1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp theo yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa việt nam các chuyên đề nghiên cứu

295 1,2K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp theo yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả TS. Trần Đình Thắng
Người hướng dẫn ThS. Tào Thị Quyên
Trường học Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật học
Thể loại Các chuyên đề nghiên cứu
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 295
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Pháp lệnh hội số 03/2002/PL UBTVQH 11 ngày 4 tháng 10 năm 2002 về kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thì kiểm sát viên là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nh

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

CÁC CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI CẤP BỘ NĂM 2007

MÃ SỐ: B.07-12

XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ TƯ PHÁP

THEO YÊU CẦU CỦA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY

CƠ QUAN CHỦ TRÌ : VIỆN NHÀ NƯỚC – PHÁP LUẬT

Trang 2

Khái niệm và đặc điểm của cán bộ tư pháp

TS Trần Đình Thắng

1 Khái niệm, đặc điểm

1.1 Khỏi niệm cỏn bộ tư phỏp

Thuật ngữ cỏn bộ tư phỏp đó được sử dụng khỏ phổ biến trong đời sống

xó hội cũng như trong khoa học phỏp lý Tuy nhiờn khỏi niệm cỏn bộ tư phỏp chưa được giới lý luận đề cập nghiờn cứu và giải quyết Để lý giải khỏi niệm cỏn bộ tư phỏp trước hết phải làm rừ một số khỏi niệm cú liờn quan sau đõy:

- Tư pháp và quyền tư phỏp

Theo Từ điển Tiếng Việt: "Tư pháp là việc xét xử theo pháp luật" Theo nghĩa Hỏn Việt "tư" là chỉ việc nắm giữ, chấp chưởng, "tư pháp nghĩa là việc nắm giữ pháp luật" Theo Rouseau J.J: "Tư pháp là cơ quan thiêng liêng nhất và

được coi trọng nhất vì nó bảo vệ luật, mà luật do cơ quan quyền lực tối cao ban hành và do chính phủ chấp hành"

Quyền tư pháp là một trong 3 bộ phận cấu thành của quyền lực nhà nước Tuy nhiờn, ở các quốc gia có chế độ chính trị khác nhau, thì quyền tư pháp được hiểu theo cỏch khác nhau Trong cỏc nhà nước tư sản việc tổ chức quyền lực nhà nước được thực hiện dựa trờn cơ sở của thuyết tam quyền phõn lập Theo đú, quyền lực nhà nước gồm 3 quyền lập phỏp, hành phỏp và tư phỏp Quyền lập phỏp do Nghị viện nắm giữ, quyền hành phỏp thuộc về Chớnh phủ và quyền tư phỏp (hay cũn gọi là quyền xột xử) được giao cho Toà ỏn Mỗi cơ quan thực hiện quyền lực của mỡnh một cỏch độc lập Đối với cỏc nước cú mụ hỡnh tổ chức quyền lực nhà nước theo thuyết tam quyền phõn lập, quyền tư pháp chỉ là quyền xét xử của Tòa án Còn đối với các nhà nước tổ chức quyền lực nhà nước theo "nguyên tắc tập quyền", quyền tư pháp được hiểu là một lĩnh vực tổ chức và hoạt động đặc biệt của quyền lực nhà nước

Trang 3

nhằm duy trì một nền trật tự xã hội theo pháp luật, đảm bảo an ninh, an toàn

và công bằng xã hội Vỡ thế, quyền tư pháp không tách rời với các quyền năng khác của quyền lực nhà nước và là một bộ phận có mối quan hệ mật thiết với các quyền lập pháp và hành pháp Như vậy, quyền tư pháp được hiểu theo hai

nghĩa Theo nghĩa hẹp, quyền tư pháp quyền tài phán (quyền xét xử) độc lập

của Tòa án Theo nghĩa rộng, quyền tư pháp bao gồm quyền xét xử của Tòa án cũng như hoạt động bảo vệ pháp luật của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát (VKS), Cơ quan thi hành án để đảm bảo cho việc thực hiện quyền xét xử đạt hiệu quả cao, góp phần đưa các nguyên tắc được thừa nhận chung của Nhà nước vào đời sống thực tế

ở nước ta, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Một trong những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước là nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Quyền tư pháp được hiểu là một trong ba bộ phận hợp thành quyền lực nhà nước Quyền tư pháp bao gồm quyền xét xử của Tòa án và các quyền năng khác của Tòa án, của cơ quan điều tra, Viện kiểm sỏt, cơ quan thi hành án nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tôn trọng và duy trì nền công lý

Để đảm bảo sự vận hành của nền tư phỏp và giỳp cho toà ỏn đưa ra những phỏn quyết cụng minh, kịp thời và đỳng phỏp luật cần cú sự tham gia luật sư, cụng chứng và giỏm định tư phỏp Tuy nhiờn, hoạt động của luật sự, cụng chứng và giỏm định tư phỏp khụng mang tớnh quyền lực nhà nước và cũng khụng phải là bắt buộc trong tất cả mọi trường hợp Hoạt động của cỏc thiết chế này nhằm gúp phần giỳp cỏc cơ quan tư phỏp xem xột giải quyết cỏc

vụ việc một cỏch nhanh chúng, khỏch quan và đỳng theo phỏp luật Vỡ vậy, hoạt động của luật sư, cụng chứng và giỏm định tư phỏp được gọi là hoạt động

bổ trợ tư phỏp

Trang 4

Từ những phõn tớch trờn cho thấy, khái niệm quyền t− pháp có thể

đ−ợc hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp Theo nghĩa hẹp, quyền t− pháp chỉ là quyền hoạt động tài phán độc lập của Tòa án Theo nghĩa rộng, quyền t− pháp

là quyền xét xử của Tòa án nói riêng, cũng nh− các hoạt động bảo vệ pháp luật núi chung của cỏc cơ quan điều tra, cơ quan kiểm sỏt và cơ quan thi hành ỏn nhằm đảm bảo thực hiện quyền tư phỏp một cỏch nhanh chúng, kịp thời, đỳng quy định của phỏp luật, bảo vệ quyền và lợi ớch của cụng dõn tổ chức, bảo vệ trật

tự phỏp luật xó hội chủ nghĩa Trong khuụn khổ phạm vi của đề tài nghiờn cứu, khỏi niệm quyền tư phỏp được hiểu theo nghĩa rộng

Nghị quyết số 49 của Bộ Chớnh trị về Chiến lược cải cỏch tư phỏp v.v

+ Toà ỏn nhõn dõn

Hệ thống Toà ỏn ở nước ta gồm cú Tũa ỏn nhõn dõn tối cao, cỏc Tũa ỏn nhõn dõn địa phương, cỏc Tũa ỏn quõn sự và cỏc Tũa ỏn khỏc do luật định Tũa ỏn xột xử những vụ ỏn hỡnh sự, dõn sự, hụn nhõn và gia đỡnh, lao động, kinh tế, hành chớnh và giải quyết những việc khỏc theo quy định của phỏp luật Trong phạm vi chức năng của mỡnh, tũa ỏn cú nhiệm vụ bảo vệ phỏp chế xó

Trang 5

hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xó hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhõn dõn; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tớnh mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhõn phẩm của cụng dõn Bằng hoạt động của mỡnh, tũa ỏn gúp phần giỏo dục cụng dõn trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiờm chỉnh phỏp luật, tụn trọng những quy tắc của cuộc sống xó hội, ý thức đấu tranh phũng ngừa và chống tội phạm, cỏc vi phạm phỏp luật khỏc

Theo quy định của Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, hệ thống toà ỏn được tổ chức thống nhất từ Trung ương đến địa phương, bao gồm các Tòa án sau:

- Tòa án nhân dân tối cao

- Các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

- Các Tòa án quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

Viện kiểm sỏt nhõn dõn tối cao thực hành quyền cụng tố và kiểm sỏt cỏc

hoạt động tư phỏp, gúp phần bảo đảm cho phỏp luật được chấp hành nghiờm chỉnh và thống nhất

Trang 6

Cỏc Viện kiểm sỏt nhõn dõn địa phương thực hành quyền cụng tố và kiểm sỏt cỏc hoạt động tư phỏp ở địa phương mỡnh

Cỏc Viện kiểm sỏt quõn sự thực hành quyền cụng tố và kiểm sỏt cỏc hoạt động tư phỏp theo quy định của phỏp luật

Trong phạm vi chức năng của mỡnh, Viện kiểm sỏt nhõn dõn cú nhiệm

vụ gúp phần bảo vệ phỏp chế xó hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xó hội chủ nghĩa

và quyền làm chủ của nhõn dõn, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo

vệ tớnh mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự và nhõn phẩm của cụng dõn, bảo đảm để mọi hành vi xõm phạm lợi ớch của Nhà nước, của tập thể, quyền

và lợi ớch hợp phỏp của cụng dõn đều phải được xử lý theo phỏp luật

Theo quy định của Điều 30 Luật Tổ chức Viện kiểm sỏt nhõn dõn, hệ thống Viện kiểm sỏt nhõn dõn được tổ chức thống nhất từ Trung ương đến địa phương, bao gồm:

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

- Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;

- Các Viện kiểm sát quân sự

+ Cơ quan điều tra

Cơ quan điều tra là một bộ phận hợp thành của cỏc cơ quan tư phỏp có nhiệm vụ tiến hành điều tra tất cả các tội phạm, áp dụng mọi biện pháp do luật

định để xác định tội phạm và người phạm tội, lập hồ sơ đề nghị truy tố, tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa tội phạm

Trong hoạt động tố tụng hình sự, khụng chỉ cơ quan điều tra mà còn có một số các cơ quan nhà nước khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt

động điều tra các vụ án hình sự xảy ra trong lĩnh vực hoạt động của mình như:

Trang 7

Cơ quan Kiểm lâm, Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Lực lượng cảnh sát biển… Mặc dù các cơ quan này không phải là cơ quan tư pháp, nhưng hoạt động của các cơ quan này liên quan trực tiếp đến việc điều tra cũng được xem là hoạt động tư phỏp

Trong các lĩnh vực tố tụng khác (tố tụng dân sự, kinh tế, hành chính lao

động), hoạt động điều tra thuộc về Toà ỏn nhõn dõn Hoạt động điều tra trong lĩnh vực này bao gồm các hoạt động cơ bản như: lấy lời khai của các bên

đương sự, hoạt động thu thập chứng cứ, kê biên, niêm phong tài sản, thực hiện các biện pháp khẩn cấp tạm thời, hòa giải giữa các bên đương sự Tuy nhiờn, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án chỉ mang tính chất hỗ trợ để bổ sung

hoặc để thẩm tra các chứng cứ của vụ ỏn cần được làm sỏng tỏ

Theo quy định của Pháp lệnh về tổ chức điều tra án hình sự năm 2004 của Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội, cơ cấu, tổ chức của Cơ quan điều tra gồm có: Cơ quan điều tra của Công an nhân dân, Cơ quan điều tra của quân đội nhân dân, Cơ quan điều tra củaViện kiểm sát nhân tối cao

Đối với Cơ quan điều tra của lực lượng Công an nhân dân gồm có: Cục

điều tra thuộc Bộ Công an, Phòng điều tra thuộc Công an cấp tỉnh, Đội điều tra thuộc Công an cấp huyện Trong quân đội, tương ứng với mỗi cấp xét xử sơ thẩm có một Cơ quan điều tra Riêng đối với Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan

điều tra chỉ thành lập ở cấp Viện kiểm sát nhân dân tối cao

+ Cơ quan thi hành án

Hoạt động của cơ quan thi hành ỏn nhằm đảm bảo lợi ích của nhà nước, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia tố tụng khi bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Quá trình thực thi bản ỏn có thể do các chủ thể bị thi hành án đơn phương tự giác thi hành hoặc do các cơ quan có thẩm quyền ỏp dụng cỏc biện phỏp phỏp luật quy định buộc các chủ thể đó phải thực hiện

Trang 8

Trong hoạt động tư phỏp, việc đảm bảo thi hành các bản án, quyết định

có hiệu lực pháp luật của Tòa án là trách nhiệm của mỗi công dân, của cơ quan tổ chức cú liờn quan và của toàn xã hội Vì thế, trên cơ sở nội dung, tính chất của các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, các cơ quan thi hành án sẽ chủ động tổ chức việc thi hành các bản án hoặc phối hợp với các cơ quan, tổ chức khác cú liờn quan theo luật định để thi hành Trong

đó, hoạt động của các cơ quan thi hành án nhằm đảm bảo các bản án và quyết

định đã có hiệu lực của Tòa án được thi hành trong thực tế được coi là hoạt động tư phỏp Hiện nay cú quan điểm cho rằng hoạt động thi hành ỏn khụng phải là hoạt động tư phỏp mà là hoạt động mang tớnh hành chớnh tư phỏp Quan điểm trờn dựa trờn cơ sở coi thi hành ỏn khụng phải là một giai đoạn của quỏ trỡnh tố tụng Tuy nhiờn, nếu quan niệm quỏ trỡnh tố tụng là quỏ trỡnh thực hiện cỏc trỡnh tự thủ tục giải quyết một vụ ỏn thỡ việc ra bản ỏn chưa phải là đó kết thỳc quỏ trỡnh đú Một vụ ỏn dự cụng minh và đỳng phỏp luật đến đõu nhưng khụng được thực thi thỡ cỏc hoạt động tố tụng trước đú cũng chỉ là vụ nghĩa Hơn nữa, theo lý thuyết chung về ỏp dụng phỏp luật thỡ tổ chức thực hiện quyết định ỏp dụng phỏp luật là một giai đoạn khụng thể thiếu của quỏ trỡnh này Chớnh vỡ vậy, theo chỳng tụi cần phải quan niệm thi hành ỏn là một giai đoạn của quỏ trỡnh tố tụng và hoạt động thi hành ỏn là hoạt động tư phỏp

ở nước ta, việc thi hành án được tổ chức thực hiện theo hai lĩnh vực là thi hành án hình sự và thi hành án đối với các loại án khác

Thi hành án hình sự được tổ chức thực hiện thông qua hệ thống các trại giam thống nhất do Bộ Công an quản lý, theo Pháp lệnh thi hành án phạt tù Thi hành án các bản án thuộc các lĩnh vực khác (về án dân sự, kinh tế, hành chính, lao động) được tổ chức thực hiện theo Pháp lệnh thi hành án dân sự 1993

Cơ quan thi hành án dân sự gồm có: Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Cơ quan thi hành án dân sự quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và các Cơ quan thi hành án trong quân đội

Trang 9

- Hoạt động tư pháp

Hiện nay chưa có khái niệm phỏp lý về hoạt động tư phỏp Cỏc văn bản quy phạm phỏp luật chưa đề cập thế nào là hoạt động tư phỏp Xuất phát từ vị trí, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước thực hiện quyền tư pháp và trên cơ sở quan điểm của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực này, có thể xác định: hoạt động tư phỏp là hoạt động của cỏc cơ quan nhà nước cú thẩm quyền theo quy định của phỏp luật nhằm thực hiện quyền tư phỏp Cụ thể là hoạt động của các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sỏt nhõn dõn, Toà ỏn nhõn dõn và Cơ quan thi hành án trong việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với các vụ

án và giải quyết các tranh chấp khỏc thuộc thẩm quyền theo quy định của phỏp luật Tuy nhiờn, không phải tất cả các hoạt động của các cơ quan tư pháp đều

được coi là hoạt động tư phỏp Bởi lẽ, cỏc cơ quan tư pháp ngoài việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ trực tiếp liên quan đến việc thực hiện quyền tư phỏp còn phải thực hiện nhiều hoạt động mang tớnh hành chớnh nhà nước khác như: xây dựng bộ máy, tổ chức cán bộ, công tác hành chính văn phòng v.v Những hoạt

động này không phải là hoạt động tư phỏp Chỉ những hoạt động nào liên quan trực tiếp đến trình tự, thủ tục nhằm thực hiện quyền tư phỏp của cỏc cơ quan này mới được coi là hoạt động tư phỏp Với nghĩa như vậy, hoạt động tư pháp bao gồm: hoạt động điều tra, hoạt động kiểm sát các hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố, hoạt động xét xử, hoạt động thi hành án và các hoạt động của các cơ quan được Nhà nước trao quyền trong việc tiến hành một số hoạt động tư pháp theo trình tự thủ tục tố tụng Trong đó, hoạt động xét xử của Tòa án là

trung tâm của quỏ trỡnh hoạt động tư phỏp

Hoạt động tư phỏp có các đặc điểm sau:

+ Hoạt động tư phỏp là hoạt động mang tớnh quyền lực nhà nước và do cơ quan tư pháp thực hiện Cơ quan tư phỏp thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mỡnh thụng qua hoạt động của cỏc cỏn bộ tư phỏp Đú là những cỏn bộ cụng chức được xếp vào một ngạch, bậc thuộc biên chế của các cơ quan tư pháp và

Trang 10

hưởng lương từ ngân sách nhà nước, có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tư pháp và chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hoạt động của mỡnh.1

Hoạt động tư phỏp là những hoạt động nhằm thực hiện quyền tư phỏp

và chủ yếu do cỏc cơ quan tư phỏp tiến hành Hoạt động của các cơ quan tư pháp được thể hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau có mối quan hệ mật thiết với nhau Tuy nhiờn, chỉ có hoạt động nào liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền tư phỏp mới được coi là hoạt động tư phỏp Với tớnh cỏch là một trong

ba bộ phận cấu thành của quyền lực nhà nước, hoạt động tư phỏp chủ yếu do cỏc cơ quan tư phỏp thực hiện Bờn cạnh đú, cú thể cú một số cơ quan lập phỏp và hành phỏp phối hợp cựng cỏc cơ quan tư phỏp để tiến hành hoạt động

tư phỏp

+ Hoạt động tư phỏp chỉ giới hạn trong quá trình tố tụng và được điều chỉnh bằng pháp luật tố tụng Hoạt động tư phỏp được tiến hành trờn cơ sở quy định của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động để giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, lao

động, quyền và nghĩa vụ của những người tiến hành tố tụng Bởi vậy, hoạt động tư phỏp được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật tố tụng

- Chức danh tư phỏp

Nghị quyết 49 của Bộ Chớnh trị về Chiến lược cải cỏch tư phỏp đến

2020 chỉ rừ "Xõy dựng đội ngũ cỏn bộ tư phỏp nhất là cỏn bộ cú chức danh

tư phỏp " Như vậy, cú thể khẳng định khỏi niệm cỏn bộ tư phỏp rộng hơn và bao gồm cả chức danh tư phỏp

Trong khoa học phỏp lý nước ta thường sử dụng thuật ngữ chức danh tư phỏp để chỉ những người cú chức vụ quyền hạn trong hoạt động tố tụng Theo

đú, “chức danh tư phỏp” là tờn gọi thể hiện vị trớ chuyờn mụn, cấp bậc, chức năng đặc thự cụng việc của những người thường xuyờn và trực tiếp tiến hành

1 Xem Đảm bảo quyền con người trong hoạt động tư phỏp - luận ỏn tiến sỹ luật học của Nguyễn Huy Hoàn Học viện chớnh trị quốc gia Hồ Chớ Minh 2004

Trang 11

hoạt động tố tụng tư pháp (điều tra, truy tố và xét xử) được xác định tại các văn bản quy phạm pháp luật về tố tụng tư pháp2 Theo quan niệm của nhóm nghiên cứu này, các chức danh tư pháp bao gồm: thẩm phán, thư ký toà án, công tố viên và điều tra viên

Từ những phân tích lập luận trên, có thể đưa ra khái niệm cán bộ tư

pháp như sau: Cán bộ tư pháp là những công dân Việt Nam được tuyển dụng

bổ nhiệm (hoặc do bầu) để giao giữ một nhiệm vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan tư pháp (hoặc các cá nhân khác được pháp luật trao quyền) có nhiệm

vụ quyền hạn trong việc thực hiện quyền tư pháp và trực tiếp tham gia hoạt động khởi tố điều tra, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án

2.Đặc điểm cán bộ tư pháp

Trước hết cán bộ tư pháp chủ yếu là cán bộ công chức Nhà nước 3

Quyền tư pháp là một bộ phận cấu thành của quyền lực nhà nước Quyền lực nhà nước do đội ngũ cán bộ công chức thay mặt Nhà nước trực tiếp thực hiện Cán bộ tư pháp là những người thực thi quyền tư pháp do đó họ phải là cán bộ công chức Nhà nước, đó là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm và được giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan tư pháp

và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước

Thứ hai, hoạt động của cán bộ tư pháp là hoạt động bảo vệ pháp luật

Hoạt động của cán bộ tư pháp khác với hoạt động của cán bộ công chức nói chung được thể hiện rõ nét nhất ở phạm vi công vụ của nó Nếu như quan niệm rằng quản lý nhà nước được thực hiện thông qua việc xây dựng pháp

Trang 12

luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật thì hoạt động của cán bộ

tư pháp chỉ giới hạn trong phạm vi bảo vệ pháp luật, nhằm khôi phục lại trạng thái các quan hệ xã hội đã bị thay đổi do hành vi vi phạm pháp luật hoặc giải quyết các tranh chấp trong xã hội

Thứ ba, số lượng cán bộ tư pháp chiếm tỷ trọng không lớn trong bộ

máy Nhà nước

Nếu so sánh với số lượng cán bộ công chức hoạt động trong các cơ quan Nhà nước khác, đặc biệt là với cơ quan hành pháp thì số lượng cán bộ công chức hoạt động trong lĩnh vực tư pháp không lớn Đặc điểm này cho phép chúng ta có thể thực hiện chế độ đãi ngộ tốt cho đội ngũ này vì trong điều kiện ngân sách Nhà nước còn có hạn mà yêu cầu đặt ra phải xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch thì việc đãi ngộ tốt cho đối tượng này là cần thiết và có thể thực hiện được trong giai đoạn hiện nay

Thứ tư, cán bộ tư pháp là những người am hiểu pháp luật sâu sắc

Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Tất cả mọi công dân nói chung cán bộ công chức Nhà nước nói riêng đều phải am hiểu pháp luật để xử sự theo pháp luật Tuy nhiên, cán bộ tư pháp là những người thay mặt Nhà nước thực hiện nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, họ trực tiếp áp dụng các quy định của pháp luật đối với các trường hợp cụ thể trong đời sống thực tiễn Vì thế họ phải là những người am hiểu pháp luật sâu sắc

Thứ năm, cán bộ tư pháp là những người có hình thức hoạt động công vụ

đặc thù, ảnh hưởng lớn đến quyền, lợi ích của Nhà nước, tổ chức và công dân

Hoạt động của cán bộ tư pháp nhằm đảm bảo cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện thống nhất Các quyết định của cán bộ tư pháp nhằm khôi phục lại trật tự xã hội đã bị thay đổi do vi phạm pháp luật gây nên, trả lại quyền và lợi ích của công dân, tổ chức bị xâm hại Mặt khác các quyết định đó

Trang 13

buộc đối tượng vi phạm phải thực hiện các chế tài pháp lý nhất định vì thế hoạt động của cán bộ tư pháp luôn ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của công dân, tổ chức Nếu hoạt động của các cán bộ tư pháp không đúng theo pháp luật thì không chỉ gây oan sai cho công dân mà còn ảnh hưởng lớn đến uy tín, danh dự của Nhà nước, làm giảm lòng tin của người dân đối với chế độ xã hội chủ nghĩa

Thứ sáu, hoạt động của cán bộ tư pháp nhằm hướng tới một phán

quyết nhân danh Nhà nước và đảm bảo thực hiện phán quyết đó

Hoạt động tư pháp bao gồm hoạt động của cán bộ điều tra, kiểm sát viên, hoạt động xét xử của các thành viên hội đồng xét xử Tất cả các hoạt động này nhằm mục đích đưa ra phán quyết của Toà án Khi bản án đã có hiệu lực pháp luật thì mọi cá nhân, tổ chức liên quan có trách nhiệm tôn trọng thực hiên

Thứ bảy, Hoạt động của cán bộ tư pháp phải tuân theo trình tự, thủ tục

chặt chẽ do pháp luật quy định

Đặc điểm này xuất phát từ đặc thù của lĩnh vực hoạt động tư pháp, đó là hoạt động rất nhạy cảm Bất kỳ một sự tuỳ tiện hoặc sai sót nào dù nhỏ nhất nhưng cũng dễ dàng xâm hại đến những quyền cơ bản của con người, của công dân được pháp luật quy định và bảo vệ như quyền sở hữu, quyền tự do, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, thậm chí cả quyền sống của con người Chính vì vậy, hoạt động của cán bộ tư pháp phải tuân theo một trình tự rất chặt chẽ, nghiêm ngặt, có sự phối hợp chế ước lẫn nhau nhằm đảm bảo mỗi cá nhân trong đội ngũ cán bộ tư pháp hoạt động đúng theo quy định của pháp luật và làm tốt chức năng của mình, góp phần thực hiện đầy đủ chức năng nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp

Thứ tám, cơ sở pháp luật xác định địa vị pháp lý của cán bộ tư pháp

hiện nay rải rác ở nhiều văn bản, song chủ yếu đều là văn bản dưới luật, hiệu lực thấp

Trang 14

xuyên trong cơ quan toà án, thực hiện nhiệm vụ xét xử nhân danh nhà nước

Theo cách hiểu khác, thẩm phán là một nghề Nếu quan niệm là một nghề thì nó phải có các đặc trưng cơ bản của nghề nghiệp như tính chuyên nghiệp,

bí quyết nghề nghiệp, tính truyền thống và được xã hội thừa nhận Tuy vậy, nó không giống như các nghề khác, ngoài những đặc trưng chung nghề thẩm phán còn có một số nét riêng: Những người làm nghề thẩm phán đòi hỏi phải

có trình độ chuyên môn pháp lý cao, có kiến thức xã hội sâu rộng, có năng lực

xét xử, có đạo đức trong sáng, có lập trường chính trị và bản lĩnh vững vàng

Theo pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội số 02/2002/PL UBTVQH 11 ngày 4 tháng 10 năm 2002 về Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân, Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền

của Toà án Thẩm phán là người được tuyển chọn bổ nhiệm trong

số các Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, có trình độ

cử nhân luật và đã được đào tạo về nghiệp vụ xét xử, có thời gian công tác thực tiễn, có năng lực làm công tác xét xử có sức khỏe, bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao 4 Nhiệm kỳ của thẩm phán là năm năm, kể từ ngày được

4 Thẩm phán toà án NDTC và TAQSTƯ do Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án quân sự trung ương chọn và Chủ tịch nước bổ nhiệm Thẩm phán toà án cấp tỉnh, cấp huyện do các Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh, Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện chọn

và Chánh án TANDTC bổ nhiệm

Trang 15

bổ nhiệm Thẩm phỏn Toà ỏn nhõn dõn ở nước Cộng hoà xó hội chủ nghĩa Việt Nam gồm cú:

- Thẩm phỏn Toà ỏn nhõn dõn tối cao;

- Thẩm phỏn Toà ỏn nhõn dõn cấp tỉnh bao gồm: Thẩm phỏn Toà ỏn nhõn dõn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

- Thẩm phỏn Toà ỏn nhõn dõn cấp huyện bao gồm: Thẩm phỏn Toà ỏn nhõn dõn huyện, quận, thị xó, thành phố thuộc tỉnh;

- Thẩm phỏn Toà ỏn quõn sự cỏc cấp bao gồm: Thẩm phỏn Toà ỏn quõn sự trung ương đồng thời là Thẩm phỏn Toà ỏn nhõn dõn tối cao;

- Thẩm phỏn Toà ỏn quõn sự cấp quõn khu bao gồm Thẩm phỏn Toà ỏn quõn sự quõn khu và tương đương; Thẩm phỏn Toà ỏn quõn sự khu vực

Điều kiện để được bổ nhiệm thẩm phỏn toà ỏn cỏc cấp:

Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 5 của Pháp lệnh Thẩm phỏn và hội thẩm, có thời gian làm công tác pháp luật từ bốn năm trở lên, có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện, Toà án quân sự khu vực, thì có thể

được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Toà án quân sự khu vực

- Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 5 của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm và đã là Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện, Thẩm phán Toà án quân sự khu vực ít nhất là năm năm, có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án quân sự cấp quân khu, thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh; nếu người đó là sĩ quan quân

Trang 16

đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Toà án quân sự cấp quân khu

Trong trường hợp do nhu cầu cán bộ của ngành Toà án nhân dân, người

có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 5 của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm và đã có thời gian làm công tác pháp luật từ mười năm trở lên, có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án quân sự cấp quân khu, thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Toà án quân sự cấp quân khu Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1

Điều 5 của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm và đã là Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh, Thẩm phán Toà án quân sự cấp quân khu ít nhất là năm năm, có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân tối cao, Toà án quân sự trung ương, thì có thể

được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Toà án quân sự trung ương

Trong trường hợp do nhu cầu cán bộ của ngành Toà án nhân dân, người

có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 5 của Pháp lệnh thẩm phỏn và đã

có thời gian làm công tác pháp luật từ mười lăm năm năm trở lên, có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà

án nhân dân tối cao, Toà án quân sự trung ương, thì có thể được tuyển chọn và

bổ nhiệm làm Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; nếu người đó là sỹ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm nhiệm làm Thẩm phán Toà án quân sự trung ương

2 Thư ký toà ỏn

Thư ký toà ỏn là người giỳp việc cho hội đồng xột xử và ghi chộp lại nội dung diễn biến của phiờn toà Trước đõy, thư ký toà ỏn được gọi là lục sự

Trang 17

Hiện nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định cụ thể tiêu chuẩn cũng như nhiệm vụ quyền hạn của chức danh này Theo công văn số 207/ QLTA ngày 23 tháng 9 năm 1989 của Bộ tư pháp (văn bản này hiện nay vẫn còn hiệu lực pháp lý) thì tiêu chuẩn để tuyển chọn thư ký toà án như sau:

3 Kiểm sát viên

Kiểm sát viên là người đại diện cho Viện kiểm sát thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động

tư pháp

Theo Pháp lệnh hội số 03/2002/PL UBTVQH 11 ngày 4 tháng 10 năm

2002 về kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thì kiểm sát viên là người được

bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ thực hành quyền công

tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Điều kiện để được tuyển chọn và bổ

nhiệm là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có trình độ cử nhân luật, đã được đào tạo về nghiệp vụ kiểm sát, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, có thời gian làm công

Trang 18

tác thực tiễn theo quy định của Pháp lệnh này, có sức khoẻ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên Nhiệm kỳ của Kiểm sát viên là năm năm, kể từ ngày được bổ nhiệm

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có:

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh bao gồm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện bao gồm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự các cấp bao gồm Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự trung ương đồng thời là Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu bao gồm Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương; Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự khu vực

Theo quy định pháp luật hiện hành, tuỳ thuộc vào mỗi cấp, việc bổ nhiệm kiểm sát viên của Viện Kiểm sát nhân dân các cấp ngoài việc phải đáp ứng những yêu cầu chung còn phải tuân theo những điều kiện tiêu chuẩn khác nhau

- Đối với kiểm sát viên cấp huyện và Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự khu vực phải có thời gian làm công tác pháp luật từ bốn năm trở lên, có năng lực thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự khu vực

Trang 19

- Đối với kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân câp tính Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu phải là người đã làm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự khu vực ít nhất là năm năm, có năng lực thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, có khả năng hướng dẫn nghiệp vụ kiểm sát đối với Viện kiểm sát cấp dưới, thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu

Trong trường hợp do nhu cầu cán bộ của ngành Kiểm sát nhân dân, người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 2 của Pháp lệnh về thẩm phán và đã

có thời gian làm công tác pháp luật từ mười năm trở lên, có năng lực thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, có khả năng hướng dẫn nghiệp vụ kiểm sát đối với Viện kiểm sát cấp dưới, thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và

bổ nhiệm làm Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu

- Đối với kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự trung ương phải là Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu ít nhất là năm năm,

có năng lực thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương, có khả năng hướng dẫn nghiệp vụ kiểm sát đối với Viện kiểm sát cấp dưới, thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự trung ương

Trang 20

Trong trường hợp do nhu cầu cỏn bộ của ngành Kiểm sỏt nhõn dõn, người cú đủ tiờu chuẩn quy định tại Điều 2 của Phỏp lệnh về kiểm sỏt viờn và

đó cú thời gian làm cụng tỏc phỏp luật từ mười lăm năm trở lờn, cú năng lực thực hành quyền cụng tố và kiểm sỏt cỏc hoạt động tư phỏp thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sỏt nhõn dõn tối cao, Viện kiểm sỏt quõn sự trung ương, cú khả năng hướng dẫn nghiệp vụ kiểm sỏt đối với Viện kiểm sỏt cấp dưới, thỡ cú thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sỏt viờn Viện kiểm sỏt nhõn dõn tối cao; nếu người đú là sĩ quan quõn đội tại ngũ thỡ cú thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sỏt viờn Viện kiểm sỏt quõn sự trung ương

Trong trường hợp cần thiết, người đang cụng tỏc trong ngành Kiểm sỏt nhõn dõn hoặc người được cơ quan, tổ chức cú thẩm quyền điều động đến cụng tỏc tại ngành Kiểm sỏt nhõn dõn, tuy chưa đủ thời gian làm Kiểm sỏt viờn Viện kiểm sỏt cấp dưới hoặc chưa đủ thời gian làm cụng tỏc phỏp luật, nhưng cú đủ cỏc tiờu chuẩn khỏc quy định tại Điều 18 hoặc Điều 19 hoặc Điều

20 của Phỏp lệnh về kiểm sỏt viờn, thỡ cũng cú thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sỏt viờn Viện kiểm sỏt nhõn dõn cấp huyện hoặc Kiểm sỏt viờn Viện kiểm sỏt nhõn dõn cấp tỉnh hoặc Kiểm sỏt viờn Viện kiểm sỏt nhõn dõn tối cao; nếu người đú là sĩ quan quõn đội tại ngũ thỡ cú thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sỏt viờn Viện kiểm sỏt quõn sự khu vực hoặc Kiểm sỏt viờn Viện kiểm sỏt quõn sự cấp quõn khu hoặc Kiểm sỏt viờn Viện kiểm sỏt quõn sự trung ương

4 Điều tra viờn

Thuật ngữ “Cán bộ điều tra” không được quy định trực tiếp trong pháp luật tố tụng hình sự và có các cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này

Theo nghĩa hẹp, cán bộ điều tra là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan

điều tra, điều tra viên thực hiện hoạt động giải quyết vụ án hình sự

Theo nghĩa rộng, cán bộ điều tra là tất cả những người được giao quyền tiến hành các hoạt động liên quan tới điều tra vụ án hình sự, công tác tại các cơ

Trang 21

quan được giao nhiệm vụ điều tra Theo nghĩa này, cán bộ điều tra bao gồm không chỉ Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra, điều tra viên mà còn gồm các chức danh khác được giao tiến hành một số hoạt động hỗ trợ cho hoạt

động điều tra như trợ lý điều tra, cán bộ công tác văn phòng điều tra v.v Trong chuyên đề này, chúng tôi nghiên cứu về đội ngũ cán bộ điều tra theo nghĩa hẹp

Việc nghiờn cứu vấn đề này cho thấy, lịch sử phát triển đội ngũ cán bộ

điều tra gắn liền với lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung và quá trình đổi mới tổ chức, hoạt động của cơ quan điều tra nói riêng, đội ngũ cán bộ điều tra

ở Việt Nam có một quá trình phát triển lâu dài theo xu hướng ngày càng hoàn thiện hơn Sự phát triển của đội ngũ cán bộ điều tra ở Việt Nam gắn liền với lịch sử cách mạng Việt Nam, những thay đổi tổ chức bộ máy của cơ quan điều tra và được ghi nhận trong hệ thống các văn bản pháp luật quy định về nội dung này Đặc điểm truyền thống của cơ cấu đội ngũ cán bộ điều tra ở Việt Nam là tồn tại ở nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau Điều này phù hợp với quan

điểm của Đảng, Nhà nước ta coi hoạt động cách mạng nói chung, đấu tranh phòng chống tội phạm nói riêng là sự nghiệp của toàn dân

Theo quy định hiện nay, Điều tra viờn là người được bổ nhiệm theo quy định của phỏp luật để làm nhiệm vụ điều tra cỏc vụ ỏn hỡnh sự theo quy định của phỏp luật Điều kiện để được tuyển chọn và bổ nhiệm Điều tra viờn là Cụng dõn Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến phỏp nước Cộng hoà xó hội chủ nghĩa Việt Nam, cú phẩm chất đạo đức tốt, liờm khiết và trung thực,

cú trỡnh độ đại học an ninh, đại học cảnh sỏt hoặc đại học luật, cú chứng chỉ nghiệp vụ điều tra, cú thời gian làm cụng tỏc thực tiễn theo quy định của Phỏp luật, cú sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao thỡ cú thể được bổ nhiệm làm Điều tra viờn Trong trường hợp do nhu cầu cỏn bộ, người cú trỡnh

độ đại học cỏc ngành khỏc cú đủ cỏc tiờu chuẩn núi trờn và cú chứng chỉ nghiệp vụ điều tra thỡ cũng cú thể được bổ nhiệm làm Điều tra viờn Nhiệm kỳ của Điều tra viờn là năm năm kể từ ngày được bổ nhiệm

Trang 22

Do tính chất phức tạp của từng loại tội phạm và quá trình điều tra các loại tội phạm sẽ có thể động chạm đến quyền con người, quyền công dân ở mức độ khác nhau nên pháp luật quy định các bậc điều tra viên khác nhau

Có ba bậc điều tra viên là Điều tra viên sơ cấp, Điều tra viên trung cấp

và Điều tra viên cao cấp

- Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 30 của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự, có thời gian làm công tác pháp luật từ bốn năm trở lên,

là sỹ quan Công an, sỹ quan Quân đội tại ngũ, cán bộ Viện kiểm sát nhân dân,

có khả năng điều tra các vụ án thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng thì có thể được bổ nhiệm làm Điều tra viên sơ cấp;

- Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 30 của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự, và đã là Điều tra viên sơ cấp ít nhất là năm năm, có khả năng điều tra các vụ án thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng và có khả năng hướng dẫn các hoạt động điều tra của Điều tra viên sơ cấp thì có thể được bổ nhiệm làm Điều tra viên trung cấp

Trong trường hợp do nhu cầu cán bộ, người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 30 của Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự, có thời gian làm công tác pháp luật từ chín năm trở lên, có khả năng điều tra các vụ án thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng và có khả năng hướng dẫn các hoạt động điều tra của Điều tra viên sơ cấp thì có thể được bổ nhiệm làm Điều tra viên trung cấp;

- Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 30 của Pháp lệnh

tổ chức điều tra hình sự, và đã là Điều tra viên trung cấp ít nhất là năm năm,

có khả năng nghiên cứu, tổng hợp, đề xuất biện pháp phòng, chống tội phạm,

có khả năng điều tra các vụ án thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, có khả năng hướng dẫn các hoạt động điều tra của Điều tra viên sơ cấp, Điều tra viên trung cấp thì có thể được bổ nhiệm làm Điều tra viên cao cấp

Trang 23

Trong trường hợp do nhu cầu cỏn bộ, người cú đủ tiờu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 30 của Phỏp lệnh tổ chức điều tra hỡnh sự, và đó cú thời gian làm cụng tỏc phỏp luật từ mười bốn năm trở lờn, cú khả năng nghiờn cứu, tổng hợp đề xuất biện phỏp phũng, chống tội phạm, cú khả năng điều tra cỏc vụ ỏn thuộc loại tội phạm rất nghiờm trọng, đặc biệt nghiờm trọng, phức tạp, cú khả năng hướng dẫn cỏc hoạt động điều tra của Điều tra viờn sơ cấp, Điều tra viờn trung cấp thỡ cú thể được bổ nhiệm làm Điều tra viờn cao cấp

Trong trường hợp đặc biệt, người được cơ quan, tổ chức cú thẩm quyền điều động đến cụng tỏc tại Cơ quan điều tra, tuy chưa cú chứng chỉ nghiệp vụ điều tra, chưa đủ thời gian quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 2 Điều 29 của phỏp lệnh tổ chức điều tra hỡnh sự, nhưng cú đủ cỏc tiờu chuẩn khỏc được quy định tại khoản 1, điểm b hoặc điểm c khoản 2 Điều 30 của Phỏp lệnh tổ chức điều tra hỡnh sự, thỡ cũng cú thể được bổ nhiệm làm Điều tra viờn trung cấp hoặc Điều tra viờn cao cấp

5 Hội thẩm

Điều 129 và Điều 130 Hiến pháp 1992 quy định:

"Việc xét xử của Toà án nhân dân có Hội thẩm nhân dân, của Toà án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định của pháp luật

Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán

Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật"

Cụ thể hóa nguyên tắc hiến định nói trên, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân đã quy định: "Hội thẩm Toà án nhân dân ở nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có: Hội thẩm nhân dân Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Hội thẩm nhân dân Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và được gọi chung là Hội thẩm nhân dân Hội thẩm quân nhân Toà án quân sự quân khu, quân chủng và tương

đương, Hội thẩm quân nhân Toà án quân sự khu vực được gọi chung là Hội thẩm quân nhân"

Trang 24

Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật tố tụng thì Hội thẩm nhân dân chỉ tham gia xét xử chủ yếu ở thủ tục xét xử sơ thẩm5 Tuỳ theo tính chất từng

vụ án mà Hội thẩm tham gia xét xử có thể là 2 trong tổng số 3 thành viên hoặc

3 trong tổng số 5 thành viên Hội đồng xét xử Đối với các thủ tục xét xử phúc thẩm cú thể cú hội thẩm tham gia trong trường hợp cần thiết, cũn trong thủ tục, giám đốc thẩm và tái thẩm, pháp luật tố tụng quy định Hội đồng xét xử chỉ gồm các Thẩm phán

Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân quy định tiêu chuẩn để

được bầu hoặc cử làm Hội thẩm nhân dân như sau:"Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có kiến thức pháp lý, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế XHCN, kiên quyết đấu tranh bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, có sức khoẻ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao"

Về thủ tục, Hội thẩm nhân dân của Toà án nhân địa phương do Hội

đồng nhân dân địa phương cùng cấp bầu theo sự giới thiệu của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp Nhiệm kỳ của Hội thẩm nhân dân theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cùng cấp

Luật Tổ chức Toà án nhân dân quy định: “Hội thẩm quân nhân Toà án quân sự cấp quân khu do Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam cử theo sự giới thiệu của cơ quan chính trị Quân khu hoặc tương đương Hội thẩm quân nhân Toà án quân sự khu vực do Chủ nhiệm chính trị Quân khu hoặc tương đương cử theo sự giới thiệu của cơ quan chính trị sư đoàn hoặc tương

đương Nhiệm kỳ của Hội thẩm quân nhân là 5 năm"

Hội thẩm có thể được miễn nhiệm vì lý do sức khoẻ hoặc lý do khác, song cũng có thể bị bãi nhiệm khi vi phạm phẩm chất đạo đức hoặc vi phạm pháp luật

5 Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hỡnh sự 2003, trong xột xử phỳc thẩm, Hội đồng xột xử phỳc thẩm gồm

ba Thẩm phỏn và trong trường hợp cần thiết cú thể cú thờm hai Hội thẩm

Trang 25

Hội thẩm làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh án nơi mình

được bầu hoặc được cử Hội thẩm được bồi dưỡng về nghiệp vụ xét xử,

được tham gia tổng kết công tác xét xử của ngành Toà án, được cấp trang phục, giấy chứng minh Hội thẩm để làm nhiệm vụ xét xử, được hưởng phụ cấp theo quy định

Căn cứ Thông tư liên ngành số 01/2007 BCA-BQP-BTP ngày 31/01/2007 thì mỗi ngày làm việc của Hội thẩm, kể cả ngày làm việc nghiên cứu hồ sơ tại Toà án các cấp được bồi dưỡng 50.000 đồng

TANDTC-VKSNDTC-BTC-Về hoạt động xét xử của Hội thẩm, Hiến pháp 1992 đã ghi nhận nguyên tắc: "Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán" Nguyên tắc này tiếp tục được pháp luật tố tụng khẳng định với tư cách là nguyên tắc cơ bản khi tiến hành xét xử các vụ án

Chế định Hội thẩm tham gia xét xử được Nhà nước Việt nam dân chủ cộng hòa quy định ngay từ khi cơ quan Toà án mới được thành lập Mặc dù tên gọi, số lượng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm được quy định khác nhau ở mỗi thời kỳ song Hội thẩm tham gia xét xử luôn là nguyên tắc Hiến

định và là nguyên tắc cơ bản trong pháp luật tố tụng Trải qua các thời kỳ lịch sử, chế định Hội thẩm luôn luôn hiện hữu trong pháp luật Việt Nam và hiện nay, tiếp tục được ghi nhận tại Hiến pháp 1992 và Luật tổ chức Toà án nhân dân với tư cách là nguyên tắc cơ bản của hoạt động xét xử Hội thẩm tham gia xét xử, về bản chất, là đại diện của nhân dân (đại diện các tầng lớp, các giới tiến hành công tác xét xử, họ không phải là cán bộ chuyên trách) trực tiếp tham gia vào hoạt động xét xử của Toà án, góp phần đảm bảo cho việc xét xử được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo đảm cho phán quyết của Toà án có lý, có tình Đồng thời, cùng với Thẩm phán - thành viên Hội đồng xét xử, Hội thẩm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật

về các phán quyết của mình

Trang 26

Nhà nước XHCN Việt Nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân Nhà nước quy định cơ chế để nhân dân làm chủ thông qua việc kiểm tra, giám sát đối với các hoạt động của bộ máy nhà nước Có thể thấy, nếu coi nguyên tắc"xét xử công khai" là cơ chế kiểm tra có tính tổng thể của nhân dân đối với hoạt động xét xử thì nguyên tắc Hội thẩm tham gia xét xử là cơ chế giám sát, kiểm tra trực tiếp và cụ thể từ ngay chính

"bên trong" của hoạt động xét xử nhằm góp phần làm cho hoạt động động xét

xử bảo đảm được tính toàn diện, tính đầy đủ và tính khách quan Sự kết hợp chặt chẽ giữa Thẩm phán và Hội thẩm trong Hội đồng xét xử khi tiến hành phiên toà chính là sự kết hợp giữa sự "tinh thông" nghề nghiệp, sự chính xác

về chuyên môn của pháp luật với sự trải nghiệm đời sống thực tế xã hội Hội thẩm sẽ mang đến cho phiên tòa tính quần chúng, tính nhân dân Đó là tiếng nói của thực tiễn, của cuộc sống phong phú, đa dạng, muôn màu muôn vẻ Đó còn là sự kết hợp của tính" hợp lý" của đời sống xã hội và tính "hợp pháp" của

"công đường" bởi bản thân pháp luật không bao giờ đạt tới sự "trùng khít" với thực tế Thông qua đó, hạn chế được yếu tố tâm lý của Thẩm phán là nặng về kết tội hoặc xét xử theo "tiền lệ".Việc Hội thẩm tham gia xét xử đem đến phiên toà tiếng nói của "đời thường", tiếng nói của nhân dân; mang đến "công

đường" một kiểu nhìn nhận, đánh giá và tiếp nhận sự kiện, tình tiết, quan điểm

xử lý vụ án theo cái cách của người "dân thường" Họ đánh giá về tính chất hành vi vi phạm pháp luật, về tính công bằng, thiện ác chủ yếu dựa trên cơ sở những ý niệm, tư tưởng thuần tuý, quan niệm đạo đức xã hội hiện thực của các tầng lớp nhân dân để xét đoán về tính "hợp lý"của hành vi hay tính "hợp lý" của chế tài khi được đưa vào cuộc sống Đó là bảo đảm tốt nhất sự hài hòa giữa lý luận và thực tiễn trong các phán quyết của Tòa án Tóm lại, có thể thấy, việc xét xử của Tòa án có Hội thẩm tham gia làm cho nền tư pháp của chúng ta vừa mang tính hợp pháp vừa mang tính hợp lý, vừa mang tính pháp luật, vừa mang tính nhân dân; làm cho nền tư pháp thực sự là nền tư pháp dân chủ nhân dân Mặt khác, đó còn là biểu hiện sinh động của phương châm "lấy dân làm gốc","dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra"

Trang 27

6 Cán bộ thi hành án

Cán bộ thi hành án gồm có cán bộ thi hành án hình sự và chấp hành viên thi hành án dân sự

Cán bộ thi hành án hình sự

Việc thi hành án hình sự được thực hiện tại các trại giam Tổ chức của mỗi trại giam gồm có Giám thị, một số Phó Giám thị, quản giáo, chuyên viên, nhân viên, kỹ thuật viên, sĩ quan, chiến sĩ vũ trang bảo vệ Mỗi phân trại có một phân trại trưởng (có thể là Phó Giám thị kiêm nhiệm) Chức năng, nhiệm

vụ cụ thể của Phó Giám thị, quản giáo, chuyên viên, nhân viên, kỹ thuật viên,

sĩ quan, chiến sĩ cảnh sát (hoặc lực lượng quân đội ở các trại do Bộ Quốc phòng quản lý) làm nhiệm vụ vũ trang bảo vệ do Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ Quốc phòng quy định

Giám thị, Phó Giám thị, quản giáo, chuyên viên, nhân viên, kỹ thuật viên, sĩ quan, chiến sĩ làm nhiệm vụ bảo vệ phải là những người có phẩm chất chính trị tốt, trung thành với Đảng, với chế độ, có ý thức tổ chức, kỷ luật, nắm vững chính sách, hiểu biết và tôn trọng, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật

Giám thị và Phó Giám thị phải là người đã tốt nghiệp đại học cảnh sát hoặc đại học an ninh hoặc đại học luật hoặc có trình độ tương đương

Quản giáo, chỉ huy lực lượng bảo vệ phải là người đã tốt nghiệp trung học cảnh sát hoặc trung học an ninh hoặc có trình độ tương đương

Chuyên viên, nhân viên, kỹ thuật viên phải là người được đào tạo, nắm vững những kiến thức về lĩnh vực chuyên môn mà mình đảm nhiệm

Chiến sĩ làm nhiệm vụ bảo vệ phải là những người đã được huấn luyện

về nghiệp vụ bảo vệ trại giam

Chấp hành viên thi hành án dân sự

Chấp hành viên là người được Nhà nước giao trách nhiệm thi hành các bản án, quyết định dân sự quy định tại Điều 2 của Pháp lệnh thi hành án dân sự

Trang 28

Tiêu chuẩn và điều kiện bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Chấp hành viên - Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, trung thực, liêm khiết, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ cử nhân luật trở lên, đã được đào tạo về nghiệp vụ thi hành án, có thời gian làm công tác thực tiễn theo quy định của pháp luật, có sức khoẻ để hoàn thành nhiệm vụ được giao thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Chấp hành viên

- Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 13 pháp lệnh thi hành án dân sự, có thời gian làm công tác pháp luật từ bốn năm trở lên, có năng lực thi hành những vụ việc thuộc thẩm quyền của Cơ quan thi hành án cấp huyện thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Chấp hành viên Cơ quan thi hành án cấp huyện

- Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 13 pháp lệnh thi hành án dân sự và đã làm Chấp hành viên Cơ quan thi hành án cấp huyện từ năm năm trở lên, có năng lực thi hành những vụ việc thuộc thẩm quyền của

Cơ quan thi hành án cấp tỉnh thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Chấp hành viên Cơ quan thi hành án cấp tỉnh

Trong trường hợp do nhu cầu cán bộ của Cơ quan thi hành án, người có

đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 13 pháp lệnh thi hành án dân sự và đã

có thời gian làm công tác pháp luật từ mười năm trở lên, có năng lực thi hành những vụ việc thuộc thẩm quyền của Cơ quan thi hành án cấp tỉnh thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Chấp hành viên Cơ quan thi hành án cấp tỉnh

- Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này, là sỹ quan quân đội tại ngũ, có thời gian làm công tác pháp luật từ mười năm trở lên, có năng lực thi hành những vụ việc thuộc thẩm quyền của Cơ quan thi hành án cấp quân khu thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Chấp hành viên Cơ quan thi hành án cấp quân khu

Trang 29

Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Chấp hành viên do Bộ trưởng

Bộ Tư pháp quyết định theo đề nghị của Hội đồng tuyển chọn Chấp hành viên Chấp hành viên được bổ nhiệm theo nhiệm kỳ năm năm

7 Cán bộ lãnh đạo quản lý của cán cơ quan tư pháp

Như phần trên đã đề cập, các cơ quan tư pháp có chức năng nhiệm vụ thực thi quyền tư pháp Tuy vậy, không phải mọi hoạt động của các cơ quan này đều là hoạt động tư pháp mà chỉ những hoạt động nào liên quan đến việc thực hiện quyền tư pháp mới là hoạt động tư pháp Hoạt động tư pháp về nguyên tắc chỉ do các cán bộ tư pháp tiến hành Tuy nhiên, để tổ chức thực hiện quyền tư pháp phải có hoạt động chỉ đạo điều hành và hoạt động này được thực hiện bởi các cán bộ lãnh đạo của các cơ quan tư pháp Các cán bộ lãnh đạo quản lý trong các cơ quan tư pháp không chỉ thực hiện hoạt động quản lý điều hành trong lĩnh vực hoạt động tư pháp mà còn tham gia trực tiếp thực hiện quyền tư pháp như quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ra quyết định thay đổi huỷ bỏ áp dụng các biện pháp ngăn chăn, quyết định truy nã bị can, khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm Đây là những thẩm quyền quan trọng trong hoạt động tố tụng

và có ý nghĩa pháp lý rất lớn trong việc bảo đảm cho các cơ quan tư pháp thực thi quyền lực

Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan tư pháp bao gồm:

- Chánh án, Phó Chánh án toà án các cấp;

- Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp;

- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra;

- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án

Trang 30

NhiÖm vô, quyÒn h¹n cña c¸n bé t− ph¸P

TS TrÇn §×nh Th¾ng

Với tư cách là những người tham gia thực hiện quyền tư pháp, các cán

bộ tư pháp đều có chức năng, nhiệm vụ riêng của mình và tất cả hoạt động của cán bộ tư pháp đều hướng tới mục đích chung là bảo đảm thực thi quyền tư pháp Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ tư pháp là tổng hợp quyền và nghĩa vụ của các cán bộ tư pháp trong trong quá trình giải quyết vụ án Cụ thể là hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố xét xử và thi hành án Tuy nhiên, nghiên cứu nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ tư pháp cũng đồng nghĩa với việc nghiên cứu nhiệm vụ quyền hạn của từng loại cán bộ tư pháp khi họ tham gia quá trình giải quyết vụ án

Cán bộ tư pháp ở nước ta hiện nay bao gồm: Điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, thư ký toà án, hội thẩm, các cán bộ lãnh đạo của các cơ quan

tư pháp, cán bộ thi hành án Tuy vậy, chúng tôi chỉ tập trung phân tích nhiệm

vụ quyền hạn của một số đối tượng nhất định mà theo chúng tôi hoạt động của

họ có tính chất quan trọng quyết định đến quá trình giải quyết vụ án

1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra

Là người đứng đầu cơ quan điều tra, Thủ trưởng Cơ quan điều tra có những nhiệm vụ và quyền hạn mang tính chất chỉ đạo điều hành của cơ quan như tổ chức và chỉ đạo các hoạt động điều tra, phân công nhiệm vụ và kiểm tra hoạt động cho Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên Trong việc điều tra vụ án hình sự, Thủ trưởng cơ quan điều tra có các nhiệm vụ quyền hạn sau đây: Quyết định thay đổi hoặc huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ

và trái pháp luật của Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra và Điều tra viên; Quyết định thay đổi Điều tra viên; Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của

Cơ quan điều tra Ngoài nhiệm vụ quyền hạn trên, Thủ trưởng Cơ quan điều

Trang 31

tra có những nhiệm vụ và quyền hạn khác: Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố

bị can; quyết định không khởi tố vụ án; quyết định nhập hoặc tách vụ án; Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; Quyết định truy nã bị can, khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, xử lý vật chứng; Quyết định trưng cầu giám định, quyết định khai quật tử thi; Kết luận điều tra vụ án; Quyết định tạm đình chỉ điều tra, quyết định đình chỉ điều tra, quyết định phục hồi điều tra; Trực tiếp tiến hành các biện pháp điều tra; cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa; ra các quyết định và tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra

Khi Thủ trưởng Cơ quan điều tra vắng mặt, Phó Thủ trưởng được Thủ trưởng uỷ nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng và chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng về nhiệm vụ được giao

Phó thủ trưởng cơ quan điều tra thực hiện nhiệm vụ quyền hạn khi được pháp luật quy định theo sự phân công của thủ trưởng cơ quan điều tra

Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình

+ Nhiệm vụ, quyền hạn của Điều tra viên

Theo quy định của pháp luật trong hoạt động điều tra vụ án hình sự, điều tra viên có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Lập hồ sơ vụ án hình sự; Triệu tập và hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; Quyết định áp giải bị can, quyết định dẫn giải người làm chứng; Thi hành lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản; Tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra; Tiến hành các hoạt động điều tra khác thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra theo sự phân công của Thủ trưởng Cơ quan điều tra

Trang 32

Điều tra viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Thủ trưởng

Cơ quan điều tra về những hành vi và quyết định của mình

2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát

* Viện trưởng Viện kiểm sát có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Tổ chức và chỉ đạo các hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát

việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự; Quyết định phân công Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố

và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự; Kiểm tra các hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự của Phó Viện trưởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên; Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án theo quy định của pháp luật; Quyết định thay đổi hoặc huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ

và trái pháp luật của Phó Viện trưởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên; Quyết định rút, đình chỉ hoặc huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Viện kiểm sát cấp dưới; Quyết định thay đổi Kiểm sát viên; Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát

Trong trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát vắng mặt, một Phó Viện trưởng được Viện trưởng uỷ nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng Phó Viện trưởng chịu trách nhiệm trước Viện trưởng về nhiệm vụ được giao

Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự, Viện trưởng Viện kiểm sát có những nhiệm vụ và quyền hạn sau: Quyết định khởi tố vụ án, quyết định không khởi

tố vụ án, quyết định khởi tố bị can; yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can theo quy định của Bộ luật

Trang 33

này; Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên; Quyết định

áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; quyết định gia hạn điều tra, quyết định gia hạn tạm giam; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can; Quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra; Quyết định hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra; Quyết định chuyển vụ án; Quyết định việc truy tố, quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quyết định trưng cầu giám định; Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án, quyết định phục hồi điều tra, quyết định xử lý vật chứng; Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án, quyết định của Toà án; Cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa; ra các quyết định và tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát (Các nhiệm vụ quyền hạn này cũng có thể thuộc về phó viện trưởng viện kiểm sát khi được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự.)

Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình

+ Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên

Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra; Đề ra yêu cầu điều tra; Triệu tập và hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; Kiểm sát việc bắt, tạm giữ, tạm giam; Tham gia phiên toà; đọc cáo trạng, quyết định của Viện kiểm sát liên quan đến việc giải quyết vụ án; hỏi, đưa ra chứng cứ và thực hiện việc luận tội; phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, tranh luận với những người tham gia tố tụng tại

Trang 34

phiên toà; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa

án, của những người tham gia tố tụng và kiểm sát các bản án, quyết định của Toà án; Kiểm sát việc thi hành bản án, quyết định của Toà án; Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát theo sự phân công của Viện trưởng Viện kiểm sát

Kiểm sát viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Viện trưởng Viện kiểm sát về những hành vi và quyết định của mình

3 Nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án, Phó Chánh án Tòa án

Trong lĩnh vực tổ chức điều hành hoạt động của toà án chánh án Toà

án có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Tổ chức công tác xét xử của Toà án; Quyết định phân công Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm giải quyết, xét xử vụ án hình sự; quyết định phân công Thư ký Tòa án tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự; Quyết định thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án trước khi mở phiên tòa; Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án theo quy định của Bộ luật này; Ra quyết định thi hành án hình sự; Quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù;g) Quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; Quyết định xoá án tích; Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Tòa án

Khi Chánh án Tòa án vắng mặt, một Phó Chánh án được Chánh án uỷ nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án Phó Chánh án phải chịu trách nhiệm trước Chánh án về nhiệm vụ được giao

Trong hoạt động giải quyết vụ án hình sự, Chánh án Tòa án có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam; quyết định xử lý vật chứng; Quyết định chuyển vụ án; Cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa; ra các quyết định và tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Tòa án Trong trường hợp được phân công giải quyết vụ án hình sự thì Thẩm quyền này do phó chánh án thực hiện

Trang 35

Chánh án, Phó Chánh án Toà án phải chịu trách nhiệm trước pháp luật

về những hành vi và quyết định của mình

4 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán

ThÈm ph¸n là những người lµm nhiÖm vô xÐt xö nh÷ng vô ¸n vµ gi¶i quyÕt nh÷ng viÖc kh¸c thuéc thÈm quyÒn cña Toµ ¸n theo sù ph©n c«ng cña Ch¸nh ¸n Toµ ¸n Về nguyên tắc, khi nói đến nhiệm vụ và quyền hạn của thẩm phán cần đề cập đến trong tất cả các lĩnh vực hoạt động xét xử các loại án khác nhau Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài nghiên cứu chúng tôi chỉ bàn về lĩnh vực xét xử án hình sự vì đây là lĩnh vực phức tạp và dễ động chạm đến quyền lợi ích thiết thân của công dân tổ chức

Khi được phân công giải quyết xét xử vụ án hình sự Thẩm phán có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên toà; Tham gia xét xử các vụ án hình sự; Tiến hành các hoạt động tố tụng

và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử; Tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo sự phân công của Chánh án Tòa án

Riêng đối với Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa, ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn nói trên còn có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn theo quy định của Bộ luật này; Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; Quyết định triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên toà; Tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Toà án theo sự phân công của Chánh

án Toà án

Đối với Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao còn có thêm quyền cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa

Trang 36

Thẩm phán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình

5 Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm

Khi được phân công tham gia hội đồng xét xử phiên toà Hội thẩm có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên toà; Tham gia xét xử các vụ án hình sự theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm; Tiến hành các hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử Hội thẩm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật

về những hành vi và quyết định của mình

6 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thư ký Tòa án

Thư ký Tòa án được phân công tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự

có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Phổ biến nội quy phiên toà; Báo cáo với Hội đồng xét xử danh sách những người được triệu tập đến phiên toà; Ghi biên bản phiên toà; Tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo sự phân công của Chánh án Tòa án Thư ký Tòa án phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Chánh án Tòa án về những hành vi của mình

7 Nhiệm vụ quyền hạn của giám thị, phó giám thị trại giam

Theo quy định của pháp luật người bị kết án phạt tù có thời hạn và tù chung thân phải châp hành hình phạt trong trại giam Tổ chức của mỗi trại giam gồm có Giám thị, một số Phó Giám thị, quản giáo, chuyên viên, nhân viên, kỹ thuật viên, sĩ quan, chiến sĩ vũ trang bảo vệ Trong phần này chúng tôi chỉ đề cập đến nhiệm vụ quyền hạn của giám thị, phó giám thị trại giam

Giám thị trại giam có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

Điều hành và chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt động của trại giam theo đúng quy định của pháp luật về thi hành án phạt tù Được quyết định những

Trang 37

vấn đề thuộc hoạt động của trại giam trong khuôn khổ pháp luật hoặc do cấp trên giao cho và chịu trách nhiệm cá nhân về kết quả thi hành những quyết định đó Thực hiện các quyền và nghĩa vụ được pháp luật quy định

Phó Giám thị giúp Giám thị làm nhiệm vụ theo sự phân công của Giám thị

8 Nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên thi hành án dân sự

Chấp hành viên có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

Thi hành đúng nội dung bản án, quyết định của Toà án; áp dụng đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành án, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự; Triệu tập đương sự, người

có liên quan đến việc thi hành án đến trụ sở Cơ quan thi hành án hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thi hành án để thực hiện việc thi hành án; giải thích, thuyết phục các đương sự tự nguyện thi hành án; Ấn định thời hạn

để người phải thi hành án tự nguyện thi hành án theo quy định tại khoản 3 Điều 6 của Pháp lệnh Thi hành án dân sự; Xác minh tài sản, điều kiện thi hành

án của người phải thi hành án; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án hoặc phối hợp với cơ quan hữu quan xử lý vật chứng, tài sản và những việc khác có liên quan đến việc thi hành án; Quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án quy định tại Pháp lệnh này để bảo đảm việc thi hành án; Lập biên bản

về hành vi vi phạm pháp luật trong khi thi hành án; quyết định xử phạt hành chính theo thẩm quyền hoặc đề nghị Thủ trưởng Cơ quan thi hành án cùng cấp kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm; Thực hiện nhiệm vụ khác do Thủ trưởng Cơ quan thi hành án giao

Nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng, phó thủ trưởng Cơ quan thi hành án

Thủ trưởng Cơ quan thi hành án có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Ra

Trang 38

quyết định về thi hành án; Phân công Chấp hành viên thực hiện việc thi hành án; Hướng dẫn nghiệp vụ, chỉ đạo, kiểm tra công tác thi hành án đối với Chấp hành viên hoặc Cơ quan thi hành án cấp dưới theo quy định của pháp luật; Đề nghị cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân phối hợp tổ chức thi hành án; Yêu cầu Toà án đã ra bản án, quyết định giải thích bằng văn bản những điểm chưa

rõ trong bản án, quyết định đó để thi hành; Kiến nghị người có thẩm quyền xem xét việc kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nếu có căn cứ cho thấy có vi phạm pháp luật trong việc giải quyết vụ án hoặc phát hiện có tình tiết mới; Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án và trả lời kháng nghị về thi hành án theo thẩm quyền; Xử phạt hành chính theo thẩm quyền; kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình

sự đối với người vi phạm; Báo cáo công tác thi hành án trước Cơ quan thi hành án cấp trên và Uỷ ban nhân dân cùng cấp Việc báo cáo về công tác thi hành án của Thủ trưởng Cơ quan thi hành án cấp quân khu do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định

Phó Thủ trưởng Cơ quan thi hành án giúp Thủ trưởng thực hiện nhiệm

vụ, quyền hạn theo sự phân công hoặc khi được uỷ quyền của Thủ trưởng

Trang 39

Những yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ tư pháp

theo yêu cầu nhà nước pháp quyền x∙ hội chủ nghĩa

PGS TS Lê Văn Hoè

1 Đặc điểm của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Nhà nước phỏp quyền xó hội chủ nghĩa của dõn do dõn và vỡ dõn là đó được đảng ta nhận thức và từng bước phỏt triển qua cỏc văn kiện đại hội và đó chớnh thức thể chế hoỏ trong Hiến phỏp 1992 sửa đổi năm 2001 Cú thể khỏi quỏt chung một số nội dung đặc trưng của Nhà nước phỏp quyền Việt Nam của dõn, do dõn và vỡ dõn như sau:

Thứ nhất: Nhà nước ta là Nhà nước của nhõn dõn, do nhõn dõn, vỡ nhõn

dõn; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhõn dõn

Thứ hai:Quyền lực nhà nước là thống nhất, cú sự phõn cụng rành mạch

và sự phối hợp giữa cỏc cơ quan nhà nước trong việc thực hiện cỏc quyền lập phỏp, hành phỏp, tư phỏp Đõy vừa là nguyờn tắc tổ chức và hoạt động của bộ mỏy nhà nước ta, vừa là quan điểm chỉ đạo quỏ trỡnh tiếp tục thực hiện việc cải cỏch bộ mỏy nhà nước

Thứ ba: Trong nhà nước phỏp quyền, Hiến phỏp và cỏc đạo luật giữ vị

trớ tối thượng trong điều chỉnh cỏc quan hệ thuộc tất cả cỏc lĩnh vực của đời sống xó hội

Thứ tư: Nhà nước tụn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền cụng

dõn; nõng cao trỏch nhiệm phỏp lý giữa Nhà nước và cụng dõn, thực hành dõn chủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật, mọi hành vi vi phạm quyền và lợi ớch hợp phỏp của cụng dõn đều được xử lý nghiờm minh đỳng phỏp luật

Thứ năm: Nhà nước tụn trọng và thực hiện đầy đủ cỏc điều ước quốc tế

mà Cộng hũa xó hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viờn

Trang 40

Thứ sỏu: Bảo đảm sự lónh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với

Nhà nước phỏp quyền xó hội chủ nghĩa, sự giỏm sỏt của nhõn dõn và sự phản biện xó hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cỏc tổ chức thành viờn của Mặt trận 6

2 Yêu cầu đối với cán bộ tư pháp trong nhà nước pháp quyền

Để xỏc định cỏc yờu cầu đối với việc xõy dựng đội ngũ cỏn bộ tư phỏp, trong điều kiện nhà nước phỏp quyền trước hết cần quỏn triệt nhận thức về thuật ngữ yờu cầu

Trong tiếng Việt, thuật ngữ "yờu cầu" được hiểu theo hai nghĩa:

- "Yờu cầu" là những phẩm chất cần phải cú đối với một cỏ nhõn do cụng việc, chức danh cụng tỏc của người đú quy định Với nghĩa này, yờu cầu

vỡ nhõn dõn hiện nay được tiếp cận như sau:

Một: Những yờu cầu chung; những yờu cầu này được xỏc định từ nhiều

căn cứ khỏc nhau, như:

+ Từ bản chất của quyền tư phỏp

+ Từ yờu cầu thực hiện những đặc trưng của Nhà nước phỏp quyền xó hội chủ nghĩa của nhõn dõn, do nhõn dõn, vỡ nhõn dõn, cụ thể là cỏc đặc trưng:

1, sự thống trị của phỏp luật trong nhà nước phỏp quyền; 2, cụng lý trong nhà nước phỏp quyền; 3, mụ hỡnh tố tụng trong thực hiện quyền tư phỏp trong nhà nước phỏp quyền

6 Tạp chớ Cộng sản thỏng 1 năm 2007

Ngày đăng: 14/05/2014, 13:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tsuneo Inako (1993), Tìm hiểu pháp luật Nhật Bản, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu pháp luật Nhật Bản
Tác giả: Tsuneo Inako
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1993
5. Ngô Quang Liễn (2005), Một số vấn đề về Viện Công tố Nhật Bản, Thông tin khoa học pháp lý, Viện khoa học kiểm sát, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về Viện Công tố Nhật Bản
Tác giả: Ngô Quang Liễn
Năm: 2005
7. Viện Khoa học Kiểm sát, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (2006) “Cải cách tư pháp của Nhật Bản”, Thông tin Khoa học kiểm sát (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách tư pháp của Nhật Bản”, "Thông tin Khoa học kiểm sát
8. Trần Đại Thắng (2006), Viện Công tố Nhật Bản, Thông tin khoa học kiểm sát, Viện khoa học kiếm sát, Viện kiểm sát nhân dân tối cao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin khoa học kiểm sát
Tác giả: Trần Đại Thắng
Nhà XB: Viện khoa học kiếm sát
Năm: 2006
3. Tổng quan lịch sử xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại của Nhật Bản sau Cách mạng Minh trị (1868),(2002), NXB Chính trị quốc gia Khác
4. Luật Tố tụng hình sự Nhật bản, Luật số 131 năm 1948, bản sửa mới nhất năm 2003 Khác
6. Johnson David T (1998) The organisation of prosecution and the possibility of order in Japan, Law and Society Review Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w