1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ luật hành chính quản lý nhà nước về du lịch biển từ thực tiễn tỉnh quảng trị

75 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn thạc sĩ luật hành chính quản lý nhà nước về du lịch biển từ thực tiễn tỉnh Quảng Trị
Tác giả Hoàng Thị Quyên
Trường học Trường Đại học Luật Huế
Chuyên ngành Luật hành chính quản lý nhà nước về du lịch biển
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được vấn đề đó tác giả xin chọn đề tài “Quản lý Nhà nước về du lịch biển từ thực tiễn tỉnh Quảng Trị” làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình với mong muốn hoàn thiện quy định ph

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Quyên

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH BIỂN 8

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về du lịch biển 8 1.2 Chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp quản lý nhà nước về du lịch biển 14 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước về du lịch biển 22

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH BIỂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG TRỊ 30

2.1 Những yếu tố đặc thù của tỉnh Quảng Trị ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về du lịch biển 30 2.2 Thực tiễn quản lý nhà nước về du lịch biển trên địa bàn tỉnh Quảng Trị 33 2.3 Đánh giá chung về hoạt động quản lý nhà nước về du lịch biển trên địa bàn tỉnh Quảng Trị 43

CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH BIỂN TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG TRỊ 52

3.1 Quan điểm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch biển từ thực tiễn tỉnh Quảng Trị 52 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch biển từ thực tiễn tỉnh Quảng trị 55

KẾT LUẬN 66 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

STT Viết tắt Nội dung

1 ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á

7 VHTTDL Văn hóa thể thao du lịch

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Dự báo nhu cầu nhân lực ngành Du lịch đến năm 2020 (theo ngành đào tạo) 27 Bảng 1.2 Dự báo nhu cầu nhân lực ngành Du lịch đến năm 2020 (theo vị trí làm việc và theo ngành nghề) 28 Bảng 2.1 Tổng hợp nguồn vốn bố trí cho hoạt động lập quy hoạch và xây dựng kết cấu hạ tầng về du lịch tại tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2014 - 2018 38 Bảng 2.2 Cơ cấu nguồn nhân lực du lịch của tỉnh Quảng Trị 39 Bảng 2.3 Công tác kiểm tra, thanh tra các hoạt động di lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Trị từ năm 2014 - 2018 42 Bảng 2.4 Dự báo khách du lịch đến Quảng Trị giai đoạn 2020-2025 46

Trang 5

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, ngành du lịch Việt Nam đã có nhiều khởi sắc, thay đổi diện mạo và từng bước khẳng định tầm vóc của ngành trong nền kinh

tế quốc dân, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước, xóa đói giảm nghèo và cải thiện đời sống cho người dân Du lịch không chỉ mang lại nguồn thu nhập lớn cho nền kinh tế, tạo việc làm, phát triển các ngành dịch vụ, cơ sở vật chất hạ tầng, mà còn thúc đẩy hòa bình, giao lưu văn hóa giữa các nước trên thế giới Ở Việt Nam du lịch nói chung và du lịch biển nói riêng đã và đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước Với bờ biển dài 3260

km cùng hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ và hàng trăm bãi tắm cát trắng trải dài từ Bắc vào Nam, Việt Nam có điều kiện vô cùng thuận lợi để phát triển ngành

du lịch biển

Hiện tại, hoạt động du lịch biển Việt Nam thu hút tới 80% lượng khách

du lịch và khoảng 70% tổng số các điểm du lịch của toàn quốc với nhiều bãi biển như Sầm Sơn, Quảng Trị, Thiên Cầm, Đá Nhảy, Cửa Tùng, Lăng Cô, Thuận An, Non Nước, Mỹ Khê, Nha Trang, Ninh Chữ, Mũi Né , Đó là những tiềm năng du lịch biển gắn với du lịch núi và du lịch văn hoá, du lịch nghỉ dưỡng, tạo cho ven biển Việt Nam trở thành một vùng du lịch độc đáo, hấp dẫn khách du lịch và đưa ngành du lịch đang dần trở thành một ngành

“công nghiệp không khói”, có ý nghĩa với cả nước

Nhận thức được tầm quan trọng của du lịch biển trong điều kiện xây dựng và phát triển đất nước, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để phát triển ngành du lịch Các cơ chế, chính sách liên quan đến ngành du lịch đã có nhiều thay đổi tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy ngành du lịch phát triển Bộ

Trang 6

2

Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/1/2017 về phát triển

du lịch trở thành “ngành kinh tế mũi nhọn” và đặc biệt hơn việc Quốc hội ban hành Luật Du lịch 2017 với sự điều chỉnh toàn diện có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo hành lang pháp lý thông thoáng, tạo động lực và môi trường thuận lợi thúc đẩy du lịch phát triển Với những thành tựu đạt được đó đã chứng minh được đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng và vai trò quản lý của Nhà nước ta đối với du lịch nói chung và du lịch biển nói riêng

Quảng Trị là tỉnh có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch biển Với chiều dài 75 km bờ biển với các bãi tắm đẹp như Cửa Tùng, Cửa Việt, Mỹ Thủy, đảo Cồn Cỏ là địa điểm dưỡng lý tưởng cho du khách khi đến với Quảng Trị Với vị trí nằm ở trung điểm của đất nước, có vai trò quan trọng trên tuyến đường huyết mạch chính của hành lang kinh tế Đông - Tây nối Lào-Thái Lan-Myanma qua 2 Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo và La Lay đến các cảng biển lớn của miền Trung Với hai cửa lạch lớn là Cửa Tùng và Cửa Việt, dọc bờ biển có nhiều vũng kín thuận lợi cho phát triển cảng, xây dựng khu sửa chữa, neo đậu tàu thuyền và nhiều bãi tắm đẹp, danh lam thắng cảnh là điều kiện thuận lợi cho địa phương phát triển du lịch sinh thái biển Cấp ủy đảng quan tâm lãnh đạo về mọi mặt, chính quyền tạo thuận lợi về cơ chế, chính sách để phát triển du lịch biển là điểm sáng cơ bản trong bức tranh tổng thể của du lịch tỉnh Quảng Trị

Trong những năm qua, du lịch biển Quảng Trị đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ Lượng khách du lịch đến biển Quảng Trị ngày càng tăng, nhiều

dự án đầu tư phát triển du lịch được triển khai xây dựng Cùng với sự phát triển chung của du lịch tỉnh, du lịch biển Quảng Trị đã chuyển biến ngày một mạnh mẽ với những bước tiến quan trọng cả về lượng và chất Tuy nhiên trong quá trình phát triển, bên cạnh những thành quả đã đạt được, du lịch biển Quảng Trị vẫn còn nhiều khiếm khuyết cần được khắc phục sớm Đó là hệ

Trang 7

3

thống văn bản, cơ chế chính sách còn chưa đồng bộ, cơ sở vật chất phục vụ du lịch biển còn thiếu, sản phẩm du lịch còn nghèo nàn và đơn điệu, chất lượng phục vụ du lịch chưa cao Một số yếu tố đã xuất hiện có ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của du lịch biển Quảng Trị và qua đó tác động đến việc thực hiện quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Quảng Trị chưa đạt được những

mục tiêu đã đề ra Nhận thức được vấn đề đó tác giả xin chọn đề tài “Quản lý Nhà nước về du lịch biển từ thực tiễn tỉnh Quảng Trị” làm đề tài luận văn

Thạc sĩ của mình với mong muốn hoàn thiện quy định pháp luật và công tác quản lý Nhà nước về du lịch biển nhằm mục đích đưa du lịch biển Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Trị nói riêng ngày càng phát triển và trở thành

“ngành kinh tế mũi nhọn” của đất nước

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Quản lý nhà nước về du lịch biển là một trong những nội dung quan trọng và là chính sách phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, hội nghị chuyên đề, hội thảo liên quan được tổ chức, nhiều đề tài cấp nhà nước, cấp ngành và một số công trình nghiên cứu đã được công bố trong thời gian qua Tiêu biểu như:

Lê Long (2012), Tăng cường công tác quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh lữ hành của ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh, Luận văn thạc sĩ kinh

tế, Trường Đại học kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại học Thái Nguyên Đây là công trình nghiên cứu QLNN đối với hoạt động kinh doanh lữ hành và tăng cường công tác quản lý nhà nước về kinh doanh lữ hành cụ thể tại tỉnh Quảng Ninh Luận văn đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm làm rõ chức năng, nhiệm vụ; đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm góp phần đổi mới

và nâng cao trình độ QLNN về hoạt động kinh doanh lữ hành ở tỉnh Quảng Ninh

Nguyễn Thị Thùy (2013), Quản lý nhà nước về du lịch tại huyện đảo

Trang 8

4

Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, Luận văn thạc sỹ Du lịch, Trường Đại học Khoa

học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề quản lý nhà nước về tài nguyên du lịch và thực tiễn hoạt động du lịch biển đảo ở Vân Đồn, Quảng Ninh để từ đó đưa ra các giải pháp thiết thực nhằm phát triển hơn nữa hoạt động du lịch ở Vân Đồn

Trần Phan Long (2013), Hoàn thiện quản lý Nhà nước về du lịch biển tại thị xã Cửa Lò, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Nha Trang Công trình nghiên cứu

đã phân tích những kết quả, những tồn tại bất cập và những thách thức đặt ra đối với du lịch biển và công tác quản lý nhà nước đối với du lịch biển tại Thị

xã Cửa Lò Từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước nhằm phát triển hơn nữa ngành du lịch biển của thị xã và đưa biển Cửa Lò trở thành một điểm du lịch lớn của cả nước

Lê Đình Hiếu (2018), Quản lý Nhà nước về du lịch biển từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện khoa học và xã hội

Luận văn phân tích đánh giá thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về du lịch biển ở thành phố Đà Nẵng, đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch biển trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nhằm thúc đẩy ngành du lịch biển của thành phố phát triển nhanh và bền vững, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới hiện nay

Các công trình nghiên cứu nêu trên từ các góc độ khác nhau đã phân tích, đánh giá tình hình quản lý nhà nước về du lịch Mỗi công trình có sự nhìn nhận từ các khía cạnh khác nhau đã góp phần hệ thống hóa lý luận, phản ánh một bức tranh thực tế về công tác quản lý nhà nước về du lịch nói chung và

du lịch biển nói riêng -là nguồn tư liệu quý để đề tài tham khảo và kế thừa Tuy nhiên lại chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ toàn diện và sâu sắc đối với công tác quản lý nhà nước về du lịch biển trên địa bàn tỉnh Quảng Trị Vì vậy tác giả chọn đề tài này làm công trình nghiên cứu của

Trang 9

5

mình nhằm góp phần làm rõ, bổ sung vào những khuyết điểm đó

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn có mục đích tổng quát là xây dựng luận cứ khoa học cho các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch biển ở tỉnh Quảng Trị nói riêng, trên địa bàn cả nước nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm sáng tỏ một cách hệ thống về lý luận về pháp luật công tác quản lí nhà nước trong lĩnh vực du lịch biển trong giai đoạn hiện nay

Phân tích những kết quả, những tồn tại bất cập và những thách thức đặt

ra đối với du lịch biển và công tác quản lý nhà nước đối với du lịch biển tại tỉnh Quảng Trị

Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước nhằm phát triển hơn nữa ngành du lịch biển của tỉnh Quảng Trị trở thành một điểm du lịch lớn của cả nước

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là một số vấn đề lý luận liên quan đến quản lý nhà nước về du lịch; các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định về việc quản lý nhà nước về du lịch biển tại tỉnh Quảng Trị

Trang 10

6

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về chủ quyền biển đảo Các quy định của pháp luật hiện hành, các báo cáo tổng hợp của cơ quan chức năng về tình hình phát triển du lịch nói chung và du lịch biển nói riêng của nước ta trong những năm qua

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu luật học, gồm: Phương pháp phân tích quy phạm để đánh giá các quy định của pháp luật du lịch Đồng thời kết hợp với phương pháp phân tích, đánh giá các thực trạng để có cái nhìn đúng đắn về tính hiệu quả của công tác áp dụng pháp luật Kiểm tra được tính hiệu lực và hiệu quả thật sự của pháp luật về quản lý nhà nước về du lịch biển trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng trị nói riêng Bên cạnh đó, luận văn còn dùng các phương pháp nghiên cứu khoa học, bao gồm:

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đề tài kế thừa có chọn lọc những kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan đến pháp luật quản lý nhà nước

về du lịch biển cơ sở các phân tích, bình luận để thể hiện góc nhìn mới, trực diện các vấn đề từ đó để có cái nhìn tổng quan

Phương pháp đối chiếu, so sánh: Trong quá trình nghiên cứu, để làm rõ vấn đề, tác giả sẽ tiến hành so sánh số liệu từ các năm để rút ra các đánh giá, nhận xét

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn góp phần làm rõ và hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản quản lý nhà nước về du lịch biển hiện nay

Trang 11

7

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn nghiên cứu đánh giá việc quản lý nhà nước về du lịch biển của tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn hiện nay, qua đó thấy được những hạn chế vướng mắc và từ đó luận văn đưa ra những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về du lịch biển nhằm phát triển hơn nữa ngành du lịch biển của tỉnh trong những năm tới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật của quản lý nhà nước về

du lịch biển

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch biển trên địa bàn tỉnh

Quảng Trị

Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước

về du lịch biển từ thực tiễn tỉnh Quảng Trị

Trang 12

8

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA QUẢN LÝ

NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH BIỂN

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về du lịch biển

1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về du lịch biển

1.1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước

Quản lý Nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người, duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa [33, tr 170]

Như vậy, quản lý Nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực Nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội Quản lý Nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản dưới luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng

bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước Hoạt động quản lý nhà nước chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được Nhà nước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của Nhà nước theo quy định của pháp luật

1.1.1.2 Khái niệm về du lịch biển

Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Ngày nay du lịch trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa xã hội của nhân dân các nước Khái niệm về du lịch có nhiều cách hiểu do được tiếp cận

Trang 13

9

bằng nhiều góc độ khác nhau:

Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization)- một tổ

chức thuộc Liên Hiệp Quốc “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền” Du lịch cũng là một dạng

nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư Du lịch được xem như là một chuyến đi của con người, với nhiều mục đích cụ thể riêng biệt đến một nơi khác mà không phải để định cư và có sự trở về sau

đã sử dụng trực tiếp mà không dịch nghĩa Trong tiếng Việt, thuật ngữ du lịch

là một từ gốc Hán - Việt, tạm hiểu là đi chơi, trải nghiệm Ngày nay, du lịch

đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến ở mọi quốc gia

Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 đã nêu khái niệm du lịch như

sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”

Biển là tài nguyên tự nhiên thuộc tài nguyên du lịch Con người có thể

Trang 14

10

tận dụng những vốn quý của tự nhiên để cải thiện và nâng cao cuộc sống cho mình Du khách đến biển sẽ được đáp ứng tốt nhất nhu cầu thông qua sức mạnh sáng tạo nhân văn của con người để phục vụ con người Du lịch biển hình thành và phát triển dựa vào tiềm năng của biển và những yếu tố khác do chính con người làm nên Theo luật Du lịch thì Du lịch biển là một loại hình dịch vụ du lịch sinh thái của ngành du lịch, là hoạt động liên quan đến chuyến

đi của con người nhằm tận hưởng khí hậu mát mẻ, dễ chịu của cảnh quan biển, ngoài ra còn đáp ứng được nhu cầu giải trí, thể thao, nghỉ dưỡng và tham quan du lịch nơi con người đến hưởng thụ ở biển Du lịch biển là ngành dịch

vụ tổng hợp, cùng với du lịch có chung mục đích là phục vụ nhu cầu của du khách, hoạt động kinh doanh với mục đích là thu lợi nhuận

1.1.1.3 Khái niệm quản lý nhà nước về du lịch biển

Du lịch là ngành kinh doanh tổng hợp và phổ biến Nó liên quan và tác động trực tiếp, gián tiếp đến những ngành, nghề khác nhau Du lịch biển là một loại hình kinh doanh du lịch phổ biến ngày nay Những sản phẩm du lịch mang lại hỗ trợ cho du lịch biển phát triển và ngược lại, những sản phẩm du lịch biển đóng góp to lớn cho sự phát triển toàn ngành du lịch Vì vậy, việc tăng cường QLNN đối với du lịch là một đòi hỏi tất yếu khách quan Hoạt động quản lý nhà nước do các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương tiến hành Trên cơ sở đó, QLNN đối với du lịch biển không chỉ là sự quản lý chung của nhà nước về du lịch mà còn là sự quản lý mang nét đặc trưng riêng của loại hình dịch vụ này

Nói đến QLNN về du lịch là nói đến cơ chế quản lý Trong cơ chế đó, phải đảm bảo hệ thống các công cụ quản lý phát huy được vai trò của mình trong cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội, đồng thời đảm bảo cho các hoạt động du lịch vừa hoạt động hiệu quả, vừa tuân thủ các quy định, yêu cầu của quy luật kinh tế Yêu cầu đặt ra đối với công tác QLNN là phải đảm bảo

Trang 15

11

môi trường thông thoáng, ổn định, định hướng hỗ trợ, thúc đẩy các hoạt động

du lịch phát triển nhưng có trật tự nhằm giải quyết hài hòa các lợi ích Thực hiện kiểm tra, giám sát hoạt động du lịch đảm bảo phát triển du lịch bền vững, phát triển một cách trật tự, ổn định, kỹ cương và uốn nắn những hiện tượng, hành vi vi phạm pháp luật

Từ đó có thể hiểu: Quản lý nhà nước về du lịch biển là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực nhà nước đối với hoạt động của nhà kinh doanh du lịch biển, du khách và các chủ thể khác liên quan nhằm đảm bảo tài nguyên biển được bảo tồn, du lịch biển phát triển theo đúng định hướng, chiến lược, tạo nên sự phát triển bền vững và có hiệu quả trong toàn ngành du lịch và trong nền kinh tế - xã hội của đất nước

1.1.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước về du lịch biển

Thứ nhất, quản lý Nhà nước về du lịch biển là hoạt động mang tính tổ

chức và điều chỉnh

Tính tổ chức và điều chỉnh được thể hiện ở việc các cơ quản quản lý nhà nước về du lịch biển ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để hướng các đối tượng quản lý là du lịch biển phát triển và theo một thể thống nhất Việc phát triển du lịch biển phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật để buộc hoạt động của nhà kinh doanh du lịch biển, du khách và các chủ thể khác liên quan phải thực hiện theo quy luật xã hội khách quan nhằm đạt được sự cân bằng trong xã hội

Thứ hai, quản lý Nhà nước về du lịch biển phải mang tính khoa học, tính

kế hoạch

Du lịch biển, đảo được xây dựng và phát triển trên cơ sở khai thác tài nguyên du lịch tự nhiên là ven biển, nước biển, cát biển, và các hòn đảo tự nhiên trên cơ sở khai thác và phát triển cùng với du lịch nhân văn Hoạt động

du lịch biển thường gắn với các hoạt động nghỉ mát, tắm biển, an dưỡng cũng

Trang 16

12

như các dịch vu giải trí, thể dục thể thao đi kèm đòi hỏi Nhà nước phải tổ chức các hoạt động quản lý, phải có một chương trình nhất quán, cụ thể Một bất lợi của du lịch biển đảo là cải tạo hạ tầng khó, và thường rất tốn kém so với các ngành du lịch khác Ví dụ như cải tạo các bãi biển, bảo tồn và nuôi trồng các khu san hô đòi hỏi phải có kỹ thuật cao, và chi phí rất lớn Bên cạnh đó Du lịch biển chịu sự tác động mạnh đến sự biến động của tự nhiên và khí hậu, nên việc quản lý nhà nước về du lịch biển đòi hỏi cơ quan quản lý phải có các chính sách cụ thể theo những kế hoạch được vạch ra từ trước trên

cơ sở nghiên cứu một cách khoa học và có kế hoạch

Thứ ba, quản lý Nhà nước là những tác động mang tính liên tục, và ổn

định

Du lịch biển là một ngành dễ bị chịu tác động của các yếu tố trong môi trường bao gồm kinh tế, chính trị, xã hội, luật pháp Du lịch biển chỉ có thể phát triển trong một môi trường có tính ổn định về mặt chính trị, quốc phòng

Sự đảm bảo vững chắc của an ninh và quốc phòng tạo môi trường ổn định cho đất nước và khách tham quan Từ đây, có thể thấy, du lịch biển là một ngành chịu ảnh hưởng khá nhiều các yếu tố từ an ninh, quốc phòng đến các nhân tố

xã hội

Cùng với sự vận động biến đổi của các yếu tố đó, hoạt động quản lý nhà nước về du lịch biển phải diễn ra thường xuyên, liên tục, không bị gián đoạn Các quyết định của Nhà nước phải có tính ổn định, không được thay đổi quá nhanh Việc ổn định của các quyết định của Nhà nước giúp cho các cơ quan quản lý có điều kiện kiện toàn hoạt động của mình và hệ thống hành vi xã hội được ổn định

1.1.3 Vai trò của quản lý nhà nước về du lịch biển

Thứ nhất, hoạt động QLNN về du lịch biển nhằm góp phần phát huy tối

đa tiềm năng, lợi thế của mỗi địa phương, đảm bảo việc phát triển du lịch biển

Trang 17

13

đi đúng hướng,; hạn chế những mặt tiêu cực trong việc phát triển du lịch biển mang lại như tình trạng ô nhiễm môi trường, phức tạp trong an ninh trật tự, Du lịch biển đóng góp rất nhiều cho một đất nước, một địa phương như tăng thu ngân sách, tạo ra nguồn ngoại tệ lớn góp phần tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên nó cũng có những tác động tiêu cực Bên cạnh đó, việc định hướng phát triển du lịch dài hạn góp phần đầu tư và kêu gọi đầu tư một cách bài bản,

có trọng tâm, trọng điểm Sự quản lý của nhà nước sẽ giúp cho các doanh nghiệp hoạt động trong khuôn khổ cho phép, xóa bỏ dần các hành vi kinh doanh thiếu văn minh, cạnh tranh không lành mạnh hoặc đơn thuần chạy theo lợi nhuận phá hoại môi trường sinh thái, môi trường xã hội gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với xã hội

Thứ hai, trong quá trình đầu tư, phát triển các loại hình dịch vụ du lịch

biển, các doanh nghiệp thường sẽ gặp các khó khăn, vướng mắc về thủ tục hành chính, về đăng kí, cơ quan quản lý nhà nước có vai trò quan trọng trong việc giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, tạo mọi điều kiện thuận lợi để cho các doanh nghiệp được phát triển hoạt động kinh doanh của mình bên cạnh nhiệm vụ hoạch định kế hoạch phát triển, kiểm tra, giám sát việc thực hiện của các doanh nghiệp

Thứ ba, việc quản lý Nhà nước bằng các chiến lược, chương trình phát

triển hợp lý vừa tạo nên những bước tiến trong lĩnh vực du lịch biển, vừa bảo

vệ lợi ích chính đáng của khách du lịch trong nước và quốc tế và các nhà đầu

tư, kinh doanh trong lĩnh vực du lịch biển Bên cạnh đó, việc đa dạng hóa sản phẩm du lịch biển là định hướng phát triển chung của toàn ngành sẽ mang đến

cơ hội cạnh tranh, thu hút khách du lịch quốc tế đến với Du lịch biển Việt Nam Với đặc điểm về sự giao lưu quốc tế rộng rãi thông qua việc thu hút, đáp ứng thị trường khách du lịch quốc tế đông đảo, phát triển du lịch đi đôi với việc mở rộng, tăng cường các hoạt động giao lưu văn hóa Hoạt động du

Trang 18

14

lịch giúp tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc, giúp khách du lịch hiểu biết rõ hơn về đất nước, con người Việt Nam Nhiều giá trị tích cực trong hình ảnh đất nước, con người Việt Nam được khám phá thông qua các trải nghiệm du lịch Nhiều địa danh du lịch của Việt Nam được các tổ chức, tạp chí quốc tế vinh danh, bầu chọn đã và đang góp phần thúc đẩy nhìn nhận tích cực về đất nước Việt Nam trên bình diện quốc tế

Thứ tư, quản lý nhà nước về du lịch biển góp phần giữ gìn an ninh quốc

phòng, chủ quyền quốc gia

Để du lịch không ngừng phát triển và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, sự phối hợp chặt chẽ giữa quốc phòng và an ninh với các hoạt động du lịch cùng với các ngành kinh tế khác có ý nghĩa cực kỳ quan trọng

Sự đảm bảo vững chắc về quốc phòng, an ninh tạo môi trường ổn định cho đất nước và khách tới tham quan Một thế giới bất ổn về chính trị và xung đột

về sắc tộc, tôn giáo làm ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch gây nên tâm lý hoài nghi, sợ hãi cho du khách Do vậy, công tác quản lý nhàn nước về du lịch biển của các cơ quan có thẩm quyền góp phần vào việc giữ vững an ninh quốc phòng và xác lập chủ quyền quốc gia

1.2 Chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp quản lý nhà nước về

du lịch biển

1.2.1 Chủ thể quản lý nhà nước về du lịch biển

Chủ thể quản lý nhà nước về du lịch biển là các cơ quan nhà nước hoặc được nhà nước trao quyền, ủy quyền để quản lý Trong những năm gần đây, ngành Du lịch đã nhận được sự quan tâm chỉ đạo kịp thời, sâu sát của Đảng, Nhà nước, sự nỗ lực vượt qua khó khăn của các cơ quan quản lý du lịch từ Trung ương đến địa phương và cộng đồng doanh nghiệp Bộ máy quản lý nhà nước về du lịch biển được tổ chức từ Trung ương đến địa phương và ngày càng được hoàn thiện để phát huy hết chức năng quản lý của mình

Trang 19

15

+ Các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch cấp Trung ương bao gồm: Tổng cục du lịch cùng các vụ chức năng; Các bộ ngành như: Bộ Tài chính, Ngân hàng nhà nước, Bộ Kế hoạch đầu tư

Từ ngày Luật Du lịch 2017 chính thức có hiệu lực thi hành, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về du lịch Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là

cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về du lịch Tổng cục Du lịch (tiếng Anh: Vietnam National Administration of Tourism) là một

cơ quan trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, (trước năm 2007 trực thuộc Chính phủ Việt Nam) có nhiệm vụ quản lý ngành du lịch ở Việt Nam Tổng cục du lịch được thành lập đã góp phần vào công tác chỉ đạo, phối hợp thực hiện kế hoạch, quy hoạch phát triển du lịch

+ Ở địa phương, cơ quan quản lý nhà nước về du lịch biển là Uỷ ban nhân dân các cấp, trực tiếp là Sở văn hóa- Thể thao và Du lịch

Cơ quan QLNN về du lịch ở địa phương là Sở Du lịch (Hiện nay, Sở Du lịch đã được đổi tên thành Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch) Sở Văn hóa – thể thao và Du lịch được ra đời theo Quyết định số 171/TTg ngày 17 tháng 4 năm 1993 của Thủ tướng Chính phủ Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch là cơ quan giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với các hoạt động du lịch trên phạm vi tỉnh, thành phố; chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Tổng cục Du lịch

Đối với hoạt động quản lý nhà nước về du lịch biển thì Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch thực hiện chức năng, nhiệm vụ sau:

- Tổ chức công bố quy hoạch sau khi được phê duyệt

- Tổ chức thực hiện điều tra, đánh giá, phân loại, xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên du lịch của tỉnh theo quy chế của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch,

Trang 20

16

- Thực hiện các biện pháp để bảo vệ, tôn tạo, khai thác, sử dụng hợp lý

và phát triển tài nguyên du lịch, môi trường du lịch, khu du lịch, điểm du lịch của tỉnh

- Tổ chức lập hồ sơ đề nghị công nhận khu du lịch địa phương, điểm du lịch địa phương, tuyến du lịch địa phương, công bố sau khi có quyết định công nhận

- Cấp, sửa đổi, bổ sung, cấp lại, gia hạn, thu hồi giấy phép thành lập văn phòng đại diện của doanh nghiệp du lịch nước ngoài đặt trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật và theo phân cấp, ủy quyền của UBND cấp tỉnh

- Thẩm định hồ sơ đề nghị cấp có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh

lữ hành quốc tế của các donah nghiệp trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật

- Quyết định xếp hạng 1 sao, hạng 2 sao cho khách sạn, làng du lịch, hạng đạt tiêu chuẩn kinh doanh biệt thự, căn hộ du lịch, hạng đạt tiêu chuẩn kinh doanh lưu trú du lịch đối với bãi cắm trại, nhà nghỉ du lịch, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê, cơ sở lưu trú du lịch khác

- Thẩm định và cấp biển hiệu đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch cho

cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch trong khu du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch

- Tổ chức cấp, cấp lại, đổi, thu hồi thẻ hướng dẫn viên du lịch, cấp thu hồi giấy chứng nhận thuyết minh viên theo quy định của Bộ Văn hóa

- Thể thao và Du lịch

- Xây dựng kế hoạch, chương trình xúc tiến du lịch và tổ chức thực hiện chương trình xúc tiến du lịch, sự kiện, hội chợ, hội thảo, triển lãm du lịch của địa phương sau khi được phê duyệt

1.2.2 Đối tượng quản lý nhà nước về du lịch biển

Du lịch biển đảo là loại hình du lịch được phát triển dựa trên những tiềm

Trang 21

17

năng về biển, diễn ra trong các vùng có tiềm năng về biển đảo hướng tới thỏa mãn nhu cầu của con người về vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, tham quan, tắm biển, nghiên cứu…vì vậy, đối tượng quản lý nhà nước về du lịch rất đa dạng, bao gồm: các cơ sở kinh doanh du lịch; đội ngũ lao động trong ngành du lịch; kết cấu hạ tầng kĩ thuật; tài nguyên du lịch; du khách, sản phẩm du lịch

Cơ sở kinh doanh là các tổ chức kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận trong lĩnh vực du lịch của tổ chức, cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ du lịch của khách du lịch Kinh doanh du lịch bao gồm các ngành nghề: kinh doanh lữ hành, kinh doanh lưu trú du lịch,; kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch, kinh doanh dịch vụ du lịch khác

Khách du lịch là đối tượng cung ứng của ngành du lịch Khách du lịch có thể là một tổ chức, một nhóm người, một cá nhân tham gia vào hoạt động du lịch với mục đích thỏa mãn nhu cầu vui chơi, tham gia, khám phá và giải trí của mình Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế

và đây là đối tượng quản lý chủ yếu của du lịch biển

Sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách Cũng như các ngành kinh doanh dịch vụ khác, sản phẩm của du lịch là sản phẩm đặc biệt, vừa bao gồm các sản phẩm có tính chất vô hình, không định lượng được, vừa bao gồm các sản phẩm hiện vật, hữu hình như các sản phẩm thông thường khác gồm:

Thắng cảnh biển – Di sản Thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long với sự kỳ

bí của hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ;

Các bãi biển phục vụ nghỉ dưỡng ven biển - dải ven biển miền Trung phục vụ nghỉ dưỡng biển kết hợp với nhiều hoạt động du lịch khác như tham quan các di sản văn hóa thế giới ;

Thể thao biển với các hoạt động thể thao quốc tế (lặn biển tại Nha Trang, lướt ván dù, ván buồm tại Mũi Né);

Trang 22

18

Du lịch đảo - nghỉ dưỡng và khám phá đảo (tại Phú Quốc, Côn Đảo) Bên cạnh đó đội ngũ lao động trong ngành du lịch; kết cấu hạ tầng kĩ thuật; tài nguyên du lịch cũng là một trong những đối tượng du lịch biển mà các cơ quan nhà nước cần phải quản lý Ngoài ra ở từng địa phương sẽ có từng thế mạnh du lịch biển riêng, cần khai thác và quản lý một cách có hiệu quả để du lịch biển trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia

1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về du lịch biển

Thứ nhất, xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế

Thứ hai, Ban hành văn bản pháp luật quản lý về du lịch biển

Pháp luật đối với nền kinh tế của một đất nước nói chung và cụ thể trong lĩnh vực du lịch nói riêng là những quy định của Nhà nước, là ý chí của Nhà nước bắt mọi chủ thể khác phải thực hiện Vì vậy, việc thiết lập khuôn khổ pháp lý thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về du lịch nói chung và du lịch biển nói riêng là điều cần thiết Cùng

Trang 23

19

với đó để chính sách pháp luật đi vào cuộc sống các cơ quan quản lý nhà nước

về du lịch biển phải tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật Tạo môi trường pháp lý vững chắc cho hoạt động du lịch Nhà nước bằng việc tạo lập các cơ quan và hệ thống tổ chức quản lý về du lịch, sử dụng bộ máy này để hoạch định các chiến lược, quy hoạch, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật Bên cạnh đó, việc hình thành cơ chế phối hợp hữu hiệu giữa các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch đối với các cấp trong hệ thống quản lý du lịch của trung ương, tỉnh, huyện cũng phải thực thi một cách có hiệu quả

Thứ ba, tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về du lịch biển

Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những chức năng trong công tác tổ chức thực hiện quản lý Nhà nước của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch; đây là khâu đầu tiên của quá trình thi hành pháp luật, nhằm đưa các quy định của pháp luật về lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch, đến với cán bộ và nhân dân Nhận thức được tầm quan trọng của công tác này, Ban Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch ở các địa phương rất quan tâm chỉ đạo thường xuyên công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật của ngành Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho các chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch trên địa bàn tỉnh Giúp họ am hiểu và chấp hành đúng các quy định về từng ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh; góp phần hạn chế các vi phạm pháp luật Từng bước đổi mới về nội dung, phương thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật, phù hợp theo từng nhóm đối tượng (cán bộ, công chức, viên chức, cơ sở kinh doanh dịch vụ và quần chúng nhân dân) Bên cạnh đó, chất lượng nguồn lực nhân lực hoạt động trong ngành du lịch là một trong những yếu tố tiên quyết, quyết định thành công của hoạt động du lịch Để hoạt động du lịch phát triển, việc tổ chức, đào tạo bồi dưỡng

và hỗ trợ bồi dưỡng nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch cần có chiến lược, định hướng nhằm nâng cao chất lượng nhân lực du lịch cũng chính là nâng

Trang 24

20

cao hiệu quả phục vụ du lịch Nhà nước kiểm tra đánh giá sức mạnh của hệ thống tổ chức quản lý du lịch cũng như năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về du lịch Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, bảo vệ tài nguyên du lịch, môi trường, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc

Thứ tư, hợp tác quốc tế về du lịch biển

Trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, để tạo điều kiện tốt hơn cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh du lịch ở địa phương, chính quyền cấp của quốc gia, của từng địa phương tiến hành cung cấp thông tin, cập nhật chính sách mới về du lịch, tổ chức tập huấn cho cán bộ QLNN và cán bộ quản trị doanh nghiệp để giúp họ hiểu rõ về các cam kết, nghĩa vụ của nhà nước và trách nhiệm của doanh nghiệp theo luật pháp quốc tế Trong lĩnh vực du lịch quốc tế, các quốc gia có quan hệ song phương hoặc trong cùng một khối kinh

tế, thương mại du lịch phối hợp với nhau trong nỗ lực nhằm đa dạng hóa phương thức quan hệ hợp tác quốc tế trong du lịch đạt tới mục tiêu và bảo đảm các cam kết đã kí[35, tr56] Ngoài ra các cơ quan có chức năng tiến hành

tổ chức và quản lý công tác tiếp xúc và hợp tác quốc tế về du lịch

Thứ năm, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong hoạt động du lịch

biển

Sự phát triển nhanh của du lịch sẽ làm phát sinh các hành vi tiêu cực như khai thác quá mức các công trình, khu, điểm du lịch, làm ô nhiễm môi trường sinh thái, những hoạt động kinh doanh du lịch trái với bản sắc văn hóa của đất nước, của địa phương Nhà nước giám sát hoạt động của mọi chủ thể kinh doanh du lịch cũng như cơ chế quản lý của các chủ thể đó Cấp và thu hồi giấy phép hoạt động trong hoạt động du lịch Nếu phát hiện thấy những lệch lạc, vi phạm trong kinh doanh dịch vụ du lịch thì sẽ có những biện pháp xử lý

Trang 25

21

1.2.4 Phương pháp quản lý nhà nước về du lịch biển

Phương pháp QLNN là cách thức thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của bộ máy hành chính nhà nước, cách thức tác động của chủ thể quản lý hành chính lên các đối tượng quản lý nhằm đạt được những hành vi xử sự cần thiết Để quản lý nhà nước về du lịch biển thì các phương pháp phải tập trung

và phù hợp với đối tượng quản lý Trong hoạt động quản lý nhà nước về du lịch biển, Nhà nước thực hiện các phương pháp sau:

Thứ hai, phương pháp kinh tế

Phương pháp kinh tế là các phương pháp tác động vào đối tượng quản lý thông qua các lợi ích kinh tế bằng việc sử dụng các đòn bẩy kinh tế để cho đối tượng quản lý tự lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quả nhất trong phạm

vi hoạt động của họ Phương pháp kinh tế được áp dụng phổ biến trong công tác quản lý nhà nước về du lịch biển Thông qua các hoạt động kinh doanh du lịch của các cơ sở kinh doanh, cơ quan nhà nước đưa ra các định mức kinh tế như thuế suất, lãi suất để áp dụng Ngoài ra, để các đối tượng tham gia vào hoạt động du lịch biển phát huy tối đa khả năng của mình, Nhà nước đưa ra các chính sách ưu đãi về kinh tế như chính sách thuế, ưu đãi lãi suất ngân hàng; giải pháp hỗ trợ phát triển

Trang 26

22

Thứ ba, phương pháp thuyết phục, giáo dục

Thuyết phục là làm cho đối tượng quản lý hiểu rõ sự cần thiết và tự giác thực hiện những hành vi nhất định hoặc tránh thực hiện những hành vi nhất định

Phát triển kinh tế biển gắn với chủ quyền quốc gia là nội dung chính sách mà Đảng ta quan tâm Vì thế phương pháp giáo dục, thuyết phục đối với

du lịch biển là cần thiết Công tác giáo dục, thuyết phục đến mọi đối tượng về vai trò của du lịch biển nhằm mục đích nâng cao ý thức tự giác, có trách nhiệm của mọi đối tượng Bên cạnh đó, rèn luyện giáo dục đội ngũ cán bộ công chức về đường lối, chủ trương của Đảng, về ý thức lao động, sáng tạo, quản lý

Trong quá trình quản lý về du lịch biển, cơ quản quản lý nhà nước căn

cứ vào mục tiêu, yêu cầu và quan trọng hơn hết cần xác định đối tượng ở đây

là du lịch biển để lựa chọn phương pháp phù hợp Hơn thế nữa, để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch biển, cần phải biết vận dụng tổng hợp các phương pháp quản lý để phát huy tối đa năng lực của cơ quan quản lý

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước về du lịch biển

1.3.1 Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về biển đảo

Chính sách phát triển du lịch là chìa khóa dẫn tới sự thành công trong việc phát triển du lịch Nó kìm hãm nếu như đường lối sai với thực tế Kế thừa và phát triển ý thức về chủ quyền biển đảo của ông cha ta trong lịch sử, thể hiện trong việc quản lý, sử dụng, khai thác và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, đồng thời, nhận thức được tầm quan trọng của biển đảo đối với sự phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay, trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách về biển và hải đảo

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 “về Chiến lược biển Việt

Trang 27

23

Nam đến năm 2020” trong đó Nghị quyết đã xác định các quan điểm chỉ đạo

về định hướng Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 Để có thể thực hiện mục tiêu đến năm 2020 đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển, đảo của Tổ quốc, cùng với việc xác định bối cảnh quản lý nhà nước về biển và hải đảo của nước

ta đang thay đổi và có những diễn biến phức tạp, điều quan trọng trước tiên đặt ra cho công tác quản lý nhà nước về biển và hải đảo là phải đổi mới tư duy quản lý Điều này được đặt ra như một vấn đề có ý nghĩa chiến lược, cấp bách, đồng thời, hoàn thiện và phát huy hiệu quả chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về biển và hải đảo thích ứng được với tình hình mới.[6, tr9]

Thứ nhất, quản lý nhà nước tổng hợp, thống nhất về biển và hải đảo,

đảm bảo hiệu lực, hiệu quả

Thứ hai, quản lý nhà nước về biến đảo phải kết hợp hài hòa các mục tiêu

tăng trưởng kinh tế với phát triển bền vững, tăng trưởng xanh với an ninh - quốc phòng

Thứ ba, phát huy vai trò của người dân trong quản lý biển và hải đảo

Tuy đây không phải là một vấn đề mới, bởi quan niệm “lấy dân làm gốc” hay “dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” đã được chứng minh trong thực tiễn lịch sử 4.000 năm dựng nước và giữ nước của Việt Nam ta, song đối với quản lý biển và hải đảo, với đặc thù của mình

và nhất là trong bối cảnh hiện nay, người dân ven biển bám biển, bám tàu sẽ

là lực lượng đông đảo cùng với nhà nước bảo vệ chủ quyền biển đảo, phát triển kinh tế biển, giữ gìn môi trường biển Không có nguồn nhân lực hành chính nhà nước nào đủ đông đảo và túc trực 24/24h trên vùng biển rộng lớn như lực lượng ngư dân Cũng chính họ là những người hàng ngày gắn bó với

môi trường biển, quyết định nó trong sạch hay ô nhiễm [23, tr.8]

Trang 28

24

1.3.2 Pháp luật

Để quản lý được các hoạt động du lịch, Nhà nước phải sử dụng các công

cụ quản lý Một trong những công cụ hữu hiệu nhất của Nhà nước là ban hành các văn bản quy phạm pháp luật Pháp luật luôn là hành lang pháp lý vững chắc, là môi trường pháp lý để điều chỉnh các hoạt động quản lý Nhà nước về

du lịch

Nhằm khắc phục những hạn chế cũng như tạo sức bật cho du lịch biển, đảo, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã xây dựng đề án “Phát triển du lịch biển, đảo và vùng ven biển Việt Nam đến năm 2020” Mục tiêu của đề án là đến năm 2020, du lịch biển sẽ trở thành động lực của kinh tế biển Việt Nam, góp phần đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển và bảo đảm vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển, đảo góp phần làm cho đất nước giàu mạnh

Để nâng cao tầm vóc và xây dựng thương hiệu du lịch biển Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 201/QĐ-TTg, về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Theo các chuyên gia, việc chú trọng đẩy mạnh phát triển

du lịch biển đảo là một định hướng đúng đắn, phù hợp với thế mạnh của ngành Du lịch Việt Nam và mang ý nghĩa đặc biệt trong việc khẳng định và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ đất nước

Từ đầu năm 2017, các chỉ đạo ở tầm vĩ mô tạo bước chuyển biến lớn trong công tác quản lý và các hoạt động phát triển du lịch Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08/NQ-TW về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn chỉ đạo toàn bộ hệ thống chính trị tập trung triển khai thực hiện các giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 103/NQ-CP triển khai thực hiện NQ 08 với nhiều giải pháp đồng bộ và 15 nhiệm vụ trọng tâm

Trang 29

25

Luật Du lịch 2017, Nghị định số 168 của Chính phủ, Thông tư số 06 của

Bộ VHTTDL quy định chi tiết thực hiện luật với tinh thần đổi mới đã tạo sự thay đổi mạnh mẽ trong công tác quản lý kinh doanh du lịch Tại các địa phương, việc thành lập 13 Sở Du lịch tại các địa bàn du lịch trọng điểm đã góp phần thúc đẩy hoạt động du lịch sôi nổi, hiệu quả hơn

Trước yêu cầu đặt ra để đưa Du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, Chính phủ đã ra Nghị quyết 19-2018/NQ-CP ngày 15/5/2018 về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh,

nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2018 và những năm tiếp theo

Nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các cá nhân, cơ sở hoạt động trong lĩnh vực du lịch và du khách thì công tác kiểm tra, thanh tra xử lý

vi phạm pháp luật về du lịch là một trong những nội dung cần thiết Ngày 21/5/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 45/2019/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực du lịch

1.3.3 Đặc thù biển đảo Việt Nam

Việt Nam có nhiều tiềm năng về du lịch biển đảo khi sở hữu đường bờ

biển dài hơn 3.260 km và hơn 3.000 hòn đảo, với những bờ cát trắng, vịnh biển hoang sơ, những hòn đảo nhiệt đới quanh năm tươi tốt…

Việt Nam đứng thứ 27 trong số 156 quốc gia có biển trên thế giới và là nước có diện tích ven biển lớn ở khu vực Đông Nam Á Và có tới 125 bãi biển mà hầu hết là các bãi tắm đẹp, trong đó bãi biển Đà Nẵng đã được tạp chí Forbes bầu chọn là 1 trong 6 bãi tắm quyến rũ nhất hành tinh Việt Nam cũng

là 1 trong 12 quốc gia có các vịnh đẹp nhất thế giới là Vịnh Hạ Long, Vịnh Nha Trang

Về mặt hành chính, 28 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là các địa phương có biển, với diện tích tự nhiên là 126.747 km2 Bên cạnh đó, lãnh thổ vùng đất ven biển, vùng biển và hệ thống các đảo, nơi diễn ra du lịch biển đảo

Trang 30

26

và vùng ven biển tập trung tới 7/13 di sản thế giới ở Việt Nam; 6/8 các khu dự trữ sinh quyển; nhiều vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên…

Ngoài ra, từ bao đời nay, biển đảo không chỉ là nơi cung cấp nguồn sống,

mà còn là không gian để cộng đồng người Việt tạo lập nên một nền văn hóa biển đảo, với những di sản văn hóa đặc sắc Việc khai thác và sử dụng tài nguyên, môi trường biển và hải đảo trong những năm qua đã được Đảng và Nhà nước chú trọng và đã có nhiều chủ trương, chính sách đối với việc khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo Ðây chính là

nguồn tài nguyên giàu có để phát triển du lịch biển đảo bền vững

đó là điều cần thiết trong hoạt động quản lý du lịch có hiệu quả

Nhu cầu nhân lực của ngành Du lịch ngày càng gia tăng Cụ thể dự báo năm 2020 tăng 40% so với năm 2015 Trong đó, nhu cầu nhân lực có trình độ đại học được dự báo chiếm 0,7%; trình độ đại học, cao đẳng chiếm 15%; Trình độ trung cấp chiếm 13%; trình độ sơ cấp chiếm 22,3% và trình độ dưới

sơ cấp chiếm 49%

Trang 31

27

Bảng 1.1 Dự báo nhu cầu nhân lực ngành Du lịch đến năm 2020

(theo ngành đào tạo) Chỉ tiêu Số lượng (Người) Tỉ lệ (%)

2 Trình độ đại học, cao đẳng 130.500 15,00

5 Trình độ dưới sơ cấp (qua đào tạo tại

chỗ, truyền nghề hoặc huấn luyện ngắn hạn) 426.300 49,00

Nguồn: Viện Nghiên cứu phát triển du lịch

Theo Tổng cục Du lịch (Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch), mỗi năm toàn ngành cần thêm gần 40.000 lao động về trình độ ngoại ngữ của nguồn nhân lực ngành Du lịch cho thấy, ngoại ngữ tiếng Anh hiện chiếm khoảng 42% nhân lực toàn ngành, tiếng Trung, tiếng Pháp và các tiếng khác với tỷ lệ tương ứng là 5%, 4% và 9% nhân lực Như vậy, nhu cầu về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực cho ngành Du lịch là rất lớn, trong đó đáng chú ý là nhu cầu nhân lực có trình độ cao ngày một gia tăng

Quy mô đào tạo mới tăng mạnh, chất lượng cơ bản đảm bảo, dần gắn với nhu cầu xã hội Cơ cấu ngành, nghề đào tạo từng bước chuyển dịch theo hướng tích cực Nhiều ngành, nghề đào tạo mới xuất hiện đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch, nhu cầu đào tạo du lịch nói riêng và phát triển kinh tế-xã

hội trong hội nhập quốc tế nói chung [20, tr 28]

Trang 32

28

Bảng 1.2 Dự báo nhu cầu nhân lực ngành Du lịch đến năm 2020

(theo vị trí làm việc và theo ngành nghề)

Chỉ tiêu Số lượng (người)

A Phân theo vị trí việc làm 870.000

1 Nhân lực quản lý Nhà nước về du lịch 5.800

2 Nhân lực quản trị doanh nghiệp (từ trưởng, phó

Nguồn: Viện Nghiên cứu phát triển du lịch

Công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành du lịch được

Nhà nước quan tâm một cách đáng kể Bên cạnh đó công tác đào tạo nguồn

cán bộ chất lượng cao tại địa phương cũng được chú trọng Phòng Văn hóa và Thông tin đã phối hợp với phòng Giáo dục và Đào tạo ở các địa phương, các

cơ sở đào tạo xây dựng và hoàn thiện nội dung đào tạo về nghiệp vụ du lịch

biển

Tiểu kết Chương 1

Chương 1 đã đưa ra được những vấn đề lý luận cơ bản và pháp luật của quản lý nhà nước về du lịch biển Theo đó, để hiểu rõ hơn về du lịch biển và công tác quản lý nhà nước, chương 1 đã tập trung phân tích các khái niệm về

du lịch biển, khái niệm về quản lý nhà nước, đưa ra khái niệm và vai trò quản

lý nhà nước về du lịch biển Từ đó thấy rằng, để du lịch biển phát triển theo một thể thống nhất trong nền kinh tế của quốc gia, thì công tác quản lý nhà

Trang 33

29

nước hết sức quan trọng Đồng thời, chương 1 đưa ra những cơ sở lý luận cơ bản bao gồm chủ thể, nội dung, đối tượng, phương pháp QLNN đối với du lịch biển, phân tích các yếu tố tác động đến sự phát triển của du lịch biển Làm rõ các quy định của pháp luật về công tác quản lý Nhà nước về du lịch

biển, và các hình thứ xử phạt nếu vi phạm

Trang 34

30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH BIỂN TRÊN

tế Phú Bài 92km và cảng Chân Mây 120km về phía Nam; Cách thành phố Đà Nẵng 150km, cách sân bay quốc tế Đà Nẵng 170km và cảng Tiên Sa Đà Nẵng 170km về phía Nam; Phía Tây giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào; Phía Đông giáp biển Đông: Quảng Trị có bờ biển dài 75 km với 2 cảng biển (cảng Cửa Việt, cảng Mỹ Thủy) là điều kiện hết sức thuận lợi để mở rộng giao thương, phát triển kinh tế biển trong và ngoài nước, là những cảng ra biển cho các tỉnh Bắc Trung Bộ của Việt Nam và cho các tỉnh của Lào, Đông Bắc Thái Lan và Mianmar

Quảng Trị là điểm đầu trên tuyến đường huyết mạch chính của Hành lang kinh tế Đông –Tây về phía Việt Nam nối với Lào -Thái Lan –Mianmar qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo đến cảng biển Cửa Việt, Mỹ Thủy là cửa ngõ hướng ra biển đông của các nước liên quan trong tiểu vùng sông MêKông mở rộng Đây là điều kiện rất thuận lợi để Việt Nam nói chung cũng như Quảng Trị nói riêng mở rộng hợp tác kinh tế trong khu vực, giao thương hàng hóa, vận tải quốc tế, phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch với các nước trong khu vực Những lợi thế về vị trí địa lý đang tạo cho Quảng Trị một nền tảng

Trang 35

31

rất cơ bản để có thể tăng cường mở rộng giao lưu, hợp tác kinh tế trong nước

và tăng cường liên kết, hội nhập với các nước trong khu vực và quốc tế, đẩy nhanh hơn nữa phát triển du lịch biển của tỉnh trong thời gian tới

2.1.2 Tình hình kinh tế- xã hội

Thời gian qua, cũng như các tỉnh trong khu vực miền Trung được Nhà nước quan tâm đầu tư, cùng một số chính sách ưu đãi khác, tiềm lực kinh tế của Quảng Trị có những bước phát triển mới: Khu kinh tế thương mại Lao Bảo phát triển có nhiều khởi sắc; các khu công nghiệp Nam Đông Hà, khu công nghiệp Quán Ngang; các cụm tuyến du lịch Hiền Lương, Cửa Tùng, Khe Sanh, Lao Bảo được đầu tư về hạ tầng, thu hút đầu tư, đang từng bước phát huy hiệu quả; cơ sở hạ tầng giao thông, mạng lưới điện, cấp thoát nước, bưu chính viễn thông không ngừng được mở rộng; quy mô nền kinh tế không ngừng được phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ Các lĩnh vực xã hội như: xóa đói giảm nghèo, y tế, giáo dục - đào tạo, văn hóa - thể thao được chú trọng phát triển

Các hoạt động trên lĩnh vực văn hóa, xã hội có những chuyển biến tích cực; đời sống nhân dân được cải thiện Các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, thông tin truyền thông được diễn ra rộng khắp, chu đáo với nhiều hình thức phong phú và đa dạng Công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em, chăm lo cho các đối tượng chính sách, hộ nghèo, vùng ảnh hưởng thiên tai, được các ngành, các địa phương quan tâm thực hiện tốt

Công tác thực hiện cải cách hành chính, thực hiện kỷ luật, kỷ cương được quan tâm đẩy mạnh Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và

an ninh biên giới tiếp tục được giữ vững, ổn định Các ngành chức năng đã tổ chức lực lượng, đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm:

ma túy, mại dâm, trộm cắp tài sản, gây rối trật tự công cộng

Trang 36

32

2.1.3 Tiềm năng, thế mạnh để phát triển du lịch biển

Quảng Trị là tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ với bờ biển dài khoảng 75km,

có 4 huyện ven biển: Vĩnh Linh, Gio Linh,Triệu Phong, Hải Lăng với 12 xã, thị trấn giáp biển và 4 xã cửa lạch cùng huyện đảo Cồn Cỏ nằm cách bờ 28km Với bờ biển dài khoảng 75 km với nhiều bãi biển đẹp, cát trắng, nước trong xanh và hệ sinh thái đa số còn nguyên sơ, môi trường trong lành, có khả năng khai thác du lịch cao, có những bãi biển nổi tiếng trong cả nước Đó là bãi biển Cửa Tùng dù có quy mô không lớn nhưng từng được mệnh danh là “Nữ hoàng của các bãi biển” bởi phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp nằm liền kề với Địa đạo Vịnh Mốc, một trong những điểm đến không thể thiếu của tuyến du lịch nổi tiếng DMZ (khu vực phi quân sự) và Mũi Trèo, một điểm du lịch biển mới nhưng rất hấp dẫn đối với nhiều du khách gần xa Bên cạnh đó là bãi biển Cửa Việt với diện tích lớn, cách thành phố Đông Hà khoảng 14 km, có hệ thống giao thông kết nối rất thuận lợi, thu hút lượng lớn khách du lịch Cách hai bãi biển này không xa là đảo Cồn Cỏ với diện tích khoảng 230 ha, một địa danh nổi tiếng từ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nơi có hệ sinh thái rừng và biển đa dạng, phong phú còn tương đối nguyên vẹn Cùng với những điểm nhấn cơ bản này, du lịch biển Quảng Trị còn có các bãi biển Mỹ Thủy ở huyện Hải Lăng, bãi biển Triệu Lăng ở huyện Triệu Phong, các bãi biển Vĩnh Thái, Vĩnh Kim ở huyện Vĩnh Linh…cũng là một trong những bãi biển đẹp

và được nhiều du khách quan tâm chọn làm điểm đến khi du lịch Quảng Trị

Từ năm 2002 Khu dịch vụ – du lịch biển Cửa Việt đã được xây dựng với diện tích vùng trung tâm 141 ha, bao gồm các khu dịch vụ khách sạn, nghỉ dưỡng, khu đô thị mới cùng hệ thống hạ tầng phục vụ du lịch biển Hiện nay Khu dịch vụ – du lịch Cửa Việt đã có một số dự án hoàn thành đưa vào sử dụng cũng như đang trong quá trình đầu tư với tổng vốn đăng ký đầu tư khoảng 1.500 tỷ đồng

Trang 37

33

Khu du lịch Cửa Tùng có diện tích 135 ha được UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch vào năm 2004; năm 2007, UBND tỉnh có quyết định điều chỉnh quy hoạch chi tiết Đến thời điểm này, nơi đây đã và đang được các ngành, cơ quan chức năng, doanh nghiệp đầu tư từng bước hoàn thiện kết cấu hạ tầng,

hệ thống khách sạn, nhà hàng và các công trình phụ trợ; tu bổ, chỉnh trang lại bãi tắm do ảnh hưởng bởi yếu tố dòng chảy và thiên tai

Đối với đảo Cồn Cỏ, được sự quan tâm đầu tư kịp thời, hiệu quả của Trung ương, địa phương, đang từng bước trở thành một địa chỉ du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng chất lượng cao Trong chiến lược phát triển, Cồn Cỏ

đã được quy hoạch trở thành đảo du lịch nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, gắn với củng cố quốc phòng – an ninh Huy động được nhiều nguồn lực đầu tư hạ tầng giao thông, kỹ thuật và các công trình công cộng phục vụ phát triển du lịch biển gắn với tổ chức thành công nhiều sự kiện, hoạt động xúc tiến, quảng bá và kêu gọi đầu tư về lĩnh vực này

Với vị trí nằm ở trung điểm của đất nước, có nhiều bãi tắm đẹp, danh lam thắng cảnh là điều kiện thuận lợi cho Quảng Trị phát triển du lịch sinh thái biển Tài nguyên biển phong phú chính quyền địa phương tạo thuận lợi

về cơ chế, chính sách để phát triển du lịch biển là điểm sáng cơ bản trong bức tranh tổng thể của du lịch biển tỉnh Quảng Trị

2.2 Thực tiễn quản lý nhà nước về du lịch biển trên địa bàn tỉnh Quảng Trị

2.2.1 Xây dựng chủ trương, chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch biển

Để khai thác tiềm năng du lịch biển, thời gian qua tỉnh đã ban hành, triển khai thực hiện nhiều chủ trương, chính sách phù hợp, hiệu quả; huy động được nhiều nguồn lực đầu tư để phát triển hạ tầng giao thông, kỹ thuật, các công trình công cộng; làm tốt công tác phối hợp giữa các ngành, địa phương

Ngày đăng: 14/04/2023, 12:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2017), Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn ; tr 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2017
7. Lê Đình Hiếu (2018), Quản lý Nhà nước về du lịch biển từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện khoa học và xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Nhà nước về du lịch biển từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng
Tác giả: Lê Đình Hiếu
Năm: 2018
9. Trần Phan Long (2013), Hoàn thiện quản lý Nhà nước về du lịch biển tại thị xã Cửa Lò, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện quản lý Nhà nước về du lịch biển tại thị xã Cửa Lò
Tác giả: Trần Phan Long
Năm: 2013
10. Phạm Trung Lương (2000), Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam
Tác giả: Phạm Trung Lương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
11. Lê Long (2012), Tăng cường công tác quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh lữ hành của ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường công tác quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh lữ hành của ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Lê Long
Năm: 2012
12. Trần Phan Long (2014), Quản lý nhà nước về du lịch biển: Thực tiễn và kinh nghiệm, Tạp chí tài chính điện tử - Cơ quan thông tin của Bộ tài chính số13, tr 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về du lịch biển: Thực tiễn và kinh nghiệm
Tác giả: Trần Phan Long
Năm: 2014
13. Anh Minh (2018), Triển khai công tác quản lý Nhà nước về du lịch, Tạp chí du lịch số23, tr 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển khai công tác quản lý Nhà nước về du lịch
Tác giả: Anh Minh
Năm: 2018
14. Huy Nam (2018), Phát triển du lịch biển, thực trạng và giải pháp, Quảng Trị travel, ngày truy cập 1/7/2019https://quangtritravel.vn/phat-trien-du-lich-bien-thuc-trang-va-giai-phap-bai-1-giau-tiem-nang-va-nhieu-co-che-chinh-sach/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch biển, thực trạng và giải pháp
Tác giả: Huy Nam
Năm: 2018
17. Võ Thị Thu Ngọc (2017), Quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn Thừa Thiên Huế, Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Kinh tế và Phát triển; ISSN 25881205, Tập 126, (Số 5C), Tr. 5-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn Thừa Thiên Huế
Tác giả: Võ Thị Thu Ngọc
Năm: 2017
18. Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (2005), Luật du lịch, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật du lịch
Tác giả: Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
19. Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (2012), Luật xử lý vi phạm hành chính, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật xử lý vi phạm hành chính
Tác giả: Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012
20. Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (2005), Bộ luật hình sự 2015, sđbs 2017, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự 2015, sđbs 2017
Tác giả: Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
21. Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (2017), Luật du lịch, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật du lịch
Tác giả: Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2017
24. Lê Văn Thông (2018), Đào tạo nguồn nhân lực ngành Du lịch đáp ứng yêu cầu hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN, Tạp chí công thương số 14, tr 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo nguồn nhân lực ngành Du lịch đáp ứng yêu cầu hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN
Tác giả: Lê Văn Thông
Năm: 2018
25. Trần Văn Thông (2006), Tổng quan Du lịch, Nhà Xuất bản Đại học Quốc gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan Du lịch
Tác giả: Trần Văn Thông
Nhà XB: Nhà Xuất bản Đại học Quốc gia TP.HCM
Năm: 2006
29. Nhất Thống (2016), Đổi mới tư duy quản lý nhà nước về biển và hải đảo trong bối cảnh hiện nay; Tổng cục biển và hải đảo Việt Nam, tr 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tư duy quản lý nhà nước về biển và hải đảo trong bối cảnh hiện nay
Tác giả: Nhất Thống
Năm: 2016
30. Nguyễn Thị Thùy (2013), Quản lý nhà nước về du lịch tại huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, Luận văn thạc sỹ Du lịch, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội; tr 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về du lịch tại huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Nguyễn Thị Thùy
Năm: 2013
31. Ngô Thị (2018), Du lịch biển Quảng Trị -Những vấn đề cần quan tâm, IPA Quảng Trị, ngày truy cập 12/7/2019;https://ipa.quangtri.gov.vn/vi/news/Du-lich-bien-dao/du-lich-bien-quang-tri-nhung-van-de-can-quan-tam-1987.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch biển Quảng Trị -Những vấn đề cần quan tâm
Tác giả: Ngô Thị
Năm: 2018
15. Trịnh Bang Nhiệm (2017), Du lịch biển Quảng Trị dần hồi sinh, Tin tức, ngày truy cập 5/7/2019https://baotintuc.vn/kinh-te-bien-dao/du-lich-bien-quang-tri-dan-hoi-sinh-20170411203406708.htm Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w