1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao vai trò quản lý nhà nước đối với sự phát triển kinh tế tư nhân ở thành phố hà nội

179 1,2K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao vai trò quản lý nhà nước đối với sự phát triển kinh tế tư nhân ở thành phố Hà Nội
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn TS Hoàng Thị Thành
Trường học Học viện Chính trị- Hành Chính quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Báo cáo tổng kết
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 3,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay đất nước ta đã và đang hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, các doanh nghiệp của KTTN ở Hà Nội sẽ không thể tồn tại và phát triển nếu không đủ sức cạnh tranh trên thị trường v

Trang 1

Häc viÖn ChÝnh trÞ- Hµnh ChÝnh quèc gia Hå ChÝ Minh

-

B¸o c¸o tæng kÕt kÕt qu¶ nghiªn cøu

CN TrÇn BÝch H¹nh

6976

28/8/2008

Hµ Néi – 2008

Trang 2

- FDI: Vèn ®Çu t− trùc tiÕp n−íc ngoµi

- WTO: Tæ chøc th−¬ng m¹i thÕ giíi

Trang 3

6

1.1 Tính tất yếu khách quan của sự tồn tại và phát triển kinh

tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

ở nước ta

6

1.1.1 Một số hình thức biểu hiện của kinh tế tư nhân 6 1.1.2 Bản chất sự ra đời và phát triển của KTTN 8 1.1.3 Quan điểm của Đảng ta về phát triển KTTN trong nền kinh tế

2.1.2 KTTN ở Hà Nội gúp phần quan trọng trong tạo việc làm và

thu nhập cho người lao động

46

2.1.3 KTTN Hà Nội phỏt triển trong hầu hết cỏc lĩnh vực ngành nghề 48 2.1.4 Huy động ngày càng nhiều vốn đầu tư phát triển 55 2.1.5 Đúng gúp ngày càng nhiều vào tăng trưởng kinh tế của Hà Nội 55

Trang 4

2.1.6 Tạo ỏp lực cạnh tranh, thỳc đẩy khu vực kinh tế nhà nước và

kinh tế tập thể phỏt triển

56

2.1.7 Tạo ra sự đổi mới nhận thức của cỏc cấp, cỏc ngành về khu

vực kinh tế tư nhõn

57

2.1.8 Tạo ra đội ngũ doanh nhõn năng động 57

2.2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở Hà Nội 67

2.2.1 Quá trình đổi mới nhận thức của Đảng bộ và chính quyền

2.3.2.1 Về chớnh sỏch đầu tư , tớn dụng đối với doanh nghiệp 85

2.3.2.2 Thực hiện chính sách quản lý đất đai đối với khu vực KTTN 88

2.3.2.3 Về thực hiện chính sách khoa học - công nghệ 90

Chương III MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ

QUẢN Lí NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KINH TẾ TƯ NHÂN Ở HÀ NỘI

95

3.1 Xu hướng phát triển KTTN trên địa bàn Hà Nội 95

3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý

nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở Hà Nội

98

3.2.1 Bảo đảm quyền tự do kinh doanh theo pháp luật của kinh tế tư nhân 98

3.2.2 Kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực, hiệu quả của bộ máy

quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân

102

3.2.3 Kiện toàn tổ chức và đổi mới phương thức hoạt động của các

đoàn thể chính trị trong khu vực doanh nghiệp tư nhân

109

3.2.4 Tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát các doanh nghiệp,

hộ kinh doanh tư nhân trong việc thực hiện pháp luật, chính

110

Trang 5

3.2.5 Thực hiện tốt một số chính sách hỗ trợ KTTN phát triển 111

3.2.5.1 Hỗ trợ đầu tư - tín dụng cho khu vực tư nhân 111

3.2.5.2 Hỗ trợ các hộ sản xuất và doanh nghiệp của tư nhân giải quyết

mặt bằng sản xuất kinh doanh

115

3.2.5.3 Tăng cường hỗ trợ nâng cao năng lực về khoa học - công nghệ

cho khu vực KTTN

117

3.2.5.4 Tăng cường hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực 120

3.2.5.5 Xúc tiến các hoạt động mở rộng thị trường và hỗ trợ các

doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài

122

3.2.5.6 Quan tâm hỗ trợ việc xây dựng và bảo vệ thương hiệu trong

quá trình phát triển kinh tế tư nhân

126

3.2.6 Phát triển mạnh các dịch vụ hỗ trợ KTTN 127

3.2.6.1 Dịch vụ thông tin thị trường 127 3.2.6.2 Phỏt triển cỏc dịch vụ kinh doanh và tư vấn phỏp luật 130

3.2.7 Tăng cường sự hợp tác giữa các doanh nghiệp và nâng cao

năng lực hoạt động của các hiệp hội nghề nghiệp

134

Trang 6

Mở Đầu

1- Tính cấp thiết của đề tài

Trong các nền kinh tế thị trường ở các nước, kinh tế tư nhân (KTTN) luôn là bộ phận quan trọng của nền kinh tế ở nước ta, từ khi đổi mới đến nay, quan điểm của Đảng về phát triển KTTN ngày càng phù hợp với thực tế khách quan của một nền kinh tế thị trường định hướng đi lên CNXH Từ khi KTTN

được coi là một bộ phận cấu thành và là một động lực quan trọng của nền kinh

tế thị trường định hướng XHCN, KTTN đã phát triển mạnh và nhanh chóng khẳng định vai trò, vị trí của mình trong công cuộc xây dựng đất nước Do tính năng động và hiệu quả, KTTN đã phát triển mạnh trong các ngành kinh

tế, đặc biệt là những ngành kinh doanh có lợi nhuận cao như công nghiệp, thương mại, dịch vụ góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế đất nước và giải quyết việc làm, thu nhập, nâng cao đời sống cho nhân dân

ở các thành phố lớn, nơi có những điều kiện và cơ hội tiếp cận với thị trường, với khoa học kỹ thuật, công nghệ KTTN phát triển manh mẽ hơn những khu vực khác Thành phố Hà Nội là một trong những địa phương đã sớm quán triệt các chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển KTTN, đã chủ động tạo môi trường thuận lợi, thực hiện nhiều chương trình giải pháp hỗ trợ cho KTTN Nhờ vậy, khu vực KTTN ở Hà Nội những năm qua đã không ngừng lớn mạnh Những năm 1988 - 1991, cả thành phố mới chỉ có hơn 100 doanh nghiệp tư nhân, đến năm 2006, đã có hơn 20.000 doanh nghiệp hoạt

động, cùng với hơn 90.000 hộ kinh doanh cá thể phi nông nghiệp KTTN đã thu hút trên 50% số lao động trên địa bàn và góp phần ngày càng quan trọng vào sự phát triển kinh tế- xã hội của Thành phố Tuy vậy, hầu hết các doanh nghiệp tư nhân ở Hà Nội là doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn ít, trình độ quản lý yếu, trình độ công nghệ lạc hậu, khả năng tiếp cận tín dụng, mặt bằng đất đai, thị trường đặc biệt là thị trường nước ngoài rất hạn chế Do những định kiến

đối với KTTN trong xã hội còn nặng nề, nên nhiều doanh nghiệp tư nhân ngại

mở rộng quy mô kinh doanh, hoặc nếu mở rộng thì tìm cách che giấu vốn,

Trang 7

doanh thu Một bộ phận doanh nghiệp tư nhân chưa yên tâm làm ăn lâu dài, thậm chí còn hoạt động theo lối chụp giật, trốn tránh pháp luật làm giảm lợi thế kinh doanh, gây thiệt hại cho cả bản thân và cho Nhà nước Trong khi đó công tác quản lý nhà nước đối với khu vực KTTN trong điều kiện nền kinh tế

đang chuyển đổi, còn tỏ ra lúng túng, bất cập Hiện nay đất nước ta đã và đang hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, các doanh nghiệp của KTTN ở Hà Nội

sẽ không thể tồn tại và phát triển nếu không đủ sức cạnh tranh trên thị trường với rất nhiều doanh nghiệp lớn của cả trong nước và nước ngoài Bởi vậy, nâng cao vai trò quản lý nhà nước, nhằm hỗ trợ để KTTN ngày càng góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô, đồng thời hướng dẫn và quản lý

để KTTN phát triển đúng định hướng, đúng pháp luật ở một thành phố lớn như Thành phố Hà Nội là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn cấp thiết, rất cần được nghiên cứu để có những giải pháp thiết thực

định hướng XHCN được xuất bản thành sách, như: “ Phát triển kinh tế tư nhân

định hướng xã hội chủ nghĩa” của tác giả Trần Đình Bút, xuất bản năm 2002;

“ Doanh nghiệp tư nhân trong kinh tế thị trường” của tác giả Vũ Quốc Tuấn, xuất bản năm 2001; “ Kinh tế tư nhân Việt Nam trong tiến trình hội nhập” của PGS,TS Trịnh Thị Hoa Mai, xuất bản năm 2005 ; “ Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp” của TS Trang Thị Tuyết, xuất bản năm 2006 Đề tài cấp bộ năm 2000-2001 thuộc Học viện CTQG Hồ Chí Minh : “ Kinh tế tư nhân và quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân nước ta hiện nay” do GS, TS Hồ Văn Vĩnh làm chủ nhiệm ; một số luận án, luận văn

và nhiều bài báo, tạp chí viết về KTTN

Những công trình nghiên cứu về KTTN trên địa bàn Hà Nội gần đây đã

được tiến hành và có những kết quả đóng góp đáng trân trọng Năm 2004, Thành uỷ Hà Nội đã tổ chức nghiên cứu đề tài: “ Các thành phần kinh tế ở Hà

Trang 8

Nội, quá trình đổi mới, phát triển và định hướng đến năm 2010” do Giám đốc

Sở Tài chính Hà Nội - Trần Đình Thụ làm chủ nhiệm đề tài Đề tài đã nghiên cứu quá trình đổi mới quan điểm của Đảng và Nhà nước trong phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước cùng đi lên CNXH; đã phân tích quá trình quán triệt và thực hiện đường lối chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước trong phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần ở Hà Nội; đưa ra các phương hướng và giải pháp để phát triển các thành phần kinh tế, trong đó có thành phần KTTN, trên địa bàn Hà Nội

Năm 2002- 2004, một công trình nghiên cứu do Trường Đại học Kinh

tế quốc dân chủ trì với sự tham gia của nhiều nhà khoa học, đã xuất bản thành

sách với tiêu đề: Kinh tế- xã hội nhân văn trong phát triển kinh tế tư nhân ở

Hà Nội do GS.TSKH Lê Du Phong, PGS.TS Hoàng Văn Hoa, PGS.TS Nguyễn

Văn áng đồng chủ biên Công trình đã tiến hành nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển KTTN ở Việt Nam; tổng kết thực trạng phát triển KTTN ở Hà Nội và những vấn đề về kinh tế- xã hội - nhân văn trong phát triển KTTN ở Hà Nội; trên cơ sở đó trình bày những giải pháp và kiến nghị về kinh

tế - xã hội - nhân văn trong phát triển KTTN ở Hà Nội

Trong những giải pháp phát triển KTTN ở Hà Nội, những công trình này đã đề cập đến vấn đề tăng cường quản lý nhà nước đối với khu vực KTTN Tuy vậy, chưa thấy có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về nâng cao vai trò quản lý nhà nước đối với sự phát triển KTTN ở Thành phố Hà Nội Chúng tôi cho rằng, trên một địa bàn có sự phát triển sôi động các thành phần kinh tế,

đặc biệt là KTTN, như ở Hà Nội trong tình hình hiện nay, với rất nhiều khó khăn, ách tắc cần tháo gỡ nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn cho

sự phát triển các thành phần kinh tế ở Hà Nội nói chung, phát triển KTTN nói riêng, phụ thuộc rất nhiều vào năng lực quản lý nhà nước của Thành phố Để thực hiện đề tài, chúng tôi chú trọng tham khảo, kế thừa có chọn lọc những ý tưởng, những thông tin của các công trình đã được công bố, kết hợp với nghiên cứu khảo sát thực tế những năm gần đây để từ đó đưa ra những ý kiến giải pháp của mình

Trang 9

3- Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài tập trung phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với sự phát triển của KTTN ở Hà Nội hiện nay để đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với sự phát triển KTTN ở Hà Nội

4- Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ và các điều kiện thực hiện đề tài, chúng tôi chủ yếu tập trung nghiên cứu quản lý nhà nước đối với KTTN trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, và cũng chủ yếu nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với loại hình tiêu biểu của khu vực KTTN là các doanh nghiệp, còn các hộ kinh doanh cá thể chỉ đề cập có mức độ Loại hình doanh nghiệp của khu vực tư nhân được nghiên cứu bao gồm các doanh nghiệp tư nhân, các công ty TNHH, công ty cổ phần ( kể cả công ty cổ phần có dưới 50% vốn nhà nước), công ty hợp doanh, đã đăng ký kinh doanh

5- Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích cơ sở khoa học sự tồn tại và phát triển khách quan của kinh

tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, quan

điểm của Đảng và Nhà nước trong phát triển KTTN, vai trò, chức năng quản

lý nhà nước đối với KTTN nói chung và cụ thể ở các địa phương nói riêng

- Nghiên cứu, khảo sát thực trạng quản lý nhà nước đối với KTTN ở Hà Nội, đánh giá những kết quả và những hạn chế, bất cập trong quản lý nhà nước đối với KTTN ở Hà Nội

- Đề xuất quan điểm, giải pháp nâng cao vai trò quản lý nhà nước đối với KTTN ở Hà Nội

6- Phương pháp nghiên cứu

- Đề tài kết hợp nghiên cứu lý luận gắn với thực tiễn, vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác- Lê nin, đường lối đổi mới của Đảng làm cơ sở cho luận cứ khoa học của đề tài, kế thừa những công trình nghiên cứu có liên quan, chú ý phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát thực tiễn

Trang 10

7- Nội dung nghiên cứu:

Đề tài tập trung nghiên cứu và bố cục thành ba chương:

Chương I: Quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân trong nền kinh tế

thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa-Một số vấn đề lý luận Chương II: Thực trạng quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở Hà Nội Chương III: Một số giải pháp nâng cao vai trò quản lý nhà nước đối với kinh

tế tư nhân ở Hà Nội

Trang 11

Chương i

Quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng x∙ hội chủ nghĩa-

Một số vấn đề lý luận

1.1- Tính tất yếu khách quan của sự tồn tại và phát Triển

kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định

hướng x∙ hội chủ nghĩa ở nước ta

1.1.1- Một số hình thức biểu hiện của kinh tế tư nhân

Thuật ngữ kinh tế tư nhân được dùng để chỉ các loại hình kinh tế hoạt

động dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất bao gồm kinh tế cá thể, tiểu

chủ, kinh tế tư bản tư nhân ở nhiều nước, kinh tế tư nhân (KTTN) là thuật

ngữ được sử dụng để phân biệt với kinh tế nhà nước, tức là tất cả các hoạt

động kinh tế không phải là kinh tế nhà nước đều được coi là KTTN ở nước ta,

trước Đại hội X của Đảng, KTTN được hiểu là một thành phần kinh tế tư bản

tư nhân, hiện nay, chính thức theo Văn kiện Đại hội X của Đảng, KTTN được

hiểu là thành phần kinh tế bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản

tư nhân trong nước Cùng với KTTN, nền kinh tế thị trường định hướng

XHCN ở nước ta còn có các thành phần kinh tế khác như kinh tế nhà nước,

kinh tế tập thể, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài,

trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo

Kinh tế cá thể, tiểu chủ là những đơn vị kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ

về tư liệu sản xuất của cá nhân hoặc hộ gia đình, hoạt động chủ yếu bằng sức lao

động và vốn của chính họ và làm chủ toàn bộ kết quả sản xuất kinh doanh Kinh

tế cá thể, tiểu chủ tồn tại dưới các hình thức như hộ làm thương mại - dịch vụ,

xưởng thợ, hộ kinh tế trang trại Họ có thể sản xuất kinh doanh độc lập hoặc có

thể làm gia công, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp tư bản tư nhân

Kinh tế tư bản tư nhân là những đơn vị kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân

lớn về tư liệu sản xuất, do một hoặc một số nhà tư bản góp vốn để tiến hành

Trang 12

sản xuất - kinh doanh, mua tư liệu sản xuất, thuê lao động vì mục đích tạo ra giá trị trặng dư Kinh tế tư bản tư nhân bao gồm các loại hình đa dạng như: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, các loại hình doanh nghiệp tư nhân được xác định như sau:

Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu

trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp

Công ty trách nhiệm hữu hạn: là loại doanh nghiệp trong đó các thành

viên cùng góp vốn, cùng hưởng lợi, cùng chịu rủi ro tương ứng với phần vốn góp, chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn không được phép phát hành cổ phiếu

Công ty cổ phần: là loại doanh nghiệp trong đó số thành viên gọi là cổ

đông mà doanh nghiệp phải có trong suốt quá trình hoạt động ít nhất là 3 cổ

đông, không hạn chế số lượng tối đa Vốn điều lệ được chia làm nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cổ đông góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp Chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty gọi là cổ phiếu Công ty cổ phần có quyền phát hành trái phiếu

Công ty hợp danh: là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên hợp

danh, ngoài các thành viên hợp danh có thể có các thành viên góp vốn Thành viên hợp danh là người có trình độ chuyên môn, có uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty

Như vậy, kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân là thuộc cùng một thành phần kinh tế, cùng dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, nhưng trong đó quy mô sở hữu rất khác nhau, có những người rất giàu nhưng cũng có người còn nghèo, có người làm chủ và cũng có người còn phải làm thuê… Ngày nay, quan niệm về KTTN cũng đã được mở rộng về ngành nghề, bao gồm cả nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, trong dịch vụ thì rất rộng, bao gồm cả giáo dục, y tế, văn hoá, tài chính- tiền tệ, tư vấn và các dịch vụ công khác Quan niệm về KTTN là rất rộng cả về quy mô sở hữu và cơ cấu ngành nghề, điều đó cho phép huy động và phát huy tối đa nội lực để phát triển kinh tế, đồng thời cũng làm cho việc quản lý khu vực KTTN trở nên hết

Trang 13

sức phức tạp, đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới và phù hợp trong quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế này

1.1.2 Bản chất sự ra đời và phát triển của KTTN

KTTN ra đời một cách tự nhiên do nhu cầu phát triển của đời sống con người.Trong lịch sử phát triển kinh tế - xã hội, KTTN ra đời từ rất sớm gắn liền với sự hình thành và phát triển của kinh tế hàng hoá KTTN ra đời và phát triển xuất phát từ nhu cầu trước hết là để tồn tại và tiếp theo là những nhu cầu

đa dạng của con người Trong giai đoạn sản xuất hàng hoá giản đơn, KTTN

được biểu hiện ở hình thức là các hộ sản xuất cá thể, tiểu chủ, ra đời do đòi hỏi tất yếu để sinh tồn, hoạt động kinh tế mang tính tự cấp tự túc, hầu như không có hoặc có rất ít giá trị dôi ra để tích luỹ Quá trình phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội đã làm xuất hiện quan hệ hàng hoá- tiền tệ và từ đó nảy sinh nhu cầu tích tụ sản xuất và chuyển hoá tiền thành tư bản, hình thành các doanh nghiệp tư bản tư nhân đầu tư vốn, sử dụng lao động làm thuê để tạo ra giá trị thặng dư Với mục tiêu cao nhất và cuối cùng là tạo ra giá trị thặng dư và không ngừng chuyển giá trị thặng dư vào tái sản xuất mở rộng, KTTN đã tạo động lực cho nền kinh tế hàng hoá không ngừng phát triển từ sản xuất hàng hoá giản đơn lên sản xuất hàng hoá hiện đại

Sự phát triển của KTTN gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thị trường Với khả năng linh hoạt, dễ hình thành, dễ thích nghi, thậm chí có thể

tự tìm lấy đường đi ngay cả trong những hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, KTTN chính là loại hình kinh tế phù hợp nhất trong nền kinh tế thị trường Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của nền sản xuất hàng hoá, là phương thức

Trang 14

tốt nhất để nền kinh tế vận hành có hiệu quả Tuy nhiên, không thể có kinh tế thị trường nếu không có sự hoạt động và phát triển của KTTN, mà đại diện là các doanh nghiệp tư nhân và ngược lại kinh tế thị trường cũng chính là môi trường sinh tồn của KTTN Cơ chế thị trường kích thích cạnh tranh để phát triển, sự cạnh tranh trong cơ chế thị trường mang tính khắc nghiệt theo nguyên tắc mạnh thắng, yếu thua, là cơ chế đào thải khắt khe, đòi hỏi các chủ thể phải hết sức năng động, nhạy bén trước những biến động của thị trường, dám mạo hiểm đầu tư, biết chấp nhận rủi ro để tìm cơ hội phát triển, luôn cải tiến quản

lý, đổi mới tiến bộ khoa học- kỹ thuật để nâng cao sức cạnh tranh mới có thể tồn tại được Chính vì vậy cơ chế thị trường là điều kiện để tăng trưởng, phát triển kinh tế Sự tự chủ trong sản xuất kinh doanh, sự gắn kết lợi ích kinh tế chặt chẽ của chủ đầu tư với kết quả sản xuất kinh doanh làm cho KTTN rất thích hợp với cơ chế thị trường, và tạo được động lực thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển Nền kinh tế thị trường là môi trường sống thích hợp nhất đối với KTTN, đến lượt mình, sự phát triển của KTTN góp phần thúc đẩy kinh tế thị trường phát triển lên trình độ cao hơn

Chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định sự tồn tại của KTTN là tất yếu

khách quan trong thời kỳ quá độ lên CNXH Trong Tuyên ngôn của Đảng

cộng sản, C Mác và Ph ăng ghen đã chỉ dạy rằng, mặc dù mục tiêu của cách

mạng vô sản là xoá bỏ chế độ tư hữu tư sản, nhưng không thể thủ tiêu chế độ tư hữu ngay lập tức được cũng như không thể làm cho lực lượng sản xuất hiện

có tăng lên ngay lập tức đến mức cần thiết để xây dựng một nền kinh tế công hữu hoàn toàn Sở hữu tư nhân vẫn còn là động lực để phát triển lực lượng sản xuất và chỉ có thể cải tạo xã hội tư bản một cách dần dần V.I Lênin cũng cho rằng, trong thời kỳ quá độ từ nền tiểu sản xuất lên CNXH thì trong một mức

độ nào đó, CNTB là không tránh khỏi Trong nền kinh tế thời kỳ quá độ, vẫn còn có những thành phần, những bộ phận, những mảnh của cả CNTB lẫn CNXH Cụ thể trong nền kinh tế thời kỳ quá độ lên CNXH ở Nga sau Cách mạng Tháng Mười là nền kinh tế nhiều thành phần, bao gồm 5 thành phần: kinh tế nông dân kiểu gia trưởng; kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ; chủ nghĩa tư bản tư nhân; chủ nghĩa tư bản nhà nước; chủ nghĩa xã hội Phát triển nền kinh

tế nhiều thành phần, trong đó có thành phần KTTN là để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH, là có lợi cho CNXH Việc cải

Trang 15

tạo thành phần kinh tế tư bản tư nhân không thể nóng vội, không thể dùng mệnh lệnh hành chính để xoá bỏ mà một mặt phải tăng nhanh lực lượng sản xuất để có đủ điều kiện cải tạo được kinh tế tư bản tư nhân, mặt khác phải hướng KTTN đi theo con đường XHCN bằng cách bắc những chiếc cầu nhỏ dẫn dắt họ vào con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước, vào chế độ kinh tế hợp tác, mà theo Lênin thì chủ nghĩa tư bản nhà nước là phòng chờ để đi lên CNXH, chế độ kinh tế hợp tác của những người lao động chính là CNXH Qua thực tiễn áp dụng Chính sách kinh tế mới ở Nga, Lênin đã đánh giá cao vai trò của KTTN trong việc đẩy mạnh sản xuất, làm tăng lực lượng sản xuất, đóng góp tích cực vào tổng sản phẩm quốc nội Lênin đã chỉ rõ kinh tế thị trường với sự phát triển các thành phần kinh tế, trong đó có KTTN là tất yếu nếu không nói là duy nhất để đưa nền kinh tế từ sản xuất nhỏ lên sản xuất hiện đại Tiếc rằng ở Nga, sau khi Lênin mất, tư tưởng của Người về thời kỳ quá độ, về nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đã không được tiếp tục thực hiện Thực

tế ở các nước XHCN trước đây, do nôn nóng muốn có ngay một nền kinh tế XHCN thuần nhất nên KTTN bị coi là thành phần kinh tế phi XHCN cần phải xoá bỏ Đến những năm 80 của thế kỷ XX, nền kinh tế các nước XHCN rơi vào khủng hoảng trầm trọng và chế độ XHCN ở nhiều nước như Liên Xô và các nước XHCN Đông âu đã bị sụp đổ

Thực tế trước đổi mới ở nước ta, do xoá bỏ KTTN, xoá bỏ sản xuất hàng hoá, thực hiện cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp dẫn đến nền kinh tế bị suy sụp, buộc Đảng và Nhà nước ta phải tìm tòi con đường đổi mới để đưa đất nước ra khỏi tình trạng trên Mặc dù bị cấm đoán, phong toả nhưng KTTN do nhu cầu mưu sinh của con người, vẫn ngấm ngầm, len lỏi tồn tại, và chỉ cần Nhà nước nới lỏng quản lý một chút là nó lại hồi sinh phát triển nhanh chóng như một lẽ tự nhiên ở đâu có cầu là ở đó có cung Chính thực tế đó đã gợi mở,

đã thúc đẩy nhanh chóng sự hình thành công cuộc đổi mới ở nước ta

Trong thời đại ngày nay, bất cứ một nền kinh tế xã hội nào muốn phát triển lực lượng sản xuất, muốn đạt được hiệu quả tăng trưởng cao đều phải xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường Thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta

được xác định là lâu dài, nhưng hiện chúng ta cũng chưa xác định là lâu trong bao năm nữa, chỉ biết là chúng ta đang trong chặng đường đầu, nền kinh tế

Trang 16

còn rất lạc hậu, thua kém nhiều so với các nước phát triển Công cuộc đổi mới

ở Việt Nam do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo với quyết tâm chuyển nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp hoạt động kém hiệu quả sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đó là bước chuyển tất yếu để tăng nhanh lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Thừa nhận kinh tế thị trường là cần thiết đối với quá trình phát triển đất nước đi lên CNXH, cũng có nghĩa rằng phải thừa nhận sự tồn tại tất yếu của KTTN Qua hơn hai mươi năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Một trong những nguyên nhân cơ bản tạo nên sự phát triển kinh tế- xã hội nước ta là đã khơi dậy được tiềm năng của các thành phần kinh tế thông qua chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó KTTN có vai trò quan trọng và tiếp tục được khuyến khích phát triển theo định hướng XHCN Thực tiễn cho thấy, chủ trương phát triển KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là một chủ trương đúng đắn và nhất quán của Đảng ta dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp với quy luật kinh tế khách quan, là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước Tuy nhiên quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường và vận dụng các nguyên tắc của nó, có thể xảy ra mâu thuẫn giữa những quy định thuộc về bản chất của CNXH với mục tiêu của các hoạt động kinh tế đòi hỏi phải có sự quản lý điều tiết phù hợp của Nhà nước để nền kinh tế thị trường không đi chệch mục tiêu

định hướng XHCN

Quá trình phát triển của KTTN gắn liền với quá trình đổi mới nhận thức của Đảng về con đường đi lên CNXH, về nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, về vị trí vai trò của KTTN

1.1.3- Quan điểm của Đảng ta về phát triển KTTN trong nền kinh tế thị

Trang 17

Trước đổi mới, do nôn nóng muốn có ngay CNXH, đồng thời do ảnh hưởng của các nước XHCN lúc đó, nước ta đã áp dụng một mô hình CNXH không phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn, trình độ của lực lượng sản xuất của nước ta Đó là một mô hình CNXH thuần nhất, không chấp nhận kinh tế thị trường và đương nhiên là không chấp nhận sự tồn tại của KTTN, nền kinh tế hoạt động theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp với hai thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể Kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân được coi là đối tượng cần phải cải tạo XHCN bằng các hình thức quốc hữu hoá, tập thể hoá nhanh chóng Đến năm 1975, nền kinh tế ở miền Bắc nước ta cơ bản chỉ còn tồn tại hai hình thức sở hữu với hai thành phần kinh tế cơ bản là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể Có thể nói, trước năm 1975, trong điều kiện thời chiến, với tinh thần tất cả cho tiền tuyến để đánh thắng giặc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cộng với sự viện trợ to lớn của các nước XHCN, nên những khiếm khuyết trong nhận thức về CNXH và thực tiễn của một nền kinh tế thiếu động lực phát triển bị che lấp đi Cho đến ngày thống nhất đất nước, mô hình CNXH của miền Bắc được áp dụng, nhân rộng ra đối với miền Nam, trong tình huống không còn viện trợ của nước ngoài, những bất cập của mô hình CNXH thời kỳ này có điều kiện để bộc lộ, nền kinh tế rơi vào tình trạng sa sút, trì trệ, mất cân đối nghiêm trọng Cho đến những năm 80 nạn

đói đã bắt đầu xảy ra ở nhiều nơi Trước tình hình đó, Hội nghị Trung ương 6 khoá IV (tháng 9-1979) đã hé mở tư tưởng đổi mới với chủ trương cho sản xuất “bung ra”, thừa nhận sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần bao gồm kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, công tư hợp doanh và cá thể, thừa nhận lợi ích kinh tế và khuyến khích vật chất là động lực quan trọng để phát triển kinh

tế Những chủ trương đó nhanh chóng được nhân dân cả nước đón nhận Chỉ sau 3 tháng thực hiện, ở Hà Nội đã có 1.529 hộ gia đình đăng ký kinh doanh sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, kinh tế hộ gia đình ở thành phố

Hồ Chí Minh cũng phát triển mạnh Một số địa phương như Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Nghệ Tĩnh đã tiến hành thí điểm khoán trong nông nghiệp Chỉ thị 100-CT/TW ngày 13-1-1981 của Ban Bí thư về cải tiến công tác khoán và mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp đã bước đầu tạo động lực mới cho sản xuất nông nghiệp Trong lĩnh vực công nghiệp, Chính phủ ra Quyết định 25-QĐ/CP về quyền tự chủ của cơ

Trang 18

sở sản xuất kinh doanh, cho phép các xí nghiệp quốc doanh được làm kế hoạch 3 mang lại lợi ích thiết thân cho người lao động, tạo môi trường cho kinh tế thị trường xâm nhập vào khu vực kinh tế quốc doanh Cũng thời gian này Nhà nước còn ban hành một số chính sách khác để khuyến khích sản xuất

và trao đổi hàng hoá Những chính sách này đã thực sự tạo mảnh đất cho KTTN hồi sinh, phát triển

Đại hội V của Đảng( năm 1981) đã đặt ra vấn đề đổi mới tư duy với quan

điểm quan trọng là thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta, đã có thái độ mềm dẻo hơn với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh với chủ trương kết hợp cải tạo để sử dụng, sử dụng để cải tạo

Tuy nhiên cũng phải đến Đại hội VI (năm 1986), trên cơ sở tổng kết thực tiễn, với sự đổi mới toàn diện về tư duy trước hết là tư duy kinh tế, Đảng ta mới chính thức đề xướng công cuộc đổi mới nền kinh tế Bước đột phá của Đại hội

VI là chấp nhận và vận dụng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần nhằm khai thác mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế; thừa nhận sự tồn tại khách quan của KTTN bao gồm kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá, tiểu thương, tư sản nhỏ; thừa nhận vai trò của KTTN trong phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống nhân dân Đường lối đổi mới của Đại hội VI phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam và ý nguyện của nhân dân nên đã nhanh chóng đi vào cuộc sống Trong thực tế kinh tế đất nước chuyển sang cơ chế thị trường, xoá

bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, kinh tế quốc doanh ngày càng bộc lộ sự yếu kém, thiếu hiệu quả, trong khi đó KTTN mặc dù còn chưa được đối xử bình

đẳng như với kinh tế quốc doanh nhưng đã vươn lên mạnh mẽ, tự khẳng định mình trong tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giải quyết kịp thời những khó khăn của đời sống nhân dân

Tiếp tục quan điểm của Đại hội VI về phát triển kinh tế tư nhân và kinh

tế thị trường, Đại hội VII của Đảng khẳng định rõ thêm: “Kinh tế tư nhân

được phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý hướng dẫn của Nhà nước, trong đó kinh tế cá thể và tiểu chủ có phạm vi hoạt động tương

đối rộng ở những nơi chưa có điều kiện tổ chức kinh tế tập thể, hướng dẫn kinh tế tư nhân phát triển theo con đường tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức” Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2000 còn nhấn

Trang 19

mạnh: “Kinh tế tư bản tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và

địa bàn hoạt động trong những ngành nghề mà luật pháp không cấm”(1) Cùng với việc khẳng định vai trò của KTTN, Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ khoá VII đã nêu rõ: “Nhà nước tiếp tục khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân phát triển trong những ngành và lĩnh vực mà pháp luật không cấm, bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của các nhà kinh doanh tư nhân”(2)

Đại hội VIII (tháng 12-1996) tiếp tục khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân, trong đó “kinh tế cá thể, tiểu chủ có vị trí quan trọng, lâu dài; kinh tế tư bản tư nhân có khả năng góp phần xây dựng đất nước”(3) Hội nghị Trung

ương 4 khoá VIII đã đề xuất có chính sách khuyến khích phát triển KTTN:

“Tiếp tục cụ thể hoá chủ trương nhất quán xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần”, “hoàn thiện môi trường kinh doanh theo pháp luật tạo điều kiện cần thiết cho các doanh nghiệp và nhân dân đầu tư phát triển”, “phát trỉển các hình thức hợp tác, liên kết giữa các thành phần kinh tế”(4) Vai trò của KTTN đã

được Đảng và Nhà nước nhận thức đúng và đề ra những chủ trương chính sách cho KTTN phát triển Trong thực tế KTTN nước ta đã khẳng định được vị thế của mình trong nền kinh tế Tuy vậy, cho đến đầu năm 2000 vẫn còn có những băn khoăn trong Đảng và trong nhân dân rằng liệu kinh tế tư bản tư nhân có phù hợp được với CNXH không, KTTN được tồn tại lâu dài hay chỉ trong một giai đoạn nào đó Những băn khoăn ấy làm cho môi trường tâm lý xã hội không thuận lợi cho việc đầu tư phát triển của KTTN Vì vậy, đến Đại hội IX (tháng 4-2001), Đảng ta đã đánh giá những yếu kém của công tác lý luận, nhiều vấn đề đặt ra chưa có lời giải đáp phù hợp, trong đó có vấn đề KTTN, và tiếp tục khẳng định rõ thêm: “Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật

đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”,

“kinh tế cá thể, tiểu chủ có vị trí quan trọng lâu dài khuyến khích phát triển

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII NXB Chính trị quốc gia, H,

Trang 20

kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong các ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà luật pháp không cấm”(1) Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 đã xác định: “Đổi mới và hoàn thiện khung pháp lý, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế, chính sách và thủ tục hành chính để huy động tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật mới cho phát triển sản xuất, kinh doanh của mọi thành phần kinh tế với các hình thức sở hữu khác nhau”(2)

Trước yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc

tế, để tạo điều kiện cho KTTN phát triển đủ sức cạnh tranh và vươn ra thị trường thế giới, tại Hội nghị Trung ương 5 khoá IX, lần đầu tiên Đảng ta đã ra một nghị quyết chuyên đề về tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách khuyến khích

và tạo điều kiện phát triển KTTN Tại Hội nghị, Đảng đã nghiêm khắc tự kiểm

điểm và cho rằng còn một số vấn đề cụ thể chưa được làm rõ để tạo sự thống nhất cao; một số cơ chế chính sách của Nhà nước chưa phù hợp với đặc điểm của thành phần KTTN nước ta với đại bộ phận có quy mô nhỏ và vừa; quản lý

có phần buông lỏng và có những sơ hở, hạn chế thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển đúng hướng Vì vậy, Hội nghị đã khẳng định phát triển KTTN là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Nghị quyết Hội nghị đã nêu lên 5 nhiệm vụ cần giải quyết, đó là:

1) Thống nhất về các quan điểm chỉ đạo phát triển KTTN KTTN là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Nhà nước tôn trọng và

đảm bảo quyền tự do kinh doanh theo pháp luật, bảo đảm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, bảo vệ lợi ích chính đáng của người lao động và người

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Nxb Chính tri quốc gia, H, 2001,

tr 95- 98

2

Trang 21

5) Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và các hiệp hội kinh doanh đối với sự phát triển của KTTN (1) Quan điểm của Đảng ta về xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, về vai trò vị thế của các thành phần kinh tế qua các kỳ đại hội đã từng bước được xác định rõ Vai trò, vị thế của KTTN đã được thừa nhận và được

đánh giá ngày càng cao Từ bước đầu đổi mới, KTTN được sử dụng nhưng vẫn còn bị coi là đối tượng phải cải tạo XHCN, còn đóng vai trò thứ yếu, bổ sung cho thành phần kinh tế XHCN Nhưng đến Đại hội IX, Nghị quyết Trung

ương 5 khoá IX đã khẳng định KTTN là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, sự tồn tại của kinh tế tư nhân là tất yếu khách quan nên phải tạo điều kiện thuận lợi về pháp lý và chính sách cho KTTN phát triển Về quy mô, địa bàn và quyền kinh doanh, lúc đầu KTTN chỉ được kinh doanh trong một số ngành nghề và ở một số nơi cần thiết, nhưng đến Đại hội VII, đặc biệt là Đại hội IX, KTTN đã được kinh doanh trong tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm Doanh nghiệp khu vực tư nhân được phát triển không giới hạn quy mô và địa bàn hoạt động Sau Đại hội IX, mặc dù pháp luật quy định mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, KTTN đã được tạo điều kiện tốt hơn để phát triển, tuy vậy trên thực tế, vai trò, địa vị chính trị của KTTN vẫn chưa được bình

đẳng so với thành phần kinh tế nhà nước, vẫn còn có sự phân biệt đối xử trong việc thực hiện chính sách của một số cơ quan nhà nước Quan điểm của Đảng

về một số vấn đề cốt lõi trong tư duy chính trị quyết định đến đường lối kinh

tế còn chưa được rõ như vấn đề sở hữu, vấn đề “bóc lột”, vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân Qua 20 năm đổi mới, vấn đề thuê lao động có là bóc lột hay không vẫn là vấn đề còn gây nhiều tranh cãi trong Đảng và trong nhân dân Vẫn còn quan niệm là sự khác nhau giữa kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh

tế tư bản tư nhân chủ yếu ở chỗ không bóc lột và có bóc lột Chủ doanh nghiệp khu vực tư nhân thuê nhiều lao động vẫn còn bị coi là người bóc lột Đó là

điều làm cho không ít doanh nhân lo ngại, không cảm thấy an toàn khi bỏ vốn

đầu tư quy mô lớn và dài hạn Mặc dù đến Hội nghị Trung ương 5 khoá IX,

1

Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ năm khoá IX Nxb Chính trị quốc gia,

H, 2002, tr 59-60

Trang 22

vấn đề đảng viên làm KTTN đã được thừa nhận rằng những đảng viên đang làm chủ doanh nghiệp tư nhân, thực hiện tốt điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước thì vẫn là đảng viên của Đảng, nhưng chưa nêu thành nguyên tắc, dư luận xã hội còn băn khoăn vì đó mới chỉ là chấp nhận một thực tế đang tồn tại, còn việc những đảng viên khác muốn tham gia khởi nghiệp có được tiếp tục chấp nhận hay không thì chưa thấy nêu ra Sự chưa rõ ràng trong quan điểm của Đảng về vấn đề này vẫn tạo tâm lý xã hội bất lợi đối với đội ngũ doanh nhân tư nhân nước ta

Để tiếp tục tháo gỡ những vướng mắc về tâm lý, thay đổi cơ bản sự nhìn nhận của xã hội đối với kinh tế tư nhân, đặc biệt là với kinh tế tư bản tư nhân,

từ Hội nghị Trung ương 5 khóa IX, chính thức tại Đại hội X của Đảng (tháng

4 năm 2006), cùng với việc khẳng định kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng,

là một động lực của nền kinh tế, Đảng ta đã có những quyết sách quan trọng Trong văn kiện của Đảng, trong Điều lệ Đảng đã không còn dùng cụm từ “bóc lột” Kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân đã không còn phân biệt

là hai thành phần kinh tế khác nhau nữa mà đã được gộp chung vào thành một thành phần KTTN Văn kiện đã ghi rõ: “Trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”(1) Thay đổi trên đây trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay là hợp lý Kinh

tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân đều là những hình thức kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Trên thực tế, kinh tế tư bản tư nhân ở nước ta còn rất nhỏ bé và hiện cũng chưa có tiêu chí nào rõ ràng, cụ thể để phân biệt hai loại hình trên, có chăng cũng chỉ mới dừng ở những tranh luận

về có thuê lao động và không thuê hoặc thuê ít lao động Chúng ta đã mất quá nhiều thời giờ để tranh cãi về vấn đề có bóc lột hay không có bóc lột trong

điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay mà không đi đến một kết cục nào rõ ràng để đến nỗi có thể đã bỏ lỡ nhiều cơ hội đầu tư phát triển của KTTN Vì

sợ mang tiếng là bóc lột, nhiều hộ cá thể, tiểu chủ, nhiều doanh nghiệp nhỏ không dám mở rộng quy mô sản xuất, không dám tăng thêm lao động, nhiều

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Nxb Chính trị quốc gia, H, 2006,

Trang 23

doanh nghiệp của tư nhân hoạt động cầm chừng, không dám đầu tư làm ăn lâu dài Trong thực tế, ngày càng rõ rằng, có khi một đơn vị kinh tế tiểu chủ thuê rất ít lao động nhưng do sản xuất trong điều kiện thủ công thô sơ, cả chủ và người lao động làm việc rất vất vả nhưng thu nhập vẫn rất thấp, trong khi một doanh nghiệp lớn thuê nhiều lao động, nhưng trình độ kỹ thuật - công nghệ tiên tiến, người lao động làm việc đỡ vất vả hơn mà lại có thu nhập cao hơn Hoặc có nhiều trường hợp, những người lao động có cùng trình độ, cùng làm một loại công việc như nhau nhưng người lao động trong doanh nghiệp nhà nước có thu nhập thấp hơn người lao động trong doanh nghiệp của tư nhân Mặt khác, hiện nay ở nước ta, do nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh, ngày càng có nhiều doanh nghiệp có chế độ sở hữu khác nhau như sở hữu tư nhân,

sở hữu tập thể, và cả sở hữu nhà nước liên kết, hợp tác thành những công ty cổ phần cùng nhau tiến hành sản xuất kinh doanh, thì người lao động ở đó nếu quan niệm là bị bóc lột thì không phải chỉ có chủ tư bản bóc lột họ Hoặc ở những công ty cổ phần, ngay cả người lao động cũng có sở hữu một số cổ phần, thì chẳng lẽ họ tự bóc lột mình Vì vậy, sẽ là bất cập, vô lý nếu chúng ta còn vương vấn mãi với định kiến bóc lột như trong chế độ phong kiến, chế độ tư bản, trong khi ở xã hội ta hiện nay nó đã trở nên không còn nguyên nghĩa Dưới chế độ TBCN, bóc lột đi kèm với áp bức bất công Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, nền kinh tế còn kém phát triển, cần phải khuyến khích nhân dân đầu tư phát triển kinh tế, thì việc chủ doanh nghiệp sử dụng phần giá trị thăng dư do công sức lao động quản lý, tài năng, vốn liếng của mình cộng với có thể có cả một phần giá trị thặng dư do sức lao động của người lao động trong doanh nghiệp tạo ra để tái sản xuất mở rộng, phát triển doanh nghiệp cũng là điều chấp nhận được.Việc nhập kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân vào một thành phần kinh tế cũng có nghĩa là đã không còn có sự phân biệt giữa “không bóc lột” và “có bóc lột”

Một điểm mới nữa của Đại hội X là Đảng ta đã cho phép đảng viên làm KTTN Tại Đại hội X, Đảng ta đó cho rằng, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, do Đảng Cộng sản lónh đạo, chỳng ta khụng xem KTTN là gắn với CNTB, mà lónh đạo KTTN phỏt triển theo định hướng XHCN Vỡ vậy, đảng viờn cú thể làm KTTN trờn cơ sở gương mẫu chấp hành luật phỏp, chớnh sỏch của Nhà nước, nghiờm chỉnh chấp hành Điều lệ Đảng và quy định

Trang 24

của BCH Trung ương Điều lệ Đảng thụng qua tại Đại hội X, trong điều 1 cú ghi: Đảng viờn Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sỹ cỏch mạng trong đội tiờn phong của giai cấp cụng nhõn ; cú lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; ”, tức là đó bỏ cụm từ “khụng búc lột” như trong Điều lệ của Đảng thụng qua tại cỏc Đại hội trước là “cú lao động, khụng búc lột, hoàn thành tốt

nhiệm vụ được giao” Chủ trương này của Đảng một mặt phỏt huy được tiềm

năng của đội ngũ đảng viờn vào phỏt triển kinh tế, mặt khỏc làm yờn lũng đội ngũ doanh nhõn tư nhõn, xoỏ đi mặc cảm của xó hội đối với kinh tế tư bản tư nhõn Đảng viờn khụng búc lột là một vấn đề cú tớnh nguyờn tắc của Đảng Cộng sản, cho phộp đảng viờn làm KTTN cũng cú nghĩa là khẳng định KTTN nước ta dưới sự lónh đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nước XHCN, cựng đi lờn CNXH, tuõn thủ phỏp luật là khụng cũn cơ sở để tồn tại quan hệ ỏp bức, búc lột như kinh tế tư bản tư nhõn dưới chế độ tư bản chủ nghĩa Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải tạo ra và tích luỹ được lợi nhuận nhằm mở rộng quy mô và phát triển sản xuất kinh doanh thì mới đủ sức cạnh tranh để đứng vững được Để xác định một chủ doanh nghiệp tư nhân có bóc lột hay không hoàn toàn có thể căn cứ vào việc chấp hành Luật Lao động và chính sách tiền lương của Nhà nước trong từng giai

đoạn, từng lĩnh vực của doanh nghiệp, căn cứ vào quan hệ giữa chủ doanh nghiệp và người lao động Tại Hội nghị Trung ương 3 khoá X, Đảng ta đã ban hành Quy định về đảng viờn làm kinh tế tư nhõn, cũng đó chỉ rừ cụ thể đảng viờn làm KTTN nhõn phải là người trực tiếp tham gia lao động; phải đối xử đỳng mực và cú quan hệ thật tốt với người lao động; gương mẫu chấp hành nghiờm chỉnh phỏp luật, Điều lệ Đảng, chớnh sỏch, nghĩa vụ đối với Nhà nước; tham gia tớch cực vào cỏc hoạt động xó hội Những đảng viên làm chủ doanh nghiệp tư nhân thực hiện tốt Quy định của Đảng không những góp phần phát triển kinh tế đất nước mà còn là tấm gương cho các chủ doanh nghiệp ngoài Đảng noi theo

Để giải quyết được ngày càng triệt để những gỡ cũn vướng mắc trong nhận thức lý luận về KTTN, để có được những quyết sỏch quan trọng như vậy, Đảng ta đó chỉ đạo nhiều cụng trỡnh nghiờn cứu lý luận, tổng kết thực tiễn ở nước ta từ khi đổi mới đến nay Trờn cơ sở của chủ nghĩa Mỏc - Lờnin,

tư tưởng Hồ Chớ Minh, nghiờn cứu tớnh tất yếu và khả năng đi lờn CNXH ở

Trang 25

nước ta trên cơ sở xuất phỏt từ xõy dựng nền tảng kinh tế và cơ cấu giai cấp-

xó hội, Đại hội IX của Đảng đó đỏnh giỏ, qua quỏ trỡnh cỏch mạng Việt Nam

do Đảng lónh đạo, “ cơ cấu kinh tế và cơ cấu giai cấp - xó hội ở nước ta đó cú những thay đổi to lớn”, “mối quan hệ giữa cỏc giai giai cấp, cỏc tầng lớp xó hội là quan hệ hợp tỏc và đấu tranh trong nội bộ nhõn dõn, đoàn kết và hợp tỏc lõu dài trong sự nghiệp xõy dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lónh đạo của Đảng”(1) Đú là cơ cấu kinh tế, cơ cấu giai cấp - xó hội XHCN đó hỡnh thành ở nước ta Chớnh sự hợp tỏc đú đang trở thành động lực thỳc đẩy cụng cuộc đổi mới ở nước ta đi đỳng hướng Quỏ trỡnh đổi mới ở nước ta đó đạt được thành quả to lớn cú ý nghĩa lịch sử, đú là đó cải biến cơ cấu kinh tế và cơ cấu giai cấp- xó hội cũ cú giai cấp ỏp bức búc lột gắn với quan hệ đối khỏng giai cấp, từng bước tạo lập cơ cấu kinh tế và cơ cấu giai cấp - xó hội mới với quan hệ hợp tỏc và đấu tranh trong nội bộ nhõn dõn Trờn cơ sở bước đầu tạo lập một

xó hội mới cú khả năng loại trừ quan hệ giai cấp đối lập, đối khỏng, Đại hội X của Đảng đó nhấn mạnh: “Phỏt huy sức mạnh toàn dõn tộc, đẩy mạnh toàn diện cụng cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ đất nước”(2)

Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vai trò vị thế của KTTN nước ta như vậy là đã rất rõ Trước đây, do sai lầm coi chế độ công hữu là mục đích của CNXH, các thành phần kinh tế khác là phi XHCN phải nhanh chóng loại bỏ làm cho nền kinh tế đất nước rơi vào tình trạng vô cùng khó khăn, bế tắc Với

đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, đất nước ta đã tìm thấy con

đường đi lên CNXH hợp với quy luật, hợp với lòng dân Đó là một nền kinh tế thị trường định hướng đi lên CNXH, trong đó các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh bình đẳng Mục tiêu của CNXH không phải

là chế độ công hữu mà là những tiêu chí rất cụ thể, rất nhân văn, đó là: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Các thành phần kinh tế hoạt động tuân thủ pháp luật, cùng hợp tác, cạnh tranh để phát triển bình đẳng

sẽ thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất theo hướng xã hội hoá ngày

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Nxb Chính tri quốc gia, H,

2001, tr.85

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Nxb Chính trị quốc gia, H, 2006,

Trang 26

càng cao Khi đó sẽ đến một thời điểm nào đó, các thành phần kinh tế sẽ có sự hoà quyện với nhau, hợp tác với nhau, và sở hữu tư nhân lúc đó sẽ được sử dụng mang tính xã hội, phục vụ cho các mục tiêu xã hội Trong thực tế hiện nay ở nước ta, hình thức công ty cổ phần đã được đăng ký kinh doanh ngày càng nhiều hơn do lợi thế của nó về huy động vốn phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của sản xuất kinh doanh Từ thời C.Mác, khi xem xét sự ra đời của các công ty cổ phần trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, Mác đã cho rằng, đó là “sự thủ tiêu phương thức sản xuất ở ngay trong lòng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa” (1) Do yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất, do sự hỗ trợ, hướng dẫn của Nhà nước, KTTN nước ta chắc chắn sẽ đảm đương được ngày càng tốt hơn vai trò là một động lực và là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế thị trường

định hướng XHCN

Cựng với sự đổi mới ngày càng hoàn thiện quan điểm của Đảng về KTTN, Nhà nước ta đó chỳ trọng quỏ trỡnh lập phỏp, tạo cơ sở phỏp lý cho sự phỏt triển một nền kinh tế thị trường nhiều thành phần núi chung, cho KTTN núi riờng Năm 1990, Quốc hội thụng qua Luật Cụng ty và Luật Doanh nghiệp

tư nhõn Hiến phỏp năm 1992 đó khẳng định vai trũ hợp hiến của KTTN Năm

1999, Luật Doanh nghiệp được ban hành (thay thế cho Luật Cụng ty và Luật Doanh nghiệp tư nhõn), cú hiệu lực từ 1-1-2000, đó quy định về việc thành lập, tổ chức, quản lý và hoạt động của cỏc loại hỡnh doanh nghiệp tư nhõn như cụng ty trỏch nhiệm hữu hạn, cụng ty cổ phần, cụng ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhõn Luật Doanh nghiệp đó tạo cơ sở phỏp lý cho việc xõy dựng mụi trường kinh doanh bỡnh đẳng giữa cỏc loại hỡnh doanh nghiệp, thỳc đẩy cải cỏch hành chớnh, tạo mụi trường kinh doanh thuận lợi và thỳc đẩy tự do kinh doanh Luật Doanh nghiệp đi vào cuộc sống rất nhanh và tạo ra bước phỏt triển mạnh đột biến của kinh tế tư nhõn từ năm 2000 đến nay Sau 5 năm thực hiện Luật Doanh nghiệp, đến năm 2005, Luật Doanh nghiệp nhà nước và Luật Doanh nghiệp đó thống nhất chung vào một bộ luật là Luật Doanh nghiệp, cú hiệu lực từ 1- 7- 2006 cựng với việc sửa đổi một số luật như Luật Đầu tư chung cho cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, Luật Thuế ỏp dụng chung cho mọi cơ sở sản xuất kinh doanh , Luật Đất đai, Luật Thương

1 C Mác- Ph Ăngghen: Toàn tập, T 25, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1994, tr 670

Trang 27

mại được sửa đổi, bổ sung theo hướng thống nhất về mặt phỏp luật, đảm bảo sự bỡnh đẳng trước phỏp luật đối với cỏc thành phần kinh tế Cựng với luật, cỏc văn bản dưới luật, cỏc chớnh sỏch kinh tế được liờn tục ra đời, đổi mới, tạo điều kiện cho KTTN trong cỏc lĩnh vực hoạt động, tạo mụi trường kinh doanh, mụi trường tõm lý xó hội ngày càng thuận lợi cho KTTN phỏt triển

1.1.4- Vai trò của KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

ở nước ta

Với tư duy đổi mới và quan điểm phù hợp, đã có nhiều văn kiện của

Đảng và Nhà nước xác định vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân, đáng chú ý

là Văn kiện Hội nghị Trung ương 5 khóa IX: “Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Phát triển kinh tế tư nhân là vấn

đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thựac hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao nội lực của

đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế”(1) Văn kiện Hội nghị Trung ương lần thứ chín khoá IX cũng đánh giá một cách lạc quan: “Khu vực kinh tế tư nhân

có những bước phát triển vượt bậc so với những năm trước đây, đóng góp nhiều cho tạo việc làm mới, tăng thu nhập cho người lao động và cho ngân sách nhà nước”(2) Ngày nay, khi thực hiện nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế, đặc biệt là trước yêu cầu hội nhập với kinh tế thế giới, phải tham gia cạnh tranh để phát triển thì KTTN là nhân tố thúc đẩy cạnh tranh mạnh mẽ Nhờ có đường lối chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước về phát triển KTTN mà khu vực KTTN đã có sự phát triển vượt bậc, có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế đất nước, thể hiện cụ thể trên những nét cơ bản sau đây:

1) KTTN là một bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân

Nền kinh tế quốc dân là một hệ thống, gồm nhiều ngành, nhiều loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế hợp lại, có nhiều mối quan hệ tương

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ năm khoá IX Nxb Chính trị quốc gia,

H, 2002, tr.57-58

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ chín khoá IX Nxb Chính trị quốc gia,

Trang 28

tác, cả hợp tác và cạnh tranh Ngày nay, KTTN nước ta đã bao gồm nhiều ngành nghề khác nhau, (chỉ trừ những lĩnh vực mà kinh tế nhà nước phải nắm như sản xuất vũ khí, in giấy bạc…) có quy mô ngày càng lớn về vốn, số lượng doanh nghiệp và đóng góp ngày càng nhiều vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân Theo Báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp thứ 11 khoá 11 ngày 20 tháng 3 năm 2007 thì vốn đầu tư toàn xó hội năm 2006 đạt 393,5 nghỡn tỷ đồng, bằng 40,4% GDP; trong đú vốn đầu tư của dân cư và doanh nghiệp tư nhõn đạt 132,6 nghỡn tỷ đồng, đạt 31% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội(1) Tính đến hết năm 2006, cả nước ta đã có khoảng 250.000 doanh nghiệp tư nhân đăng ký hoạt

động, đặc biệt trong 6 năm kể từ khi có Luật Doanh nghiệp từ năm 2000 đến

2006, đã có 160.752 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, gấp 3 lần tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập trong 10 năm 1991 - 1999 Hiện nay trung bình mỗi năm có khoảng 25.000 - 27.000 doanh nghiệp mới thành lập KTTN

đóng góp ngày càng nhiều vào tăng trưởng kinh tế trong tất cả các ngành từ nông nghiệp, công nghiệp đến dịch vụ, từ phục vụ nhu cầu trong nước đến tham gia xuất khẩu Mặc dù lượng vốn đầu tư của khu vực KTTN năm 2004 chỉ chiếm 30,8% và năm 2006 là 32% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, nhưng đóng góp vào GDP của cả nước đạt 39,9% năm 2004 và 41% năm 2006, trong khi kinh tế nhà nước có mức vốn đầu tư trên 50% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội cũng chỉ

đóng góp 40,6% GDP(2) Kể từ khi có Luật Doanh nghiệp năm 2000, KTTN duy trì tốc độ tăng trưởng 18%/năm, trong khi kinh tế nhà nước chỉ đạt dưới 10%/năm Từ năm 2000 đến 2006, bình quân mỗi năm kinh tế tư nhân đóng góp 6.000 tỷ đồng tiền thuế, chiếm 14,8% tổng thu ngân sách nhà nước Trong

6 năm qua (2000- 2006), số vốn đăng ký mới của kinh tế tư nhân đạt 321,2 nghìn tỷ dồng, tương đương 20 tỷ USD, ngoài ra còn có 103 nghìn tỷ đồng, tương đương 6,3 tỷ USD, cao hơn số vốn của khu vực FDI đăng ký cùng thời

kỳ, tổng đầu tư của KTTN trong tổng đầu tư xã hội tăng từ 22,6% năm 2000 lên 32% năm 2006 (3) Tốc độ tăng trưởng GDP của KTTN cũng cao hơn tốc độ tăng trưởng chung: năm 2000 tăng 9,7% so với 6,79%, con số tương ứng năm 2001-13,43%/6,89%, năm 2002- 12,02%/7,08%, năm 2003 - 10,2%/7,34%,

1 Báo Nhân dân điện tử ngày 21-3-2007

2 Lan Ngọc- Tiếp sức cho doanh nghiệp tư nhân hội nhập Báo Hà Nội mới ngày 11- 4- 2007

3 Trần Đình Thiên- Khu vực kinh tế tư nhân- động lực phát triển mạnh của kinh tế Việt Nam Tạp chí Quản lý

Trang 29

năm 2004 - 11,9%/7,69%(1).Với số vốn ít hơn, KTTN đã tạo ra lượng giá trị gia tăng không thua kém kinh tế nhà nước Trong khi đầu tư nước ngoài kén chọn

địa điểm đầu tư, thì đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân trong nước lại lan rộng

ở các địa phương, các vùng nghèo, vùng sâu, vùng xa, nơi có trình độ phát triển kinh tế thấp, điều kiện kinh doanh kém thuận lợi Thực tế đó cho thấy, trong nền kinh tế thị trường, KTTN là lực lượng có khả năng huy động nguồn lực to lớn vào phát triển kinh tế nhanh và có hiệu quả nhất, KTTN xứng đáng được coi

là một bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân nước ta như văn kiện Hội nghị Trung ương 5 khóa IX của Đảng đã khẳng định

2) Tham gia tích cực và có hiệu quả vào thực hiện các mục tiêu x∙ hội

KTTN là lực lượng chính tạo việc làm và thu nhập cho người lao động, góp phần quan trọng trong xoá đói giảm nghèo, trong hoạt động từ thiện, giảm bớt chênh lệch giàu nghèo trong xã hội Giải quyết việc làm là nhiệm vụ trọng tâm nhưng cũng là vấn đề khó khăn nan giải nhất trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế ở nước ta Trong khi chỉ chiếm 1/3 tổng số tăng trưởng tài sản của toàn bộ nền kinh tế, lợi nhuận còn khiêm tốn, chỉ chiếm 1/4 tổng số lợi nhuận tăng thêm hàng năm, nhưng KTTN lại tạo ra 2/3 tổng số việc làm mới của tất cả các thành phần kinh tế tạo ra Có thể nói, với vai trò là lực lượng chính tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo KTTN chứng tỏ là lực lượng quan trọng giúp cho nền kinh tế nước ta đi đúng

định hướng XHCN Số việc làm năm 2003 trong khu vực KTTN khoảng 6 triệu người, chiếm 16% lực lượng lao động xã hội ( không tính số lao động trong nông nghiệp), cơ cấu lao động khu vực dân doanh năm 2005 chiếm tới 88,8% (nhà nước: 9,6%, đầu tư nước ngoài: 1,6%) Theo Phụ trang Thời Báo kinh tế Việt Nam 2006- 2007 thì từ năm 2000 đến 2006, tổng số lao động

đang làm việc tăng 5.862,5 nghìn người thì khu vực nhà nước tăng 508,8 nghìn người, chiếm 8,7%, ngoài nhà nước tăng 4.844,1 nghìn người, chiếm 83,1%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 473,6 nghìn người, chiếm 8,1% Trong tổng số người đang làm việc, khu vực nhà nước có 4.009,8 nghìn người, chiếm 9,2%, khu vực ngoài nhà nước có 38.725,9 nghìn người, chiếm 89,2%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có 700,4 nghìn người, chiếm 1,6%

1 Thời báo kinh tế Việt Nam - Kinh tế 2005-2006 Việt Nam và thế giới

Trang 30

Các số liệu trên chứng tỏ, khu vực ngoài nhà nước( chủ yếu là kinh tế tư nhân) trở thành khu vực chủ yếu thu hút số lao động của cả nước, đồng thời cũng là khu vực chủ yếu giải quyết việc làm cho số lao động tăng thêm(1)

Phần lớn số lao động trong cơ quan nhà nước và doanh nghiệp nhà nước trong diện tinh giảm biên chế, cán bộ chiến sĩ của lực lượng vũ trang phục viên…, đều tham gia hoạt động KTTN Khả năng tạo việc làm của KTTN khá cao là do tính linh hoạt trong việc tiếp nhận lao động của khu vực kinh tế này,

từ những nghề nghiệp đòi hỏi lao động có trình độ kiến thức và tay nghề rất cao, đến những nghề đơn giản, thủ công mà nhiều người không có điều kiện

đào tạo vẫn có thể vào làm việc được Cần khẳng định rằng, chính nhờ đường lối phát triển KTTN của Đảng và Nhà nước ta trong những năm đổi mới cũng như tư duy và quan điểm mới về lao động và việc làm nên việc giải quyết lao

động dôi dư trong xã hội ta trở nên nhẹ nhàng, uyển chuyển hơn rất nhiều so với trước đây trong thời bao cấp

Ngoài ra, trong các cuộc vận động ủng hộ người nghèo thường xuyên có

sự tham gia tích cực và đầy nhân nghĩa của nhiều nhà hảo tâm là những người chủ doanh nghiệp thuộc KTTN Có thể nói, với vai trò là lực lượng chính tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo KTTN ngày nay chứng tỏ là một lực lượng quan trọng góp phần phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta

3) KTTN là nguồn lực thúc đẩy cạnh tranh thị trường

Trước đổi mới, nền kinh tế nước ta gần như không có cạnh tranh Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều do Nhà nước chi phối Trong quá trình đổi mới, các doanh nghiệp được tự do cạnh tranh trên thị trường Trong cuộc cạnh tranh đó, có người được, kẻ mất, cái mất chỉ là sự chọn lọc tự nhiên của thị trường, sẽ loại trừ những hàng hóa kém phẩm chất, giá thành cao không được xã hội chấp nhận, các doanh nghiệp không thích nghi và làm ăn kém trên thương trường phải lựa chọn hoặc đổi mới, sắp xếp lại để tiếp tục vươn lên hoặc chấp nhận phá sản Những doanh nghiệp giành thắng lợi trong cạnh tranh cũng không thể tự mãn mà phải luôn luôn đổi mới, sẵn sàng đối phó với các

đối thủ hiện hữu và đối thủ tiềm năng Với cơ chế đó, cạnh tranh là động lực

1 Thời báo kinh tế Việt Nam- Kinh tế 2005-2006 Việt Nam và thế giới, tr.33

Trang 31

của kinh tế thị trường, chỉ mang lại lợi ích cho người tiêu dùng, cho xã hội, cho doanh nghiệp, cho đất nước mà kinh tế tư nhân là nguồn lực chủ yếu thúc

đẩy cạnh tranh lành mạnh Trong sự đua tranh để phát triển, kinh tế tư nhân đã góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển các loại thị trường như thị trường hàng hoá, thị trường tài chính, thị trường đất đai làm cho môi trường cạnh tranh ngày càng năng động hơn, ngay cả các doanh nghiệp nhà nước cũng phải đổi mới để tự nâng cao năng lực cạnh tranh của mình

4) KTTN giữ vai trò quan trọng trong thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu

kinh tế và tăng kim ngạch xuất khẩu

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một yêu cầu tất yếu trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay nhằm đạt tới một nền kinh tế có cơ cấu hợp lý, giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa các ngành kinh

tế quốc dân, giữa các vùng lãnh thổ và giữa các thành phần kinh tế Cơ cấu kinh tế có ý nghĩa thiết thực trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển đa dạng, năng động, phát huy lợi thế tiềm năng về nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và thế giới KTTN thường đầu tư vào những lĩnh vực, những ngành mang lại hiệu quả cao, chẳng hạn như ngành dịch vụ; trong nông nghiệp là những sản phẩm có giá trị kinh tế cao Từ năm

1998 đến 2000, KTTN đầu tư vào ngành dịch vụ, nhất là dịch vụ thương mại tăng từ 39% lên 54% Sự năng động của KTTN đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng nhanh các ngành công nghiệp và dịch vụ

Trước đây trong thời bao cấp, hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và xuất nhập khẩu nói riêng do Nhà nước độc quyền nắm giữ, hoàn toàn do doanh nghiệp nhà nước thực hiện Sau thời kỳ đổi mới, nhất là khi nước ta hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới (vào ASEAN, tham gia APEC, ký Hiệp nghị thương mại Việt- Mỹ, vào WTO…) cùng với chính sách kinh tế nhiều thành phần, kimh KTTN đã tham gia tích cực vào hoạt động xuất nhập khẩu Các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN không những tiến hành sản xuất hàng xuất khẩu mà còn trực tiếp hoạt động xuất nhập khẩu Có thể nói rằng, các hàng hóa xuất khẩu thuộc nhóm hàng nông lâm thủy sản, thủ công mỹ nghệ đều chủ yếu do các doanh nghiệp và hộ cá thể thuộc khu vực KTTN sản xuất, cung

Trang 32

ứng cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, trong đó có nhiều doanh nghiệp tư nhân, chế biến và xuất khẩu sang các nước Loại hoạt động này trước đây trong thời bao cấp cũng có nhưng không đáng kể Ngoài ra, trong điều kiện hội nhập hiện nay, các đối tác nước ngoài chủ yếu là KTTN nên KTTN trong nước cũng dễ tiếp cận làm ăn với họ, còn các doanh nghiệp nước ngoài cũng thích làm ăn với tư nhân trong nước do những doanh nghiệp của tư nhân có quyền tự chủ cao, cơ chế thông thoáng hơn

5) Hình thành một lớp người mới, đó là tầng lớp doanh nhân, họ là

những người lính xung kích, có đủ dũng khí đưa vốn liếng tài sản ra kinh doanh trong khi môi trường còn chưa đủ thông thoáng và có nhiều rủi ro Khá nhiều người đã trở thành những nhà quản lý giỏi, có tri thức khoa học - công nghệ, không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường Cùng với quá trình dân chủ hoá kinh tế, KTTN ra đời đánh dấu một bước tiến vượt bậc trong quá trình giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta

6) Kinh tế tư nhân là lực lượng to lớn góp phần xây dựng đồng bộ nền

kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.

Văn kiện Hội nghị Trung ương 5, khóa IX đã khẳng định: “Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế”(1) KTTN là khu vực kinh tế của tuyệt đại bộ phận nhân dân, nên có khi trong thực tế còn được

gọi là “kinh tế dân doanh”, là nơi tạo việc làm và nguồn sống của trên 90%

dân số cả nước và còn là chỗ dựa của nhiều cán bộ, công chức, công nhân viên trong hệ thống nhà nước Sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta là sự nghiệp của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, trong đó kinh tế nhà nước phải vươn lên giữ vai trò chủ đạo, còn các thành phần kinh tế khác cùng tham gia hoạt động, nó có đảm bảo định hướng XHCN hay không

là tùy thuộc vào hiệu lực lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước Với

đường lối đổi mới của Đảng trong phát triển kinh tế theo hướng thị trường và

có nhiều thành phần kinh tế tham gia, với tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong sự nghiệp giữ nước và dựng nước, rõ ràng KTTN của đại bộ phận nhân

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ năm khoá IX Nxb Chính trị quốc gia,

Trang 33

dân tham gia đã, đang và sẽ góp phần to lớn vào công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta

Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển KTTN nói chung, kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta nói riêng, có thể đi đến một số nhận định sau:

Một là: Sự ra đời và phát triển của KTTN là một tất yếu khách quan

trong quá trình phát triển của xã hội loài người ở nước ta, phát triển KTTN là một tất yếu xuất phát từ quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất Ngày nay KTTN vẫn đang phát huy vai trò của nó trong phát triển lực lượng sản xuất và sẽ còn tồn tại lâu dài trong thời kỳ quá độ lên CNXH

Hai là: KTTN nước ta ngày càng chứng tỏ là “bộ phận hợp thành của nền

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, “là chỗ dựa thiết yếu”, “có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế” như Đại hội

X của Đảng đã nhận định Tuy vậy, KTTN nước ta thực lực cũng như kinh nghiệm sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường còn nhiều hạn chế, là

bộ phận dễ bị tổn thương do trước đây đã từng bị xã hội kỳ thị Sự tồn tại của KTTN mặc dù là tất yếu khách quan, nhưng tốc độ phát triển, khả năng đóng góp của nó vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước lại phụ thuộc nhiều vào quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước KTTN, dặc biệt là các doanh nghiệp khu vực tư nhân rất cần được xoá bỏ mọi rào cản

về tâm lý, cần được động viên, hỗ trợ từ phía các cơ quan quản lý nhà nước để

họ có đủ tự tin, đủ dũng khí đem tài năng, vốn liếng đầu tư kinh doanh và đối mặt với những thách thức trên thương trường, nhất là thương trường trong điều kiện hội nhập với các nền kinh tế lớn của thế giới như hiện nay

Ba là: Phát triển KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

là một xu thế khách quan, nhưng để đưa KTTN phát triển theo đúng định hướng XHCN lại là một nhiệm vụ hết sức khó khăn, phức tạp và lâu dài KTTN chỉ có thể phát triển đúng định hướng XHCN khi Đảng và Nhà nước có chính sách và biện pháp quản lý phù hợp, sao cho không làm mất động lực phát triển của nó nhưng cũng không để nó vận động tự phát ngoài vòng pháp luật

Trang 34

Để nền kinh tế nhiều thành phần trong đó có KTTN phát triển đúng định hướng XHCN, Nhà nước cần phải vận dụng các công cụ kinh tế, hệ thống pháp luật để quản lý, không những thế, Nhà nước cần phải có thực lực kinh tế

để điều tiết, định hướng Đảng ta đã khẳng định kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước “là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển” Vai trò quản lý của Nhà nước đối với kinh tế tư nhân là hết sức quan trọng, Nhà nước cần phải xây dựng, hoàn thiện các cơ chế chính sách, hệ thống pháp luật đảm bảo đủ hành lang pháp lý, tạo điều kiện cho KTTN phát triển; đồng thời, không ngừng đổi mới mạnh mẽ kinh tế nhà nước để phát huy vai trò chủ đạo

và định hướng của nó trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

1.2- Vai trò và chức năng quản lý nhà nước đối với kinh

tế tư nhân ở nước ta hiện nay

1.2.1- Đặc điểm của KTTN nước ta

Các nền kinh tế khác nhau, do trình độ phát triển, truyền thống văn hoá, điều kiện chính trị khác nhau mà sự phát triển của KTTN ở mỗi nước có những đặc điểm khác nhau Đối với Việt Nam, KTTN có những đặc điểm chính sau đây:

Một là, KTTN hiện nay được phục hồi và phát triển là kết quả của công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo ở nước ta,

mặc dự KTTN đó được hỡnh thành từ lõu nhưng chỉ được thừa nhận và phỏt triển mạnh mẽ trong quá trình đổi mới của đất nước Quan điểm của Đảng về phỏt triển KTTN được thể hiện rừ qua cỏc Nghị quyết Đại hội VI đến Đại hội

X của Đảng và được thừa nhận trong cỏc văn bản phỏp luật của Nhà nước KTTN nước ta hiện nay phát triển trong điều kiện đất nước đang xây dựng nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản định hướng đi lên CNXH Đây là đặc điểm riêng có của KTTN nước

ta, làm cho nó khác về chất so với KTTN ở các nước khác

Quá trình phục hồi và phát triển của KTTN diễn ra trong điều kiện đất nước ta đang thực hiện quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung

Trang 35

quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường, xây dựng một nền kinh tế thị trường

định hướng XHCN Tuy đã qua hơn hai mươi năm đổi mới nhưng nền kinh tế nước ta vẫn còn đang phát triển ở trình độ thấp kém so với nhiều nước khác Trong hoàn cảnh ấy, KTTN được phục hồi và thực sự phát triển mới hơn 10 năm trở lại đây, nên còn bị hạn chế nhiều mặt, số lượng, quy mô, trình độ còn non kém Mặt khác, trong điều kiện thể chế kinh tế thị trường ở nước ta chưa

đồng bộ, hoàn chỉnh nên bản thân các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN đã phải luồn lách để tồn tại, có cái đúng nhưng cũng không ít hiện tượng vi phạm pháp luật Cho đến nay, những tàn dư của cơ chế cũ vẫn còn tồn tại với những biểu hiện tiêu cực như tệ quan liêu, sách nhiễu trong một số cán bộ, công chức thuộc các cơ quan quản lý của Nhà nước làm hạn chế sức cạnh tranh của KTTN

Là sản phẩm của quỏ trỡnh đổi mới nờn chủ cỏc hộ kinh doanh cỏ thể và doanh nghiệp tư nhõn phần lớn xuất thõn từ cỏn bộ quõn đội và tầng lớp trớ thức được hỡnh thành trong xó hội mới, trong số họ có nhiều người là đảng viên của Đảng Hơn nữa, trong cỏc doanh nghiệp KTTN ở nước ta đó và đang hỡnh thành cỏc tổ chức chớnh trị - xó hội do Đảng tổ chức và lónh đạo Do đú, KTTN ở nước ta một mặt phỏt triển theo cơ chế thị trường, mặt khỏc, phỏt triển theo định hướng XHCN Đại bộ phận những người hoạt động trong khối tư nhân luôn luôn ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình trong việc thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của Nhà nước, mong muốn góp phần phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Hai là, trình độ sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh của KTTN nước

ta còn rất yếu kém Quá trình phục hồi và phát triển của KTTN diễn ra trong

điều kiện đất nước ta đang thực hiện quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, xây dựng một nền kinh

tế thị trường định hướng XHCN Tuy đã qua hơn hai mươi năm đổi mới nhưng nền kinh tế nước ta vẫn còn đang phát triển ở trình độ thấp kém so với nhiều nước khác Trong hoàn cảnh ấy, KTTN được phục hồi và thực sự phát triển

Trang 36

mới hơn 10 năm trở lại đây, nên còn bị hạn chế nhiều mặt, số lượng, quy mô, trình độ còn non kém

Về số lượng, doanh nghiệp tư nhân nước ta còn rất ít ỏi Hiện nay, tính

đến hết năm 2006, số doanh nghiệp ở nước ta có khoảng 250.000 doanh nghiệp, nếu phấn đấu đến năm 2010 để đạt 500.000 doanh nghiệp như Thủ tướng Chính phủ đã nêu ra vào cuộc gặp gỡ các doanh nghiệp năm 2006, thì

số doanh nghiệp trên đầu người của nước ta vẫn còn rất thấp, chỉ khoảng 6 doanh nghiệp/1000 dân Trong khi đó con số này của Đài Loan năm 1999 đã

là 49 DN/1.000 dân, Nhật Bản 40 DN/1.000 dân

Hạn chế chung của kinh tế tư nhân là vốn ít, quy mô nhỏ, lao động thiếu

kỹ năng và dễ bị tổn thương 95% doanh nghiệp tư nhân có quy mô vừa và nhỏ Trình độ công nghệ lạc hậu, ở thành phố Hồ Chí Minh có 37,7% công nghệ dưới mức trung bình, Hà Nội chỉ có 13,5% có trang thiết bị hiện đại, còn 66% là trung bình, số còn lại là lạc hậu.(1) Do mức lương của khu vực kinh tế tư nhân thấp trung bình chỉ bằng 50 - 60% lương của người lao động làm trong doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài, vì vậy, kinh tế tư nhân khó thu hút được lao động có tay nghề cao và có sự gắn bó lâu dài Lao

động có trình độ đại học trở lên chỉ có 5,13%, chủ doanh nghiệp có trình độ cao đẳng trở lên có 31,2%, có 48,4% giám đốc doanh nghiệp có bằng cấp

đúng lĩnh vực kinh doanh Theo kết quả khảo sỏt về thực tiễn quản trị trong cỏc doanh nghiệp ngoài quốc doanh do Viện Nghiờn cứu quản lý kinh tế trung ương phối hợp cựng Cụng ty tư vấn quản lý MCG tiến hành cuối năm 2006, trong 63.000 doanh nghiệp, cho thấy 43% chủ doanh nghiệp cú trỡnh độ từ trung học phổ thụng trở xuống và gần 80% cỏn bộ quản lý chưa qua đào tạo kiến thức quản lý mới cú hệ thống, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm Chỉ có 10%

số lao động làm việc theo hợp đồng dài hạn

Theo tiêu chí xếp loại doanh nghiệp của nước ta, doanh nghiệp có dưới

300 lao động hoặc dươí 10 tỷ đồng vốn là doanh nghiệp thuộc loại quy mô nhỏ và vừa, thì số doanh nghiệp tư nhõn cú tới 95% thuộc quy mụ nhỏ và vừa Trong số đú, khoảng 50% thuộc quy mụ nhỏ hoặc cực nhỏ (dưới 100 lao

1 Trần Đình Thiên- Lê Văn Hùng: Khu vực kinh tế tư nhân- Động lực phát triển mạnh của kinh tế Việt Nam

Trang 37

động và dưới 5 tỷ đồng tiền vốn) Theo điều tra, bỡnh quõn một doanh nghiệp

tư nhõn chỉ cú 31 lao động, 4 tỷ đồng vốn, trong khi 1 doanh nghiệp nhà nước tương ứng 412 lao động và 167 tỷ đồng vốn Doanh nghiệp cú vốn đầu tư nước ngoài, con số tương đương là 299 lao động và 134 tỷ đồng vốn Vốn ớt nờn cỏc doanh nghiệp của tư nhõn ớt cú khả năng trang bị hoặc đổi mới cụng nghệ tiờn tiến Mức đầu tư trung bỡnh cho tài sản cố định trờn một lao động chỉ cú 43 triệu đồng, so với doanh nghiệp nhà nước là 137 triệu đồng và doanh nghiệp cú vốn đầu tư nước ngoài là 247 triệu đồng Do quy mụ nhỏ nờn doanh nghiệp tư nhõn vừa khú cạnh tranh, vừa khú là đối tỏc bỡnh đẳng với DNNN, doanh nghiệp cú vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp cỏc nước khỏc, đặc biệt là trong xu thế hợp tỏc và cạnh tranh hiện nay Với năng lực sản xuất như vậy, kinh tế tư nhân khó có thể cạnh tranh thắng lợi trên thị trường

Ba là, KTTN nước ta chưa thật thích ứng với cơ chế thị trường định hướng XHCN, còn nhiều tiêu cực trong hoạt động kinh doanh KTTN nước ta

không những yếu kém trong cạnh tranh trên thị trường, mà còn có nhiều tiêu cực trong kinh doanh, có nhiều sai phạm như gian lận thương mại, trốn thuế,

vi phạm pháp luật…Kinh tế tư nhân nước ta hiện vẫn còn tình trạng phát triển

tự phát, vô chính phủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, một bộ phận doanh nghiệp chưa chấp hành nghiêm chỉnh luật pháp Nhiều doanh nghiệp chạy theo lợi ích trước mắt, không chú ý đến nâng cao chất lượng sản phẩm Nhiều doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh không hoạt động ở tại địa chỉ

đăng ký, không nộp báo cáo tài chính định kỳ Năm 2002, Hà Nội phát hiện

400 doanh nghiệp không hoạt động tại nơi đăng ký kinh doanh, năm 2003 chỉ

có 2.240/14.404 doanh nghiệp nộp báo cáo tài chính(1)

Ngoài những hạn chế tự bản thân kinh tế tư nhân, thì môi trường kinh doanh của kinh tế tư nhân còn nhiều vướng mắc: khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng, đất đai tình trạng quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, hối lộ của một

bộ phận cán bộ quản lý nhà nước, đã làm tăng chi phí giao dịch, cản trở các hoạt động sáng tạo, làm mất cơ hội đầu tư của các doanh nghiệp, làm cho kinh

tế tư nhân giảm sức cạnh tranh, giảm ý chí vươn lên làm giàu

1 Nguyễn Lê Hoa- Một số vấn đề trong phát triển KTTN ở Việt Nam Tạp chí Tài chính số 4-2005

Trang 38

Điều này có nhiều nguyên nhân Trước hết là tự bản thân nhà kinh doanh, mục tiêu đầu tiên là tối đa hóa lợi nhuận trong điều kiện tự do hóa thương mại nên họ làm bất cứ việc gì nếu đem lại lợi nhuận tối đa, có thể là tự giác hoặc

tự phát, do không nắm được pháp luật và chính sách Mặt khác, do cơ chế chính sách của Nhà nước còn đang trong thời kỳ đổi mới và chưa hoàn thiện, việc quản lý của các cơ quan chức năng chưa phù hợp với cơ chế thị trường, tệ quan liêu, tham nhũng còn nghiêm trọng và tràn lan nên cũng gây nhiều khó khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh nhân, nhiều lúc họ phải luồn lách

để tồn tại nên không tránh khỏi khuyết điểm, phạm pháp Cũng phải thấy rằng, tình trạng tiêu cực, phạm pháp trong kinh doanh là hiện tượng chung đối với các thành phần kinh tế, kể cả kinh tế nhà nước, nhưng KTTN là một khu vực rộng lớn, quyền tự chủ cao nên những sai phạm là khá phổ biến và dễ thấy, dễ phát hiện

Tất cả những vấn đề thuộc vai trò và đặc điểm của KTTN cũng đặt ra nhiều vấn đề phải giải quyết trong quản lý nhà nước đối với khu vực KTTN nhằm phát huy mặt tích cực và tiềm năng to lớn, đồng thời hạn chế các mặt tiêu cực của nó để xây dựng đồng bộ nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

ở nước ta

1.2.2- Vai trò quản lý nhà nước đối với KTTN

Trong các nền kinh tế thị trường, vai trò của quản lý nhà nước đối với nền kinh tế là rất quan trọng nhằm khắc phục những tiêu cực do tính tự phát,

do mặt trái của nền kinh tế thị trường gây ra; mặt khác, quản lý nhà nước còn bảo đảm cho nền kinh tế đi đúng định hướng mà mỗi nhà nước đã lựa chọn Quản lý nhà nước về kinh tế là sự tác động của Nhà nước vào toàn bộ hoạt

động của nền kinh tế quốc dân bằng hệ thống luật pháp, chính sách, các công

cụ quản lý nhằm thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, ổn định tình hình chính trị- xã hội của đất nước

Quản lý nhà nước về kinh tế là một yêu cầu khách quan đối với tất cả các quốc gia trên thế giới, tuy nhiên do trình độ phát triển kinh tế, truyền thống văn hóa, chính trị, xã hội và xuất phát từ mục tiêu quản lý mà mỗi quốc gia có phương cách quản lý riêng, nhưng cùng nhằm mục đích là đảm bảo cho kinh

Trang 39

tế phát triển nhanh, bền vững và có hiệu quả Trong nền kinh tế thị trường

định hướng XHCN ở nước ta, quản lý nhà nước về kinh tế phải tuân thủ các nguyên tắc chung của nền kinh tế thị trường, đồng thời phải định hướng nền kinh tế phát triển theo con đường đi lên CNXH Trong QLNN về kinh tế thì mỗi loại đối tượng quản lý, do vai trò và đặc điểm khác nhau, nên cũng có cách thức quản lý khác nhau

Đối với KTTN, với đặc điểm cơ bản là sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất nhưng là một bộ phận hợp thành của nền kinh tế quốc dân, vừa hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường, vừa phải tuân thủ pháp luật, kỷ cương quản lý của Nhà nước, do đó mối quan hệ giữa Nhà nước với KTTN thực chất là mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân và giữa Nhà nước với thị trường Với những đặc

điểm của KTTN nước ta như đã được trình bày ở tiết 1 chương II, vai trò quản lý nhà nước đối với KTTN nước ta là rất quan trọng để KTTN vượt qua được những khó khăn, hạn chế vươn lên xứng đáng là bộ phận quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta

Nhà nước của ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, Nhà nước thay mặt nhân dân để quản lý nền kinh tế, còn nhân dân là chủ thể của đất nước, chủ thể của nền kinh tế quốc dân đồng thời là đối tượng quản lý của Nhà nước Nhà nước quản lý KTTN cũng là quản lý đa số nhân dân hoạt động kinh

tế, nhằm định hướng, hướng dẫn KTTN phát triển đúng hướng và có hiệu quả bằng cơ chế, chính sách để kích thích, động viên, hỗ trợ phát triển, đi đôi với

đảm bảo kỷ cương, trật tự trong hoạt động kinh doanh

Do vậy, có thể hiểu quản lý nhà nước đối với KTTN là sự tác động có tổ chức bằng pháp luật thông qua một hệ thống các chính sách kinh tế, các công

cụ kinh tế lên khu vực KTTN nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực , các cơ hội có thể có vào phát triển kinh tế đất nước đạt được mục tiêu đã đặt ra Nhà nước quản lý KTTN cũng như quản lý nền kinh tế thị trường, đó là một

đối tượng hết sức phức tạp, hoạt động theo quy luật khách quan, chứa đựng cả mặt tích cực và mặt tiêu cực, do đó Nhà nước trên cơ sở phải tuân thủ các quy luật của thị trường, phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của KTTN Một nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường tất yếu phải có nhiều chủ thể thuộc nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia, trong đó khu vực KTTN

Trang 40

được tự do hoạt động là động lực mạnh của nền kinh tế Để KTTN được tự chủ,

tự do hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật, Nhà nước phải đổi mới phương thức quản lý, từ thói quen quản lý trực tiếp, bằng mệnh lệnh hành chính, can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh của một thời thực hiện cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp chuyển sang quản lý chủ yếu bằng pháp luật và bằng các công cụ kinh tế, không can thiệp trực tiếp vào hoạt động của các đơn vị kinh tế để phát huy tối đa quyền chủ động của các doanh nghiệp Để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế đã đề ra, Nhà nước phải tác động tới nền kinh tế nói chung, KTTN nói riêng sao cho các chủ thể kinh tế phải được tự chủ để mọi tiềm năng phải được giải phóng và phát huy Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước phải được thể hiện ở việc đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của KTTN như thế nào KTTN, đặc biệt là các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân luôn thay đổi về hình thức hoạt động, ngành nghề hoạt động, số lượng, quy mô ngày càng tăng, trình độ công nghệ ngày càng cao cho phù hợp với điều kiện kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi sự quản lý của Nhà nước cũng phải thường xuyên hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển của khu vực này Vì thế, nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước đối với KTTN cũng có thể hiểu vừa là

đổi mới, hoàn thiện, vừa nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước nhằm

đáp ứng yêu cầu phát triển của KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Sự lớn mạnh của nền kinh tế, của khu vực KTTN đòi hỏi Nhà nước phải không ngừng nâng cao năng lực quản lý Phương thức quản lý của Nhà nước cũng không thể chỉ kiểm tra, giám sát mà chủ yếu là phải tăng cường hỗ trợ, tạo

điều kiện, cùng hợp tác chia sẻ với KTTN trước những khó khăn của họ

1.2.3- Các chức năng quản lý nhà nước đối với KTTN

Sau khi nước ta gia nhập WTO, QLNN về kinh tế nói chung và đối với

KTTN nói riêng phải được thay đổi một cách cơ bản, triệt để, không thể chần chừ, nửa chừng được nữa Điều đó chỉ có thể thực hiện khi xác định và thực hiện đúng chức năng QLNN đối với KTTN nước ta trong giai đoạn mới Trong QLNN về kinh tế có thể có nhiều chức năng, nhưng đối với khu vực KTTN thì Nhà nước tập trung làm tốt ba chức năng chủ yếu sau đây:

Một là, chức năng tạo môi trường thuận lợi cho KTTN phát triển Môi

trường cho phát triển kinh tế thì có nhiều nhưng để KTTN hoạt động thuận lợi

Ngày đăng: 14/05/2014, 13:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Tuấn Anh: Định h−ớng phát triển th−ơng mại Hà Nội trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế. Tạp chí Giáo dục lý luận, số 10- 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định h−ớng phát triển th−ơng mại Hà Nội trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế
2. Vũ Xuân Bình: Hà Nội với việc cải thiện môi tr−ờng đầu t− nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế. Tạp chí Giáo dục lý luận, số 4- 2007 3. Báo Công an, ngày 5- 3- 2007: Về việc rà soát các loại giấy phép kinh doanh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nội với việc cải thiện môi tr−ờng đầu t− nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế
Tác giả: Vũ Xuân Bình
Nhà XB: Tạp chí Giáo dục lý luận
Năm: 2007
5. Trần Tiến Cường: Đổi mới quản lý nhà nước đối với các loại doanh nghiệp theo h−ớng không phân biệt thành phần kinh tế. Đề tài cấp bộ.Viện Quản lý kinh tế trung −ơng, năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới quản lý nhà nước đối với các loại doanh nghiệp theo h−ớng không phân biệt thành phần kinh tế
Tác giả: Trần Tiến Cường
Nhà XB: Viện Quản lý kinh tế trung −ơng
Năm: 2004
6. Cục Thống kê Hà Nội: Kết quả điều tra toàn bộ doanh nghiệp 2000- 2005 thành phố Hà Nội. Hà Nội, tháng 12- 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra toàn bộ doanh nghiệp 2000-2005 thành phố Hà Nội
7. Báo Diễn đàn doanh nghiệp điện tử, ngày 3- 4- 2007: Phát huy tối đa −u đãi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Diễn đàn doanh nghiệp điện tử
Năm: 2007
8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. NXB Sự thật. H.,1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Nhà XB: NXB Sự thật. H.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII. NXB Chính trị quốc gia. H.,1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia. H.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. NXB Chính trị quốc gia. H.,1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia. H.
11. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung −ơng lần thứ năm khoá IX. NXB Chính trị quốc gia. H.,2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung −ơng lần thứ năm khoá IX
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2002
12. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. NXB Chính trị quốc gia. H.,2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia. H.
13. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. NXB Chính trị quốc gia. H.,2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia. H.
16. Nghiêm Xuân Đạt, Tô Xuân Dân, Vũ Trọng Lâm(Chủ biên): Phát triển và quản lý các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển và quản lý các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Tác giả: Nghiêm Xuân Đạt, Tô Xuân Dân, Vũ Trọng Lâm
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2002
18. Giải pháp tăng c−ờng khả năng cạnh tranh thị tr−ờng của doanh nghiệp và các thành phần kinh tế ở Hà Nội. Trang Web của Sở Khoa học và công nghệ Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp tăng c−ờng khả năng cạnh tranh thị tr−ờng của doanh nghiệp và các thành phần kinh tế ở Hà Nội
19. Báo Hà Nội mới, ngày 11- 4- 2007: Tiếp sức cho doanh nghiệp t− nh©n héi nhËp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp sức cho doanh nghiệp t− nh©n héi nhËp
Tác giả: Báo Hà Nội mới
Nhà XB: Hà Nội mới
Năm: 2007
21. Nguyễn Thị Thu Hà: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh về môi tr−ờng kinh doanh ở Việt Nam. Tạp chí Quản lý nhà n−ớc, số 9- 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh về môi tr−ờng kinh doanh ở Việt Nam
22. Đào Đình Kiên: Việt Nam gia nhập WTO - Thời cơ và thách thức trong quản lý nhà n−ớc về kinh tế. Tạp chí Quản lý nhà n−ớc, số 7- 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam gia nhập WTO - Thời cơ và thách thức trong quản lý nhà n−ớc về kinh tế
23. Hoàng Sỹ Kim: Tăng c−ờng quản lý nhà n−ớc về quy hoạch phát triển nông nghiệp. Tạp chí Quản lý nhà n−ớc, số 9- 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng c−ờng quản lý nhà n−ớc về quy hoạch phát triển nông nghiệp
Tác giả: Hoàng Sỹ Kim
Nhà XB: Tạp chí Quản lý nhà n−ớc
Năm: 2006
25. Báo Kinh tế đô thị điện tử, ngày 9- 4- 2007: Doanh nghiệp dân doanh Hà Nội- chất l−ợng có t−ơng xứng với số l−ợng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Kinh tế đô thị điện tử, ngày 9- 4- 2007
27. Báo Tuổi trẻ online ngày 9- 2- 2007 : Đối thoại trực tuyến trên Internet của Thủ t−ớng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng về cải cách hành chÝnh.28 . C.Mác và Ph. ăngghen: Toàn tập. Tập 4, tập 19, tập 22, tập 23.NXB Chính trị quốc gia. H.,1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác và Ph. ăngghen: Toàn tập
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1995
29.Trịnh Thị Hoa Mai: Kinh tế t− nhân Việt Nam trong tiến trình hội nhËp. NXB ThÕ giíi, H., 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế t− nhân Việt Nam trong tiến trình hội nhËp
Nhà XB: NXB ThÕ giíi

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Số l−ợng doanh nghiệp ngoài nhà n−ớc ở Hà Nội - Nâng cao vai trò quản lý nhà nước đối với sự phát triển kinh tế tư nhân ở thành phố hà nội
Bảng 1 Số l−ợng doanh nghiệp ngoài nhà n−ớc ở Hà Nội (Trang 50)
Bảng 2: Lao động của doanh nghiệp chia theo loại hình doanh nghiệp - Nâng cao vai trò quản lý nhà nước đối với sự phát triển kinh tế tư nhân ở thành phố hà nội
Bảng 2 Lao động của doanh nghiệp chia theo loại hình doanh nghiệp (Trang 52)
Bảng 3: Chuyển dịch cơ cấu các thành phần kinh tế trong ngành công nghiệp HN - Nâng cao vai trò quản lý nhà nước đối với sự phát triển kinh tế tư nhân ở thành phố hà nội
Bảng 3 Chuyển dịch cơ cấu các thành phần kinh tế trong ngành công nghiệp HN (Trang 54)
Bảng 4: Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn (Giá 1994) - Nâng cao vai trò quản lý nhà nước đối với sự phát triển kinh tế tư nhân ở thành phố hà nội
Bảng 4 Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn (Giá 1994) (Trang 55)
Bảng 5: Cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội - Nâng cao vai trò quản lý nhà nước đối với sự phát triển kinh tế tư nhân ở thành phố hà nội
Bảng 5 Cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội (Trang 57)
Bảng 6: Cơ sở kinh doanh th−ơng nghiệp và dịch vụ cá thể  2001-2005 - Nâng cao vai trò quản lý nhà nước đối với sự phát triển kinh tế tư nhân ở thành phố hà nội
Bảng 6 Cơ sở kinh doanh th−ơng nghiệp và dịch vụ cá thể 2001-2005 (Trang 59)
Bảng 7: Giá trị sản xuất nông-lâm nghiệp-thuỷ sản (giá thực tế) - Nâng cao vai trò quản lý nhà nước đối với sự phát triển kinh tế tư nhân ở thành phố hà nội
Bảng 7 Giá trị sản xuất nông-lâm nghiệp-thuỷ sản (giá thực tế) (Trang 59)
Bảng 8: Quy mô vốn của doanh nghiệp ở Hà Nội năm 2005 - Nâng cao vai trò quản lý nhà nước đối với sự phát triển kinh tế tư nhân ở thành phố hà nội
Bảng 8 Quy mô vốn của doanh nghiệp ở Hà Nội năm 2005 (Trang 63)
Bảng 9: Quy mô lao động các doanh nghiệp ở Hà Nội năm 2005 - Nâng cao vai trò quản lý nhà nước đối với sự phát triển kinh tế tư nhân ở thành phố hà nội
Bảng 9 Quy mô lao động các doanh nghiệp ở Hà Nội năm 2005 (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w