1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ luật hành chính vai trò của hiến pháp đối với dân chủ tại việt nam

112 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò của hiến pháp đối với dân chủ tại Việt Nam
Tác giả Bùi Hoàng Anh
Người hướng dẫn PGS.TS Đặng Minh Tuấn
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hành chính và Luật Hiến pháp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau khi Hiến pháp năm 2013 được hoàn thiện và ban hành, các công trình nghiên cứu đã đi sâu phân tích và đánh giá chi tiết các nội dung khác nhau của Hiến pháp năm 2013, trong đó có các

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÙI HOÀNG ANH

VAI TRß CñA HIÕN PH¸P §èI VíI D¢N CHñ

T¹I VIÖT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÙI HOÀNG ANH

VAI TRß CñA HIÕN PH¸P §èI VíI D¢N CHñ

T¹I VIÖT NAM

Chuyên ngành: Luật Hành chính và Luật Hiến pháp

Mã số: 8380101.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐẶNG MINH TUẤN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Bùi Hoàng Anh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA HIẾN PHÁP ĐỐI VỚI DÂN CHỦ 7

1.1 Một số khái niệm cơ bản 7

1.1.1 Hiến pháp 7

1.1.2 Dân chủ 12

1.2 Các khía cạnh thể hiện vai trò của Hiến pháp đối với dân chủ 20

1.2.1 Khế ước xã hội – nguồn gốc của một bản Hiến pháp 20

1.2.2 Hiến pháp ghi nhận các nền tảng của dân chủ 22

1.2.3 Các yếu tố bảo đảm dân chủ 31

1.3 Vai trò Hiến pháp đối với dân chủ ở một số quốc gia 36

1.3.1 Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ 36

1.3.2 Cộng hòa Liên bang Đức 40

1.3.3 Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc 43

Kết luận chương 1 53

Chương 2: VAI TRÒ CỦA HIẾN PHÁP ĐỐI VỚI DÂN CHỦ TẠI VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 54

2.1 Quan niệm về vai trò của Hiến pháp ở Việt Nam 54

2.1.1 Quan niệm về vai trò của Hiến pháp trong lịch sử lập hiến ở Việt Nam 54

2.1.2 Đánh giá chung 59

2.2 Các nền tảng của dân chủ trong Hiến pháp năm 2013 60

2.2.1 Nguyên tắc chủ quyền nhân dân và các hình thức thực hiện dân chủ 60

Trang 5

2.2.2 Nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước 62

2.2.3 Đề cao tính đại diện và vai trò của Quốc hội 67

2.2.4 Ghi nhận các quyền con người, quyền công dân 69

2.2.5 Đề cao tư pháp độc lập và vai trò bảo vệ con người của Tòa án 72

2.3 Những khó khăn, thách thức trong việc thực thi các nền tảng dân chủ hiến định 75

2.4 Một số giải pháp bảo đảm vai trò của Hiến pháp năm 2013 đối với dân chủ ở Việt Nam 78

2.4.1 Thay đổi nhận thức về Hiến pháp 78

2.4.2 Hoàn thiện các quy định hiến pháp về dân chủ 80

2.4.3 Xây dựng, hoàn thiện cơ chế thực thi dân chủ hiến định 93

Kết luận Chương 2 100

KẾT LUẬN 101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài và lý do chọn đề tài

Việt Nam đang trên con đường hội nhập và phát triển Để bước đi vững chãi trên con đường này, trong nhiều năm qua, Việt Nam đã và đang tiến hành những cải cách mạnh mẽ về nhiều mặt, đặc biệt những vấn đề liên quan đến khắc phục khó khăn và hoàn thiện thể chế, chính sách, các giải pháp để đưa các quy định pháp luật

đi vào cuộc sống một cách đầy đủ và hiệu quả hơn Trong quá trình ấy, không thể thiếu vắng vai trò của Hiến pháp Hiến pháp là cơ sở hiến định, là tiền đề cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền, tăng cường dân chủ hóa đời sống xã hội và bảo đảm các quyền cơ bản của con người, của công dân Điều này là phù hợp với xu hướng chung trên thế giới hiện nay, đáp ứng mong mỏi và kỳ vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân

Hiến pháp Việt Nam hiện hành ra đời từ năm 2013, Hiến pháp được đánh giá

là có những tiến bộ đáng kể so với Hiến pháp năm 1992, phù hợp với con đường phát triển của nước ta trong thời đại mới Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung hết sức quan trọng, nhất là các quy định liên quan đến tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; các nguyên tắc dân chủ hiến định quan trọng mở đường cho việc tiếp tục thực hiện cải cách và phát triển mọi mặt của đất nước Kể từ khi đi vào cuộc sống cho đến nay, Hiến pháp năm 2013 đã tác động tích cực đến mọi mặt của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội nước ta, giúp môi trường chính trị ngày càng cởi mở

và thu hút sự quan tâm cũng như tham gia rộng rãi của quần chúng nhân dân Tuy nhiên, vẫn có những vấn đề còn tồn tại liên quan đến một số hạn chế và vướng mắc trong các quy định của Hiến pháp và việc thực thi Hiến pháp trong thực tế đời sống

xã hội Trong bối cảnh Việt Nam đang hướng đến xây dựng nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa và thực hiện dân chủ hóa đời sống kinh tế - xã hội, cần có những đánh giá toàn diện, khách quan trên tất cả các mặt của Hiến pháp, cả những điểm tích cực và những điểm hạn chế nhằm nhanh chóng nhận biết những vấn đề đang tồn tại và đưa ra các giải pháp khắc phục phù hợp trong tương lai

Trang 7

Việc phân tích và đánh giá Hiến pháp 2013 cả về phương diện nội dung và phương diện thực thi trên thực tế là vô cùng cần thiết, giúp nâng cao hiểu biết và nhận thức một cách đầy đủ nhất về những đóng góp của Hiến pháp năm 2013 đối với quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội Việt Nam trong những năm vừa qua (từ khi Hiến pháp 2013 được thông qua đến nay)

Với những lý do trên, người viết chọn chủ đề “Vai trò của hiến pháp đối với

dân chủ tại Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Từ lâu, các nội dung liên quan đến dân chủ trong hiến pháp và Hiến pháp Việt Nam là những chủ đề quen thuộc trong các giới học thuật, chính trị và hoạt động xã hội; xuất hiện trong rất nhiều bài viết, đánh giá và công trình nghiên cứu khác của các tác giả trong và ngoài nước Các nghiên cứu thường tập trung bàn luận

về những khía cạnh xoay quanh phân tích bản chất và ý nghĩa của hiến pháp, phân tích các thành phần trong hiến pháp, mối quan hệ cụ thể giữa sự phát triển của hiến pháp và sự phát triển của nền dân chủ,

Đặc biệt từ khi những yêu cầu về cải cách Hiến pháp năm 1992 được đặt ra,

có rất nhiều hội thảo và chương trình nghiên cứu đã được tổ chức và diễn ra sôi nổi, cùng với đó là sự ra đời của rất nhiều các trình khoa học khác nhau về hiến pháp

Đáng chú ý, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội đã xuất bản cuốn sách “Hiến

pháp: Những vấn đề lý luận và thực tiễn” (Hà Nội, năm 2011), đây là tập hợp đồ sộ

của hơn 97 bài nghiên cứu của nhiều nhà khoa học đầu ngành, nhà nghiên cứu có uy tín ở trong và ngoài nước Các bài viết đã đề cập đến rất nhiều chủ đề và khía cạnh

đa dạng của luật hiến pháp và chính trị học, được chia làm ba nội dung cơ bản: những vấn đề lý luận chung về hiến pháp; các khía cạnh của Hiến pháp Việt Nam sửa đổi; kinh nghiệm xây dựng và sửa đổi Hiến pháp trên thế giới Trong đó, có một

số bài viết đề cập trực tiếp đến mối liên hệ giữa dân chủ và hiến pháp như “Hiến

pháp trong đời sống xã hội và quốc gia” của GS.TSKH Đào Trí Úc, “Vai trò và các nội dung cơ bản của Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền dân chủ” của

GS.TS Nguyễn Đăng Dung,…; một số bài viết bàn về các nội dung liên quan đến

Trang 8

dân chủ và bảo đảm dân chủ trong Hiến pháp Việt Nam như: “Cải cách Hiến pháp

Việt Nam trong xu thế chuyển đổi” của TS Đặng Minh Tuấn, “Quyền lực nhân dân

ở nước ta thể hiện trong Hiến pháp 1992 – Những vấn đề đặt ra” của GS.TS Trần

Ngọc Đường, “Tài phán Hiến pháp: Những vấn đề phổ biến, đặc thù quốc gia và

mô hình thích hợp cho Việt Nam” của TS Võ Trí Hảo, “Bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam: Thực trạng và một số kiến nghị” của TS Hoàng Văn Tú,… Tạp chí Nghiên

cứu Lập pháp của Văn phòng Quốc hội cũng đã tập hợp một số bài viết đã đăng trên

Tạp chí để xuất bản cuốn sách “Bàn về lập hiến” (NXB Lao động, Hà Nội, năm

2010) Cuốn sách đặc biệt tập trung vào các vấn đề về thi hành và bảo vệ hiến pháp tại Việt Nam cùng những kinh nghiệm lập hiến ở nước ngoài

Sau khi Hiến pháp năm 2013 được hoàn thiện và ban hành, các công trình nghiên cứu đã đi sâu phân tích và đánh giá chi tiết các nội dung khác nhau của Hiến pháp năm 2013, trong đó có các chế định về tổ chức bộ máy nhà nước và chế định quyền con người, quyền công dân, bao gồm những điểm mới tích cực và những hạn

chế còn tồn tại, tiêu biểu như: “Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã

hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013” của GS.TS Nguyễn Đăng Dung – PGS.TS

Trịnh Quốc Toản – TS Đặng Minh Tuấn (NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà

Nội, năm 2016); “Bình luận khoa học Hiến pháp hiện hành (năm 2013)” của

GS.TS Hoàng Thế Liên (NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, năm 2018)

Ngoài ra, trong cuốn sách “Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội

chủ nghĩa Việt Nam năm 2013” của Viện Chính sách công và pháp luật (NXB Lao

động xã hội, Hà Nội, năm 2014), có nhiều bài viết phân tích, đánh giá về một số quy định liên quan đến bảo đảm quyền con người và dân chủ trong Hiến pháp mới,

đáng chú ý như: “Hiến pháp năm 2013 và các hình thức thực thi nguyên tắc tất cả

quyền lực thuộc về nhân dân” của GS.TS Thái Vĩnh Thắng, “Nguyên tắc về giới hạn quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013” của TS Vũ

Công Giao – ThS Lê Thị Thúy Hương, “Phân công, phối hợp và kiểm soát quyền

lực theo Hiến pháp năm 2013” của TS Đặng Minh Tuấn

Trong các công trình khoa học, một số có nội dung và kết cấu tương đối gần

Trang 9

gũi với đề tài của người viết Cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về việc

xây dựng và ban hành hiến pháp” của GS.TS Trần Ngọc Đường và ThS Bùi Ngọc

Sơn (NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, năm 2013) đã cung cấp những kiến thức rất chi tiết về việc xác định mô hình, phạm vi, nội dung và quy trình ban hành, sửa đổi hiến pháp thông qua kinh nghiệm lập hiến của một số mô hình hiến pháp

trên thế giới cũng như thực tiễn lập hiến của Việt Nam Luận án “Sự phát triển của

hiến pháp trong tiến trình dân chủ hóa ở Đông Á” tại Khoa Luật – Đại học Quốc

gia Hà Nội (Hà Nội, năm 2015) của TS Lã Khánh Tùng đã phân tích rất tỉ mỉ và lý giải mối quan hệ giữa dân chủ hóa và sự phát triển của hiến pháp diễn ra tại khu vực Đông Á, đồng thời đưa ra một số gợi ý và đề xuất đối với việc hoàn thiện hiến pháp, phát huy dân chủ tại Việt Nam Đây là công trình khoa học đã được sử dụng như là một tài liệu tham khảo chính trong phần ví dụ của luận văn này

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã phần nào đề cập đến những khía cạnh thể hiện vai trò của hiến pháp trong nền dân chủ với nhiều góc nhìn đa dạng và ví dụ khác nhau (Việt Nam và các quốc gia khác) Tuy nhiên, các nghiên cứu vẫn chỉ đề cập các khía cạnh này theo từng nội dung riêng lẻ mà chưa tổng hợp một cách toàn diện những khía cạnh cơ bản nhất (cả bên trong và bên ngoài hiến pháp) tác động đến việc xây dựng nền dân chủ và thực thi các nguyên tắc dân chủ hiến định tại Việt Nam Do đó, việc hệ thống hóa vai trò của hiến pháp đối với dân chủ tại Việt Nam có ý nghĩa nhất định về mặt lý luận và thực tiễn

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn này tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của hiến pháp đối với dân chủ tại Việt Nam

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, người viết đã đặt ra các nhiệm vụ chính sau:

- Làm rõ bản chất của hiến pháp và dân chủ thông qua tìm hiểu nguồn gốc ra đời và các quan niệm về hiến pháp, dân chủ và một số khái niệm có liên quan

- Những khía cạnh thể hiện vai trò của hiến pháp đối với dân chủ: Các nguyên tắc dân chủ cốt lõi cần được ghi nhận trong một bản hiến pháp dân chủ; Các yếu tố bảo đảm thực thi các nền tảng dân chủ hiến định

Trang 10

- Quan niệm trong việc xây dựng và ban hành Hiến pháp tại Việt Nam Những đóng góp của Hiến pháp năm 2013 với vai trò là nền tảng hiến định đối với quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội tại Việt Nam

- Những khó khăn, thách thức đặt ra đối với việc thi hành Hiến pháp trên thực tế đời sống Một số giải pháp có thể thực hiện để thúc đẩy việc thực thi các nguyên tắc dân chủ của Hiến pháp năm 2013 trong đời sống xã hội Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn tập trung vào Hiến pháp Việt Nam năm

2013 (những yếu tố thể hiện vai trò của Hiến pháp đối với dân chủ) và một số văn bản pháp luật có liên quan; thực tiễn tình hình thực thi nền tảng dân chủ hiến định trong đời sống xã hội Việt Nam, quá trình xây dựng hiến pháp và nền dân chủ tại Hoa Kỳ, Đức và khu vực Đông Bắc Á

- Phạm vi nghiên cứu: Về không gian: Vấn đề dân chủ và thực thi dân chủ tại Việt Nam, đồng thời cũng khái quát tình hình dân chủ tại một số quốc gia khác Về thời gian: tập trung vào thời điểm Hiến pháp 2013 được lên kế hoạch, soạn thảo và ban hành cho đến nay, đồng thời cũng có những liên hệ giữa lịch sử và hiện tại

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và theo quan điểm, đường lối của Đảng về Hiến pháp, Nhà nước và pháp luật

- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong luận văn gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh tài liệu dựa vào các tư liệu gốc liên quan đến hiến pháp, pháp luật và các công trình khoa học của các tác giả có uy tín; phương pháp đánh giá và giả thiết dựa trên việc xem xét nội dung các quy định của Hiến pháp và tính khả thi các quy định trên thực tế; phương pháp lịch sử dựa trên nguồn gốc, quá trình phát triển của đối tượng từ đó rút ra bản chất của đối tượng

6 Những điểm mới và đóng góp của luận văn

Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống về vai trò của một Hiến pháp đối với tình hình dân chủ nói chung cũng như thực tiễn tình hình dân chủ tại Việt Nam nói

Trang 11

riêng Những kết quả khoa học của luận văn sẽ góp phần bổ sung vào cơ sở lý luận và thực tiễn về ý nghĩa của hiến pháp trong dân chủ hóa đời sống chính trị - xã hội

Luận văn được trình bày với ngôn ngữ rõ ràng, được người viết đơn giản hóa

để người đọc dễ tiếp cận với nội dung và ý tưởng muốn trình bày Nội dung luận văn mang tính cô đọng và khái quát cao nhưng vẫn bảo đảm tương đối đầy đủ về ý nghĩa và tính liên kết

Luận văn tổng hợp một số lý thuyết, quan điểm trên thế giới về vấn đề hiến pháp, dân chủ, và mối quan hệ giữa những yếu tố này Những khía cạnh của hiến pháp tác động lên một nền dân chủ (từ khi lên kế hoạch xây dựng hiến pháp cho đến lúc thực hiện xây dựng và thông qua hiến pháp, ảnh hưởng của các nguyên tắc dân chủ hiến định đối với xã hội) Ngoài ra, người viết cũng đưa ra một số khía cạnh có thể tác động lên việc bảo đảm thực thi các nguyên tắc dân chủ hiến định

Luận văn phân tích, đánh giá về sự thay đổi của hiến pháp với sự phát triển của dân chủ tại Việt Nam trên từng phương diện cụ thể: chủ quyền nhân dân, quyền con người và quyền công dân, cơ chế phân quyền, độc lập tư pháp,…

Luận văn thể hiện góc nhìn riêng của người viết về vấn đề hiến pháp và dân chủ Một số giải pháp có thể thực hiện để thúc đẩy vai trò của Hiến pháp năm 2013 trong quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội Việt Nam

7 Bố cục của luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 2 chương:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận về vai trò của hiến pháp đối với dân chủ và

các ví dụ điển hình

Chương 2 Vai trò của hiến pháp đối với dân chủ tại Việt Nam và một số giải

pháp có thể thực hiện

Trang 12

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA HIẾN PHÁP

ĐỐI VỚI DÂN CHỦ

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Hiến pháp

1.1.1.1 Sự phát triển và một số quan niệm về hiến pháp

Hiến pháp là một thuật ngữ có từ rất sớm và gắn liền cùng với sự phát triển của nhà nước Theo tiếng Latinh “hiến pháp” – “constitutio”, có nghĩa là sự thiết lập, xác định, cơ cấu Thời La Mã cổ đại, một số hoàng đế đã ban hành văn bản dưới hình thức hiến pháp và mang tính chất như là một loại nguồn của pháp luật Ở phương Đông, “hiến pháp” là một từ Hán được sử dụng từ thế kỉ VIII trước Công nguyên Trong xã hội phong kiến, một số văn bản chính trị đã ra đời - có tính chất giống với hiến pháp, tiêu biểu nhất là bản Đại Hiến chương Magna Carta của Vương quốc Anh (năm 1215) Tuy nhiên cho đến thời điểm đó, hiến pháp vẫn chỉ là một văn kiện để điều chỉnh mối quan hệ giữa những người thống trị và thực thi chính sách của nhà nước, cũng như chưa có sự phân biệt giữa hiến pháp và pháp luật [10, tr.13-14]

Hiến pháp chỉ thực sự mang ý nghĩa là “đạo luật cơ bản của nhà nước” khi cách mạng tư sản diễn ra và là sản phẩm của chủ nghĩa hiến pháp Những lý luận manh nha của chủ nghĩa hiến pháp được nói đến bởi Aristotle vào thời kỳ Hi Lạp cổ đại, sau đó được nhắc lại bởi các nhà tư tưởng châu Âu (với các đại diện tiêu biểu là John Locke, Thomas Hobbes và Rouseau) vào thế kỷ XVII, XVIII bắt nguồn từ quan niệm hiến pháp là một bản khế ước xã hội giữa người cầm quyền và dân chúng Bản khế ước này đòi hỏi thẩm quyền tối hậu của chính quyền phải luôn luôn tuân thủ sự đồng ý của những người bị cai trị [10, tr.14-15]

Cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản chống lại giai cấp phong kiến chuyên chế được thực hiện với khẩu hiệu vì tự do, dân chủ, công bằng, bình đẳng, bác ái,… đã thu hút được sự ủng hộ của đông đảo nhân dân Mục tiêu của cuộc đấu tranh là đòi hỏi việc cai trị của giai cấp cầm quyền phải tuân theo những quy định

Trang 13

pháp lý nhất định, và những quy định đó phải được đặt trong một đạo luật cơ bản của nhà nước [10, tr.15-16] Sau các cuộc cách mạng tư sản, sự chuyển giao quyền lực nhà nước đã diễn ra Ở một số quốc gia, giai cấp tư sản giành thắng lợi triệt để, quyền lực được chuyển giao hoàn toàn cho giai cấp tư sản, hình thành nhà nước dân chủ tư sản Ở các quốc gia khác, giai cấp tư sản giành thắng lợi nhưng một phần quyền lực vẫn thuộc về giai cấp phong kiến, hình thành nên nhà nước quân chủ hạn chế Sự chuyển giao quyền lực này được ghi nhận trong một văn bản – Hiến pháp [10, tr.16]

Giai cấp tư sản quan niệm:

Hiến pháp là một văn bản có ý nghĩa pháp lý đặc biệt, trong đó xác định

cơ cấu tổ chức cũng như chức năng của các cơ quan nhà nước, vạch định

các nguyên tắc hoạt động của các cơ quan đó hay Hiến pháp là đạo luật

cơ bản, đứng trên các đạo luật khác, xác định vị trí pháp lý, nguyên tắc, hình thức tổ chức và hoạt động, mối quan hệ lẫn nhau giữa các cơ quan nhà nước và mối quan hệ qua lại giữa Nhà nước và công dân [10, tr.17] Chủ nghĩa Mác – Lênin có cách nhìn nhận về hiến pháp một cách thực tế hơn dựa theo bối cảnh phân hóa giai cấp mạnh mẽ đương thời, đã kết luận rằng: “Hiến pháp là văn bản ghi nhận mối tương quan giữa các lực lượng chính trị trong xã hội” Nhìn nhận hiến pháp dưới góc độ giai cấp của nó: Hiến pháp là của ai? Phục vụ lợi ích của giai cấp nào? Hiến pháp được tạo ra vì một trật tự xã hội theo định hướng giai cấp nào? Theo đó, mọi Hiến pháp đều là sản phẩm của đấu tranh giai cấp, đều

là công cụ mà giai cấp hoặc liên minh chính trị sử dụng để khẳng định và duy trì sự thống trị của mình [32, tr.29]

Theo Mác – Ăngghen trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản thì hiến pháp cũng như

pháp luật của giai cấp tư sản nói chung “là ý chí của giai cấp các ông (tư sản) được nâng lên thành luật, cái ý chí mà nội dung là do những điều kiện vật chất và đời sống của giai cấp các ông quyết định” [10, tr.18] Hiến pháp cũng như bản tuyên ngôn về chủ quyền nhân dân, về chế độ đại nghị, về quyền và tự do của công dân dưới chế độ tư bản chính là sự thể hiện lợi ích của giai cấp tư sản dưới danh nghĩa lợi ích chung của toàn thể nhân dân Do vậy, C Mác viết: “Hiến pháp là kết quả của cuộc đấu tranh giai

Trang 14

cấp, được lập ra vì lợi ích của giai cấp chiến thắng giành được quyền lực chính trị, thể hiện sự tương quan lực lượng giai cấp trong xã hội” [10, tr.18]

Quan điểm trên xuất phát từ bối cảnh ra đời của các bản hiến pháp ở phương tây sau các cuộc cách mạng tư sản Ở giai đoạn đầu, khi giai cấp tư sản vừa mới đoạt được quyền lực (một phần hoặc toàn bộ) từ giai cấp phong kiến, hiến pháp ghi nhận mối tương quan lực lượng chính trị giữa giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến Khi quyền lực nhà vua bị hạn chế và giai cấp phong kiến suy yếu, hiến pháp lại phản ánh mối quan hệ giữa giai cấp tư sản và nhân dân lao động [10, tr.17]

Nói cho cùng thì sự ra đời những hiến pháp tư sản chỉ đơn thuần là việc phân chia lại quyền lực giữa các “ông chủ” với nhau (giữa quý tộc và tư sản), trong khi đại đa số người dân (nhân dân lao động) thì được đặt bên ngoài cuộc chia phần ấy Nhân dân lao động không được hưởng lợi hoặc hưởng lợi rất ít từ các cuộc cách mạng tư sản mà họ đóng một phần quan trọng trong thắng lợi đó Họ vẫn phải tiếp tục cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản để giành lấy quyền lực chính trị, xây dựng nên hiến pháp cho giai cấp của mình Chỉ khi đó, quyền lợi của nhân dân lao động mới được bảo vệ và thực thi đầy đủ nhất

Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn nhận hiến pháp dưới góc độ lợi ích giai cấp và tương quan giữa các lực lượng chính trị thôi là chưa đủ Bên cạnh việc đem lại lợi ích cho giai cấp tư sản, để xoa dịu quần chúng lao động và biện minh cho nhà nước của mình, các bản hiến pháp tư sản cũng ghi nhận các giá trị về nhân quyền và tự do, những điều phản ánh khát vọng và nhu cầu của toàn thể nhân dân trong xã hội Những giá trị này ít nhiều mang đến lợi ích cho các giai cấp khác trong xã hội và là

cơ sở cho các cuộc đấu tranh sau này Do vậy, hiến pháp đồng thời cũng là cơ sở

pháp lý của toàn xã hội nhằm ghi nhận và thể hiện những lợi ích tương hợp của các

tầng lớp xã hội, lợi ích chung của nhân dân, của dân tộc, đương nhiên ở đó luôn

luôn có tính đến và trên thực tế phải tính đến lợi ích và ý chí của tầng lớp, của giai cấp là lực lượng xã hội chủ đạo trong từng thời kỳ lịch sử nhất định Cũng vì thế mà những khái niệm “nhân dân”, “dân tộc” luôn luôn là những khái niệm mở đầu cho các bản Hiến pháp [32, tr.31]

Trang 15

Xu hướng lập hiến hiện đại ngày nay thường coi hiến pháp là một văn bản mang tính quy phạm chứ không chỉ thể hiện tính chính trị và tương quan chính trị,

dễ dàng thay đổi theo sự biến động của cán cân quyền lực giữa các lực lượng chính trị Các bản hiến pháp đã chứa đựng những quy phạm pháp lý điều chỉnh toàn bộ đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của quốc gia, đồng thời là văn bản quy định hiệu lực của các văn bản khác trong hệ thống pháp luật [10, tr.18-19] Dưới góc độ quyền con người, Hiến pháp được các nhà chính trị và học giả coi là văn bản thể hiện rõ ràng nhất giá trị của con người trong một nhà nước Alexander Hamilton đã

cho rằng: “Bản thân Hiến pháp, với ý nghĩa thực sự và mục đích hữu dụng thực sự,

chính là một đạo luật về các quyền” [7, tr.19]

Trong phạm vi của luận văn này, “Hiến pháp” - được hiểu theo hướng khái quát và chung nhất - “là đạo luật cơ bản của một quốc gia, dùng để xác định thể

chế chính trị, cách thức tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân” [7, tr.13]

1.1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của Hiến pháp

Hiến pháp có ba đặc trưng cơ bản là đặc trưng về mặt pháp lý, đặc trưng về mặt chính trị và đặc trưng về mặt tư tưởng

Đặc trưng về mặt pháp lý: Hiến pháp là Luật cơ bản của Nhà nước, có giá

trị và vị trí pháp lý cao nhất, việc ban hành và sửa đổi phải tuân theo một trình tự đặc biệt [32, tr.32] Các nguyên tắc và quy phạm của hiến pháp có vai trò định hướng, chi phối nội dung của các văn bản pháp luật khác, việc hình thành các văn bản pháp luật khác phải phù hợp với hiến pháp [10, tr.22]

Quan niệm về tính chất “cơ bản”, phạm vi điều chỉnh của hiến pháp cũng có

sự khác biệt Theo quan niệm truyền thống coi hiến pháp là Luật cơ bản nên hiến pháp chỉ quy định những yếu tố mang tính “cơ bản nhất” của nhà nước là tổ chức bộ máy và các quyền con người, quyền công dân (như Hiến pháp Hoa Kỳ) Những bản Hiến pháp theo quan niệm này được gọi là Hiến pháp có phạm vi điều chỉnh hẹp Các bản Hiến pháp ra đời sau Thế chiến thứ I và đặc biệt sau Thế chiến thứ II thường có phạm vi điều chỉnh rộng hơn Ngoài quy định về tổ chức bộ máy và các

Trang 16

quyền con người, quyền công dân, hiến pháp còn điều chỉnh những khía cạnh quan trọng khác của quốc gia như các vấn đề về kinh tế, sở hữu, đất đai, lao động, Đối với Hiến pháp các nước xã hội chủ nghĩa, những vấn đề này có tầm quan trọng đặc biệt vì liên quan trực tiếp đến mục tiêu và quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới tại các quốc gia này

Về quá trình lập hiến: một bản Hiến pháp từ khi bắt đầu lên kế hoạch thực hiện cho đến khi được thông qua phải trải qua một quá trình làm việc phức tạp và lâu dài, tiêu tốn nhiều công sức của nhà nước và xã hội Bởi vì là văn bản có “tính pháp lý cao nhất” nên mọi tư tưởng, nội dung và ngôn từ trong một bản Hiến pháp phải được xem xét, gọt dũa cẩn thận để xứng đáng là “gốc” của mọi đạo luật khác Hiến pháp cũng là đạo luật không thể tuỳ tiện thay đổi mà phải có giá trị sử dụng lâu dài, xét cả về vai trò và ý nghĩa quan trọng của nó cũng như mức độ tốn kém của xã hội để tạo ra bản Hiến pháp ấy Tuy nhiên do sự thay đổi không ngừng của dòng chảy lịch sử và đời sống chính trị các nước nên hiến pháp luôn phải thay đổi

để phù hợp với xu thế Những thay đổi này đôi khi chỉ là một số điều khoản bổ sung

và thay thế mà không làm thay đổi hoàn toàn tính chất và mô hình của hiến pháp như các Tu chính án trong Hiến pháp Hoa Kỳ, cũng có khi là sự thay đổi liên tục như Hiến pháp một số nước Đông Bắc Á (Đài Loan, Hàn Quốc) do quá trình chuyển đổi

ở các quốc gia này trong những năm 80 - 90 thế kỷ XX Có những quốc gia lại không quá nặng nề với việc sửa đổi hiến pháp, nên quá trình này diễn ra liên tục mỗi khi có lãnh đạo mới, ví dụ như Venezuela, từ năm 1811 đến nay đã có 40 lần ban hành Hiến pháp mặc dù nội dung hiến pháp ít có gì mới [32, tr.32]

Đặc trưng về mặt chính trị: Hiến pháp phản ánh tính chất của những quan

hệ được hiến pháp điều chỉnh Tính chất chính trị của hiến pháp phụ thuộc trước hết vào đặc điểm của đường lối chính trị, đặc điểm của hệ thống chính trị và tổ chức của quyền lực nhà nước tại các quốc gia [32, tr.32] Ngoài ra, các yếu tố khác như vai trò và năng lực của các đảng phái, các tổ chức xã hội dân sự cũng có ảnh hưởng lớn đến tính chất chính trị của hiến pháp Sự chuyển biến của hiến pháp luôn phụ thuộc vào sự chuyển biến của nền chính trị Nhìn vào sự thay đổi của hiến pháp, người ta có thể nhìn thấy được sự thay đổi về chính trị của một quốc gia diễn ra như

Trang 17

thế nào Bản Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 đã tồn tại hơn 200 năm cho đến nay những vẫn chưa có một sự thay đổi đáng kể gì, đã thể hiện tính ổn định rất cao của

hệ thống chính trị của Hoa Kỳ mà ít quốc gia nào có được

Đặc trưng về mặt tư tưởng: Nội dung của một bản Hiến pháp đều mang

trong nó một hệ tư tưởng nhất định Tính tư tưởng đó được thể hiện thông qua các nguyên tắc được hiến pháp ghi nhận, trong những quy phạm mang tính định hướng mục tiêu và cương lĩnh, thậm chí hiến pháp xác định một cách rõ ràng một

hệ tư tưởng chủ đạo Điều này thấy rõ nhất ở hiến pháp các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam Các nước này đều dựa trên một hệ tư tưởng thống nhất, mặc dù cũng có một vài biến thể (chủ nghĩa Mao, thuyết chủ thể Juche) nhưng cơ bản đều lấy nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin làm giá trị cốt lõi khi xây dựng nhà nước và hiến pháp của mình Hiến pháp của các nước xã hội chủ nghĩa thường ghi nhận một cách trang trọng hệ tư tưởng của mình vào ngay lời nói đầu, và trong những chương tiếp theo, tư tưởng ấy tiếp tục thể hiện tính dẫn dắt qua cách thức tổ chức bộ máy nhà nước, quy định về quản lý kinh tế - xã hội, Hiến pháp các nước khác như Hoa Kỳ và châu Âu thường không xác định rõ ràng hệ tư tưởng của nó

là gì, nhưng thông qua các ý niệm rải rác được cài vào các quy phạm, người ta vẫn

có thể nhận ra hệ tư tưởng của nó, đó là chủ quyền nhân dân, quyền con người và chế độ cộng hoà [32, tr.32]

1.1.2 Dân chủ

1.1.2.1 Sự phát triển và một số quan niệm về dân chủ

Trong cuộc đời mỗi con người, chúng ta luôn là thành viên của một tổ chức hoặc thiết chế nào đó, đó có thể là gia đình, làng xã, hội nhóm, nhà nước, Khi tập thể đưa ra một quyết định, nó sẽ có tác động đến tất cả các thành viên trong đó Vì vậy, quyết định đó cần được bàn bạc và có sự tham gia của tất cả các thành viên với quyền ngang nhau Quyết định chung của tập thể như vậy được gọi là dân chủ

Từ thời kỳ sơ khai của xã hội loài người, những biểu hiện về dân chủ đã manh nha xuất hiện trong rất nhiều xã hội khác nhau Những biểu hiện này bắt nguồn từ nhu cầu trao đổi, giúp đỡ và học hỏi kinh nghiệm giữa con người với con

Trang 18

người Tuy nhiên, dân chủ thời kỳ này còn mang tính sơ khai thông qua các ý niệm

và các dạng thực hành cơ bản, rõ rệt nhất là hoạt động bầu chọn các thủ lĩnh bộ lạc

và hội họp để thảo luận một số công việc chung của cộng đồng

Dân chủ (tiếng anh - democracy) chỉ thực sự có tên gọi chính thức từ thời kỳ

Hi Lạp cổ đại và để chỉ hệ thống chính trị của các thành bang cho phép người dân ở

đó được đi bỏ phiếu Dân chủ có ý nghĩa sơ khai là “sự cai trị của nhân dân” Đối nghịch với nó là “quân chủ” với nghĩa là “sự cai trị của nhà vua” Thuật ngữ “dân chủ” cho đến nay đã trải qua lịch sử hơn hai nghìn năm tồn tại với nhiều quan niệm

và định nghĩa tùy thuộc vào mỗi thời kỳ và từng xã hội Trong thời kỳ phong kiến chuyên chế, khái niệm “dân chủ” gần như bị lãng quên để nhường chỗ cho sự chuyên chế của các ông vua và lãnh chúa, “dân chủ” sau đó được sống lại khi chế độ phong kiến suy yếu Sau các cuộc cách mạng (còn gọi là cách mạng tư sản) tại nhiều nước châu Âu (Hà Lan, Anh, Pháp), dân chủ trở thành một trong những giá trị cốt lõi của các nhà nước mới được thành lập

Chỉ trong vòng ba thế kỷ, từ thế kỷ 18 – 20, tình hình thế giới đã có chuyển biến không ngừng, làm thay đổi sâu sắc, căn bản các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội của loài người từ dạng này sang dạng khác Điều này đã thúc đẩy các nhà triết học – chính trị (chủ yếu là phương tây) bổ sung, xây dựng và phát triển các trường phái và thế giới quan mới để giải thích về con người và thế giới, trong đó có các lý thuyết về dân chủ Về cơ bản, các lý thuyết này đều tiếp cận dân chủ ở ba khuynh hướng chính gồm: dân chủ là sự tham gia, dân chủ là sự cạnh tranh và dân chủ là sự

cân bằng Thứ nhất, quan niệm về dân chủ tốt cho rằng: Dân chủ là việc bảo đảm sự

tham gia tự do của các công dân vào đời sống chính trị, con người chỉ tự do khi họ

có thể thực sự bầu chọn ra người lãnh đạo và thảo luận để xây dựng pháp luật Thứ

hai, xuất phát từ quan niệm khá tiêu cực về con người đại chúng, Dân chủ được

định nghĩa: là sự hiện diện của các cuộc bầu cử cạnh tranh, công bằng, bầu cử có ý nghĩa kiểm soát giới tinh hoa khi họ cạnh tranh với nhau giành các vị trí công

quyền Thứ ba, theo một số nhà tư tưởng của Anh quốc và Hoa Kỳ: Dân chủ là sự

cân bằng (kiềm chế, đối trọng quyền lực) để bảo đảm dân chủ và chống lại sự

Trang 19

chuyên chế [31, tr.41] Về lợi ích của dân chủ, theo Robert Dahl – một chuyên gia Hoa Kỳ về dân chủ, đã cho rằng: dân chủ mang lại các lợi ích như giúp tránh được chế độ độc đoán, bảo vệ được các quyền và tự do cơ bản của cá nhân, bảo đảm quyền tự quyết của cộng đồng sống trong một hệ thống pháp luật họ tự lựa chọn, tạo

cơ hội tối đa có thể làm thỏa mãn trách nhiệm đạo đức của con người, tạo sự bình đẳng về chính trị, duy trì hòa bình giữa các quốc gia và gia tăng khả năng trở nên thịnh vượng [31, tr.43]

Tuy nhiên, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác lại có cách tiếp cận dân chủ theo hướng khác Thông qua những trải nghiệm thực tế cùng những phân tích chuyên sâu

về sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội theo thế giới quan duy vật lịch sử, mặc dù không hoàn toàn phủ nhận các quan niệm về dân chủ của các nhà triết học – chính trị theo trường phái khác nhưng theo họ, các quan niệm dân chủ được nói đến ở trên chỉ có ý nghĩa đối với giai cấp tư sản, tức là nền dân chủ tư sản – đây chỉ là mức

độ dân chủ sơ khai của loài người Các Mác và Ăngghen, qua nhiều tác phẩm của mình, đã phê phán những hạn chế của nền dân chủ tư sản, cho rằng đó chỉ là nền dân chủ do giai cấp tư sản tự tạo ra cho mình sau khi giai cấp phong kiến bị lật đổ, do đó giai cấp vô sản phải tiếp tục tiến hành cuộc đấu tranh lật đổ giai cấp tư sản để xây dựng nền dân chủ tiến bộ hơn, tức là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Lênin - người kế thừa và phát triển chủ nghĩa Mác, trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” (1917),

đã nhấn mạnh rằng “dân chủ nghĩa là sự bình đẳng”, coi sự bình đẳng, công bằng là nguyên tắc quan trọng nhất của một nền dân chủ Cũng theo Lênin, chế độ dân chủ chỉ tồn tại trong một xã hội có nhà nước và chế độ dân chủ sẽ mất đi cùng với sự tiêu vong của nhà nước và xã hội cộng sản được hình thành

Do đó, tại các nước theo hệ thống xã hội chủ nghĩa thường sử dụng khái niệm “dân chủ xã hội chủ nghĩa” để phân biệt với “dân chủ tư sản” của các nước theo mô hình chính trị phương tây Chủ nghĩa Mác cho rằng bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản – đại diện cho quyền lợi và lợi ích của giai cấp công nhân, nhưng không chỉ để thực hiện lợi ích riêng cho giai cấp công nhân mà để thực hiện quyền lực và lợi ích

Trang 20

chung của toàn thể nhân dân [31, tr.42-43] Theo chủ nghĩa Mác, dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ gắn với công bằng và bình đẳng khác với quan niệm dân chủ gắn với tự do mà giai cấp tư sản hứa hẹn trao cho nhân dân Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, không có giai cấp hay tầng lớp nào bị chèn ép hay đối xử bất công, con người có cơ hội phát triển về mọi mặt Vì vậy dân chủ xã hội chủ nghĩa mới là nền dân chủ thực sự

“Dân chủ” ngày nay là một thuật ngữ được giới chính trị, khoa học và hoạt động xã hội phổ biến rộng rãi theo nhiều cách khác nhau Xây dựng một nền dân chủ được coi là mục tiêu hướng đến của nhiều quốc gia Một số chính quyền dù bị nhiều quốc gia khác và các tổ chức quốc tế đánh giá là độc tài nhưng vẫn tự cho mình là một nền dân chủ và đưa cụm từ “dân chủ” xuất hiện trong quốc hiệu quốc

gia, chẳng hạn như: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Cộng hòa Dân chủ

Liên bang Ethiopia, Cộng hòa Dân chủ Công gô (trước năm 2006),

Hiện nay, với sự đa dạng về hệ thống chính trị trên thế giới, nhiều quốc gia cũng tự đưa ra những quan niệm riêng về dân chủ Phần lớn được sử dụng để phản bác lại những chỉ trích của các nước phương tây về dân chủ tại các quốc gia đó, đồng thời cũng nêu ra một số khiếm khuyết của các nền dân chủ phương tây Các nước này cho rằng một nền dân chủ có thể được thể hiện qua những cách thức khác

và không nhất thiết phải theo mô hình chính trị giống phương tây Điều này dẫn đến những tranh cãi không ngừng liên quan đến vấn đề đâu là “dân chủ thực sự” và đâu

là “dân chủ giả hiệu”, mô hình dân chủ nào mới đem lại hiệu quả cao nhất Tuy nhiên, với những tiến bộ và thành công vượt trội về kinh tế và xã hội, quan niệm và các mô hình dân chủ mà các nước phương tây hiện nay đang áp dụng (Tây Âu, Hoa Kỳ,…) được nhìn nhận là tiêu chuẩn và hình mẫu cho các quốc gia khác tham khảo

Theo cách tiếp cận này, dân chủ có thể được nhìn nhận từ các góc độ như: dân chủ là một giá trị, dân chủ là một lý tưởng, dân chủ là một hệ thống chính trị, dân chủ là một hình thức quan hệ giữa người cầm quyền với người dân (phương thức cầm quyền) [31, tr.41] Góc độ phổ biến nhất hiện nay là nhìn nhận dân chủ dưới dạng là một phương thức cầm quyền Trong phạm vi của luận văn này, một

Trang 21

nền dân chủ được hiểu là “một phương thức cầm quyền mà cho phép các cá nhân, các

nhóm và tất cả các chủ thể khác nhau trong xã hội có những cơ hội bình đẳng để tham gia các tiến trình và hoạt động chính trị một cách đầy đủ và thực sự” [1, tr.87] Trong

đó, một nền dân chủ hiện đại ngày nay phải được cấu thành từ bốn yếu tố cơ bản, bao gồm: Bảo đảm các quyền và tự do cơ bản của con người; Có các cuộc bầu cử tự

do và công bằng; Chính quyền công khai và chịu trách nhiệm giải trình; Có sự tham gia tích cực của công dân trong đời sống chính trị hay nói cách khác là sự hiện hữu của xã hội dân sự

Thực tế ngày nay đã cho chúng ta cái nhìn toàn diện hơn về ý nghĩa của dân chủ và điều kiện để tạo dựng một nền dân chủ Có rất nhiều ví dụ cho thấy có những quốc gia đạt đến sự thịnh vượng và phát triển mà không phải là một nền dân chủ và ngược lại, có những quốc gia dân chủ nhưng lại chìm trong đói nghèo, bất ổn và các vấn nạn xã hội Vì vậy, các chỉ số và thành tích về dân chủ cũng chỉ là cách đánh giá tương đối một quốc gia có thành công hay không và là một trong số các mục tiêu mà một quốc gia cần đạt được

Dân chủ liên quan mật thiết với chính trị và nhiều người coi dân chủ chỉ có phạm vi trong lĩnh vực chính trị, nhưng đôi khi dân chủ được nhìn nhận trong cả những khía cạnh khác như dân chủ trong kinh tế, dân chủ trong giáo dục, dân chủ trong văn hóa… Trong đó, theo quan điểm phổ biến ngày nay, dân chủ trong chính trị là điều kiện để tạo ra các khía cạnh dân chủ khác Tuy nhiên điều này không phải luôn luôn đúng, một quốc gia là nền dân chủ hay độc tài không đồng nghĩa rằng mọi khía cạnh khác của quốc gia ấy cũng là dân chủ hay độc tài Trong khi những khía cạnh phi chính trị như việc làm, cơ sở hạ tầng, an ninh, giáo dục, văn hóa, môi trường sống, là những yếu tố người dân quan tâm nhất Chính vì vậy, một nền dân chủ phải cho người dân của mình thấy được những lợi ích mà nó mang lại trong khi một nền độc tài không thể có được, chỉ khi đó dân chủ mới thực sự có ý nghĩa

1.1.2.2 Dân chủ hiến pháp

Trong các quan niệm về dân chủ ở các thời kỳ và xã hội khác nhau, một trong những khác biệt căn bản nhất đến từ cách hiểu về phạm vi chủ thể được công

Trang 22

nhận là “công dân” và “có quyền bầu cử” trong một nền dân chủ, đối tượng mà dân chủ bảo vệ là ai Trong các nhà nước Cộng hòa Athena và Cộng hòa La Mã, “công dân” được hiểu là những người tự do và chỉ công dân là nam giới và có tài sản (thời

kỳ sau của Cộng hòa Athena đã bỏ các điều kiện về tài sản) mới có quyền bầu cử và quyết định các vấn đề của nhà nước Trong thời kỳ đầu lập quốc của Hoa Kỳ, những đối tượng được công nhận là “công dân” còn hạn chế và quyền bầu cử cũng không được áp dụng cho phụ nữ, người Mỹ bản địa và nô lệ Tại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa (trước năm 1990) mặc dù không hạn chế tư cách chủ thể có quyền công dân và quyền bầu cử nhưng lại nhấn mạnh tính giai cấp của nhà nước và tập trung ưu tiên bảo vệ lợi ích của giai cấp vô sản Khi tiến hành xây dựng nhà nước mới của giai cấp vô sản, quyền lợi của các giai tầng khác trong xã hội cũ đã bị phớt

lờ và nền dân chủ được xây dựng ở đây là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ của nhân dân lao động, dân chủ của đa số, đối nghịch với dân chủ tư sản là dân chủ dành cho thiểu số

Chính vì sự khác biệt cùng sự mơ hồ trong cách hiểu mà cụm từ “dân chủ” hay “nhân dân” thường xuyên bị các lực lượng chính trị và các quốc gia lợi dụng để phục vụ mục đích của mình Tùy từng trường hợp cụ thể mà “nhân dân” được sử dụng để chỉ các thành phần khác nhau Các nhà cầm quyền thường lấy lý do bảo vệ dân chủ, nhân dân để đàn áp các lực lượng đối lập vì đối với nhà cầm quyền, chỉ có người ủng hộ họ mới được coi là “nhân dân” Ngược lại, các lực lượng đối lập cũng

sử dụng lý do tương tự để chống lại chính quyền và họ cũng chỉ muốn coi “nhân dân” là những người không ủng hộ chính phủ Đối với lực lượng nước ngoài muốn can thiệp vào tình hình các quốc gia khác, “bảo vệ nhân dân” hay “bảo vệ dân chủ” cũng là một lý do hoàn hảo được sử dụng để thực hiện mục đích này

Ngày nay, chủ thể của dân chủ được hiểu theo nghĩa đầy đủ nhất là toàn thể nhân dân của một quốc gia “Constitutional Democracy” dịch ra tiếng Việt có thể gọi là Dân chủ hiến pháp – là thuật ngữ làm rõ cho quan niệm về dân chủ này Đây

là một thuật ngữ tương đối mới tại Việt Nam nhưng nội hàm chỉ mang tính chi tiết hóa cho thuật ngữ “dân chủ” ngày nay Hiện chưa có một định nghĩa hoàn chỉnh

Trang 23

cho “dân chủ hiến pháp” nhưng về cơ bản, đây có thể được hiểu là một nền dân chủ

trong đó hiến pháp và dân chủ có mối quan hệ chặt chẽ, hiến pháp ghi nhận và bảo đảm thực hiện các nguyên tắc dân chủ thông qua các thiết chế như tòa án, cơ quan bảo hiến Trong nền dân chủ hiến pháp, hiến pháp không chỉ ghi nhận và thực thi

chủ quyền nhân dân nói chung (quyền của đa số) mà còn chú ý và bảo vệ các quyền con người (quyền cá nhân) và quyền của các nhóm thiểu số

Dân chủ hiến pháp chỉ xu hướng đề cao tầm quan trọng của hiến pháp trong nền dân chủ, nhấn mạnh các nguyên tắc dân chủ hiến định và quan tâm đặc biệt đến yếu tố chủ thể trong nền dân chủ Trong khi “dân chủ” có nội hàm tương đối chung chung, chủ thể của “dân chủ” là “nhân dân” nhưng không rõ “nhân dân” là ai và trong nhiều trường hợp thì dân chủ có thể bị hiểu là nền độc tài của đa số “Dân chủ hiến pháp” đặc biệt nhấn mạnh rằng “nhân dân” là “toàn thể nhân dân”, bao gồm cả thành phần đa số và thiểu số trong xã hội

Trong nền dân chủ hiến pháp, hiến pháp đóng vai trò trung tâm trong bảo đảm và thúc đẩy việc thực thi dân chủ Hiến pháp ghi nhận các nguyên tắc của dân chủ và nhà nước phải có trách nhiệm bảo đảm các nguyên tắc hiến định ấy Trong một nền dân chủ hiến pháp, nhân dân có chủ quyền đối với nhà nước và nhân dân cũng là nguồn gốc tối cao của quyền lực nhà nước

Điểm khác biệt giữa dân chủ hiến pháp và dân chủ phi hiến pháp thể hiện ở chỗ trong một nền dân chủ hiến pháp, nhà nước được tạo dựng dựa trên chủ quyền của toàn thể nhân dân, vấn đề tổ chức và giới hạn quyền lực nhà nước được quy định trong hiến pháp Ngược lại trong một nền dân chủ phi hiến pháp, nhà nước tồn tại không phụ thuộc vào chủ quyền của toàn thể nhân dân, nhà nước hoạt động theo các quy tắc đa số, nhà nước làm việc theo ý chí của những người đại diện cho đa số nắm giữ quyền lực Thành phần thiểu sổ trong xã hội không thể lường trước được những gì mà nhà nước sẽ thực hiện bởi vì nhà nước đã phớt lờ họ, điều này dẫn đến nguy cơ lạm quyền của nhà nước với các nhóm thiểu số

Trong một nền dân chủ hiến pháp, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, mọi công dân của đất nước, không chỉ riêng một cá nhân hay một nhóm người nào, đều

Trang 24

có quyền và cơ hội tham gia vào đời sống chính trị Quyền lực của đa số bị giới hạn bởi các thiết chế và công cụ pháp lý, với mục đích nhằm bảo vệ các quyền cá nhân

và quyền của các nhóm thiểu số khác Đây là hình thức dân chủ đã được thực hiện ở nhiều nước như Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản, [42]

Một số nguyên tắc cơ bản của dân chủ hiến pháp

Chủ quyền nhân dân: Người dân là nguồn gốc tối cao của quyền lực nhà nước Nhà nước có được quyền cai trị nhờ vào sự đồng ý của người dân

Giới hạn quyền lực nhà nước: Để tăng quyền lực cho nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quyền lực nhà nước bị giới hạn bởi pháp luật và hiến pháp (có thể

là hiến pháp thành văn hay bất thành văn) Các thiết chế và công cụ pháp lý để giới hạn quyền lực nhà nước gồm có: Phân chia, kiểm soát và cân bằng giữa ba nhánh quyền lực Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp; Kế nhiệm lãnh đạo thông qua bầu cử: Có các cuộc bầu cử cạnh tranh định kỳ để bầu lên các vị trí quan trọng trong chính quyền Việc chuyển giao quyền lực giữa hai chính quyền được thực hiện trong hoà bình và trật tự

Bảo đảm quyền của cá nhân và quyền của thiểu số: Mặc dù hoạt động theo nguyên tắc đa số, các quyền cá nhân và quyền của thiểu số vẫn được tôn trọng và bảo vệ

Bảo đảm các quyền cơ bản nhất của con người: Bảo vệ các quyền này là nhiệm vụ quan trọng nhất của một nhà nước Những quyền cơ bản quan trọng nhất

là quyền sống, quyền tự do và quyền sở hữu tài sản Đôi khi chúng có thể được mở rộng thêm một số quyền về kinh tế xã hội khác như quyền có việc làm, quyền chăm sóc sức khoẻ và quyền được giáo dục, Đó là những quyền thiết yếu liên quan trực

tiếp đến cuộc sống của một con người Các tài liệu như Tuyên ngôn quốc tế về

quyền con người, Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em và Hiến chương châu Phi về quyền con người và nhân dân đã liệt kê và giải thích về các quyền này

Tự do đóng góp ý kiến và bày tỏ quan điểm: Quyền tự do bày tỏ quan điểm giúp bảo đảm các hoạt động xã hội diễn ra lành mạnh, tránh các tiêu cực và sai lầm Không những vậy, điều này còn đảm bảo sự phát triển toàn diện về nhân cách con người trong xã hội đó

Trang 25

Quyền riêng tư và xã hội dân sự: Quyền riêng tư của các cá nhân, gia đình, tổ chức được bảo vệ một cách toàn vẹn Các hiệp hội và đoàn thể được hoạt động tự

do trong khuôn khổ của hiến pháp mà không bị nhà nước kìm chế hay ép buộc

Công bằng và công lý: Một nền dân chủ hiến pháp sẽ thúc đẩy công bằng

và công lý trong xã hội Bao gồm: Công bằng trong phân phối của cải, thu nhập, lợi ích và gắng nặng của xã hội; Công bằng trong xét xử và trong các hoạt động

tố tụng tư pháp

Quy trình tố tụng hợp pháp (due process of law): Trong đó các quyền cá nhân cơ bản như quyền sống, quyền tự do và quyền có tài sản được bảo vệ bởi quy trình, thủ tục tố tụng nghiêm minh và công bằng

1.2 Các khía cạnh thể hiện vai trò của Hiến pháp đối với dân chủ

1.2.1 Khế ước xã hội – nguồn gốc của một bản Hiến pháp

Các tư tưởng về khế ước xã hội đã được nhắc đến bởi các học giả Hy Lạp vào thời kỳ cổ đại nhưng còn mang tính sơ khai Sau này, quan niệm chính thức về thuyết khế ước xã hội được đề cập bởi Thomas Hobbes trong tác phẩm nổi tiếng

“Leviathan” - Thủy quái, Hobbes đã khẳng định rằng nếu không có chính phủ thì

xã hội sẽ hỗn loạn và mọi người sẽ trở thành đồi bại và tàn sát lẫn nhau Chức năng của chính quyền là ngăn chặn sự tàn sát và dã man Để xác định nghĩa vụ của vua cũng như quyền và nghĩa vụ của các thần dân, cần có một bản khế ước xã hội ngầm [2, tr.21] Quan niệm ban đầu của Hobbes về khế ước xã hội một mặt đưa ra một cách luận giải khoa học cho sự hình thành của nhà nước, quyền lực nhà nước bắt nguồn từ sự chuyển giao quyền tự nhiên của con người Mặt khác ông cũng biện minh cho chế độ quân chủ chuyên chế khi cho rằng đó là kết quả từ sự tự nguyện của người dân để đổi lấy một xã hội trật tự và ổn định

Thuyết khế ước xã hội tiếp tục được củng cố và phát triển qua các lý thuyết của hai đại diện tiêu biểu là John Locke và Jean-Jacques Rousseau Rousseau là người đã hoàn thiện lý luận về khế ước xã hội qua tác phẩm nổi tiếng “Du Contrat Social” - Khế ước xã hội Theo đó, con người ban đầu sống trong trại thái tự nhiên với tự do vô hạn, sự tự do ấy đi kèm với sự hỗn hoạn và vô trật tự Để xây dựng

Trang 26

cuộc sống hòa bình và trật tự, con người đã chấp nhận đánh đổi một phần sự tự do của mình để trao cho một số người cầm quyền có nhiệm vụ quản lý xã hội và duy trì hòa bình, xác định các quyền và nghĩa vụ, thông qua một bản khế ước xã hội

Kể từ khi đó, con người chuyển đổi từ trạng thái tự nhiên ban đầu để trở thành thành viên trong một cộng đồng với tư cách là người dân Vì quyền lực của người cầm quyền có bản chất là quyền do người dân trao cho nên người cầm quyền có thể bị tước mất quyền lực bất cứ lúc nào nếu không được người dân ủng hộ Người dân sau đó sẽ chọn ra người cầm quyền mới và tiếp tục trao quyền cho ông

ta Thỏa thuận trao quyền được xác định trong một bản khế ước xã hội mà ngày nay được gọi là hiến pháp

Xây dựng khế ước hay xây dựng hiến pháp là việc xác định cách thức các mối quan hệ cơ bản trong xã hội sẽ diễn ra như thế nào Do nhân dân có chủ quyền tối cao đối với xã hội nên về nguyên tắc chỉ có người dân mới có quyền xây dựng

hiến pháp Thomas Paine từng nói: “Hiến pháp không phải là đạo luật của một

chính phủ, mà là đạo luật của một dân tộc nhằm cấu thành nên chính phủ…” Quá

trình xây dựng hiến pháp tất yếu sẽ diễn ra những tranh luận và thoả hiệp giữa các chủ thể khác nhau nhằm tìm ra cách thức tổ chức xã hội phù hợp và hiệu quả nhất cho toàn thể cộng đồng [4, tr.23-24] Sau khi ra đời, Hiến pháp trở thành nền tảng

để tổ chức nhà nước và quản lý xã hội, nhưng sự quản lý ấy không phải sự quản lý tùy tiện theo ý muốn chủ quan của người cầm quyền mà vẫn phải tuân theo sự thỏa thuận đã có trong khế ước Vì vậy nhà cầm quyền phải thực hiện đúng theo những

gì mà họ đã đồng ý với nhân dân, quan trọng nhất đó là duy trì trật tự, bảo vệ các quyền cho nhân dân và hạn chế việc lạm dụng quyền lực nhà nước gây hại đến lợi ích của nhân dân

Theo khế ước xã hội, quyền lực nhân dân là cái có trước, quyền lực nhà nước

là cái có sau và là cái được chia tách ra từ quyền lực nhân dân Tương tự như vậy, nhân dân là chủ thể có trước và tạo ra hiến pháp, từ hiến pháp mới hình thành nên nhà cầm quyền, nhà cầm quyền là những người dân ưu tú được lựa chọn để trao quyền Do đó, chỉ có xã hội và nhân dân là vĩnh cửu còn tất cả những yếu tố khác hay chủ thể khác đều phát sinh từ nhân dân mà ra nên đều có thể thay đổi nếu nhân

Trang 27

dân muốn Quan niệm về hiến pháp dưới góc độ khế ước xã hội tạo ra nhiều thuận lợi trong việc bảo đảm dân chủ và quyền con người Đây là cơ sở để nhân dân tham gia mạnh mẽ hơn vào đời sống chính trị xã hội của đất nước, từ việc xây dựng hiến pháp, xây dựng luật và văn bản pháp luật cho đến kiểm soát hành vi của các cơ quan công quyền trong bộ máy nhà nước

1.2.2 Hiến pháp ghi nhận các nền tảng của dân chủ

Giữa hiến pháp và dân chủ có mối quan hệ chặt chẽ, theo Patrick Henry:

“Hiến pháp không phải là một công cụ của chính phủ để đàn áp nhân dân, mà là

một công cụ để nhân dân kiềm chế chính phủ ” Điều này nhằm ám chỉ đến việc có

thể thông qua hiến pháp để đánh giá bước đầu về một nền dân chủ [7, tr.29]

Bản chất của hiến pháp là dân chủ vì nó thể hiện quyền lực của nhân dân đối với nhà nước và phải được thông qua với sự đồng ý của nhân dân Vì vậy mức độ tham gia của người dân vào việc xây dựng và thông qua hiến pháp tỷ lệ thuận với tính dân chủ của một nhà nước Ở một quốc gia càng dân chủ, nhà nước càng khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi nhiều hơn để nhân dân đóng góp ý kiến cũng như bỏ phiếu trưng cầu ý dân về hiến pháp Quá trình này được tiến hành một cách tự do và minh bạch nhất có thể, dưới sự giám sát của báo chí và các tổ chức xã hội dân sự [7, tr.29]

Tính chất, mức độ của một nền dân chủ cũng được thể hiện qua nội dung mà hiến pháp điều chỉnh Một hiến pháp dân chủ sẽ đề cao việc giới hạn và kiểm soát quyền lực nhà nước cũng như bảo vệ các quyền con người, quyền công dân [7, tr.30] Hiến pháp và dân chủ có sự tác động liên tục lẫn nhau, trong môi trường chính trị dân chủ sẽ ra đời bản hiến pháp dân chủ và một bản hiến pháp dân chủ ngược lại sẽ thúc đầy môi trường chính trị dân chủ hơn

Có hai vấn đề chính mà hiến pháp điều chỉnh: Một là về chính thể và tổ chức quyền lực nhà nước, hai là về các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Ngoài ra, hiến pháp một số nước (bao gồm Việt Nam) thường mở rộng đối tượng điều chỉnh sang một số khía cạnh khác về kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước Để thúc đẩy dân chủ hóa đời sống xã hội, Hiến pháp cần chứa đựng các

Trang 28

nguyên tắc của dân chủ Các nguyên tắc này được thể hiện trong những nội dung khác nhau mà Hiến pháp quy định, đóng vai trò là cơ sở pháp lý và tiền đề (cùng với những yếu tố khác được phân tích ở mục 1.2.3.) để xây dựng một nền dân chủ

Luận văn này sẽ đi sâu vào phân tích một số nguyên tắc dân chủ hiến định được tác giả đánh giá là căn bản và thiết thực nhất trong xây dựng nền dân chủ dựa

trên các nguyên tắc của dân chủ hiến pháp đã trình bày (mục 1.1.2.2.) được đặt

trong điều kiện xã hội, chính trị tại Việt Nam Các nguyên tắc này bao gồm: Chủ quyền nhân dân; Phân quyền và giới hạn quyền lực nhà nước từ bên trong (đặc biệt

là hành pháp); Đề cao tính đại diện của Quốc hội; Ghi nhận các quyền con người và quyền công dân; Bảo đảm tính độc lập tư pháp

1.2.2.1 Chủ quyền nhân dân

Trước khi các cuộc cách mạng tư sản diễn ra, các nhà nước phong kiến cho rằng quyền lực nhà nước thuộc về nhà vua và quý tộc phong kiến Chỉ những người này mới có quyền tạo ra hiến pháp (nếu có) và quyết định các luật lệ của đất nước Hiến pháp là cái để thể hiện quyền lực của kẻ thống trị và được dùng làm công cụ

để ban phát quyền lực cho nhân dân Nhân dân chỉ là đối tượng thụ hưởng và không

có quyền lực gì với nhà nước mà mình đang sống cả

Ngày nay, chủ quyền nhân dân là một nguyên tắc cơ bản nhất mà bất kỳ một bản Hiến pháp tiến bộ nào cũng cần phải có Chủ quyền nhân dân thể hiện rằng tất

cả quyền lực nhà nước phải thuộc về nhân dân và do nhân dân quyết định Sự hình thành nhà nước là theo ý chí nhân dân hay nói cách khác là nhân dân xác lập sự tồn tại của nhà nước, vì vậy nhà nước phải có trách nhiệm trở lại phục vụ nhân dân

Nhà nước phải thực hiện những gì là mong muốn và nguyện vọng của nhân dân và đem lại lợi ích cho nhân dân Nhà nước phải có khả năng thực hiện được những yêu cầu mà nhân dân đặt ra cho mình nếu có đủ khả năng thực hiện Nếu một nhà nước hay chính phủ được nhân dân tạo ra nhưng sau đó không làm việc theo ý chí của nhân dân thì nhân dân có quyền thay thế nhà nước hay chính phủ ấy, mà theo Hồ Chủ tịch nói thì nhân dân “có quyền đuổi Chính phủ”

Hình thức cơ bản nhất thể hiện chủ quyền nhân dân là thông qua hoạt động

Trang 29

bầu cử, gồm hai hình thức cơ bản là dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện Dân chủ đại diện là hình thức dân chủ phổ biến nhất và dễ thực hiện nhất Theo đó người dân

có quyền bầu ra các vị trí quan trọng trong các cơ quan hành pháp, đại diện của họ trong cơ quan lập pháp, những người này gánh sự ủy thác của nhân dân để thực hiện các hoạt động nhà nước Trong quá thực thực hiện nhiệm vụ của mình, họ phải chịu

sự giám sát của nhân dân và sẽ hết phận sự khi nhiệm kỳ kết thúc Nếu những người này thỏa mãn được kỳ vọng của nhân dân trong nhiệm kỳ cũ và tiếp tục nhận được tín nhiệm, họ có thể được tái đắc cử nhiệm kỳ tiếp theo hoặc đắc cử ở một vị trí khác cao hơn

Trong các nhà nước chính thể cộng hòa tổng thống và cộng hòa bán tổng thống (cộng hòa hỗn hợp), nhân dân trực tiếp bầu ra cơ quan lập pháp và tổng thống (vừa là nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu chính phủ) đôi khi cả phó tổng thống (Philippines) Điều này sẽ đem đến cho nhân dân chủ quyền cao nhất, vì cả nhánh lập pháp và lãnh đạo nhánh hành pháp đều nhận sự ủy quyền trực tiếp từ nhân dân, thực hiện trực tiếp ý chí của nhân dân và có trách nhiệm cân bằng và giám sát lẫn nhau

Trong khi đó ở các nhà nước theo chính thể cộng hòa đại nghị và cộng hòa

xã hội chủ nghĩa, nhân dân bầu ra cơ quan lập pháp, rồi các đại biểu trong cơ quan lập pháp lại bầu ra các cơ quan hành pháp, nguyên thủ quốc gia và cơ quan tư pháp

Có thể thấy điều này giống như dân chủ đại diện hai lần, nhân dân ủy quyền cho đại diện của họ trong quốc hội, các đại diện này lại ủy quyền cho đại diện của họ trong các cơ quan nhà nước khác Việc ủy quyền càng được thực hiện nhiều lần thì mức

độ bảo đảm dân chủ càng khó hơn vì phải qua nhiều trung gian để nhân dân có thể ảnh hưởng đến những vị trí công quyền vì nhân dân phải thông qua đại diện của họ

để giám sát hành pháp

1.2.2.2 Phân quyền và giới hạn quyền lực nhà nước từ bên trong

Sự vi phạm dân chủ hầu hết đều xuất phát từ hành vi lạm dụng quyền lực nhà nước của các cá nhân và cơ quan nắm giữa quyền lực nhà nước Đây là những chủ thể được nhân dân ủy nhiệm để họ thực thi phận sự phục vụ nhân dân nhưng vì

Trang 30

những động cơ và mục đích cá nhân của mình, họ lại tước đoạt các quyền và lợi ích của nhân dân

Giới hạn quyền lực nhà nước là nguyên tắc quan trọng và thực tế nhất để xây dựng một nền dân chủ Khi quyền lực của nhà nước quá lớn cũng là lúc người dân không thể thực hành quyền dân chủ của mình vì nhà nước lấn át quyền của nhân dân Tuy nhiên, giới hạn quyền lực nhà nước là một vấn đề rất phức tạp và đòi hỏi

sự thận trọng rất cao, nhất là đối với những quốc gia nghèo và hay xảy ra bất ổn

Một mặt, nếu quyền lực nhà nước quá lớn và tập trung sẽ dẫn đến sự cai trị độc tài và quan liêu của những người cầm quyền, xã hội sẽ phụ thuộc vào ý chí của nhà nước chứ không phải của toàn thể nhân dân Tuy nhiên, do nhà nước coi mình

là đại diện cho nhân dân nên dù ít dù nhiều nhân dân vẫn có chủ quyền một phần đối nhà nước và những người làm việc trong bộ máy nhà nước đó

Nhưng mặt khác, nếu quyền lực nhà nước quá yếu thì có thể dẫn đến việc nhà nước mất kiểm soát đối với xã hội, những người trong bộ máy nhà nước dần trở nên độc lập về tư cách với nhà nước Nhân dân có thể có chủ quyền đối với nhà nước nhưng nhà nước lại mất chủ quyền của chính mình, nhân dân trên thực tế không thực hiện được chủ quyền trên đất nước của mình Đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng vô chính phủ, ly khai, bất ổn Tận dụng khoảng trống quyền lực, các nhóm lợi ích, bè phái địa phương, băng đảng tội phạm hoặc tổ chức khủng

bố có cơ hội để thay thế nhà nước quản lý xã hội Các quyền con người, quyền công dân dù bị vi phạm nhưng cũng không được giải quyết và không có chủ thể nào phải chịu trách nhiệm về những vấn đề này

Do đó, giới hạn quyền lực nhà nước là một yêu cầu bắt buộc để bảo vệ dân chủ nhưng cũng cần được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện từng quốc gia làm sao để giới hạn quyền lực nhà nước nhưng không làm nhà nước suy yếu và mất đi khả năng tự vệ và kiểm soát xã hội của nó, nhất là đối với các quốc gia có tỷ lệ tội phạm cao và phân hóa xã hội mạnh (điển hình là các nước Mỹ Latinh)

Cơ chế hữu hiệu và khả dĩ nhất để giới hạn quyền lực nhà nước là kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên trong thông qua thiết chế phân quyền Mục đích là để

Trang 31

cho các nhánh quyền lực nhà nước tự kiềm chế và giới hạn lẫn nhau, qua đó tự giới hạn quyền lực nhà nước Nội dung cơ bản của cơ chế kiểm soát này là việc tổ chức phân công, phân nhiệm, phân quyền giữa các cơ quan nắm giữ quyền lực nhà nước Kiểm soát quyền lực nhà nước như là lý do của sự phân quyền Sự phân quyền và kiềm chế đối trọng quyền lực có thể được chia thành hai loại là phân quyền theo chiều ngang và phân quyền theo chiều dọc

Phân quyền theo chiều ngang là phân chia quyền lực nhà nước thành các nhánh quyền lực khác nhau: lập pháp, hành pháp và tư pháp (hoặc có thể nhiều hơn)

và giao các quyền lực này cho những cơ quan chuyên biệt đảm nhận Đây là cơ chế giám sát quyền lực nhà nước hiệu quả nhất và cũng là trọng tâm của việc tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước [4, tr.69] Cơ chế này được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết và sự phân quyền từ thời kỳ La Mã, tuy nhiên phải cho đến khi tác

phẩm nổi tiếng Tinh thần pháp luật (1748) của Montesquieu ra đời, lý thuyết phân

quyền mới được hiểu một cách đầy đủ và hoàn thiện nhất Trong tác phẩm của mình, Montesquieu đã bàn về việc phân chia quyền lực nhà nước thành ba nhánh quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Ba nhánh quyền này hoạt động độc lập và có trách nhiệm chế ngự, đối trọng, cân bằng lẫn nhau nhằm giữ cho quyền lực nhà nước không trở lên quá mạnh và tập trung trong tay một thế lực nào, từ đó ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực một cách bừa bãi Ngày nay, lý thuyết này được gọi ngắn gọn là Tam quyền phân lập – được áp dụng một phần hoặc triệt để tại hầu hết các quốc gia trên thế giới (về mặt hình thức)

Trọng tâm của việc kiểm soát quyền nhà nước là kiểm soát quyền lực hành pháp – nhánh quyền mang đặc trưng bản chất nhà nước nhất Trong khi hai bộ phận còn lại là lập pháp và tư pháp đều có nguồn gốc phát sinh từ quyền lực hành pháp theo sau các cuộc cách mạng tư sản châu Âu Cơ quan lập pháp (Quốc hội) do được nhân dân trực tiếp bầu ra tất cả các thành viên nên thể hiện đầy đủ nhất ý chí của nhân dân, vì vậy quyền lập pháp vừa tượng trưng cho quyền lực nhà nước vừa tượng trưng cho quyền lực nhân dân Tư pháp là quyền lực đặc biệt đại diện cho công lý và sự khách quan nên phải được giữ tính độc lập cao nhất so với hai nhánh

Trang 32

còn lại Hành pháp nắm giữa nhiều quyền lực nhất lại không chịu trách nhiệm trực tiếp trước nhân dân nên có nguy cơ lạm quyền cao nhất

Phân quyền theo chiều dọc được thực hiện thông qua việc nhà nước ở trung ương phân quyền cho địa phương và công nhận chế độ tự trị của chính quyền địa phương Chế độ tự trị địa phương bảo đảm các địa phương có quyền tự quyết đối với phần lớn các vấn đề thuộc thẩm quyền của địa phương như bầu chọn người đứng đầu, quyết định và quản lý các chính sách kinh tế, xã hội,… mang tính địa phương Do đó, chính quyền địa phương phải chịu trách nhiệm trước người dân địa phương thay vì phải chịu trách nhiệm trước các chính quyền cấp trên và chính quyền trung ương, giúp tăng sức ảnh hưởng và khả năng giám sát của nhân dân địa phương đối với chính quyền địa phương họ Việc phân quyền giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, nhất là đối với những quốc gia đa dạng về sắc tộc, tôn giáo và có sự khác biệt lớn giữa các địa phương, khắc phục tình trạng “độc tài đa số” mà chính quyền trung ương trở thành công cụ để thành phần đa số trong xã hội sử dụng để áp đặt các quan điểm và chính sách có lợi cho đa số lên các thành phần dân cư thiểu số và địa phương Tự trị địa phương do vậy là một nền tảng quan trọng để xây dựng nền dân chủ hiến pháp

1.2.2.3 Đề cao tính đại diện của Quốc hội

Với tư cách là cơ quan đại diện nhân dân, Quốc hội (hoặc Hạ viện ở các quốc gia chế độ lưỡng viện) là thiết chế duy nhất trong số các cơ quan quyền lực nhà nước mà tất cả (hoặc đa số) thành viên trong đó được bầu ra trực tiếp bởi nhân dân

mà không phải thông qua quá trình bổ nhiệm, phê chuẩn hoặc phái sinh từ một cơ quan nào khác Do đó, Quốc hội là cơ quan thể hiện trực tiếp và rõ nét nhất tiếng nói và ý chí của nhân dân

Các thành viên trong Quốc hội (Nghị sỹ, Dân biểu, Đại biểu) là tập hợp những nhân vật có uy tín được ủy quyền để thay mặt nhân dân tham gia các hoạt động nhà nước Các vị đại biểu này đại diện và đến từ các thành phần xã hội khác nhau, các thành phần có thể mang tính đảng phái, giai cấp, dân tộc, giới

Trang 33

tính,… hoặc mang tính khu vực hay cộng đồng dân cư Các đại biểu chịu sự kiểm soát của các thành phần này thông qua cơ chế giám sát và những kỳ bầu cử

kế tiếp để quyết định xem một đại biểu có xứng đáng tiếp tục là người đại diện cho thành phần đó hay không

Ngày nay, tại hầu hết các quốc gia, số lượng đại biểu Quốc hội thường được căn cứ vào tổng dân số còn tỷ lệ đại biểu được phân bổ dựa trên tỷ lệ dân số và hành chính Trong một vài trường hợp khác, do điều kiện chính trị - xã hội đặc thù, tỷ lệ đại biểu còn được phân chia dựa trên các yếu tố khác, chẳng hạn như sắc tộc – tôn giáo (tại một số nước Trung Đông)

Trong một nhà nước dân chủ, Quốc hội luôn mang tính đại diện cao do các đại biểu là những người đại diện thực sự của nhân dân, được bầu ra trong một cuộc bầu cử công bằng và có tiếng nói phản ánh đúng ý chí của những người mà họ thay mặt Tuy nhiên, tính đại diện của Quốc hội không được thể hiện chính xác thông qua số lượng đại biểu nhiều hay ít mà thể hiện qua các yếu tố như mức độ đa dạng của thành phần đại biểu, phạm vi đại diện của một đại biểu cũng như giá trị tiếng nói và quyền tự quyết của họ trong nghị trường Khi tiến hành xem xét một vấn đề nào đó, các đại biểu đều có quyền đưa ra quan điểm của mình trước Quốc hội và khi một vấn đề được đưa ra biểu quyết, giá trị lá phiếu của mỗi đại biểu là ngang nhau trong mọi trường hợp Các quyết định được thực hiện dựa trên sự công bằng, công khai và cân nhắc kỹ lưỡng các khía cạnh, tác động đối với đất nước nói chung và từng cộng đồng, thành phần nói riêng Bảo đảm ở mức cao nhất tiếng nói và lợi ích của mọi người dân trong xã hội đều được lắng nghe và tôn trọng, mặc dù để đưa ra một quyết định nhận được sự đồng thuận hoặc thỏa mãn ý chí của tất cả các bên trên thực tế dường như là bất khả thi Riêng đối với thành phần thiểu số, Quốc hội

có tầm quan trọng đặc biệt khi đây là cơ quan quyền lực nhà nước hiếm hoi mà tiếng nói của họ thực sự có trọng lượng và giá trị

1.2.2.4 Ghi nhận quyền con người, quyền công dân

Cộng đồng thế giới đã ghi nhận các quyền con người trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế, hợp thành Bộ luật Nhân quyền Quốc tế Chứng minh cho tầm nhìn

Trang 34

chung của cộng đồng quốc tế về một thế giới trong đó quyền con người là những lợi ích tự nhiên, khách quan và mọi quốc gia cho dù theo hình thức chính trị nào cũng đều phải tôn trọng và bảo vệ Quyền công dân là những quyền con người được nhà nước thừa nhận và áp dụng đối với những người có quốc tịch nước mình như quyền bầu cử, ứng cử, tham gia quản lý nhà nước và xã hội [6, tr.100]

Trong các chế độ phong kiến và chiếm hữu nô lệ không tồn tại “quyền con người” và con người sống trong các quốc gia ấy cũng không có “quyền công dân” Ở đó, họ là những “thần dân” – những người phải thần phục người cai trị Trong mối quan hệ với chính quyền, những người này chỉ có nghĩa vụ phục vụ chính quyền mà không được đòi hỏi điều gì, ngược lại chính quyền có độc quyền với họ [10, tr.108-109] Trong một nhà nước cộng hòa, không còn tồn tại mối quan

hệ thống trị - bị trị nữa, người bị trị trở thành những “công dân”, người thống trị chỉ

là những người làm việc trong bộ máy nhà nước do nhân dân ủy quyền cho họ, nhà nước thuộc về “tất cả người dân” mà không của riêng ai

Quyền con người, quyền công dân là các quyền tự nhiên do tạo hóa ban cho con người, chứ không phải hiến pháp hay nhà nước ban tặng cho Việc ghi nhận các quyền con người, quyền công dân trong hiến pháp chỉ là cách hiến pháp thừa nhận các quyền đã có từ trước, thể hiện sự tôn trọng của nhà nước với con người Hiến pháp giới hạn nhà nước không xâm phạm các quyền con người, và hiến pháp buộc nhà nước phải bảo vệ các quyền con người đó

Vì sự ra đời và tồn tại của hiến pháp bắt nguồn từ lý thuyết chủ quyền nhân dân nên quyền con người, quyền công dân là một nội dung cơ bản, quan trọng nhất của hiến pháp, thường được các quốc gia ghi vào những chương đầu tiên của một bản hiến pháp Ngoài việc liệt kê các quyền, theo xu thế tiến bộ và mở rộng, hiến pháp còn quy định trách nhiệm và giới hạn của nhà nước trong việc đảm bảo và tạo điều kiện cho con người và công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình [10, tr.155-156]

Có hai nhóm quyền con người, quyền công dân cơ bản mà một bản hiến pháp thường ghi nhận là các quyền dân sự, chính trị và các quyền kinh tế, văn hóa,

xã hội Trong đó các quyền dân sự và chính trị có liên hệ trực tiếp đến dân chủ và

Trang 35

cách thức nhà nước ghi nhận các quyền này trong hiến pháp thể hiện rõ ràng nhất mức độ dân chủ của một quốc gia

1.2.2.5 Tư pháp độc lập

Trong các nền dân chủ hiện đại, các nhà nước đều thừa nhận sự cần thiết phải tách biệt quyền tư pháp với quyền lập pháp và quyền hành pháp Tại hầu hết các quốc gia, “tư pháp” là xét xử vì vậy chỉ tòa án mới là cơ quan tư pháp và chỉ tòa

án mới có quyền tư pháp Tòa án là cơ quan duy nhất được hiến pháp và pháp luật trao cho nhiệm vụ xét xử và bảo vệ công lý xã hội Tòa án cũng là biểu tượng cho niềm tin của nhân dân vào pháp luật và là cánh cửa cuối cùng cho người dân tìm tới công lý Hiệu lực từ những phán quyết của tòa án là rất cao vì nó được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước Vì vậy, việc xét xử phải rất thận trọng vì ảnh hưởng rất lớn dến danh dự, nhân phẩm, tài sản, sức khỏe, tính mạng và các quyền con người quan trọng khác [7, tr.120-121]

Chân lý là yếu tố mang tính khách quan nên phải được nhìn nhận theo hướng khách quan Để làm được như vậy, tòa án khi xét xử cần phải độc lập, khách quan,

vô tư, tôn trọng sự thật và đứng ngoài mọi tranh chấp cho dù chủ thể của các tranh chấp đó là ai và đến từ đâu Tính độc lập của tòa án (độc lập tư pháp) là một nguyên tắc quan trọng bậc nhất trong các nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của tòa án Trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” (1748) của Montesquieu, ông đã cảnh báo về

sự nguy hiểm của việc không tách rời các quyền tư pháp với các quyền lập pháp và hành pháp Độc lập tư pháp góp phần bảo đảm cho sự công bằng, bình đẳng, quyền con người, chống lại tình trạng tham nhũng, lạm quyền của những cá nhân và cơ quan trong bộ máy nhà nước Trong cơ cấu bộ máy nhà nước, lập pháp và hành pháp bao giờ cũng có sự phối hợp với nhau ở mức độ nhất định nhưng tư pháp phải luôn đứng riêng để có thể phát xét tính đúng sai của hai nhánh quyền lực kia [7, tr.124-125]

Tư pháp độc lập thể hiện ở việc tòa án phải có quyền giải quyết các vụ việc một cách vô tư, không thiên vị, dựa trên bản chất của sự việc và theo luật pháp mà không chịu những hạn chế, tác động hay ảnh hưởng không phù hợp, hoặc sự dụ dỗ,

đe dọa hay can thiệp sai trái, một cách trực tiếp hay gián tiếp, từ bất cứ chủ thể nào,

Trang 36

với bất cứ lý do nào [36] Độc lập tư pháp xét đến hai khía cạnh: một là độc lập về thiết chế tòa án, hai là độc lập của người thẩm phán

Về thiết chế tòa án, hệ thống cơ quan tòa án phải độc lập với hệ thống hành pháp và lập pháp, không bị ràng buộc quá lớn với các cơ quan khác về cơ cấu tổ chức, hoạt động, ngân sách Độc lập của thiết chế tòa án giúp thẩm phán được tự do khi xét xử một vụ án, nhất là những vụ án mà bên chủ thể tham gia là các cá nhân hay cơ quan thuộc các cơ quan nhà nước khác Ngoài ra, để hạn chế sự can thiệp của các cơ quan tư pháp cấp trên, bên trong hệ thống tòa án cũng phải có sự độc lập giữa các cấp xét xử Giữa các cấp xét xử, chỉ nên có quan hệ giữa tòa “cấp cao hơn”

và “cấp thấp hơn” theo thẩm quyền tố tụng mà không nên có “tòa cấp trên” và “tòa cấp dưới” theo phân cấp hành chính Nguyên tắc tổ chức tòa án theo thẩm quyền xét

xử được thiết lập trên một khu vực, vùng nhất định mà không trùng với đơn vị hành chính lãnh thổ sẽ bảo đảm sự độc lập cho tòa án về cả chiều ngang lẫn chiều dọc (cả bên trong lẫn bên ngoài) [36]

Tính độc lập của người thẩm phán chịu ảnh hưởng của cả yếu tố khách quan lẫn chủ quan Tính khách quan thể hiện ở chỗ thẩm phán là thành viên của hệ thống tòa án, việc người thẩm phán có độc lập hay không phụ thuộc nhiều vào sự độc lập của thiết chế tòa án Tính chủ quan thể hiện ở chỗ thẩm phán cũng là một con người, có đầy đủ trạng thái tâm lý, các mối quan hệ của một người bình thường trong xã hội nhưng được giao trọng trách của một ông quan tòa phát xét tính đúng sai, vì vậy các quyết định của thẩm phán ít nhiều chịu ảnh hưởng của ý chí mang tính cá nhân và các mối quan hệ xã hội của họ Bảo đảm tính độc lập của người thẩm phán do vậy là vấn đề phức tạp và trìu tượng hơn so với bảo đảm tính độc lập của thiết chế tòa án Về cơ bản, tính độc lập của người thẩm phán có thể được bảo đảm qua các quy định về quy trình lựa chọn, bổ nhiệm thẩm phán, nhiệm kỳ của thẩm phán, bãi nhiệm và luân chuyển thẩm phán, chế độ tiền lương và cơ chế chịu trách nhiệm của thẩm phán

1.2.3 Các yếu tố bảo đảm dân chủ

Bảo đảm các nền tảng dân chủ có thể được nhìn nhận trên ba phương diện

Trang 37

chính: Bảo đảm về nhận thức - chính trị, bảo đảm về thiết chế - pháp luật, bảo đảm

về các điều kiện kinh tế - xã hội Trong đó, bảo đảm về nhận thức – chính trị và bảo đảm về thiết chế - pháp luật là những bảo đảm đến từ phía nhà nước và những người nắm giữ quyền lực nhà nước; trong khi bảo đảm về các điều kiện kinh tế - xã hội đến từ nhiều phía và mang tính khách quan

Trên bình diện thế giới, số lượng các bản hiến pháp dân chủ luôn nhiều hơn

số lượng quốc gia được đánh giá là một nền dân chủ thực sự Điều này có nghĩa là nhiều quốc gia tuy có sở hữu một bản hiến pháp dân chủ nhưng giới cầm quyền không hiện thực hóa nó, họ chỉ dùng hiến pháp dân chủ để xoa dịu nhân dân và làm bình phong che đậy cho cách cai trị phi dân chủ của họ Hiến pháp trở thành một văn kiện mang tính tượng trưng, có xác mà không có hồn, viết đầy những chữ kiêu hãnh nhưng vô tác dụng và không có giá trị thực hiện Chính vì vậy, có thể thấy rằng chế độ chính trị và nhận thức của nhà cầm quyền mới thực sự đóng vai trò quyết định đến cách mà dân chủ hoạt động Các yếu tố này phụ thuộc vào quan điểm chủ quan của nhà cầm quyền cũng như bối cảnh tình hình trong nước và bên ngoài mà họ phải đối mặt

Xây dựng một nền dân chủ là phải thực thi được dân chủ trong đời sống, đưa những nguyên tắc hiến định trên giấy trở thành hành động thực tế, những nguyên tắc ấy phải là ý niệm luôn luôn thường trực trong bộ não và khắc sâu vào trái tim của những người nắm giữ quyền lực nhà nước cũng như mỗi người dân Nhà cầm quyền phải có nhận thức về dân chủ giống như những quy định được ghi nhận trong

Trang 38

hiến pháp Chỉ khi đó hiến pháp mới thật sự có ý nghĩa và đóng vai trò thúc đẩy dân chủ hóa đời sống chính trị - xã hội

1.2.3.2 Về thiết chế, pháp luật

Với tư cách là đạo luật tối cao, hiến pháp cần được mọi chủ thể trong xã hội tuân thủ nghiêm ngặt, đặc biệt là từ các cơ quan nhà nước Các cơ quan nhà nước là chủ thể chịu trách nhiệm chính trong việc bảo đảm thực thi các nền tảng dân chủ của hiến pháp Đây là một quá trình xuyên suốt từ khi ban hành pháp luật cho đến khi áp dụng và bảo vệ pháp luật, cụ thể như sau:

Cơ quan lập pháp (Quốc hội, Nghị viện) là cơ quan ban hành các văn bản pháp luật Những văn bản pháp luật mà Quốc hội làm ra phải ghi nhận và tuân thủ những quy tắc hiến định về dân chủ, quyền con người Nếu một đạo luật được Quốc hội ban hành trái với hiến pháp thì có nghĩa là Quốc hội đã vượt quá thẩm quyền của mình hoặc vi phạm hiến pháp [23, tr.76]

Các cơ quan hành hành pháp có nhiệm vụ tổ chức và triển khai thực hiện các quy định của hiến pháp và pháp luật trên thực tiễn Bằng chức năng và quyền hạn của mình, các cơ quan hành pháp và người đứng đầu các cơ quan hành pháp chịu trách nhiệm ban hành các văn bản dưới luật và thực hiện các hoạt động quản lý khác theo những nguyên tắc dân chủ của hiến pháp và pháp luật Nếu xảy ra trường hợp xung đột hoặc chồng chéo giữa quy định của pháp luật và quy định của hiến pháp thì ưu tiên tuân theo quy định có trong hiến pháp, đặc biệt đối với trường hợp pháp luật chứa các nội dung vi hiến thì không được phép áp dụng

Các cơ quan tư pháp (Tòa án) có trách nhiệm bảo đảm các nguyên tắc dân chủ trong toàn bộ quá trình tố tụng từ lúc bắt đầu cho đến khi giải quyết xong vụ

án Tòa án tiến hành xét xử độc lập và chỉ tuân theo hiến pháp và pháp luật Bản

án phải công bằng, khách quan, đúng người, đúng tội theo nguyên tắc của hiến pháp và phát luật

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình, các

cơ quan nhà nước không phải lúc nào cũng tuân thủ đúng những quy định của hiến pháp Để ngăn chặn và chống lại những hành vi vi phạm, không thi hành hoặc thi

Trang 39

hành không đúng các quy định của hiến pháp, cần có các cơ chế giám sát và bảo vệ hiến pháp phù hợp để các nguyên tắc dân chủ được tôn trọng và thực thi đầy đủ Bảo vệ hiến pháp là kiểm soát việc tuân thủ các nội dung hiến định và được thực hiện theo một quy trình nhất định Cơ chế bảo vệ hiến pháp có thể được quy định thành một chế định trong hiến pháp hoặc được quy định trong các văn bản pháp luật khác của nhà nước Đối tượng của bảo vệ hiến pháp là hoạt động của tất cả các cơ quan nhà nước, trong đó trọng tâm là kiểm soát tính hợp hiến của các đạo luật mà

cơ quan lập pháp ban hành Tại các quốc gia, hoạt động bảo vệ hiến pháp được quan niệm theo nhiều cách và được thực hiện bằng các biện pháp khác nhau Một số quốc gia gọi hoạt động này là bảo hiến, một số khác gọi là tài phán hiến pháp hoặc như Việt Nam chỉ gọi chung chung là bảo vệ hiến pháp

1.2.3.3 Về các điều kiện kinh tế - xã hội

Trong khi một quốc gia có thể xây dựng thành công một bản hiến pháp dân chủ, một thiết chế dân chủ hoặc bầu ra một nhà lãnh đạo dân chủ chỉ sau khoảng thời gian rất ngắn thì việc xây dựng một xã hội dân chủ lại là cả một chặng đường dài Các yếu tố phi chính trị và phi thể chế luôn có tính chi phối rất mạnh đến dân chủ theo cách nằm ngoài phạm vi kiểm soát của con người và cả nhà cầm quyền Bảo đảm dân chủ thường gặp nhiều khó khăn trên thực tế khi có sự không thống nhất, không đồng đều hoặc “vênh” giữa văn hóa hiến pháp, văn hóa pháp luật với tập quán

và văn hóa của nhân dân hoặc giữa văn hóa địa phương và văn hóa quốc gia

Có rất nhiều khía cạnh kinh tế - xã hội có thể được liệt kê ra như là những điều kiện để bảo đảm thực thi dân chủ như sự phát triển về kinh tế, văn hóa, giáo dục và các điều kiện xã hội khác,… Theo một cách tiếp cận trực quan và khái quát hơn, chẳng hạn nếu coi xã hội là một chiếc hộp và dân chủ là vật thể sẽ đặt trong chiếc hộp ấy, ta cần xét đến hai yếu tố chính: Một là sự vừa vặn về kích thước của vật thể trong chiếc hộp, hai là chiếc hộp ấy có đủ khả năng giữ gìn vật thể lâu dài ở tình trạng tốt hay không Để xây dựng một nền dân chủ vì vậy cũng cần hai yếu tố chính: một là sự tương thích giữa dân chủ và xã hội, hai là khả năng vận hành dân chủ của xã hội

Trang 40

Sự tương thích giữa dân chủ và xã hội

Sự tương thích giữa dân chủ và xã hội liên quan đến cách mà một xã hội nhận thức về dân chủ thông qua thế giới quan của họ Sự tương thích này có thể được đo bằng mức độ thấu hiểu, khả năng chấp nhận và mong muốn bên trong của

xã hội nói chung (bao gồm cả người dân và chính quyền) đối với dân chủ Để đạt được sự thấu hiểu này, xã hội cần đạt đến một mức độ văn minh nhất định, người dân và chính quyền cần có ý thức tôn trọng các luật lệ và công lý của chính họ trước khi nói đến tôn trọng các luật lệ rộng lớn hơn

Để có một xã hội văn minh và tôn trọng luật lệ, công lý thì buộc một quốc gia phải có một nền kinh tế đủ mạnh và trình độ phát triển con người ở mức độ nhất định Các quốc gia giàu có vì thế dễ dàng xây dựng một nền dân chủ hơn các quốc gia nghèo khó Nhưng điều này không nhằm khẳng định sự phát triển về kinh tế là điều kiện trực tiếp cho dân chủ, nó chỉ cho thấy rằng sự phát triển kinh tế là điều kiện để thúc đẩy một xã hội văn minh, tôn trọng công lý và một xã hội như vậy sẽ là mảnh đất tốt cho dân chủ bén rễ

Khả năng vận hành dân chủ của xã hội

Khả năng của xã hội để một nền dân chủ vận hành là việc các thành phần trong xã hội đó có mối liên kết gần gũi, là những khớp nối nhịp nhàng để một chỉnh thể hoạt động trơn tru và thống nhất Các mối liên hệ càng bền chặt và thống nhất bao nhiêu thì nền dân chủ càng vững mạnh bấy nhiêu Sự bền chặt này có được dựa trên mức độ tối thiểu của tính đa dạng và phân hóa trong xã hội Sự đa dạng xã hội

là các yếu tố mang tính tự nhiên hoặc đã tồn tại lâu dài như: đa dạng dân tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, văn hóa, địa bàn cư trú,… Còn phân hóa xã hội là các yếu tố được hình thành trong quá trình sinh sống của con người trong một khoảng thời gian nhất định như: phân hóa kinh tế, giai cấp, địa vị, trình độ, quan điểm chính trị,…

Tính đa dạng và phân hóa có mặt ở tất cả các xã hội và dân chủ cũng góp phần để dung hòa sự đa dạng ấy Nhưng nếu một xã hội quá nhiều sự đa dạng và phân hóa sẽ vô hiệu hóa khả năng vận hành của dân chủ Sự đa dạng và phân hóa xã hội vừa củng cố tính cạnh tranh trong nền dân chủ, đồng thời vừa là nguyên nhân

Ngày đăng: 14/04/2023, 12:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đăng Dung - Vũ Công Giao - Lã Khánh Tùng (chủ biên) (2011), Giáo trình Lý luận và Pháp luật về quyền con người, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận và Pháp luật về quyền con người
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung - Vũ Công Giao - Lã Khánh Tùng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
2. Nguyễn Đăng Dung (2011), “Những quan điểm, học thuyết hiện đại về hiến pháp”, trong sách: Hiến pháp: những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khoa Luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.17-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quan điểm, học thuyết hiện đại về hiến pháp”, trong sách: "Hiến pháp: những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
3. Nguyễn Đăng Dung (chủ biên) (2012), “Hiến pháp phải là văn bản bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, trong sách: Những vấn đề về Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, Nxb Dân trí, Hà Nội, tr.45-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp phải là văn bản bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, trong sách: "Những vấn đề về Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Dân trí
Năm: 2012
4. Nguyễn Đăng Dung (chủ biên) (2012), “Tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước là hai mặt của một tấm huân chương”, trong sách: Những vấn đề về Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, Nxb Dân trí, Hà Nội, tr.62-75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước là hai mặt của một tấm huân chương”, trong sách: "Những vấn đề về Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Dân trí
Năm: 2012
5. Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên) (2012), Tuyển tập Hiến pháp của một số quốc gia, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Hiến pháp của một số quốc gia
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2012
6. Nguyễn Đăng Dung, Trịnh Quốc Toản, Đặng Minh Tuấn (2016), Bình luận khoa học: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Trịnh Quốc Toản, Đặng Minh Tuấn
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2016
7. Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Đặng Minh Tuấn, Nguyễn Minh Tuấn và Lã Khánh Tùng (2013), ABC về Hiến pháp, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ABC về Hiến pháp
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Đặng Minh Tuấn, Nguyễn Minh Tuấn và Lã Khánh Tùng
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2013
8. Wendy N. Duong (2011), “Tổng quan về Hiến pháp Hoa Kỳ”, Hiến pháp: những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khoa Luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.1003-1024 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về Hiến pháp Hoa Kỳ”, "Hiến pháp: "những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Wendy N. Duong
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
9. Nguyễn Minh Đoan (2012), “Phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước và sự thể hiện trong Hiến pháp sửa đổi”, trong sách: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về sửa đổi hiến pháp ở Việt Nam hiện nay, Nguyễn Như Phát (Chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.177-189 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước và sự thể hiện trong Hiến pháp sửa đổi”, trong sách: "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về sửa đổi hiến pháp ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Minh Đoan
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2012
10. Trần Ngọc Đường và Bùi Ngọc Sơn (2013), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về việc xây dựng và ban hành hiến pháp, Nxb Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về việc xây dựng và ban hành hiến pháp
Tác giả: Trần Ngọc Đường và Bùi Ngọc Sơn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - sự thật
Năm: 2013
11. Vũ Công Giao (2011), “Tiểu luận về constitutionalism”, Hiến pháp: những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khoa Luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.90-100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu luận về constitutionalism”, "Hiến pháp: những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Vũ Công Giao
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
12. Vũ Công Giao (2014), “Chế định quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013”, trong sách: Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Đào Trí Úc - Vũ Công Giao (chủ biên), Nxb Lao động xã hội, Hà Nội, tr.176- 189 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013”, trong sách: "Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
Tác giả: Vũ Công Giao
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2014
13. Vũ Công Giao (2014), “Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam: Nhận thức, triển vọng và thách thức nhìn từ Hiến pháp năm 2013”, trong sách: Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Đào Trí Úc - Vũ Công Giao (chủ biên), Nxb Lao động xã hội, Hà Nội, tr.653-671 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam: Nhận thức, triển vọng và thách thức nhìn từ Hiến pháp năm 2013”, trong sách: "Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
Tác giả: Vũ Công Giao
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2014
14. Võ Trí Hảo (2011), “Tài phán hiến pháp: Những vấn đề phổ biến, đặc thù quốc gia và mô hình thích hợp cho Việt Nam”, Hiến pháp: những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khoa Luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.975-983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài phán hiến pháp: Những vấn đề phổ biến, đặc thù quốc gia và mô hình thích hợp cho Việt Nam”, "Hiến pháp: những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Võ Trí Hảo
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
15. Vũ Đức Khiển (2011), “Về cơ chế bảo hiến ở nước ta”, Hiến pháp: những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khoa Luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.967-974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về cơ chế bảo hiến ở nước ta”, "Hiến pháp: những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Vũ Đức Khiển
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
16. Hoàng Thế Liên (2015), Hiến pháp năm 2013 - Những điểm mới mang tính đột phá, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp năm 2013 - Những điểm mới mang tính đột phá
Tác giả: Hoàng Thế Liên
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2015
17. Hoàng Thế Liên (2018), Bình luận khoa học Hiến pháp hiện hành (năm 2013), Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Hiến pháp hiện hành (năm 2013)
Tác giả: Hoàng Thế Liên
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2018
19. Quốc hội (1959), Hiến pháp nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Hà Nội 20. Quốc hội (1980), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, "Hà Nội 20. Quốc hội (1980), "Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội (1959), Hiến pháp nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Hà Nội 20. Quốc hội
Năm: 1980
23. Dương Anh Sơn (2012), “Thi hành và bảo vệ Hiến pháp trong Nhà nước pháp quyền”, trong sách: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về sửa đổi hiến pháp ở Việt Nam hiện nay, Nguyễn Như Phát (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.72-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi hành và bảo vệ Hiến pháp trong Nhà nước pháp quyền”, trong sách: "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về sửa đổi hiến pháp ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Dương Anh Sơn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2012
24. Thái Vĩnh Thắng (2014), “Hiến pháp năm 2013 và các hình thức thực thi nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, trong sách: Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Đào Trí Úc - Vũ Công Giao (chủ biên), Nxb Lao động xã hội, Hà Nội, tr.123-140 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp năm 2013 và các hình thức thực thi nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, trong sách: "Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
Tác giả: Thái Vĩnh Thắng
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2014

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w