ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT VŨ THỊ HƢỜNG Xö Lý VI PH¹M HµNH CHÝNH VÒ XUÊT Xø HµNG HãA T¹I VIÖT NAM HIÖN NAY Chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Mã số 8380101 02 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ HƯỜNG
Xö Lý VI PH¹M HµNH CHÝNH VÒ XUÊT Xø HµNG HãA
T¹I VIÖT NAM HIÖN NAY
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8380101.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN NHO THÌN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Vũ Thị Hường
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC XUẤT XỨ HÀNG HÓA 8
1.1 Khái quát chung về xử lý vi phạm hành chính 8
1.2 Xuất xứ hàng hóa và quản lý nhà nước về xuất xứ hàng hóa 10
1.2.1 Khái niệm xuất xứ hàng hóa 11
1.2.2 Khái niệm và vai trò của chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa 15
1.2.3 Gian lận xuất xứ 17
1.2.4 Quản lý nhà nước về xuất xứ hàng hóa 17
1.3 Xử lý hành vi vi phạm về xuất xứ hàng hóa 19
1.3.1 Khái niệm xử lý hành vi vi phạm pháp luật về xuất xứ hàng hóa 19
1.3.2 Nguyên tắc, thủ tục xử lý hành vi vi phạm về xuất xứ hàng hóa 23
1.3.3 Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hóa 24
1.3.4 Các hình thức xử lý hành vi vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hóa 26
1.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xử lý hành vi vi phạm về xuất xứ hàng hóa 29
Tiểu kết chương 1 32
Trang 4CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP
LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ XUẤT XỨ
HÀNG HÓA 33
2.1 Thực trạng pháp luật xử lý vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hóa 33
2.1.1 Các hình thức vi phạm chủ yếu về xuất xứ hàng hóa 33
2.1.2 Quy định về xử lý vi phạm hành chính đối với vi phạm về xuất xứ hàng hóa xuất khẩu nhập khẩu 35
2.1.3 Xử lý vi phạm hành chính đối với nhóm hành vi gian lận xuất xứ hàng hóa trong hoạt động kinh doanh tại thị trường trong nước 46
2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính 48
2.2.1 Kết quả xử lý vi phạm hành chính 48
2.2.2 Một số vụ việc điển hình 49
2.2.3 Phân tích vụ việc điển hình 52
2.3 Hạn chế vướng mắc và nguyên nhân 57
2.3.1 Hạn chế, vướng mắc 57
2.3.2 Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên 62
Tiểu kết chương 2 63
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC XUẤT XỨ HÀNG HÓA 64
3.1 Yêu cầu về nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính đối với xuất xứ hàng hóa trong giai đoạn hiện nay 64
3.2 Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xuất xứ hàng hóa 65
3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xuất xứ hàng hóa 71
Trang 53.3.1 Tăng cường năng lực cho đội ngũ tham mưu quản lý nhà nước
về xuất xứ và xử lý vi phạm về xuất xứ hàng hóa 71
3.3.2 Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng 72
3.3.3 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, công khai thông tin thực hiện các quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hóa 72
3.3.4 Đẩy mạnh truyền thông và hợp tác quốc tế 73
3.3.5 Nâng cao nhận thức của người dân, doanh nghiệp 73
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
C/O mẫu E: Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa có nguồn gốc từ
Trung Quốc Loại giấy này được phát hành theo Hiệp định khung về phát triển kinh tế toàn diện ASEAN – Trung Quốc
C/O: Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa
Công ty TNHH: Công ty trách nhiệm hữu hạn
FTA: Hiệp ước thương mại giữa hai hoặc nhiều quốc gia Hiệp định EVFTA: Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU
Hiệp định GATT: Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại 1994
LVC: tỷ lệ Phần trăm giá trị hàng hóa
Trị giá CIF: là trị giá hàng hóa nhập khẩu đã bao gồm cả cước vận
tải và phí bảo hiểm tính đến cảng hoặc cửa khẩu của nước nhập khẩu Trị giá CIF được tính theo quy định tại Điều VII Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại 1994 và Hiệp định về Trị giá Hải quan
Trị giá FOB: là trị giá hàng hóa đến cảng hoặc địa điểm cuối cùng trước
khi tàu chở hàng rời bến Trị giá FOB được tính theo quy định tại Điều VII Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại 1994 và Hiệp định về Trị giá Hải quan
VCCI: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
WTO: Tổ chức thương mại thế giới
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ cả chiều rộng lẫn chiều sâu, sự phụ thuộc lẫn nhau tăng lên và cạnh tranh ngày càng gay gắt Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là trong hội nhập kinh tế, quốc tế, làm cho đời sống xã hội ngày càng được cải thiện Tuy nhiên, tại Việt Nam đã xuất hiện nhiều hình thức, thủ đoạn gian lận về xuất xứ, nhãn mác hàng hóa xuất nhập khẩu để lợi dụng xuất xứ Việt Nam để thực hiện xuất nhập khẩu và tiêu dùng trong nước Việc giả mạo về xuất xứ hàng hoá đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến các doanh nghiệp làm ăn chân chính, quyền lợi của người tiêu dùng trong nước và hình ảnh nền kinh tế của Việt Nam trong thương mại quốc tế
Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của trào lưu bảo vệ mậu dịch nội địa và chủ nghĩa dân tuý, các nước trong khu vực và trên thế giới đã có những chính sách thay đổi lớn như: “Chiến tranh thương mại” bằng cách gia tăng thuế suất đối mặt hàng nhập khẩu, áp dụng hàng rào kỹ thuật để bảo hộ sản xuất trong nước trong hoạt động thương mại Dự báo khả năng gia tăng tình trạng hàng hóa từ các nước bị áp thuế suất cao sẽ tìm cách chuyển tải bất hợp pháp vào Việt Nam, giả mạo xuất xứ Việt Nam sau đó xuất khẩu vào thị trường các nước như Hoa Kỳ, Châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc… để lẩn tránh mức thuế suất cao do các nước này áp dụng lẫn nhau Việc tham gia của Việt Nam trong các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương với thuế suất hàng hoá đến từ các nước vào Việt Nam sẽ giảm, người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi, tuy nhiên, song song với đó là tình trạng gian lận xuất xứ hàng hoá để nhằm đánh lừa người tiêu dùng trong nước sẽ tăng lên nhằm thu lợi bất chính
Trang 8Công tác đấu tranh chống gian lận xuất xứ hàng hoá được thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó biện pháp xử lý vi phạm hành chính hiện được nhiều lực lượng chấp pháp áp dụng Thời gian qua, để xử lý các vi phạm về xuất xứ hàng hóa bằng chế tài hành chính, Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Nghị định 127/2013/NĐ-CP ngày 15/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan (được sửa đổi bổ sung tại Nghị định số 45/2016/NĐ-CP); Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/ 11/ 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 124/2015/NĐ-CP)… Tuy vậy,
qua thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống gian lận về xuất xứ hàng hóa cho thấy quy định pháp luật còn nhiều khiếm khuyết, kẽ hở, gây khó khăn cho việc phát hiện, chứng minh vi phạm, việc nhận diện hành vi vi phạm và chế tài xử phạt còn nhiều bất cấp, thiếu cơ chế đảm bảo thi hành quyết định xử phạt nên hiệu quả răn đe thấp kết quả công tác đấu tranh không tương xứng với kỳ vọng và thực tiễn đòi hỏi Do đó, luận văn này mong muốn thống kê, phân tích hệ thống các quy định pháp luật xử lý vi phạm hành chính về xuất
xứ hàng hoá; phân tích thực trạng công tác đấu tranh phòng chống gian lận, xuất xứ hàng hoá của một số lực lượng chấp pháp trong 2 năm vừa qua, nhằm phát hiện các hạn chế, bất cập, nguyên nhân của hạn chế và kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hoá và góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực nêu trên
Hiện nay, đã có những nghiên cứu về xuất xứ hàng hoá và chống gian lận thương mại về xuất xứ hàng hoá Tuy nhiên, chưa có đề tài nghiên cứu tổng thể về pháp luật xử lý vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hoá,
Trang 9phân tích thực tiễn qua những trường hợp điển hình để qua đó có những kiến giải hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống gian lận xuất xứ hàng hoá bằng chế tài hành chính Vì vậy, học viên
lựa chọn đề tài “Xử lý vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hóa tại Việt
Nam hiện nay” làm luận văn Thạc sỹ là rất cần thiết, đáp ứng về tính khoa
học và thực tiễn cao
2 Tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, tác giả đã tìm hiểu một số luận văn, luận án tiến sĩ viết về xử lý vi phạm hành chính và xuất xứ hàng hóa như:
Luận án tiến sĩ Luật, chuyên ngành Luật Hiến pháp Luật Hành chính
“Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan ở Việt Nam: Những vấn
đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Kim Long Biên thực hiện năm 2015, tại
Học Viện Khoa học xã hội Là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về những vấn đề lý luận và thực tiễn trong xử lý VPHC trong lĩnh vực hải quan ở Việt Nam Tuy nhiên, luận án chưa nghiên cứu về vi phạm hành chính về xuất
xứ hàng hóa
Luận án tiến sĩ kinh tế “Quy tắc xuất xứ hàng hóa với việc áp dụng thuế
quan ưu đãi của Việt Nam trong cộng đồng kinh tế ASEAN” của tác giả
Nguyễn Hoàng Tuấn thực hiện năm 2017 tại Học viện tài chính Luận án tập trung trên các khía cạnh: việc áp dụng quy tắc xuất xứ để xác định xuất xứ ASEAN đối với hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang các nước ASEAN để được hưởng thuế quan ưu đãi và ngược lại là việc các cơ quan quản lý ở Việt Nam áp dụng quy tắc xuất xứ để xác định và kiểm tra xuất xứ hàng hóa của các nước ASEAN khi nhập khẩu vào Việt Nam
Khóa luận tốt nghiệp “Vấn đề xuất xứ hàng hóa tại Việt Nam: thực
trạng và giải pháp” của nhóm học viên Trường Đại học Đà Nẵng chỉ giới hạn
ở việc tìm hiểu thực trạng xuất xứ hàng hóa Việt Nam những năm gần đây,
Trang 10các quy định và hiệp định về xuất xứ hàng hóa được áp dụng để cấp giấy chứng nhận và kiểm tra xuất xứ
Bên cạnh đó, tác giả cũng đã nghiên cứu một số giáo trình, tài liệu, bài viết có liên quan về xuất xứ hàng hóa và xử lý vi phạm về xuất xứ khác
Tuy nhiên, các đề tài, tài liệu chưa đề cập đến việc xử lý các gian lận xuất xứ như thế nào cũng như giải pháp cho vấn đề này tại Việt Nam hiện nay
Do đó, tác giả đã tìm hiểu các văn bản quy phạm pháp luật quy định về xử lý vi phạm hành chính đối với vi phạm về xuất xứ, trên cơ sở kiến thức thực tế thu thập được thông qua việc xử lý hồ sơ vụ việc cụ thể, cũng như tham mưu chính
sách tại cơ quan, tác giả đã lựa chọn và hoàn thiện Luận văn với đề tài “Xử lý
vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hóa tại Việt Nam hiện nay”
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nói chung và xử lý vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hoá nói riêng; luận văn đề xuất một số quan điểm, giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hoá nhằm
đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong giai đoạn hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành mục đích, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ
cụ thể sau:
- Phân tích thực trạng quy định pháp luật và quá trình thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hóa; phân tích các hành vi vi phạm về xuất xứ hàng hóa trong hoạt động xuất nhập khẩu và tiêu thụ tại thị trường nội địa;
- Nhận diện những hạn chế, bất cập của các quy định pháp luật hiện hành và các yếu tố đảm bảo việc thực thi pháp luật trong công tác đấu tranh
Trang 11phòng, chống vi phạm đối với xuất xứ hàng hóa (Thông qua một số vụ việc cụ thể, điển hình); nhận diện các hành vi vi phạm phổ biến, đưa ra các dự báo tình hình vi phạm trong thời gian tới;
- Đề xuất một số quan điểm, giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả xử
lý vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hoá nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong giai đoạn hiện nay
- Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng quy định pháp luật xử lý hành vi vi phạm xuất xứ hàng hóa hiện nay
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật xử lý vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hóa; thực trạng thực hiện pháp luật của một số lực lượng có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xuất
xứ hàng hoá, trong đó tập trung chủ yếu vào cơ quan Hải quan
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hóa Phân tích, so sánh, đối chiếu các chế tài xử phạt vi phạm về xuất xứ trong các văn bản quy phạm pháp luật từ trước đến nay điều chỉnh về vấn đề này Phân tích thực trạng công tác thực thi kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xuất xứ hàng hóa của lực lượng chủ yếu thực hiện là Hải quan trong các năm từ 2018 – 2020 thông qua các vụ việc điển hình (thời gian sau khi hệ thống văn bản QPPL về xuất xứ có hiệu lực đến thời điểm nghiên cứu)
Công cụ quản lý nhà nước về xuất xứ hàng hóa không phải là vấn đề trọng tâm nhưng cũng được xem xét nhằm đánh giá thực trạng việc thực hiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hóa
Trang 125 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác
- Lênin làm cơ sở phân tích
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng
trong tất cả các chương của luận văn để phân tích các khái niệm, quy định của pháp luật, các số liệu ;
- Phương pháp so sánh: Được sử dụng trong luận văn để so sánh một
số quy định của pháp luật trong các văn bản khác nhau, tập trung chủ yếu ở Chương 2 của luận văn;
- Phương pháp diễn giải quy nạp: Được sử dụng trong luận văn để diễn
giải các số liệu, các nội dung trích dẫn liên quan và được sử dụng ở tất cả các chương của luận văn
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng những phương pháp nghiên cứu khác:
phương pháp thống kê, phương pháp chuyên gia… v.v…
6 Ý nghĩa của đề tài
- Là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên về xử lý vi phạm hành chính đối với xuất xứ hàng hóa, là tài liệu để hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này
- Luận văn này đã đưa ra những bất cập, hạn chế của hoạt động xử lý vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hóa Đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm góp phần tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực về xuất xứ hàng hóa, giúp cơ quan nhà nước chủ động ngăn chặn và xử lý hành
vi gian lận xuất xứ, giả mạo nhãn mác hàng hóa để bảo vệ người tiêu dùng trong nước, nhà sản xuất trong nước, thu hút dịch chuyển luồng đầu tư vào Việt Nam sản xuất sản phẩm xuất khẩu đáp ứng tiêu chí xuất xứ Việt Nam
Trang 137 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực xuất xứ hàng hóa
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật xử lý vi phạm
hành chính về xuất xứ hàng hóa
Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm
hành chính trong lĩnh vực xuất xứ hàng hóa
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC XUẤT XỨ HÀNG HÓA
1.1 Khái quát chung về xử lý vi phạm hành chính
Xã hội vận động và phát triển luôn tiềm ẩn và tồn tại những vi phạm pháp luật nói chung, vi phạm pháp luật hành chính nói riêng Các vi phạm pháp luật trong xã hội rất đa dạng xuất phát từ hành vi do con người thực hiện trái với các quy định của pháp luật, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, hành vi trái pháp luật đó chứa đựng lỗi của chủ thể thực hiện Theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của mỗi loại vi phạm này
và đối tượng điều chỉnh của mỗi đạo luật trong hệ thống pháp luật, có thể chia các vi phạm pháp luật thành các loại vi phạm khác nhau, như: vi phạm pháp luật hình sự, vi phạm pháp luật hành chính, vi phạm pháp luật dân sự, trong đó, vi phạm pháp luật hình sự là hành vi có tính chất nguy hiểm nhất cho xã hội, những vi phạm pháp luật hành chính là một loại vi phạm xảy ra khá phổ biến trong đời sống xã hội, rất đa dạng, phong phú trong hầu hết các lĩnh vực quản lý nhà nước
Thuật ngữ “vi phạm hành chính” được luật định khá sớm, lần đầu được
quy định tại Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1989: Vi phạm hành
chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm các quy tắc quản lý hành chính nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính
Các Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và 2002 không quy định thế nào là vi phạm hành chính Năm 2012 với việc Quốc hội thông qua Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 vi phạm hành chính được
hiểu là: Hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện vi phạm quy định của
Trang 15pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính
Tuy nhiên, bàn về khái niệm nêu trên, nhận thấy còn một số bất cập như việc sử dụng cụm từ “vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước” chỉ nói lên được tính trái luật của hành vi; quy định các hành vi vi phạm hành chính thì phải bị xử phạt vi phạm hành chính cũng không chính xác về mặt khoa học, bởi thực tế khi một chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật thì không những họ phải chịu những hình thức “xử phạt” mang tính trừng phạt của nhà nước mà họ còn phải thực hiện các biện pháp “khắc phục hậu quả”, tức buộc chủ thể vi phạm phải khôi phục lại trật tự ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm của họ gây ra (biện pháp khôi phục) [18, tr 37]
Tại cuốn Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam do PGS.TS Nguyễn Cửu Việt chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2013 đã đưa ra khái niệm vi phạm hành chính với cách tiếp cận rộng và phù hợp với
khoa học hơn Theo đó vi phạm hành chính được hiểu là hành vi (hành động
hoặc không hành động) trái pháp luật, có lỗi (cố ý hoặc vô ý) do cá nhân có năng lực trách nhiệm hành vi hành chính hoặc tổ chức thực hiện, xâm phạm trật tự quản lý nhà nước và xã hội, trật tự quản lý, sở hữu của Nhà nước, tổ chức và cá nhân, xâm phạm các quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của con người, của công dân mà theo quy định của pháp luật phải chịu trách nhiệm hành chính [16, tr 393]
Tại thời điểm hiện tại, không có văn bản nào quy định về khái niệm
“xử lý vi phạm hành chính” Theo khái niệm nêu trên thì chủ thể thực hiện
vi phạm hành chính phải chịu trách nhiệm hành chính - là hậu quả của vi phạm hành chính, thể hiện ở sự áp dụng bởi cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền những chế tài pháp luật hành chính đối với chủ thể vi phạm
Trang 16hành chính theo thủ tục do luật hành chính quy định [16, tr 397] Theo lý luận về trách nhiệm hành chính thì có hai nhóm biện pháp trách nhiệm hành chính là các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp khôi phục các quyền và lợi ích đã bị vi phạm hành chính xâm hại [16, tr 402]
Tiếp nhận lý luận nêu trên, tác giả đưa ra quan điểm về xử lý vi phạm
hành chính là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền áp dụng các biện
pháp xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp pháp khắc phục hậu quả, cũng như toàn bộ các biện pháp tiến hành trong thủ tục xử lý theo một trình
tự, hình thức do pháp luật xử lý hành chính quy định đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính
1.2 Xuất xứ hàng hóa và quản lý nhà nước về xuất xứ hàng hóa
Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội đã và đang trải qua hai kiểu
tổ chức kinh tế là sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hóa Khi nền kinh tế phát triển, giao lưu buôn bán quốc tế được mở rộng, hàng hóa sản xuất ra không chỉ để sử dụng trong một nước mà có sự trao đổi buôn bán giữa các nước trên toàn thế giới Điều này dễ dẫn đến nảy sinh tranh chấp thương mại giữa các nước Để bảo đảm quyền lợi và trách nhiệm của các bên liên quan, một trong các vấn đề cần thiết là phải làm rõ địa điểm (hay quốc gia) mà hàng hóa được nuôi trồng, sản xuất, chế biến hoặc gia công Hay nói cách khác, khái niệm xuất xứ hàng hóa ra đời là yếu tố quan trọng tất yếu của quá trình thuận lợi hóa thương mại quốc tế Cách hiểu “xuất xứ hàng hóa” lần đầu được nhắc đến tại Phụ lục Chuyên đề K Công ước Kyoto sửa đổi như sau: “Nước xuất xứ của hàng hóa là nước tại đó hàng hóa được chế biến hoặc sản xuất phù hợp với tiêu chuẩn được đặt ra nhằm mục đích áp dụng trong biểu thuế hải quan, những hạn chế về số lượng hoặc các biện pháp khác liên quan đến thương mại” Theo đó, để xác định được xuất xứ hàng hóa cần phải căn cứ
Trang 17tiêu chuẩn được đặt ra mà không có một chuẩn mực chung nào được áp dụng cho tất cả các nước
Có thể thấy, một số nước có quy định khá rõ về việc ghi nước sản xuất hàng hóa, đặc biệt là các mặt hàng cần bảo hộ hoặc đã xây dựng được thương hiệu mang tầm quốc tế, ví dụ: Thụy sĩ quy định đối với mặt hàng đồng hồ, Hoa kỳ quy định đối với mặt hàng ô tô, dệt may, len, New Zealand quy định đối với mặt hàng rượu vang Đối với các nước đã có quy định về ghi xuất xứ thì các loại hàng hóa này bắt buộc phải đáp ứng đủ các tiêu chí xuất xứ theo quy định mới được lưu thông trên thị trường [34]
1.2.1 Khái niệm xuất xứ hàng hóa
Trước khi tìm hiểu về xuất xứ hàng hóa, cần tìm hiều về thuật ngữ
“quy tắc xuất xứ hàng hóa” Thuật ngữ quy tắc xuất xứ hàng hóa dùng để chỉ tập hợp các quy định nhằm xác định quốc gia nơi sản xuất ra hàng hóa (nước xuất xứ hàng hóa) [16, tr 25] Việc xác định quy tắc xuất xứ hàng hóa có ý nghĩa hết sức quan trọng bởi lẽ không có quy tắc xuất xứ sẽ không xác định được xuất xứ hàng hóa và sẽ không có cơ sở để áp dụng các công
cụ chính sách thương mại đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu Theo Điều
3(b) Hiệp định về quy tắc xuất xứ của WTO, “một nước được xác định là
nước xuất xứ của một hàng hóa cụ thể nếu như hàng hóa được hoàn toàn sản xuất ra ở nước đó hoặc khi nhiều nước cùng tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hóa đó, thì nước xuất xứ hàng hóa là nước thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng”
Việc xác định xuất xứ hàng hóa, nhất là khi hàng hóa được sản xuất bởi nhiều quốc gia khác nhau, cần phải dựa trên các điều kiện, tiêu chí và cách xác định xuất xứ cụ thể Tùy thuộc vào bộ quy tắc xuất xứ được áp dụng trong từng trường hợp, một hàng hóa có thể được coi là có hoặc không có xuất xứ tại chính quốc gia này
Trang 18Thực tế, hiện nay có nhiều sản phẩm được sản xuất theo các công đoạn khác nhau, mỗi công đoạn thực hiện ở một nước nhằm tận dụng những lợi thế liên quan của nước đó Vì vậy, nếu không có quy tắc xuất xứ thì không thể xác định được xuất xứ thực chất của các hàng hóa này để từ đó áp dụng quy chế đặc biệt liên quan như hàng hóa có thể được hưởng các chế độ thuế quan khác nhau gồm chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập, chế độ ưu đãi thuế quan trong các Hiệp định thương mại tự do hoặc thuế chống bán phá giá
Khái niệm “xuất xứ hàng hóa” tại Việt Nam lần đầu tiên được giải
thích cụ thể tại Luật Thương mại năm 2005 và Nghị định số 19/2006/NĐ-CP ngày 20/02/2006 quy định chi tiết Luật này về xuất xứ hàng hóa, theo đó:
Xuất xứ hàng hoá là nước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hoá hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hoá trong trường hợp có nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất hàng hoá đó Nghị định số 19/2006/NĐ-CP cũng quy định về
trách nhiệm quản lý nhà nước về xuất xứ hàng hóa của Bộ Thương mại (nay
là Bộ Công thương) và Bộ Tài chính
Luật Quản lý ngoại thương và các văn bản hướng dẫn thi hành tiếp tục khẳng định lại khái niệm xuất xứ hàng hóa đã được giải thích tại Luật Thương mại 2005 Đồng thời giải thích cụ thể có 02 loại văn bản dùng để chứng minh nguồn gốc xuất xứ hàng hóa gồm Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp và Chứng từ tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa do thương nhân tự phát hành theo quy định pháp luật (gọi chung là chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa - theo Điều 32 Luật Quản lý ngoại thương) Về quản lý nhà nước, Bộ Công thương có trách nhiệm hướng dẫn việc kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa xuất khẩu trước
và sau khi cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa và việc tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa xuất khẩu của thương nhân; Bộ Tài chính có trách nhiệm
Trang 19hướng dẫn việc kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu khi thực hiện thủ tục hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan Thực hiện nhiệm vụ được giao, ngày 03/4/2018 Bộ Công thương đã ban hành Thông tư số 05/2018/TT-BCT quy định về quy tắc xuất xứ hàng hóa và kê khai xuất xứ đối với hàng hóa xuất khẩu, hàng hóa nhập khẩu Thông tư được áp dụng đối với thương nhân, cơ quan, tổ chức cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa; các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có hoạt động liên quan đến xuất xứ hàng hóa
Theo quy định tại các văn bản trên, việc xác định xuất xứ hàng hóa ưu đãi theo quy định tại các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia Việc xác định xuất xứ hàng hóa không ưu đãi được quy định như sau:
Hàng hóa được coi là có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của một nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ nếu hàng hóa đó đáp ứng tiêu chí xuất xứ thuộc Danh mục Quy tắc cụ thể mặt hàng do Bộ Công thương quy định [7, Điều 8, khoản 1]
Theo quy tắc cụ thể mặt hàng, hàng hóa xuất khẩu được coi là có xuất
xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ tại một nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ nếu đáp ứng tiêu chí Chuyển đổi mã số hàng hóa (HS), tùy mặt hàng có thể là chuyển đổi ở cấp 2, 4 hoặc 6 số hoặc tiêu chí Tỷ
lệ phần trăm giá trị (LVC) [1, Điều 6]
Về quy định xuất xứ trên nhãn, bao bì hàng hóa
Lần đầu tiên nội dung ghi xuất xứ trên nhãn, bao bì hàng hóa được quy định tại Quy chế ghi nhãn hàng hóa lưu thông trong nước và hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (ban hành kèm theo Quyết định số 178/1999/QĐ-TTg ngày 30/8/1999 của Thủ tướng Chính phủ), theo đó, đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, trên nhãn hàng hóa phải ghi tên nước xuất xứ Nội dung này tiếp tục được khẳng định tại Nghị định số 89/2006/NĐ-CP ngày 30/8/2006
Trang 20của Chính phủ về nhãn hàng hóa Tuy nhiên, qua quá trình triển khai thực hiện, các quy định bắt buộc trên nhãn hàng hóa nhập khẩu được cho là gây khó khăn cho doanh nghiệp nhập khẩu Do đó, Nghị định số 43/2017/NĐ-
CP ngày 14/4/2017 về nhãn hàng hóa đã được ban hành thay thế Nghị định
số 89/2006/NĐ-CP Nghị định số 43/2017/NĐ-CP đã quy định cụ thể về nội dung, trách nhiệm ghi xuất xứ trên nhãn chỉ đối với hàng hóa nhập khẩu Không quy định ghi nhãn đối với hàng hóa xuất khẩu, đồng thời, bỏ quy định về các thông tin bắt buộc trên nhãn hàng hóa nhập khẩu Theo đó, tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu tự xác định và ghi xuất xứ đối với hàng hóa của mình nhưng phải bảo đảm trung thực, chính xác, tuân thủ các quy định của pháp luật về xuất xứ hàng hóa hoặc các Hiệp định mà Việt Nam đã tham gia hoặc ký kết Cách ghi xuất xứ hàng hóa được quy định như sau: Ghi cụm từ “sản xuất tại” hoặc “chế tạo tại”, “nước sản xuất, “xuất xứ” hoặc
“sản xuất bởi” kèm tên nước hoặc vùng lãnh thổ sản xuất ra hàng hóa đó Tên nước hoặc vùng lãnh thổ sản xuất ra hàng hóa đó không được viết tắt
Nghị định số 74/2018/NĐ-CP ngày 20/5/2018 của Chính phủ sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 132/2008/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa đã quy định việc ghi xuất xứ trên nhãn hàng hóa là một trong các nội dung phải kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu
Về trách nhiệm kiểm tra nhãn hàng hóa, Luật Hải quan năm 2014 ra đời đã quy định cụ thể về trách nhiệm của cơ quan Hải quan trong việc xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, hàng hóa nhập khẩu Khoản 1 Điều 29 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan đã quy định xuất xứ hàng hóa là một trong những nội dung phải kiểm tra thực tế hàng hóa Các nội dung này được cụ thể tại Thông tư số
Trang 2138/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018 của Bộ Tài chính quy định về hồ sơ xác định trước xuất xứ, nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; thủ tục, nội dung kiểm tra, xác định, xác minh xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Thông tư được áp dụng đối với người khai hải quan, cơ quan hải quan, công chức hải quan; cơ quan, tổ chức cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa; thương nhân tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa; Tổ chức, cá nhân khác có quyền và nghĩa vụ liên quan đến xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Như vậy, xuất xứ hàng hóa có thể được thể hiện ở chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa, trên nhãn, bao bì hàng hóa và hồ sơ, chứng từ thương mại
1.2.2 Khái niệm và vai trò của chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa
Trong quan hệ thương mại giữa các quốc gia trên thế giới việc xác định xuất xứ hàng hoá đóng một vai trò vô cùng quan trọng và thường gắn liền với chế độ ưu đãi thuế quan của các quốc gia hoặc khối khu vực kinh tế Để cho phép hàng hoá nhập khẩu được áp dụng ưu đãi thuế quan thì cần phải có một tài liệu được các nước thỏa thuận và quy định trong các Hiệp định thương mại Đó gọi là chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa Chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa bao gồm: Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa dưới dạng văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp cho thương nhân; Chứng từ tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa do thương nhân phát hành theo quy định pháp luật [12 Điều 32] Chứng từ này phải có đầy đủ các thông tin theo quy định và thể hiện hàng hóa đáp ứng các tiêu chí xuất xứ để được hưởng ưu đãi thuế quan trong các Hiệp định thương mại tự do Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của trào lưu bảo
vệ mậu dịch nội địa và chủ nghĩa dân tuý, các nước trong khu vực và trên thế giới đã có những chính sách thay đổi lớn như: “Chiến tranh thương mại” bằng cách gia tăng thuế suất đối mặt hàng nhập khẩu, áp dụng hàng rào kỹ thuật để
Trang 22bảo hộ sản xuất trong nước trong hoạt động thương mại dẫn đến việc các nước có thể đưa ra các quy định nhằm cho phép hàng hóa có xuất xứ nước này có được nhập khẩu vào nội địa hay không Do đó, lợi ích lớn nhất của chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa là “giấy thông hành” cho hàng hóa được phép xuất nhập khẩu và được hưởng ưu đãi thuế quan hay không Có thể khái quát về vai trò của chứng từ chứng nhận xuất xứ như sau:
- Áp dụng biện pháp thương mại như thuế chống bán phá giá, thuế đối kháng, biện pháp tự vệ;
- Xác định hàng hóa nhập khẩu thuộc diện áp dụng thuế tối huệ quốc, thuế ưu đãi đặc biệt theo các Hiệp đinh thương mại hay diện ưu đãi thuế quan phổ cập;
- Phục vụ công tác thống kê thương mại;
- Phục vụ các hoạt động mua sắm của Chính phủ theo quy định
Ngoài ra, C/O ưu đãi là công cụ để đánh giá hiệu quả tỉ lệ tận dụng ưu đãi trong các Hiệp định thương mại Việc đánh giá được tỉ lệ sử dụng C/O cũng giúp các nhà quản lý tìm ra những lý do, nguyên nhân khiến cho việc sử dụng C/O ưu đãi chưa được cao, qua đó tìm ra các giải pháp khắc phục, nâng cao hiệu quả việc thực hiện Hiệp định Bên cạnh đó, C/O cũng là công cụ giúp thống kê kim ngạch một số mặt hàng nhập khẩu cụ thể để qua đó đo lường, kiểm soát xem có nhập khẩu quá mức, vượt ngưỡng điều tra tự vệ song phương hoặc khu vực theo quy định tự vệ trong Hiệp định đó
Đối với Chứng từ tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa, hiện tại, Việt Nam
đã và đang tham gia một số Hiệp định thương mại tự do mà trong đó yêu cầu
áp dụng cơ chế tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa (ví dụ: Hiệp định EVFTA) Theo cơ chế này, trách nhiệm chứng nhận nguồn gốc của hàng hóa sẽ chuyển
từ các cơ quan chuyên trách sang doanh nghiệp hoặc nhà nhập khẩu Tức là doanh nghiệp sẽ tự thực hiện các thủ tục và đáp ứng điều kiện để tuyên bố
Trang 23hàng hóa đáp ứng các tiêu chuẩn về nguồn gốc xuất xứ và tư chịu trách nhiệm
về tính chính xác của tuyên bố đó Hệ thống tự chứng nhận xuất xứ có thể tạo
ra nhiều trường hợp gian lận hơn so với hệ thống cấp phép truyền thống thông qua cơ quan có thẩm quyền Tuy nhiên, để kiểm soát việc này, cơ quan có thẩm quyền có thể tiến hành kiểm tra trực tiếp nhà xuất khẩu bất kỳ lúc nào nếu có nghi ngờ sai phạm nhằm hạn chế các hành vi gian lận
1.2.3 Gian lận xuất xứ
Gian lận xuất xứ được hiểu là mọi mưu toan vi phạm hay lạm dụng các quy tắc xuất xứ hay các quy định về hải quan trong các thỏa thuận song phương và đa phương đang có hiệu lực tại một nước hữu quan nào đó nhằm mục đích được nhập khẩu hoặc trốn tránh, cố ý trốn tránh việc nộp thuế Hải quan, đạt được hoặc cố ý đạt được những lợi thế thương mại bất hợp pháp gây hại cho hoạt động thương mại chân chính
1.2.4 Quản lý nhà nước về xuất xứ hàng hóa
Phát triển kinh tế, ổn định trật tự xã hội luôn gắn liền với công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả Nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước rất quan tâm đến công tác này, các bộ, ngành, địa phương tích cực vào cuộc và đã đạt được một số kết quả tích cực
Trước tình hình hội nhập quốc tế và kinh tế thị theo định hướng xã hội chủ nghĩa, bên cạnh những thuận lợi và cơ bản, chúng ta đang phải đối diện với tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả diễn ra hết sức phức tạp cả quy mô và tính chất, ảnh hưởng đến sản xuất trong nước, gây thất thu ngân sách, thiệt hại đối với doanh nghiệp chân chính và người tiêu dùng, nguy hại hơn, trong nhiều trường hợp còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người,
an ninh trật tự và tiềm ẩn nguy cơ tiêu cực tham nhũng trong bộ máy quản lý
Để kịp thời, phát hiện ngăn chặn tình trạng này, Chính phủ đã đưa ra nhiều nghị quyết chỉ đạo thực hiện
Trang 24Ngày 19/3/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 389/QĐ-TTg thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (gọi tắt là Ban chỉ đạo 389 quốc gia) với hệ thống bộ máy từ Trung ương đến các tỉnh, thành phố và phân công đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng Ban, các Phó Trưởng ban, Ủy viên
là lãnh đạo của các Bộ ban ngành trung ương để thực hiện chức năng nhiệm
vụ Chính phủ, Thủ tướng chính phủ giao như: Xây dựng chương trình, kế hoạch công tác theo chỉ đạo của Chính phủ; lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn Ban Chỉ đạo 389 các bộ, ngành, địa phương thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; Chỉ đạo công tác phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, lực lượng chức năng các cấp trong điều tra, phát hiện, ngăn chặn, bắt giữ, xử lý các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả nghiêm trọng, có tổ chức, liên quan đến nhiều lĩnh vực, địa bàn…
Chính phủ đã có nhiều văn bản chỉ đạo thực hiện và chỉ đạo sửa đổi chức năng, nhiệm vụ của các Bộ, ngành theo hướng rõ ràng và gắn kết các nhiệm vụ hơn về phòng, chống gian lận xuất xứ hàng hóa như:
Tại Nghị định số 98/2017/NĐ-CP ngày 18 tháng 8 năm 2017, đã Giao
Bộ Công Thương quản lý về xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập, chuyển khẩu, quá cảnh hàng hoá, thương mại biên giới, hoạt động ủy thác, uỷ thác xuất khẩu, uỷ thác nhập khẩu, đại lý mua bán, gia công, xuất xứ hàng hoá; Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương trong công tác phòng, chống buôn lậu, sản xuất và buôn bán hàng giả, hàng cấm, gian lận thương mại và các hành vi vi phạm khác thuộc lĩnh vực được giao quản lý theo quy định của pháp luật
Tại Nghị định số 87/2017/NĐ-CP ngày 26/7/2017, Bộ Tài chính được Chính phủ giao thực hiện nghiệp vụ kiểm tra, giám sát hải quan; tổ chức thực
Trang 25hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; phòng, chống buôn lậu, trong đó có nhiệm vụ về kiểm soát xuất xứ hàng hóa
Nhiệm vụ về quản lý nhà nước về nhãn hàng hóa, mã số, mã vạch và phân định sản phẩm, hàng hóa được Chính phủ giao Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý tại Nghị định số 95/2017/NĐ-CP ngày 19/8/2017
Với chức năng, nhiệm vụ được phân công, các Bộ đã phối hợp thực hiện dưới sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tại các phiên họp định kỳ, đột xuất
1.3 Xử lý hành vi vi phạm về xuất xứ hàng hóa
1.3.1 Khái niệm xử lý hành vi vi phạm pháp luật về xuất xứ hàng hóa
Các hoạt động nghiệp vụ quản lý về xuất xứ hàng hóa là hoạt động cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa xuất khẩu; kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa xuất, nhập khẩu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trong quá trình thực hiện, luôn xuất hiện những hành vi cố ý hay vô ý của tổ chức, cá nhân xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước được pháp luật bảo
vệ, nó xảy ra ở hầu hết các khâu hoạt động nghiệp vụ về xuất xứ hàng hóa Các hành vi vi phạm pháp luật này, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm đều phải bị xử lý theo quy định của pháp luật Cũng giống như hành vi vi phạm pháp luật nói chung, các dấu hiệu pháp lý và yếu tố cấu thành vi phạm hành chính phải gồm: mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể
Trang 26Là hậu quả do hành vi trái pháp luật hành chính gây ra cho xã hội Việc thực hiện các hành vi trái pháp luật có thể nhằm mục đích gian lận xuất xứ, giả mạo xuất xứ Việt Nam đối với các hàng hóa kém chất lượng không đáp ứng tiêu chí xuất xứ Việt Nam để xuất khẩu hoặc tiêu thụ ở thị trường trong nước Qua đó, người dân không được sử dụng hàng hóa đảm bảo chất lượng, chất lượng hàng hóa mang thương hiệu “made in Viet Nam” bị ảnh hưởng khi xuất khẩu sang các thị trường khác
Là mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật hành chính với hậu quả (sự thiệt hại của xã hội) mà nó gây ra Điều này thể hiện ở chỗ, sự thiệt hại cho xã hội trên thực tế là hệ quả tất yếu của hành vi trái pháp luật hành chính, do chính hành vi trái pháp luật hành chính gây ra Hậu quả của vi phạm hành chính có thể là những thiệt hại thực tế hoặc nguy cơ gây ra thiệt hại cho xã hội
1.3.1.2 Mặt chủ quan
Có yếu tố lỗi của chủ thể vi phạm Lỗi là dẩu hiệu bắt buộc của vi phạm hành chính cũng như vi phạm pháp luật nói chung Mỗi một hành vi trái pháp luật không có nghĩa đă là hành vi vi phạm pháp luật, nếu chưa xác định được lỗi, tức là yếu tố chủ quan là thái độ, động cơ, ý chí của người vi phạm đối với hành vi cùa mình Có hai hình thức lỗi: lỗi cố ý và lỗi vô ý [16, tr 392
và 393] Khác với các vi phạm khác, vi phạm về xuất xứ hàng hóa hầu hết là lỗi cố ý vì hơn ai hết chủ thể vi phạm hiểu rất rõ hàng hóa của mình có đáp ứng xuất xứ Việt Nam hay không qua các công đoạn nhập khẩu nguyên liệu, gia công, chế biến, làm thành sản phẩm hoàn chỉnh… nhưng vẫn cố tình thực hiện và mong muốn điều đó xảy ra hoặc tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra
1.3.1.3 Chủ thể vi phạm hành chính về xuất xứ
Chủ thể vi phạm hành chính về xuất xứ là cá nhân, tổ chức có năng lực
Trang 27trách nhiệm hành chính, nghĩa là theo quy định của pháp luật hành chính, họ phải chịu trách nhiệm đối với hành vi trái pháp luật của mình Đối với cá nhân, họ phải là người đạt độ tuổi nhất định, có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình Cũng như các vi phạm khác, các đối tượng là chủ thể bị xử phạt vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hóa bao gồm:
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính
về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính
Người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân vi phạm hành chính thì bị xử lý như đối với công dân khác; trường hợp cần áp dụng hình thức phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn liên quan đến quốc phòng, an ninh thì người xử phạt đề nghị cơ quan, đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân có thẩm quyền xử lý;
- Tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra Xuất phát từ bản chất của vi phạm về xuất xứ bao gồm nhiều chuỗi hoạt động của con người, máy móc chế biến thành sản phẩm hàng hóa hoàn thiện, hoặc việc thực hiện các thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, nếu có vi phạm chủ thể chịu trách nhiệm đều là doanh nghiệp Do đó đối với
vi phạm về xuất xứ, hầu hết đều do chủ thể là tổ chức thực hiện
- Cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác
Trang 28Trong đó, tổ chức phải đáp ứng quy định tại khoản 10 Điều 2 Luật xử
lý vi phạm hành chính là: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật [9, Điều 2 và Điều 5]
Tùy vào từng vi phạm theo lĩnh vực mà chủ thể vi phạm về xuất xứ là khác nhau Đối với vi phạm về xuất xứ trong lĩnh vực hải quan thì chủ thể vi phạm là người khai hải quan, gồm doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh hàng hóa
1.3.1.4 Khách thể vi phạm hành chính
Khách thể của vi phạm hành chính về xuất xứ là những quan hệ xã hội được pháp luật về xuất xứ bảo vệ nhưng bị vi phạm hành chính xâm hại, gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại Khách thể chính là dấu hiệu để nhận biết vi phạm hành chính là hành vi xâm hại đến trật tự quản lý hành chính nhà nước được pháp luật hành chính quy định và bảo vệ Khách thể vi phạm hành chính về xuất xứ có thể là hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, hoạt động mua bán, kinh doanh hàng hóa, hoạt động cấp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa…
Như vậy, trên cơ sở phân tích nêu trên và nội dung khái niệm về xử lý
vi phạm hành chính nêu tại mục 1.1 của Chương này, tác giả đưa ra các khái niệm vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hóa và xử lý vi phạm hành chính
về xuất xứ hàng hóa như sau:
Vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hóa là: hành vi (hành động hoặc
không hành động) trái pháp luật, có lỗi cố ý do cá nhân có năng lực trách nhiệm hành vi hành chính hoặc tổ chức thực hiện, xâm phạm trật tự quản lý nhà nước và xã hội, trật tự quản lý, sở hữu của Nhà nước về xuất xứ hàng hóa mà theo quy định của pháp luật phải chịu trách nhiệm hành chính
Trang 29Xử lý vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hóa là hoạt động của các
chủ thể có thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính
và các biện pháp pháp khắc phục hậu quả, cũng như toàn bộ các biện pháp tiến hành trong thủ tục xử lý theo một trình tự, hình thức do pháp luật xử lý hành chính quy định đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính
1.3.2 Nguyên tắc, thủ tục xử lý hành vi vi phạm về xuất xứ hàng hóa
Xử phạt hành vi vi phạm về xuất xứ hàng hóa phải tuân theo các nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính chung, gồm:
- Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật;
- Việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật;
- Việc xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng;
Trang 30- Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân
Trong số các nguyên tắc nêu trên, nguyên tắc “một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần” được coi là đáp ứng yêu cầu về quyền con người nhất Khoản 7 Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị
đưa ra xét xử hoặc bị trừng phạt lần thứ hai về cùng một tội phạm mà người
đó đã bị kết án hoặc đã được tuyên trắng án phù hợp với pháp luật và thủ tục
tố tụng hình sự của mỗi nước” Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam tại khoản 3 Điều 31 cũng khẳng định: “Không ai bị
kết án hai lần vì một tội phạm” Đối với vi phạm hành chính về xuất xứ hàng
hóa, rất có thể được phát hiện tại nhiều khâu, nhiều thời điểm (ví dụ như hành
vi sản xuất hàng hóa giả mạo xuất xứ, có thể do cơ quan quản lý thị trường phát hiện tại thời điểm kiểm tra doanh nghiệp trong nội địa, có thể do cơ quan Hải quan phát hiện khi doanh nghiệp làm thủ tục xuất khẩu hàng hóa) Do đó,
để thực hiện nguyên tắc này, rất cần thiết việc phân định rõ thẩm quyền giữa các cơ quan chức năng, cũng như sự phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan này
1.3.3 Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hóa
Theo quy định tại Nghị định số 127/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 45/2016/NĐ-CP); Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày ngày
15 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 124/2015/NĐ-CP) việc xử lý vi phạm hành chính đối với các vi phạm về xuất xứ đang thuộc thẩm quyền của cơ quan Hải quan (Bộ Tài chính), cơ quan Quản lý thị trường
Trang 31(Bộ Công thương) và Tổng cục Đo lường chất lượng (Bộ Khoa học – công nghệ) Thẩm quyền của các chủ thể xử lý vi phạm quy định cụ thể tại mỗi văn bản, tuy nhiên phải phù hợp với quy định về thẩm quyền đã được quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính Đối với cơ quan Hải quan, thẩm quyền xử lý
vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hóa được quy định như sau:
(i) Công chức Hải quan đang thi hành công vụ có quyền:
và Đội trưởng Đội kiểm soát bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ thuộc Cục điều tra chống buôn lậu Tổng cục Hải quan có quyền:
- Phạt cảnh cáo;
- Phạt tiền đến 50.000.000 đồng;
Trang 32- Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
- Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại điểm b khoản này;
(v) Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan có quyền:
- Phạt cảnh cáo;
- Phạt tiền đến mức tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều
24 của Luật này;
Ngoài các mức phạt tiền nêu trên, cá nhân có thẩm quyền của cơ quan Hải quan còn có thẩm quyền xử lý đối với các vi phạm về xuất xứ như sau:
- Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
- Áp dụng biện pháp khắc phục hậu gồm: (1) Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên nhãn, bao bì hàng giả; (2) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa giả mạo đối với hành vi nhập khẩu hàng giả; (3) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm; (4) Buộc thu hồi loại bỏ yếu tố vi phạm trên nhãn, bao bì hàng giả đang lưu thông trên thị trường; (5) Buộc cải chính thông tin sai sự thật về xuất xứ hàng hóa đối với hành vi vi phạm [12 Khoản 1 Điều 28]
1.3.4 Các hình thức xử lý hành vi vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hóa
Như đã trình bày tại mục 1.3.1 của luận văn, thì xử lý vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hóa được hiểu là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp pháp khắc phục hậu quả, cũng như toàn bộ các biện pháp tiến hành trong thủ tục xử lý theo một trình tự, hình thức do pháp luật xử lý hành chính quy định đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính Do đó, các hình thức
xử lý hành vi vi phạm về xuất xứ hàng hóa sẽ được trình bày theo các nhóm
Trang 33hình thức như: Nhóm hình thức xử phạt; nhóm hình thức khắc phục hậu quả; nhóm hình thức ngăn chặn vi phạm xảy ra
1.3.4.1 Nhóm hình thức xử phạt
Xử phạt vi phạm hành chính nói chung, xử phạt vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hóa nói riêng là việc chủ thể có thẩm quyền áp dụng các chế tài hành chính nhằm mục đích xử phạt đối với từng hành vi vi phạm cụ thể theo quy định của pháp luật Trong lĩnh vực xuất xứ hàng hóa, khi vi phạm hành chính xảy ra, có thể áp dụng các hành thức xử phạt như: (1) phạt tiền; (2) tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm; (3) tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn; (4) đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất hàng giả Trong số này, hình thức số (1)
và (2) thường được áp dụng nhiều hơn cả
- Đối với vi phạm về xuất xứ hàng hóa, phạt tiền được coi là hình thức
xử phạt chính Thông qua hình thức này, nhà nước thể hiện thái độ nghiêm khắc đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm Khi bị áp dụng hình thức phạt tiền, tức là chủ thể vi phạm đã bị tước bỏ đi một lợi ích vật chất cụ thể với mong muốn tạo ra được một sự “răn đe” cần thiết đối với chính bản thân người vi phạm và với cả cộng đồng Hình thức và mức phạt tiền đối với các hành vi vi phạm về xuất xứ là một dạng trách nhiệm mà người vi phạm phải gánh chịu trước Nhà nước, mức tiền phạt không lệ thuộc quá nhiều vào thiệt hại thực tế xảy ra cho chủ thể vi phạm mà còn phụ thuộc vào hậu quả mà hành vi vi phạm gây ra cho nhà nước, cho cộng đồng Hình thức xử phạt tiền trong vi phạm hành chính về xuất xứ khác với hình thức phạt tiền trong vi phạm hình sự Trong xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền là hình thức phạt chính, chủ yếu do cơ quan hành chính có thẩm quyền áp dụng Còn trong Luật hình sự là hình phạt chính hoặc có thể là hình phạt bổ sung do toà án quyết định, người bị phạt tiền phải mang án tích Trình tự phạt tiền trong luật
Trang 34hình sự phức tạp hơn thủ tục phạt tiền trong luật hành chính [16, 405] Đối với các hành vi vi phạm về xuất xứ, hình thức xử phạt tiền với mức từ 200.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với cá nhân và gấp đôi mức này đối với tổ chức, tùy thuộc vào giá trị hàng hóa vi phạm, mức độ, tính chất, hành
và xử lý theo các quy định theo luật định cụ thể và đảm bảo thống nhất giữa các chủ thể áp dụng
1.3.4.2 Nhóm hình thức khắc phục hậu quả
Cũng như các vi phạm hành chính trong các lĩnh vực khác, vi phạm về xuất xứ hàng hóa có thể gây ra những hậu quả, thiệt hại trên thực tế, vì vậy ngoài việc bắt buộc cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu hình thức xử phạt, các chủ thể này còn bị buộc phải khắc phục những hậu quả do hành vi vi phạm gây ra (nếu có) Bản chất của quy định này là nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra, hoặc cũng có thể
là khôi phục lại những quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm hại bởi hành vi vi phạm đó [17, 59] Các vi phạm hành chính về xuất xứ áp dụng các hình thức khắc phục hậu quả như: (1) Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên nhãn, bao bì hàng giả; (2) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa giả mạo đối với hành vi nhập khẩu hàng giả; (3) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm; (4) Buộc thu hồi loại bỏ yếu tố vi phạm trên nhãn, bao bì hàng giả đang lưu thông trên thị trường; (5) Buộc cải
Trang 35chính thông tin sai sự thật về xuất xứ hàng hóa đối với hành vi vi phạm Như vậy, đối với mỗi hành vi vi phạm cơ quan nhà nước sẽ ấn định áp dụng một hoặc một số biện pháp khắc phục hậu quả cụ thể, phù hợp
đồ vật; (5) Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính…
1.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xử lý hành vi vi phạm về xuất xứ hàng hóa
1.3.5.1 Mức độ hoàn thiện của pháp luật quy định nội dung và chế tài
xử phạt vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hóa
Theo Điều 8 Hiến pháp năm 2013, Nhà nước ta được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ Do đó, pháp luật vừa là mục đích vừa là công cụ quản lý xã hội của nhà nước Hệ thống pháp luật đầy đủ về số
Trang 36lượng và hoàn thiện về chất lượng là yếu tố đầu tiên và quyết định đến việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý triệt để các hành vi vi phạm về xuất xứ hàng hóa Ngược lại, khi không ban hành quy định pháp luật đầy đủ, kịp thời, còn mâu thuẫn hoặc chồng chéo thì hiệu quả phòng ngừa cũng như xử lý các vi phạm sẽ giảm Xuất xứ hàng hóa không phải là một lĩnh vực mới nhưng chứa nhiều yếu tố nhạy cảm, do đó, cần phải hoàn thiện cả về pháp luật nội dung quy định các nguyên tắc, quy trình cụ thể về xuất xứ cũng như phải hoàn thiện
cả pháp luật về xử lý vi phạm về xuất xứ Việc hoàn thiện pháp luật cũng cần
dựa trên nguyên tắc pháp chế, theo đó “mọi vi phạm pháp luật phải được phát
phài xử lý đúng người đúng tội, tính đến một cách toàn diện, đầy đủ mọi tình tiết
có liên quan đến hành vi [16, tr 400]
1.3.5.2 Yếu tố kinh tế, xã hội
Đây cũng là yếu tố tác động lớn đến vi phạm về xuất xứ Trước đây, trong nền kinh tế chưa phát triển, sự giao thoa, kết nối với các nước chưa nhiều; nhận thức của người dân chưa cao, việc lợi dụng, gian lận xuất xứ hàng hóa chưa được phát hiện nhiều Đến nay, nền kinh tế mở cửa, Việt Nam đã gia nhập nhiều Hiệp định thương mại song phương, đa phương, việc ưu tiên, áp thuế lên các mặt hàng của các nước khác nhau; nhận thức của người dân đã tăng lên, lựa chọn các mặt hàng uy tín, đảm bảo chất lượng, tình hình gian lận xuất xứ sẽ ngày càng phát triển và đa dạng về hình thức, phương pháp thực hiện
1.3.5.3 Ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, doanh nghiệp
và người dân
Đây là một trong các nội dung yêu cầu pháp chế Khi có một hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ cần phải có bộ phận cán bộ, công chức đưa các quy định đó vào đời sống, giám sát các quy định này Do vậy, đây là bộ phận quan
Trang 37trọng, nếu thực thi nghiêm minh thì pháp luật được áp dụng theo đúng quy định, nếu không sẽ lợi dụng kẽ hở của pháp luật để mưu cầu trục lợi cho bản thân, pháp luật bị bóp méo, hiểu một cách lệch lạc Cũng như thế, khi đã có quy định của pháp luật, người dân, doanh nghiệp cần thực hiện đúng, vì môi trường kinh doanh văn minh, đảm bảo lợi ích cho toàn xã hội, cũng như đảm bảo quyền lợi của chính mình khi tham gia sân chơi chung với các doanh nghiệp của các nước khác mạnh hơn và sẵn sàng áp dụng những quy định pháp luật nghiêm khắc đối với các hành vi gian lận thương mại
1.3.5.4 Công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi các quy định pháp luật
về xuất xứ và việc xử phạt đối với vi phạm về xuất xứ
Đây là hoạt động không thể thiếu nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, bảo đảm an toàn xã hội Kiểm tra, giám sát nhằm kịp thời phát hiện những vi phạm trong áp dụng pháp luật để kịp thời chấn chỉnh, đồng thời kiến nghị sửa đổi các quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn, bổ sung các quy định pháp luật còn thiếu, còn kẽ hở
Như vậy, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc xử phạt các vi phạm pháp luật về xuất xứ Việc đảm bảo, thúc đẩy các yếu tố này một cách đồng
bộ, hiệu quả phòng ngừa, ngăn chặn và xử phạt các vi phạm về xuất xứ sẽ được hiệu quả, đảm bảo cho xã hội được ổn định và phát triển
Trang 38Tiểu kết chương 1
Chương 1 trên đây đã trình bày những vấn đề lý luận về xuất xứ hàng hóa cũng như các vấn đề chung về xử lý vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hóa gồm: khái niệm, nguyên tắc, thẩm quyền, thủ tục xử phạt hành vi
vi phạm về xuất xứ hàng hóa Theo đó, xuất xứ hàng hoá là nước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hoá hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hoá trong trường hợp có nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất hàng hoá đó Biểu hiện của xuất xứ có thể trên nhãn, bao bì hàng hóa; trên chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa hoặc trên hồ sơ hải quan hoặc các tài liệu khác nhằm chứng minh xuất xứ hàng hóa Khi có vi phạm về xuất xứ sẽ bị xử phạt theo quy định Tại Chương 1, tác giả đã đưa ra các quy định quản lý nhà nước về xuất xứ nhằm nhận diện bao quát các nội dung đối với xử lý vi phạm về xuất
xứ hàng hóa Đồng thời là cơ sở để phân tích việc phối kết hợp giữa các cơ quan chức năng ở các chương sau
Chương 1 cũng đã nêu và phân tích các yếu tố tác động đến xử lý vi phạm về xuất xứ hàng hóa như mức độ hoàn thiện của pháp luật quy định nội dung và chế tài xử phạt vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hóa; Yếu tố kinh
tế, xã hội; Ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, doanh nghiệp
và người dân; Công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi các quy định pháp luật
về xuất xứ và việc xử phạt đối với vi phạm về xuất xứ
Trên cơ sở lý luận tại Chương 1, tác giả sẽ phân tích cụ thể về thực trạng pháp luật và tình hình thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
về xuất xứ tại Chương 2
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT XỬ LÝ
VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ XUẤT XỨ HÀNG HÓA
2.1 Thực trạng pháp luật xử lý vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hóa
2.1.1 Các hình thức vi phạm chủ yếu về xuất xứ hàng hóa
Trong xu hướng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam
đã ký kết nhiều Hiệp định thương mại tự do (FTA) với các nước trên thế giới
và tạo ra lợi thế cạnh tranh rất lớn cho Việt Nam trong việc thu hút đầu tư FDI, tăng trưởng quy mô kim ngạch xuất nhập khẩu Bên cạnh mặt tích cực
đó cũng đặt ra nhiều thách thức đối với cơ quan quản lý, nhất là kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hành vi gian lận lợi dụng chính sách thông thoáng của nhà nước Việt Nam Trong các hành vi gian lận, nổi lên vấn đề lợi dụng xuất
xứ hàng hóa Việt Nam nhằm mục tiêu hưởng lợi về thuế và lẩn tránh các “đòn trừng phạt” từ rào cản kỹ thuật khi các nước tăng cường bảo hộ sản xuất trong nước Các hành vi gian lận xuất xứ xảy ra ngày càng nhiều, đa dạng về hình thức và tinh vi hơn về phương pháp, có thể kể đến một số hành vi như:
2.1.1.1 Đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam
(i) Doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài nhưng trên nhãn hàng hóa không thể hiện nhãn hiệu, xuất xứ;
(ii) Doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài nhưng trên hàng hóa đã thể hiện xuất xứ Việt Nam
2.1.1.2 Đối với hàng hóa Việt Nam xuất khẩu
(i) Doanh nghiệp nhập khẩu nguyên vật liệu, bán thành phẩm, linh kiện, cụm linh kiện, phụ tùng về Việt Nam để gia công, lắp ráp, sản xuất thành phẩm hoàn chỉnh nhưng không đáp ứng tiêu chí xuất xứ Việt Nam theo quy định tại Nghị định số 31/2018/NĐ-CP ngày 08/3/2018 của Chính phủ quy
Trang 40định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa và Thông tư số 05/2018/TT-BCT ngày 03/4/2018 của Bộ Công thương về xuất xứ hàng hóa, tuy nhiên doanh nghiệp vẫn khai xuất xứ Việt Nam trên tờ khai và trên nhãn hàng hóa để tiêu thụ tại thị trường trong nước hoặc xuất khẩu;
(ii) Doanh nghiệp sử dụng linh kiện được nhập khẩu từ nhiều nước với linh kiện được sản xuất trong nước để lắp ráp thành sản phẩm hoàn chỉnh và xuất khẩu, trên tờ khai, bao bì, hàng hóa xuất khẩu thể hiện xuất xứ Việt Nam;
(iii) Vi phạm liên quan đến chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa: + Doanh nghiệp cung cấp các tài liệu, chứng từ không đúng sự thật cho
cơ quan có thẩm quyền khi xin cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa;
+ Doanh nghiệp sử dụng bản chứng nhận công đoạn gia công, chế biến tại Việt Nam của cơ quan có thẩm quyền (VCCI) để khai xuất xứ Việt Nam cho hàng hóa xuất khẩu;
+ Doanh nghiệp tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa mà chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép; Doanh nghiệp sử dụng chứng từ tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa giả;
(iv) Doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa có mức thuế suất là 0%, hàng hóa không đáp ứng tiêu chí xuất xứ Việt Nam nhưng khai báo tên hàng có mã nước xuất xứ là Việt Nam
2.1.1.3 Các mặt hàng có nguy cơ vi phạm về xuất xứ
Theo cập nhật đến ngày 30/8/2019 của Bộ Công thương, có đến 25 sản phẩm nằm trong danh sách này Trong đó, có 03 sản phẩm nằm ở mức độ cảnh báo 4, tức là cơ quan điều tra nước ngoài đã khởi xướng điều tra lẩn tránh thuế với hàng xuất khẩu của Việt Nam, gồm: Gỗ dán dùng nguyên liệu
là gỗ cứng, ống cơ khí bằng thép và hợp kim lạnh, bánh xe thép
09 mặt hàng nằm trong mức độ cảnh báo 3, tức là kim ngạch nhập khẩu
từ nước bị điều tra ở mức cao trước khi bị áp thuế nhưng đã giảm mạnh sau