1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tín ngưỡng thánh nhân và tín ngưỡng thần linh trong cộng đồng người hoa ở việt nam

131 674 7
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tín ngưỡng thánh nhân và tín ngưỡng thần linh trong cộng đồng người Hoa ở Việt Nam
Trường học Vietnam National University, Hanoi
Chuyên ngành Cultural Anthropology
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 4,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc điểm của cộng đồng người Hoa ở Việt Nam Khái niệm người Hoa và lịch sử người Hoa di cư vào Việt Nam và TP.Hồ Chí Minh Một vài đặc điểm của người Hoa trên các lĩnh vực hoạt động cơ bả

Trang 1

HOC VIEN CHINH TRI QUOC GIA HO CHi MINH

sms @ -

TONG QUAN KHOA HOC

DE TAI CAP BO

Nam 2005

TIN NGUONG THANH NHAN VA TIN NGUGNG

THAN LINH TRONG CONG DONG NGƯỜI HOA Ở VIỆT NAM

(Qua nghiên cứu tại TP.Hồ Chí Minh)

Cơ quan chủ trì: VIÊN NGHIÊN CỨU TÔN GIÁO

VÀ TÍN NGƯỠNG Chủ nhiệm đề tài: PGS,TS.Ngô Hữu Thỏo

Thư ký đề tài: THS.Nguyễn Khắc Đức

HÀ NỘI, 2006

Trang 2

CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA

Chủ nhiệm: PGS,TS Ngô Hữu Thỏo

Thư ký đê tài: ThS Nguyễn Khắc Đức Cùng tập thể các nhà khoa học: PGS,TS Nguyễn Đúc Lữ

TS Hoàng Minh Đô

Th$ Nguyễn Thị Kim Thanh

ThS Bui Huy Thanh

Trang 3

Đặc điểm của cộng đồng người Hoa ở Việt Nam Khái niệm người Hoa và lịch sử người Hoa di cư vào Việt Nam và TP.Hồ Chí Minh

Một vài đặc điểm của người Hoa trên các lĩnh vực hoạt động cơ bản của xã hội

Đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo của người Hoa ở Việt

Nam Khái niệm tín ngưỡng, tín ngưỡng dan gian, tôn giáo

và mê tín dị đoan

Vài nét về đặc điểm tôn giáo của người Hoa

Tín ngưỡng dân gian của người Hoa và tín ngưỡng Thánh nhân, Thần linh

Thực trạng tín ngưỡng Thánh nhân và tín ngưỡng

Thần linh của người Hoa ở TP.Hồ Chí Minh

Thực trạng tín ngưỡng Thánh nhân Tín ngưỡng Quan Công

Tín ngưỡng Bà Thiên Hậu

Tín ngưỡng Phật bà Quan Âm

Tín ngưỡng Bao Công

Tín ngưỡng Bổn Đầu Công Thực trạng tín ngưỡng Thần linh Tín ngưỡng Thổ Công

Tín ngưỡng Thần Tài

Tín ngưỡng thờ Ngọc Hoàng

Tín ngưỡng Di Lặc Khái quát đặc điểm tình hình tín ngưỡng Thánh nhân và tín ngưỡng Thần linh của người Hoa

Trang 4

Xu hướng biến động của tín ngưỡng Thánh nhân và tín ngưỡng Thần linh

Những căn cứ để tìm hiểu xu hướng biến động của tín

ngưỡng Thánh nhân và tín ngưỡng Thần linh

Xu hướng biến động của tín ngưỡng Thánh nhân và tín

ngưỡng Thần linh

Một số vấn để đặt ra đối với tín ngưỡng Thánh nhân và tín ngưỡng Thần linh ở Việt Nam hiện nay

Những giải pháp và kiến nghị Những giải pháp

Kiến nghị

Kết luận Danh mục các tài liệu tham khảo

Trang 5

LOI MG DAU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm vừa qua và hiện nay, trên thế giới đã và đang diễn ra nhiều sự kiện phức tạp, thậm chí xung đột đổ máu, liên quan trực tiếp vấn đề đến tôn giáo, dân tộc

Là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, ở nước ta thời gian gần đây đời sống tôn giáo, tín ngưỡng tại một số địa phương có chiều hướng phát triển, với những tính chất phức tạp mới, nhất là ở các khu vực Tây Nguyên, Tây Bắc và Tây Nam Bộ Sự kiện xảy ra ở một số tính Tay Nguyên vào tháng 02 năm

2001 và tháng 4 năm 2004, một lần nữa lại đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ to lớn và khó khăn hơn trong việc nghiên cứu vấn đề tôn giáo, dân tộc và những hoạt động lợi dụng tôn giáo, dân tộc của các thế lực thù địch

Trong thời gian qua, Trung tâm khoa học về tín ngưỡng và tôn giáo, nay là Viện nghiên cứu Tôn giáo và Tín ngưỡng, đã được giao một số đề tài nghiên cứu về vấn để tôn giáo, tín ngưỡng ở các tỉnh Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ, Ninh Thuận, Bình Thuận, gắn liền với các dân tộc thiểu số có nhiều đặc thù như Êđê, Bana, H'Mông, Khmer và Chăm Nhưng việc nghiên cứu về tôn giáo, tín ngưỡng của người Hoa ở nước ta, một dân tộc vốn cũng có nhiều đặc thù không kém các dân tộc nêu trên, thì vẫn chưa có một đề tài nào Chính vì thế, những hiểu biết của đội ngũ cán bộ nghiên cứu

và giảng dạy của Viện về vấn để tôn giáo, tín ngưỡng trong cộng đồng người Hoa còn những hạn chế nhất định

Người Hoa đến sinh sống ở nước ta từ lâu Trong quá trình sinh sống ở Việt Nam, cộng đồng người Hoa có vai trò quan trọng trong việc hình thành

và phát triển nhiều ngành kinh tế và cùng với 53 dân tộc khác, đã tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh chống thực dân, đế quốc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Đảng ta luôn khẳng địmh “Người Hoa là

Trang 6

công dan Việt Nam, được hưởng mọi quyền và làm mọi nghĩa vụ của công dân Việt Nam, đoàn kết người Hoa trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, cùng làm chủ tập thể Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa" |

Số liệu điều tra gần đây cho thấy, ở Việt Nam hiện nay có 862.371 người Hoa, chiếm 1,1% dân số cả nước ? Người Hoa sinh sống ở nhiều địa phương trong cả nước, trong đó, đa số ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Nam Bộ (ở TP.Hồ Chí Minh, người Hoa chiếm hơn 50% số người Hoa toàn Nam Bộ)

Cũng như các dân tộc thiểu số khác, tín ngưỡng, tôn giáo của người Hoa

là một nhu cầu tỉnh thần không thể thiếu, có vai trò quan trọng trong định hướng giáo dục nhân cách và tâm lý cộng đồng tộc người Đồng thời nó cũng

có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tỉnh thân của các dân tộc khác ở nước

ta, nhất là đối với người Việt Đặc biệt hơn, tín ngưỡng, tôn giáo của người Hoa còn là cầu nối tinh thần giữa họ với đất nước Trung hoa trong lịch sử cũng như đương đại

Trong đời sống tín ngưỡng dân gian vốn rất phong phú của người Hoa, nổi bật lên là, họ rat tin vao Tin ngưỡng Thánh nhân và Tín ngưỡng Thần linh Bởi vì, các loại hình tín ngưỡng này có vai trò hàng đầu trong việc định hướng nhân cách và củng cố tâm lý cộng đồng, một tố chất có ý nghĩa sống còn đối với họ khi phải phiêu bạt quê hương, đất nước, đến lập nghiệp, sinh sống tại nơi xứ người Hệ thống fín ngưỡng thánh nhân bao gồm: thờ cúng

Quan Công, Bà Thiên Hậu, Quan Âm Bồ Tát, Bổn Đầu Công Hệ thống tin

ngưỡng thân linh bao gôm: thờ Ngọc Hoàng, Phật Di Lặc, Thần Tài, Thổ

Công Đây là nét nổi bật, làm cho hoạt động tín ngưỡng dân gian của người

! Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Bí thư TW, Chỉ thị số 10-CT/TW, ngày 17/11/1982, “chính sách đối với

người Hoa trong giai đoạn mới”

? Số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở toàn quốc ngày 01/4/1999

Trang 7

Hoa có sự khác nhau ít nhiều so với tín ngưỡng dan gian của người Việt và của các dân tộc khác ở nước ta

Bên cạnh các hình thức tín ngưỡng dân gian, người Hoa cũng đi theo một số tôn giáo lớn, như Công giáo, đạo Tin lành, Phật giáo, nhưng số tín đồ không đông Song hiện nay đang có tình hình là, người Hoa theo đạo Tìn lành ngày một gia tăng Với thực tế ấy và với tính chất phức tạp của đạo Tìn lành đang thể hiện ra trong nhiều đân tộc thiểu số ở nước ta, có thể sẽ tiểm ẩn những nhân tố tạo nên sự mất ổn định trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở cộng đồng người Hoa

Như vậy, việc nghiên cứu vấn đề tín ngưỡng dân gian trong cộng đồng người Hoa hiện nay, mà cụ thể là tín ngưỡng Thánh nhân và tín ngưỡng Thần linh, là một việc làm có tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn, không chỉ đối với những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy tôn giáo học ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và ở các đơn vị khác, mà còn đối với cả những người làm công tác lãnh đạo, quản lý xã hội nước ta hiện nay Với những lý do đó, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Tín ngưỡng Thánh nhân

và tín ngưỡng Thần linh trong cộng đông người Hoa ở Việt Nam (qua nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh)”

2 Tình hình nghiên cứu

Trong thời gian qua, trên phạm vi quốc tế và ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về người Hoa ở Việt Nam, nhất là ở thành phố Hồ Chí Minh Có thể nêu ra một số công trình như: XZ hội người Hoa ở thành phố Hồ Chi Minh sau năm 1975 - Tiêm năng vò phát triển (Mạc Đường, Nxb KHXM, H.1994);, Người Hoa trong xã hội Việt Nam (Thời Pháp thuộc và dưới chế độ Sài Gòn) (Trần Khánh - Viện Nghiên cứu Đông Nam Á - Nxb KHXH, H.2002); Các nhóm cộng đồng người Hoa ở Việt Nam (Châu Hải - Viện nghiên cứu Đông Nam Á); Người Hoa thành phố Hồ Chí Minh trong chặng

đường đầu tiên xây dựng CNXH và những vấn đề đặt ra (Viện KHXH thành

Trang 8

phố Hồ Chí Minh, 1989), The Ethnic Chinese in Vietnam and Sino - Vietnamese Relation (Amer Ramses Forum, Kuala Lumpur, 1991); Some

Observations Regarding Business Strategies of Overseas Chinese Trades in South Vietnam (Barton.C.A.Trust and Credit), Guagxi Ji Huaqiao

Huaren Ziliao Xuanbian (Zhao Heman)

Các công trình nghiên cứu trên đây đã đề cập đến cộng đồng người Hoa

ở Việt Nam dưới các góc độ như: sử học, dân tộc học, kinh tế học, hay ngôn ngữ học Những công trình này đã nêu ra được tương đối toàn diện về các vấn để liên quan đến người Hoa ở Việt Nam nói chung và người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Tuy nhiên, riêng về tình hình tín ngưỡng Thánh nhân và tín ngưỡng Thần linh trong cộng đồng người Hoa ở Việt Nam, thì các công trình đó đề cập đến chưa nhiều, nhất là từ phương diện công tác đối với tín ngưỡng của hệ thống chính trị

3 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở tìm hiểu, phân tích thực trạng tình hình hệ thống tín ngưỡng Thánh nhân và Thần linh của cộng đồng người Hoa (qua nghiên cứu tại địa bàn TP.Hồ Chí Minh), đề tài từ đó đự báo xu hướng phát triển của nó; đề xuất giải pháp và kiến nghị từ phương diện chính sách đối với tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước ta, nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực trong các hoạt động tín ngưỡng, nâng cao hiệu quả công tác tín ngưỡng, đảm bảo đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần củng cố mối quan hệ hữu nghị Việt - Trung

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học khác, như: phương pháp lô gíc - lịch sử,

Trang 9

phân tích - tổng hợp, cấu trúc - hệ thống, so sánh, điều tra xã hội học, tổng kết thực tiễn, phỏng vấn chuyên gia

5 Gới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đề tài không nghiên cứu tất cả các hình thức tín ngưỡng dân gian của người Hoa ở Việt Nam, mà chỉ giới hạn nghiên cứu một số hình thức tín ngưỡng tiêu biểu trong hệ thống tín ngưỡng Thánh nhân và Thần linh của dân tộc này

- Địa bàn đề tài nghiên cứu chủ yếu là ở thành phố Hồ Chí Minh

Trang 10

Chuong I:

VAI NET VE NGUOI HOA G VIET NAM VA TIN NGUGNG, TON GIAO CUA HO 1.1 Đặc điểm của cộng đồng người Hoa ở Việt Nam

1.1.1 Khái niệm người Hoa, lịch sử người Hoa đi cư vào Việt Nam và

TP Hồ Chí Minh

1.1.1.1 Khái niệm người Hoa

Người Hoa ở Việt Nam còn được gọi với các tên khác: Hán, người Việt gốc Hoa, Hoa kiểu, Hoa kiểu hải ngoại, người Tàu, Tàu ô, Ba tàu (rất khó giải thích), người Khách, cộng đồng người Hoa Trong ngôn ngữ Phương Tây, người Hoa được gọi là Chinese (Tiếng Anh), Chinois (tiếng Pháp), Kital (Tiếng Nga) Như thế đủ thấy, việc định nghĩa khái niệm người Hoa là không đơn giản, rất khó đạt đến sự thống nhất cao

Theo nhà nghiên cứu Trần Khánh, trong bài viết: “Bàn về thuật ngữ và khái niệm người Hoa Đông Nam A” ?, téc gia cho rang, trong lich sit, cho đến nửa đầu thế kỷ XIX, trong ngôn ngữ phương Tây, chỉ có một từ để chỉ tất cả những người thuộc đòng dõi Trung Hoa, xuất phát từ vương quốc trung tâm

Đó là từ Chinese trong tiếng Anh, Chinois trong tiếng Pháp và Kital trong tiếng Nga Từ các từ chung đó, sau này người ta kết hợp chúng với một vài từ khác để chỉ những đối tượng cụ thể hơn, như người Trung Hoa lục địa, người Trung Hoa Đài loan, người Trung Hoa Hồng kông, người Trung Hoa hải ngoại, người Trung Hoa sinh ra ở nước ngoài, người Hoa Đông Nam Á, người Hoa Malaixia Còn trong tiếng Hán và tiếng Việt cũng có nhiều từ chung để chỉ người có dòng dõi Trung Hoa, như người Trung Quốc (Zhongguo ren),

người Trung Hoa (Zhong hua ren), người Hán (Han ren), người Đường (Tang

Trang 11

ren), người Tống (Song ren), người Minh (Ming ren), người Thanh (Qing ren),

người Hoa (Hua ren)

Cho đến tận nửa sau thế ký XIX, thuật ngữ người Trung Hoa và Hoa kiểu (Hua Chiáo) mới bát đầu được sử dụng tại Trung Quốc Thuật ngữ Kiều (Chiáo), được chính thức hoá bằng văn bản, trong Hiệp định ký kết giữa Pháp

và chính quyền Mãn Thanh tại Thiên Tân năm 1858, dùng chỉ những chính khách của Mãn Thanh làm việc tại nước ngoài, không bao hàm những người Trung Hoa di chú tạm thời ở nước ngoài Trước đó, Kiểu là chỉ người di chú bên trong Trung Quốc Sau đó, những năm 80 của thế kỷ XIX, khái niệm Kiểu được thể chế hoá thành Ngoại kiều (Chiaoju hay Giaoju) và chỉ tất cả những người trung Hoa di chú và sống tạm thời ở nước ngoài Còn thuật ngữ Hoa kiểu không phải lần đầu xuất hiện ở Trung Quốc, mà ở nước ngoài, khi các nhà buôn và trí thức người Hoa hải ngoại tại Xingapo tự gọi mình là Hoa kiểu Cho đến những năm 50 của thế kỷ XX, thuật ngữ Hoa kiều trở thành một ngôn

tờ thông dụng để chỉ tất cả những người Trung Quốc di trú và định cư ở nước ngoài

Chính phủ Nam Kinh (1928-1949) và chính phủ Đài Loan - Quốc dân đảng - thường dùng thuật ngữ Hoa kiểu hay người Hoa hải ngoại (Hua ren Haiwai) dé chi tất cả những người có dòng đối Trung Hoa sống ở nước ngoài, không phân biệt họ có quốc tịch hay không có quốc tịch nước sở tại Đảng cộng sản Trung Quốc gọi nước Trung Hoa là nước Trung Quốc, từ đó tên gọi người Trung Quốc (Zhongguo ren) được lưu hành rộng rãi Mà người Trung Quốc lại không chỉ là người Hán, mà còn là người Hồi, Mông, Tạng thế nên, người Trung Quốc sống ở nước ngoài gồm những người Hán, bị Hán hoá và chưa bị Hán hoá (nhưng hầu hết là người thuộc dòng dõi Hán tộc, hay bị Hán hoá), vậy thuật ngữ người Hoa hải ngoại, hay Hoa kiều nhằm chỉ tất cả những người Trung Quốc sống ở nước ngoài

3 Xem: Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam A, 3/1997, tr 54-63

Trang 12

Nhung từ cuối những năm 50 trở đi, thuật ngữ này được giới hạn dùng

để chỉ những người còn giữ lại quốc tịch Trung Hoa, bắt nguôn từ chính sách không can thiệp vào nội bộ của nước khác, không bắt ép người Hoa kiểu lựa chọn quốc tịch và khuyến khích họ định cư ở nước ngoài, gia nhập quốc tịch nước sở tại Đến những năm “cách mạng văn hoá”, thuật ngữ Hoa kiều ít được nhắc đến Nhưng tới cuối những năm 70, khi Trung Quốc tiến hành cải cách,

mở cửa, thuật ngữ này lại được sử dụng thường xuyên và vẫn chỉ những công dân Trung Quốc sống ở hải ngoại

Thuật ngữ người Hoa, theo ý kiến của nhiều người nghiên cứu, đó là do người Hoa hải ngoại định cư tại các nước Đông Nam á, do nhạy cảm với chủ nghĩa dân tộc của dân cư bản địa, họ đã tự gọi mình là người Hoa thay cho tên gọi Hoa kiểu để tránh né những vấn đề chính trị có liên quan đến Trung Quốc Mặt khác, tỷ lệ người Hoa ở Đông Nam Á tăng nhanh, nhiều người trong họ

muốn khẳng định mình là người định cư chứ không phải là người di chú hay

kiểu dân Rồi nữa, một bộ phận khác của người Hoa đã lấy vợ, chồng với người bản địa, trở thành người Hoa lai Những người gốc Hoa, những Hoa kiểu thực thụ, ít hoặc chưa lai muốn tự gọi mình là người Hoa nhằm mục đích khẳng định ý muốn định cư lâu đài ở nước sở tại và biểu thị nguyện vọng bảo tồn bản sắc văn hoá sở hữu của mình Nếu thế, thuật ngữ người Hoa ra đời sau danh từ Hoa kiêu, nhằm để chỉ những Hoa kiêu đã nhập quốc tích nước sở tại

Còn thuật ngữ người gốc Hoa (Huaji), được sử dụng để chỉ những người Hoa lai, như người Minh Hương ở Việt Nam

Ở nước ta, có nhiều thuật ngữ để chỉ những người Trung Hoa di chú và

định cư ở nước ngoài, mà thời phong kiến thường gọi theo tên các triều đại, hay tên các địa phương mà họ ra đi Như người Tống, người Thanh, người Quảng đông Cuối những năm 50, tại miền Nam xuất hiện danh từ “người Việt gốc Hoa”, hàm chứa nội dung chính trị, rằng họ là công dân Việt Nam, phải có trách nhiệm và bổn phận như người Việt Nam Đến cuối những năm

Trang 13

50, thuật ngữ người Hoa được sử dụng trong thống kê dân số và trong văn bản chính thức của Chính phú nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, danh từ Hoa kiêu được thay bằng tộc danh người Hoa Lý do là, đại đa số Hoa kiều ở miền Bắc Việt Nam đã được bản địa hoá về quốc tịch và quyển công dân, điều đó được

2 Đảng, 2 Nhà nước Việt Nam và Trung Quốc chấp nhận bằng văn bản Từ sau năm 1975, tộc danh người Hoa được sử dụng rộng rãi trong cả nước Theo

đó, khái niệm người Hoa gồm 5 tiêu chí sau:

1/ Có nguồn gốc Hán hay bị Hán hoá,

2/ Sống ổn định và thường xuyên ở nước ngoài,

3/ Đã nhập quốc tịch nước sở tại,

4/ Ít hoặc nhiều chưa bị đồng hoá, và

5/ Tự nhận mình là người Hoa

Vậy có thể định nghĩa, người Hoa là những người có nguồn gốc dân tộc Hán, hoặc Hán hoá, từ Trung Hoa di trú sang nước khác, hội nhập cộng đồng dân cư các quốc gia sở tại, trở thành công dân các quốc gia đó và tự nhận là người Hoa

Như vậy, người Trung Hoa sống ở lục địa Trung Quốc không thể gọi là người Hoa Còn những người có nguồn gốc Hán, hay bị Hán hoá sống ở nước ngoài, vẫn mang quốc tịch Trung Hoa (gồm Trung Quốc, Đài loan, Hồng Công và Ma cao) gọi là Hoa kiểu, hay người Hoa hải ngoại Còn người Hoa lai, hay người gốc Hoa như người Minh Hương ở Việt Nam thì, nếu theo huyết thống, thì là người Hoa, nhưng ở góc độ văn hoá thì không phải, mà là người gốc Hoa, bởi họ đã bị bản địa hoá về ngôn ngữ, đang hoà nhập vào văn hoá xã hội người bản địa

Từ phương điện dân tộc học, ở Việt Nam quan niệm về dân tộc - quốc

gia (nation) thể hiện rõ nét trong lịch sử, dân tộc gắn với khái niệm tổ quốc và

đất nước, còn quan hệ huyết thống là rất mờ nhạt Theo đó, người Hoa ở Việt

Trang 14

Nam là một thành phần trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, một dân tộc theo nghĩa tộc người (ethnicity) đang được hình thành Tuy nhiên, tên gọi “tộc người Hoa” đã được sử dụng nhưng chưa thành thói quen Hơn nữa, người Hoa

là một dân tộc với nghĩa tộc người đang được hình thành cũng có nhiều đặc điểm không giống với các dân tộc thiểu số khác ở Việt Nam Vì họ là cộng đồng dân nhập cư, không phải là dân bản địa, chủ yếu sinh sống ở đô thị và đồng bằng, không có biên giới lãnh thổ tộc người riêng, quê hương của họ là nơi đang sống chứ không phải quê cha đất tổ - một nước lớn, có tiềm năng nhiều mặt, lại nằm ngay sát các quốc gia Đông Nam Á

Đảng ta quan niệm, người Hoa là: “Những người gốc Hán và những người thuộc dân tộc ít người ở Trung Quốc đã Hán hod di cu sang Việt Nam

và con cháu của họ đã sinh ra, lớn lên tại Việt Nam, đã nhập quốc tịch Việt Nam, nhưng vẫn còn giữ những đặc trưng văn hoá, chủ yếu là ngôn ngữ, phong tục tập quán của dân tộc Hán và tự nhận mình là người Hoa” *

Chúng tôi triển khai đề tài theo cách hiểu về người Hoa như trên

1.1.1.2 Lịch sử người Hoa di cư vào Việt Nam và TP Hồ Chí Minh Trung Hoa là một quốc gia rộng lớn và đông dân nhất thế giới, nhưng lịch sử Trung Hoa đầy biến động; dân tộc Trung Hoa cũng rất đa dạng, phong phú, nhiều dân tộc cùng tồn tại trong quốc gia rộng lớn này (49 dân tộc) Cuộc đấu tranh giữa các thế lực phong kiến diễn ra từ xa xưa giữa các triều đại vua chúa, vương hầu, bộ lạc Nổi tiếng là từ thời Đông Chu liệt quốc, chiến tranh nối tiếp chiến tranh cho đến khi Tần Thủy Hoàng thống nhất 7 nước nhỏ (Tần,

Tẻ, Triệu, Tấn, Ngụy, Việt, Ngô) thành triều đại nhà Tân Sau đó là đến các triều đại Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, cuối cùng là nhà Thanh Sau mỗi cuộc chiến tranh giành quyền thống trị là sự di dân của hàng ngàn, hàng vạn người đến các quốc gia, mà đa số là những người nghèo khó, cơ cực vì chiến

* Chỉ thị số 62-CT/TW, ngày 8/11/1995 của Ban bí thư TW Đảng cộng sản Việt Nam: “Về tăng cường công

tác người Hoa trong tình hình mới”

Trang 15

tranh đi tìm cuộc mưu sinh ở nước khác, một phần là quan quân của triều đại

cũ ra đi để tránh sự trả thù và mong ngày về khôi phục lại giang sơn

Do có sự gần gũi về địa lý, lịch sử và văn hoá, Việt Nam trở thành địa bàn thuận lợi cho người Trung Quốc di cư sang từ rất sớm Do nhiều nguyên nhân đan xen, từ xa xưa, người Hoa đã có nhiều đợt di dân sang Việt Nam, khi thì lặng lẽ, khi thì lẻ té và có khi rất ồ ạt Nhịp độ nhập cư của người Hoa đến Việt Nam còn liên quan đến chính sách đối nội, đối ngoại của các triểu đại phong kiến nước ta và cả chính sách khai thác thuộc địa của các thế lực đế quốc thực dân khi chúng xâm lược Việt Nam Song các đợt đi cư lớn của người Trung Quốc vào Việt Nam chủ yếu là các thời kỳ:

Đợt 1, ở thế kỷ thứ XIH, khi nhà Nam Tống bị nhà Nguyên thôn tính Đợt 2, vào thế kỷ XV, khi quân Minh xâm chiếm và thống trị nước ta Dot 3, vao thé ky XVI, di cu 6 at khi nha Thanh 14t d6 nhà Minh, nô dịch, áp bức và đồng hoá người Hán, rất đông người Hán đến Việt Nam, được Chúa Nguyễn ở đàng trong đón nhận Đó là các nhóm của Mạc Cửu và gia đình đến vùng đất Mang Kham (nay là Hà Tiên) vào năm 1671 với khoảng

400 người, sau thần phục Chúa Nguyễn và được ban chức Tổng Trấn Hà Tiên

Nhóm thứ hai, vào năm 1679, của Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch, không khuất phục nhà Thanh, đem 3000 quân cùng toàn bộ gia đình, dòng họ đi trên 50 chiếc thuyền, xin chúa Nguyễn cho vào Việt Nam cư trú Trần Thượng Xuyên định cư ở vùng Biên Hòa — Cù Lao Phố (tỉnh Đồng Nai); Dương Ngạn Địch định cư ở Mỹ Tho (tỉnh Tiền Giang) Dân dà, nhóm người Hoa Cù Lao Phố thấy vùng Chợ Lớn dễ làm ăn mua bán, nên lần lượt lui về kinh Tàu Hủ, thuộc các Quận 5, 8, 10, 6, 11 hiện nay Phần lớn chính sách của chính quyển khi đó đều khuyến khích người Hoa hội nhập, làm ăn sinh sống

và phát triển, lập làng xóm, kết hôn rộng rãi với người Việt, không mấy phân

biệt, kỳ thị

Trang 16

Đợt 4, khi đế quốc Anh xâm lược Trung Hoa, nổ ra cuộc chiến tranh nha phiến và khi cuộc khởi nghĩa “Thái bình Thiên quốc” nổ ra rồi thất bại, những năm giữa thế kỷ XIX

Đợt 5, vào những năm 30 của thế kỷ XX, sau khi nổ ra vụ Lư Câu Kiều

và Nhật Bản xâm lược Trung Quốc Đợt này có cả những người cách mạng Trung Quốc, thuộc Đảng Cộng sản và Quốc dân đảng

Đợt 6, từ những năm 1939 đến 1945, khi cuộc chiến tranh chống Nhật của nhân dân Trung Quốc phát triển xuống vùng Hoa Nam, hàng loạt người Trung Quốc chạy sang Việt Nam lánh nạn

Đợt 7, cuối năm 1948, khi quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đánh đuổi quân Tưởng Giới Thạch, mở rộng vùng giải phóng, nhiều người dân và binh lính của Tưởng chạy sang nước ta tị nạn Sau năm 1949, Chính quyền thuộc địa Pháp đã có lệnh cấm người Trung Quốc nhập cư vào Việt Nam, vùng quân Pháp kiểm soát, vì sợ sự xâm nhập của những người Cộng sản Trung Quốc

Hiện nay ở Việt Nam, người Hoa sinh sống tập trung tại một số tỉnh thành như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Hưng Yên, Quảng Nam, Bình Thuận, Đồng Nai, Tiền Giang, An Giang, Đồng Tháp, Bạc Liêu, Sóc Trăng,

Ca Mau

Theo số liệu của Tổng Cục Thống kê năm 1999, cả nước có hơn 862.371 người Hoa, riêng tại thành phố Hồ Chí Minh có 428.768 người, chiếm 54,5% người Hoa ở Nam bộ và chiếm 9% dân số thành phố, cư trú khấp

24 quận huyện, tập trung đông nhất tại các Quận 5, 6, 8, 10, 11 và Tân Phú Sài Gòn — Chợ Lớn - Gia Định là địa bàn người Hoa chọn làm nơi định cư đông nhất vì có vị trí là trung tâm của miền Nam Bộ, điều kiện thiên nhiên thuận lợi, còn người Việt thì sẵn lòng đón tiếp họ, cùng khai phá, xây dựng và

Trang 17

sinh sống Cộng đồng người Hoa tại thành phố chủ yếu gồm 5 nhóm ngôn ngữ chính, là Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và Hẹ

1.1.2 Một vài đặc điểm của người Hoa trên các lĩnh vực hoạt động cơ bẩn của xã hội

* Vệ kinh tế

Trước đây hoạt động kinh tế của người Hoa chỉ tập trung ở quy mô gia đình, phương thức quản lý sản xuất theo truyền thống kiểu cha truyền con nối, gia đình trị; kỹ năng nghề nghiệp khá tính xảo, tay nghề điêu luyện, có sự sáng tạo, năng động trong sản xuất kinh doanh Hiện nay, trước sự mở cửa, đổi mới của đất nước, nhận thức làm ăn kinh tế của người Hoa đã có sự chuyển biến tích cực, quy mô sản xuất được mở rộng hơn, đa số doanh nghiệp chủ động tìm kiếm thị trường, chủ động tiếp thị giới thiệu sản phẩm ra thị trường trong và ngoài nước Kiểu tư duy gia đình trị ngày càng giảm dần Đặc biệt họ quan tâm nắm bắt các chủ trương chính sách kinh tế của Nhà nước

Nhờ có đường lối đổi mới của Đảng, doanh nghiệp người Hoa được làm giàu chính đáng Người Hoa thành phố Hồ Chí Minh đã góp phần tích cực vào

sự tăng trưởng kinh tế, đóng góp vào giá trị tổng sản lượng thành phố khoảng 20% -30% Đặc biệt tại các quận có đông người Hoa, như quận 5, 6, 11, tỉ lệ đóng góp của người Hoa vào giá trị tổng sản lượng của Quận lên tới từ 40% đến 60% Nhìn chung người Hoa chấp hành tốt các chủ trương chính sách của Nhà nước, thực hiện theo chuyển dịch, đổi mới cơ cấu kinh tế của từng địa phương Hầu hết các doanh nghiệp người Hoa làm ăn chân chính, thực hiện tốt nghĩa vụ nộp thuế theo quy định Mức sống người Hoa ở mức trung bình trong

xã hội Một bộ phận là chủ doanh nghiệp có mức sống khá, nhưng vẫn còn một số người Hoa hoàn cảnh neo đơn, khó khăn về kinh tế, cần sự giúp đỡ của

xã hội

* Về văn hóa, xã hội người Hoa

Trang 18

Ngày trước, con cái người Hoa chú trọng học nghề tiểu thủ công nghiệp, nay 70% con em người Hoa vừa học chữ Việt vừa học chữ Hoa, học cả Anh văn, Nhật ngữ, Pháp ngữ Hầu hết các trẻ em Hoa lên 6 tuổi đều đến trường, số trường học dành cho người Hoa nhiều hơn nhiều so với năm 1985, với chất lượng cao hơn

Trường học của người Hoa rất có trật tự kỷ luật, trí dục và thể dục đều được xem trọng như nhau trên nền đạo đức học bên vững Đặt tên cho các trường học, họ thường chọn tên quận, tên các nhân vật nổi tiếng của Trung Quốc Các tên đó hướng cho học trò mục đích để đạt tới, chúng mang lý tưởng cao đẹp hoặc mang ý nghĩa chính trị hiện đại Sau giải phóng, một số trường mang tên liệt sĩ người Hoa

Ngoài sân Tĩnh Võ, họ có Câu lạc bộ dưỡng sinh, y thuật đưỡng sinh, sản sinh ra những Nhan Vi Quân, Lý Đức, các tay chơi Bida, đá cầu mây của các Quận 5, 6, 11 là các hảo thủ ít có đối thủ trong nước

Hiện nay người Hoa có gần 5000 cán bộ Trung cấp kỹ thuật; 2000 người có trình độ đại học và sau đại học; số giáo viên dạy tiếng Hoa lên tới gần 500 người và 15.000 học sinh học Anh văn, Hoa Văn

Sinh hoạt văn hoá văn nghệ trong người Hoa thường thể hiện ở các hội quán Tên tuổi người Hoa trong ca nhạc, vẽ, thư pháp, đàn và thể dục thể thao ngày càng nhiều trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Những đội lân sư, rồng nổi danh cả nước là của người Hoa Đoàn ca kịch đặc sắc tham gia ca múa nhạc dân tộc đạt nhiều giải thưởng là Triều Châu, Quảng Đông Đời sống sân khấu ca kịch của người Hoa đã có điều kiện phát triển từ sau năm 1975, mà trước đó, ít được quan tâm Các đoàn hát của người Hoa thường có các Mạnh Thường Quân bảo trợ nên đời sống nghệ sĩ không phải lo lắng nhiều, họ tự hạch toán Đây là bài học về sự hỗ trợ mà các Hội nghệ sĩ ái hữu Việt Nam nên nghiên cứu

Trang 19

Các nhạc cụ gõ, thổi, đánh dây và nhạc cổ, ca cổ Nghệ Minh cũng trở lại với người Hoa Chợ Lớn, một hoạt động gìn giữ văn hóa của người Hoa Đáng kể người Hoa Chợ Lớn rất quan tâm xây dựng tủ sách của mình, xem đó

là một nhân tố tăng cường ý thức bảo tồn văn hoá của họ trên đất khách Thư viện có tới 24.000 đầu sách các loại, trong đó, sách giáo khoa chiếm từ 20% đến 70% Đến năm 1987 cũng là thời kỳ kinh tế người Hoa phát triển trở lại,

tủ sách người Hoa lên đến 120.000 đầu sách Họ đủ sức tham gia hai lần

“Ngày hội văn hoá các dân tộc Việt Nam” và chứng minh được mối liên hệ văn hoá của người Hoa với người Việt, Khmer, Chăm, phương Tây

* Về chính trị

Ngay từ những năm 1958 — 1959, người Hoa ở Chợ Lớn đã cùng nhân dân TP Hồ Chí Minh đấu tranh chống lại Mỹ - Diệm Từ những phong trào quần chúng nổi lên đấu tranh chính trị, tham gia vào Mặt trận Giải phóng Dân tộc Miền Nam Việt Nam Người ta còn nhớ Quảng Nhả, Phước Kiến, Đồng Đức, Trí Dụng đến Nghị Đoàn, Ba Toàn, Trần Công Nô là các chiến sĩ người Hoa tiên phong và gắn bó suốt 20 năm đấu tranh giải phóng miền nam Việt Nam Năm 1964, hàng trăm người Hoa thoát ly vào bưng biển trước khi Mỹ ồ

ạt đổ quân vào Nam Nhiều người tham gia vào các đội vũ trang nội thành Trong kháng chiến chống Mỹ, để lại nhiều tên tuổi người Hoa với cách mạng

Việt Nam: Ngô Liên, Nghi Đoàn, Hà Tăng, Dư Huệ Liên, Phan Chánh Dưỡng,

Khống Quế Trình khiến mọi người thán phục

Tính đến năm 2004, có 9425 Đoàn viên Thanh niên Cộng sản Hồ Chí

Minh là người Hoa; Hội Phụ Nữ có gần 37.000 người; Hội Liên hiệp Thanh niên có tới 13.000 người Có đến 238 người (69%) đắc cử vào Hội đồng Nhân dân phường - xã - thị trấn, 5/7 người Hoa ứng cử là Đại Biểu Hội đồng Nhân

đân Thành phố và một đại biểu Quốc hội là người Hoa Phó ban Dân vận

Thành ủy là người Hoa, Phó Bí thư Quận ủy, Thường vụ Quận ủy Quận 5 và nhiều bí thư Đảng ủy phường là người Hoa Công tác kết nạp Đảng trong

người Hoa cũng tăng nhanh cả vẻ số lượng và chất kượng Chỉ tính từ năm

Trang 20

2001 đến nay, có gần 400 đảng viên được kết nạp; từ 2001 đến 2004 là 49 đẳng viên; 6 tháng đầu năm 2005 là 22 Đảng viên Tổng số đảng viên người Hoa là 608 người

Chỉ thị số 10/CT của Ban Bí thư và sau đó là các Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Ban Thường vụ Thành ủy đã thúc đẩy người Hoa hội nhập ngày càng khắng khít với TP Hồ Chí Minh Người Hoa đã góp phần không nhỏ vào mọi thắng lợi dưới mọi thời kỳ khác nhau của Thành phố

Từ việc nghiên cứu về người Hoa ở Việt Nam, có thể rút ra mấy đặc

điểm của họ như sau:

1) Đa số người Hoa ở nước ta hiện nay đều sinh trưởng tại Việt Nam, nhiều người có quan hệ hôn nhân với người các đân tộc khác ở địa phương, nhưng vẫn giữ gìn được bản sắc của dân tộc Hán Họ đã tiếp thu tỉnh hoa văn hoá của các dân tộc khác, nhất là của người Việt, thế nên văn hoá người Hoa mang những nét đặc thù riêng: người Hoa Việt Nam

2) Người Hoa sống phần lớn tập trung ở các thành phố, thị xã, thị trấn ven trục giao thông thuỷ bộ, thuận lợi cho hoạt động sản xuất và kinh doanh Địa bàn người Hoa sống tập trung và nhiều hơn cả là ở các tỉnh phía Nam, trong đó đông nhất là ở TP Hồ Chí Minh

3) Người Hoa ở nước ta đã có một quá trình chung sống lâu dài cùng nhan dan các dân tộc, cùng chiến đấu chống ngoại xâm, bảo vệ và xây dựng đất nước Việt Nam Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, hơn nửa thế kỷ qua, người Hoa càng có điều kiện phát triển toàn diện, theo hướng tích cực, cùng các dân tộc khác đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển

4) Người Hoa có tiểm năng và có khả năng fo lớn về hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nền kinh tế thị trường Người Hoa có ý thức cộng đồng chặt chẽ Các tổ chức văn hoá tín ngưỡng, tôn giáo, xã hội của người Hoa có vai trò đáng kể trong việc hội nhập văn hoá với các dân tộc khác và giữ gìn bản sắc văn hoá truyền thống Họ có mối quan hệ thường xuyên và chặt chẽ

Trang 21

với cộng đồng người Hoa và Hoa Kiều thế giới, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay Š

Như vậy, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nước ta, người Hoa đều phát huy được vai trò của mình Những đóng góp của họ trong lịch sử và đương đại trên quê hương, đất nước thứ hai này là rất to lớn Đó chính là do sự

nỗ lực của cộng đồng người Hoa, đồng thời cũng thể hiện về tính đúng đắn của những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với người Hoa

1.2 Đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo của người Hoa ở Việt nam

1.2.1 Khái niệm tín ngưỡng, tín ngưỡng dân gian, tôn giáo và mê tín dị đoan

* Khái niệm lín ngưỡng

Tín ngưỡng, theo nguyên nghĩa, là sự tin vào một điểu gi đó (croyance) Trong đời sống tâm linh, tín ngưỡng được hiểu theo nghĩa chung nhất, đó là: nêm tin của con người vào lực lượng siêu nhiên, thần thánh Theo cách hiểu này, ngoại điên của khái niệm tín ngưỡng bao gồm việc tin theo các tôn giáo và các hình thức tín ngưỡng khác Trong đó, niềm tin, sự ngưỡng vọng vào lực lượng siêu nhiên là dấu hiệu cơ bản của nội hàm khái niệm tín ngưỡng Khi tín ngưỡng được hiểu là niềm tin tôn giáo, thì cốt lõi của niềm tin

đó chính là tư tưởng của mỗi tôn giáo, từ đó mà hình thành thiết chế tôn giáo, con người tôn giáo Đối với người có tín ngưỡng, lực lượng siêu nhiên được xem là có thật, họ tin, tôn thờ và sùng bái lực lượng siêu nhiên ấy

* Khái niệm tín ngưỡng dân gian

Tin ngưỡng dân gian, đó là tín ngưỡng được hiểu ở cấp độ kém chung hơn Ngoại điên của nó là các hình thức tín ngưỡng chưa đạt đến trình độ cấu

Š Xem thêm: báo cáo của ban dân vận TW: “Về một số nét cơ bản về tình hình người Hoa và công tác người

Hoa hiện nay ”, 3/2005

Trang 22

thành các tôn giáo, như thờ cúng ông bà tổ tiên, thờ thánh - thần, thờ thành hoàng, thờ mẫu

Nếu như tôn giáo, trong các yếu tố hợp thành cấu trúc của mình, thường

là chặt chẽ và thống nhất, hơn nữa, lại xuyên thời gian và không gian, thì tín ngưỡng dân gian, tỏ ra linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo cốt sao để cho phù hợp với cuộc sống thực tế của mỗi người, mỗi gia đình, mỗi dân tộc Tín ngưỡng dân gian về cơ bản do nhân đân, những người lao động sáng tạo ra Tín ngưỡng dân gian không có tính hệ thống, không mang tính triết lý nhân sinh hoàn chỉnh như nhiều yếu tố vốn có khác của một tôn giáo và đấy là một đặc điểm rõ nét nhất để phân biệt tín ngưỡng dân gian với tôn giáo Tín ngưỡng dân gian mang tính phổ cập, đại chúng

Tín ngưỡng dân gian cũng có những chức năng tương ứng như của tôn giáo Đó là: Chức năng đên bù hư do; Chức năng giáo dục, định hướng giá trị, đánh giá, xác định chuẩn mực ứng xử của con người; Chức năng giao Hiếp; Chức năng tổ chức xã hội, điều chỉnh mối quan hệ cộng đồng trong phạm vì

và trên lĩnh vực tương ứng Với các chức năng đó, tín ngưỡng dân gian cố vai trò góp phần cải tạo xã hội theo chiều hướng này hay chiều hướng kia; nó cũng là vũ khí đấu tranh với cái ác, có vai trò tích cực không thể phủ nhận Đối với mỗi người, vai trò của tín ngưỡng dân gian còn phụ thuộc ở sự từng trải và kinh nghiệm của bản thân Trong đời sống, nếu tín ngưỡng dân gian bị

quá lạm dụng, thì đều có thể chuyển thành tiêu cực, mà rõ nét là dẫn đến nhận

thức và các hành vi mê tín đị đoan

Theo chủ để của đề tài này, đó là hệ thống tín ngưỡng (hoặc có thể gọi: loại hình tín ngưỡng) Thánh nhân và Thần linh của người Hoa, là thuộc về nội hàm và ngoại điên của khái niệm tín ngưỡng dân gian

* Khái niệm tôn giáo

Tôn giáo (chữ La-tinh là Religio), được hiểu với một số ý nghĩa như sau:

- Thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên

Trang 23

- Chỉ cộng đồng người cùng có chung một tín ngưỡng, có hệ thống giáo

lý, giáo luật, lễ nghỉ và tổ chức giáo hội ổn định

- Là niềm tin của con người về một số vị thần thánh nào đó, cùng với các nghi lễ đảm bảo cho niềm tin đó

- Là kinh nghiệm về cái thiêng liêng và đồng thời, cũng là việc tổ chức hành động tập thể chung quanh kinh nghiệm đó và hướng tới tôn vinh kinh nghiệm đó

- Là niềm tin và nghi thức, qua đó, người ta cố gắng đi vào quan hệ với siêu nhiên hoặc bảo đảm an toàn

Nội dung thuật ngữ tôn giáo thoạt tiên được người Châu Âu dùng để chỉ một tôn giáo, sau đó được chỉ là những tôn giáo Từ đó, nó trở thành khái niệm mang tính phổ quát toàn cầu Ngày nay, nói đến tôn giáo là nói đến các đạo (hay giáo) cụ thể như: Phật giáo, Công giáo, đạo Tin lành, đạo Do thái, đạo Hồi, đạo Cao đài

Theo các nhà nghiên cứu, cách đây khoảng 45.000 năm, dưới xã hội cộng sản nguyên thuỷ đã xuất hiện các hình thức tôn giáo sơ khai, như: Tô- tem giáo, ma thuật giáo Còn các tôn giáo lớn trên thế giới hiện nay cũng đã

có cả nghìn năm lịch sử

Còn ở Phương Đông và ở Việt Nam, theo GS Đặng Nghiêm Vạn, thuật ngữ religion, được đưa từ châu Âu sang vào thế kỷ thứ XVIH và được dich ra thành Tông giáo, xuất hiện ở Nhật bản, sau tới Trung Hoa Vào Việt Nam cuối thế kỷ thứ XIX, thuật ngữ này được gọi là tôn giáo, vì ky tên huý vua Thiệu Trị 5 Đến nay, nội hàm và ngoại diên của khái niệm tôn giáo, được đa

số người Phương Đông và Việt Nam hiểu như ở các nước Phương Tây

Như trên đã nêu, nếu tín ngưỡng dân gian trên các yếu tố hợp thành, nổi lên là tính chất chưa hoàn chỉnh, thì ngược lại, tôn giáo có một kết cấu hoàn

* Dang Nghiêm Vạn, lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Nxb CTQG, HN, 2001, tr.18-19

Trang 24

chỉnh và chặt chẽ hơn nhiều Đó là, tôn giáo có một hệ thống cấu trúc gồm giáo lý, giáo luật, lễ nghỉ, tổ chức, nhờ đó mà có sức sống bền bỉ qua mọi hoàn cảnh, dù khó khăn Tôn giáo đã, đang và sẽ là vấn đề còn tồn tại lâu dài, ảnh hưởng rất to lớn đến tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội và chỉ mất đi khi những nguồn gốc sinh ra nó không còn

* Khái niệm mê tín dị đoan

Mê tín (Superstition), trước đây được hiểu, đó là những niềm tin tín ngưỡng, những sự thờ cúng khác thường, so với những tôn giáo đã được thừa nhận (xã hội - pháp lý) Ngày nay, mê tín được hiểu là những niềm tin và những hành vi phản khoa học, đội lốt tín ngưỡng, tôn giáo, gây tổn hại đến

tính mạng, nhân phẩm, sức khoẻ, tài sản của nhân dân và thuần phong mỹ tục,

bản sắc văn hoá dân tộc Đó là các hoạt động như: bói toán, gọi hồn, xin xăm, xóc thẻ, đốt đồ mã

Tôn giáo, tín ngưỡng - hay tín ngưỡng dân gian và mê tín dị đoan là khác nhau, nhưng trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể, tôn giáo, tín ngưỡng có thể lại là tiền đề, điều kiện cho mê tín đị đoan nảy sinh và tồn tại Trên thực tế, tôn giáo, tín ngưỡng nhiều khi bị người ta lợi dụng vào các hoạt động mê tín

đị đoan, "buôn thần bán thánh", làm ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội Vì thế, mê tín dị đoan, ở các thời đại trước đây, đều là đối tượng phải xử lý kiên quyết, còn ở nước ta hiện nay, nó là đối tượng cần phải được phê phán và loại

bỏ

1.2.2 Vài nét về đặc điểm tôn giáo của người Hoa

Người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu theo 3 tôn giáo lớn, với

số lượng tín đồ không đông đảo Cụ thể, các tôn giáo của người Hoa ở TP.Hồ Chí Minh hiện nay có:

+ Phật giáo: chưa xác định được số lượng tín đồ, gồm các hệ phái Thiền Tông (Lâm tế), Tịnh Độ Tông và Hoa Nghiêm tông

Trang 25

+ Công giáo: hiện có khoảng 10.000 tín đồ, có 4 nhà thờ, chủ yếu tập trung ở quận 5 và 6

+ Đạo Tín lành: hiện có khoảng 5.000 tín đề với 8 chỉ hội cơ sở, thuộc Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam), chủ yếu tập trung ở quận 5

Như vậy, tôn giáo mà người Hoa đi theo, mà cụ thể là ở TP Hồ Chí Minh,

có số lượng tín đồ, cơ sở thờ tự không nhiều Đó cũng là một cơ sở để các nhà nghiên cứu khẳng định: so với tín ngưỡng dân gian, tôn giáo không sôi nổi bằng

1.2.3 Tín ngưỡng dân gian của người Hoa và tín ngưỡng Thánh nhân, Thần linh

1.2.3.1 Phân loại tín ngưỡng dân gian của người Hoa và nhận điện tín ngưỡng Thánh nhân, tín ngưỡng Thần linh

Người Hoa ở Việt Nam có nhiều loại hình tín ngưỡng khác nhau Việc phân loại tín ngưỡng của người Hoa được các nhà nghiên cứu dựa trên khá nhiều tiêu chí khác nhau, tuỳ thuộc vào tính chất vốn có của mỗi loại hình tín ngưỡng và tuỳ thuộc vào nhu cầu, mục đích của chủ thể nghiên cứu

* Nếu dựa vào đối tượng tham gia tín ngưỡng và không gian thực hiện, thì có thể thấy các loại hình tín ngưỡng như sau:

- Tín ngưỡng cộng đồng,

- Tín ngưỡng trong dòng họ,

- Tín ngưỡng trong gia đình,

- Tín ngưỡng của cá nhân

* Cũng có người, như TS Tsai Maw Kuey, đã phân phân loại tín ngưỡng của người Hoa từ việc phân chia các vị thân ở góc độ “bình dân" hoặc “quan trọng”, có:

- Tín ngưỡng thờ cúng trong gia đình (thần bình dân);

Trang 26

- Tín ngưỡng thờ cúng công cộng (thần quan trọng)

Sự phân loại theo cách này, có lẽ còn phải bàn thêm, song tính hợp lý của

nó thiết nghĩ là từ góc độ mối quan hệ giữa người và Thần - Thánh có các cấp

độ khác nhau, từ tình cảm, lòng tin đến sự ngưỡng mộ

* Nếu dựa vào đối tượng là các vị thân - thánh được thờ cúng thì có:

- Tín ngưỡng Thần linh;

- Tín ngưỡng Thánh nhân

* Cũng với hai loại tín ngưỡng này, người ta có thể phân loại từ phương điện chức năng, vai trò đối với con người - xế hội, có:

- Tín ngưỡng Thánh nhân: định hướng nhân cách, tâm lý cộng đồng

- Tín ngưỡng thần linh: thể hiện ước vọng, cầu mong và tâm lý cộng đồng

Trên thực tế, tín ngưỡng Thánh nhân và Thần linh của Người Hoa có một ý nghĩa quan trọng hàng đầu, được biết đến và được quan tâm thực hành nhiều hơn cả, thường là do xuất phát từ vai trò, chức năng rất tiêu biểu này, đó

là việc định hướng giáo dục nhân cách và củng cố tâm lý cộng đồng người Hoa Đi vào tìm hiểu 2 loại hình tín ngưỡng này, chúng ta thấy:

Thánh nhân, phần lớn đó là nhân thần - nhân vật có thật - hoặc cũng có thể chỉ là nhân vật huyền thoại, nhưng được truyền tụng rộng rãi trong dân gian và được ghi chép đầy đủ lịch sử Đó là những nhân vật anh minh, sáng suốt, dày công đức, nên sau khi chết thì hiển thánh, được xã hội tôn thờ, trở thành tín ngưỡng Thánh nhân Tiêu biểu trong hệ thống tín ngưỡng Thánh nhân của người Hoa là việc thờ cúng Quan Công, Bà Thiên Hậu, Quan Âm Bồ

Tát, Bổn Đầu Công

Trang 27

Nếu như Thanh nhan, phan 16n d6 1a cdc nhan than, thi Thdn linh lại là

những thần thánh đo con người tưởng tượng ra, hoặc xuất xứ từ Phật giáo hay Lão giáo Các vị Thân linh được người đời gắn cho những phẩm chất siêu nhiên, quyết định mọi việc trần gian, cai quản không gian, giúp người, giúp đời Tiêu biểu trong hệ thống tín ngưỡng Thân linh của người Hoa, đó là việc thờ cúng Ngọc Hoàng, Phật Di Lặc, Thần Tài, Thổ Công

Đặc trưng của mỗi vị thần - thánh là, các vị đó tiêu biểu cho một hiện tượng nhất định của tự nhiên, của xã hội; bảo hộ cho một nghề, một khu vực không gian nhất định; qua thời gian, được nhân cách hoá, bồi đấp tính linh thiêng để trở thành một vị thánh - thần cụ thể, có tên gọi, có truyền thuyết và

có tiểu sử rõ ràng Mỗi vị thần - thánh ấy đều có một hay nhiều chức năng chuyên biệt, nhưng chức năng gốc vẫn không thay đổi

Theo các cách phân loại như trên về tín ngưỡng dân gian của người Hoa cho thấy tính hấp dẫn, tính “có vấn để” từ bản thân đối tượng nghiên cứu, vì thế đã thu hút được sự quan tâm tìm tòi của giới nghiên cứu Việc này, đối với tín ngưỡng dân gian của người Việt, công tác nghiên cứu đường như mới chỉ tiếp cận đến chủ yếu từ góc độ “đối tượng thờ cúng”, từ đó nhận điện các hình thức tín ngưỡng có: thờ Mẫn, thờ Thành hoàng, thờ các vị Anh hùng dân tộc Trong hệ thống tín ngưỡng dân gian của người Hoa, tín ngưỡng Thánh nhân và tín ngưỡng Thần linh là những yếu tố bộ phận hợp thành toàn bộ hệ thống đó Mối quan hệ giữa tín ngưỡng dân gian với tín ngưỡng Thánh nhân, tín ngưỡng Thần linh là quan hệ của giữa cái toàn thể - hệ thống lớn- với cái bộ phận - tiểu hệ thống Nhưng nó là những yếu tố bộ phận có vai trò căn bản, cốt lõi trong hệ thống cấu trúc tín ngưỡng dân gian của người Hoa

1.2.3.2 Vai trò của tín ngưỡng Thánh nhân và tín ngưỡng Thần linh

Hệ thống tín ngưỡng Thánh nhân của người Hoa có ý nghĩa to lớn trong việc phát huy, khơi dậy tiểm năng, bổ sung khí chất cho mỗi con người Bởi

Trang 28

vì, trước hết, mỗi người Hoa nhận được từ hệ thống tín ngưỡng Thánh nhân một sự giáo dục, định hướng nhân cách, hình thành trong họ một lẽ sống để tồn tại và phát triển Mà nhân cách con người, bao gồm những cách cư xử, hay việc đối nhân xử thế, trong quan hệ cha con, ông cháu, tổ tiên, người thân, thày trò, bạn hữu, người sống và người đã khuất Cụ thể hơn, đối với nam giới, phải có đức tính cương trực, dũng khí, công minh, biết tự trọng, rộng lượng và thuỷ chung; dũng cảm vượt qua hoạn nạn để tạo dựng cuộc sống tốt đẹp cho bản thân, gia đình và cho cộng đồng; phải kiên quyết đấu tranh trước những hiện tượng bất công xã hội; phải tham gia vào việc trừng trị những kẻ

ác hãm hại dân lành và họ tìm thấy ở Quan Công, Bao Công, Bổn Đầu Công là những tấm gương tuyệt đỉnh Còn đối với nữ giới, phải có lòng hiếu thảo đối với cha mẹ, có đức hạnh trong gia đình; phải thương người và xả thân cứu người hoạn nạn, những đức tính đó họ có thể học được, tìm thấy từ Bà Thiên Hậu, Phật Bà Quan Âm

Hệ thống tín ngưỡng Thánh nhân với vai trò định hướng nhân cách cho con người, đã làm cho người Hoa có được ý thức cộng đồng gia tộc, đồng hương và dân tộc thật vững chắc, tạo nên sự đoàn kết, tương thân, tương ái, trở thành nguyên tắc ứng xử trong mọi hoàn cảnh Tam lý cộng đồng của người Hoa, đo được quy tụ và thiết lập trên những ước vọng, lòng biết ơn, nghĩa khí trung trực, sự xả thân cứu người, nên đã trở thành tiểm năng đổi đào, tạo nên một nguồn lực quan trọng, thúc đẩy cho hoạt động phát triển người Hoa trong lịch sử và đương đại, từ kinh tế, văn hoá cho đến xã hội

Còn hệ thống tín ngưỡng Thần linh của người Hoa lại thé hiện tính trội

ở chỗ, làm cho người ta đạt được những ước vọng và sự cầu mong của mình, từ

đó củng cố tâm lý cộng đồng

Để cầu xin sự bình ổn gia đình, tránh được tai ương, cây trồng tươi tốt,

vật nuôi chóng lớn, sinh sôi, người Hoa thờ cúng thần Thổ Công Câu xin làm

ăn kinh tế phát đạt, người Hoa thờ Thần tài Cầu mong sự chở che trong cuộc

sống, giúp người lành, trừng phạt ác, người Hoa thờ Ngọc Hoàng Muốn có

Trang 29

cuộc sống vui vẻ, phấn khởi, họ thờ Phật Di Lặc Nhận thức và thực hành tín ngưỡng Thần linh, tin vào những ước vọng và mọi cầu mong được thực hiện,

từ đó đã tạo thêm, củng cố thêm niềm tin của người Hoa vào một cuộc sống tốt đẹp ở hiện tại và cả tương lai; ý chí của họ được tăng thêm và cũng trở thành một tiểm năng tinh thần không nhỏ

Từ phương diện định hướng nhân cách, giáo dục đạo đức, củng cố tâm

ly cộng đồng, một số nhà nghiên cứu cho rằng, tín ngưỡng Thánh nhân là quan trọng hơn tín ngưỡng Thần lính 7 Đây là một nhận xét đáng lưu ý, ít nhất ở chỗ, đối với người Hoa, khi phải rời xa nơi đất tổ, đến sinh cơ lập nghiệp trên vùng đất mới, thì nhân cách con người, bao gồm cách cư xử, hay việc đối nhân xử thế là cực kỳ quan trọng, đảm bảo sự sống còn và phát triển của họ

Những tố chất đẹp đẽ đó, với người Hoa ở nước ta, sau hàng trăm năm phiêu bạt, dừng chân và lập nghiệp, cho đến nay vẫn được bảo tồn và phát huy, nên có thể nói, là do vai trò đóng góp rất to lớn và trực tiếp của đời sống tín ngưỡng dân gian, mà quan trọng hơn cả là tín ngưỡng Thánh nhân và tín ngưỡng Thần linh Đay thực sự là một tiểm năng của người Hoa ở Việt Nam,

nó vừa là điều kiện hội nhập vào đời sống mọi mặt trên đất nước Việt Nam, lại vừa là nhân tố giữ gìn được bản sắc văn hoá đậm đà của họ

Trong các cơ sở tín ngưỡng của người Hoa, việc phân loại, sắp xếp các

vị thân - thánh là một vấn đề khá phúc tạp, thường với 3 vị trí:

Trang 30

Tuy nhiên sự phân chia đó ở trong mỗi cơ sở thờ tự cũng là vấn dé tương đối, mang tính lịch sử cụ thể Ví như, ở cơ sở thờ tự này, vị thân này là thờ chính, nhưng ở cơ sở thờ tự khác, có khi vị thần đó chỉ được thờ phụ, hoặc tùng tự mà thôi

1.2.3.3 Mối quan hệ giữa tín ngưỡng với tôn giáo trong người Hoa Khảo sát vấn đề này tại Thành phố Hồ Chí Minh chúng tôi thấy phần lớn người Hoa thờ cúng Phật, nhưng chưa chắc họ đã là Phật tử của Phật giáo Bởi vì người Hoa quan niệm Phật, Phật Bà Quan Âm cũng giống như các vị thần linh khác trong tín ngưỡng dân gian, giúp họ vượt biển thành công, ban phát sự măy mắn, hạnh phúc, thậm chí ban cho người phụ nữ hiếm muộn có con cái Theo đó, các ngôi chùa Phật giáo của người Hoa bao giờ cũng là nơi thờ cả các vị thần - thánh trong các hệ thống tín ngưỡng dân gian của người Hoa, như Thiên Hậu, Quan Công, Di Lặc, Ngũ Hành Nương Nương

Trong quan hệ với đạo Công giáo và đạo Tin lành, người Hoa có nền nếp chặt chẽ hơn Nhưng trong nhiều gia đình người Hoa đi theo những tôn giáo này, trong nhà của họ vẫn có bàn thờ Tổ tiên; họ đi nhà thờ làm lễ, song vẫn đến các nơi thờ tự tín ngưỡng tham dự các nghi lễ, thắp hương trên các bàn thờ Quan Công, Thiên Hậu nhằm cầu xin sự phù trợ từ các vị thánh - thần

cụ thể ấy Cũng như đối với Phật giáo, nhiều người Hoa theo đạo Công giáo và đạo Tin lành đã quan niệm, đi đến đánh đồng những đấng thiêng liêng của tôn giáo mình, cũng chỉ như là các vị thần - thánh khác của tín ngưỡng dân gian, tất cả đều đem lại sự may mắn, thịnh vượng cho họ

Như thế đủ thấy, mốt quan hệ giữa tín ngưỡng và tôn giáo ở người Hoa

có mối quan hệ mật thiết, thẩm thấu khá sâu vào nhau, nhưng tín ngưỡng dân gian có một vị trí “trội” hơn tôn giáo, có vai trò vừa phổ biến, lại vừa sâu sắc đối với người Hoa Đấy là nhận xét của không it người nghiên cứu vấn đề này trong lịch sử và đương đại, chúng tôi tán thành và bổ sung thêm

Trang 31

Như vậy, tín ngưỡng nói chung và tín ngưỡng Thánh nhân, Thần linh của người Hoa ở Việt Nam nói riêng là một nhu cầu tinh thần không thể thiếu của họ Thực hành tín ngưỡng ở người Hoa là một sinh hoạt văn hoá truyền thống, gắn liên với lịch sử người Hoa di dân và định cư ở nước ta Đặc điểm của các loại hình tín ngưỡng này như là một sự giao hoà giữa tín ngưỡng

“gốc” từ Trung Hoa với tín ngưỡng vốn đã và đang có trong cộng đồng người Việt Chính vì thế, tín ngưỡng đã có vai trò như là tác nhân không thể thiếu trong quá trình hội nhập của cộng đồng người Hoa vào Việt Nam Trong đời sống tâm linh của người Hoa, có sự ưu trội của tín ngưỡng dân gian với tôn giáo; của hệ thống tín ngưỡng Thánh nhân và tín ngưỡng Thần linh trong hệ thống tín ngưỡng nói chung; của tín ngưỡng Thánh nhân so với tín ngưỡng Thần linh và đấy là những đặc điểm mà về phương điện khoa học vẫn cần nghiên cứu, làm cơ sở cho sự lý giải nhiều vấn đề, không dừng lại ở phương diện tín ngưỡng, tôn giáo Bởi vì từ đó, nó giúp cho người ta hiểu được đặc điểm của người Hoa trên nhiều phương điện hoạt động xã hội khác nhau, từ lịch sử cho đến đương đại

Trang 32

Chương H:

THỰC TRẠNG TÍN NGƯỠNG THÁNH NHÂN VÀ THẦN LINH

CỦA NGƯỜI HOA Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1 Thực trạng Tín ngưỡng Thónh nhôn

2.1.1 Tín ngưỡng Quan Công

Tín ngưỡng thờ Quan Công vốn có nguồn gốc từ Trung Quốc được những người Hoa di cư mang đến Việt Nam Nhưng ở Trung Quốc, Quan Công là một vị thần của Đạo Giáo, đến Việt Nam nó trở thành một tín ngưỡng dân gian khá phổ biến của người Hoa, được thờ cúng cả trong gia đình cũng như ngoài cộng đồng và trở thành thần hộ mệnh của các cá nhân

Quan Công, còn được gọi là Quan Công Xích Đế hay Sơn Tây Phu Tử, tức là Quan Vân Trường Đây là một nhân vật lịch sử nổi tiếng của Trung Quốc thời Hậu Hán Theo lịch sử, Quan Công sinh năm 162, mất năm 219 (đầu thời Tam Quốc) Quan Công tượng trưng cho sự rèn luyện nhân cách: trọng danh dự, lòng chung thuỷ, sự hy sinh, độ lượng, can đảm, công minh, chính trực, nên được người Hoa tặng danh hiệu “Đơn tâm Quán nhật” (lòng son chiếu sáng như mặt trời), “Trung dũng tuyệt vời” Chính vì vậy, người Hoa sùng kính, tôn thờ ông như một vị thánh nhân, được phong tặng danh hiệu “Quan Thánh Đế Quân” Họ xem ông như một chuẩn mực đạo đức: nhân, nghĩa, trí, tín - những giá trị đạo đức mà người Hoa tôn thờ và phấn đấu Đặc biệt, người Hoa tôn thờ chữ tín của ông không chỉ trong cách ứng xử mà còn ở trên thương trường

Theo quan niệm của người Hoa, Quan Công là một vị thánh nhân có sức mạnh phi thường, có khả năng trấn áp tà ma, quỷ quái, giúp đỡ người lương thiện, trung nghĩa khi gặp hoạn nạn, khó khăn Quan Công được nhiều giới tôn làm thần chủ Giới Nho sỹ xem ông là thần văn học Giới sản xuất, kinh

Trang 33

doanh xem ông là võ thần tài Giới bình dân xem ông là thần hộ mệnh cho nam giới Giới võ nghệ thường mang bùa Quan Công để bảo mạng Ở khu dân

cư, Quan Công là vị thần phù hộ cho thôn, ấp, xóm và cộng đồng (như thành

hoàng của người Việt) Quan Công còn là vị thần phù hộ cho các hội đoàn

Cùng với Khổng Tử, Tào Tháo Quan Công được người Hoa xem là “tam tuyệt”

Quan Công là vị thần được người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh và Nam bộ thờ cúng nhiều nhất cùng với Bà Thiên Hậu Người Hoa thờ cúng Quan Công dưới ba hình thức: thờ ở các cơ sở tín ngưỡng công cộng (đền, miếu, chùa); thờ trong gia đình và thờ làm thần hộ mệnh của các cá nhân

Trong các cơ sở công cộng, Quan Công vừa được thờ riêng làm chính thần vừa được thờ phối tự với các vị thần chủ khác Theo Võ Thanh Bằng, hiện nay ở thành phố hồ Chí Minh có 76,5% số gia đình thờ Quan Công Còn tại 202 cơ sở tín ngưỡng ở Nam bộ có 51 cơ sở thờ Quan Công, chiếm 25, 24%

Nếu chia theo nhóm địa phương thờ Quan Công làm chính thần thì có:

- Nhóm Quảng Đông: 4 cơ sở thờ Quan Công (16,6%)

- Nhóm Triều Châu: 12 cơ sở (18,75%)

- Nhóm Phúc Kiến: 9 cơ sở (24,53%)

- Nhóm Hải Nam: 2 cơ sở (50%)

- Nhóm Minh Hương: 5 cơ sở (40%)

8 Theo khảo sát của Võ Thanh Bằng, hiện nay ở thành phố Hỏ Chí Minh có đến 13 cơ sở tín ngưỡng thờ Quan

Công với tư cách là chính thân Còn việc thờ các thân khác có thêm phần thờ phối tự là Quan Công thì có ở

hau hết các cơ sở tín ngưỡng tại thành phố Hồ Chí Minh

Trang 34

Đặc điểm về thờ tự, lễ nghỉ và ảnh hưởng của tín ngưỡng Quan Công trong cộng đồng người Hoa ở thành phố Hô Chí Minh

Cơ sở thờ tự của tín ngưỡng thờ Quan Công gọi là Miếu hay Chùa hoặc Hội quán Các cơ sở tín ngưỡng công cộng nói chung và các cơ sở thờ Quan Công là chính thần nói riêng đều mang những nét kiến trúc, văn hoá đặc sắc của dân tộc Hoa Tại thành phố Hồ Chí Minh, Quan Công được thờ làm thần chủ hay chính thần ở nhiều cơ sở Trong đó tiêu biểu nhất là Nghĩa An Hội Quán hay còn gọi là Chùa Ông hoặc Chùa Ông Lớn, ở quận 5 Ngoài thờ Quan Công làm chính thần, trong đó còn thờ nhiều thần khác như Bà Thiên Hậu, những người hầu cận của ông, Quan Bình, Ngựa Xích Thố và nhiều vị thần khác

Quan Công còn được một số cá nhân, một số hộ kinh doanh buôn bán thờ làm thần tài hoặc thần hộ mệnh Quan Công được tôn làm Thần tài, Thần phù hộ nghề võ, Thân độ mạng cho nam giới Trong gia đình, khi đặt ban thờ Quan Công, người ta chọn vị trí để lưỡi thanh Long Đao quay ra cửa để de doa

ma quỷ, tránh quay vào trong, vì làm hại người trong gia đình

Lễ hội Quan Công thường diễn ra vào những ngày vía của ông như: ngày sinh (13/ Giêng âm lịch), ngày tử (13/5 âm lịch) và ngày hiển thánh (24/

6 âm lịch) Người Hoa cầu xin sự phù trợ của Đức Quan Đế ban cho sức khoẻ, hạnh phúc và những may mắn thuận lợi trong các hoạt động sản xuất kinh doanh Ngoài ra còn làm lễ Trai Đàn cầu siêu cho hội viên và chẩn tế cô hồn vào các ngày Chủ nhật cuối cùng trong tháng bảy âm lịch Vào những dịp lễ tết khác theo lịch âm, tại các cơ sở thờ Quan Công, bà con người Hoa cũng tiến hành dâng lễ cúng và đặc biệt là có tổ chức những đêm thả đèn hoa đăng, diễn kịch

Về lễ vật: Các chùa Hoa thờ Quan Công thường cúng chay, vì quan niệm linh hồn của Ông đã vào chùa tu sau khi chết Riêng cúng cho những

Trang 35

người hầu cận của Quan Công thì là đồ mặn (heo, vịt), vì những người này không đi tu Vào địp tết, một số miếu thờ Quan Công có tổ chức hát Tiểu ở trước sân, kéo dài từ 13 đến 23 tháng Giêng âm lịch

Về y phục: Quan Công luôn mặc trang phục có màu xanh lá cây

Vai trò của tín ngưỡng thờ Quan Công trong đời sống xã hội:

Trong hoạt động kinh tế: Người Hoa đề cao chữ tín lên hàng đầu Hiện nay, hầu hết các gia đình, các hộ kinh doanh đều lấy những đức tính tốt đẹp của Quan Công làm tiêu chí để phấn đấu và cũng là một đức tính cần thiết của những người hoạt động kinh doanh Người Hoa qua thực hành tín ngưỡng Quan Công phần nào đã tạo được lòng tin với nhau và với khách hàng trong công việc làm ăn lâu dài Một biểu hiện khác của tín ngưỡng thờ Quan Công trong hoạt động kinh tế, đã là hành vi vay tiền, hết hạn phải trả, nếu làm ăn khấm khá, người ta sẽ trả cả vốn lẫn lãi cùng với những lễ vật cho ông, còn nếu làm ăn thua lỗ, người ta sẽ xin với ông chỉ phải trả phần vốn gốc mà thôi Gần đây còn có hiện tượng đồng bào Hoa góp hụi Quan Công

Trong đời sống xế hội: Trước tiên tín ngưỡng thờ Quan Công là một phương thức cố kết cộng đồng người Hoa: giúp họ trụ vững trong đời sống kinh tế, đồng thời giúp họ bảo tồn bản sắc văn hoá, tạo được thế mạnh vật chất

và tỉnh thần cho họ Thông qua sinh hoạt tín ngưỡng Quan Công, người Hoa gặp gỡ, chia xẻ với nhau tình cảm, tâm tư và giúp đỡ nhau trong công việc, cuộc sống Rộng hơn, với các hoạt động tín ngưỡng của mình, họ đã liên kết với nhau một cách khá chặt chẽ, bao bọc nhau gần gũi nhau hơn Ngoài ra, nó còn góp phần tích cực trong việc liên kết giữa người Hoa với các dân tộc anh

em khác ở Nam bộ nhất là với người Việt, tạo sự hiểu biết gắn bó với các dân tộc khác Bằng chứng là vào dịp những lễ hội Quan Công, xuất hiện đông đảo những người Việt, Khơ me

Trang 36

Trong đời sống văn hoá: TÍn ngưỡng dân gian của người Hoa là một bộ phận cấu thành hệ thống tín ngưỡng Thánh nhân và một thành tố của văn hoá của người Hoa Qua hình thức tín ngưỡng này cho thấy tính đa dạng và phong phú của tín ngưỡng văn hoá Hoa

Như vậy, tín ngưỡng thờ Quan Công được người Hoa du nhập vào Việt Nam nhưng không chỉ người Hoa mà cả người Việt cũng coi Quan Công như

vị thánh, được thờ phụng ở một số cơ sở tín ngưỡng hiện có ở nước ta Tín ngưỡng thờ Quan Công rất gần gũi với hệ thống tín ngưỡng thờ các vị anh hùng dân tộc của người Việt, như: Các Vua Hùng, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ Điều đó, khiến cho tín ngưỡng Quan Công gần gũi và dễ hòa nhập với văn hóa, tín ngưỡng các dân tộc anh em khác ở Việt Nam, làm thành chất kết dính của người Hoa với mảnh đất mà họ đang sinh sống và sâu

xa hơn, củng cố tình hữu nghị Việt - Trung

2.1.2 Tín ngưỡng Bà Thiên Hậu

Bà Thiên Hậu là một nhân vật huyền thoại của Trung Hoa Truyền thuyết

về Bà ít nhiều có sự khác biệt, song có thể khái quát lại như sau: Bà sinh ngày

23 tháng 3 âm lịch năm 960 dưới triều nhà Tống Kiến Long, ở huyện Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến, một tỉnh duyên hải Nam Trung Hoa Từ bé Bà đã có tài năng bẩm sinh, có thể đoán trước và chính xác về vận mệnh của những người xung quanh Bà đã đùng pháp thuật chữa khỏi các chứng bệnh nan y, cứu nhiều người mắc nạn, đắm thuyền trên biển, có cả cha của Bà Bà nổi tiếng về tiên đoán thời tiết, gió bão trên biển, nên đã giúp được ngư dân thoát được hiểm nghèo Khi 28 tuổi, tuy không ốm đau, nhưng Bà đã trở về trời vào ngày 19 tháng 2 âm lịch, năm 987, trở thành hiển linh, tiếp tục công việc cứu giúp người gặp nạn trên biển khơi Nhân dân vùng ven biển miền Hoa Nam đã lập nhiều đền thờ cúng Bà

Sự hiển linh của Bà được nhà nước phong kiến Trung Hoa qua nhiều triều đại thừa nhận, ban cho Bà nhiều tước vị: “Phúc thần”, “ Bảo Quang”, “Vương

Trang 37

Hậu", “Nữ vương sủng ái của trời", “ Tứ Ân", “ Thiên Từ", “Hoàng hậu trên trời" Năm 1682, Vua Khang Hy nhà Thanh phong cho Bà tước vị “Thiên Hậu" với nghĩa Bà là vị nữ thần có nhiều tài năng, phép thuật cứu giúp người hoạn nạn, đặc biệt là những ngư dân, thương nhân lênh đênh trên biển Ngoài

ra trong dân gian, Bà Thiên Hậu còn được nhân dân tôn xưng là “Thiên Mẫu";

“Thánh Mẫu trên trời"

Đa số người Hoa di cư đến miền đất mới đi bằng đường biển, trong đó

có người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh và họ phần nhiều là dân từ vùng duyên hải phía Nam Trung Hoa Trong hành trình vượt sóng gió biển khơi, họ thường khấn vái, cầu xin Bà giúp đỡ, phù hộ cho họ " đi đến nơi đất mới” được bình an Khi đến được Nam Bộ Việt Nam bình yên, chọn được mảnh đất phù hợp, những di dân người Hoa càng thêm tin tưởng ở sự màu nhiệm của Bà Thiên Hậu, chọn Bà là một trong những vị thần linh đầu tiên được sùng bái nơi vùng đất mới, đã lập miếu, xây chùa thờ Bà

Bà Thiên Hậu không chỉ là vị phúc thần - thần hộ mệnh đường biển, giúp những thế hệ tiền bối của người Hoa vượt đại dương đến miền đất mới bình

an, mà lớp con cháu sau của họ cầu mong Bà tiếp tục giúp đỡ, đem lại sự may mắn cho mình trong công cuộc mưu sinh ở xứ người Người Hoa thờ cúng Bà

để Bà phù hộ cho họ làm ăn phát đạt, đặc biệt trong công cuộc thương mại thu nhiều kết quả nơi đất khách Mặt khác, thông qua việc thờ Bà, người Hoa còn tạo lập, củng cố chỗ dựa tâm linh của cộng đồng trong quá trình ổn định, hội nhập vào cộng đồng các dân tộc Việt Nam Người Hoa tôn thờ Bà Thiên Hậu không chỉ với ý niệm thiêng liêng là một vị thần hộ mệnh, mà còn là ý thức nhớ về cội nguồn của người Hoa sống xa quê hương trên đất Việt Họ ca ngợi

và suy tôn Bà là một phụ nữ đức hạnh, có lòng hiếu thảo, xả thân cứu người đời Để cao Bà Thiên Hậu, người Hoa muốn thông qua tấm gương của Bà mà giáo dục cho cộng đồng của mình hãy học tập lòng hiếu thuận, đức nhân hậu của Bà, sống có đạo nghĩa, mà trước nhất giáo dực cho phụ nữ Hoa lòng hiếu thảo với cha mẹ, đức hạnh với anh em trong gia đình, sẵn sàng xả thân hy sinh

Trang 38

vi mọi người, nhân cách vị tha và tình thương chân thành, lòng giúp đỡ tận tình đối với những người gặp hoạn nạn, hiểm nghèo

Lễ tưởng niệm Bà Thiên Hậu được tổ chức từ ngày 22-3 đến ngày 24-3

âm lịch hàng năm, nhưng ngày lễ chính, gọi là ngày " vía Bà", được tổ chức vào ngày 23 tháng 3, là ngày sinh của Bà Vào các ngày này, lễ vật dâng cúng có: lợn quay, gà, ngỗng; đồ cúng chay gồm hoa quả, bánh trái và đồ vàng mã Trước đây, đồ cúng phải đủ “tam sanh”: lợn, gà, đê, nay thì lễ vật đã đơn giản nhiều Ngoài phần lễ bái ở chính điện thờ Bà, tùy theo nhu cầu và ước vọng riêng của mình từ gia đạo đến tình duyên, con cái , mọi người đem lễ vật đến cúng bái ở các ban thờ thân khác

Cúng bái xong, khi ra về, người đi lễ thường nhận của nhà chùa 3 tấm giấy đỏ (12x 25 cm) trên có in dòng chữ Hán có đóng dấu son: “Thánh Mẫu tọa trấn, hợp gia bình an, bảo bộ an khang”, theo cách gọi của người Hoa, đây là “rước vía Bà" đưa về bàn thờ ở gia đình Lễ vía Bà kết thúc, có những đội múa lân cùng trình diễn trên sân chùa, rồi tỏa về các phố, như báo hiệu với mọi người, lễ vía Bà diễn ra thuận lợi, tốt lành, hẹn gặp lại lễ hội năm sau

Người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh thờ cúng Bà Thiên Hậu phổ biến ở

những nơi:

1) Trong các cơ sở tín ngưỡng riêng mang tên Bà, trong đó Bà là vị thân chính được thờ phụng

Ở thành phố Hồ Chí Minh, đến, miếu thờ riêng Bà với tư cách là vị thân

chủ chiếm khoảng 1/3 Trong đó, chùa Bà Thiên Hậu tại 710 đường Nguyễn Trãi, quận 5, người Hoa xây dựng vào những năm 60 của thế kỷ 18, sau nhiều lần trùng tu, nay là ngôi chùa lớn, đẹp nhất của người Hoa Là vị thần chủ, tượng Bà Thiên Hậu được đặt ở nơi trang nghiêm nhất của chính điện Tượng

Bà làm bằng gỗ sơn son thiếp vàng, hoặc thạch cao, giấy bồi, bên ngoài khoác

áo choàng màu đỏ kim tuyến, đầu đội mũ thêu rồng đính hạt chân châu

Trang 39

2) Thờ Bà ở các cơ sở tín ngưỡng khác nhau, đan xen (phối tự) cùng với các vị thân khác

Tại hầu hết các cơ sở tín ngưỡng của người Hoa đều đặt bàn thờ Bà Thiên Hậu Bên cạnh ban thờ vị thần đó ở chính điện, bàn thờ Bà Thiên Hậu được đành một vị trí trang trọng, tuy nhỏ hơn Sau khi dâng lễ, khấn vái ở ban thờ vị thần chủ, người ta, nhất là chị em phụ nữ đều ra ban thờ Bà Thiên Hậu thấp hương dâng lễ vật trước, cầu xin Bà, rồi mới tiếp đến các vị thần khác 3) Thờ cúng Bà Thiên Hậu trong gia đình

Hầu hết những gia đình người Hoa đều lập riêng bàn thờ Bà Thiên Hậu,

thường đặt ở bên cạnh ban thờ tổ tiên hoặc Phật Quan Âm, treo trên tường

hoặc đặt trên tủ đứng Trên ban thờ có đặt bài vị bằng chữ Hán “Thiên Hậu Thánh Mẫu" Ngoài việc cúng vào ngày “Vía Bà” hằng năm, gia chủ thờ cúng Bà vào những ngày rằm, mồng một, đồ cúng thường là hương, hoa quả, hay bánh trái, còn vào các ngày tết, lễ giỗ, gia đình làm mâm cỗ riêng để cúng

Tín ngưỡng Bà Thiên Hậu có vai trò quan trọng đặc biệt trong đời sống tâm linh của cộng đồng người Hoa Việc thờ cúng Bà để thỏa mãn nhu cầu tâm linh, đồng thời cũng phản ánh phong tục tập quán và là niềm mong ước, hướng tới cái thiện cho cộng đồng và gia đình Trong thời buổi cơ chế thị trường hiện nay, người Hoa thờ cúng Bà Thiên Hậu chủ yếu nhằm cầu xin Bà phù hộ cho công việc kinh đoanh phát đạt, gặp nhiều thuận lợi, tránh được mọi suf ri ro

Qua đó, quan hệ cộng đồng giữa họ trở lên chặt chẽ, đoàn kết gắn bó thành một lực lượng, nâng cao hơn sức mạnh của cộng đồng để cùng nhau vượt qua khó khăn, trở ngại, ổn định và củng cố gia đình

Mỗi dịp lễ hội Bà Thiên Hậu, hàng ngàn, hàng vạn người gặp gỡ nhau, để tình cảm bạn bè thân thiết hơn; là nơi giúp họ trao đối thông tin về công việc

Trang 40

làm ăn, chia sẻ những tâm tư, tình cảm, tạo dựng sức mạnh và sự tồn tại của cộng đồng người Hoa trên thương trường Lễ hội Bà Thiên Hậu còn là một hoạt động mang tính văn hóa, là dịp thỏa mãn nhu cầu vui chơi giải trí cha người Hoa Những ngày diễn ra lễ hội, số tiền công đức ở các chùa Bà Thiên Hậu rất lớn Phần lớn số tiền đó dùng để chăm lo sự nghiệp giáo dục và phúc lợi xã hội Với người Hoa đoàn kết nhau và làm từ thiện được coi như nghĩa

vụ, nguyên tắc sống

Nhiều ngôi chùa, miếu thờ Bà Thiên Hậu ở thành phố Hồ Chí Minh là

những công trình kiến trúc, điêu khắc có giá trị thẩm mỹ, nghệ thuật tiêu biểu cho văn hóa của người Hoa Đồng thời, đây còn là nơi tham quan, du lịch của người Hoa ở nước ngoài đến thành phố Hồ Chí Minh

Việc thờ Bà Thiên Hậu không chỉ giới hạn trong người Hoa, mà ảnh hưởng đến tín ngưỡng của người Việt, cũng xem Bà là một trong những nữ thân và thờ cúng Bà ở nhiều nơi Người Việt coi Bà là Thần hộ mệnh đường

biển và tôn thờ Bà (thờ Mẫu); trong những ngày “Vía Bà”, người Hoa và rất

đông người Việt đều đến chùa Bà lễ bái, cầu xin, có khi đông nghẹt sân chùa Miếu Thiên Hậu được Việt hóa ở TP.Hồ Chí Minh tương đối nhiều, như ở phường Trưng Tây, phường Thanh Mỹ Lợi, phường Thủ Thiêm, thuộc quận 2;

ở phường 7, quận 8 do người Việt chủ trì xây dựng và quản lý

Do ảnh hưởng của kinh tế thị trường hiện nay, Bà Thiên Hậu từ một "nữ thần bảo hộ đi biển" của người Hoa, trở thành “nữ thần buôn bán", “nữ thần ban phát tài lộc" của cả người Hoa lẫn người Việt

Những ngôi chùa, miếu thờ Bà có lịch sử lâu đời và nổi tiếng, trở thành những điểm tham quan, du lịch của cả người trong nước và khách nước ngoài

Vì vậy, cần chú ý hướng đẫn du khách để sao cho vừa đáp ứng nhu cầu tâm linh, vừa bảo vệ môi trường; đảm bảo trật tự, an ninh, an toàn giao thông Phải quản lý, sử dụng tiền công đức sao cho hiệu quả và minh bạch; việc tu bổ cơ

sở thờ tự vừa phải đảm bảo tính lịch sử, tính nghệ thuật, để không làm mất đi

Ngày đăng: 14/05/2014, 12:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm