ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT LƢU THANH HƢƠNG lçi trong tr¸ch nhiÖm båi thêng thiÖt h¹i ngoµi hîp ®ång THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI 2020 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA L[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LƯU THANH HƯƠNG
lỗi trong trách nhiệm bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng THEO PHáP LUậT VIệT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LƯU THANH HƯƠNG
lỗi trong trách nhiệm bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng THEO PHáP LUậT VIệT NAM
Chuyờn ngành: Luật dõn sự và tố tụng dõn sự
Mó số: 8380101.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN TIẾN VINH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lưu Thanh Hương
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LỖI TRONG TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG 7
1.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 7
1.1.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 7
1.1.2 Đặc điểm pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 10
1.2 Khái niệm về lỗi và ý nghĩa của lỗi trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 11
1.2.1 Khái niệm lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 11
1.2.2 Ý nghĩa của lỗi trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 13
1.3 Hình thức lỗi và mức độ lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 15
1.3.1 Hình thức lỗi 15
1.3.2 Mức độ lỗi 22
1.4 Quy định của pháp luật về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong luật một số nước 22
1.4.1 Pháp luật các nước theo truyền thống civil law 24
1.4.2 Pháp luật các nước theo truyền thống common law 27
Tiểu kết chương 1 29
Trang 5CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ LỖI TRONG TRÁCH
NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG 30
2.1 Trước khi có Bộ luật dân sự 2015 30
2.1.1 Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Luật dân sự cổ Việt Nam 30
2.1.2 Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thời kỳ Pháp thuộc 32
2.1.3 Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của Thông tư 173/UBTP năm 1972 34
2.1.4 Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự 1995 và 2005 36
2.2 Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng quy định tại Bộ luật dân sự 2015 38
2.2.1 So sánh lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với lỗi trong các loại trách nhiệm pháp lý khác 39
2.2.2 Lỗi trong việc xác định loại trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 41
2.2.3 Lỗi trong việc xác định chủ thể phải chịu trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 47
2.2.4 Lỗi trong việc xác định mức độ bồi thường thiệt hại 49
2.2.5 Lỗi trong một số trường hợp bồi thường thiệt hại cụ thể 51
Tiểu kết chương 2 61
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ LỖI TRONG TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 62
3.1 Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 62
Trang 63.1.1 Sự cố Formosa năm 2016 63
3.1.2 Vụ kiện bồi thường thiệt hại về sức khoẻ tại Ninh Bình 70
3.1.3 Một sô bất cập trong thực tiễn trong giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 72
3.2 Đánh giá các quy định của pháp luật về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 75
3.3 Một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 79
3.3.1 Về khía cạnh lập pháp 79
3.3.2 Về cơ chế giải quyết bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của các cơ quan nhà nước 82
3.3.3 Nâng cao ý thức pháp luật của người dân nói chung và cán bộ, công chức, cơ quan có thẩm quyền nói riêng 83
Tiểu kết chương 3 84
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS: Bộ luật dân sự
BTTH: Bồi thường thiệt hại
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trước sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, những hiện tượng tiêu cực xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng của tổ chức, cá nhân trong xã hội ngày càng phổ biến hơn Đó không chỉ là những hành vi vi phạm thỏa thuận các bên đã giao kết mà còn là hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của tổ chức, cá nhân không có giao kết hợp đồ ng dẫn đến thiệt hại thực tế xảy ra Vấn đề đặt ra khi
có thiệt hại thực tế xảy ra là phải xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ thể gây thiệt hại Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được giải quyết phải đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật cũng như đảm bảo sự công bằng cho người có quyền và lợi ích bị xâm phạm Khác với giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi các bên đã có thỏa thuận (hợp đồng), khi giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi các bên không có thỏa thuận (hợp đồng) do không xuất phát từ sự vi phạm nghĩa vụ được các chủ thể thiết lập sẵn nên việc giải quyết phức tạp hơn Giải quyết bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhằm mục đích khôi phục lại những lợi ích đã bị xâm phạm, bù đắp những thiệt hại do hành vi trái luật gây nên và quy trách nhiệm pháp lý cho chủ thể có hành vi gây thiệt hại đó
Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có vai trò và
ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống, góp phần đảm bảo công lý, công bằng xã hội Do đó, những năm vừa qua pháp luật dân sự Việt Nam không ngừng hoàn thiện các quy định liên quan tới chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Bộ luật dân sự 2015 được Quốc Hội thông qua với rất nhiều quy định liên quan tới chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được sửa đổi, bổ sung theo hướng đề cao các giá trị phổ biến về quyền con người được
Trang 9ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 thì hiện nay, căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại là hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại Theo quy định trước đây, Điều 604 Bộ luật dân
sự 2005, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng yêu cầu người gây
thiệt hại phải có “lỗi cố ý hoặc vô ý” Với quy định này, ngoài việc chứng
minh người gây thiệt hại có hành vi trái pháp luật, người bị thiệt hại cần phải chứng minh người gây thiệt hại có lỗi Bộ luật dân sự 2015 đã quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hướng có lợi hơn cho người bị thiệt hại Theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có các điều kiện: Có thiệt hại xảy ra, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra
Mặc dù hiện nay Bộ luật dân sự 2015 không quy định lỗi là một trong bốn yếu tố làm căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tuy nhiên lỗi vẫn đóng vai trò quan trọng (xác định mức độ của hành vi gây thiệt hại, mức bồi thường…) Việc xác định, đánh giá không đúng đắn mức độ lỗi của chủ thể thực hiện hành vi vi phạm có thể dẫn đến những sai phạm trong quá trình xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Do đó, để nhận thức được đúng đắn vai trò, tầm quan trọng của lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cần thiết phải xem xét lỗi một cách có hệ thống trong mối liên hệ với những nguyên tắc lý luận chung của lỗi và đặc thù của loại trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Nắm bắt được tầm quan trọng cũng như ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn
đề lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tôi xin lựa chọn đề
tài “Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo pháp luật
Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ luật học của mình
Trang 102 Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã được nhiều nhà khoa học pháp lý quan tâm trong các thời kỳ và với các góc độ khác nhau Dưới đây là một số công trình nghiên cứu khoa học
và bài viết tiêu biểu:
Về sách chuyên khảo, công trình nghiên cứu, bài viết: Giáo trình “Luật
dân sự Việt Nam” của trường Đại học Luật Hà Nội (2015); Giáo trình “Hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” của Trường Đại học Luật
thành phố Hồ Chí Minh (2015); Đỗ Văn Đại “Bình luận khoa học những
điểm mới của Bộ luật dân sự 2015” (2016); Vũ Văn Mẫu “Việt Nam Dân luật lược khảo”, quyển 2, nghĩa vụ và khế ước, in lần 1, 1963, Bộ quốc gia
giáo dục xuất bản và nhiều công trình nghiên cứu khác
Về khóa luận, luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ: Có một số luận văn thạc sỹ nghiên cứu các đề tài liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung và lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói riêng như: Phạm
Thị Vân Hồng (2001) “Lỗi trong trách nhiệm Bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng”, khóa luận tốt nghiệp, Đại học luật Hà Nội; Bùi Thị Thủy Chung
(2006) “Lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”,
Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học quốc gia Hà Nội…
Về bài viết trên tạp chí: Trần Ngọc Dương (2009), “Trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong pháp luật dân sự của Cộng hòa Pháp”, Tạp chí Luật học, (1); Đinh Thị Mai Phương (2003), “Thực tiễn bảo
vệ quyền dân sự – Những bất cập và giải pháp hoàn thiện”, Tạp chí Dân chủ
và pháp luật Số 7 (136); Ngô Văn Hiệp (2005), “Chế định bồi thường thiệt
hại cho người bị oan”, Tạp chí Pháp lý Số 5/2005, tr 10 – 11
Có thể nói, những công trình khoa học trên là tài liệu quí báu giúp tác giả có thêm nhiều thông tin quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn,
Trang 11tuy nhiên các công trình trên chưa nghiên cứu toàn diện và thấu đáo về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam, đặc biệt là BLDS năm 2015 Do vậy, việc nghiên cứu đề tài:
“Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo pháp luật Việt Nam” không trùng lặp với các công trình khoa học đã được công bố
3 Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu các quy định của Bộ luật dân sự 2015 về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và các văn bản pháp luật khác, so sánh với Bộ luật dân sự 2005 qua đó có cái nhìn toàn diện về vấn
đề lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Nêu thực trạng các quy định của pháp luật hiện nay và những định hướng, giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề này Để đạt được mục đích trên, nhiệm
- Kiến nghị một số định hướng và giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về lỗi trong trách nhiệm
Trang 12bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; thực tế áp dụng quy định của pháp luật
về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong thực tiễn hiện nay và đề xuất phương hướng hoàn thiện
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo pháp luật Việt Nam, trên cơ sở so sánh với các quy định của Bộ luật Dân sự 2005 và thực tiễn áp dụng pháp luật hiện hành nhằm đưa ra những giải pháp nhằm tháo gỡ vướng mắc đã và sẽ xảy ra khi áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự
5 Nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nội dung nghiên cứu
Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo pháp luật Việt Nam
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chung của khoa học xã hội và các phương pháp nghiên cứu đặc thù của luật học để nghiên cứu đề tài Các phương pháp chủ yếu là: phương pháp mô tả, phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp so sánh pháp luật,
- Phương pháp mô tả được sử dụng chủ yếu nhằm mô tả các quy định của pháp luật và các vụ việc liên quan Qua đó, luận văn tạo ra bức tranh chân thực của hiện tại Phương pháp mô tả theo hai hướng sao lại và phản ánh
- Phương pháp phân tích được sử dụng chủ yếu để tìm hiểu các quy định của pháp luật, cũng như các vụ việc có liên quan tới xác định ngữ nghĩa của quy phạm pháp luật, tính hợp lý khi áp dụng
- Phương pháp so sánh pháp luật được sử dụng để làm rõ các vấn đề của pháp luật Việt nam nhằm đưa ra các kiến nghị phù hợp
Trang 136 Tính mới và đóng góp của đề tài
Những đóng góp mới của luận văn gồm:
- Một là, về mặt lý luận: luận văn tập trung nghiên cứu có hệ thống các quy định của pháp luật về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, qua đó thấy được các đặc điểm, ý nghĩa của lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Từ đó, tác giả đi luận giải các vấn đề cơ bản về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
- Hai là, về mặt thực tiễn: Tìm ra các hạn chế, bất cập của các quy định của pháp luật về vấn đề này Tác giả sẽ phân tích tình hình thực hiện và áp dụng pháp luật hiện hành, so sánh với các quy định của Bộ luật dân sự 2015
để đưa ra các vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn
- Ba là, về định hướng hoàn thiện: từ những phân tích lý luận, tìm hiểu thực tiễn quy định của pháp luật và thực hiện pháp luật, tác giả sẽ nêu lên các định hướng, giải pháp mang tính toàn diện nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật và thực hiện pháp luật về vấn đề nghiên cứu trong thực tiễn hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương
Trang 14Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LỖI TRONG TRÁCH NHIỆM
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
1.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1.1.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trách nhiệm BTTH từ lâu đã được các nhà nghiên cứu tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau qua mỗi thời kỳ lịch sử Theo đó, trước khi được hiểu
là một loại trách nhiệm pháp lý thì trách nhiệm BTTH được xem xét ở các
giai đoạn như sau [8, tr.437]:
Giai đoạn thứ nhất, trong thời kỳ cổ đại, khi chính quyền trong xã hội còn chưa được tổ chức một cách vững chãi, các cá nhân, mỗi khi bị xâm phạm vào quyền lợi được tự ý trả thù để trừng phạt đối phương, hoặc bắt đối phương làm nô lệ, hay lấy tài sản của họ Chế độ này còn được gọi là chế độ
tư nhân phục thù
Giai đoạn thứ hai, người gây ra sự tổn hại có thể nộp một số tiền chuộc hay thục kim cho nạn nhân để tránh trả thù Chế độ này còn được gọi là chế
độ thục kim Chế độ thục kim đã trải qua hai giai đoạn phát triển: 1) Khi chưa
có sự can thiệp của pháp luật, các bên tự thoả thuận với nhau về tiền chuộc,
đó là chuộc lỗi tự nguyện; 2) Nhờ sự can thiệp của chính quyền, các bên tranh chấp bắt buộc phải giải quyết tranh chấp bằng cách trả cho nhau số tiền chuộc lỗi theo ngạch giá do pháp luật quy định, đó là chế độ thục kim bắt buộc Tiền thục kim này có thể coi như vừa là một hình phạt, vừa có tính chất bồi thường thiệt hại Vào thời kỳ Luật 12 bảng, Cổ luật La Mã mới bắt đầu chuyển từ chế
độ tự ý thục kim sang bắt buộc thục kim
Giai đoạn thứ ba, chứng kiến sự phân biệt hai trách nhiệm hình sự và dân sự Chính quyền, trước hết, can thiệp để trừng phạt những tội phạm chỉ
Trang 15liên quan đến trật tự xã hội, không liên hệ đến cá nhân Sự can thiệp này rất cần thiết, vì nếu không có sự thanh trừng của xã hội, những vụ phạm pháp này không được chú ý tới vì không làm hại trực tiếp đến quyền lợi của tư nhân Sự can thiệp của chính quyền dần dần được nới rộng đến sự phạm pháp liên quan đến quyền lợi của các cá nhân như các vụ ẩu đả, trộm cắp Về phương diện hình sự, cá nhân mất hết quyền phục thù và chỉ còn quyền xin bồi thường tổn hại của mình về dân sự Tuy trong một số trường hợp, Luật La
Mã đã tiến tới sự phân biệt hai trách nhiệm hình sự và dân sự, nhưng nhà làm luật chưa quy định được hẳn một nguyên tắc trách nhiệm tổng quát, bắt buộc người gây ra sự tổn thất phải bồi thường thiệt hại bất luận trường hợp nào
Ở Việt Nam, cổ luật cũng không tách biệt trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm thuộc luật tư và cũng chỉ giải quyết các vấn đề thuộc trật tự công Vì vậy, các điều luật trong bộ luật cổ như bộ Quốc triều Hình luật của nhà Lê hay Hoàng Việt Luật lệ của Gia Long đều quy định các điều khoản trách nhiệm về luật hình ví dụ: Điều 582 Quốc triều hình luật đã quy định
Nếu những súc vật và chó đã húc, đá và cắn người mà cách làm hiệu và ràng buộc không đúng phép – (theo đúng phép vật nào hay húc người thì phải cắt hai sừng, đá người thì phải buộc hai chân, cắn người thì phải cắt hai tai)- hay là chó dại mà không giết thì người chủ phải phạt 60 lượng Nếu vì cớ trên, có người chết hay bị thương thì phải tội quá thất Nếu cố ý thả ra để làm cho người chết hay bị thương thì phải tội kém tội đánh người bị thương hay đánh chết người một bậc Người được thuê đến để chữa bệnh cho súc vật, hay là người cố trêu trọc những vật kia, mà bị thương hay chết, thì người chủ không phải tội
Tuy nhiên, trong một vài trường hợp đặc biệt, cổ luật Việt Nam cũng
Trang 16quy định sự bồi thường Đối với trường hợp đánh người bị thương, điều 468 Quốc triều hình luật đã quy định sự nuôi bảo cô Thí dụ: đánh bị thương bằng chân tay thì phải nuôi 10 ngày, bằng vật khác thì phải nuôi 20 ngày, bằng thứ
có mũi nhọn hay bằng nước sôi, lửa, thì phải nuôi 40 ngày, đánh gãy xương thì phải nuôi 80 ngày… Nhưng ngoài những trường hợp đặc biệt, Cổ luật Việt Nam không phân biệt rõ rệt hai trách nhiệm hình sự và dân sự và cũng không nêu lên một nguyên tắc tổng quát nào về trách nhiệm dân sự [22]
Trải qua nhiều giai đoạn phát triển của lịch sử lập pháp, hiện nay, trách nhiệm BTTH được hiểu là một loại trách nhiệm dân sự theo đó người có hành
vi gây ra thiệt hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 361 – Thiệt hại do vi phạm nói chung và Chương XX – Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Tuy nhiên, trong cả hai phần này đều không nêu rõ trách nhiệm BTTH mà chỉ nêu lên căn cứ phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi thường, năng lực chịu trách nhiệm, thời hạn bồi thường…
Bộ luật dân sự 2015 dành một chương riêng quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Mặc dù không đưa ra khái niệm cụ thể
về loại trách nhiệm này song qua các quy định liên quan có thể hiểu: Trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự
mà khi người nào có hành vi vi phạm nghĩa vụ do pháp luật quy định ngoài hợp đồng xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra Hiện nay, pháp luật Việt Nam quy định
chủ yếu về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng đối với hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của các cá
nhân và tổ chức khác
Trang 171.1.2 Đặc điểm pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Thứ nhất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại
trách nhiệm dân sự
Nếu trách nhiệm BTTH theo hợp đồng bao giờ cũng phát sinh trên cơ
sở một hợp đồng có trước thì trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý do pháp luật quy định đối với người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Người có hành
vi trái pháp luật, gây thiệt hại cho người khác phải có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại những tổn thất về mặt vật chất và tinh thần mà người bị thiệt hại phải gánh chịu Việc bồi thường được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự Do đó, trách nhiệm BTTH được xác định là một loại trách nhiệm dân sự
Thứ hai, cơ sở phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự phát sinh trên cơ sở do pháp luật quy định Người gây ra thiệt hại nếu thỏa mãn các dấu hiệu về căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng thì phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật Theo đó, Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng như sau: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng,
sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”
Thứ ba, về chủ thể chịu trách nhiệm
Thông thường, người có hành vi trái pháp luật, gây thiệt hại cho người khác thì phải chịu trách nhiệm BTTH Tuy nhiên, pháp luật dân sự cũng căn
cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của từng chủ thể gây thiệt hại mà xem xét về trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho từng đối tượng
Trang 18khác nhau Do đó, Bộ luật dân sự 2015 quy định, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng ngoài việc áp dụng đối với người có hành vi trái pháp luật thì còn
áp đụng đối với người khác như cha mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ đối với người được giám hộ, pháp nhân đối với người của pháp nhân, trường học, bệnh viện, cơ sở dạy nghề…
Thứ tư, về mức bồi thường
BTTH ngoài hợp đồng nhằm mục đích bù đắp cho người bị thiệt hại những tổn thất về mặt vật chất và tinh thần mà người đó phải gánh chịu do hành vi vi phạm pháp luật của chủ thể gây thiệt hại Do đó, để đảm bảo quyền
và lợi ích hợp pháp cho người bị thiệt hại, pháp luật quy định về nguyên tắc người gây thiệt hại (người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại) phải bồi thường toàn bộ thiệt hại thực tế xảy ra một cách nhanh chóng kịp thời Thiệt hại chỉ có thể được giảm trong một số trường hợp đặc biệt đó là người gây thiệt hại không có lỗi, có lỗi vô ý và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của họ
1.2 Khái niệm về lỗi và ý nghĩa của lỗi trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1.2.1 Khái niệm lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Hiện nay, khái niệm lỗi được xây dựng với nhiều quan điểm Theo
cuốn Từ điển tiếng Việt “Lỗi là điều sai sót, không nên, không phải trong
cách xử sự, trong hành động” [20] Đây là cách hiểu thông thường về lỗi
trong đời sống hàng ngày Theo quan điểm của Luật gia người pháp Planion
cho rằng: “Lỗi là sự vi phạm nghĩa vụ đã sẵn có” Ở Việt Nam, khái niệm lỗi
được xem xét ở nhiều khía cạnh với những quan điểm khác nhau, theo đó có hai quan điểm nổi bật được đa số các chuyên gia pháp lý thừa nhận rộng rãi:
Quan điểm 1 cho rằng: Lỗi là trạng thái tâm lý phản ánh thái độ tiêu cực của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của mình cũng như đối với hậu quả của hành vi đó [7]
Trang 19Quan điểm 2 cho rằng: Thái độ tâm lý của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật không phải sau sự kiện thực hiện hành vi mà trong quá trình thực
hiện nó, diễn ra đồng thời với quá trình thực hiện nó “Một hành vi gây thiệt
hại có bị coi là có lỗi nếu hành vi ấy là kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của chủ thể trong khi chủ thể có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn và quyết định một xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội” [17]
Pháp luật dân sự Việt Nam qua các thời kỳ cũng không quy định về khái niệm “lỗi” Hiện nay, Bộ luật dân sự Việt Nam 2015 ra đời với nhiều quy định mới tuy nhiên cũng không đưa ra khái niệm lỗi trong trách nhiệm dân sự nói chung và lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng mà chỉ ghi nhận lỗi trong loại trách nhiệm này tại Điều 364 Vì vậy khi tìm hiểu khái niệm lỗi chúng tôi sẽ dựa trên hai quan niệm nêu trên Thực chất hai quan niệm này đều thống nhất trong cách hiểu về bản chất của lỗi nhưng định nghĩa lỗi dựa trên hai phương diện khác nhau: hình thức và nội dung, kết hợp cả hai quan điểm trên, chúng ta có một cách hiểu đúng đắn và toàn diện
về lỗi như sau:
Lỗi là trạng thái tâm lý của con người đối với hành vi trái pháp luật của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra Một người bị coi là có lỗi khi thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho xã hội nếu đó là kết quả mà chủ thể tự lựa chọn và tự quyết định thực hiện trong khi họ có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn và quyết định một xử sự khác phù hợp với các yêu cầu và chuẩn mực xã hội
Đối với một chủ thể có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi,
họ nhận thức được hành vi vi phạm bằng ý chí và lý chí của mình, do đó nếu
họ cố tình xử sự trái với pháp luật thì buộc họ phải chịu trách nhiệm về sự lựa
chọn của mình
Trang 20Một người khi đạt đến độ tuổi nhất định sẽ có đủ hiểu biết cần thiết để
ý thức được những yêu cầu của xã hội, của pháp luật, ý thức được bổn phận, trách nhiệm của họ tương ứng với các quyền mà họ được hưởng Đối với một chủ thể có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi, khi thực hiện hành vi trái pháp luật, về mặt lý trí, chủ thể nhận thức được hoặc hoàn toàn có thể nhận thức được tính chất gây thiệt hại của hành vi mà mình đã lựa chọn; về mặt ý chí, chủ thể đã điều khiển hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho người khác, cho xã hội trong khi chủ thể hoàn toàn có thể tự kiềm chế không thực hiện xử sự gây thiệt hại này mà điều khiển một xử sự khác phù hợp với
xã hội Từ những đặc điểm về ý chí và lý trí trong tâm lý chủ thể vi phạm cho thấy việc họ thực hiện hành vi gây thiệt hại cho người khác không phải xuất phát từ nguyên nhân khách quan mà nó xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan, có ý thức của chính chủ thể Họ hoàn toàn có khả năng để xử sự phù hợp với đạo đức, với pháp luật nhưng họ đã không sử dụng khả năng đó nên
họ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình
Do đó, có thể khái quát lỗi chỉ đặt ra khi một người có năng lực chủ quan tự lựa chọn cách xử sự không phù hợp với quy định pháp luật, đạo đức
xã hội trong khi họ có khả năng, điều kiện để lựa chọn cách xử sự khác phù hợp Việc lựa chọn cách xử sự không phù hợp dẫn đến hành vi thực hiện trái pháp luật, gây thiệt hại cho người khác, họ đã có lỗi khi thực hiện hành vi đó
và tất yếu phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình
1.2.2 Ý nghĩa của lỗi trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Mặc dù hiện nay Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 không quy định lỗi
là một trong những căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tuy nhiên, nếu phát sinh các thiệt hại liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, lỗi đóng vai trò vô cùng quan
Trang 21trọng trong việc xác định mức bồi thường, các trường hợp miễn, giảm mức bồi thường…
Người thực hiện hành vi trái pháp luật, gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại Mục đích của việc quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại là nhằm mục đích khắc phục phần nào những thiệt hại về mặt vật chất và tinh thần cho người bị thiệt hại Để xác định được mức độ bồi thường thiệt hại, các cơ quan tiến hành tố tụng phải căn cứ vào mức độ lỗi của người thực hiện hành vi trái pháp luật, gây thiệt hại Đối với mỗi hành vi được thực hiện ở một mức độ khác nhau sẽ phải gánh chịu trách nhiệm bồi thường khác nhau Quy định này nhằm đảm bảo
sự khách quan trong quá trình giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại Việc xác định mức độ lỗi, mục đích thực hiện hành vi trái pháp luật với lỗi
cố ý, vô ý hay không có lỗi có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc các định người thực hiện hành vi có được miễn, giảm mức bồi thường thiệt hại hay không Từ đó làm căn cứ ấn định mức bồi thường thiệt hại để việc bồi thường được nhanh chóng và kịp thời Trường hợp xác định không đúng mức độ lỗi cũng như loại lỗi mà người gây thiệt hại thực hiện thì sẽ dẫn đến việc xác định không đúng mức bồi thường thiệt hại, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người bị thiệt hại (nếu xác định mức độ lỗi nhẹ hơn so với thực tế) hoặc ảnh hưởng đến quyền lợi của người thực hiện hành vi gây thiệt hại (nếu xác định mức độ lỗi nặng hơn so với hành vi thực tế mà người
đó thực hiện) Do đó, việc xác định lỗi đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng phải hết sức cẩn thận, xem xét các tình tiết, chứng cứ có liên quan, tránh những nhận định phiến diện, thiếu khách quan
Như vậy, vấn đề xác định lỗi là cơ sở quan trọng để ấn định mức bồi thường, nhất là đối với việc giảm mức bồi thường và xác định việc người gây thiệt hại có phải bồi thường hay không bồi thường
Trang 22Lỗi còn đóng vai trò quan trọng trong việc xác định loại trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Giữa hành vi gây thiệt hại trái pháp luật và thiệt hại xảy ra ít khi tồn tại mối quan hệ đơn lẻ tức là chỉ có một hành vi gây thiệt hại trái pháp luật và một kiểu thiệt hại Một thiệt hại xảy ra trên thực tế có thể do hành vi của một người thậm chí nhiều người gây ra Do
đó, trong trường hợp này, khi tiến hành xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, chủ thể tiến hành tố tụng phải xem xét hành vi của từng người trong tổng thể hành vi gây thiệt hại, từ đó xác định mức độ lỗi của họ
để có căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại Nếu xác định được lỗi của từng người là lỗi riêng rẽ thì mỗi người sẽ phải tự chịu trách nhiệm về phần lỗi và thiệt hại do mình gây ra Nếu xác định hành vi của các chủ thể có mối liên hệ với nhau, các chủ thể cùng cố tình thực hiện hành vi trái pháp luật, cùng có mục đích gây thiệt hại thì các chủ thể này cùng có lỗi và cùng phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Nếu xác định người thực hiện hành vi trái pháp luật có lỗi song người bị thiệt hại cũng có một phần lỗi thì trường hợp này mức độ lỗi sẽ được xác định trên cơ sở lỗi của cả hai bên
để đưa ra mức bồi thường phù hợp
Ngoài ra, trong từng trường hợp thiệt hại cụ thể, lỗi còn đóng vai trò quan trọng trong việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Như trên đã phân tích, không phải bất kỳ chủ thể nào thực hiện hành vi trái pháp luật, gây thiệt hại cũng là chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1.3 Hình thức lỗi và mức độ lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1.3.1 Hình thức lỗi
Lỗi biểu hiện thái độ tâm lý của chủ thể khi họ thực hiện hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho chủ thể khác Hình thức lỗi khác nhau
Trang 23phản ánh những thái độ tâm lý khác nhau của chủ thể đối với hành vi mà mình thực hiện
Nói người gây thiệt hại phải thấy trước hoặc đáng lẽ phải thấy trước được hành vi của mình có thể gây thiệt hại, nhận thức được hoặc đáng lẽ phải nhận thức được hành vi của mình tất nhiên phải dẫn đến việc gây thiệt hại cho người khác và đó là hành vi trái pháp luật
Khi nói người gây thiệt hại phải thấy trước hoặc đáng lẽ thấy trước hoặc đáng lẽ phải thấy trước hậu quả không đòi hỏi người ấy phải hình dung cụ thể
là hành vi ấy sẽ gây thiệt hại cho ai, số thiệt hại ấy bao nhiêu Cũng như nói việc người ấy nhận được hoặc đáng lẽ nhận thức được việc mình làm là trái pháp luật thì không có nghĩa là người ấy phải biết được hành vi của mình vi phạm những quy định nào của pháp luật mà chỉ cần người đó nhận thức được việc mình làm là trái với những quy tắc xử sự chung và bị mọi người lên án là trái đạo đức [18]
Cũng có trường hợp người thực hiện hành vi đó không những không mong muốn hậu quả trên thực tế đã xảy ra đó mà còn không biết và không thể biết được rằng hậu quả ấy có thể xảy ra
Bộ luật Dân sự 2015 tại Điều 364 chia lỗi trong trách nhiệm dân sự ra thành hai loại lỗi là lỗi cố ý và lỗi vô ý
Thứ nhất, về lỗi cố ý
Khái niệm về lỗi cố ý được quy định tại Điều 364 BLDS 2015: “Lỗi cố
ý là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra” Như vậy, khi xem xét hình thức lỗi cố ý
trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ta có thể nhận thấy:
- Về mặt khách quan, quy định trên đã dự liệu trường hợp người gây thiệt hại nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện, cho dù người đó mong muốn hoặc không mong muốn nhưng
Trang 24đã có thái độ để mặc cho thiệt hại xảy ra thì người đó phải chịu trách nhiệm dân sự về hành vi có lỗi cố ý của mình
xã hội, đi ngược lại lợi ích, các yêu cầu và chuẩn mực xã hội Sự nhận thức này phụ thuộc vào những phẩm chất của chủ thể như kinh nghiệm sống, học vấn, trí tuệ, hiểu biết pháp luật… Khả năng nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi là phẩm chất đặc trưng cho mọi người phát triển bình thường Điều cần nhấn mạnh là sự nhận thức được tính chất gây thiệt hại cho xã hội của hành vi không có nghĩa là nhận thức được tính chất trái pháp luật của hành vi Một người biết hay không biết tính chất trái pháp luật của hành vi không phải là điều kiện bắt buộc để xác định họ có lỗi hay không có lỗi khi thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội Thấy trước hậu quả gây thiệt hại của hành vi là hình dung ra những nét chung nhất, những điểm nổi bật nhất của hậu quả do hành vi sẽ gây ra Sự thấy trước này xuất hiện trước hoặc trong khi thực hiện hành vi
+ Về ý chí: Chủ thể mong muốn hoặc không mong muốn với hậu quả thiệt hại xảy ra nhưng vẫn chấp nhận và điều khiển hành vi
Nếu người gây thiệt hại mong muốn thiệt hại xảy ra từ việc thực hiện hành vi thì lỗi của họ là lỗi cố ý trực tiếp Nếu người gây thiệt hại không mong muốn thiệt hại xảy ra nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra thì lỗi của họ là lỗi cố ý gián tiếp
Ví dụ: Vụ việc công ty Vedan đổ chất thải ra sông Thị Vải (Đồng Nai)
Trang 25năm 2009, trong vụ việc này phía công ty Vedan nhận thức rõ hậu quả của việc đổ chất thải sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường cũng như cuộc sống không chỉ của dân cư xung quanh khu vực con sông này mà còn cả những khu vực khác, bản thân công ty Vedan không mong muốn hậu quả đó xảy ra nhưng có thái độ để mặc cho hậu quả xảy ra mặc dù có thể có biện pháp để xử lý lượng chất thải này, đây là trường hợp thuộc lỗi cố ý
Thứ hai, về lỗi vô ý
Lỗi vô ý được hiểu là:
Lỗi vô ý là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được [13, Điều 364]
Theo đó, một chủ thể bị coi là có lỗi vô ý khi rơi vào một trong hai hợp sau:
Trường hợp thứ nhất, chủ thể có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc
thấy trước hành vi của mình có khả năng gây ra thiệt hại nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được
- Về mặt khách quan: quy định trên đã dự liệu trường hợp chủ thể đã nhận thức được xử sự mà mình sẽ lựa chọn có khả năng gây thiệt hại nhưng chủ thể lại loại trừ khả năng đó trong khi chủ thể có đầy đủ khả năng khách quan và chủ quan để quyết định và thực hiện một xử sự không gây thiệt hại Tính gây thiệt hại cho xã hội được chủ thể nhận thức một cách chung chung, chưa mang tính cụ thể nên tin rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được
- Về mặt chủ quan:
+ Về lý trí: Chủ thể gây thiệt hại nhận thức được hậu quả có thể xảy ra,
Trang 26hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại Nhìn thấy trước hậu quả gây thiệt hại cho xã hội có thể xảy ra cũng có nghĩa là chủ thể nhận thức được tính chất gây nguy hại cho xã hội của chính hành vi mà mình thực hiện Tuy nhiên nhận thức này khá mơ hồ vì đứng trước hai tình huống: hậu quả có thể xảy ra hay không xảy ra, chủ thể gây thiệt hại đã tin vào khả năng hậu quả sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được nên đã quyết định xử sự
+ Về ý chí: Chủ thể không mong muốn hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho xã hội và cũng không có ý thức để mặc cho hậu quả thiệt hại xảy ra,
họ đã tính toán, cân nhắc và hy vọng hậu quả sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được Sự cân nhắc, tính toán này có thể dựa vào những căn cứ như tin tưởng vào sự khéo léo, sự hiểu biết, kinh nghiệm nghề nghiệp, trình độ kĩ thuật của mình hoặc tin vào những tình tiết khách quan bên ngoài khác Tuy nhiên, niềm tin đó là nhẹ dạ, nông nổi dựa trên những căn cứ không chắc chắn nên hậu quả nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra Khi thực hiện hành vi họ không
có điều kiện để bộc lộ ý chí do không thấy được ý nghĩa xã hội của hành vi tức là không thấy được việc mình làm là vi phạm và sẽ gây thiệt hại
Trường hợp thứ hai, chủ thể không thấy trước hành vi của mình có khả
năng gây thiệt hại mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra
- Về mặt khách quan: Khác với trường hợp trên, trong trường hợp này chủ thể có hành vi gây thiệt hại đã lựa chọn xử sự mà không ý thức được tính chất gây thiệt hại của hành vi mà mình lựa chọn Nguyên nhân của việc thiếu
ý thức như vậy có thể do cẩu thả, thiếu tinh thần trách nhiệm, thiếu sự chú ý cần thiết cho nên mặc dù bản thân hành vi đã chứa đựng nguy cơ của việc gây thiệt hại nhưng chủ thể đã không nhận thức được hoặc về mặt thực tế hành vi chưa mang tính chất gây thiệt hại và do thiếu sự tôn trọng thực sự đối với các quan hệ xã hội mà chủ thể không thấy trước được khả năng thiệt hại xảy ra
Trang 27mặc dù phải suy xét một cách cẩn thận, thận trọng tất cả các khả năng dẫn đến hậu quả của hành vi trước khi thực hiện hành vi [1]
- Về mặt chủ quan:
+ Về lý trí: Chủ thể gây thiệt hại không thấy trước tính chất gây thiệt hại của hành vi mà mình đã lựa chọn trong khi chủ thể có nghĩa vụ phải thấy trước điều đó
Mỗi một công dân đều có quyền được tôn trọng và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của mình Ngược lại, bất kỳ một công dân nào trong xã hội cũng có nghĩa vụ tôn trọng lợi ích của Nhà nước, của tập thể và tôn trọng các quyền nhân thân, quyền tài sản hợp pháp của công dân khác Mỗi thành viên không những không được có các hành vi cố ý xâm phạm đến các quyền và lợi ích đó mà còn phải có thái độ thận trọng cần thiết trong các hoạt động của mình để tránh gây ra những thiệt hại cho xã hội Đòi hỏi khách quan này của xã hội đã trở thành quy tắc của đời sống Trong đời sống cộng đồng, bao giờ cũng tồn tại những quy tắc nhất định vì lợi ích chung để hướng dẫn hành vi của con người Những quy tắc này có thể được quy định một cách rõ ràng trong một điều luật cụ thể hoặc được hình thành từ kinh nghiệm đời sống cộng đòi hỏi mọi thành viên phải biết, phải suy xét thận trọng khi thực hiện các xử sự của mình để không vi phạm chúng, tức là không gây thiệt hại cho xã hội
Nghĩa vụ tuân thủ các quy tắc an toàn chung của đời sống cộng đồng phát sinh từ địa vị pháp lý cụ thể của các chủ thể trong xã hội Có thể là nghĩa
vụ xuất phát từ tính chất nghề nghiệp, từ chức trách được giao hoặc nghĩa vụ phổ biến của một công dân, một thành viên trong xã hội Với địa vị cụ thể của mình, chủ thể phải thấy được rằng hành vi không cẩn thận, không tuân thủ những quy tắc đã được đặt ra sẽ gây ra những thiệt hại cho xã hội Cuộc sống
xã hội đòi hỏi mỗi một công dân khi thực hiện các hoạt động nhằm thoả mãn
Trang 28các nhu cầu chính đáng, hợp pháp của bản thân phải tôn trọng lợi ích chung của cộng đồng, tôn trọng quyền nhân thân, quyền tài sản hợp pháp của công dân khác Dấu hiệu “phải thấy” cho thấy là người thực hiện hành vi gây thiệt hại có nghĩa vụ phải tuân thủ quy tắc mà họ đã vi phạm Nghĩa vụ đó phát sinh từ địa vị cụ thể của người có hành vi gây thiệt hại Do có hành vi đó mà
họ buộc phải thấy được hành vi của mình có thể gây ra thiệt hại cho xã hội
Ngoài ra lỗi vô ý còn có thể đặt ra với những hành vi vi phạm trong điều kiện khách quan và chủ quan của mình chủ thể đáng lẽ hoàn toàn có thể thấy trước hậu quả thiệt hại xảy ra Điều kiện chủ quan thể hiện chủ thể có năng lực nhận thức và đánh giá được các yêu cầu của xã hội phản ánh qua các quy tắc an toàn chung mà họ phải tuân theo Năng lực này phụ thuộc các phẩm chất của cá nhân như trình độ chuyên môn, kinh nghiệm sống, tri thức văn hoá… Năng lực “có thể thấy trước” là phẩm chất phổ biến đối với mọi người ở vào những hoàn cảnh và địa vị cụ thể đó
Về ý chí: Cũng giống như trường hợp trên, chủ thể không có điều kiện bộc lộ ý chí khi thực hiện hành vi gây thiệt hại Chủ thể không mong muốn hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho xã hội và cũng không có ý thức để mặc cho hậu quả thiệt hại xảy ra
Ví dụ: Một người đốn tre (A) trên đỉnh đồi vào buổi trưa, người đó cho rằng dưới chân đồi thường ít khi có người qua lại vào thời gian này vì những ngày trước đó cũng thế, do đó đã thả tre từ đỉnh đồi xuống chân đồi mà không
có báo hiệu cho người khác vì cho rằng sẽ không có thiệt hại xảy ra, nhưng hôm đó có người đi qua khi thả tre xuống cán vào đến gây thương tích cho người này Vì vậy, A mắc lỗi vô ý gây thiệt hại
Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì dù người gây thiệt hại với lỗi cố ý hay vô ý thậm chí không có lỗi cũng phải bồi thường thiệt hại
Trang 291.3.2 Mức độ lỗi
Về mức độ lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trước đây trong Thông tư 173 (23/3/1972) có đề cập đến dưới dạng các thuật ngữ lỗi “ vô ý nặng”, “vô ý nhẹ”, “vô ý nghiêm trọng”, mức độ lỗi cố ý không được nói đến Tuy nhiên vấn đề này không được nói đến trong Bộ luật dân sự
Do đó hiện nay khi giải quyết các quan hệ nghĩa vụ dân sự ngoài hợp đồng mức độ lỗi của các chủ thể là vô ý nặng hay vô ý nhẹ, vô ý vì cẩu thả vô ý vì
tự tin, nghiêm trọng hay không nghiêm trọng… nhiều khi không có ý nghĩa
Nó chỉ có ý nghĩa tham khảo trong việc xác định trách nhiệm dân sự của một hoặc hai bên trong một sự kiện gây thiệt hại cụ thể mà không có tính chất tiên quyết và bắt buộc Điều này khác hẳn với các quy định của Bộ luật hình sự Trong trách nhiệm hình sự, mức độ lỗi có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định hình phạt
1.4 Quy định của pháp luật về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong luật một số nước
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những chế định có lịch sử sớm nhất của pháp luật dân sự Trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau
có những quy định khác nhau về vấn đề này
Cơ sở của trách nhiệm dân sự là lỗi được pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật các nước trên thế giới quy định từ rất lâu đời
Pháp luật La Mã cổ đại (thế kỷ VIITCN đến TK VII SCN) cũng có quy định về vấn đề này, đặt ra chế độ “phục cừu” là nguyên tắc trả thù ngang bằng như máu trả máu, mắt trả mắt, răng trả răng… Ngoài chế độ phục cừu, việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn tuân theo những nguyên tắc được pháp luật ấn định trước như “chế độ phục kim” (bồi thường bằng tiền) Về hình thức lỗi, luật La Mã quy định có hai hình thức là lỗi cố ý và vô ý Đối với hình thức lỗi vô ý, luật La Mã còn phân biệt hai mức độ khác nhau là vô ý
Trang 30nặng và vô ý nhẹ Lỗi vô ý nặng là trường hợp một người không hiểu không thấy những điều mà người bình thường khác cũng hiểu cũng thấy Lỗi vô ý nhẹ là trường hợp một người đã thực hiện một hành vi mà hành vi đó một chủ nhân tốt (của tài sản) không thực hiện như vậy [23] Từ cơ sở của việc xác định mức độ lỗi vô ý nặng và vô ý nhẹ để có căn cứ quy trách nhiệm pháp lý của người có hành vi tương ứng với các mức độ lỗi đó Người gây thiệt hại do lỗi vô ý nặng luôn phải chịu trách nhiệm như cố ý và đặc biệt, một người do thiếu kinh nghiệm mà gây thiệt hại cũng coi như có lỗi [19, tr.17]
Các Luật gia La Mã xây dựng kiểu người chu đáo và cần mẫn để làm tiêu chuẩn khi xác định mức độ quan tâm, chu đáo của người vi phạm trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình cũng như mức độ trách nhiệm của họ Vì lỗi
vô ý không đáng kể là sự không tuân thủ những tiêu chuẩn do các luật gia La
Mã quy định nên loại lỗi này được gọi là lỗi theo tiêu chuẩn trừu tượng Các nhà làm luật La Mã còn nói đến một loại lỗi vô ý nữa tức là lỗi được xác định theo tiêu chuẩn cụ thể Khi người vi phạm không thực hiện sự quan tâm phải
có như khi thể hiện nó trong công việc của mình
Như vậy Luật La Mã không đả động gì đến trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra khi xác định lỗi Chúng ta thấy rằng các luật gia La Mã trên cơ sở các điều kiện thực tế thời bấy giờ đã đưa ra khái niệm lỗi hợp lý trong trách nhiệm dân sự nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng
Quan điểm về lỗi trong các quy định của Luật La Mã đã lan truyền sang các nước Châu Âu lục địa Khái niệm lỗi trong Luật dân sự cũng như trong khoa học pháp luật dân sự của các nước Châu Âu lục địa cơ bản giống với khái niệm lỗi được định nghĩa trong luật dân sự La Mã Điều này hoàn toàn
dễ hiểu bởi rằng các hệ thống pháp luật nói trên được xây dựng trên cơ sở các quy định của Luật La Mã
Trang 311.4.1 Pháp luật các nước theo truyền thống civil law
Pháp luật của các nước Châu Âu lục địa coi lỗi của người vi phạm là
điều kiện cơ bản của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong luật của Pháp còn được gọi là “responsabilité civile délictuelle” (nguyên nghĩa: Trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại) Nguyên tắc chung của trách nhiệm này xuất phát từ Điều 1382 BLDS của Pháp, điều này quy định như sau: “Bất cứ ai làm việc gì gây thiệt hại cho người khác thì người đó phải bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra” Điều 1383 còn quy định: “Mỗi người chịu trách nhiệm
về thiệt hại do bản thân đã gây ra, không những bởi việc làm mà còn bởi sự cẩu thả và thiếu thận trọng của mình” Như vậy, việc không hành động khi cần thiết phải hành động có thể là yếu tố làm phát sinh thiệt hại và do vậy kéo theo trách nhiệm dân sự.Cho dù là hành động (action) hay không hành động (omission), sự việc phát sinh thiệt hại phải mang đặc tính có lỗi (caractère fautif) Đặc tính này tạo thành lỗi dân sự (faute civile) và lỗi này có thể là cố
ý hay không cố ý.
Lỗi trong pháp luật dân sự Pháp dùng để chỉ không những trạng thái tâm lí của con người đối với hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó mà còn chỉ chính hành vi có lỗi (acte fautif)
Như vậy theo pháp luật dân sự Pháp, sự việc phát sinh thiệt hại là do lỗi
và lỗi được đặt ra trong các trường hợp sau:
- Hành vi được thực hiện với ý định gây thiệt hại hoặc hành vi không
có ý định gây thiệt hại nhưng được thực hiện do thiếu thận trọng
- Sự lạm dụng quyền dân sự (abus de droit) Đây là trường hợp người nào đó sử dụng các quyền dân sự của mình với mục đích duy nhất để cản trở
và gây thiệt hại cho người khác Ví dụ: Một người cho xây dựng trên phần đất của mình bức tường vô ích với mục đích che bớt ánh sáng của nhà hàng xóm
Trang 32- Sự sơ ý (négligence) hay thiếu thận trọng (imprudence) hoặc thậm trí không hành động (abstention) vào thời điểm những hành vi này gây ra thiệt hại
Theo BLDS Đức, trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng của Đức được quy định ở các điều từ Điều 823 đến Điều 853 BLDS Đức Khoản 1 Điều 823 quy định: người nào, cố ý hoặc bất cẩn, mà gây thiệt hại cho tính mạng, cơ thể, sức khoẻ, tự do, tài sản hoặc quyền của người khác thì có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại đối với thiệt hại phát sinh từ hành vi đó Khoản
2 Điều 823 quy định một người phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người khác trong trường hợp anh ta vi phạm một luật để bảo vệ một người nào đó,
ví dụ như vi phạm Bộ luật hình sự Điều 826 quy định: một người cố ý hoặc
vô ý làm trái với chính sách công gây thiệt hại cho người khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường
Điều kiện để áp dụng Điều 823 Khoản 1 đó là: có hành vi vi phạm (hành vi thực hiện hoặc không thực hiện) dẫn đến việc xâm phạm tính mạng, sức khỏe tài sản… của người khác; có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại phát sinh; hành vi vi phạm phải trái pháp luật và có thiệt hại phát sinh (quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại phát sinh)
Đối tượng được bảo vệ theo Điều 823 bao gồm: tài sản, tính mạng, sức khoẻ, thân thể (giống Điều 604 BLDS Việt Nam), tự do của con người (đối tượng bị bắt nhốt, giam) và quyền
Theo BLDS Đức, lỗi dựa trên việc xem xét người có hành vi đó có năng lực hay không (Điều 827, 828 BLDS Đức) Nếu một người bị rơi vào tình trạng vô thức có hành vi gây hại cho người khác thì có nghĩa là họ đã không làm chủ được hành vi của mình nên không có lỗi và không bị chịu trách nhiệm Tuy nhiên, nếu người đó tự uống rượu, bia gây lỗi thì phải chịu trách nhiệm Theo quy định của Đức thì phải tự bản thân anh ta uống bia, rượu mới phải chịu trách nhiệm Theo quy định của Điều 828 BLDS Đức thì: trẻ
Trang 33em chưa đủ 7 tuổi không phải chịu trách nhiệm cho thiệt hại mà mình gây ra cho người khác (khoản 1); trẻ em từ 7 đến 10 tuổi khi tham gia giao thông không phải chịu trách nhiệm cho thiệt hại mà họ gây ra trừ trường hợp họ cố ý gây hại (khoản 2); người chưa đến 18 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm về hành
vi của mình khi họ ý thức được hành vi của họ (khoản 3) Quy định này tạo ra
sự khác biệt lớn trong pháp luật về bồi thường thiệt hại của Đức và của Việt Nam, BLDS năm 2015 của Việt Nam quy định về cơ bản, dù người gây thiệt hại ở độ tuổi nào thì người bị thiệt hại vẫn được bồi thường (người có trách nhiệm bồi thường có thể chính là người gây ra thiệt hại, có thể là cha mẹ, người giám hộ của người gây ra thiệt hại nếu người gây ra thiệt hại dưới 15 tuổi, mất năng lực hành vi dân sự… và không có tài sản để bồi thường) Có thể thấy, quy định của mỗi nước đều có điểm tiến bộ nhất định, song, quy định của BLDS năm 2015 của Việt Nam sẽ đảm bảo tốt hơn quyền lợi của người bị thiệt hại và đề cao trách nhiệm của cha mẹ, người giám hộ
Tương tự pháp luật dân sự Thái Lan và Nhật Bản cũng đều đề cập đến lỗi trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Mặc dù pháp luật của các nước nói trên không định nghĩa khái niệm lỗi, nhưng có quy định các hình thức lỗi khác nhau: Cố ý và vô ý Để phân biệt các hình thức lỗi, người ta sử dụng tiêu chí là mức độ quan tâm chu đáo mà người có nghĩa vụ cần phải thể hiện khi thực hiện nghĩa vụ Ở đây các nhà làm luật không nói đến khả năng của một người có nghĩa vụ cụ thể mà chỉ nói đến những tiêu chuẩn trừu tượng: Đó là sự thể hiện sự quan tâm lo lắng phù hợp với tập quán lưu thông dân sự hoặc đặc trưng của người chủ cần mẫn Đặc điểm chung của pháp luật các nước Châu Âu lục địa là trao cho các bên của quan hệ nghĩa vụ quyền tự xác định cơ sở miễn trừ trách nhiệm dân sự Tuy nhiên theo nguyên tắc thì thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm dân sự của các bên do lỗi cố ý được coi là không có hiệu lực Ví dụ: Mục 276 BLDS Đức
Trang 34Trong mọi trường hợp khi người vi phạm muốn được miễn trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ thì họ phải chứng minh rằng mình không có lỗi Theo nguyên tắc người vi phạm nghĩa vụ đạt được mục đích này chỉ trong trường hợp nếu họ chứng minh được rằng nghĩa vụ không được thực hiện do những yếu tố khách quan không phụ thuộc họ gây ra Điều này có nghĩa là các yếu tố nói trên làm cho việc thực hiện nghĩa vụ trở thành không thể được Các yếu tố miễn trừ trách nhiệm dân sự của người vi phạm nghĩa vụ do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo pháp luật của các nước Châu Âu lục địa được gọi là yếu tố bất khả kháng
Người vi phạm theo nguyên tắc được miễn trừ trách nhiệm nếu chứng minh được rằng việc thực hiện nghĩa vụ là hoàn toàn không thể được
1.4.2 Pháp luật các nước theo truyền thống common law
Khác với pháp luật của các nước châu Âu lục địa, pháp luật của các nước Anh - Mỹ không coi lỗi là điều kiện tiên quyết để áp dụng trách nhiệm
do vi phạm nghĩa vụ Mức độ và hình thức của lỗi hoàn toàn không có ý nghĩa trong việc xác định phạm vi mức độ của trách nhiệm Pháp luật của các nước theo hệ thống luật án lệ (Anh, Mỹ) quy định điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là: Có sự tồn tại của một nghĩa vụ (duty);
Có sự vi phạm nghĩa vụ (breach of duty); Có mối quan hệ nhân quả (causation) giữa thiệt hại và hành vi vi phạm nghĩa vụ; Có thiệt hại thực tế xảy ra (injuly) với nguyên tắc pháp lý quan trọng là người có hành vi gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình
Trên góc độ pháp lý đối với người vi phạm nghĩa vụ hoàn toàn không quan trọng khi sự vi phạm là có chủ ý, vô ý hay hoàn toàn không có lỗi Những ngoại lệ của nguyên tắc này không đề cập đến những quy định chủ yếu của trách nhiệm dân sự Lỗi chỉ được xem xét khi xác định phạm vi bồi thường thiệt hại theo trách nhiệm ngoài hợp đồng, nhưng chỉ trong một số
Trang 35trường hợp Như vậy nguyên tắc lỗi không ảnh hưởng đến phạm vi bồi thường thiệt hại vẫn là nguyên tắc bất biến Tuy nhiên, theo pháp luật Anh -
Mỹ chỉ có người thực hiện hành vi gây thiệt hại mới phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình nhưng thực tế xã hội còn có sự tồn tại của những người không có đủ năng lực để thực hiện và tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình (người chưa thành niên, người đã thành niên nhưng bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi), sự tồn tại của tổ chức Vì vậy, xét từ khía cạnh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị thiệt hại thì cơ sở xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại như nêu trên có phần chưa hợp lý Chẳng hạn, trường hợp người chưa thành niên (hoặc người khác không có đủ năng lực chịu trách nhiệm dân sự) gây thiệt hại thì ai sẽ là người phải bồi thường? Theo nguyên lý chung, thì những người này sẽ phải bồi thường Điều đó là không hợp lý, vì không những không bảo vệ quyền lợi cho người bị thiệt hại,
mà còn làm cho những người giám hộ thờ ơ với trách nhiệm của mình Đây là điểm khác biệt rất lớn với pháp luật Việt Nam Pháp luật nước ta quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ngoài việc áp dụng đối với người có hành vi trái pháp luật như các loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại khác thì còn áp dụng đối với người khác như cha mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ đối với người được giám hộ, pháp nhân đối với người của pháp nhân, trường học, bệnh viện, cơ sở dạy nghề… So sánh giữa hai quy định đó thì quy định của pháp luật Việt Nam hợp lý hơn vì sẽ đảm bảo được quyền lợi của người bị thiệt hại
Trang 36Tiểu kết chương 1
Qua những phân tích trên có thể thấy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là loại trách nhiệm dân sự mà khi người nào có hành vi vi phạm nghĩa vụ do pháp luật quy định ngoài hợp đồng xâm phạm đến quyền
và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải bồi thường thiệt hại do mình gây
ra Để giải quyết các yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng một cách đúng đắn, khách quan, công bằng, cần thiết phải xác định tính chất, mức độ lỗi của người thực hiện hành vi gây thiệt hại cũng như người bị thiệt hại Mặc
dù theo quy định của Bộ luật dân sự 2015, lỗi không còn là một trong bốn căn
cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tuy nhiên, lỗi vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc xác định mức bồi thường, các trường hợp miễn, giảm mức bồi thường… Tùy từng trường hợp thiệt hại thực
tế xảy ra, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể bị thiệt hại cũng như đảm bảo tính nghiêm minh, công bằng của pháp luật mà việc xác định mức độ lỗi được Bộ luật dân sự 2015 quy định khác nhau
Trang 37Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ LỖI TRONG TRÁCH NHIỆM
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
2.1 Trước khi có Bộ luật dân sự 2015
2.1.1 Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Luật dân sự cổ Việt Nam
Lỗi trong trách nhiệm dân sự nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng được pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật các nước trên thế giới quy định từ rất lâu đời Pháp luật La Mã cổ đại (Thế kỷ VIITCN đến TK VII SCN) cũng có quy định về vấn đề này, đặt ra chế độ
“phục cừu” là nguyên tắc trả thù ngang bằng nhau như máu trả máu, mắt trả mắt, răng trả răng… Ngoài chế độ phục cừu, việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn tuân theo những nguyên tắc được pháp luật ấn định trước như
“chế độ phục kim” (bồi thường bằng tiền) Về hình thức lỗi, luật La Mã quy định có hai hình thức lỗi là lỗi cố ý và vô ý Đối với hình thức lỗi vô ý, luật
La Mã còn phân biệt với hai mức độ khác nhau là vô ý nặng và vô ý nhẹ Lỗi
vô ý nặng là trường hợp một người không hiểu không thấy những điều mà người bình thường khác cũng hiểu cũng thấy Lỗi vô ý nhẹ là trường hợp một người đã thực hiện một hành vi mà hành vi đó một chủ nhân tốt (của tài sản) không thực hiện như vậy Từ cơ sở của việc xác định mức độ lỗi vô ý nặng và
vô ý nhẹ để có căn cứ quy trách nhiệm pháp lý của người có hành vi tương ứng với mức độ lỗi đó Người gây thiệt hại do lỗi vô ý nặng luôn phải chịu trách nhiệm như cố ý và đặc biệt, một người do thiếu kinh nghiệm mà gây thiệt hại cũng coi như có lỗi [19, tr.17]
Ở Việt Nam, pháp luật thời Lê (Quốc triều hình luật) và pháp luật thời nhà Nguyễn (Hoàng Việt luật lệ) chúng ta nhận thấy rằng: Lỗi với tư cách là
Trang 38cơ sở của trách nhiệm dân sự đã được đặt ra Tuy nhiên, trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng và trách nhiệm dân sự nói chung chưa có sự phân định rõ với trách nhiệm hình sự Chế tài hình sự được quy định trước hết nhằm trừng trị kẻ nào đã xâm phạm vào tài sản hoặc nhân thân của người khác, ngoài hình phạt kẻ phạm tội còn phải bồi thường cho nạn nhân về thiệt hại xảy ra Theo đó vấn đề lỗi cũng được quy định một cách
sơ sài, tản mạn và không được nhìn nhận một cách tách bạch hoặc có lúc thậm chí lại không được nhắc đến Trong các điều luật cụ thể không có quy định nào mang tính khái quát về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Tuy nhiên, trên cơ sở nghiên cứu các quy định trong hai Bộ luật, có thể thấy, mặc dù hai Bộ luật không trực tiếp sử dụng thuật ngữ pháp lý như “Lỗi
cố ý”, “Lỗi vô ý” mà chỉ dùng các từ như vô cơ, mưu sát, thất sát, ngộ sát, lầm lỡ… nhưng qua tính chất sự việc được nêu và trách nhiệm được áp dụng,
có thể hiểu các nhà làm luật xưa cũng có lúc coi lỗi là yếu tố làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Lỗi được nhìn nhận là lỗi của chính bản thân người gây thiệt hại, người bị thiệt hại hay lỗi của người thứ ba cũng được nhắc đến
Lỗi của chính bản thân người gây thiệt hại: Khi một người có hành vi xâm phạm tài sản hoặc nhân thân của người khác gây thiệt hại thì người đó phải chịu trách nhiệm bồi thường tùy theo lỗi của người gây thiệt hại Lỗi cố ý thường coi có tính nghiêm trọng nên tiền bồi thường thường tăng gấp đôi thậm chí đôi khi còn tăng gấp ba… Ví dụ: Trong Quốc triều hình luật:
Điều 435: Lột lấy những quần áo và đồ vật của trẻ con, người điên, người say thì phải tội đồ và phải bồi thường gấp đôi, Điều 437: Quan giám lâm, người coi kho mà tự lấy trộm thì xử như ăn trộm thường và phải bồi thường tang vật gấp hai lần, Điều 581: Người
Trang 39thả trâu, ngựa cho dày xéo, ăn lúa, dâu của người ta, thì xử phạt 80 trượng và đền sự thiệt hại Nếu cố ý cho dày xéo, phá hại của người
ta, thì xử biếm một tư và đến gấp đôi sự thiệt hại
Với lỗi vô ý người gây thiệt hại được áp dụng trong trường hợp bồi thường thông thường (tức là mức bồi thường đã được nhà làm luật giải thích
rõ tại Bộ luật) Ví dụ: Điều 581 Quốc triều hình luật quy định: “người thả
trâu ngựa cho dày xéo, ăn lúa, dâu của người ta thì xử phạt 80 trượng và đền
sự thiệt hại” Điều 208 Hoàng Việt luật lệ dự liệu rằng trong trường hợp vô ý
giết người (thất sát) phạm nhân bị phạt tội giảo nhưng được chuộc lỗi bằng tiền và phải chịu tiền mai táng
Các nhà làm luật thời phong kiến chú trọng phân biệt lỗi cố ý và lỗi
vô ý trong việc gây thiệt hại để ấn định mức bồi thường Tuy nhiên, mức bồi thường thiệt hại còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như tính chất của
sự gây thiệt hại, địa vị xã hội của người gây thiệt hại và người bị thiệt hại Nhiều khi những yếu tố này chi phối mạnh hơn và ảnh hưởng nhiều hơn đến việc bồi thường
2.1.2 Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thời
kỳ Pháp thuộc
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển theo tiến trình lịch sử của đất nước Sau khi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, Pháp đã thi hành chế độ bảo hộ Việt Nam và các nước Đông Dương, vì vậy các Bộ luật dân sự của nước ta thời kỳ pháp thuộc do nhà nước Pháp ban hành bằng tiếng Pháp và được dịch ra tiếng Việt Thời kỳ này, lỗi được ghi nhận chính thức trong luật và được coi là căn cứ phát sinh trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Trong Dân luật Bắc
Kỳ (1931) và Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật (1936), trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại nói chung cũng đã được quy định khi có hành vi gây thiệt hại
Trang 40trên cơ sở: “Người thụ trái phải chịu trách nhiệm trên cơ sở lỗi” (Điều 712
Bộ Dân luật Bắc Kỳ, Điều 761 Bộ Dân luật Trung Kỳ)
Chế định bồi thường thiệt hại trong Bộ dân luật Bắc Kỳ và Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật được chia thành trách nhiệm dân sự theo hợp đồng và ngoài hợp đồng, nguyên tắc chung để xác định trách nhiệm dân sự được quy định tại Điều 711 Bộ dân luật Bắc Kỳ và Điều 763 Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật, theo đó:
Người ta phải chịu trách nhiệm không những tổn hại tự mình làm ra
mà cả về sự tổn hại do những người mà mình phải trông coi nữa Phàm vật vô hồn mà làm nên tổn hại, thì người trông coi vật ấy cho là có lỗi vào đó, không phân biệt vật đó có tay người động đến hay không, muốn phá sự phỏng đoán thì phải có bằng chứng trái lại mới được
Bấy nhiêu trường hợp như trên đều có trách nhiệm cả, trừ khi người chịu trách nhiệm có bằng chứng rằng cái việc sinh ra trách nhiệm
ấy mình không thể ngăn cấm được
Đoạn một điều luật trên quy định về nguyên tắc chịu trách nhiệm dân
sự là người nào gây ra thiệt hại thì người đó phải bồi thường Mặt khác, nếu một người giám hộ người khác mà để người được giám hộ gây thiệt hại thì người giám hộ phải bồi thường thiệt hại, vì người giám hộ không thực hiện tốt nghĩa vụ giám hộ của mình nên phải chịu thay người giám hộ Đoạn hai điều luật quy định vật vô hồn là các vật như nhà ở, công trình xây dựng và các tài sản vô chi, vô giác khác gây thiệt hại trong hai trường hợp: Thứ nhất, do người quản lý trông coi, sử dụng tài sản mà có lỗi vô ý, quản lý, trông coi hoặc khai thác sử dụng không cẩn thận để tài sản gây thiệt hại Thứ hai, tài sản tự nó gây thiệt hại mà không có hành vi tác động trực tiếp của người quản
lý, trông coi Trường hợp này người quản lý tài sản có lỗi vô ý gián tiếp là