
Theo thuyết này, bên trong cơ thể là các cơ chế, các quá trình gián tiếp giữa phản ứng với kích thích Cho rằng, hình ảnh và kế hoạch là hai yếu tố liên kết kích thích với phản ứng Hình ảnh là tri giác được tích lũy, được tổ chức trong cơ thể về bản thân về thế giới mà
cơ thể đang tồn tại trong đó Còn kế hoạch là quá trình được xây dựng kiểu thứ bậc của cơ thể, có khả năng kiểm tra các trật tự của thao tác Hình ảnh mang tính chất thông tin, còn kế hoạch đề cập đến các thuật toán của hành vi Hành vi chỉ là một loạt các cử động, còn con người là một cái máy vi tính phức tạp Chiến lược của kế hoạch được xây dựng trên các lần thử, tiến hành trong các điều kiện đã được định sẵn Thử nghiệm là sơ sở của quá trình hành
vi trọn vẹn, từ đó mà các thao tác diễn ra một cách chính xác Như vậy, hệ thống TOTE bao hàm cả tư tưởng liên hệ ngược, vì vậy mỗi một thao tác của cơ thể diễn ra thường xuyên được điều chỉnh bởi kết của của các thử nghiệm khác nhau
Hành vi chủ quan coi hành vi của con người một cách phi xã hội, quan niệm về con người phi lịch sử - đặc trưng đã làm cho hành vi chủ quan không phát hiện ra thực chất về tâm lý con người và chức năng thực sự của tâm lý trong cuộc sống, trong hoạt động của con
người.
II Lý thuyết tâm lý học hành vi của Watson
Trang 81 Thuyết hành vi
Hành vi có thể quan sát được, còn tâm trí thì không
Tâm lý học ra đời khi Wilhelm Wundt khai trương phòng thí nghiệm đầu tiên vào năm
1879 với sự quan tâm đặc biệt vào các khối cấu trúc trí tuệ và chuyên tâm nghiên cứu nó Điều này tác động rất lớn vào hướng phát triển của tâm lí học mấy thập kỉ tiếp theo khi chú trọng đến tâm trí, nhận thức theo hướng nội quan Ví dụ, Wundt và các người theo ông dựa trên phân tích cảm giác của đối tượng nghiên cứu miêu tả cho họ, từ đó họ nghĩ là chìa khóa
để phân tích cấu trúc của tâm trí Tuy nhiên, phương pháp nội quan bị giới chuyên môn chỉ trích bởi thiếu khoa học vì chỉ phụ thuộc vào việc tự báo cáo của các đối tượng, có thể bị sai lệch, thay vì dựa trên các phép đo khách quan
Không đồng ý với phương pháp đang được sử dụng của tâm lí học, Watson đã đưa ra thuyết tâm lý học hành vi của mình Trong lý thuyết của mình, Watson gạt bỏ việc xem xét nội tâm và đánh giá chủ quan của vô thức và trạng thái tinh thần bên trong vì cho rằng chúng không thể mang đến những đánh giá khách quan Ông không quan tâm đến việc mô
tả, giảng giải các trạng thái tâm lý của ý thức mà chỉ quan tâm đến hành vi của con người thực hiện trong cuộc sống Từ đó, ông xác định đối tượng của tâm lý học hành vi là hành vi con người và hành vi được xem là tổ hợp các phản ứng của cơ thể trước các kích thích của môi trường bên ngoài Như thế, tâm lý học từ việc chỉ tìm hiểu nội quan được nới rộng ra để nghiên cứu từ phía bên ngoài
Watson đã nêu lên một quan điểm tiến bộ trong tâm lý học: coi hành vi là do ngoại cảnh quyết định, có thể quan sát được, nghiên cứu được một cách khách quan Nhiệm vụ của các nhà tâm lí học cần mô tả và lượng hóa các hành vi đó, đúng như nó diễn ra trong tình huống xác định
Hành vi là kết quả của kích thích gây phản ứng
Watson cho rằng tâm lý chỉ là các dạng hành vi khác nhau Áp dụng kết quả của thí nghiệm về quá trình điều hòa cổ điển ở loài chó của Pavlov, ông xác định hành vi là tập hợp các phản ứng của cơ thể (R) đáp lại các kích thích từ môi trường bên ngoài (S) theo một công thức nhất định diễn tả qua mô hình kích thích (S) -> phản ứng (R) Hành vi = kích thích – phản ứng Vì thế, hành vi được hiểu là tổng số các cử động bên ngoài nảy sinh ở cơ thể nhằm đáp lại một kích thích nào đó Do đó, phương pháp mà Watson đưa ra là quan sát
Trang 9khách quan và thực nghiệm các phản ứng của cơ thể khi có tác nhân kích thích, nhằm mục đích xác định tương quan giữa kích thích và phản ứng Watson cũng lấy nguyên tắc “thử -sai” làm nguyên tắc để xây dựng các thực nghiệm điều khiển hành vi Tức dựa trên các thay đổi có điều kiện và theo lộ trình, nhà tâm lí học điều chỉnh các cơ chế kích thích cho tới khi xác lập được các phản ứng phù hợp, luyện tập và củng cố nó
Hầu hết các thực nghiệm của Watson trước hết được thực hiện trên động vật (chuột bạch, chim bồ câu) theo lộ trình thực nghiệm bốn phương pháp: quan sát, phản xạ có điều kiện, thử nghiệm và các báo cáo bằng lời Khi đã có được kết quả thì được ứng dụng trên con người Theo Watson, mọi phản ứng, hành vi được phân loại theo hai tiêu chí: là phản ứng tiếp thu hay di truyền; phản ứng bên trong hay phản ứng bên ngoài Kết quả, ông đã phân chia hành vi mà con người thực hiện thành bốn loại gồm:
- Hành vi bên ngoài hay tiếp thu nhìn thấy được: nói, viết, chơi trò chơi,
- Hành vi bên trong và tiếp thu nhưng ở dạng giấu kín: suy nghĩ, tư duy,
- Hành vi tự động minh nhiên tức bên ngoài nhìn thấy được và di truyền: nháy mắt, khịt mũi, cũng như các phản ứng yêu thương, cáu giận,
- Hành vi tự động mặc nhiên tức bên trong giấu kín và di truyền, là phản ứng các tuyến nội tiết: sự tiết dịch và các biến đổi về tuần hoàn Ông còn phân biệt giữa phản ứng bản năng và phản ứng cảm xúc nơi con người
Hành vi là kết quả của môi trường sống
Watson cũng cho rằng, kích thích có thể là một tình huống tổng quát của môi trường hay một điều kiện bên trong nào đó của sinh vật, phản ứng là bất cứ cái gì mà sinh vật làm
và nó bao gồm sự liên kết phức tạp Dù có một số khác biệt di truyền có thể ảnh hưởng đến tính cách con người, tuy nhiên ông vẫn cho rằng kinh nghiệm mới là thứ quyết định chính con người đó là người như thế nào Nghĩa là sự liên kết giữa các phản xạ cơ thể với tình huống thực tế trong cuộc sống dần làm nên những điểm khác biệt giữa con người Con người là tồn tại xã hội, tức là cơ thể làm việc, tương tác theo sự thích nghi với môi trường xung quanh; từ đó tạo ra một tổ hợp phản ứng phức tạp, tổ hợp lại thành các tập hợp phản ứng và với các hành vi cổ điển thì các tập hợp ấy được thực hiện chung bởi hệ thống chung của các điều kiện Chính vì thế, Watson coi con người như là “một cơ thể phản ứng” hay là
“một cái máy sinh học nghiêm túc” Đồng thời, Watson gạt bỏ những ý tưởng liên quan đến
Trang 10bản năng và cho rằng đó chỉ là những phản xạ cơ bản của trẻ sơ sinh, mặc dù trước đó ông thường viết về bản năng trong lý thuyết của mình
Watson cũng tin rằng những cảm xúc cơ bản có tính di truyền của con người bao gồm
sợ, yêu, giận và đó cũng chính là nguồn bắt đầu của những cảm xúc khác được khơi dậy bởi những kích thích khác Theo Watson, ba khía cạnh quan trọng của cảm xúc là các kích thích khơi dậy cảm xúc, các phản ứng bên trong, các phản ứng bên ngoài
Việc học tập ở người có thể được điều khiển
Qua các kết quả rút ra từ thực nghiệm, Watson cho rằng cơ sở sinh lí thần kinh được quan tâm trong các thực nghiệm là phản xạ có điều kiện Vì thế, về cơ bản, hành vi con người là có thể điều khiển và thay đổi dựa trên sự thay đổi kích thích lên cơ thể để hình thành các mối liên hệ “cơ thể - môi trường” Việc coi nhẹ tính tích cực của chủ thể, đề cao vai trò của kích thích bên ngoài trong việc tạo ra các phản ứng, Watson nghiên cứu và điều khiển việc hình thành hành vi trí tuệ được quy về việc nghiên cứu tạo ra môi trường các kích thích, được sắp xếp theo logic cho phép hình thành các phản ứng mong muốn, tức quá trình “điều kiện hóa hành vi”
Điều này được thể hiện rõ qua phát biểu của Watson rằng: “Hãy cho tôi một tá trẻ em khỏe mạnh, phát triển bình thường và thế giới của riêng tôi, trong đó tôi có thể chăm sóc cho chúng và tôi cam đoan rằng khi chọn một cách ngẫu nhiên một đứa trẻ, tôi có thể biến
nó thành một chuyên gia bất cứ lĩnh vực nào – một bác sĩ, một luật sư, một thương gia hay thậm chí một kẻ trộm cắp hạ đẳng – không phụ thuộc vào tư chất và năng lực của nó, vào nghề nghiệp và chủng tộc của cha ông nó”.1 Theo đó, Watson muốn thực hiện một trong những nhiệm vụ hàng đầu của tâm lý học là điều khiển hành vi con người sao cho thỏa mãn nhu cầu xã hội Với Watson, con người được xây dựng nên, chứ không phải tự sinh ra; nhân cách là sự sáng tạo của con người, chứ không phải là bẩm sinh.2 Ông đã thực hiện tất cả những điều trên qua một thí nghiệm gây tranh cãi nhiều trong lịch sử tâm lí học – thí nghiệm Little Albert