BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH TÔ BÍCH NGỌC PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ XUẤT NHẬP CẢNH TỪ THỰC TIỄN TẠI TỈNH NINH THUẬN Chuyên ngành Luật kinh tế Mã số 8380107 LUẬN VĂN THẠC SĨ[.]
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
TS Trần Vân Long
Ninh Thuận – Năm 2019
Trang 2Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới
sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một
số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả, các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và rõ ràng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực
Ninh Thuận, ngày 15 tháng 11 năm 2019
Học viên thực hiện
Tô Bích Ngọc
Trang 3Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
Tóm tắt - Abstract
Phần mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Giả thuyết, câu hỏi nghiên cứu 3
2.1 Giả thuyết nghiên cứu 3
2.2 Câu hỏi nghiên cứu 3
3 Tình hình nghiên cứu 4
4 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài 5
4.2 Đối tượng nghiên cứu 6
4.3 Phạm vi nghiên cứu 6
5 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài 6
6.1 Ý nghĩa khoa học 6
6.2 Giá trị ứng dụng của đề tài 7
7 Kết cấu của Luận văn 7
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRONG QUẢN LÝ XUẤT NHẬP CẢNH 8
1.1 Khái niệm, nội dung, đặc trưng cơ bản của pháp luật Việt Nam về quản lý xuất nhập cảnh 8
1.1.1 Khái niệm pháp luật Việt Nam về quản lý xuất nhập cảnh 8
1.1.2 Nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về quản lý xuất nhập cảnh 11
1.1.3 Đặc trưng cơ bản của pháp luật Việt Nam về quản lý xuất nhập cảnh 13
Trang 41.2.1 Pháp luật về quản lý xuất nhập cảnh tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho việc thực hiện quyền tự do đi lại của công dân 16
1.2.2 Pháp luật về quản lý xuất nhập cảnh là cơ sở bảo đảm giữ vững chủ quyền,
An ninh quốc gia và Trật tự an toàn xã hội 18
1.2.3 Pháp luật về quản lý xuất nhập cảnh góp phần thiết lập và phát triển quan hệ hợp tác quốc tế trên mọi lĩnh vực 19
1.2.4 Pháp luật về quản lý xuất nhập cảnh chuyển hóa các quy phạm điều ước quốc tế vào pháp luật quốc gia 21
1.2.5 Mối quan hệ của pháp luật về quản lý xuất nhập cảnh với các quy định pháp luật có liên quan trong hệ thống pháp luật Việt Nam 23
1.2.5.1 Mối quan hệ với Hiến pháp 23 1.2.5.2 Mối quan hệ với pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật thi hành án hình sự 24
1.2.5.3 Mối quan hệ với pháp luật dân sự 25 1.2.5.4 Mối quan hệ với các điều ước quốc tế có liên quan đến lĩnh vực xuất nhập cảnh mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia 26
Tóm tắt chương 1 27 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUẢN LÝ
NHẬP CẢNH, XUẤT CẢNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH NINH
THUẬN 29
2.1 Những quy định của pháp luật hiện hành về quản lý xuật nhập cảnh 29
2.1.1 Cơ sở pháp lý về quản lý xuất cảnh, nhập cảnh đối với công dân Việt Nam… 29
2.1.1.1 Văn bản pháp luật về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam 29 2.1.1.2 Quy định về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam 32
2.1.2 Cơ sở pháp lý về quản lý nhập cảnh, xuất cảnh đối với người nước ngoài 35
2.1.2.1 Văn bản pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh của người nước ngoài tại Việt Nam qua các giai đoạn 35
2.1.2.2 Quy định về nhập cảnh của người nước ngoài tại Việt Nam 37 2.1.2.3 Quy định về xuất cảnh của người nước ngoài tại Việt Nam 40
Trang 5Nam tại tỉnh Ninh Thuận 42
2.2.2 Áp dụng pháp luật về quản lý nhập cảnh, xuất cảnh đối với người nước ngoài tại tỉnh Ninh Thuận 43
2.3 Một số hành vi vi phạm pháp luật phổ biến trong lĩnh vực xuất nhập cảnh trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận 45
2.4 Đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về quản lý xuất nhập cảnh qua thực tiễn tại tỉnh Ninh Thuận 51
2.4.1 Những thành tựu đạt được 51
2.4.2 Về những hạn chế và nguyên nhân 52
2.4.2.1 Về những hạn chế 52
2.4.2.2 Nguyên nhân của những hạn chế 61
Tóm tắt chương 2 62
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ XUẤT NHẬP CẢNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH THUẬN 64
3.1 Sự cần thiết hoàn thiện pháp luật Việt Nam về xuất nhập cảnh 64
3.1.1 Một số dự báo tình hình tác động đến lĩnh vực xuất nhập cảnh 64
3.1.2 Yêu cầu khách quan về hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong quản lý xuất nhập cảnh 65
3.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quản lý xuất nhập cảnh61 3.3 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quản lý xuất nhập cảnh 68
3.3.1 Xây dựng chính sách nhập cảnh, xuất cảnh cho người nước ngoài khởi nghiệp tại Việt Nam 68
3.3.2 Hoàn thiện một số quy định Luật xuất nhập cảnh của người nước ngoài tại Việt Nam 71
3.3.3 Ban hành Luật xuất nhập cảnh của công dân Việt Nam 73
3.3.4 Đẩy mạnh cải cách bộ máy, cơ chế quản lý, đội ngũ cán bộ công chức để thực hiện tốt pháp luật về quản lý xuất nhập cảnh 75
3.3.4.1 Về bộ máy quản lý 75
Trang 63.3.5 Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực lập pháp về xuất nhập cảnh 77
3.4 Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về xuất nhập cảnh trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận……… 78
Tóm tắt chương 3 80 Kết luận 82 Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 7AN TT An ninh trật tự
CHXHCNVN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
TTATXH Trật tự an toàn xã hội
Trang 8Bảng 1.1 Nội dung quản lý nhà nước trong lĩnh vực xuất nhập cảnh
Bảng 2.1 Các loại thị thực theo Điều 17, Luật xuất nhập cảnh năm 2014
Bảng 2.2 Thủ tục cấp, cấp lại, cấp sửa đổi, bổ sung hộ chiếu phổ thông cho công dân Việt Nam (Ban hành theo Quyết định số 5426/QĐ-BCA ngày 27/12/2016 của Bộ Công an)
Bảng 2.3 Thủ tục cấp thị thực cho người nước ngoài được áp dụng tại tỉnh Ninh
Thuận (Ban hành theo Quyết định số 5551/QĐ-BCA-V19 ngày 08/6/2017 của Bộ Công
an)
Bảng 2.4 Số liệu người nước ngoài đăng ký tạm trú trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận
từ năm 2016 đến 6 tháng đầu năm 2019
Bảng 2.5 Cấp, bổ sung, sửa đổi thị thực, gia hạn tạm trú người nước ngoài trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận từ năm 2016 đến tháng 6/2019
Bảng 2.6 Thủ tục cấp thẻ tạm trú cho người nước ngoài tại Việt Nam được áp dụng tại tỉnh Ninh Thuận
Trang 9Sơ đồ 2.1 Trình tự, nơi thực hiện việc cấp hộ chiếu phổ thông lần đầu cho công dân Việt Nam ở trong nước tại tỉnh Ninh Thuận
Sơ đồ 2.2 Quy trình tiếp nhận và xử lý hồ sơ xuất nhập cảnh tại Công an tỉnh Ninh Thuận
Biểu đồ 2.1 Tiếp nhận, đề xuất cấp hộ chiếu cho công dân Việt Nam xuất cảnh đi
nước ngoài tại tỉnh Ninh Thuận
Biểu đồ 2.2 Tình hình người nước ngoài nhập cảnh đến địa bàn tỉnh Ninh Thuận Biểu đồ 2.3 Tình hình vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất nhập cảnh của người nước ngoài và công dân Việt Nam trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận
Trang 10di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác để tham quan du lịch, lao động, học tập, nghiên cứu thị trường, đầu tư kinh tế là một hoạt động bình thường và mang tính tất yếu
Để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động xuất nhập cảnh, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp lý để điều chỉnh hoạt động này Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật đã và đang bộc lộ những hạn chế nhất định Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn vấn
đề “Pháp luật về quản lý xuất nhập cảnh từ thực tiễn tại tỉnh Ninh Thuận” làm đề tài
luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Luật kinh tế
Mục tiêu của tác giả là muốn phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về pháp luật quản lý xuất nhập cảnh Qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh Ninh Thuận, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý xuất nhập cảnh
Luận văn đã sử dụng phương pháp phân tích; phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh; phương pháp chứng minh và phương pháp nghiên cứu lịch sử để làm sáng tỏ vấn đề
Luận văn đã làm rõ quá trình ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến xuất nhập cảnh, đồng thời chỉ ra một số bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật trong quản
lý xuất nhập cảnh trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận Trên cơ sở đó đề xuất một số ý kiến góp phần hoàn thiện Luật xuất nhập cảnh của người nước ngoài tại Việt Nam và kiến nghị sớm ban hành Luật xuất nhập cảnh đối với công dân Việt Nam
Sau khi Luận văn được chấp thuận và phê duyệt, người được hưởng lợi từ kết quả nghiên cứu luận văn này là những công dân có hoạt động xuất nhập cảnh và cán bộ chiến
sĩ Công an làm công tác quản lý xuất nhập cảnh Luận văn có những giá trị ứng dụng về khoa học xuất nhập cảnh
Từ khóa: nhập cảnh, xuất cảnh, quản lý xuất nhập cảnh, pháp luật quản lý xuất nhập cảnh
Trang 11In the trend of international integration and cooperation between countries, the movement of citizens from one country to another to visit for tourism, labor, study, market research, and business investment is a normal activity and is inevitable In order to create a legal basis for XNC activities, the State has issued many legal documents to regulate this activity However, the practice of applying the provisions of
the law has revealed certain limitations Therefore, I have chosen the issue of "Laws
on immigration management from practice in Ninh Thuan province" to do a
Masters thesis in Economic Law
The author’s goal is to analyze and clarify theoretical issues about immigration management law Through practical application in Ninh Thuan province, this thesis proposes some recommendations to improve the law on immigration management
This dissertation has used analytical methods, general methods, comparative methods, proving methods and research methods to clarify the problem
This thesis clarifies the process of issuing legal documents related to immigration, and points out some shortcomings in the process of applying laws in immigration management in Ninh Thuan province On that basis, this thesis proposes some ideas to improve the immigration law of Foreigners in Vietnam and proposes the early promulgation of the immigration law for Vietnamese citizens
After the dissertation is approved, the people who will benefit from the results
of this dissertation are citizens who have immigration activities and police officers working in immigration management This thesis has applied values about immigration science
Key word: Entry, exit, immigration, immigration management law
Trang 12
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong xu thế hội nhập quốc tế và hợp tác mạnh mẽ giữa các quốc gia, việc công dân các nước di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác để tham quan du lịch, học tập, lao động, thăm thân, nghiên cứu thị trường, đầu tư kinh tế là một hoạt động bình thường và mang tính tất yếu Cho đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189 quốc gia, vùng lãnh thổ và có quan hệ đối ngoại, xúc tiến thương mại, hợp tác đầu tư với 224 thị trường ở năm châu lục Tính đến tháng 8/2019 nước ta
đã ký hiệp định, thỏa thuận miễn thị thực (bao gồm các hiệp định và thỏa thuận miễn thị thực cho công dân mang hộ chiếu phổ thông, hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu lãnh
sự, hộ chiếu công vụ và hộ chiếu đặc biệt) với 82 nước (81 hiệp định đã có hiệu lực, còn hiệp định với Namibia chưa có hiệu lực) Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến số lượng NNN đến Việt Nam tăng đều qua các năm Theo số liệu của Cục Quản lý Xuất nhập cảnh - Bộ Công an, từ năm 1987 - 1997 có 4.698.564 lượt NNN nhập cảnh; từ 1998 - 2008 có 23.694.407 lượt NNN nhập cảnh; từ 2009 đến nay số lượng NNN đến Việt Nam tăng trung bình một triệu lượt khách mỗi năm Đặc biệt, trong năm 2016 số lượng NNN nhập cảnh vào Việt Nam lần đầu tiên đạt con số trên 10 triệu khách; năm 2017 là hơn 13 triệu khách; và trong quý 1 năm 2018 là hơn 4,2 triệu khách (tăng hơn 30% so với cùng kỳ năm 2017)1
Ở Ninh Thuận, từ năm 2015 đến hết năm 2018, trên địa bàn tỉnh có 388 đoàn lâm thời, 32.313 lượt NNN đến địa phương, trong đó: Du lịch 28.244 lượt, lâm thời 2.081 lượt, Việt kiều 1.988 lượt; Cơ quan QLXNC đã tiếp nhận, giải quyết cấp, bổ sung, sửa đổi thị thực 181 trường hợp; cấp các loại giấy tờ liên quan đến tạm trú
841 trường hợp; trên địa bàn tỉnh có 66 cơ quan, doanh nghiệp đăng ký và sử dụng
155 lao động nước ngoài Đã xảy ra 47 vụ/49 đối tượng NNN vi phạm pháp luật trong lĩnh vực ANTT, gồm: Vi phạm hành chính 46 vụ/48 đối tượng, xử phạt tiền 321.250.000đ, trục xuất 03 đối tượng; phạm pháp hình sự 01 vụ/01 đối tượng2
1 Báo cáo Bộ Công an (số 75, tháng 11/2018).
2 Báo cáo Công an tỉnh Ninh Thuận (số 245, tháng 9/2018)
Trang 13Với số lượng NNN nhập cảnh như vậy đã gây ra những áp lực đáng kể cho các
cơ quan nhà nước trong công tác QL NC, XC, CT của NNN tại Việt Nam nói chung
và tỉnh Ninh Thuận nói riêng
Để tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức hoạt động QL NN đối với hoạt động
NC, XC, CT của NNN tại Việt Nam, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp
lý để điều chỉnh mặt hoạt động này, trong đó có Hiến pháp qua các thời kỳ; Pháp lệnh Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của NNN tại Việt Nam năm 2000 (sau đây viết tắt
là Pháp lệnh XNC 2000); Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của NNN tại Việt Nam năm 2014 (sau đây viết tắt là Luật XNC 2014) và các văn bản hướng dẫn thi hành Trong đó, sự ra đời của Luật XNC 2014 trên cơ sở kế thừa và bổ sung những nội dung cần thiết rút ra từ tổng kết thực hiện Pháp lệnh XNC 2000 là một bước ngoặt quan trọng; bởi văn bản pháp lý này đã luật hóa các quy định hiện hành
để nâng cao tính pháp lý cho hoạt động quản lý, đảm bảo phù hợp yêu cầu thực tiễn
và tạo hành lang pháp lý cho công tác quản lý hoạt động NC, XC, CT của NNN tại Việt Nam được thực hiện thống nhất, đồng thời giữ vững ANQG, bảo đảm TTATXH trong tình hình mới
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng quy định của Luật XNC của NNN tại Việt Nam
đã và đang bộc lộ những hạn chế nhất định như: việc cấp một số loại thị thực và quy định xem xét cho NNN thường trú đang bị các đối tượng lợi dụng để thu lợi bất chính, “lách luật”; khó quản lý NNN nhập cảnh theo diện miễn thị thực; sự không thống nhất giữa các quy định trong các văn bản pháp lý; sự thiếu logic, rườm rà trong một số quy định gây khó khăn cho đối tượng quản lý
Bên cạnh đó, số LĐNN làm việc tại các doanh nghiệp dưới nhiều hình thức khác nhau, như: Làm việc với thời gian ngắn (dưới 30 ngày), lao động kỹ thuật không có trình độ chuyên môn và thiếu kinh nghiệm nên không đủ điều kiện để cấp giấy phép lao động…
Những vấn đề này đã và đang gây ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính nhà nước nói chung và việc áp dụng quy định của Luật
Trang 14XNC của NNN tại Việt Nam trong QL NN đối với hoạt động NC, XC, CT của NNN nói riêng
Từ việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về QL XNC qua thực tiễn tại tỉnh Ninh Thuận, đề xuất những kiến nghị nhằm sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật về XNC để nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý và tạo điều kiện thuận lợi cho công dân là việc làm có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn hiện nay
Với nhận thức như vậy, tôi đã lựa chọn vấn đề “Pháp luật về quản lý xuất nhập cảnh từ thực tiễn tại tỉnh Ninh Thuận” làm đề tài luận văn tốt nghiệp Thạc
sĩ Luật kinh tế của mình
2 Giả thuyết, câu hỏi nghiên cứu
2.1 Giả thuyết nghiên cứu
Dựa vào mục đích nghiên cứu, Luận văn này đưa ra 3 giả thiết nghiên cứu sau:
- Cần tập trung làm rõ một số nội dung về pháp luật Việt Nam trong QL XNC Đồng thời làm rõ mối quan hệ của pháp luật Việt Nam về XNC với các ngành luật khác có liên quan trong hệ thống pháp luật Việt Nam
- Đánh giá thực trạng pháp luật về QL XNC từ thực tiễn tại tỉnh Ninh Thuận, chỉ ra những tồn tại, thiếu sót của pháp luật Việt Nam về NC, XC để có hướng đề xuất giải pháp khắc phục
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về QL XNC nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này
2.2 Câu hỏi nghiên cứu
- Pháp luật Việt Nam hiện nay quy định về QL XNC gồm những nội dung gì? Quy trình thế nào? Thủ tục ra sao?
- Thực trạng áp dụng pháp luật Việt Nam về QL XNC trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận diễn ra như thế nào?
- Làm thế nào để góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về QL XNC trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận?
Trang 153 Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến vấn đề này, trước đây có một số tác giả nghiên cứu dưới nhiều hình thức như sách, Luận án, Luận văn, Đề án, bài viết được đăng tải trên các sách, báo, tạp chí, trang thông tin điện tử…như sau:
Bùi Quảng Bạ (1996), Đổi mới và hoàn thiện pháp luật trong quản lý nhà nước đối với người nước ngoài ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ luật học, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Luận án khái quát những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến QLNN đối với NNN Về lý luận, Luận án đã cung cấp các khái niệm: về NNN; về ANQG; về địa vị pháp lý của NNN Về thực tiễn, Luận án đã khái quát sự hình thành và phát triển của pháp luật trong QLNN đối với NNN từ
1945 đến 1996; phân tích tình hình xử lý vi phạm của các cơ quan chức năng trong những năm 90 của thế kỷ XX Từ đó, đưa ra những kiến nghị nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quản lý NNN ở Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XX
Nguyễn Phùng Hồng (2002), Những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý người nước ngoài nhằm bảo đảm an ninh trật tự của lực lượng công an nhân dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đề tài nghiên cứu
khoa học mã số KHXH 07-08, Vụ quản lý khoa học và Công nghệ, Bộ Công an, Hà Nội Đề tài này đã làm rõ thực trạng QL NN về ANTT đối với NNN và phòng chống tội phạm là NNN ở Việt Nam trong thời gian vừa qua; đồng thời qua đó đưa
ra kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả QL NN về ANTT đối với NNN
Triệu Văn Thế (2005), Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm soát xuất nhập cảnh tại cửa khẩu hàng không quốc tế Nội Bài góp phần đảm bảo an ninh quốc gia, đề tài nghiên cứu khoa học, Cục QL XNC - Bộ Công an, Hà Nội Đề tài đã làm
rõ các khái niệm: kiểm soát NC, XC, QC; kiểm soát hộ chiếu giấy tờ; giám sát NC,XC; xác định đối tượng, nội dung, phương pháp kiểm soát XNC, đánh giá về thực trạng kiểm soát XNC tại cửa khẩu hàng không quốc tế Nội Bài từ 1995 đến
2004
Trang 16Vũ Thành Luân (2013), Quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đối với cư trú của người nước ngoài - Từ thực tiễn của thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sỹ
quản lý hành chính công, Học viện Hành chính, Thành phố Hồ Chí Minh
Nguyễn Hồng Anh (2014), Công tác quản lý người nước ngoài làm việc trong các doanh nghiệp tại tỉnh Đồng Nai, Đề tài khoa học cấp cơ sở, Trường Đại
học An ninh nhân dân, thành phố Hồ Chí Minh
Phan Quang Thịnh (2015), Người nước ngoài vi phạm pháp luật về cư trú tại các tỉnh, thành phố phía Nam và một số vấn đề đặt ra đối với công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, Đề tài khoa học cấp bộ, Trường Đại học An ninh nhân dân,
thành phố Hồ Chí Minh…
Các công trình nghiên cứu khoa học này, ở những khía cạnh và cấp độ khác nhau, đều đề cập một số vấn đề chung về quản lý trật tự hành chính trong lĩnh vực XNC, bảo đảm quyền của công dân trong lĩnh vực này Vì vậy, việc
nghiên cứu đề tài "Pháp luật về quản lý xuất nhập cảnh từ thực tiễn tại tỉnh Ninh Thuận" là vấn đề mới không trùng lắp với những đề tài, chuyên đề đã nghiên cứu
Đề tài này mang tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn trong công tác QL về NC,
XC tại tỉnh Ninh Thuận hiện nay
4 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Tác giả muốn phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về pháp luật QL NC,
XC Chủ yếu tập trung nghiên cứu những quy định pháp luật Việt Nam về NC, XC của NNN và của công dân Việt Nam, trong đó tập trung vào thực tiễn áp dụng tại tỉnh Ninh Thuận Trên cơ sở pháp luật hiện hành, nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật QL NC, XC từ thực tiễn địa bàn tỉnh Ninh Thuận, từ đó tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về QL NC, XC, bảo đảm thực hiện có hiệu quả quyền NC, XC của công dân nói chung và trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận nói riêng
Trang 174.2 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận về pháp luật Việt Nam trong QL NC, XC Thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý NC, XC; những khó khăn, hạn chế trong thực hiện pháp luật về QL NC, XC tại tỉnh Ninh thuận
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về QL XNC như: quyền tự do đi lại của công dân và pháp luật về QL NC, XC của công dân Việt Nam và NNN; về quản lý LĐNN NC, XC trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận
Không gian nghiên cứu: Pháp luật về QL XNC của công dân Việt Nam và NNN và áp dụng trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận
Thời gian: Nội dung đánh giá lấy mốc thời gian từ khi ban hành Luật XNC của NNN tại Việt Nam (năm 2014); Nghị định số 94/2015/NĐ-CP ngày 16/10/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 136/2007/NĐ-CP ngày 17/8/2007 của Chính phủ về XC, NC của công dân Việt Nam đến nay
5 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích để làm rõ nội dung lý luận và thực tiễn các quy định của pháp luật; phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh để so sánh pháp luật với thực tiễn vận dụng pháp luật về QL NC, XC trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận; phương pháp chứng minh để khẳng định vấn đề tác giả nêu trong luận văn,….và phương pháp nghiên cứu từ những văn bản pháp luật, các đề tài đã nghiên cứu, các bài viết trên tạp chí, giáo trình để làm sáng tỏ vấn đề
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
6.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần hoàn thiện lý luận về một số quy định còn bất cập của Luật XNC năm 2014 và một số quy định về XNC của công dân Việt Nam; Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy trong các trường Luật và các trường Công an nhân dân và cho các CBCS làm công tác quản lý trong lĩnh vực XNC
Trang 186.2 Giá trị ứng dụng của đề tài
Một là, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật Việt Nam trong
QL NC, XC từ thực tiễn tại tỉnh Ninh Thuận, theo hướng bảo đảm quyền tự do đi lại, cư trú của công dân, nhất là đối với người NNN trong bối cảnh hội nhập quốc
tế
Hai là, đánh giá đúng thực trạng pháp luật về QL NC, XC, phân tích đánh giá
các yếu tố tác động đến thực tiễn thi hành pháp luật về QL NC, XC, theo hướng vừa bảo đảm chủ quyền và ANQG, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để mọi chủ thể đều
có quyền tự do đi lại, cư trú và lao động
Ba là, xây dựng những đề xuất hoàn thiện pháp luật trong QL NC, XC; trong
đó có kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật NC, XC để điều chỉnh, và quản lý có hiệu quả quyền tự do đi lại, cư trú, lao động của công dân sở tại cũng như NNN trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật Việt Nam trong quản lý nhập
cảnh, xuất cảnh
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về quản lý nhập cảnh, xuất cảnh
và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Ninh Thuận
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam và nâng cao hiệu quả
áp dụng pháp luật về xuất nhập cảnh trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận
Trang 19CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRONG QUẢN LÝ XUẤT NHẬP CẢNH 1.1 Khái niệm, nội dung, đặc trưng cơ bản của pháp luật Việt Nam về quản lý xuất nhập cảnh
1.1.1 Khái niệm pháp luật về quản lý xuất nhập cảnh
Nhập cảnh là việc người nước ngoài (NNN) vào lãnh thổ Việt Nam qua cửa khẩu của Việt Nam; Xuất cảnh là việc NNN ra khỏi lãnh thổ Việt Nam qua cửa khẩu của Việt Nam3 Hiện nay trong thực tiễn pháp lý ở Việt Nam vẫn chưa có một khái niệm thống nhất, đầy đủ, hoàn thiện về pháp luật trong QL NC,XC Do vậy, để làm rõ nội hàm khái niệm về pháp luật trong QLXNC trước hết phải đặt nó trong tương quan với pháp luật hành chính Quản lý có nhiều cách định nghĩa khác nhau, tùy theo cách tiếp cận khác nhau
Theo từ điển tiếng việt:“Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”4 Khái niệm quản lý ở đây là muốn nói đến quản lý con người, quản lý xã hội và biểu hiện cụ thể nhất là ở QLNN Theo tác giả Trần Kiểm cho
rằng: “Quản lý là những tác động hoạch định của chủ thể quản lý trong việc huy động, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong
và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” 5 Trong giáo trình quản lý hành chính nhà nước6 có viết:
“Quản lý hành chính nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước với chức năng chấp hành luật và tổ chức thực hiện luật của các cơ quan trong
hệ thống hành pháp và hành chính nhà nước” Ở một góc nhìn khác, hai tác giả Đinh Văn Mậu và Phạm Hồng Thái (2005) định nghĩa:“Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước với quá trình xã hội và hành vi hoạt động của công dân do các cơ quan hành pháp từ Trung ương đến cơ
3 Luật xuất nhập cảnh 2014 (Luật số 47/2014/QH13) ngày 16/6/2014, Khoản 4,6 Điều 3
4 Từ điển Bách khoa Việt Nam (2005), Nxb Từ điển Bách khoa Việt Nam, Hà Nội
5 Trần Kiểm (2007), “Khoa học quản lý giáo dục – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb giáo dục Việt Nam, Hà Nội, trang 7
6Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (1996), Giáo trình về quản lý nhà nước, Tập II, Tr.10
Trang 20sở tiến hành để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội, duy trì an ninh trật tự, thỏa mãn những nhu cầu hàng ngày của Nhân dân” 7
Quản lý là một hoạt động phức tạp và có nhiều chức năng Quản lý ở góc độ quản lý học là sự tác động có tổ chức và có hướng mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm hướng tới hành vi của đối tượng để đạt đước mục tiêu đã định trước
Như vậy, trong hoạt động của một cá nhân hay một tập thể đều phải hướng đến một mục tiêu đã được đề ra và để điều hành đạt được mục tiêu chủ thể quản lý phải tác động vào đối tượng quản lý bằng những phương pháp quản lý để cho bộ máy dưới sự quản lý của mình đạt được kết quả tốt nhất Suy cho cùng, bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý một cách hợp quy luật trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành được đạt hiệu quả mong muốn hoặc mục tiêu đề ra
Hoạt động QLNN cần phải tuân theo pháp luật về trình tự, cách thức khi sử dụng thẩm quyền của từng cơ quan để giải quyết công việc Khoa học pháp lý gọi
đó là những quy phạm thủ tục Quy phạm thủ tục gồm những bộ phận cấu thành như: thủ tục lập pháp, thủ tục tố tụng tư pháp và thủ tục hành chính
Trong quản lý XNC, các cơ quan QL XNC từ trung ương đến địa phương tiến hành các tác động và dùng quyền lực nhà nước để điều chỉnh đối với hành vi XNC của công dân nhằm thực hiện chức năng QL NN, duy trì ANTT và thỏa mãn nhu cầu XNC hàng ngày của công dân Việt Nam hoặc công dân nước ngoài Ví dụ như: Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan thực hiện QL NN về XNC, quá cảnh, cư trú của NNN; chịu trách nhiệm QL NN về ANQG và TTATXH đối với NNN tại Việt Nam Trách nhiệm của Bộ Công an trong quản lý NNN được quy định cụ thể tại Điều 47 – Luật XNC 2014
7 Đinh Văn Mậu và Phạm Hồng Thái (2005) Luật hành chính Việt Nam Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí
Minh, trang 19
Trang 21Dưới góc độ QL NN, hành chính được hiểu là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước nhằm duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và pháp luật, thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người Hành chính trong lĩnh vực XNC là việc các cơ quan có thẩm quyền, bằng quyết định của mình, cho phép, cấm đoán, kiểm tra hoặc
xử lý các tình huống, các hành vi VPHC nhằm phòng ngừa hoặc ngăn chặn các hành vi VPPL trong lĩnh vực XNC Và do vậy, QL NN về XNC là một dạng quản
lý xã hội, mà thông qua đó, nhà nước thực hiện chức năng quản lý về XNC nhằm giữ vững chủ quyền và ANQG, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân Việt Nam và NNN thực hiện quyền và nghĩa vụ theo pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế về NC,XC và cư trú
Trước đây, Pháp lệnh XNC 2000 có quy định các nội dung QL NN trong lĩnh vực XNC bao gồm 8 công việc: Lập pháp, lập quy các quy định liên quan đến XNC, xem xét tham gia các điều ước quốc tế, QL NC, XC, QC, CT; Thực hiện thống kê nhà nước về XNC; Hợp tác quốc tế về XNC; và giám sát, thanh kiểm tra,
xử lý vi phạm8 Tiếp đó, Điều 1 Luật XNC 2014, quy định: “nguyên tắc, điều kiện, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam; quyền và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam, của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam”9
Như vậy, khái niệm QL NN về NC, XC hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các công việc từ xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật XNC, hướng đến điều chỉnh hoạt động của các cơ quan nhà nước và các cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm trật tự quản lý và quyền của công dân trong lĩnh vực XNC Từ lý luận như vậy, pháp luật trong QL XNC có thể hiểu là một nội dung của pháp luật hành chính, là tổng thể các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát sinh giữa cơ quan có thẩm quyền QL XNC với tổ chức, công dân và NNN trong lĩnh vực XNC
8 Pháp lệnh XNC 2000 (Pháp lệnh số 24/1999/PL-UBTVQH10)
9 Luật XNC 2014 (Luật số 47/2014/QH13) ngày 16/6/2014, Điều 1
Trang 22
Từ khái niệm nêu trên cho thấy QL NN về XNC thể hiện trên ba phương
diện như sau: Một là, QL NN về XNC được thực hiện bằng phương pháp mệnh lệnh
và phục tùng, là mộ dạng quyền lực đặc biệt, có tính tổ chức cao; Hai là, QL NN về XNC vừa mang tính đặc thù, vừa mang tính phổ biến; Ba là, đối tượng QL XNC rất
đa dạng và chịu sự điều chỉnh không những hệ thống pháp luật trong nước mà cả hệ thống pháp luật quốc tế mà nhà nước ta tham gia ký kết hoặc thừa nhận
1.1.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về quản lý xuất nhập cảnh
Quản lý về XNC cũng là một trong những hoạt động của đường lối, chính sách đối ngoại nhà nước CHXHCN Việt Nam Nội dung của pháp luật trong hoạt động QL XNC được thể hiện tập trung ở mục tiêu và nhiệm vụ của chủ thể QL XNC (ví dụ: ở Bộ Công an có Cục QL XNC, ở Công an tỉnh có Phòng hoặc Đội quản lý XNC) Do đó, Pháp luật trong QL XNC là một tổng thể các nhóm quy phạm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau mà nội dung của chúng thường được chia thành những quy định chung và những quy định cụ thể
Phần chung của pháp luật trong QL NN về XNC bao gồm các quy phạm điều chỉnh các mối quan hệ chung nhất, phát sinh trong quá trình QL XNC, như: các nguyên tắc tuân thủ pháp luật, tôn trọng độc lập, chủ quyền, truyền thống, tập quán, đảm bảo ANQG và TTATXH, bình đẳng trong quan hệ quốc tế; nguyên tắc ưu tiên
áp dụng các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia; nguyên tắc bảo hộ tính mạng, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân công dân; nguyên tắc công khai, minh bạch10…và đồng thời cũng là phần cung cấp các khái niệm cơ bản trong QL XNC như: “nhập cảnh”, “xuất cảnh”, “người nước ngoài”,
“NNN tạm trú”, “NNN thường trú”.v.v…
Phần những quy định cụ thể hướng đến điều chỉnh các hoạt động XNC, như: thủ tục cấp hộ chiếu, quy định về người chưa được xuất cảnh, người chưa được nhập cảnh; các quy định về XNC; về thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan quản
10 Luật xuất nhập cảnh 2014 (Luật số 47/2014/QH13) ngày 16/6/2014, Điều 4
Trang 23lý.v.v…và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động XNC và xử lý vi phạm trong lĩnh vực XNC 11
Về nội dung cơ bản của pháp luật về QL XNC có thể được trình bày khái quát trong bảng 1.1 như sau:
Bảng 1.1 Nội dung quản lý nhà nước trong lĩnh vực xuất nhập cảnh Quản lý xuất cảnh Quản lý nhập cảnh Hoạt động quản lý khác
Quản lý xuất cảnh là
một bộ phận quan trọng
của QL NN về ANTT đối
với công dân Việt Nam và
NNN khi ra khỏi lãnh thổ
Việt Nam qua cửa khẩu
của Việt Nam QL XC bao
gồm các quy định về thẩm
quyền và nghĩa vụ thực thi
việc xét duyệt nhân sự XC,
cấp hộ chiếu cho người
Việt Nam hoặc cấp thị
thực cho NNN (nếu có),
kiểm soát xuất cảnh, quá
cảnh tại cửa khẩu Các quy
định về trách nhiệm và
nghĩa vụ thi hành TTHC
của tổ chức, cá nhân đại
điện cho cơ quan chủ quản
(đối với NNN thì có cơ
quan đại diện ngoại giao
Quản lý nhập cảnh là một bộ phận quan trọng của QL NN về ANTT đối với công dân Việt Nam sau khi ra nước ngoài nhập cảnh về nước và NNN vào lãnh thổ Việt Nam qua cửa khẩu của Việt Nam QL
NC bao gồm các quy định
về thẩm quyền và nghĩa vụ thực thi việc xét duyệt nhân sự nhập cảnh, kiểm soát nhập cảnh tại cửa khẩu Các quy định về trách nhiệm và nghĩa vụ thi hành TTHC của tổ chức, cá nhân đại điện cho
cơ quan chủ quản (đối với người Việt Nam ở nước ngoài thì có cơ quan đại diện ngoại giao của Việt
Tại khoản 2, Điều 3, Pháp lệnh xuất nhập cảnh
2000 quy định:“Người nước ngoài thường trú là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam”; theo quy định
tại khoản 9, Điều 3 Luật
XNC 2014 quy định: “Cư trú là việc NNN thường trú hoặc tạm trú tại Việt Nam”
Theo quy định trong Luật NC, XC, CT của NNN tại Việt Nam đã quy định lực lượng Công an chịu trách nhiệm tiến hành quản lý cư trú, đi lại của NNN tại Việt Nam Trong
đó, lực lượng QL XNC đóng vai trò chủ công,
11 Luật xuất nhập cảnh 2014 (Luật số 47/2014/QH13) ngày 16/6/2014, từ điều 15 đến điều 52.
Trang 24đặt tại Việt Nam); các quy
định về trách nhiệm và
nghĩa vụ thực thi hành vi
TTHC ở giai đoạn sau khi
công dân XC; các quy
định về thủ tục cấp phép
cho ngoại kiều XC; gia
hạn, bổ sung, sửa đổi thị
thực cho NNN XC (đối
với trường hợp cần thiết);
kiểm tra, kiểm soát XC, xử
lý các trường hợp VPPL
về xuất cảnh.v.v… Về
điều kiện và thẩm quyền
cho XC được quy định tại
Điều 27, 28, 29, 30 Luật
XNC 2014
Nam); các quy định về trách nhiệm và nghĩa vụ thực thi hành vi TTHC ở giai đoạn sau khi công dân nhập cảnh; thủ tục cho việc tạm trú (đối với NNN
ở Việt Nam có thời hạn), việc thường trú (đối với NNN làm ăn, sinh sống tại Việt Nam – ngoại kiều);kiểm tra, kiểm soát
và xử lý các trường hợp NNN ở lại Việt Nam quá hạn cho phép, NNN lao động trái phép.v.v… Về điều kiện và thẩm quyền cho NC được quy định tại Điều 20, 21, 22 Luật XNC
2014
chịu trách nhiệm trong QL
NN về ANTT đối với cư trú của NNN lao động Theo quy định Luật xuất nhập cảnh 2014, hoạt động cư trú bao gồm: tạm trú (được quy định từ điều
31 đến điều 38) và thường trú (được quy định từ điều
39 đến điều 43) Ngoài ra các quy định về thẩm quyền và nghĩa vụ thực thi việc quản lý cư trú còn được quy định tại chương
II – Nghị định số 64/2015/NĐ-CP ngày 06/8/2015 của Chính phủ Quy định cơ chế phối hợp giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong công tác
QL NC, XC, CT của NNN tại Việt Nam
1.1.3 Đặc trưng cơ bản của pháp luật về quản lý xuất nhập cảnh
Từ sự phân tích các khái niệm và nội dung như trên, ta có thể rút ra một số đặc trưng của pháp luật về QL XNC như sau:
Trang 25Đặc trưng thứ nhất, pháp luật trong QL NN về XNC nhằm hướng đến tôn
trọng quyền con người và cũng như các cách thức tác động từ phía nhà nước nhằm bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực XNC được thực thi
Quyền con người là một phạm trù lịch sử, ra đời, tồn tại và phát triển gắn với quá trình tiến hóa của lịch sử xã hội loài người, mỗi bước phát triển của xã hội loài người đều tất yếu gắn liền với sự phát triển tư tưởng quền con người Từ khi xã hội loài người xuất hiện thì quyền con người cũng ra đời, quyền con người sẽ tồn tại cùng với sự tồn tại của xã hội loài người12 Ở góc tiếp cận như vậy, quyền XNC, với
tư cách gắn liền với quyền tự do cư trú của công dân, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (Hiến pháp năm 1946) đã ghi nhận quyền XNC và cư
trú của công dân tại Điều 10: “Công dân Việt Nam có quyền tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”13 Đến Hiến pháp năm 1959 thì quy định tại Điều 28:
“Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền tự do cư trú, đi lại”14 Hiến
pháp năm 1980 quy định quyền XNC và cư trú của công dân ở Điều 71: “Quyền tự
do đi lại và cư trú được tôn trọng theo quy định của pháp luật” 15 Đến Hiến pháp năm 1992, quyền XNC và cư trú của công dân đã được quy định rõ ràng, cụ thể hơn
ở Điều 68: “Công dân có quyền tự do cư trú, đi lại trong nước Có quyền đi ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật”16 Hiến pháp
năm 2013 quy định quyền XNC và cư trú của công dân tại Điều 23: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài
về nước Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”17
Đặc trưng thứ hai, pháp luật trong QL NN về NC, XC bao gồm các quy
phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ phát sinh trong lĩnh vực NC, XC và cư trú Đặc trưng này thể hiện tính chất của các quan hệ mà pháp luật trong QL NN về
12
Mác-Ănghen, tuyển tập, tập 1, Nxb Hà Nội 1995, Tr51,52.
13 Hiến pháp năm 1946, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
14 Hiến pháp năm 1959, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
15 Hiến pháp năm 1980, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
16 Hiến pháp năm 1992, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
17 Hiến pháp năm 2013, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Trang 26XNC điều chỉnh, bao gồm: (1) Nhóm quan hệ giữa các cơ quan hành chính cấp dưới với cơ quan hành chính cấp trên trong quá trình hoạt động QL NN về XNC, (2) Nhóm quan hệ giữa các cơ quan hành chính cùng cấp, thực hiện các quan hệ phối hợp phục vụ, hỗ trợ lẫn nhau trong QL NN về XNC, (3) Nhóm quan hệ giữa các cơ quan đại diện ngoại giao, đại diện lãnh sự nước ngoài, các tổ chức phi chính phủ hoặc các tổ chức kinh doanh của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước với bên còn lại là cơ quan QL NN về XNC, (4) Nhóm những quan hệ giữa các tổ chức
xã hội và các đoàn thể nhân dân với một bên là cơ quan có thẩm quyền, (5) Nhóm quan hệ giữa công dân (bao gồm NNN) với một bên là cơ quan hành chính có thẩm quyền trong QL NN về XNC, đây là nhóm quan hệ phổ biến nhất của pháp luật trong QL NN về XNC
Đặc trưng thứ ba, pháp luật trong QL NN về XNC có một số chủ thể đặc
thù Pháp luật trong QL NN về XNC điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong lĩnh vực XNC và cư trú, trong đó có ít nhất một bên là tổ chức hoặc công dân và một bên là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ở đây được hiểu là cơ quan được Chính phủ ủy quyền tổ chức thực thi và chấp hành pháp luật về XNC và CT Các cơ quan này trực tiếp giải quyết các nhu câu NC, XC,
CT của tổ chức hoặc công dân (bao gồm cả tổ chức và công dân là NNN) Chủ thể của quan hệ pháp luật trong QL NN về NC, XC, CT, gồm có: Các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền; các cơ quan ngoại giao, lãnh sự và thành viên của mình; Các tổ chức, công dân NC, XC
Trong các chủ thể nêu trên, có một số chủ thể có tính đặc thù đó là các tổ chức, công dân mang yếu tố nước ngoài Các cơ quan có thẩm quyền không những phải thực thi việc giải quyết các thủ tục NC, XC, CT đối với chủ thể này theo quy định của pháp luật Việt Nam mà còn phải thực thi các điều ước quốc tế về NC, XC,
CT mà nhà nước đã ký kết hoặc tham gia Đặc biệt là các tổ chức, công dân được hưởng quy chế miễn trừ ngoại giao, lãnh sự Trong quan hệ pháp luật về XNC, các chủ thể với địa vị pháp lý khác nhau có quyền và nghĩa vụ khác nhau, cụ thể như sau:
Trang 27 Nhà nước: thông qua các cơ quan trực thuộc để QL NN về XNC, bao gồm các hoạt đông như cấp hộ chiếu, thị thực hay không cấp hộ chiếu, thị thực cho tổ chức, công dân có nhu cầu NC, XC, CT theo quy định của pháp luật Nhà nước có nghĩa vụ ghi nhận và bảo đảm quyền và lợi ích về NC, XC, CT bằng pháp luật
Tổ chức hoặc công dân có quyền tự do đi lại và cư trú, có quyền lựa chọn không gian và thời gian cho hoạt động NC, XC, CT của mình trong phạm vi pháp luật không cấm; có quyền yêu cầu hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền cung cấp điều kiện bảo đảm quyền XNC của mình theo quy định của pháp luật Đồng thời tổ chức hoặc công dân phải có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật trong QL NN về XNC
Cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự và thành viên của nó có nghĩa vụ tôn trọng pháp luật, phong tục và tập quán của nước sở tại
Đặc trưng thứ tư, pháp luật trong QL NN về XNC có một bộ phận cấu thành
là các quy phạm pháp luật được chuyển hóa từ một số lượng lớn các điều ước quốc
tế Ở nước ta, pháp luật trong QL NN về XNC có một bộ phận cấu thành bao gồm nhiều điều ước quốc tế như: các hiệp định song phương về miễn thị thực; các thỏa thuận song phương về việc nhận trở lại công dân không được nước ngoài cho cư trú; công ước quốc tế về quy chế người tỵ nạn; công ước viên về quan hệ ngoại giao, quan hệ lãnh sự; công ước Chicago về vận chuyển hàng không dân dụng; Công ước quốc tế về chống không tặc; Hiệp định về biên giới giữa Việt Nam với Trung Quốc, Lào, Campuchia; các điều ước quốc tế về phòng ngừa và đấu tranh chống XNC trái phép…
1.2 Vai trò của pháp luật trong quản lý xuất nhập cảnh và mối quan hệ với các quy định pháp luật có liên quan trong hệ thống pháp luật Việt Nam
1.2.1 Pháp luật về quản lý xuất nhập cảnh tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho việc thực hiện quyền tự do đi lại của công dân
Pháp luật trong QL NN về XNC quy định thẩm quyền của các cơ quan QL
NN về XNC, tạo nên cách thức thực hiện ngắn gọn, chính xác, khoa học, nhanh
Trang 28chóng trong quá trình giải quyết thủ tục XNC của tổ chức hoặc công dân (bao gồm công dân trong nước và công dân nước ngoài) nhằm bảo đảm thực hiện quyền XNC được thuận lợi, nhanh chóng và hiệu quả nhất
Pháp luật trong QL NN về XNC luôn tác động trực tiếp tới việc thực hiện quyền XNC của công dân Các quy định của pháp luật có thể thúc đẩy nhưng cũng
có thể kìm hãm, cản trở công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Nếu quy định của pháp luật không được chặt chẽ, khách quan, chính xác, công minh sẽ tạo nên tình trạng tùy tiện trong áp dụng pháp luật có liên quan Khi có điều kiện hợp lý
và quy định chặt chẽ, các quy phạm pháp luật về XNC một mặt để các cơ quan QL
NN thực thi chức năng hành chính, mặt khác để tố chức, cá nhân sử dụng các quy phạm thủ tục một cách nhanh chóng, kịp thời, tiết kiệm và bảo vệ các quyền lợi của mình; từ đó, hiệu quả QL NN về XNC được bảo đảm, nghĩa là vừa đạt được kết quả tối ưu, vừa tiết kiệm được sức lực, thời gian và phương tiện của công dân và nhà nước
Pháp luật trong lĩnh vực XNC được xem là phương tiện quan trọng để người dân thực hiện và bảo vệ quyền và nghĩa vụ đã được Hiến pháp năm 2013 quy định:
“Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và
từ nước ngoài về nước Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” Vì
thế, pháp luật trong QL NN về XNC phải là phương tiện quan trọng trong việc tiếp tục mở rộng quan hệ về kinh tế, chính trị, khoa học, kỹ thuật, văn hóa, xã hội giữa nước ta với các nước hoặc các tổ chức quốc tế, mở rộng hoạt động đối ngoại của Đảng và nhà nước, các đoàn thể quần chúng và đảm bảo được ANTT và lợi ích phát triển của đất nước
Bên cạnh đó, các cơ quan QL NN về XNC cũng phải giải quyết các vụ việc, đơn thư KN,TC của công dân về những hành vi hành chính không đúng quy định pháp luật của tổ chức, cá nhân người có thẩm quyền giải quyết các thủ tục XNC Việc giải quyết KN,TC của công dân cũng phải tuân thủ các quy định của pháp luật
KN, TC Luật hành chính có xu hướng mở rộng phạm vi sử dụng và hoàn thiện các TTHC, một mặt để cơ quan nhà nước giải quyết tốt các công việc của dân; mặt
Trang 29khác, tạo kiều kiện để công dân sử dụng các TTHC như là một phương tiện quan trọng để thực hiện và bảo vệ các quyền của mình, nhất là các quyền phát sinh do sự phát triển của xã hội
Từ sự phân tích trên cho thấy vai trò của pháp luật trong QL NN về XNC trong việc bảo đảm quyền XNC của công dân thể hiện ở những điểm sau:
Bảo đảm cho sự hoạt động chặt chẽ, chính xác có hiệu quả của các cơ quan quản lý nhà nước
Tạo điều kiện cho công dân thực hiện các quyền XNC trên thực tế
Hạn chế được vi phạm trong lĩnh vực QL NN về XNC, phòng chống tiêu cực, tham nhũng
Thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động QL XNC đảm bảo tính công khai
và có sự kiểm tra của toàn xã hội
1.2.2 Pháp luật về quản lý xuất nhập cảnh là cơ sở bảo đảm giữ vững chủ quyền, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội
QL NN về NC, XC là hoạt động của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong lĩnh vực XNC, trên cơ sở Luật XNC năm 2014 nhằm bảo đảm giữ vững chủ quyền, ANQG và TTATXH
Mục đích, yêu cầu của QL NN về NC, XC là bảo đảm an toàn và tạo điều kiện cho công dân Việt Nam và NNN NC, XC, cư trú tại Việt Nam, đồng thời bảo đảm ANTT, hạn chế, phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh với những VPPL về XNC
Pháp luật trong QL NN về XNC là phương tiện quan trọng bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản, danh dự và nhân phẩm cùng các quyền lợi nghĩa vụ của công dân Hành lang pháp lý và địa vị pháp lý của công dân Việt Nam, của NNN tại Việt Nam được xác định rõ ràng, bảo đảm ANTT trên các phương diện mà công dân hoạt động Bởi vì quyền NC, XC, CT là quyền tự do của công dân gắn liền với nghĩa vụ cá nhân với cộng đồng xã hội, nói cách khác quyền NC, XC phải trên cơ
sở quy định của pháp luật Điều đó có nghĩa là nhà nước đã tỏ rõ thái độ trong việc
Trang 30xem xét không cho xuất cảnh những trường hợp thuộc diện cấm XC hoặc chưa được XC vì lý do an ninh hoặc đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Quyền NC, XC, CT tại Việt Nam của NNN, được bảo đảm bằng cả hệ thống pháp luật trong nước và những điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết hoặc thừa nhận Để thực hiện đường lối đối ngoại mở rộng, đa dạng hóa, đa phương
hóa quan hệ quốc tế theo phương châm "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình độc lập và phát triển" 18, Đảng
và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách nhằm thu hút và khuyến khích đầu tư của NNN và người Việt Nam định cư ở nước ngoài (Việt kiều) vào Việt Nam
Trong những năm qua, phần lớn NNN, Việt kiều NC, XC, CT ở nước ta đã tích cực góp phần củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác với Việt Nam Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ đã lợi dụng kẽ hở của pháp luật và sự lỏng lẻo trong quản lý của Nhà nước ta, đã có những hành vi, hoạt động phương hại đến ANQG, TTATXH của Việt Nam (chiếm 56% tổng số vi phạm của NNN đã được phát hiện, xử lý19) Vì vậy, pháp luật trong QL NN về NC, XC, một mặt phải phục
vụ có hiệu quả quá trình mở rộng dân chủ, hội nhập quốc tế, mặt khác phải bảo đảm chủ quyền, ANQG và TTATXH
1.2.3 Pháp luật về quản lý xuất nhập cảnh góp phần thiết lập và phát triển quan hệ hợp tác quốc tế trên mọi lĩnh vực
Ngày nay, với xu thế mở rộng quan hệ đối ngoại, giao lưu, hợp tác theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa giữa các quốc gia là xu thế tất yếu mang tính toàn cầu hóa Cơ sở cho việc thiết lập và mở rộng các mối quan hệ đó chính là hệ thống pháp luật quốc gia, pháp luật quốc tế của mỗi nước Xuất phát từ nhu cầu đó,
hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật trong QL NN về NC, XC nói riêng của mỗi quốc gia có những bước phát triển mới mang tính tùy thuộc lẫn nhau Bên cạnh những văn bản quy phạm pháp luật quy định, điều chỉnh các quan hệ xã hội liên
18 Văn kiện Đại hội VIII (1996), Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội.
19 Cục A72 – Tổng cục An ninh (2017), Báo cáo tình hình công tác năm 2017
Trang 31quan đến các chủ thể pháp luật trong nước còn có những văn bản quy phạm pháp luật quy định và điều chỉnh các quan hệ xã hội có yếu tố nước ngoài
Trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN; chủ động hội nhập vào nền kinh tế của khu vực và quốc tế, pháp luật nói chung và pháp luật trong QL NN
về NC, XC nói riêng là công cụ quan trọng chủ yếu đã tạo ra hành lang pháp lý, môi trường pháp lý an toàn cho việc mở cửa nền kinh tế, thúc đẩy hợp tác quốc tế, khuyến khích thu hút đầu tư, thương mại, du lịch…
Pháp luật trong QL NN về NC, XC có vai trò quan trọng trong việc góp phần thiết lập và phát triển quan hệ hợp tác quốc tế trên mọi lĩnh vực, vì qua quá trình hình thành và phát triển của mình, pháp luật trong QL NN về NC, XC luôn hướng tới việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, nhằm thực hiện các đường lối chính sách đối ngoại của Đảng qua mỗi thời kỳ lịch sử, cụ thể: Từ Đại hội VI (1986), Đảng ta khởi xướng công cuộc đổi mới cùng với chủ trương mở rộng quan hệ với
tất cả các nước theo nguyên tắc "cùng tồn tại hòa bình" 20; Đại hội VII (1991) phát
triển chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại theo tinh thần "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới" 21; Hội nghị Trung ương 3 khóa VII đã
cụ thể hóa đường lối đối ngoại rộng mở theo hướng "đa dạng hóa, đa phương hóa các hoạt động đối ngoại" 22 Chính sách đối ngoại mở rộng theo tinh thần này đã góp phần quan trọng để xóa thế bao vây, cấm vận của Mỹ đối với nước ta; Đại hội VIII
(1996), Đảng ta tiếp tục chủ trương "mở cửa", hội nhập kinh tế quốc tế với phương châm chiến lược "điều chỉnh cơ cấu thị trường để vừa hội nhập khu vực, vừa hội nhập toàn cầu" 23 ; Đại hội IX (2001), tiếp tục phát triển chính sách "mở cửa", hội nhập kinh tế của các đại hội trước, khẳng định "mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế" 24 ; Đại hội X (2006), một lần nữa nhấn mạnh “Việt
20 Đảng cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội
21 Đảng cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội
22 Đảng cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb Sự thật, Hà Nội.
23 Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Sự thật, Hà Nội
24 Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb Sự thật, Hà Nội
Trang 32Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế” 25; Đại hội XI
(2011), có chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” 26; Đại hội XII
(2016) “chủ động hội nhập, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế” 27
Để mở rộng giao lưu hợp tác giữa các quốc gia, dân tộc; chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, mỗi quốc gia phải chú ý tới việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật trong QL NN về NC, XC nói riêng Bởi vì, hệ thống pháp luật là tổng thể các mục đích, định hướng, nguyên tắc và quy phạm pháp luật
có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau được phân định thành các lĩnh vực, các ngành luật, các chế định pháp luật Như vậy, điều kiện quan trọng để mở rộng quan
hệ hợp tác quốc tế chính là phát huy vai trò của hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật trong QL NN về XNC
1.2.4 Pháp luật về quản lý xuất nhập cảnh chuyển hóa các quy phạm điều ước quốc tế vào pháp luật quốc gia
Pháp luật nói chung ra đời từ các đòi hỏi khách quan trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Đặc điểm của các quan hệ xã hội quy định tính chất của các quy phạm pháp luật Pháp luật chỉ có thể phát huy vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, khi nó ghi nhận và phản ánh đúng các nhu cầu khách quan và thực
sự là hình thức pháp lý của các quan hệ xã hội Pháp luật trong QL NN về NC, XC hình thành và phát triển do các nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực XNC Nó cũng tác động trở lại và thúc đẩy các quan hệ pháp luật về XNC phát sinh, phát triển theo hướng có lợi cho xã hội
Với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, hoạt động NC, XC, CT tại Việt Nam ngày càng đa dạng về thành phần (nhiều quốc tịch), NNN nhập cảnh vào Việt Nam đến từ nhiều quốc gia trên thế giới và cư trú tại tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước với nhiều mục đích khác nhau như: công tác, hợp tác, đầu tư, học tập, thương mại, du lịch, thăm
25 Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nxb Sự thật, Hà Nội
26 Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nxb Sự thật, Hà Nội
27 Đảng cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Nxb Sự thật, Hà Nội
Trang 33thân, lao động…28; Nhà nước ta đã ký kết hơn 1.000 điều ước quốc tế, thiết lập quan hệ ngoại giao với 170 quốc gia, mở rộng quan hệ thương mại với gần 200 nước, là thành viên ASEAN, APEC, ASEM, AFTA…, phát triển quan hệ đầu tư với hơn 80 nước và vùng lãnh thổ, có quan hệ tốt với các tổ chức tiền tệ quốc tế (IMF,
WB, ADB), tranh thủ viện trợ của trên 45 nước, đã ký Hiệp định khung về hợp tác
và đối tác toàn diện với Liên minh châu Âu, tham gia 11 FTA với các đối tác trong khu vực và trên thế giới29 Đây là nhu cầu khách quan đòi hỏi phải quan tâm nghiên cứu hệ thống pháp luật quốc gia, kịp thời bổ sung, sửa đổi theo hướng phù hợp với những cam kết, thỏa thuận trong các điều ước quốc tế Các quy phạm điều ước quốc
tế mà nhà nước ta tham gia ký kết đã được chuyển hóa vào các nội dung cụ thể của các quy phạm pháp luật, các chế định pháp lý để thực hiện
Nguyên tắc về ưu thế "vượt trội" (nguyên tắc về giá trị pháp lý ưu tiên của các quy phạm điều ước quốc tế so với các quy phạm pháp luật quốc gia) của các quy phạm điều ước quốc tế luôn được tôn trọng khi Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia nhưng chưa chuyển hóa thành pháp luật hoặc khi xuất hiện các tình huống xung đột pháp luật Tại khoản 3, Điều 1 Pháp lệnh xuất nhập cảnh 2000 (đã hết hiệu lực)
quy định: “Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định về NC, XC, quá cảnh, cư trú của NNN tại Việt Nam khác với quy định của Pháp lệnh này, thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó” 30 Tại khoản 1, Điều 4 quy định nguyên tắc NC, XC, quá cảnh, cứ trú:
“Tuân thủ quy định của Luật này, các quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên” 31 Quy định về ưu thế
"vượt trội" này cũng được thể hiện trong nhiều đạo luật của Nhà nước ta, nhất là các đạo luật liên quan đến dân sự, kinh tế, thương mại và giải quyết các tranh chấp có yếu tố nước ngoài
28 Báo cáo Tỉnh ủy Ninh Thuận (số 344, ngày 05 tháng 7 năm 2019)
29 Báo cáo tổng kết công tác QL XNC của công dân Việt Nam (Bộ Công an, số 64/BC-BCA-TCAN, ngày 12 tháng 2 năm 2018)
30 Pháp lệnh xuất nhập cảnh 2000 (Số 24/2000/PL-UBTVQH 10) ngày 28/4/2000, Khoản 3, Điều 1
31 Luật xuất nhập cảnh 2014 (Luật số 47/2014/QH13) ngày 16/6/2014, Khoản 1, Điều 4
Trang 34Pháp luật trong QL NN về NC, XC cũng góp phần quan trọng trong việc chuyển hóa các quy phạm điều ước quốc tế vào hệ thống pháp luật quốc gia Luật XNC của NNN tại Việt Nam năm 2014 đã xác định bước đầu có sự tương thích với các quy phạm pháp luật, chế định tương ứng với Luật di trú hoặc Luật nhập cư của nhiều nước Mỗi lần bổ sung, sửa đổi Pháp luật trong QL NN về NC, XC là một bước xích lại gần hơn thông lệ pháp lý chuẩn mực quốc tế, góp phần tích cực đẩy nhanh hơn nữa tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế của đất nước
1.2.5 Mối quan hệ của pháp luật về quản lý xuất nhập cảnh với các quy định pháp luật có liên quan trong hệ thống pháp luật Việt Nam
1.2.5.1 Mối quan hệ với Hiến pháp
Với tính cách là đạo luật cơ bản của Nhà nước, Hiến pháp năm 2013 đã đưa
ra một khung pháp lý mang tính chất định hướng cho sự hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật trong QL NN về XNC nói riêng Đồng thời ghi nhận các quyền cơ bản của công dân được quy định tại Điều 23 -
"Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và
từ nước ngoài về nước Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định"; Điều 48- "Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; được bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền, lợi ích chính đáng theo pháp luật Việt Nam" 32
Có thể thấy, pháp luật trong QL NN về XNC cũng tác động trở lại Hiến pháp bằng việc cụ thể hóa, chi tiết hóa và bổ sung những quy định của Hiến pháp liên quan đến đến quyền và nghĩa vụ công dân, liên quan đến QL NN về NC, XC.Ví dụ: Điểm a, khoản 1, Điều 13 Pháp xuất nhập cảnh 2000 (đã hết hiệu lực), quy
định:“Người nước ngoài đang tạm trú tại Việt Nam thuộc một trong những trường hợp sau đây được xem xét, giải quyết thường trú: a) Là người đấu tranh vì tự do và độc lập, vì chủ nghĩa xã hội, vì dân chủ và hòa bình hoặc vì sự nghiệp khoa học mà
bị bức hại” đã cụ thể hóa Điều 82 của Hiến pháp 1992 Khoản 1, Điều 39 Luật XNC 2014, quy định:“Người nước ngoài có công lao, đóng góp cho sự nghiệp xây
32 Hiến pháp năm 2013, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Trang 35dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam được nhà nước Việt Nam tặng huân chương hoặc danh hiệu vinh dự nhà nước”… Như vậy, mối quan hệ hữu cơ giữa Hiến pháp và
pháp luật trong QL NN về NC, XC đã ghi nhận và tạo ra một môi trường pháp lý bảo đảm quyền NC, XC, CT của công dân và NNN tại Việt Nam
1.2.5.2 Mối quan hệ với pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật thi hành án hình sự
Pháp luật trong QL NN về NC, XC có nhiều điểm tương tác với pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật thi hành án hình sự Có một số quy phạm, chế định của các ngành luật này đan xen vào nhau trong khi điều chỉnh cùng một số vấn đề Có thể thấy nhiều điểm tương tác trong những trường hợp sau:
Điều 346 quy định về "Tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới"; Điều 347 về
"Tội vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh, tội ở lại Việt Nam trái phép" ; Điều
348 về "Tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép" và Điều 249 về “Tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép”, Điều 350 về “Tội cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép” của Bộ luật hình sự năm 2015
33; Điều 22 của Pháp lệnh XNC năm 2000; Điều 22 Nghị định số 05/2000/NĐ-CP của Chính phủ về xuất cảnh, nhập cảnh… đã thể hiện sự thống nhất trong việc cân nhắc, xác định tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội trong lĩnh vực XC, NC Từ Điều 46 đến Điều 51 chương VIII – Luật XNC năm 2014
Các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: cấm đi khỏi nơi cư trú (Điều 123); tạm hoãn xuất cảnh (124); khởi tố bị can (Điều 179); truy nã bị can (Điều 231); đề nghị truy tố (Điều 233) 34, là các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng
và cách thức thực hiện trình tự tố tụng hình sự do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo Để tăng cường hiệu lực pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật trong QL NN về XNC cũng có chế định "những người chưa
33 Bộ luật hình sự 2015 (Luật số 100/2015/QH13)
34 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (Luật số 101/2015/QH13)
Trang 36được xuất cảnh" (Điều 14, Nghị định số 05/2000/NĐ-CP ngày 03/3/2000 của Chính phủ về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam)
Quy định trục xuất tại Điều 37 của Bộ luật hình sự năm 2015, là hình phạt chỉ áp dụng riêng đối với NNN phạm tội và buộc người bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trong Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003, việc thi hành hình phạt trục xuất được quy định tại Điều 265: "Người bị phạt trục xuất phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời hạn chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày có quyết định thi hành án" Điều
257 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: "Cơ quan Công an có nhiệm vụ thi hành án trục xuất". Tại Điều 1, Nghị định số 54/2001/NĐ-CP ngày 23/8/2001 của Chính phủ hướng dẫn thi hành hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung áp dụng đối với NNN phạm tội (người không có quốc tịch Việt Nam) buộc người đó trong thời hạn nhật định phải rời khỏi lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam (việc trục xuất theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Công an căn cứ theo quy định tại Điều 27, Luật xử lý VPHC năm 2012 và khoản 4, Điều 15 NĐ 167/2013/NĐ-CP) Điều 30, Luật XNC
2014 quy định cụ thể chi tiết hơn về các trường hợp buộc xuất cảnh khỏi Việt Nam,
về vai trò chủ trì của Cơ quan QLXNC - Bộ Công an, đặc biệt là đối với việc trục xuất NNN được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự bằng đường ngoại giao
1.2.5.3 Mối quan hệ với pháp luật dân sự
Pháp luật dân sự cũng có mối quan hệ chặt chẽ với pháp luật trong QL NN
về NC, XC, bởi lẽ trong nhiều trường hợp pháp luật trong QL NN về NC, XC điều chỉnh quan hệ về tài sản, về quyền và trách nhiệm (cha, mẹ, vợ, chồng, con…) Tuy nhiên, hai ngành luật điều chỉnh quan hệ tài sản bằng các phương pháp khác nhau: một bên dùng phương pháp mệnh lệnh (quyền uy - phục tùng), còn bên kia dùng phương pháp thỏa thuận bởi tôn trọng sự bình đẳng về ý chí và quyền tự định đoạt của các bên
Cụ thể các cơ quan QL NN về XNC có thể trực tiếp điều chỉnh quan hệ tài sản bằng cách ra quyết định mang tính quyền lực nhà nước để phân phối tài sản cho
Trang 37các cơ quan quản lý cấp dưới hoặc quyết định chuyển giao tài sản giữa các cơ quan
đó Trong nhiều trường hợp (như đã nêu trên), các cơ quan QL NN về XNC cũng
tham gia trực tiếp vào quan hệ pháp luật dân sự Thứ nhất, các cơ quan QL XNC
hoạt động với tư cách trực tiếp thực hiện chức năng QL NN (chủ thể của hoạt động chấp hành và điều hành), đó là: việc chấp hành quy định chưa cho phép những người đang có nghĩa vụ thi hành bản án; chờ để giải quyết các tranh chấp dân sự, (điểm b, khoản 1, Điều 14 Nghị định số 05/2000/NĐ-CP ngày 03/3/2000 của Chính phủ về xuất
cảnh nhập cảnh của công dân Việt Nam) Thứ hai, các cơ quan QL XNC không hoạt
động với tư cách một pháp nhân - chủ thể của pháp luật dân sự Ví dụ: ký hợp đồng thuê hoặc cho nhà cửa, địa điểm, mua trang thiết bị…
1.2.5.4 Mối quan hệ với các điều ước quốc tế có liên quan đến lĩnh vực xuất nhập cảnh mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia
Hơn 30 năm qua, công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng đã đạt được những thành tựu đáng kể trên các mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội Xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng như một yếu tố khách quan tác động vào
sự thay đổi nền kinh tế Việt Nam theo hướng ngày càng gắn chặt với các hoạt động chung của nền kinh tế thế giới, trong đó có vấn đề về XNC Cùng với việc gia nhập
Tổ chức thương mại thế giới (WTO), sự thành lập Cộng đồng kinh tế Đông Nam Á, việc ký kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu (FTA) và tương lai gia nhập Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) của Việt Nam35
đã tạo một điều kiện rộng mở các nguồn vốn đầu tư và nguồn nhân lực quốc tế vào Việt Nam Việt Nam thời gian qua cũng đã có những thay đổi căn bản về chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động hợp tác, đầu tư, làm ăn, cư trú của NNN khi NC, XC, CT ở Việt Nam Cùng với chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã tham gia và ký kết nhiều điều ước quốc tế có liên quan đến lĩnh vực NC, XC, CT Việc tham gia và ký kết này không chỉ mang ý nghĩa tăng cường hợp tác quốc tế về XNC giữa nước ta với các nước ký kết mà còn mang ý
35 Ngày 07/11/2006, Việt Nam trở thành viên chính thức của WTO; ngày 31/12/2015, Việt Nam tham gia thành lập Cộng đồng kinh tế Đông Nam Á; ngày 30/6/2019, Việt Nam ký kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu (FTA)
Trang 38nghĩa trong việc khẳng định sự chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nhằm phát triển quan hệ hợp tác kinh tế giữa nước ta với các nước trên thế giới, góp một phần không nhỏ trong việc thúc đẩy nguồn nhân lực và vật lực tới Việt Nam Đội ngũ nhân công có trình độ, kinh nghiệm thâm nhập vào thị trường lao động Việt Nam sẽ ngày càng đông đảo
Các quy định về NC, XC, CT trong các điều ước quốc tế đã được coi là một
bộ phận quan trọng của pháp luật trong QL NN về NC, XC tại Việt Nam Trong mối
liên hệ với các điều ước quốc tế, tại khoản 1, Điều 4 Luật XNC 2014 quy định: "Tuân thủ quy định của Luật này, các quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên"
Ngoài ra, một số quan hệ trong lĩnh vực NC, XC còn chịu sự chi phối bởi một
số quy định của các đạo luật khác như: Luật an ninh quốc gia, Luật Công an nhân dân, Luật biên giới, Luật hàng không dân dụng, Luật hàng hải, Luật hải quan, Luật đầu tư n-ước ngoài, Luật thương mại, Luật du lịch…
Từ sự phân tích trên cho thấy, pháp luật trong QL NN về XNC có những mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại và chuyển hóa lẫn nhau với các đạo luật liên quan
và giữ vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Tóm tắt chương 1
Pháp luật trong QL NN về NC, XC là một bộ của pháp luật hành chính, có đối tượng điều chỉnh là nhóm các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực XNC Pháp luật trong QL NN về XNC tại Việt Nam là môi trường pháp lý thuận lợi cho việc thực hiện quyền tự do đi lại, cư trú của công dân; đồng thời là cơ sở pháp lý bảo đảm giữ vững chủ quyền, ANQG và TTATXH Nó còn có vai trò rất lớn trong việc thể chế hóa đường lối, chính sách đối ngoại theo hướng mở rộng, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước, phát triển hợp tác đầu tư nước ngoài, thương mại, du lịch… tại Việt Nam; tạo môi trường pháp lý ổn định cho việc thiết lập các mối quan hệ hữu nghị với các quốc gia và các dân tộc trên thế giới
Trang 39Trước bối cảnh đất nước tiến hành công cuộc đổi mới trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, pháp luật trong QL NN về XNC đã từng bước đổi mới, hoàn thiện
và thực sự trở thành phương tiện quan trọng trong QL NN về lĩnh vực này Là nơi giao thoa của nhiều ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam và là cầu nối giữa pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế, pháp luật trong QL NN về NC, XC có mối quan hệ chặt chẽ với các đạo luật như: Hiến pháp, pháp luật dân sự, pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật hành chính nhà nước, pháp luật tài chính, pháp luật kinh tế, pháp luật thương mại, pháp luật về ngoại giao và lãnh sự, pháp luật quốc tế…Trong mối quan hệ tác động qua lại này, Hiến pháp đóng vai trò nền tảng của pháp luật trong QL NN về XNC và của các đạo luật, ngành luật khác; nhiều chế định của ngành luật khác có liên quan đến hoạt động NC, XC, CT tại Việt Nam được coi là một bộ phận cấu thành pháp luật trong
QL NN về XNC
Trang 40
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHẬP CẢNH,
XUẤT CẢNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH NINH THUẬN 2.1 Những quy định của pháp luật hiện hành về quản lý xuất nhập cảnh 2.1.1 Cơ sở pháp lý về quản lý xuất cảnh, nhập cảnh đối với công dân Việt Nam
2.1.1.1 Văn bản pháp luật về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam
Ngày 17/8/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 136/2007/NĐ-CP về XC,
NC của công dân Việt Nam Qua 02 lần sửa đổi, bổ sung (Nghị định số
65/2012/NĐ-CP ngày 06/9/2012 của Chính phủ sửa đổi Nghị định số 136/2007/NĐ-65/2012/NĐ-CP; Nghị định số 94/2015/NĐ-CP ngày 16/10/2015 của Chính phủ sửa đổi Nghị định số 136/2007/NĐ-CP), công tác QLXNC của công dân Việt Nam đã được nâng cao, hệ thống pháp luật đã từng bước được hoàn thiện, các TTHC được tinh giảm, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân Việt Nam có nhu cầu XC, NC
Đồng thời Bộ Công an cũng đã tham mưu với Chính phủ ban hành các Nghị định, Quyết định, như: Quyết định số 45/QĐ-TTg ngày 28/02/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế cấp và quản lý thẻ đi lại của doanh nhân APEC; Quyết định 54/2015/QĐ-TTg ngày 29/10/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều Quyết định số 45/QĐ-TTg ngày 28/02/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế cấp và quản lý thẻ đi lại của doanh nhân APEC; Quyết định 135/2007/QĐ-TTg ngày 17/8/2007 ban hành quy chế về miễn thị thực cho người
Việt Nam định cư ở nước ngoài; Quyết định số 58/QĐ-TTg ngày 24/12/2012 của
Thủ tướng Chính phủ về việc sử dụng và quản lý hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ; Chỉ thị số 29/2007/CT-TTg ngày 11/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện CCHC trong công tác QLXNC của cán bộ, công chức, công dân
Ban hành theo thẩm quyền các Thông tư, như: Thông tư số BCA ngày 29/11/2007 của Bộ Công an hướng dẫn việc cấp, sửa đổi hộ chiếu phổ thông ở trong nước theo Nghị định 136/2007/NĐ-CP ngày 17/8/2007 của Chính