Bảo vệ rơ le và tự động hóa hệ thống điện GVHD BẢO VỆ DÒNG ĐIỆN CÓ HƯỚNG I NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG Để tăng cường tính đảm bảo cung cấp điện cho các hộ tiêu thụ, hiện nay người ta thường thiết kế các mạng.
Trang 1BẢO VỆ DÒNG ĐIỆN CÓ HƯỚNG
I NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG
Để tăng cường tính đảm bảo cung cấp điện cho các hộ tiêu thụ, hiện nay người
ta thường thiết kế các mạng hình vòng và mạng có hai đầu cung cấp Đối với loại mạng điện này, BV dòng điện cực đại có thời gian làm việc chọn theo nguyên tắc từng cấp không thể đảm bảo cắt NM một cách chọn lọc được
Ví dụ, trong mạng hình tia (H.4.1), giả thiết ở mỗi đầu đường dây đặt các BV quá dòng điện thông thường đánh số thứ tự từ 1 đến 6 Muốn thực hiện cắt chọn lọc NM N1
cần thỏa mãn t3 < t2 Nhưng muốn cắt chọn lọc NM N2 thì yêu cầu ngược lại t2 < t3 Trong thực tế, không thể đồng thời thỏa mãn hai yêu cầu đó Ta có thể khắc phục khó khăn trên bằng cách, chỉ cho BV tác động khi công suất NM đi từ thanh góp đến đường dây Muốn vậy, mỗi bộ BV cần có thêm bộ phận định hướng công suất, bộ phận này chỉ cho phép BV tác động khi công suất NM đi từ thanh góp đến đường dây Trên hình 4.1, các mũi tên chỉ hướng tác động của BV Nhờ vậy khi NM ở N1 BV2 không tác động, còn NM ở N2 BV3 không tác động Khi dùng BV dòng điện có hướng, chỉ cần các BV
cùng hướng tác động: t5 < t3 < t1 và t2 < t4 < t6.
Trong BV dòng điện có hướng, rơle
công suất làm nhiệm vụ của bộ phận
định hướng công suất Trên hình 1cho sơ
đồ cấu trúc của BV dòng điện có hướng:
RI - rơle dòng điện; AND - mạch lôgic
“VÀ” RW - phần tử định hướng công suất
Trang 2II PHẦN TỬ ĐỊNH HƯỚNG CÔNG SUẤT
Để phân tích cách làm việc của rơle định
hướng công suất, chúng ta sẽ khảo sát các đồ thị
vectơ tương ứng với những chiều khác nhau của
công suất NM đi qua BV2 trên hình 4.3 Lấy
điện áp đưa vào rơle RW là điện áp ở thanh góp
trạm B, lấy UB làm gốc Góc lệch pha giữa
dòng điện và điện áp có giá trị dương nếu
vectơ dòng điện chậm sau điện áp và âm nếu
ngược lại
- Khi NM tại điểm N2 (H.4.3), giả
thiết công suất NM qua BV2 đi từ thanh góp vào đường dây IR = IN2 và jR = (UR, IR)
- Khi NM tại điểm N1, công suất NM qua BV2 đi từ đường dây vào thanh góp B, dòng rơle IR (với chiều dương chấp nhận trước) bằng - IN1 và j2 = j1 – 180°
Như vậy, khi dời điểm NM từ vùng BV sang vùng không được BV pha của dòng điện
IR đối với điện áp UR đã thay đổi 180° giống như chiều của công suất NM Như thế rơle định hướng công suất làm việc trên cơ sở góc pha tương đối giữa dòng và áp tại chỗ đặt
BV Rơle định hướng công suất có thể làm việc theo dòng và áp toàn phần hay dòng và
áp các thành phần thứ tự
Để cho rơle làm việc đúng theo
hướng mong muốn, ta quan sát sự phân bố áp
các thành phần thứ tự khi có NM trên
hình 4.4, ta nhận xét công suất NM toàn phần
và thứ tự thuận đi từ nguồn đến chỗ NM,
công suất thứ tự nghịch đi từ chỗ NM đến
nguồn, còn công suất thứ tự không đi từ chỗ
NM đến thanh góp (trung tính nối đất của máy
biến áp (MBA)
Do đó khi chọn và nối sơ đồ của rơle định hướng, phải lưu ý theo chiều công suất của dòng toàn phần hay theo các thành phần thứ tự, nếu phần tử định hướng công suất làm việc theo dòng và áp toàn phần và thứ tự thuận thì chiều công suất NM là từ thanh góp
Trang 3vào chỗ NM, còn làm việc theo thành phần thứ tự nghịch và không thì chiều công suất
NM đi từ chỗ NM đến thanh góp
1 Đặc tính làm việc của phần tử định hướng công suất:
Để xác định hướng công suất, người ta dùng bộ so sánh pha để xác định quan hệ giữa hai đại lượng và đưa vào rơle hoặc dùng bộ so sánh trị số tuyệt đối của hai đại lượng và tổ hợp của hai tín hiệu và cũng cho ta quan hệ góc pha giữa và Người ta có thể dùng các giản đồ sau để biểu diễn sự làm việc của phần tử định hướng công suất (H.4.5) Đặc tính làm việc của phân tử định hướng công suất (RW) được đặc trưng bằng phương trình:
*
với URIR, UR, IR là vectơ áp và dòng đưa vào role
Từ (*) ta có thể xác định được vùng tác động và không tác động của phần tử
định hướng công suất (H.4.5a) Nếu một trong hai tín hiệu đưa vào U R = 0 hay I R = 0
hay vectơ I R nằm gần biên giới tác động có thể bộ phận so sánh không đủ độ nhạy
để tác động hoặc tác động nhầm Từ đó đối với RW có khái niệm góc có độ nhạy cực đại jR = j nhmax, tại góc này RW làm việc với độ nhạy cao nhất Người ta thường chọn a = –jnhmax Phương trình khởi động của RW trở thành:
Trang 4Đặc tính làm việc cơ bản của RW và đặc tính góc UkđR = f(jR) khi IkđR là hằng
số (H.4.6a), là đặc tính volt-ampe UkđR = f(IkđR) khi jR là hằng số (H.4.6b) Các đặc tuyến này của rơle được xây dựng trong điều kiện jkđR = jnhmax Chất
lượng của RW được đánh giá bằng các giá trị khởi động Ukđmin, Ikđmin Dạng đặc tuyến cho ở hình 4.6 là dạng gần lý tưởng Đặc tuyến thực tế khác so với đặc tính trên nhiều hay ít, tùy thuộc RW được cấu tạo bằng loại gì (điện cơ, điện tử )
Ta có thể xem phần tử định hướng công suất là trường hợp riêng của phần tử xác định tổng trở của đối tượng BV Khi đó biểu diễn đặc tính làm việc là đường thẳng đi qua gốc O của mặt phẳng tổng trở Z Đường này chia mặt phẳng tổng trở thành hai vùng, vùng tác động và vùng không tác động (H.4.6b) Nếu chiều công suất đúng thì tổng trở của đối
tượng BV nằm trong vùng tác động và ngược lại Điện áp U R , I R đưa vào rơle có thể
là áp, dòng toàn phần hay các thành phần thứ tự, tùy theo yêu cầu của BV
2 Sơ đồ nối rơle định hướng công suất
Phần tử định hướng công suất loại nối vào áp và dòng toàn phần, cần chọn áp và dòng đưa vào rơle sao cho nó xác định đúng dấu của công suất NM đối với dạng NM bất kỳ và sao cho rơle có độ nhạy cao nhất (jRN gần trùng j nhmax)
Khi NM gần chỗ đặt BV, U R có thể có giá trị gần bằng không, cũng như khi NM
có gốc bất lợi rơle công suất có thể không tác động được Từ điều kiện trên có thể rút
ra kết luận là cần phải nối rơle vào áp nào sao cho khi NM gần, áp không giảm tới không và tổ hợp áp và dòng đưa vào mỗi rơle cần được chọn sao cho NM góc jR không
có giá trị bất lợi Lẽ dĩ nhiên, yêu cầu đầu tiên trong hai yêu cầu trên chỉ có thể thực hiện được đối với NM hai pha và một pha Khi có NM ba pha, tất cả các áp pha cũng như áp dây có thể giảm tới không
Trong các sơ đồ BV dòng điện có hướng, ngày nay người ta thường nối RW theo
sơ đồ 90°, 60° loại 1, 60° loại 2 và sơ đồ 30° Tên gọi trên mang tính chất quy ước Sơ đồ được đặt tên theo góc giữa áp và dòng đưa vào rơle trong chế độ đối xứng với điều kiện dòng trong các pha trùng với áp các pha cùng tên (xem bảng 4.1 và hình 4.7)
Trang 5Bảng 4.1
Loại sơ đồ thông dụng nhất là sơ đồ 90°, ta tìm hiểu cách làm việc của sơ đồ này trong các dạng NM khác nhau và chọn lựa jnhmax
1- Ngắn mạch ba pha đối xứng
Khi NM ba pha đối xứng, tất cả các rơle của sơ đồ BV làm việc trong những điều
kiện giống nhau, vì thế chỉ cần khảo sát cách làm việc của rơle pha A có U R = U bc và
I R = I a Góc lệch pha N giữa dòng điện pha Ia và áp pha khi NM ba pha là góc của tổng trở
đoạn dây Từ chỗ NM đến chỗ BV và điện trở quá độ (r t) tại chỗ NM
Góc có độ nhạy cực đại được tính:
Giả thiết chọn α = 45 thì khi N3= 45o, phương của vectơ dòng điện sẽ trùng với đường
có độ
Rơle
Sơ đồ
90°
Loại 2
Sơ đồ 60°
Loại 1
Trang 6nhạy cực đại và rơle sẽ làm việc trong điều kiện thuận lợi nhất Từ đồ thị hình 4.8 ta
thấy rằng, đối với bất cứ giá trị nào của I3
a, rơle cũng tác động đảm bảo nếu như giá trị
của điện áp đặt vào U3
bc đủ để khởi động.
2- Ngắn mạch hai pha
Điều kiện làm việc của các rơle trong trường hợp này không giống nhau Ví dụ,
NM hai pha BC rơle pha A không làm việc vì Ia(2) = 0
Bằng đồ thị vectơ, ta sẽ khảo sát cách làm việc của rơle pha B và rơle pha C Lưu ý trong trường hợp này, N2 góc N2 là góc giữa áp dây và dòng pha
Trên hình 4.9a là đồ thị vectơ làm việc của rơle pha B và hình 4.9b là đồ thị
vectơ làm việc của rơle pha C Ta nhận thấy, nếu α = 45° thì vectơ I R nằm trong vùng
tác động chắc chắn ở bất kỳ giá trị nào của 0 ≤ N2 ≤ 90°
3- Ngắn mạch một pha chạm đất trong mạng có trung tính với đất trực tiếp
Giả thiết NM xảy ra ở pha A, khảo sát cách làm việc của rơle pha A nối vào dòng điện pha hư hỏng Trong trường hợp này, rơle pha A làm việc giống như trong trường hợp NM ba pha đối xứng Còn rơle pha B và pha C không làm việc Từ những trường hợp đã phân tích trên đây, có thể rút ra những kết luận đối với sơ đồ 90°
- Sơ đồ có thể làm việc tốt trong các trường hợp có sự cố cơ bản nếu như 30° < –n hmax < 60° Góc tối ưu nhất là a = –nhạy = 45°.
-Vùng chết chỉ có thể xảy ra trong trường hợp NM ba pha trực tiếp gần chỗ đặt BV UR 0
- Khi NM hai pha và một pha, do tác dụng của dòng điện phụ tải và dòng sự cố, các rơle nối tiếp vào dòng điện pha không sự cố có thể tác động nhầm
Khi NM (không đối xứng) sau MBA nối Y/ hay /Y do lệch pha giữa BI và BU có thể
làm bộ phận định hướng công suất tác động sai
Trang 7III BẢO VỆ DÒNG ĐIỆN CÓ HƯỚNG BA CẤP
1 Bảo vệ dòng điện có hướng cấp I.
Bảo vệ có hướng cấp I là BV cắt nhanh, thông thường kèm thêm bộ phận định
hướng công suất Quan sát hình 4.10a, dòng khởi động
của BV cắt nhanh, thông
thường đối với đường dây
được cung cấp từ hai phía,
cần được chọn lớn hơn dòng
lớn nhất đi qua BV đang xét
khi NM tại thanh góp các
trạm đối diện với nguồn
(mục hai phần 3.3) Dòng
khởi động chọn như vậy
nhiều khi quá lớn và BV
không đủ độ nhạy
Rơle định hướng công suất trong BV
cắt nhanh có hướng không cho phép tác động khi công suất NM hướng tới thanh góp Vì vậy, dòng khởi động của BV này chỉ cần chọn lớn hơn dòng NM đi từ thanh góp của trạm đó, đây là điểm khác nhau cơ bản giữa BV cắt nhanh có hướng và thông thường Dòng khởi động của BV cắt nhanh có hướng nhỏ hơn Vì vậy, vùng tác động của nó lớn hơn nhiều so với BV cắt nhanh thông thường
Dòng khởi động được chọn I kđ = k at I Nngmax
với I Nngmax là dòng NM cực đại đi từ thanh góp trạm đang xét
Ví dụ, đối với BV1 và 2 ở hình 4.10: I I
kđ1 = k at I Nbmax ; I I
kđ2 = k at I NAmax Khi có dao động dòng không cân bằng, I kcb có thể lớn hơn dòng NM ngoài cực đại.
Những trường hợp này không cho phép BV làm việc Phân tử định hướng công suất có thể tác động sai khi dao động Do đó dòng khởi động cấp I kèm theo điều
kiện: I I
kđ = k at I kcbmax.
2 Bảo vệ dòng điện có hướng cấp II.
Bảo vệ dòng điện có hướng cấp II là BV cắt nhanh có hướng Việc chọn thời
gian tII và dòng khởi động III
kđ được tính tương tự như trong trường hợp cấp II
không có hướng nhưng để ý đến hệ số phân dòng k pd
Hình 4.10
kđ1
Ii
I
Ikđ2
I N
~
D C
B 2
1
A
~
Trang 8Hình 4.11 Chọn dòng khởi động cấp II có rẽ nhánh Hình 4.12 Chọn dòng khởi động cấp II khi tại
trạm B có nguồn
Trường hợp tại trạm B có rẽ nhánh (H.4.11), dòng khởi động cấp II đặt tại trạm A được chọn
Trường hợp tại trạm B có nguồn (H.4.12), dòng khởi động cấp II đặt tại trạm A được chọn
3 Bảo vệ dòng điện có hướng cấp III
Bảo vệ dòng điện có hướng cấp III là BV dòng điện cực đại có hướng Dòng khởi động
của BV cần được chọn theo các điều kiện sau:
- Bảo vệ phải trở về sau khi NM ngoài được loại trừ
Để tăng độ nhạy của BV, có thể không cần xét đến phụ tải cực đại với hướng
IIIkđ1 IIkđ1
N T
I NB
INT
INA
~
~
4
1
~
~
C
4
~
B A
C
I NB
I NA
1
B A
Trang 9từ đường dây vào thanh góp, vì lúc đó phần tử công suất không tác động.
- Dòng khởi động của BV phải lớn hơn dòng điện các pha không hư hỏng Trong một số dạng NM, ví dụ như NM một pha trong mạng có trung tính nối đất trực tiếp, dòng điện trong các pha không hư hỏng bằng tổng dòng điện phụ tải Dòng điện
hư hỏng này đôi khi có giá trị rất lớn, có thể làm cho BV có hướng tác động nhầm Vì thế, dòng khởi động của BV cần phải chọn lọc lớn hơn giá trị cực đại của dòng điện các
pha không hư hỏng I kđ = k at I kh
với: I k = I pt ¸ kI N ; I N - là một phần dòng NM
k at = 1,15 ¸ 1,3 - tùy thuộc vào độ chính xác khi đánh giá lượng I kh
Đối với mạng có dòng chạm đất nhỏ (I kh = I pt) và mạng có trung tính trực tiếp nối đất, nhưng BV được khóa khi có NM chạm đất, thì dòng khởi động của BV chỉ cần chọn theo điều kiện đầu Để BV chống chạm đất người ta dùng những BV có hướng thứ
tự không đặc biệt
- Phải phối hợp độ nhạy với các BV lân cận Ngoài hai điều kiện nêu trên, đối với mạng vòng có một nguồn cung cấp còn phải thực hiện phối hợp các BV tác động theo cùng một hướng Điều kiện để thực hiện sự phối hợp đó như sau (H.4.1b)
Cần đảm bảo cho dòng khởi động của các BV kề nhau theo cùng một hướng phải khác nhau ít nhất 10% Điều kiện nêu trên có thể được giải thích như sau
Trong mạng vòng có một nguồn cung cấp (H.4.1b) quan sát giữa các dòng INI và III
N
ngược với quan hệ tổng trở của các nhánh tướng ứng:
Như vậy, khi NM gần nguồn (điểm N2), ZI
Nnhỏ hơn so với ZII , do đó INII nhỏ hơn
INI Nếu INI nhỏ đến mức gần bằng I kđ2, thì khi đó BV1 sẽ tác động trước (mặc dầu t1 > t2) máy cắt đặt ở phía đầu nguồn của đường dây sự cố Chỉ sau khi đó dòng tăng vọt lên
và BV2 mới tác động cắt máy cắt đầu kia của đường dây sự cố Hiện tượng tác động chờ và nối tiếp nhau như vậy gọi là hiện tượng khởi động không đồng thời Khi NM xảy ra ở biên giới của vùng này, INI = I kđ2 và nếu không thực hiện phối hợp theo (4.3) (ví
dụ ta có I kđ4 > I kđ2) thì BV4 sẽ tác động vượt cấp, và kết quả là đường dây AB và BC bị mất điện.
Trang 10Thời gian tác động của BV cấp III chọn
theo nguyên tắc bậc thang Theo hướng tác
động có thể chia BV thành hai nhóm
(H4.13)
-Các BV1, 3, 5, 7 tác động khi hướng công suất NM theo chiều mũi tên từ trái sang phải
-Các BV0, 2, 4, 6 tác động khi hương công suất NM theo chiều ngược lại
Theo yêu cầu tác động chọn lọc, thời gian tác động của các BV trong cùng nhóm
cần thỏa mãn: t7 < t5 < t3 < t1; to < t2 < t4 < t6
Nguyên tắc này gọi là nguyên tắc bậc thang ngược chiều nhau
Cần lưu ý, BV đang xét không những cần phối hợp về thời gian với các BV đặt trên đường trục của mạng mà còn cả với các BV của các phần tử đi ra từ thanh góp trạm
đối diện (ví dụ t7 và t o)
Xét đặc tuyến thời gian hình 4.13 ta thấy, không nhất thiết tất cả các BV đều cần
bộ phận định hướng công suất Ví dụ, theo hình vẽ ta có t3 > t2, do đó BV3 không cần
bộ phận định hướng công suất mà vẫn không tác động sai Quy tắc chung để xét vấn
Trang 11đề này như sau: bộ phận định hướng công suất cần đặt cho BV nào mà khi hướng công suất NM từ đường dây đến thanh góp BV đó có thể tác động sai Để xét xem BV nào cần đặt bộ phận định hướng công suất, trước tiên phải chọn thời gian tác động của BV theo nguyên tắc bậc thang ngược chiều nhau
IV MỘT SỐ LĨNH VỰC VÀ LƯU Ý KHI ÁP DỤNG BỘ PHẬN
ĐỊNH HƯỚNG CÔNG SUẤT CHO BẢO VỆ DÒNG ĐIỆN
1 Hai đường song song.
Khi dùng rơle dòng điện BV hai đường song song, cần thiết phải đặt bộ phận định hướng công suất ở tất cả các vị trí máy cắt như hình 4.14
2 Đường dây có hai nguồn cung cấp từ hai phía.
Việc quyết định chọn bộ phận định hướng thường được xác định bằng tỷ số dòng điện chạy qua rơle ở hai đầu đường dây Từ hình 4.15, theo yêu cầu thực tế, cần bộ phận định hướng công suất (ĐHCS) đặt ở vị trí 1, nếu bất kỳ dòng tải và dòng NM tại N1,
N2, N3 thỏa:
I N1max ³ 0,25 I N2min ; I N1max ³ 0,25 I N3min ; I lvmax ngược ³ 0,25 I lvmax thuận
với IN1, IN2, IN3, Ilvmax ngược, Ilvmax thuận là dòng điện NM tại N1, N2, N3 và dòng điện tải
ra và vào thanh cái A
Dòng NM tại N1 chạy ngược từ đường dây vào thanh cái A trong khi dòng NM tại N2, N3 chạy từ thanh cái ra đường dây Nếu dòng NM hay dòng tải chạy về phía trái và vượt quá dòng khởi động rơle dòng điện thì cần