LỜI CẢM ƠN Trong thời gian nghiên cứu đề tài sinh trưởng của cây Hoàng đằng - Fibraurea tinctoria Lour trồng năm thứ 3 tại xã Thông Thụ huyện Quế Phong tỉnh Nghệ An , em đã nhận được rấ
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Cơ sở khoa học
Cây Hoàng đằng được liệt kê trong Danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm IIA) theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP, nhằm hạn chế khai thác vì mục đích thương mại Theo Sách đỏ Việt Nam (1996), Hoàng đằng có khả năng tái sinh chồi trên thân già và rễ vào mùa xuân, nhưng hiếm gặp cây cái do khả năng tái sinh bằng hạt rất thấp Cây thường sống dưới tán rừng thứ sinh, ở độ cao từ 10 - 200 m, trên đất cát lẫn đất đá và ưa ẩm Hiện nay, cây đang bị khai thác quá mức để làm nguyên liệu chế biến dược liệu, dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng cao Do đó, việc gây trồng cây Hoàng đằng là cần thiết để phát triển và bảo tồn nguồn gen của loài thực vật quý hiếm này.
Cây Hoàng đằng được liệt kê trong Danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm IIA) theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP, nhằm hạn chế khai thác vì mục đích thương mại Theo Sách đỏ Việt Nam (1996), Hoàng đằng có khả năng tái sinh chồi trên thân già và rễ vào mùa xuân, nhưng cây cái hiếm gặp do khả năng tái sinh bằng hạt rất thấp Cây thường sống dưới tán rừng thứ sinh, ở độ cao từ 10 - 200 m, trên đất cát lẫn đất đá và ưa ẩm Hiện nay, cây đang bị khai thác quá mức để làm nguyên liệu chế biến dược liệu, dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng cao Do đó, việc gây trồng cây Hoàng đằng là cần thiết để phát triển và bảo tồn nguồn gen của loài cây quý hiếm này.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới:
Chữa bệnh bằng cây cỏ đang trở thành xu hướng toàn cầu, theo Hoàng Tích Huyền (2011) Trong 30 năm qua, Viện Ung thư Hoa Kỳ (CNI) đã nghiên cứu hơn 40.000 mẫu cây thuốc và phát hiện hàng trăm loại có khả năng chữa trị ung thư Hiện nay, 25% đơn thuốc tại Mỹ sử dụng chế phẩm dược tính từ thực vật Tại Madagascar, cây Hồng hoa (Catharanthus roseus) được sử dụng để điều trị bệnh máu trắng ở trẻ em, giúp tăng tỉ lệ sống cho các em.
Lê Tùng Châu và Nguyễn Văn Tập (1996) đã nghiên cứu tác dụng chữa bệnh của các loài cây thuốc và bản chất hóa học của dược liệu, cho thấy rằng hầu hết các cây cỏ đều có tính kháng sinh, đóng vai trò quan trọng trong hệ miễn dịch tự nhiên Tác dụng kháng khuẩn của chúng chủ yếu đến từ các hợp chất tự nhiên như sulfua, saponin (trong Allium odium), becberin (trong Coptis chinensis Franch) và tamin (trong Zizyphus jujuba Miller) Mỗi loài cây có công năng riêng và được sử dụng theo bản sắc dân tộc tại từng địa phương.
Các vùng nhiệt đới trên thế giới, như lưu vực sông Amazon, Đông Nam Á, Ấn Độ - Malaixia và Tây Phi, chứa đựng nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng Những khu vực này không chỉ là kho tàng cây cỏ khổng lồ mà còn giàu có về tri thức sử dụng, mang lại tiềm năng lớn cho nghiên cứu và phát triển dược phẩm mới từ thực vật.
Theo Tran Cong Khanh và cs (2002), Trung Quốc không chỉ có nền y học cổ truyền của người Hán mà còn có các nền y học dân tộc cổ truyền của các cộng đồng không phải người Hán, với dân số khoảng 100 triệu người Những nền y học này sử dụng khoảng 8.000 loài cây cỏ làm thuốc, trong đó có 5 nền y học chính: y học cổ truyền Tây Tạng (sử dụng 3.294 loài), Mông Cổ (1.430 loài), Ugur và Thái (800 loài).
- Nghiên cứu về thành phần hóa học và tác dụng dược lý của cây Hoàng đằng trên thế giới
Gao-Xiong Rao và các cộng sự (2009) đã nghiên cứu các thành phần hóa học của cây Hoàng đằng bằng phương pháp phân tích quang phổ, phát hiện ra một loại alkaloid mới là 1,2-methylenedioxy-8-hydroxy-6a (R)-aporphine Thân cây Hoàng đằng được biết đến như một loại thảo dược có hiệu quả trong việc chống nấm.
Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria) chứa các hoạt chất có khả năng chống viêm và chống ôxy hóa, bao gồm Furanoditerpene glucosides Nghiên cứu của Irokawa và cộng sự (Phytochemistry, 1986) đã chỉ ra sự hiện diện của các hợp chất này trong Hoàng đằng.
3 diterpenglycosist là tenophylloside 3, fibleucinoside 4 và fibraurinoside 5 Trước đó một số tác giả đã phát hiện 2 diterpen khác là fibleucine 1 và fibraucine
Hoàng đằng có tác dụng ức chế các bệnh do vi trùng gây ra, đặc biệt là trong việc điều trị lị trực trùng Thành phần chính của Hoàng đằng là palmatin, chiếm tỷ lệ từ 1-3,5%, bên cạnh đó còn chứa một lượng nhỏ jatrorrhizin và columbamin.
+ Công dụng, tầm quan trọng của alkaloid và nguyên liệu chứa alkaloid
Alkaloid là những hợp chất có hoạt tính sinh học mạnh và có nhiều chất độc Tác dụng của alkaloid có thể khác nhau, và các nguyên liệu thu hái không phải lúc nào cũng mang lại tác dụng giống như alkaloid tinh khiết Chúng ta cần xem xét một cách tổng quát mà không bỏ qua các tác dụng khác nhau tùy thuộc vào liều điều trị và độc.
Nhiều alkaloid ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương, với tác dụng ức chế như morphin, codein, scopolamin, reserpin, hoặc kích thích như strychnin, cafein, lobelin Một số chất tác động lên hệ thần kinh giao cảm, gây kích thích như ephedrin, hordenin, trong khi các chất khác như ergotamin, yohimbin làm liệt hệ thần kinh giao cảm Ngoài ra, có những chất kích thích phó giao cảm như philocarpin, eserin, và các chất gây liệt phó giao cảm như hyoscyamin, atropin, cùng với những chất phóng bế hoạch giao cảm như nicotin, spartein, conin.
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước:
Hoàng đằng, còn được gọi là Hoàng liên đằng, dây vàng giang, và Nam hoàng liên, là vị thuốc được chiết xuất từ thân già và rễ phơi khô của cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria hoặc Fibraurea recisa) Cây này phân bố rộng rãi trên thế giới, từ Ấn Độ, Malaysia, Lào, Campuchia, Philippines đến Indonesia Tại Việt Nam, Hoàng đằng được tìm thấy ở các tỉnh như Hòa Bình, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Lào Cai, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng và Quảng Nam.
Cây sống dưới tán rừng thứ sinh ở các khu vực như Phú Yên (Sông Cầu), Khánh Hòa (Nha Trang), Kom Tum (Đăk Gle, Sa Thầy) và Lâm Đồng (Đan Kia, Bảo Lộc) thường phát triển ở độ cao từ 10 đến 200m Chúng mọc trên đất hoặc trên đất lẫn đá, ưa ẩm và thường xuất hiện hoang dại ở ven rừng, nơi có khí hậu ẩm mát, thung lũng và bờ suối.
Sách đỏ Việt Nam (1996) xếp Hoàng đằng vào tình trạng cấp V, có nguy cơ tuyệt chủng do nạn phá rừng và khai thác bừa bãi Danh mục đỏ Việt Nam phân hạng Hoàng đằng ở hạng VU a1b, c, d, với cơ sở phân hạng là mặc dù loài này có phân bố rộng, nhưng nhiều khu rừng bị chặt phá nghiêm trọng Cây Hoàng đằng cũng bị khai thác để làm thuốc Đề nghị biện pháp bảo vệ bao gồm cấm phá rừng và lập kế hoạch luân chuyển để cây có thể tái sinh Tại Quảng Bình, tỉnh có rừng che phủ cao, cơn sốt Hoàng đằng đã dẫn đến việc hạ sát những khoảnh rừng cấm để tìm kiếm loài này, mặc dù nhiều người dân không biết rõ công dụng của Hoàng đằng mà chỉ thấy giá trị kinh tế cao nên đổ xô đi tìm.
Tất cả các bộ phận của cây Hoàng đằng, bao gồm thân cây, rễ và lá, đều được tiểu thương thu mua với giá cao Sau đó, sản phẩm này được xuất khẩu sang Trung Quốc để sử dụng trong ngành thuốc bắc.
Hoàng đằng là một loại cây thuốc quý ở Việt Nam, được sử dụng để thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu và chữa trị nhiều bệnh như đinh nhọt, viêm ruột cấp tính, đau họng, viêm kết mạc, và bệnh hoàng đảm Rễ cây Hoàng đằng có giá trị cao, dẫn đến việc khai thác bừa bãi, ảnh hưởng đến môi trường Người dân thường bán rễ Hoàng đằng cho thương lái với giá từ 5.000-10.000 đồng/kg, trong khi giá tiêu thụ có thể lên tới 17.000-18.000 đồng/kg Để bảo vệ nguồn tài nguyên này, Chi cục Kiểm lâm Quảng Bình đã bắt giữ 60.458kg Hoàng đằng vào năm 2009.
Ngọc Lý (2010) cho biết Trung tâm tư vấn, quản lý bền vững tài nguyên và phát triển văn hóa cộng đồng Đông Nam Á (CIRUM) đã khảo sát tình hình cây dược liệu tại Lạng Sơn và cảnh báo về sự cạn kiệt nguồn thuốc nam Tổ chức này đã sưu tầm các cây thuốc quý để bảo tồn tại các khu vườn thuốc nam ở địa phương Tuy nhiên, nhiều cây thuốc quý khó tìm kiếm và nhân giống Nếu không có chính sách bảo vệ kịp thời từ các cấp chính quyền, nguồn dược liệu quý ở vùng Đông Bắc sẽ sớm biến mất.
Tổng quan về khu vực nghiên cứu
2.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
- Tọa độ: Nằm trong khoảng 19 o 26’ đến 20 o vĩ độ Bắc, 104 o 30’ đến 105 o 10’ kinh Đông
- Địa giới hành chính của huyện trải rộng trên 13 xã và 01 thị trấn:
+ Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá
+ Phía Nam giáp huyện Tương Dương
+ Phía Đông giáp huyện Quỳ Châu
+ Phía Tây giáp huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, Nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào
Huyện Quế Phong cách thành phố Vinh 180km, có 15km đường quốc lộ
Huyện có 48 tuyến đường chạy qua, nhưng giao thông nội huyện và kết nối kinh tế với bên ngoài vẫn gặp nhiều khó khăn Nằm trong vùng kinh tế Tây Nghệ An đã được Thủ tướng phê duyệt, huyện này giữ vị trí quan trọng và chiến lược về an ninh quốc phòng.
Trong vùng có 3 dạng địa hình chính: a Địa hình đồi núi cao
Khu vực này nổi bật với địa hình đặc trưng, bao gồm các dải núi cao trên 1.000m, chủ yếu tập trung ở ba xã Đồng Văn, Thông Thụ và Hạnh Dịch Địa hình bị chi cắt mạnh bởi các dãy núi cao và hệ thống sông suối dày đặc, trong đó có dãy núi Trường Sơn với độ cao từ 1.600 đến 1.828m, núi Chóp Cháp cao 1.705m, và đỉnh cao nhất là Phù Hoạt với độ cao 2.452m, cùng với núi Pả Môn (1.197m) và núi Canh.
Cỏ (1.123m) và Núi Mong (1.071m) có địa hình dốc trên 30 độ, dễ xảy ra sạt lở và trượt đất, chiếm gần 52% diện tích tự nhiên Đây là vùng thượng lưu của hai con sông lớn: sông Chu và sông Hiếu Thảm thực vật chủ yếu là rừng tự nhiên, đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì độ che phủ đất rừng, bảo vệ môi trường và điều hòa khí hậu trong khu vực.
Khu vực này bao gồm các dãy đồi núi có độ cao trung bình từ 250 đến 850m, nằm ở phía Tây Nam của huyện, tập trung chủ yếu ở các xã Châu Thôn, Cắm Muộn, Quang Phong, Nậm Nhoóng, Tri Lễ và Nậm Giải Diện tích của khu vực chiếm 50% tổng diện tích tự nhiên, với thảm thực vật chủ yếu là rừng tự nhiên và rừng trồng đặc sản như quế, cùng với các loại rừng nguyên liệu gỗ như keo lai, mỡ, trám Ngoài ra, còn có diện tích đất đồi núi chưa sử dụng, có tiềm năng khai thác cho sản xuất nông nghiệp, bao gồm trồng cây ăn quả, làm nương rẫy, ruộng bậc thang và trồng rừng theo mô hình nông lâm kết hợp.
Các thung lũng nằm dưới chân núi cao và dải đất bằng dọc hai bên bờ suối, với diện tích từ 300 đến 400 ha, tập trung chủ yếu ở các xã Mường Nọc, Châu Kim, Quế Sơn, Tiền Phong và thị trấn Kim Sơn Độ dốc từ 3 - 5 độ rất thuận lợi cho canh tác, tạo điều kiện cho vùng sản xuất lúa, rau và màu lớn của huyện Quế Phong Sông suối phân bố tương đối đều trên địa bàn.
Huyện Quế Phong có 04 con sông chính, phân bố đều từ Tây Bắc sang Tây Nam:
- Sông Chu bắt nguồn từ Lào chảy qua các xã Đồng Văn, Thông Thụ, huyện Quế Phong về Thanh Hoá
- Sông Nậm Việc (đầu nguồn sông Hiếu) bắt nguồn từ biên giới và huyện qua xã Hạnh Dịch chảy về phía Nam huyện vào địa phận huyện Quỳ Châu
- Sông Nậm Quàng là một nhánh lớn của sông Hiếu bắt nguồn từ biên giới Việt Lào ở xã Tri Lễ dài 71km, diện tích lưu vực 594,8km 2
Sông Nậm Giải, một nhánh của sông Hiếu, bắt nguồn từ biên giới Việt Lào, dài 43km và chảy qua các xã Châu Kim, Mường Nọc Với hệ thống sông suối dày đặc và địa hình cao, khu vực này có tiềm năng lớn để phát triển các công trình thủy điện phục vụ lợi ích quốc gia và xã hội Hiện tại, huyện đã có 06 công trình thủy điện được đầu tư xây dựng, bao gồm Thủy điện Hủa Na, Nhãn Hạt, bản Cốc, Sao Va, sông Quang, và Châu Thôn, với tổng công suất gần 280 MW, trong đó 02 công trình đã đi vào vận hành và hòa vào mạng lưới điện quốc gia.
Thác Sao Va là một điểm đến tuyệt vời cho những du khách yêu thích khám phá vẻ đẹp tự nhiên của huyện Quế Phong.
2.3.1.3 Điều kiện khí hậu thời tiết
Huyện Quế Phong có khí hậu nhiệt đới gió mùa với 3 khu vực và 2 tiểu vùng khí hậu khác nhau Vùng cao có lượng mưa lớn, độ ẩm cao và nhiệt độ thấp, trong khi vùng thấp có khí hậu ôn hòa Sự khác biệt lớn nhất giữa hai vùng là nhiệt độ mùa hè, với vùng thấp thường cao hơn 2 đến 3 độ C và độ ẩm không khí thấp, dẫn đến thời tiết khô nóng.
- Chế độ gió: Có hai loại gió chính:
Gió Tây Nam (gió Lào) hoạt động từ tháng 4 đến tháng 9 với tốc độ 0,5m/s, mang đến khí hậu khô nóng, đặc biệt tại các vùng thung lũng và lòng chảo của huyện, dẫn đến nguy cơ xảy ra lốc lớn và mưa đá.
Gió Đông Bắc thổi từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau với tốc độ 0,6m/s, mang theo khí hậu khô hanh, mưa phùn và rét Điều này dễ dẫn đến tình trạng thiếu nước, làm giảm tốc độ sinh trưởng của cây trồng và gia tăng nguy cơ dịch bệnh cho gia súc, gia cầm, ảnh hưởng đến sinh hoạt và sức khỏe con người.
+ Nhiệt độ trung bình năm từ 22 đến 24 o C
+ Nhiệt độ cao nhất trung bình năm là 34 o C
+ Nhiệt độ trung bình năm thấp nhất là 9 o C
+ Nhiệt độ mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10, thời tiết nóng ẩm nhiệt độ cao có ngày lên 38 đến 40 o C
+ Nhiệt độ mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ xuống thấp 2-3oC
- Độ ẩm: Độ ẩm không khí bình quân 84%, tháng khô nhất 18% (từ tháng 1 đến tháng
3), tháng ẩm nhất 90% (tháng 8 và tháng 9)
Lượng bốc hơi bình quân 638mm, tháng cao nhất 82mm (từ tháng 4 đến tháng 6), tháng thấp nhất 22mm (tháng 12, tháng 1 và tháng 2)
Lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.800mm, với sự phân bố theo mùa rõ rệt Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, trong đó 70 đến 90% tổng lượng mưa năm rơi vào thời gian này, thường dẫn đến tình trạng ngập lụt, lũ quét và lũ ống Ngược lại, mùa khô diễn ra từ tháng 11 đến tháng 4.
4 năm sau, lượng mưa thấp nên dễ gây thiếu nước, khô hạn ở một số nơi Số ngày mưa trên 190 ngày/năm
2.3.1.4 Về đất đai thổ nhưỡng
Huyện Quế Phong có tổng diện tích tự nhiên là 189.543,45 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chiếm 2,89%, đất lâm nghiệp chiếm 65,2% và đất chưa sử dụng chiếm 33,41% Thành phần đất ở huyện này rất phức tạp, đặc biệt là đá mẹ.
2.3.1.5 Về tài nguyên - khoáng sản
Huyện Quế Phong sở hữu hàng trăm hecta rừng nguyên sinh với nhiều loại gỗ quý hiếm được ghi trong sách đỏ thế giới như pơ mu, sa mu, Lim, Lát hoa, Đinh hương, Sến, Táu, Kim giao Ngoài ra, nơi đây còn có nhiều lâm đặc sản và dược liệu quý hiếm như Sa nhân, Hà thủ ô, Nhân trần, Sâm, Câu y, Mộc nhĩ, Nấm hương Huyện cũng bảo tồn nhiều loài động vật quý hiếm, góp phần làm phong phú thêm hệ sinh thái nơi đây.
Ngoài ra huyện Quế Phong còn nhiều khoáng sản như: đá vôi, cát sỏi, mỏ sét gạch ngói, các mỏ thiếc, quặng sắt,
Huyện Quế Phong được thiên nhiên và con người ban tặng nhiều di tích lịch sử và thắng cảnh đẹp như Đền Chín gian, làng Thái cổ, Thác Sao Va, thác bảy tầng, khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, hang Mẹ mòn, và Lòng hồ thủy điện Hủa Na Đây cũng là vùng đất đa dạng về văn hóa với sự hiện diện của nhiều đồng bào dân tộc như Kinh, Thái, Thổ, Khơ Mú, Mông, Tày, Nùng, Mường, tạo nên bản sắc văn hóa đặc trưng và phong phú.
Nguồn vốn đầu tư toàn xã hội do Trung ương, bộ ngành quản lý tăng từ
496 tỷ đồng năm 2006 lên 1.837 tỷ đồng năm 2010; do địa phương quản lý tăng từ 90 tỷ đồng năm 2006 lên 530 tỷ đồng năm 2010; trong đó xây dựng cơ bản
Giá trị thực hiện Giao thông nông thôn đạt 150 tỷ đồng, với 55,4 km đường nhựa và 8 km đường bê tông được xây dựng Một số công trình trọng điểm đang thi công bao gồm đường Tiền Phong-Hạnh Dịch, đường vào trung tâm xã Đồng Văn, Nậm Nhóng, đường Kim Sơn-Quế Sơn, và cầu treo bản Quàng xã Châu Tổng giá trị đầu tư cho các dự án này là 490 tỷ đồng.
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria) tuổi 3 trồng tại xã Thông Thụ huyện Quế Phong tỉnh Nghệ An
Đề tài nghiên cứu tập trung vào việc chăm sóc và theo dõi sự sinh trưởng của cây Hoàng đằng tại xã Thông Thụ, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An Nội dung chính bao gồm việc đo đường kính gốc, chiều cao vút ngọn, tình hình sâu bệnh hại và các biện pháp phòng trừ hiệu quả.
3.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu xã Thông Thụ huyện Quế Phong tỉnh Nghệ An
Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Các biện pháp chăm sóc
- Theo dõi về đường kính và chiều cao vút ngọn
- Theo dõi động thái ra lá của cây
3.2.3 Tỷ lệ sống, chất lượng cây hoàng đằng
3.2.4 Tình hình sâu, bệnh hại và biện pháp phòng trừ cây Hoàng đằng trồng năm thứ 3
3.2.5 Đề xuất 1 số biện pháp chăm sóc và phòng trừ sâu, bệnh hại cho cây Hoàng đằng trồng tại khu vực nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp kế thừa số liệu
Kế thừa một số nguồn thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại địa phương của xã Thông Thụ huyện Quế Phong tỉnh Nghệ An
Kế thừa các tài liệu về nghiên cứu cây Hoàng đằng ở Việt Nam trong các tài liệu sách vở và các trang mạng
3.3.2 Phương pháp điều tra sinh trưởng của Hoàng đằng
3.3.2.1 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi
Lập 1 OTC có diện tích 500 m 2 tại nơi đang trồng và theo dõi cây Hoàng đằng ở xã Thông Thụ huyện Quế Phong tỉnh Nghệ An
Chọn ngẫu nhiên trên thực địa và áp dụng phương pháp đo đạc đơn giản để xác định ranh giới của OTC Ranh giới này được thể hiện bằng đường thẳng kéo dài, với khoảng cách đều đặn.
Cắm 1 cọc ở vị trí dễ nhận biết với chiều cao từ 4 đến 6 mét, sau đó sử dụng thước dây để đo và đánh dấu bằng cọc gỗ trên đường ranh Tận dụng các tảng đá hoặc gốc cây lớn để làm mốc đánh dấu, và sử dụng dây bao để căng thành OTC Kích thước của OTC là 25 m chiều dài và 20 m chiều rộng, tương ứng với diện tích OTC là 500 m².
500 m 2 Sau khi lập xong OTC đi đánh dấu các cây mà cần điều tra bằng cách cắm cọc có đánh dấu số thứ tự ở từng cây
3.3.2.2 Chăm sóc cây Hoàng đằng
Cây Hoàng đằng cần được chăm sóc trong 3 năm đầu sau khi trồng Trong năm thứ 3, việc chăm sóc được thực hiện 4 lần: lần đầu vào tháng 2-3, lần thứ hai vào tháng 4-6, lần ba vào tháng 7-8, và lần cuối vào tháng 9-10.
Nội dung công việc chăm sóc gồm:
- Trồng dặm những nơi cây sống đạt có tỷ lệ dưới 85%
- Phát dọn dây leo cỏ dại xung quanh gốc, vun xới gốc đường kính 1
- Bón thúc phân NPK 0,2kg/cây/năm
- Sau khi chăm sóc lần 1 của năm thứ 2 tiến hành cắm giá thể leo cho cây
Hoàng đằng, giá thể leo được làm bằng tre, cây gỗ nhỏ đường kính 3-5cm, chiều dài 2-2,5m tạo điều kiện cho cây sinh trưởng phát triển tốt
3.3.2.3 Phương pháp theo dõi tỉ lệ sống, chất lượng, chiều cao cây, đường kính gốc:
Các chỉ tiêu theo dõi sinh trưởng bao gồm tỷ lệ sống, sinh trưởng đường kính gốc (Doo), sinh trưởng chiều cao (Hvn), và chất lượng cây Hoàng đằng (tốt, trung bình, xấu) Ngoài ra, cần theo dõi động thái ra lá non và tỷ lệ đẻ nhánh của 108 cây trong OTC Dữ liệu sẽ được thu thập định kỳ mỗi tháng một lần vào ngày 15 hàng tháng.
Tỷ lệ sống của cây được xác định bằng tổng số cây sống X 100/ tổng số cây trong OTC đã lập Qua quan sát đánh giá trực tiếp
Để thu thập số liệu sinh trưởng chiều cao cây Hoàng đằng, cần sử dụng thước đo chiều cao (Hvn) từ gốc cây đến ngọn cao nhất của cây bằng thước dây.
Đo sinh trưởng đường kính gốc (Doo) của cây được thực hiện bằng thước Panme theo hai chiều Đông – Tây và Nam – Bắc, sau đó lấy trị số trung bình Chiều cao cây (Hvn) được đo bằng thước có chia tới mm, đồng thời cũng tiến hành đếm số chồi có trên cây.
- Động thái ra lá của cây: đo đếm số lá mới ra của từng cây mới ra theo định kỳ đo đếm mỗi tháng một lần
- Tỷ lệ sống của cây được xác định bằng tổng số cây sống X 100/tổng số cây trong OTC đã lập
Qua quan sát đánh giá trực tiếp Các số liệu thu thập được ghi vào mẫu bảng 3.1
- Chất lượng cây trồng Hoàng đằng được xác định theo 3 cấp quan sát đánh giá trực tiếp:
Cây tốt có thân thẳng, sinh trưởng mạnh mẽ và không bị sâu bệnh, trong khi cây xấu thường cong queo, cụt ngọn, và dễ bị sâu bệnh tấn công.
Còn lại là cây có chất lượng trung bình
Số liệu thu thập được ghi vào mẫu bảng 3.1
Bảng 3.1: : Phiếu đo đếm cây sống, sinh trưởng đường kính gốc, chiều cao vút ngọn, chất lượng và động thái ra lá , ra chồi cây Hoàng đằng
Người đo đếm: Ngày đo đếm
Chất lượng Số lá mới ra
- Động thái ra lá của cây được theo dõi đồng thời theo định kỳ đo các chỉ tiêu sinh trưởng khác
Tỷ lệ đẻ nhánh tính bằng tỷ lệ số cây đẻ nhánh
3.3.2.4 Theo dõi sâu bệnh hại
- Nghiên cứu xác định thành phần sâu hại cây Hoàng đằng trên 108 cây trong OTC
- Nghiên cứu hiệu quả của một số thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trong phòng trừ các loài sâu hại chính trên cây Hoàng đằng
Để kiểm soát sâu hại, cần thường xuyên quan sát và áp dụng biện pháp bắt diệt bằng phương pháp cơ giới khi phát hiện Nếu số lượng sâu hại vượt quá mức cho phép và không thể bắt hết, việc phun thuốc là cần thiết Kết quả thu thập tình hình sâu hại sẽ được ghi vào mẫu bảng 3.2.
Bảng 3.2 Phiếu theo dõi sâu hại lá
Loài sâu hại: Khu vực: Lần đo: Người đo đếm: Ngày đo đếm
STT cây Tổng số lá Số lá bị sâu hại ở các cấp
108 Đánh giá sâu hại theo tháng:
Cấp 0: Lá không bị hại
Cấp 1: Lá bị hại dưới 25 %
Cấp 2: Lá bị hại từ 25 đến 50 %
Cấp 3: Lá bị hại từ 51 đến 75 %
R (%) : Là mức độ bị hại trung bình ni : Là số cây bị hại ở cấp hại i vi : Là trị số của cấp hại i
N : Là tổng số cây điều tra
V : Là trị số cấp bị hại cao nhất (V=4)
Để kiểm soát sâu hại, cần thường xuyên quan sát và áp dụng biện pháp bắt diệt bằng phương pháp cơ giới Nếu số lượng sâu hại quá lớn và không thể bắt hết, việc phun thuốc là cần thiết.
Để ngăn chặn bệnh hại lá, cần thường xuyên quan sát và áp dụng các biện pháp cơ giới Nếu bệnh hại trở nên nghiêm trọng, việc nhổ bỏ cây hoặc phun thuốc là cần thiết Kết quả thu thập sẽ được ghi vào mẫu bảng 3.3.
Bảng 3.3 Phiếu theo dõi bệnh hại lá
Loài sâu hại: Khu vực: Lần đo:
Người đo đếm: Ngày đo đếm
STT cây Tổng số lá Số lá bị bệnh hại ở các cấp
108 Điều tra, đánh giá mức độ bệnh hại lá, trên các cây điều tra tiến hành đếm tất cả các lá và được phân cấp như sau:
Cấp 0: Những lá không bị hại
Cấp 1: Những lá bị hại dưới 1/4diện tích lá
Cấp2: Những lá bị hại từ 1/4 - 1/2 diện tích lá
Cấp 3: Những lá bị hại từ trên 1/2 – 3/4 diện tích lá
Cấp 4: Những lá bị hại >3/4 diện tích lá
Trong đó: R: Là chỉ số bệnh n : Số lá bị hại ở mỗi cấp v : Là trị số cấp bệnh tương ứng
N : Là tổng số lá theo dõi
V : Là trị số của cấp cao nhất (V luôn luôn bằng 4)
Sau khi có R% chúng ta có thể đánh giá mức độ hại như sau :
* Sử dụng các loại thuốc phòng bệnh:
Dựa trên kết quả điều tra và đánh giá, cần xác định các loại sâu bệnh hại trong khu vực trồng Hoàng Đằng Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật phải được cân nhắc kỹ lưỡng, tuân thủ nguyên tắc 4 đúng: đúng thuốc, đúng liều lượng và nồng độ, đúng thời điểm và đúng cách.
- Chỉ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đối với các loài sâu hai khi chúng hại cây ở mức tới ngưỡng gây hại (hại nặng trở lên)
- Thuốc phòng chống nấm cần phun theo định kỳ vao những tháng có độ ẩm cao, có khả năng gây bệnh hại nặng cho cây
3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu thập được sẽ được phân tích và xử lý bằng các phương pháp thống kê, so sánh Quá trình này được thực hiện trên máy tính thông qua phần mềm Excel để tính toán và xử lý dữ liệu.
KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ
Chăm sóc Hoàng đằng
- Cây Hoàng đằng sau khi trồng được chăm sóc trong 3 năm đầu Chăm sóc cây Hoàng đằng năm thứ 2, cây cần chăm sóc trong 4 lần 1 năm
Hình 4.1: Làm cỏ cho cây Hoàng đằng
* Chăm sóc lần thứ một vào tháng 3-4 :
Chăm sóc gồm các bước: Phát dọn dây leo, cỏ dại trong diện tích trồng Hoàng đằng
Làm cỏ sạch xung quanh gốc cây đường kính 1m , khi phát cỏ chủ ý tránh dây Hoàng Đằng lẫn trong dây leo, cỏ dạị
Tiến hành tỉa thưa cây keo trồng xen với cây Hoàng Đằng ở những khu vực có tán lá dày (độ tàn che > 0,5) Việc tỉa thưa cần được thực hiện đồng đều, tránh tình trạng quá thưa hoặc quá dày để không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây Hoàng Đằng.
Hình 4.2: Phát dọn, tỉa thưa cho cây Hoàng đằng
Sau khi hoàn tất việc phát dọn và tỉa thưa, cần quan sát để xác định những cây đã chết và tiến hành trồng dặm cây mới nhằm đảm bảo mật độ cây trồng Sau khi trồng dặm, sử dụng cuốc để vun xới gốc cây với đường kính 1m và bón phân NPK với liều lượng 0,2kg/cây/năm đều xung quanh gốc, lưu ý không bón phân sát gốc cây.
Hình 4.3: Cắm cọc làm giá thể leo cho Hoàng đằng
Tiến hành cắm giá thể leo cho cây Hoàng Đằng bằng cây keo tỉa thưa có đường kính 3-5cm và chiều dài 2-3m Một đầu của giá thể được cắm sát gốc cây Hoàng Đằng, trong khi đầu còn lại được buộc vào cây gỗ gần nhất Cách làm này giúp tạo thành giá thể vững chắc cho cây Hoàng Đằng leo lên, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây.
Vào tháng 4-5, các loài cây cỏ phát triển mạnh mẽ, do đó cần chăm sóc kịp thời để tránh ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây Sự cạnh tranh về không gian và dinh dưỡng từ các loài cỏ dai và dây leo có thể gây hại cho cây trồng Việc chăm sóc lần này bao gồm việc phát toàn bộ các loài cây cỏ và dây leo, đồng thời kiểm tra và bổ sung các cọc giá thể leo cho cây Hoàng đằng, thay thế những cọc bị hỏng và mất.
Vào tháng 7-8, các loài cây cỏ sinh trưởng mạnh mẽ, do đó cần chăm sóc kịp thời để tránh ảnh hưởng đến sự phát triển của cây Sự cạnh tranh về không gian và dinh dưỡng từ các loài cỏ dai và dây leo có thể gây hại cho cây trồng Trong đợt chăm sóc này, cần phát toàn bộ các loài cây cỏ và dây leo Đồng thời, kiểm tra và bổ sung kịp thời các cọc giá thể leo của cây Hoàng đằng bị hỏng hoặc mất.
Mặc dù đã vào mùa đông, nhiệt độ vẫn cao và cây cỏ vẫn tiếp tục sinh trưởng Do đó, việc làm cỏ và xới xáo là cần thiết để đảm bảo cây phát triển tốt.
Sinh trưởng của cây Hoàng đằng năm thứ 3
4.2.1.Kết quả sinh trưởng đường kính:
Dựa trên số liệu từ bảng 4.1, chúng tôi đã chuyển đổi thành biểu đồ cột để cung cấp cái nhìn tổng quát về sự tăng trưởng đường kính trung bình qua các lần đo.
Bảng 4.1: Sinh trưởng đường kính trung bình cây Hoàng đằng
Tháng Lần Đo Doo (cm)
Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra
Hình 4.4: Biểu đồ sinh trưởng đường kính gốc trung bình cây Hoàng đằng
Cây Hoàng Đằng có tốc độ sinh trưởng đường kính trung bình rất chậm, theo bảng 4.1 và hình 4.4 Trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 2, cây tạm ngừng sinh trưởng đường kính Qua 5 lần đo, cây chỉ tăng trưởng đường kính trung bình từ 0,35 cm đến 0,38 cm Tuy nhiên, từ tháng 3 đến tháng 5, cây Hoàng Đằng tại khu vực trồng thí nghiệm đã có sự tăng trưởng đường kính gốc.
4.2.2 Kết quả sinh trưởng chiều cao
Từ những số liệu thu thập được khi điều tra ta có bảng 4.2 và hình 4.5 dưới đây:
Bảng 4.2: Sinh trưởng chiều cao trung bình cây Hoàng đằng theo các tháng
Tháng Hvn (cm) Lần đo
Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra
Hình 4.5: Biểu đồ sinh trưởng chiều cao trung bình cây Hoàng đằng
Từ bảng 4.2 và hình 4.5 ta thấy cây Hoàng Đằng sinh trưởng chiều cao trung bình không quá nhanh nhưng tăng trưởng nhanh hơn so với đường kính
Từ tháng 1 đến tháng 2, cây chỉ tăng trưởng chiều cao trung bình không đáng kể Tuy nhiên, từ tháng 3 đến tháng 4, cây đã tăng trưởng từ 72,42 cm lên 75,67 cm Đến tháng thứ 5, chiều cao cây tiếp tục tăng từ 75,67 cm lên 77,08 cm.
Trong khu vực thí nghiệm năm thứ 3, cây Hoàng Đằng có sự tăng trưởng chiều cao chậm, mặc dù mỗi tháng đều có sự phát triển nhưng tỷ lệ tăng trưởng không cao và không đồng đều Trong lần đo đầu tiên, chênh lệch chiều cao giữa các cây trong ô tiêu chuẩn rất lớn, với cây thấp nhất chỉ đạt 19 cm và cây cao nhất lên tới 320 cm Như vậy, Hoàng Đằng tại nơi trồng thí nghiệm đã có sự tăng trưởng chiều cao từ tháng 3 đến tháng 5.
4.2.3 Kết quả động thái ra lá nón
Từ những số liệu thu thập được khi điều tra ta có bảng 4.3 và hình 4.6 dưới đây:
Bảng 4.3: Động thái ra lá cây Hoàngđằng
Tháng Lá / cây Lần đo
Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra
Hình 4.6 : Biểu đồ động thái ra lá cây trung bình Hoàng đằng
Theo bảng 4.3 và hình 4.6, cây Hoàng đằng liên tục tăng số lá qua các tháng Cụ thể, từ tháng 1 đến tháng 4, số lá tăng lần lượt là 1,89, 2,38, 2,54 và 2,78 lá Đến tháng 5, cây tiếp tục phát triển với 3,63 lá, cho thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ vào mùa xuân hè Trong 5 lần đo, tháng 5 ghi nhận số lá cao nhất (3,63 lá), trong khi tháng 1 có số lá thấp nhất (1,89 lá).
Hình 4.7: Lá non cây Hoàng Đằng
4.2.4 Kết quả tỷ lệ ra chồi cây Hoàng đằng
Bảng 4.4: Tỷ lệ ra chồi non cây Hoàng đằng
Tháng Số chồi mới Lần đo
Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra
Hình 4.8: Biểu đồ tăng trưởng của chồi
Cây Hoàng đằng là loại dây leo sống dưới tán rừng, cần ánh sáng đầy đủ để phát triển Để thúc đẩy sự sinh trưởng, cây cần có nhiều lá cho quá trình quang hợp Sau khi trồng, cây Hoàng đằng phải ra nhiều chồi mới, ngoài chồi chính, nhằm tăng số lượng lá Việc ra chồi non là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng tăng trưởng của cây Kết quả cho thấy chồi non của cây Hoàng đằng sinh trưởng mạnh nhất vào tháng 5.
Hình 4.9: Chồi non cây Hoằng đằng
Tỷ lệ sống, chất lượng và tỷ lệ ra mầm của cây Hoàng đằng
Sau ba năm trồng, tỷ lệ sống của cây Hoàng đằng đạt 90,75%, cho thấy đây là một mức cao Nhờ vào tỷ lệ sống ấn tượng này, số lượng cây cần trồng dặm là rất ít.
4.3.2 Chất lượng cây Hoàng đằng:
Chất lượng cây trồng Hoàng đằng được xác định theo 3 cấp quan sát đánh giá trực tiếp:
Cây tốt có thân thẳng, sinh trưởng mạnh mẽ và không bị sâu bệnh, trong khi cây xấu thường cong queo, cụt ngọn và dễ bị sâu bệnh tấn công.
Còn lại là cây có chất lượng trung bình
Từ các tiêu chí trên ta có số liệu bảng 4.5 dưới đây
Bảng 4.5:Chất lượng sinh trưởng cây Hoàng đằng
Các chỉ tiêu Tốt Trung Bình Xấu
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra
Mặc dù cây Hoàng Đăng có tỷ lệ sống cao, chỉ 64,8% cây đạt chất lượng tốt, trong khi 35,2% cây trung bình và xấu Nguyên nhân chính là do điều kiện lập địa không đồng nhất và sự chăm sóc chưa đồng đều Để đảm bảo cây sinh trưởng tốt và nâng cao sản lượng cũng như chất lượng, cần chú trọng chăm sóc, đặc biệt là lượng phân bón thúc hàng năm.
Tình hình sâu, bệnh hại và biện pháp phòng trừ cây Hoàng Đằng trồng năm thứ 3
4.4.1 Kết quả thành phần sâu hại và mức độ gây hại với cây Hoàng Đằng tuổi 3:
Trong quá trình điều tra tại khu vực nghiên cứu xác định được thành phần sâu hại của cây ở bảng 4.6 dưới đây
Bảng 4.6: Thành phần sâu hại
Loài sâu Bộ phân bị hại Tháng gây hại
Thường ăn lá non và lá trưởng thành, sâu thường ăn vào buổi sáng sớm và chiều tối lúc trời mát
Bọ xít muỗi sử dụng vòi chích để xuyên qua mô thực vật, và nước bọt của chúng rất độc, gây hoại tử trên lá non, cành và trái non Hậu quả là tạo ra các vết sẹo trên lá và trái, làm biến dạng trái, dẫn đến chết chồi, cành cây hoặc thậm chí toàn bộ cây Chúng thường hoạt động vào sáng sớm và chiều mát, và trong những ngày âm u, có thể chích hút nhựa cả ngày.
Bảng 4.7 Tính R% mức độ hại của sâu Tháng Đánh giá mức độ sâu hại Sâu hại lá (R%)
Hình 4.10 : Lá cây Hoàng đằng bị sâu hại
Cây Hoàng đằng ít bị sâu hại, với mức độ sâu hại rất nhẹ Sâu róm thường xuất hiện vào tháng 3-4, trong khi bọ xít muỗi xuất hiện từ tháng 4-5 tại tất cả các khu vực nghiên cứu Trong suốt thời gian sinh trưởng, cây Hoàng đằng chỉ bị hại ở cấp độ 1.
Sâu hại trong khu vực nghiên cứu ở mức độ nhẹ có thể được kiểm soát bằng biện pháp cơ giới mà không cần phun thuốc Tuy nhiên, khi mức độ sâu hại đạt 3 trở lên, cần sử dụng thuốc Cyper 25EC với hoạt chất Cypermethrin và thuốc Antaphos 25EC chứa Alpha-Cypermethrin 25g/l Việc phát hiện kịp thời loại sâu hại này và xử lý sớm là rất quan trọng để ngăn chặn mức độ hại mạnh.
4.4.2 Kết quả thành phần bệnh hại và mức độ gây hại với cây Hoàng Đằng tuổi 3 :
Trong quá trình điều tra tại khu vực nghiên cứu xác định được thành phần bệnh hại của cây ở bảng 4.6 dưới đây
Bảng 4.8 :Thành phần bệnh hại
Loại bệnh Bộ phận bị hại Tháng hại
Bệnh Đốm Lá Lá trưởng thành 3-5
Hình 4.11 Bệnh đốm lá cây Hoàng đằng
Bảng 4.9: Tính R% mức độ bệnh hại lá
Tháng Đánh giá mức độ hại Bệnh hại lá(R%)
Cây Hoàng đằng ít bị bệnh hại, trong quá trình thí nghiệm chỉ ghi nhận bệnh đốm lá với mức độ hại rất nhẹ, chỉ ở cấp I Bệnh này thường xuất hiện ở góc mép lá hoặc trên bề mặt lá, với những đốm nâu nhỏ dần lan rộng, gây khô, héo và rụng lá.
Như vậy, tỷ lệ sâu, bệnh hại trên cây Hoàng đằng ở tất cả khu vực nghiên cứu là rất ít và không gây thiệt hại lớn cho cây
4.5 Đề xuất các biện pháp chăm sóc, phong trừ sâu bệnh hai cho cây Hoàng đằng :
Khi trồng cây, cần lựa chọn giống cây có nguồn gốc rõ ràng và khả năng kháng bệnh tốt Việc trồng cây với mật độ hợp lý, không quá dày và tỉa thưa hợp lý sẽ giúp đảm bảo thông thoáng cho cây, từ đó nâng cao hiệu quả sinh trưởng.
Phát hiện sớm triệu chứng bệnh trên cây là rất quan trọng để có biện pháp xử lý kịp thời Đối với cây bị sâu hại, cần chặt bỏ ngay các cành bị ảnh hưởng để ngăn chặn sự lây lan.
Biện pháp phòng trừ sâu hại có thể áp dụng thủ công bằng cách bắt diệt khi mật độ sâu ở mức thấp và diện hẹp Tuy nhiên, khi mật độ sâu hại tăng cao, cần sử dụng thuốc đặc trị như Cyper 25EC chứa hoạt chất Cypermethrin và Antaphos 25EC với hoạt chất Alpha-Cypermethrin 25 để phun trừ hiệu quả.
Đề xuất các biện pháp chăm sóc, phong trừ sâu bệnh hại
- Hoàng đằng được chăm sóc đầy đủ theo đúng quy trình sẽ sinh trưởng ổn định và có sức chống chịu sâu bệnh cao
- Cây Hoàng đằng tuổi 3 có tốc độ sinh trưởng về đường kính gốc chậm Trong 5 lân đo cây đạt tăng trưởng đường kính Doo 0.35 tới 0.38 cm
Cây Hoàng đằng 3 tuổi có tốc độ sinh trưởng chiều cao chậm, với sự gia tăng từ 72,24 cm lên 77,08 cm trong 5 tháng điều tra Tuy nhiên, sự phát triển này không đồng đều giữa các cây trong khu vực nghiên cứu.
Cây Hoàng đằng có sự ra lá không đồng đều giữa các mùa, với số lượng lá mới tăng cao vào cuối xuân và đầu hè Đặc biệt, tháng 5 là thời điểm cây ra nhiều lá nhất, trung bình đạt 3,63 lá.
- Cây Hoàng đằng ra chồi nhiều nhất vào cuối xuân đầu hè (15 chồi tháng 5)
- Hoàng đằng tại khu vực nghiên cứu có tỷ lệ sống cao 90,75%, chất lượng cây đạt: 64,8% cây tốt, 27,7% cây trung bình, 7,5 % cây xấu
- Trong quá trình theo dõi sâu, bệnh hại cây Hoàng đằng thấy xuất hiện 2 loại sâu: Sâu róm, bọ xít muỗi và bệnh có 1 loài: bệnh đốm lá
Do bệnh hại cây Hoàng đằng ở mức độ nhẹ trong thời gian theo dõi, khoá luận chưa áp dụng biện pháp xử lý bằng hóa chất phòng trừ sâu bệnh Vì vậy, chưa có biện pháp phòng trừ nào được đề xuất dựa trên các loại thuốc bảo vệ thực vật.
Do thời gian thực tập khóa luận hạn chế, cùng với điều kiện kinh tế khó khăn và kiến thức còn thiếu trong lĩnh vực nghiên cứu thực vật, khóa luận của tôi vẫn còn nhiều hạn chế Để cải thiện cho các nghiên cứu sau này, tôi xin đưa ra một số kiến nghị.