1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bản sắc văn hoá mường cổ truyền và xu hướng biến đổi hiện nay (qua khảo sát văn hoá mường ở tỉnh Boà Binh)

205 1,4K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bản sắc văn hoá Mường cổ truyền và xu hướng biến đổi hiện nay (qua khảo sát văn hoá Mường ở tỉnh Hòa Bình)
Tác giả Lương Quỳnh Khuê, Bùi Tú Cao, Ngô Văn Giá, Nguyễn Minh Hiển, Nguyễn Thị Hồng, Phạm Thị Nhung, Lê Trường Phát, Bùi Kim Phúc, Đặng Kim Sơn, Kiều Trung Sơn, Bùi Chí Thanh, Bùi Văn Thành, Trần Thị Trâm, Nguyễn Thành Viên, Bùi Huy Vọng
Người hướng dẫn PGS. TS. Lương Quỳnh Khuê
Trường học Học viện chính trị-hành chính quốc gia hồ chí minh
Chuyên ngành Nghiên cứu văn hoá truyền thống Mường
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài cấp bộ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 205
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bản sắc văn hóa Mường cổ truyền do vậy vừa là cầu nối để tìm hiểu văn hóa qúa khứ vừa là cơ sở để hiểu sâu thêm văn hóa của người Việt – tộc người anh em vốn chung gốc với tộc Mường và l

Trang 1

Học viện chính trị-hành chính quốc gia hồ chí minh

Báo cáo tổng kết đề tài cấp bộ

Bản sắc văn hóa mường cổ truyền

và xu hướng biến đổi hiện nay (qua khảo sát văn hóa mường tỉnh hòa bình)

Chủ nhiệm đề tài: lương quỳnh khuê

6974

28/8/2008

hà nội - 2008

Trang 2

Học Viện Chính trị – hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

đề tàI khoa học cấp bộ năm 2006

Bản sắc văn hóa Mường cổ truyền và

xu hướng biến đổi hiện nay

( Qua khảo sát văn hóa Mường ở tỉnh Hòa Bình )

Trang 3

Danh sách những người tham gia

thực hiện đề tài

Cơ quan cộng tác: Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Hòa Bình

Các Thành viên tham gia đề tài :

1 PGS TS Lương Quỳnh Khuê ( Chủ nhiệm Đề tài )

Trang 4

Mục Lục

trang

A Tổng quan nghiên cứu 4

B Nội dung nghiên cứu 8

Chương I: Văn hóa và bản sắc dân tộc của văn hóa 8

I Khái niệm văn hóa và bản sắc dân tộc của văn hóa 8

II Tộc Mường và bản sắc văn hóa Mường 10

chương II: Hệ giá trị văn hóa Mường cổ truyền và những biến đổi 14

I Hệ giá trị văn hóa vật chất 14

1 Văn hóa ẩm thực Mường 14

2 Văn hóa trang phục và nghề dệt cổ truyền Mường 22

3 Văn hóa nhà ở và kiến trúc 28

II Hệ giá trị văn hóa tinh thần 33

1 Ngôn ngữ Mường 33

2 Phong tục Mường ( cưới xin, tang ma, lễ hội ) 35

3 Tín ngưỡng dân gian Mường 43

4 Lịch Mường 56

5 Nghệ thuật cồng chiêng Mường 67

6 Nghệ thuật Múa Mường 79

7 Dân ca Mường 92

8 Văn học Dân gian Mường 108

9 Mo Mường – một số giá trị phổ quát 117

10 Y học Dân gian cổ truyền Mường 124

III Tổng quát xu hướng biến đổi của bản sắc văn hóa Mường hiện nay và những dự báo 132

1 tổng quát về xu hướng biến đổi từ sau 1954 tới nay 132

Trang 5

2 Dự báo xu hướng biến đổi của bản sắc văn hóa Mường

trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 147

Chương III: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm bảo tồn,

phát huy bản sắc văn hóa Mường trong giai đoạn hiện nay 154

I Căn cứ xây dựng hệ giải pháp 154

1 Lý luận về quy luật vận động và biến đổi của văn hóa và bản sắc dân tộc của văn hóa 154

2 Đường lối, chính sách văn hóa của Đảng và Nhà nước 155

3 Căn cứ vào kết quả nghiên cứu của đề tài 157

II Một số kiến nghị và giải pháp chủ yếu 158

1 Về nhận thức 158

2 Về một số chính sách văn hóa 159

3 Về việc khẳng định giá trị của Mo Mường 164

4 Hoàn thiện và bổ sung “Dự án bảo tồn Làng văn hóa Mường cổ truyền” 164

5 Bảo tồn những ngôi nhà sàn Mường cổ trong các vùng Mường 167

6 Hiện đại hóa nhà sàn truyền thống 167

7 Xây dựng nhà Văn hóa thôn bản 169

8 Lồng ghép việc bảo tồn cây dược liệu với chính sách giao đất, giao rừng, trồng và bảo vệ rừng 169

9 Phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn hóa 170

10 Thành lập “Trung tâm Nghiên cứu, Bảo tồn văn hóa Mường” 171

Lời kết 173

Danh mục tài liệu tham khảo 174

Trang 6

a Tổng quan nghiên cứu

I tính cấp thiết của đề tài :

Văn hóa Mường là một văn hóa tộc người đã sớm khẳng định bản sắc riêng Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam hiện nay, tộc Mường là tộc người còn giữ được nhiều mối liên hệ nhất với văn hóa Đông Sơn, nền văn hóa gắn với thời đại Hùng Vương của dân tộc Bản sắc văn hóa Mường cổ truyền do vậy vừa là cầu nối để tìm hiểu văn hóa qúa khứ vừa là cơ sở để hiểu sâu thêm văn hóa của người Việt – tộc người anh em vốn chung gốc với tộc Mường và là chủ thể quan trọng nhất của cộng đồng văn hóa các dân tộc Việt Nam hiện nay

Để khẳng định bản sắc một văn hóa tộc người đòi hỏi phải có sự phát triển, sàng lọc, tích tụ của hàng ngàn năm lịch sử Bản sắc văn hóa của tộc Mường được sinh thành từ văn hóa Việt cổ, phát triển và được bảo tồn khá nguyên vẹn cho đến trước 1945

Cuộc sống luôn vận động, biến đổi, sự vận động, biến đổi của văn hóa là một tất yếu trong sự phát triển, song đó phải là một biến đổi hợp quy luật, biến

đổi tự phát luôn tiềm ẩn những nguy cơ mà bản sắc văn hóa Mường hiện nay thực sự đang đứng trước những nguy cơ đó Văn hóa Mường đang biến đổi, nhiều giá trị đặc sắc của văn hóa Mường đang biến dạng, thậm chí mất đi với tốc độ phi mã dưới tác động của kinh tế thị trường, của quá trình đô thị hóa, của xu thế hội nhập và toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay

Tìm hiểu giá trị của bản sắc văn hóa Mường cổ truyền và xu hướng biến

đổi của nó trong điều kiện xã hội hiện nay để tìm ra những giải pháp thiết thực nhằm bảo tồn, phát triển bản sắc văn hóa Mường là một nhu cầu cấp thiết vừa

có ý nghĩa văn hóa vừa có ý nghĩa kinh tế – xã hội rộng lớn và lâu dài vì sự phát triển bền vững

II Tình hình nghiên cứu:

Trong phạm vi bao quát của chúng tôi, các công trình nghiên cứu về văn hóa Mường từ đầu thế kỷ XX đến nay đã đi theo những hướng tiếp cận sau:

1 Hướng giới thiệu khái quát về tỉnh Hòa Bình và văn hóa Hòa

Bình, trong đó có văn hóa Mường theo những tư liệu tản mạn ghi chép được :

Địa lý tự nhiên, quá trình hình thành tỉnh, những ghi chép về một số phong tục, chuyện kể, thắng cảnh Hòa Bình ( Pierre Grossin: Tỉnh Mường Hòa Bình –

1926 )

Một số cuốn sách xuất bản gần đây cũng đi theo hướng khái quát như trên song mang tính hệ thống chặt chẽ hơn, toàn diện hơn về văn hóa Mường ở Hòa Bình hoặc về một vùng Mường trong tỉnh ( xem phần phụ lục )

2 Hướng nghiên cứu Dân tộc chí – ghi chép, miêu tả nếp sống của

người Mường qua phương pháp điền dã ( Jeanne Cuisinier: Người Mường -

Trang 7

Địa lý nhân văn và xã hội học - 1946; Trần Từ : Người Mường ở Hòa Bình – 1996)

- Với hướng này, phương pháp điền dã đã giúp Jeanne Cusinier thâm nhập sâu vào xã hội Mường, miêu tả khá toàn diện về xã hội - văn hóa của người Mường Tuy nhiên, do chỗ bà thu thập thông tin, ghi chép chủ yếu qua lời kể của tầng lớp trí thức, quan lang Mường cũng như trực tiếp quan sát nếp sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng Mường qua sinh hoạt của tầng lớp này, bởi vậy khó tránh được những sai xót

- Cùng dưới góc độ Dân tộc chí, cũng bằng phương pháp điền dã, ghi chép tại chỗ, song Trần Từ lại chọn một vùng Mường khá khép kín, ít biến

động và đối tượng là tầng lớp dân nghèo, thuần khiết Mường, không bị ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo Từ đó, ông tìm hiểu xã hội Mường, tìm ra mối quan hệ cội nguồn giữa tộc Mường và tộc Kinh và điều đó lại giúp ông hiểu sâu văn hóa của người Việt trước khi tiếp xúc với văn hóa Hán Đồng thời, khi nghiên cứu trống đồng Mường và giải mã hoa văn trên cạp váy Mường, Trần Từ

đã phát hiện ra mối quan hệ giữa Văn hóa Mường và Văn hóa Đông Sơn để chỉ

ra tính chất cội nguồn của văn hóa Mường và củng cố thêm luận điểm về quan

hệ cùng gốc của hai tộc Mường - Kinh v

3 Hướng nghiên cứu chuyên sâu:

Một số nhà nghiên cứu , một số nghiên cứu sinh đã lựa chọn đi sâu vào một lĩnh vực nào đó của văn hóa Mường như : Mo Mường, Đẻ Đất Đẻ Nước ( một chương trong Mo Mường ), múa Mường, trống đồng Mường v.v Hướng nghiên cứu này đi sâu khám phá từng lĩnh vực hoặc từng giá trị trong văn hóa Mường

4 Đề tài khoa học cấp nhà nước KX 05 - 04 " Đời sống văn hóa và xu

hướng phát triển văn hóa các dân tộc Thái, H Mông, Mường vùng Tây Bắc trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” do Giáo Sư, Tiến Sĩ Trần Văn

Bính chủ nhiệm, có đối tượng và phạm vi rộng hơn, gắn với ba tộc người trong cả khu vực Tây Bắc và được đặt trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

đất nước Công trình này không khảo sát riêng sự biến đổi của bản sắc văn hóa Mường ở Hòa Bình và cũng không đi sâu vào từng lĩnh vực văn hóa cụ thể như yêu cầu đề tài của chúng tôi

5 Đề tài “ Vùng giáp ranh tỉnh lị, huyện lị với vấn đề bảo tồn, phát

huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Hòa Bình hiện nay” do chúng tôi thực

hiện vào năm 2003 - 2004 Đây là một đề tài nhỏ, cấp cơ sở, kinh phí chỉ có

15 triệu đồng; do vậy, chúng tôi chỉ chọn khảo sát về mặt giá trị và xu hướng biến đổi ở một số lĩnh vực của văn hóa Mường trong quá trình đô thị hóa hiện nay như: nhà sàn Mường, trang phục Mường, phong tục Mường - đi sâu các phong tục tang ma, cưới xin, lễ hội cồng chiêng; địa điểm khảo sát mà chúng tôi chọn là những vùng giáp ranh hết sức nhạy cảm ven các huyện lị, tỉnh lị – nơi cư trú của đồng bào Mường Hòa Bình

Trang 8

Thực hiện đề tài trên khiến chúng tôi nhận rõ thực trạng biến đổi tự phát, dẫn đến nguy cơ đang mất dần nhiều giá trị quý giá trong văn hóa Mường cổ truyền với tốc độ ngày càng nhanh

Đề tài “ Bản sắc văn hóa Mường cổ truyền và xu hướng biến đổi hiện

nay” ( qua khảo sát Văn hóa Mường ở tỉnh Hòa Bình ) đã được chúng tôi xây

dựng với mong muốn bằng kết quả nghiên cứu của mình góp thêm một tiếng nói vào việc bảo tồn, phát triển bản sắc văn hóa Mường trong thời đại mới với những điều kiện mới của đất nước hiện nay

III Mục tiêu nghiên cứu :

Nghiên cứu, tìm hiểu những giá trị tiêu biểu trong bản sắc văn hóa Mường cổ truyền, chỉ ra những biến đổi của chúng hiện nay, dự báo xu hướng vận động của bản sắc văn hóa Mường trong tiến trình công nghiệp hóa - hiện

đại hóa đất nước; kiến nghị những giải pháp nhằm bảo tồn, phát triển bản sắc văn hóa Mường phù hợp với sự phát triển của đất nước trong thời đại hiện nay

IV Nội dung nghiên cứu :

- Khảo sát một số giá trị tiêu biểu trong văn hóa vật thể, phi vật thể của văn hóa Mường cổ truyền, chỉ ra cái tinh hoa cần bảo tồn - phát triển, cái đã trở nên bất cập so với thời đại, cần đổi thay, loại bỏ;

- Chỉ ra những biến đổi tích cực, tiêu cực của bản sắc văn hóa Mường hiện nay; dự báo xu hướng biến đổi của nó trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;

- Phân tích nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn sự biến đổi theo hướng nói trên;

- Đề xuất những giải pháp nhằm bảo tồn, phát triển bản sắc văn hóa Mường trong nền văn hóa Việt Nam hiện đại: Về nhận thức, về thể chế, về chính sách văn hóa và những việc cần làm cụ thể, trước mắt và lâu dài

Với nội dung nghiên cứu như trên, chúng tôi thấy rằng tuy những nhà khoa học đi trước đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa Mường theo hướng dân tộc chí ( ghi chép, mô tả ) hoặc chuyên sâu về một lĩnh vực nào đó, song chưa có ai nghiên cứu một cách hệ thống những giá trị đặc sắc của văn hóa Mường cổ truyền cùng những biến đổi của nó và đi tìm nguyên nhân của

sự biến đổi ấy trong đời sống xã hội hiện nay

Đề tài của chúng tôi không chỉ đi sâu vào nhiều giá trị của bản sắc Văn hóa Mường cổ truyền mà còn chỉ ra diện mạo của chúng hiện nay dưới tác động của những điều kiện xã hội mới, đề xuất những kiến nghị và giải pháp mang tính khả thi nhằm bảo tồn, phát triển bản sắc văn hóa Mường trong thời đại mới, vừa phù hợp với đường lối văn hóa của Đảng và Nhà nước Việt Nam, vừa phù hợp với nhu cầu của nhân loại tiến bộ hiện nay

Trang 9

V Phương pháp nghiên cứu

1 Lựa chọn địa bàn nghiên cứu:

- Lựa chọn địa bàn khảo sát là tỉnh Hòa Bình vì đây là nơi định cư lâu đời

và tập trung nhất của tộc Mường so với các tỉnh có đồng bào Mường cư trú hiện nay

- Trong tỉnh Hòa Bình, chúng tôi lại lựa chọn 4 huyện ứng với 4 vùng Mường cổ truyền nổi tiếng ( Mường Bi = Tân Lạc, Mường Vang = Lạc Sơn, Mường Thàng = Cao Phong, Mường Động = Kim Bôi ) và huyện Lương Sơn, một huyện gần Hà Nội nhất, chịu tác động của sự biến đổi mạnh nhất so với các huyện trong tỉnh Hòa Bình

- Mỗi huyện chúng tôi chọn khảo sát ba xã ( ven huyện lị, vùng trung gian, vùng sâu ) để có thể tìm hiểu, so sánh mức độ biến đổi cũng như dự báo

xu hướng biến đổi của nó

2.Phương pháp luận nghiên cứu

- Lý luận của chủ nghĩa Duy vật biện chứng, Duy vật lịch sử về văn hóa

3.2 Phương pháp nghiên cứu định tính

* Phỏng vấn sâu một số đối tượng đã được lựa chọn: cán bộ lãnh đạo ngành văn hóa cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã; nhóm cư dân trong Dự án bảo tồn làng dân tộc Mường; các thành viên Câu lạc bộ văn hóa Mường Vó, một số thày Mo, thày cúng, nghệ nhân v.v

* Tọa đàm, thảo luận nhóm :

- Tọa đàm với cán bộ lãnh đạo các cấp tại địa phương

- Tọa đàm nhỏ với các nhóm dân cư tại cộng đồng

Khi phỏng vấn và tọa đàm, định hướng vào giá trị của văn hóa Mường và những biến đổi, tìm hiểu những suy nghĩ, thái độ của các nhóm dân cư đối với những vấn đề đó

3.3 Phương pháp nghiên cứu định lượng

Phương pháp này thu thập những thông tin định lượng để đo lường thực trạng biến đổi và suy nghĩ của người dân Với 300 phiếu điều tra gửi tới nhân dân tại các xã chọn mẫu theo yêu cầu của Đề tài;

- Sử dụng những con số thống kê cụ thể về nhà sàn Mường, về cồng chiêng, lễ hội v.v…do Sở Văn hóa – Thông tin Hòa Bình cung cấp

3.4 Phương pháp quan sát trực tiếp

Trang 10

- Khi điền dã, người nghiên cứu quan sát trực tiếp những hiện tượng văn hóa cụ thể, nếp sinh hoạt, hoạt động văn hóa của người dân Điều này rất cần thiết để hiểu bản chất, sự biến đổi và lý giải nguyên nhân của nó

- Quan sát trực tiếp sẽ góp phần kiểm chứng những thông tin thu được qua phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, bản hỏi để có cái nhìn khách quan và toàn diện hơn

Mô tả tóm tắt phương pháp : Tìm hiểu bản sắc Văn hóa Mường cổ

truyền từ hệ giá trị văn hóa vật chất và tinh thần mà cộng đồng Mường đã lựa chọn và tích lũy ( qua các công trình khoa học đã có và nghiên cứu trực tiếp ), nhận diện thực trạng biến đổi của chúng hiện nay ( qua khảo sát điền dã, phỏng vấn sâu, tọa đàm, quan sát trực tiếp và bản hỏi ); phân tích nguyên nhân

và dự báo xu hướng biến đổi từ nay đến 2020; kiến nghị hệ giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy bản sắc Văn hóa Mường cổ truyền trong sự nghiệp phát triển kinh

tế - xã hội - văn hóa của tỉnh Hòa Bình hiện nay

B Nội dung nghiên cứu

Chương I Văn hóa và bản sắc dân tộc của văn hóa

I khái niệm văn hóa và bản sắc dân tộc của văn hóa

Để tìm hiểu bản sắc văn hóa Mường qua các giá trị mà dân tộc Mường đã sáng tạo, tích lũy trong lịch sử, trước hết cần thống nhất về mặt lý luận làm cơ

sở cho việc khảo sát trong thực tiễn mà ở đây là khái niệm văn hóa và bản sắc dân tộc của văn hóa - những khái niệm công cụ của đề tài

I.1 Khái niệm văn hóa và bản sắc dân tộc của văn hóa:

Khái niệm văn hóa:

Văn hóa có rất nhiều định nghĩa, chúng tôi chọn định nghĩa của Chủ tịch

Hồ Chí Minh:

“ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới

sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội –

1995, tr 431 )

Tính khái quát và tính cụ thể cũng như cách tiếp cận của định nghĩa trên phù hợp với yêu cầu nghiên cứu của chúng tôi trong đề tài này

Trang 11

Tính khái quát của định nghĩa trên là ở chỗ : Định nghĩa đã chỉ ra hai lĩnh vực của văn hóa như kết quả của hai khu vực sản xuất cơ bản của con người : sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần; theo đó, văn hóa cũng phân xuất thành hai lĩnh vực là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Thêm nữa, văn hóa luôn gắn với một cộng đồng người nhất định ( tộc người, nhóm tộc người, dân tộc ), được sáng tạo, phổ biến và trao chuyển trong sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng đó

Tính cụ thể của định nghĩa trên là ở chỗ, định nghĩa đã chỉ rõ những yếu

tố cấu thành cụ thể của hai lĩnh vực văn hóa khi gắn nó với sinh hoạt của một cộng đồng cụ thể, đó là:

-“Văn hóa vật chất” gồm : “những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng” ( tức những sáng tạo văn hóa thể hiện trong “cái ăn, cái mặc, cái ở” hoặc diễn đạt bằng ngôn ngữ hàn lâm hơn, đó là

“văn hóa ẩm thực, văn hóa trang phục, văn hóa nhà ở và kiến trúc” )

- Văn hóa sinh hoạt tinh thần gồm: “ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật …”

Cách hiểu văn hóa như trên sẽ tạo điều kiện thuận lợi để đi sâu tìm hiểu bản sắc văn hóa Mường

Bản sắc dân tộc của văn hóa

Là những cái riêng độc đáo của một dân tộc, một tộc người mà nhờ đó, người ta có thể phân biệt dân tộc này với dân tộc khác, tộc người này, với tộc người khác Một số nhà nghiên cứu diễn đạt một cách hình ảnh thì gọi bản sắc dân tộc của văn hóa là tấm chứng minh thư, thẻ căn cước - những dấu hiệu khẳng định cá tính riêng của một dân tộc trước cộng đồng văn hóa nhân loại

Khi nói đến bản sắc văn hóa là người ta muốn nói đến cái tinh hoa của một nền văn hóa; đã là tinh hoa thì tất nhiên phải là những gì tốt đẹp nhất đã

được lịch sử sàng lọc, thử thách và khẳng định, tiêu biểu cho dân tộc trong một giai đoạn nhất định của lịch sử Do vậy, bản sắc dân tộc của văn hóa không phải là một thuộc tính mà là phạm trù chỉ phẩm chất, chất lượng của một nền văn hóa Vậy, có thể đi đến một định nghĩa như sau:

Bản sắc dân tộc của văn hóa là những phẩm chất tốt đẹp của một dân tộc đ∙ phát triển đến một trình độ cao, được lịch sử sàng lọc, thử thách và khẳng định Những phẩm chất này kết tinh trong hệ giá trị mà cộng đồng lựa chọn, thể hiện sinh động trong các sáng tạo văn hóa, trở thành cốt cách dân tộc đặc sắc Nhờ đó mà nền văn hóa luôn giữ đuợc cá tính và bản lĩnh riêng trong quá trình phát triển

Bản sắc dân tộc của văn hóa không phải là cái nhất thành bất biến, mà

nó cũng vận động biến đổi theo bước phát triển của lịch sử; mỗi bước phát triển mới luôn có lọc bỏ, có kế thừa một cách tự phát và tự giác thông qua hoạt

động tích cực của chủ thể

Bản sắc dân tộc của văn hóa biểu hiện một cách sinh động trong nội dung và hình thức của các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể mà dân tộc đã sáng tạo , tích lũy trong lịch sử tồn tại và phát triển của mình Nhờ đó mà nền

Trang 12

văn hóa luôn khẳng định được cá tính và bản lĩnh riêng trong quá trình phát triển

Kết hợp hai định nghĩa này cho thấy, bản sắc dân tộc của văn hóa là cái riêng đặc sắc của mỗi dân tộc, mỗi tộc người, biểu hiện trong các sáng tạo văn hóa của họ Khi đi tìm bản sắc văn hóa của một tộc người, một dân tộc, người

ta phải hướng tới những phẩm chất tốt đẹp của tộc người hoặc dân tộc đó với hai cách thức biểu hiện cơ bản sau:

- Cái riêng độc đáo, biểu hiện sinh động trong các giá trị văn hóa vật chất: cái ăn ( văn hóa ẩm thực ), cái mặc (văn hóa trang phục ), cái ở (văn hóa nhà ở và kiến trúc) và văn hóa tinh thần: ngôn ngữ, phong tục, đạo đức, tín ngưỡng - tôn giáo, khoa học, giáo dục, văn học, nghệ thuật do cộng đồng sáng tạo, tích lũy trong chiều dài lịch sử và đã trở thành truyền thống của cộng đồng đó

- Biểu hiện ở hệ giá trị tinh thần được hình thành trong lịch sử phát triển của mỗi cộng đồng, được cộng đồng lựa chọn, chấp nhận như những phẩm chất tiêu biểu cho bản lĩnh, cốt cách của mình Những giá trị này chi phối hành vi, cách cảm, cách nghĩ của các thành viên và liên kết họ thành một toàn thể thống nhất cùng tôn thờ những giá trị chung, thiêng liêng và bền vững

Tổng kết của nghị quyết Trung ương V ( khóa VIII ) về bản sắc dân tộc của nền văn hóa Việt Nam với 5 phẩm chất tiêu biểu ( lòng yêu nước nồng nàn,

ý chí tự cường dân tộc; lòng nhân ái khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý; tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - tổ quốc; cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất; tinh tế trong ứng xử, giản dị trong lối sống ) là sự tiếp cận bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam theo cách thứ hai Còn đề tài của chúng tôi, do những yêu cầu cụ thể của nó, cần đi theo cách tiếp cận ( biểu hiện ) thứ nhất để tìm hiểu một số giá trị đặc sắc trong văn hóa của dân tộc Mường - tộc người chủ thể quan trọng nhất của văn hóa Hòa Bình trong quá khứ và hiện tại

II Tộc Mường và bản sắc văn hóa Mường

1 Tộc Mường trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Vùng đất Hòa Bình có con người cư trú rất sớm Chính nơi đây, các nhà Khảo cổ học đã tìm ra những chứng tích của một nền văn hóa bắt đầu chuyển sang thời kỳ đá mới tiêu biểu cho cả khu vực Đông Nam á lục địa , tồn tại cách ngày nay từ 18.000 đến 7.500 năm Đó chính là “Văn hóa Hòa Bình”- cầu nối trung gian giữa Văn hóa Sơn Vi ( tiền Hòa Bình ) và Văn hóa Bắc Sơn ( hậu Hòa Bình ) Con cháu của cư dân Hòa Bình, Bắc Sơn sau này chính là người Lạc Việt - những người đã tạo dựng nên nhà nước Văn Lang với văn hóa Đông Sơn rực rỡ

Trang 13

Trong thời đại Hùng Vương, Hòa Bình nằm trong địa giới của bộ Gia Ninh - một trong 15 bộ hợp thành Nhà nước Văn Lang thời đó Sang thời kỳ Bắc thuộc, Hòa Bình nằm trong quận Vũ Bình ( thời thuộc Ngô và Tần ), huyện Tây Vu ( thời thuộc Tây Hán ), huyện Long Bình và huyện Gia Ninh ( thời thuộc Tùy ) Bước vào kỷ nguyên độc lập, thế kỷ X, Hòa Bình thuộc quận Phong Châu …

Như thế, Hòa Bình là một vùng đất cổ, người Mường nói chung, người Mường Hòa Bình nói riêng là cư dân bản địa có gốc gác lâu đời trên đất nước

ta Thời Kỳ Hùng Vương chắc chắn chưa hề có khái niệm “Kinh”, “Mường”

mà chỉ có một nhóm tộc người Việt cổ - chủ nhân Văn hóa Đông Sơn, thư tịch

cổ Trung Hoa gọi là người Lạc Việt

“Mường” vốn xưa kia là một từ dùng để gọi một khu vực cư trú, một đơn

vị hành chính của người Việt cổ Phạm vi một Mường có thể rộng ( tương

đương một châu, một huyện), có thể hẹp ( tương đương với một xã ) Lâu dần,

từ tên gọi địa bàn cư trú, “Mường” trở thành tên gọi tộc người “người Mường hay “tộc Mường” Trước kia, người Mường tự gọi mình là “Mol” hay “Mual”…

có nghĩa là “Người”; hiện nay, Mường là tên gọi chính thức, cùng với 53 tộc người anh em khác hợp thành cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Ngày nay, ở vùng Hòa Bình, ngoài tên gọi chính thức theo đơn vị hành chính của nhà nước ( tên xã, tên huyện ), đồng bào Mường vẫn có thói quen dùng tên gọi xưa như “Mường Tôm”, “Mường Nen”, “Mường Khói” ( những Mường nhỏ, tương đương với xã ) hoặc “Mường Bi”, “Mường Vang”, “Mường Thàng”, “Mường Động” ( những Mường lớn, bao gồm một phạm vi khá rộng trong một huyện) để gọi quê hương mình

Dựa trên kết quả của nhiều công trình nghiên cứu về Khảo cổ học, Nhân chủng học, Dân tộc học v.v…các nhà khoa học đã đi đến kết luận thống nhất rằng người Mường và người Kinh hiện nay vốn có chung tổ tiên là người Lạc Việt ( người Việt cổ ) Sự phân tách thành hai tộc người mới diễn ra trong khoảng trên dưới một ngàn năm ( khoảng cuối thời kỳ Bắc thuộc, đầu kỷ nguyên Đại Việt ) cho tới nay Bộ phận người Việt cổ sống ở miền núi ít bị tác

động bởi văn hóa phương Bắc, giữ được nhiều dấu ấn của văn hóa cổ truyền trong đời sống sản xuất, phong tục, tập quán… sau trở thành tộc Mường Bộ phận người Lạc Việt sống ở đồng bằng, đô thị chịu ách cai trị trực tiếp của chính quyền ngoại bang song lại có điều kiện giao lưu, tiếp nhận tinh hoa của nhiều nền văn hóa lớn như ấn Độ, Trung Hoa, Cham pa… sau hàng ngàn năm

bộ phận này biến đổi thành tộc Việt ( Kinh ) hiện nay

Người Mường cư trú trên một vùng đồi núi khá rộng, từ phía tây bắc của tỉnh Yên Bái đến phía bắc tỉnh Nghệ An, song cư trú tập trung nhất trên toàn tỉnh Hòa Bình, 6 huyện miền núi Thanh Hóa ( Ngọc Lặc, Thạch Thành, Cẩm Thủy, Bá Thước, Như Xuân, Lang Chánh) 3 huyện của Phú Thọ (Tam Thanh, Yên Lập, Thanh Sơn ) cùng một vài huyện ở Sơn La, Hà Tây, Ninh Bình…Hòa Bình là tỉnh duy nhất được gọi là “tỉnh Mường”vì lẽ đó

Trang 14

Theo số liệu của tổng điều tra dân số năm 1999, tộc Mường có 1.137.515 người, chiếm 1,5% tổng dân số cả nước Trong 53 tộc người thiểu số trên đất nước ta, tộc Mường đứng thứ ba về dân số, sau người Tày, người Thái, song lại

là tộc người giữ vị trí đặc biệt trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Là một tộc người bản địa, do địa bàn cư trú tương đối khép kín cộng với chế độ nhà Lang kéo dài khiến cho xã hội Mường ít biến động Do vậy, so với tộc Kinh và nhiều tộc người chung gốc Lạc Việt thì tộc Mường còn giữ được nhiều nhất những dấu ấn của văn hóa Đông Sơn Tộc Mường chính là cầu nối hiện tại với quá khứ của dân tộc

2 Bản sắc Văn hóa Mường trong văn hóa Việt Nam

Như trên đã trình bày, tộc Mường là hậu duệ trực tiếp của người Lạc Việt, chủ nhân Văn hóa Đông Sơn của Văn minh Việt cổ Bản sắc văn hóa Mường - do vậy, phải được nhìn nhận từ cội nguồn của nó trong sự tiếp nối, bảo lưu, phát triển trong không gian văn hóa dân tộc

Từ cái nhìn lịch sử, có thể thấy mối quan hệ giữa văn hóa Mường với văn hóa Việt Nam biểu hiện như sau:

- Thời tiền sử : Chưa có khái niệm “Văn hóa Mường”, song Hòa Bình lại

là một vùng văn hóa khảo cổ tiêu biểu cho một giai đoạn phát triển của văn hóa Việt Nam, văn hóa Đông Nam á lục địa và phía nam lãnh thổ Trung Hoa ngày nay Đó là “Văn hóa Hòa Bình”, tồn tại trong khoảng từ 18.000 năm đến 7.500 năm cách ngày nay Trong đó, các di chỉ tìm thấy ở Hòa Bình hầu hết đều có khung niên đại từ 12.000 đến 7.500 năm trước công nguyên – đại diện cho

“giai đoạn Hòa Bình” điển hình nhất

“Văn hóa Hòa Bình” phát triển tiếp nối “Văn hóa Sơn Vi” và là cơ sở hình thành “Văn hóa Bắc Sơn”, đỉnh cao của văn hóa đá mới trên lãnh thổ Việt Nam thời tiền sử Qua các di chỉ và di vật tìm được trong các hang động và trên các thềm sông cổ ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam cho thấy, đã tồn tại khá đậm nét vết tích hoạt động của các tập đoàn người cổ - con cháu của cư dân Hòa Bình, Bắc Sơn Một bộ phận trụ lại ở vùng núi, sau trở thành các tộc người miền núi ngày nay, ở Hòa Bình đó là người Việt (Mường); một bộ phận khác men theo các con sông xuống khai thác dần đồng bằng Bắc bộ và tiến ra vùng đồng bằng ven biển, sau trở thành người Việt ( Kinh ) hiện nay

- Thời sơ sử: Sự quy tụ của các văn hóa tiền Đông Sơn trên một vùng lãnh thổ rộng lớn ( từ biên giới Việt - Trung ngày nay đến bắc Quảng Bình ) đã cho ra đời nhà nước đầu tiên của cư dân Việt cổ Đó là Nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng với nền Văn hóa Đông Sơn rực rỡ và giai đoạn tiếp theo là nước Âu Lạc

Giai đoạn này cũng chưa hề có khái niệm “Kinh”, “Mường” tách biệt Người xây dựng nhà nước Văn Lang, chủ nhân văn hóa Đông Sơn là người Việt

cổ mà thư tịch cổ Trung Hoa đều ghi chép là “người Lạc Việt” để phân biệt với những nhóm tộc Việt khác tụ cư trên một vùng lãnh thổ rộng lớn ở phía nam sông Dương Tử thời ấy

Trang 15

- Sự phân tách thành hai nhóm “Việt Kinh” và “Việt Mường” chỉ thực sự diễn ra vào cuối thời kỳ Bắc thuộc, đầu kỷ nguyên độc lập ( cách ngày nay trên dưới một ngàn năm) như đã nói ở phần trên Đây là kết quả tích hợp dần của một quá trình biến đổi diễn ra trong hàng ngàn năm trước sự ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa đến từ bên ngoài đối với cư dân Lạc Việt

Theo các nhà khoa học, Văn hóa Đông Sơn còn tiếp tục tồn tại cho đến vài thế kỷ đầu tiên sau công nguyên, sau đó đựợc bảo tồn, tiếp nối bởi nhóm cư dân “Việt Mường” Bản sắc văn hóa Mường cung cấp cho ta nhiều bằng chứng xác thực về sự tiếp nối này

Nhiều giá trị văn hóa Mường hàm chứa những thông tin thể hiện sự tiếp nối truyền thống văn hóa Đông Sơn, văn hóa Việt cổ, khi nền văn hóa Đông Sơn trên một số phương diện đã bị giải cấu trúc trước áp lực của văn hóa ngoại bang; sự tiếp nối ấy được duy trì liên tục suốt mấy ngàn năm lịch sử và còn hiện diện cho đến tận ngày nay Điều nhận định này được minh chứng rõ rệt khi đi sâu nghiên cứu lịch Mường, trống đồng Mường, hoa văn trên cạp váy Mường, Mo Mường …

Như vậy, bản sắc văn hóa Mường có sự kế thừa trực tiếp bản sắc văn hóa Việt cổ thời Đông Sơn, được tái tạo lại theo cảm quan của người Mường; đó là một vị thế đặc biệt của bản sắc văn hóa Mường trong nền văn hóa Việt Nam

Đồng thời, bản sắc văn hóa Mường cũng thể hiện cái riêng đặc sắc của một văn hóa tộc người đã tồn tại hàng ngàn năm – cái riêng này làm nên một diện mạo không thể trộn lẫn của người Mường, văn hóa và bản sắc văn hóa Mường trong nền văn hóa đa sắc màu của cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Văn hóa Mường và bản sắc văn hóa Mường thể hiện chiều sâu cội nguồn của văn hóa dân tộc Nghiên cứu bản sắc văn hóa Mường có nhiều ý nghĩa đối với việc nghiên cứu văn hóa Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại

Đến đây, ta có thể đi đến một quan niệm về bản sắc văn hóa Mường như sau:

Bản sắc văn hóa Mường là những nét riêng độc đáo biểu hiện trong các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần mà cộng đồng người Mường đ∙ sáng tạo, tích lũy trong lịch sử của mình; những giá trị này được giữ gìn, trao chuyển qua nhiều thế hệ và cũng vận động, biến đổi cùng sự vận động, biến đổi của văn hóa tộc người gắn với bước phát triển chung của văn hóa dân tộc

Với quan niệm như trên, để tìm hiểu bản sắc văn hóa Mường cổ truyền,

đề tài đã đi sâu vào những nét đặc sắc được thể hiện sinh động trong nội dung

và hình thức biểu hiện của một số giá trị văn hóa tiêu biểu như : văn hóa ẩm thực, văn hóa trang phục, văn hóa nhà ở - kiến trúc, lịch pháp, tín ngưỡng, phong tục tập quán, văn học - nghệ thuật dân gian Mường, y học cổ truyền Mường v.v… Tuy nhiên, có những lĩnh vực văn hóa Mường mà đề tài chưa đủ

điều kiện đi sâu, xây dựng thành những chuyên đề khoa học riêng như trò chơi dân gian, âm nhạc dân gian Mường, trống đồng Mường v.v… Những vấn đề

Trang 16

này được chúng tôi lồng vào các nội dung khác nhau trong đề tài một cách hợp

lý Chẳng hạn, khi trình bày lễ hội Mường không thể không đề cập đến trò chơi dân gian, âm nhạc Mường được lồng vào phần dân ca, nghệ thuật cồng chiêng…

Từ khái niệm chung về bản sắc dân tộc của văn hóa cũng như quan niệm

cụ thể về bản sắc văn hóa Mường đã trình bày ở chương I, sang chương II, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu những nét riêng đặc sắc trong văn hóa Mường cổ truyền - cái làm nên diện mạo độc đáo của văn hóa Mường trong cộng đồng văn hóa dân tộc Đồng thời, cùng với việc tìm hiểu bản sắc văn hóa Mường cổ truyền là việc chỉ ra xu hướng biến đổi của chúng trong những điều kiện xã hội hiện nay Trên cơ sở đó để có thể đưa ra những giải pháp tích cực nhằm góp phần bảo tồn, phát triển bản sắc văn hóa Mường trong thời đại mới

Chưong này đi sâu tìm hiểu cái riêng đặc sắc của văn hóa Mường cổ truyền biểu hiện sinh động trong hệ giá trị văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần mà cộng đồng Mường đã sáng tạo, gìn giữ trong lịch sử phát triển của mình Đồng thời, khi tìm hiểu về mặt giá trị, đề tài cũng quan tâm tới xu hướng biến đổi của chúng trong những điều kiện đã có nhiều đổi thay trong đời sống xã hôi hiện nay Sau đây là những giá trị tiêu biểu nhất

I Hệ giá trị văn hóa vật chất

1 Văn hóa ẩm thực Mường

Nói đến văn hóa ẩm thực không đơn thuần là nói đến sự ăn lúc đói, sự uống lúc khát khiến cơ thể sinh học của con người có tồn tại để rồi người ta lại tái sản xuất sức lao động, tái sản xuất ra con người… Nói đến văn hóa ẩm thực

là nói đến cái “cá tính” riêng của một cộng đồng biểu hiện trong việc ăn, việc uống; cá tính ấy chịu sự quy định của hoàn cảnh sống ( đặc điểm của nền sản xuất, thiên nhiên, lối sống…), đến lượt nó, cái “cá tính” riêng trong sự ăn, sự

Trang 17

uống này lại thể hiện năng lực sáng tạo của cộng đồng trong những hoàn cảnh nhất định

Dấu ấn nông nghiệp lúa nước kết hợp với làm nương rãy, chăn nuôi và khai thác tự nhiên ( săn bắn, hái lượm ) trên một vùng rừng núi điệp trùng và một lối sống gắn kết cộng đồng thể hiện rất đậm nét trong ẩm thực của người Mường

ẩm thực Mường cũng tuân theo mô hình ẩm thực chung của cả khu vực

Đông Nam á là Cơm – Rau – Cá Song cái mô hình chung ấy lại biến hóa khác thường ở mỗi dân tộc, làm nên cái riêng trên cái nền chung của sự lựa chọn

Quá trình này đã được huyền thoại hóa trong Mo “Đẻ Đất đẻ Nước”: Nàng Dặt Cái Dành - một phụ nữ Mường ( Việt cổ )giỏi giang, khéo léo đã lên tận Mường Trời xin nàng Tiến Tiên Mái Lúa “ bốn mươi thứ lúa nà” ( lúa trồng

“nếp củ ong” ( nếp cái hoa vàng), “ nếp củ đen” ( nếp hoa cau), “nếp trứng khe”

Cây lúa là cây lương thực chính bên cạnh cây ngô, sắn Trước kia, xôi nếp

là thành phần lương thực chính trong bữa ăn, cho nên người Mường cũng trồng lúa nếp nhiều hơn lúa tẻ; cơm tẻ chỉ dùng cho người già, khách quý, phụ nữ lúc mang thai hoặc sinh nở Hiện nay, tuy cây lúa tẻ đã chiếm ưu thế, song vùng Mường vẫn giữ được nhiều giống nếp quý tự ngàn xưa và vẫn có tục dùng cây lá tự nhiên nhuộm xôi thành nhiều màu để dâng cúng Thần linh, Tổ tiên như sự hoài niệm về các giống lúa mà Tổ tiên đã từng trồng cấy

- Nguồn thực phẩm khai thác tự nhiên: Thịt thú rừng, rau rừng, các loại măng rừng, cá, cua, ốc đánh bắt được ở các sông, suối …là nguồn thực phẩm vô cùng quan trọng cho bữa ăn hàng ngày của các gia đình

Đồ uống :

* Đồ uống đặc biệt - rượu

Trang 18

Người Mường biết làm rượu rất sớm, có hai loại rượu: rượu trắng thu được qua công đoạn chưng cất, làm lạnh thường được dùng trong bữa ăn và rượu cần

là loại rượu chỉ ủ lên men, không qua chưng cất thường được uống trong những cuộc vui cộng đồng, ngoài bữa ăn

Mo “Đẻ Đất đẻ Nước” đã dành hẳn một roóng mo mang tên “ Tìm rượu” để nói về quá trình tìm ra bí quyết sáng tạo nên đồ uống mang lại sự hứng khởi

và thiêng liêng trong các sinh hoạt cộng đồng của người Mường

Mo “Tìm ruợu” kể rằng, thằng Pập và thằng Pờm – hai đứa trẻ chăn trâu nghèo khổ đã được lang Khấm Rậm bày cho cách thức dùng một số loại cây, lá trong rừng trộn với bột nếp để làm men rượu ( người Mường gọi là men lá ), cách rắc men ủ rượu và nấu rượu v.v… Có thể gọi đó là một bí quyết, một

“ quy trình công nghệ thủ công ” sản xuất rượu gạo của người Mường Bí quyết này đã có từ mấy ngàn năm và được người Mường gìn giữ, lưu truyền đến tận ngày nay

Không chỉ tạo ra rượu mà người Mường còn có cả một “Văn hóa rượu”, nhất là rượu cần với nhiều nét riêng đặc sắc

Gọi là “rượu cần” bởi bộ cần trúc được uốn theo dáng bình, thể hiện cá tính của chủ nhân vừa đẹp trong dáng vẻ vừa tạo nên cách thưởng thức đầy ấn tượng chỉ có được khi uống rượu cần mà thôi

Chiếc bình dùng làm rượu trong mỗi gia đình được xem như một vật quý, nếu gìn giữ lâu đời nó sẽ là vật gia bảo được lưu truyền cho các thế hệ con cháu

Rượu cần là thứ không thể “độc ẩm”, cũng không thể “đối ẩm” mà phải là

“quần ẩm” - nhiều người cùng uống - rượu cần gắn kết cộng đồng bằng chất men ngọt ngào của nó, bằng “Văn hóa rượu” mà cộng đồng tạo nên quanh chuyện thưởng thức nó

Từ bao đời nay, trong các gia đình Mường, những hũ rượu cần thơm ngọt

đều do bàn tay những người phụ nữ Mường làm nên Rượu cần ủ sẵn có thể để quanh năm phòng khi tiếp khách quý và dùng vào dịp lễ tết trong nhà, trong làng bản Men rượu được chế từ lá quế và bột gạo rồi nghiền nhỏ rắc lên một loại xôi nếp đặc biệt ( sau khi đã đồ chín, để nguội ), tiếp đó là quá trình ủ lên men, phơi sấy rồi lại cho vào bình ủ tiếp …Khi rượu đã được, người ta đổ nước vào bình ngâm chừng 2 tiếng thì rượu ngấm và cuộc vui với rượu cần có thể bắt

đầu Nếu không mở nắp, không đổ nước, cứ ủ kín, bình rượu cần có thể cất giữ vài năm, để lâu rượu càng ngon

Khi nhà có khách quý, chủ nhà sẽ chọn chiếc chiếu đẹp trải ngay ngắn trên sàn, giữa chiếu đặt vò rượu cần và mời khách cùng những người trong nhà ngồi quanh vò rượu Sau lời hỏi thăm sức khỏe, chủ nhà sẽ mời tất cả mọi người cùng nâng cần “ uống của vườn của suối cho bớt mệt nhọc đường xa”, đó là uống bước một và cũng gọi là uống “thông cần” Tiếp đó là uống đôi giữa chủ

và khách, rồi uống bốn, uống sáu…Mỗi lần uống, Người “chủ sị” sẽ đổ thêm nước vào vò rượu bằng một loại cốc đặc biệt làm bằng sừng trâu và theo dõi mức rượu cạn dần trong bình để “ thưởng” hoặc “ phạt” người uống Người ta

Trang 19

vừa uống rượu cần vừa hát các điệu dân ca mà lời hát có thể được đặt sẵn, có thể ngẫu hứng tại chỗ: hát mời, hát hỏi thăm sức khỏe - gia cảnh, hát chúc nhau những điều tốt đẹp, hát tiễn đưa, hát hẹn ước v.v…Trong lễ hội hoặc những sinh hoạt cộng đồng, rượu cần được ủ trong những bình lớn, đặt giữa sân, giữa bãi rộng, mọi người cùng uống rượu, ca hát, nhảy múa …Đây thực sự là những sinh hoạt cộng đồng mà rượu cần là chất men gắn kết và khơi gợi bao cảm xúc tốt đẹp cho con người

* Nước uống hàng ngày:

Tương tự như người Việt ( Kinh ), người Mường cũng thường dùng lá vối, lá chè xanh nấu nước uống hàng ngày Cây chè được trồng ngay trong vườn nhà hoặc trồng ở bờ rào, cần uống bao nhiêu thì hái bấy nhiêu Vào những năm 50 – 60 của thế kỷ XX, nhiều làng Mường còn duy trì tục uống trà cộng đồng luân phiên trong làng xóm Các gia đình lần lượt thay nhau chuẩn bị nồi nước trà xanh thật to, thật ngon; buổi tối, cơm nước xong, mọi người trong xóm cùng kéo tới uống trà, hút thuốc, trò chuyện, ca hát…Ngay cả việc hút thuốc lào cũng mang tính cộng đồng rất đặc sắc Khi một điếu thuốc lào được đốt lên, mọi người sẽ chuyền tay nhau ống điếu theo vòng tròn cùng hút, cùng chia sẻ, cùng say sưa với nó Uống trà, hút thuốc cũng là những sinh hoạt gắn kết người

ta lại với nhau trong một cộng đồng thân ái

Ngoài trà xanh, nước vối, người Mường còn có những loại nước uống nấu từ các loại cây rừng ( vỏ, thân, rễ, lá) rất tốt cho sức khỏe, nhất là cho người ốm, người già, phụ nữ mới sinh, trẻ em

Hiện nay, các loại trà khô đã và đang được dùng phổ biến vì sự tiện lợi của

nó, song trà xanh, nước vối vẫn là loại nước uống được mọi người ưa thích; loại nước uống nấu từ các loại cây rừng hiếm hơn trước vì rừng bị khai thác nhiều và cũng chỉ có một số người lớn tuổi biết rành rẽ về chúng mà thôi Mặc

dù vậy, loại nước uống này vẫn được chuộng nhất và đây đó vẫn là nước uống hàng ngày trong một số gia đình người Mường hiện nay

1.2 Một số nét riêng trong ẩm thực Mường

* 1.2.1 “Viếng” và “Cuốp” – một nét riêng độc đáo

Người Mường thích ăn các món đồ ( làm chín bằng hơi ): xôi đồ, cơm đồ, các loại rau, củ, quả ( bí đỏ, đu đủ, lá - hoa đu đủ, hoa chuối, măng, các loại rau vườn nhà hoặc rau rừng …) đều được đồ chín nhiều hơn là luộc Bởi vậy, bất kỳ một gia đình nào cũng phải có bộ dụng cụ chuyên dùng cho cách chế biến thức ăn này, đó là cái “viếng” ( nồi đáy ) và cái “cuốp” ( nồi hấp )

Cái “cuốp” được làm từ một đoạn thân cây, khoét rỗng lòng, phía dưới đục mặt sàng, đặt vỉ cho gạo khỏi rơi, phía trên có nắp đậy để giữ hơi khi đồ thức

ăn Cuốp được đặt khít lên miệng viếng, hơi nước đun sôi từ viếng bốc lên làm chín thức ăn

Cái “viếng” trước kia thường được đúc bằng đồng và bà con người Mường vẫn chuộng viếng đồng hơn cả “Viếng” không đơn thuần chỉ là chiếc “nồi

đáy” mà chiếc “viếng” trong tín ngưỡng Mường, còn liên quan đến sự no ấm,

Trang 20

may mắn, sức khỏe của cả gia đình Bởi vậy, cách đây chưa xa, việc chọn mua

“viếng” là một công việc vô cùng công phu, cẩn trọng và thường là người đàn

ông – chủ gia đình sẽ chịu trách nhiệm công việc này Khi chọn mua “viếng” , người ta lấy một chiếc dây lạt đo vòng trong miệng “viếng”, tiếp đó lấy lạt hoặc mảnh que đo chiều dài đốt trên cùng ngón giữa bàn tay trái của người mua (theo lịch Mường, đây là đốt “khóa rỏ”, ứng với trời – dương ) Người ta lấy mảnh que này đo theo chiều dài của dây lạt nói trên, ngắt dây lạt ra từng đoạn ứng với chiều dài đốt ngón tay rồi dùng chúng xếp thành các ô vuông và lần lượt đếm các cạnh ô vuông theo thứ tự sinh - lão- bệnh - tử …Nếu kết thúc bằng sinh, lão và có của mở là tốt, chiếc viếng ấy sẽ đem lại điều lành cho gia

đình, dù đắt người ta vẫn mua Có người đi vài phiên chợ vẫn chưa chọn được chiếc viếng ưng ý như yêu cầu nói trên

( Cách chọn viếng như trên do anh Bùi Văn Nhen Trưởng ban Văn hóa xã Ân nghĩa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình cung cấp ngày 19/5/2006 )

* 1.2.2 Nét riêng trong cách bày cỗ lá

Người Mường thích bày cỗ trên lá chuối, trong tất cả những bữa cỗ cộng

đồng ( lễ hội, cưới xin, tang ma…) hoặc những lễ cúng lớn trong năm, phải bày nhiều mâm, nhiều cỗ , người ta đều dùng lá chuối thay cho bát đĩa, trừ món canh Lá chuối là vật liệu có sẵn tại vườn nhà lại đỡ nhiều thời gian dọn dẹp sau bữa cỗ…song không giản đơn như vậy! Việc bày lá chuối ra sao chứa đựng cả một tín ngưỡng

Người Mường quan niệm phần ngọn của lá chuối tượng trưng cho Mường Sáng - Mường của người sống (dương ), gốc lá tượng trưng cho Mường tối, Mường Ma, tức Mường của người chết (âm ); Trên tàu lá thì mép lá tượng trưng cho Mường Sáng, mang lá ( phần bám theo dọc của lá chuối ) tượng trưng cho Mường Tối

Khi dùng lá chuối bày cỗ, người Mường có quy tắc phân biệt “ Mol bao

ma tha” ( Người vào ma ra ) Quy tắc này cần được hiểu như sau: Nếu dọn cỗ cho người sống, phần ngọn lá ( Dương ) hướng vào trong, phần gốc lá (Âm ) hướng ra ngoài, còn khi dọn cỗ cho “người Mường Ma” thì làm ngược lại Đây

là một quy tắc nghiêm ngặt không thể vi phạm, bởi đồng bào Mường tin rằng

sự vi phạm sẽ mang lại điều dữ hoặc chí ít cũng làm mất lòng khách, thậm chí khách bỏ ra về vì cho rằng gia chủ đã có ý “chơi xỏ” mình v.v…

1.2.3 Nét riêng trong thói quen ăn uống của người Mường :

+ Các bữa ăn trong ngày: Bữa sáng thường ăn đơn giản ( cơm nắm, muối vừng ) trước khi ra đồng hoặc lên nương, bữa trưa và bữa tối thường có thêm rau, canh và các thực phẩm khác như cá, tôm, cua, ốc, ếch bắt được ở suối ở ruộng khi làm đồng, chế biến đơn giản, thường nấu mang chua ( các gia đình

đều có nhiều chum măng chua ăn quanh năm )

+ Khi nhà có khách, người Mường thường mổ gà, vịt làm món luộc và canh

để tỏ lòng mến khách Tất nhiên, rượu là thứ không thể thiếu trong những bữa

ăn này

Trang 21

+ Vào những ngày đặc biệt như lễ tết, cưới xin, tang ma…hoặc những dịp

đặc biệt của làng xã như lễ hội cổ truyền, các gia đình người Mường cũng như làng xã thường mổ lợn Con lợn được thui bằng rơm, rạ, củi đuốc ( dấu ấn thời văn minh nương rãy ), sau đó được làm sạch và chế biến thành bốn món chính với một món canh:

- Món thịt luộc : gồm thủ lợn và thịt vai

- Món lòng lợn : gồm cả tim, gan, cật, dạ dày và bộ lòng

- Món chả que : thịt sườn nướng

- Chả lá bưởi : thịt ba chỉ, sụn băm nhỏ bọc lá bưởi nướng

- Nước luộc thịt và lòng dùng nấu canh măng hoặc canh rau

Vào những ngày này, tất cả các mâm cỗ đều được bày trên lá chuối ( cỗ lá chuối ) với một nghệ thuật bày rất hợp lý, đẹp mắt và mang tính tâm linh như

đã trình bày ở phần trên

+ Một số món ăn tiêu biểu, đặc sắc

- Đĩa Quéch : vào dịp tết cổ truyền, bên cạnh mâm cỗ bày trên bàn thờ

cúng Tổ tiên không thể thiếu đĩa Quéch ( “Quéch” là tên riêng không chuyển

được sang tiếng Kinh) Một đĩa Quéch bao giờ cũng phải có đầy đủ bốn bộ phận gồm “ tuôi, thai, quai, chò” tức “đuôi , tai , mảng đầu mũi, chân giò”, tượng trưng đầy đủ cho một con lợn toàn vẹn mà con cháu cúng Tổ tiên để tỏ lòng thành kính, biết ơn và mời Tổ tiên vui hưởng thành quả sau một năm lao

động của con cháu

- Chả lá bưởi: dùng thịt ba chỉ, thịt sụn băm nhỏ ướp đủ gia vị, lá bưởi loại

“bánh tẻ” rọc đôi, cuốn gọn miếng thịt trong lá, nướng trên than hồng đốt từ cây lành ngạnh Khi chả đã chín, lá bưởi bọc ngoài từ màu xanh ngả sang màu hơi tím, se lại Khi ăn, lá bưởi thơm giòn hòa vào miếng thịt săn vàng thơm ngon lạ thường cùng chút dư vị tê tê nơi đầu lưỡi là hương vị khó quên của món

ăn này

- Ngách lưỡi: Là món ăn ưa thích của người già, vào dịp tết, con cháu bao

giờ cũng cố công làm món này cho ông bà, cha mẹ Món “ ngách lưỡi” được làm như sau: Thịt thủ lợn cùng tai lợn hấp chín, thái sợi nhỏ trộn với óc lợn hấp chín dằm nhuyễn ; gừng giã nhỏ, lá hẹ cắt ngắn trộn lẫn, nêm gia vị vừa phải Thành phẩm có vị ngậy, giòn mềm và vị cay thơm đậm của gừng của hẹ

- ốch cá ( cuốn “Địa chí Hòa Bình, Nxb Chính trị Quốc gia – 2005 tr 636 viết là

“ốc cá” Trong tiếng Mường “ốch” là tên gọi đi liền các món ăn được gói kỹ trong lá chuối rồi nướng hoặc đồ Các loại nấm, rau rừng đều có thể “ ốch” lá chuối, âm “ốch” rất khó chuyển sang âm tiếng Kinh, “ốch” ở đây được hiểu là gói, bọc )

Là một món ăn quý mà các chàng rể thường làm để biếu bố mẹ vợ vào dịp tết Cá chép cắt khúc, măng bương muối chua thái miếng, gừng xả đập dập thái nhỏ, trộn đều, ướp kỹ rồi “ốch” lá chuối vài ba lần thật kín ( lá chuối đã hơ qua lửa) cho vào cuốp đồ thật kỹ Khi chín, món “ốch cá” giữ được nguyên hương

vị thơm, ngon hòa quyện của cá, của măng chua và gia vị Xôi nếp cái chấm nước cá đồ là cách ăn ưa thích của người Mường

Trang 22

- C á ướp chua : Đây là món ăn không thể thiếu trong dịp tết của người

Mường Cá được mổ bỏ ruột, rửa sạch, để ráo nước, ướp muối hơi đậm, rắc chút cơm nguội và men rượu trộn kỹ cho cá ngấm đều Xếp cá vào hũ, bịt kín bằng nhiều lớp lá chuối đã hơ qua lửa, thường xuyên kiểm tra không để rách lá chuối, tránh ruồi nhặng Sau khỏang 15 ngày, rang thính ngô nếp giã nhỏ, riềng thái lát giã nhỏ, hành hoa cắt khúc, tất cả đổ vào hũ trộn đều rồi lại bịt lá chuối, trát tro bếp lên miệng hũ cho thật kín Cá muối chua kiểu này có thể để dự trữ

ăn quanh năm Nếu đã muối chua từ 3 đến 6 tháng, cá đã “chín” thì có thể ăn trực tiếp không cần chế biến, song người Mường thích dùng lá thầu dầu ( thầu

đâu ) bánh tẻ gói cá chua , kẹp nướng trên than hồng hoặc dùng nấu canh, làm bánh v.v…

- Các món măng: Măng khai thác từ rừng núi là món ăn rất ưa thích và

phổ biến của người Mường, măng có thể ăn tươi hoặc muối chua

Nói đến món măng tươi thì đầu bảng phải kể đến “măng mu” tức măng

đắng chỉ có vào mùa xuân Măng mới nhú khỏi mặt đất chừng gần gang tay là ngon nhất - không quá già vị đắng chát, không quá non chưa đủ vị đắng cũng kém ngon, là món quà quý các nàng dâu Mường đem biếu mẹ chồng để tỏ tấm lòng thơm thảo Măng mu đồ chín chấm muối tỏi ớt ăn kèm với rau mùi tàu, diếp cá mọc ven các khe suối là món ăn mộc mạc, thanh khiết mỗi năm chỉ có một mùa Giữa mùa măng năm nay người ta đã mong đến mùa măng mu năm sau, đủ thấy món măng mu được người Mường ưa thích tới chừng nào

Rừng núi Hòa Bình có rất nhiều loại măng: măng tre, măng luồng, măng hóp, măng bương, măng giang …đều có thể ăn tươi hoặc ngâm chua ăn quanh năm Cách làm măng chua rất đơn giản, chỉ cần thái măng tươi bỏ hũ, ngâm nước ít hôm là thành Các gia đình người Mường thường có những chum to ngâm măng chua ( loại thái mỏng ăn ngay, loại ngâm chua cả cây măng thì có thể để lâu, ăn dần cho đến vụ măng năm sau ) Mỗi loại măng cho một hương vị khác nhau, phải là người tinh tế món ăn Mường mới cảm nhận được cái vị chua hơi nhạt của măng tre, hơi he he đầu lưỡi của măng luồng, riêng có măng bương cho vị chua đậm, dịu và ăn lại giòn sần sật là ngon hơn cả

Măng chua nấu cá, nấu ếch, nấu thịt vịt, thịt gà kèm theo chút hạt dổi nướng, giã nhỏ là món ăn đặc sắc của ẩm thực Mường

- Món ớt kiểu Mường: Trên đầu gác bếp trong mỗi gia đình người Mường

thường có treo bộ chày - cối nhỏ làm bằng gỗ mít, đó là dụng cụ không thể thiếu để chế món ớt kiểu Mường ớt khô nướng thơm giã lẫn củ kiệu; đầu gà (vịt ), tiết, lòng luộc chín, băm nhỏ cùng với lá mùi tàu và một số rau thơm khác, giã nhuyễn rồi trộn đều với ớt khô, củ kiệu nói trên sẽ tạo thành món ớt Mường độc đáo Nếu có thêm vài con cà cuống hay cá suối nướng thơm giã nhỏ trộn đều thì càng thơm, ngọt Trong các bữa cỗ Mường, dù nhiều món hay ít món, nhưng đã có món ngách lưỡi và món ớt củ kiệu thì được xem là chu đáo rồi Các cụ già Mường thường nói với cháu gái : “ không biết còn kịp ăn bát ớt

Trang 23

của cháu không đấy” ( ý nói có sống được đến ngày ăn cỗ cưới của cháu không, nhưng các cụ chỉ nhắc đến món ớt, đủ nói lên cái quý giá của món ăn này)

1 3 ẩm thực Mường trong đời sống x∙ hội hiện nay

* Xu hướng bảo tồn và lan tỏa

Thói quen trong ăn uống là cái không dễ gì thay đổi, điều này phổ biến ở mọi dân tộc Ta có thể dễ dàng nhận thấy người Hoa sống ở đâu cũng vẫn thích bánh bao hơn bánh mì, thích ăn cháo trắng với ca la thầu hơn là xúp khoai tây thịt bò Người Việt cũng vậy, dù sinh sống ở Pháp, Nga, Ca na đa hay Mỹ, cộng

đồng người Việt vẫn thích món phở gà, bún ốc, vẫn giữ thói quen ăn cơm với cá kho riềng, canh cua mùng tơi, cà pháo v.v…

Vào các gia đình người Mường hoặc dự những bữa cơm cộng đồng trong các ngày hội lễ ở vùng Mường hiện nay, ta vẫn thấy hiển hiện sinh động các món ăn Mường, kiểu bày cỗ Mường, chén rượu trắng trong bữa cơm ( chứ không phải bia Hà Nội ) dù là cơm gia đình hay bữa cỗ vào giữa mùa hè

Hai năm liên tiếp dự lễ Khuống Mùa Mường Bi ( 2005, 2006 ) chúng tôi đã chứng kiến sự “thăng hoa” của ẩm thực Mường trong hội thi ẩm thực như một nội dung của Lễ hội này Xóm nào cũng có cỗ dự thi, thậm chí có cỗ thi của một gia đình tham gia Cảm nhận chung:

- Món ăn Mường vô cùng phong phú ( có cỗ thi chúng tôi đếm được hơn 30 món các loại )

- Dấu ấn tự nhiên rất đậm nét trong ẩm thực Mường ( rau rừng, củ rừng, măng rừng các loại , cá suối, rêu đá, chuột rừng, cào cào, châu chấu, bọ xít, hạt tiêu rừng …)

- Cách chế biến không cầu kỳ, chủ yếu là đồ chín, nướng, rang hoặc nấu canh…giống như các món vẫn ăn hàng ngày

- Những món ăn đặc sắc của ẩm thực Mường ( chả lá bưởi, chả que, ốch cá, ngách lưỡi, ớt kiệu, canh măng chua thịt gà (hoặc cá suối ), nếp nương …đều

có mặt trong các cỗ thi Điều đó nói lên rằng tinh hoa ẩm thực Mường vẫn được thế hệ hiện nay bảo tồn, phát triển và là niềm tự hào của con em đất Mường Việc “lan tỏa” của ẩm thực Mường ra ngoài không gian đất Mường cũng cho thấy sự hấp dẫn không thể phủ nhận của nó

- Rượu cần Mường Hòa Bình có mặt ở các Hội chợ trong khu triển lãm Giảng Võ, nhà triển lãm Nông nghiệp trên đường Hoàng Quốc Việt Hà Nội hàng năm khiến cho vò rượu cần ngày càng trở nên quen thuộc, hấp dẫn với người dân Hà Nội và cả nước

- Quán “ Mường Bi” đặt giữa lòng Hà Nội đã thu hút nhiều thực khách đến với xôi nếp nương và các món ăn kiểu Mường

- Rất nhiều chợ ở Hà Nội có bán măng chua, vào Sài Gòn tới quán “ Thanh Niên” trên đường A de Rhodes cũng thường được ăn món canh măng chua

Trang 24

nấu cá …( măng chua có thể là món ăn đã có từ thời Việt cổ, nay vẫn đậm trong văn hóa Mường, nhạt nhòa ở văn hóa Việt (Kinh) song chưa mất hẳn )

* Xu hướng biến đổi như một sự phát triển hợp quy luật

Việc tăng cường giao lưu giữa các tộc người anh em, nhất là giữa hai tộc Kinh – Mường hiện nay khiến cho một số món ăn Mường thâm nhập vào ẩm thực của người Việt ( Kinh ) cũng như sự biến đổi từng phần trong ẩm thực của cư dân Mường là điều tất yếu, hợp quy luật

- Nhiều gia đình người Mường hiện nay đã có thói quen trồng các loại rau theo mùa hoặc mua rau chợ, tất yếu việc ăn rau rừng không thường xuyên như trước kia Măng cũng được khai thác có kế hoạch hơn, khi chủ trương giao đất, giao rừng lâu dài đến từng hộ gia đình miền núi được thực hiện v.v…

- Một bộ phận gia đình Mường trẻ sống ở thị trấn, thị xã, thậm chí sống ở

Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh khác đã tiếp thu cách chế biến món ăn của mọi vùng miền khiến cho bữa ăn trong gia đình có nhiều biến đổi, ngày càng gần với thói quen ăn uống của người Việt ( Kinh ) hơn Xu hướng này cũng cần chú ý khắc phục sự lãng quên dần ẩm thực Mường có thể xảy ra

đối với lớp trẻ Mường sống ở các đô thị hiện nay

2 Văn hóa trang phục và nghề dệt cổ truyền Mường

Trang phục là một biểu hiện sinh động bản sắc riêng của văn hóa tộc người, đặc biệt là trang phục của người phụ nữ Muốn tìm giá trị của trang phục Mường cần phải khám phá nét độc đáo của nữ phục Mường

2.1 Cơ cấu đầy đủ của bộ nữ phục Mường

Trang phục Mường có cái chung của cộng đồng Việt Nam và của cư dân

Đông Nam á Đó là nguồn gốc thực vật của chất liệu làm ra vải, của màu tự nhiên gắn với cỏ cây hoa lá ở một khu vực có quần thể thực vật đa dạng, xanh tươi quanh năm; đó cũng là tính chất thủ công của nghề dệt truyền thống, chất liệu tự nhiên của màu nhuộm và sự khéo tay, cần mẫn, óc thẩm mỹ của con người, nhất là của người phụ nữ Cái đặc sắc trong trang phục Mường biểu hiện

đậm nét trong trang phục của người phụ nữ Tất cả sự tinh tế, khéo léo, dấu ấn lịch sử đều tập trung ở đây

Một bộ trang phục - nữ phục Mường Hòa Bình, về cơ bản gồm những yếu tố sau:

- Chiếc khăn trắng thắt trên đầu, thường được gọi là mũ

- Aó ngắn, có độ dài vừa chấm eo lưng, thường có màu sắc dịu nhẹ như màu xanh chàm, màu hồng, màu xanh nõn chuối

- Aó chùng, tương tự như áo ngắn nhưng được kéo dài xuống ngang đầu gối hoặc dưới gối, phía dưới hơi xòe rộng, hai vạt áo buông tự do tạo cảm giác mềm mại, không cài cúc, không có nút cài như áo chùng của người Thái , người Tày Màu ưa chuộng cho áo chùng là tím than hoặc đen, cũng có thể chọn màu sáng

Trang 25

- Yếm, có hai loại: loại mặc thường ngày gọi là áo báng, thường dùng màu trắng hoặc màu khác màu áo ngắn; loại thứ hai gọi là yếm, hoàn toàn giống yếm của phụ nữ Kinh, thường màu đỏ, được dùng trong trang phục của các nàng dâu khi “múa quạt ma” như một nghi thức của tang lễ

- Váy gồm hai phần chính là cạp váy và chân váy Chân váy thả dài đến tận gót chân và chỉ dùng màu đen hoặc xanh đen; cạp váy có màu sắc rực rỡ, được dệt rất công phu là bộ phận nổi bật nhất trên trang phục; gấu váy luôn được đáp một dải vải màu đỏ vào phía trong, lúc ẩn lúc hiện theo mỗi bước chân như sự làm duyên kín đáo của người phụ nữ Mường

- Bộ tênh khăn và đồ trang sức: cái tênh là một dải lụa dài có màu sắc đẹp (xanh, tím , vàng hoặc lá mạ ) thắt đúng giữa eo, làm tăng thêm vẻ thon thả và tôn các màu của cạp váy, chân váy Phía dưới tênh là chiếc khăn được thắt khéo léo buông hai đầu xuống như tua, tạo thành bộ tênh khăn đẹp mắt; đồ trang sức

ưa dùng là vòng bạc đeo tay, chuỗi hạt cườm và bộ xà tích

Khi đi làm việc, người phụ nữ Mường luôn đeo theo một chiếc ớp ( một loại giỏ tre có miệng rộng bằng đáy ) ở phía sau lưng để tiện cóp nhặt từng con ốc, con cua, ngọn rau mà mình gặp khi đi cấy, đi gặt, đi làm nương…góp thêm vào bữa ăn hàng ngày Chiếc ớp được cha, anh hoặc người chồng đan rất khéo, dây đeo ớp được chính tay chị em tết công phu từ sợi bông rất bền và đẹp

Trang phục của các “nàng” ( con gái nhà lang ) hoặc trang phục ngày hội có màu sắc rực rỡ hơn, chất liệu quý hơn, và thường khoác thêm chiếc áo chùng mặc ngoài màu sáng, thả hờ một chiếc khăn màu dịu nhẹ vòng qua gáy xuống hai bên ngực áo phiá trước, tạo thêm vẻ mềm mại, duyên dáng của người mặc Ngoài trang phục hàng ngày thông dụng trên, văn hóa trang phục Mường còn quy định rất cụ thể quần áo, mũ của thày Mo, quần áo của con trai, con gái, con dâu trong lễ tang cha mẹ, trang phục của bà mối trong đám cưới …điều đó nói lên sự phát triển và tính ổn định đạt đến độ quy chuẩn của văn hóa trang phục Mường

2.2 Trang phục nữ Mường và văn hóa Đông Sơn

Trang phục của phụ nữ Mường ( nữ phục Mường ) thể hiện sâu sắc cái riêng độc đáo trong cái vốn chung của nhiều tộc người trên đất nước ta và là tộc người giữ được nhiều mối liên hệ với chiều sâu cội nguồn Văn hóa Đông Sơn nhất, cụ thể là:

+ Trên di vật đồ đồng Đông Sơn có để lại dấu ấn về hai kiểu trang phục ngày thường của phụ nữ thời đó: áo cánh ngắn, yếm, váy ngắn dưới đầu gối ( kiểu 1 ) và váy dài tới gót, áo chùng dài phủ ngoài áo cánh, yếm ( kiểu 2 )

Theo chúng tôi, cả hai kiểu trang phục trên đều được kế thừa và trở thành trang phục của phụ nữ đồng bằng Bắc bộ ( kiểu 1 ), trang phục phụ nữ Mường ( kiểu 2 ); khác nhau ở độ dài củaváy, của chiếc cạp váy trong nữ phục Mường

và cách may, cách mặc váy; phần áo cơ bản là giống nhau, cũng chiếc áo cánh ngắn, không hoặc ít cài cúc phần trên để làm duyên nhờ chiếc yếm mặc trong hoặc để lộ chiếc cạp váy như một điểm nhấn đầy ấn tượng trong nữ phục

Trang 26

Mường Cách đây vài thập kỷ, chiếc áo choàng dài mặc ngoài của phụ nữ Mường còn rất phổ biến, nay đã vắng bóng, hiếm gặp

Trang phục Mường đã tạo ra một dấu ấn riêng không thể trộn lẫn với trang phục của các tộc người khác, nhất là về kiểu dáng, màu sắc và hoa văn trên trang phục của người phụ nữ

+Về màu sắc và hoa văn trên cạp váy Mường:

Tuy có sự khác nhau chút ít mang sắc thái địa phương giữa trang phục MườngHòa Bình với trang phục Mường Thanh Hóa và một vài tỉnh khác, song nhìn chung, trong trang phục, nhất là nữ phục Mường có một số nét chung đặc sắc như sau:

- Thống nhất về cấu trúc của một bộ trang phục như đã nói bên trên

- Về màu sắc, người Mường không ưa những màu sắc quá chói gắt, rực rỡ; có những bộ phận trong trang phục được quy định thống nhất về màu sắc Chẳng hạn, váy phải là màu đen hoặc xanh đen, khăn thắt trên đầu phải là màu trắng ( Mường Hòa Bình ), không bao giờ người phụ nữ Mường dùng màu khác với tập quán đó Song không vì thế mà nữ phục Mường rơi vào tẻ nhạt, đơn

điệu Bí quyết này nằm ở cách xử lý tinh tế về màu sắc trên áo ngắn, áo báng,

bộ tênh khăn và nhất là màu sắc, hoa văn trên cạp váy

- Nghệ thuật trang trí cạp váy Mường nằm trong dòng nghệ thuật Đông Sơn, được thể hiện qua bố cục chung, bố cục cụ thể, các họa tiết hình học và

động vật được cách điệu trên cạp váy

Cạp váy Mường có bố cục 3 phần: rang trên, rang dưới và cao Trên 3 phần này, người Mường đã thể hiện sự mô phỏng một cách sáng tạo cấu trúc và hoa văn trên trống đồng Đông Sơn

Trên mặt trống đồng bao giờ cũng có hình mặt trời với các tia sáng nằm

ở vị trí trung tâm của mặt trống; bao quanh mặt trời là những vành tròn đồng tâm, trên đó có các mô típ người và động vật nối đuôi nhau theo hướng vận

động biểu kiến của mặt trời ( ngược chiều chuyển động của kim đồng hồ )

Trên cạp váy Mường, cấu trúc trên được thể hiện trên các rang chạy vòng tròn theo cạp váy: hình tượng mặt trời ở trung tâm được chuyển hóa thành các ngôi sao tám cánh đứng san sát cạnh nhau thành một dải ngang thuộc “rang trên” của cạp váy ôm lấy phần ngực của người mặc “rang dưới” có nhiều dải ngang nhỏ chồng lên nhau, mỗi dải chứa một mô típ động vật như hươu, gà, công, phượng, chim, rắn, rồng được nhân lên thành nhiều con đồng nhất nối

đuôi nhau quanh dải Phần dưới cùng của cạp váy được gọi là “cao” gồm những dải nhỏ màu sắc rực rỡ đan xen nhau theo chiều thẳng đứng dọc theo thân váy

Đôi khi tại một số dải rộng hơn trong phần này cũng có một mô típ hình học

đơn giản

Với cách phân chia và các họa tiết như trên, hoa văn trên cạp váy Mường

có cấu trúc trang trí đúng như trên trống đồng Đông Sơn loại I theo sự phân loại của F.Heger Khác biệt duy nhất là hoa văn trên trốn đồng Đông Sơn dù là người, thuyền hay động vật đều nối đuôi nhau trên từng dải tròn theo một hướng không đổi ( ngược chiều kim đồng hồ ), còn trên cạp váy Mường những

Trang 27

dải nhỏ chứa hình các con vật đồng nhất nối đuôi nhau luôn đổi chiều chuyển

động Chẳng hạn, khi ở dải trên, chúng đi về phía tay phải của người mặc váy thì tại dải dưới, chúng lại đi về phía tay trái và dải tiếp nữa phía dưới lại đi về phía tay phải

Hoa văn trên cạp váy Mường thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều người, nhiều nhà khoa học mà tiêu biểu nhất là Nhà Dân tộc học Từ Chi Sau

đây là một số kết luận của ông về mối quan hệ giữa hoa văn trên cạp váy Mường với nghệ thuật Đông Sơn

Theo Từ Chi, nghệ thuật trang trí trên cạp váy Mường nằm trong dòng nghệ thuật Đông Sơn, thể hiện ở bố cục, đề tài hình học và đề tài động vật

&2 Các ngôi sao tám cánh xếp cạnh nhau suốt chiều ngang của rang trên chỉ là biến thể của mặt trời trung tâm trên mặt trống; những hoa văn người,

động vật có khi cả thuyền và nhà nữa khi chuyển qua cạp váy đều trở thành hoa văn động vật, mỗi loài chiếm riêng một loóng của rang dưới

&3 Hoa văn động vật trên những cạp váy “cổ” ( nay còn rất ít ) đều có hướng chuyển động theo kiểu Đông Sơn ( ngược chiều kim đồng hồ ), song những cạp váy Mường ở giai đoạn sau không nhất thiết như vậy

&4 Về hoa văn hình học và động vật, bên cạnh những yếu tố mang phong cách Đông Sơn, người ta còn thấy những yếu tố chịu ảnh hưởng của nghệ thuật các cộng đồng khác như Thái, Việt, Dao Điều đó minh chứng cho

sự hỗn dung văn hóa của các tộc người qua lịch sử

&5 Văn hóa và nghệ thuật Đông Sơn không chỉ được bảo lưu trong văn hóa Mường và văn hóa Chăm mà còn để lại hồi âm trong văn hóa tinh thần của nhiều cộng đồng dân cư trên một khu vực cư trú rộng lớn hơn Song cũng cần thấy rằng, các yếu tố Đông Sơn không “sống sót” trong những cộng đồng khác nhau với những liều lượng như nhau Riêng với người Mường, các yếu tố của nghệ thuật sơ sử đã được cấu trúc lại theo tinh thần riêng, điều đó tạo cho cạp váy Mường một sắc thái rất riêng không thể lẫn với y phục của các tộc người khác, qua mấy biểu hiện sau:

- Bố cục thành dải thẳng không phải là đặc thù Mường mà có thể tìm thấy ở nghệ thuật của người Thái và người Thượng Nét đặc sắc Mường thể hiện

ở khả năng tận dụng bố cục thành dải Cạp váy có ba bộ phận: rang trên, rang dưới và cao, mỗi bộ phận tự thân nó đã thành một dải hoa văn Rang dưới là một tập hợp nhiều dải nhỏ song song, mỗi dải có mô típ riêng nổi lên qua màu sắc Rang trên tuy chỉ có một dải hoa văn độc nhất nhưng lại tự xẻ thành nhiều

Trang 28

dải màu sắc, khiến mỗi mô típ trang trí có thể vỡ ra nhiều mảng chìm xuống nền đen của rang ở những tầm sâu khác nhau Độ lệch giữa hình họa và màu sắc hoa văn, kết quả của bố cục thành nhiều dải nhỏ là nguồn gốc của chất hư hư thực thực ở mặt rang trên Đó cũng là giá trị thâm trầm của mỹ quan người Mường

- Hoa văn trên cạp váy, dù là mô típ hình học hay mô típ động vật, ít nhiều đều vụn ra về hình họa; chẳng hạn, nghệ thuật trang trí rang trên với ý tưởng phác nên hình họa ngôi sao tám cánh, song nó không còn phẩm chất nguyên khối nữa, nó đã bị đập vụn; nghệ thuật Mường đã “hy sinh” nó cho hiệu quả chung mà họ đạt đến chủ yếu bằng màu sắc

- Người Mường dùng màu nguyên khối trên một phổ hẹp, tạo chất rực rỡ

để tôn con người lên giữa thiên nhiên hoang dã Nhưng rực rỡ không phải là tính cách của người Mường Họ có những biện pháp để giảm bớt sắc độ chói chang của màu nguyên Một là họ đập vụn hình họa hoa văn ra, loại hết mảng màu nguyên quá dày Hai là dùng màu đen hạ bớt độ chói chang của màu nguyên Ba là, với con mắt tổng quan, họ đặt cạp váy – một mảng màu phức hợp lên chính giữa nền đen – trắng của trang phục nữ, nâng màu sắc của trang phục Mường từ tẻ nhạt lên trang nhã Trang nhã, trầm lắng - đó chính là cốt tủy của thần thái trang trí Mường

Như vậy, về trang phục, người Mường đã tạo cho mình một trang phục riêng gồm cả thường phục và lễ phục vừa mang những yếu tố chung của các tộc người chung sống trên đất nước ta vừa có nhiều nét riêng vô cùng đặc sắc Cạp váy Mường không chỉ nói lên óc thẩm mỹ sáng tạo của những người đã dệt nên

nó mà còn hàm chứa những giá trị nhân sinh và vũ trụ luận của người Việt cổ Bởi thế, nữ phục Mường cũng là cầu nối của hiện tại với quá khứ của dân tộc

2.3 Xu hướng biến đổi hiện nay:

Sự biến đổi này được nhìn nhận trên các bình diện, một là thay đổi các chi tiết trong bộ trang phục nhất là ở cạp váy; hai là đối tượng và không – thời gian mặc Mường phục; ba là sự hỗn hợp theo xu hướng trang phục hiện đại

Xu hướng thứ nhất, sự thay đổi các chi tiết trong nữ phục Mường theo

hướng đơn giản hóa, đáng quan tâm nhất là đối với chiếc cạp váy Phần cao bị loại bỏ, rang trên và rang dưới có xu hướng gắn liền thành một; hoa văn bị giản lược, không còn sự tinh tế, sâu sắc của sự tiếp nối hoa văn trống đồng Đông Sơn; chất liệu dệt tự nhiên được thay bằng sợi hóa học, màu nhuộm tự nhiên

được thay bằng thuốc nhuộm hóa học hoặc mua sợi màu nhuộm sẵn để dệt Sợi nhuộm màu hóa học khi dệt cạp váy cho màu sắc rực rỡ rất bắt mắt lúc mới song lại mau phai Nhiều chiếc cạp váy cổ dệt bằng sợi tơ tằm, màu nhuộm tự nhiên, được dùng qua nhiều thế hệ, hơn nửa thế kỷ mà mặt thổ cẩm vẫn đanh, màu sắc vẫn đẹp Có lẽ tệ hại nhất là nhiều chị em Mường dùng vải hoa mua ở chợ làm cạp váy thay cho thổ cẩm truyền thống, tuy rất tiện lợi, rẻ tiền song lại làm mất đi vẻ đẹp độc đáo của trang phục Mường

Trang 29

Xu hướng thứ hai, nếu như trước kia mặc Mường phục là tất yếu thì

hiện nay, nữ sinh Mường cũng như nữ sinh thuộc các dân tộc thiểu số khác chỉ mặc vào ngày chào cờ đầu tuần và các dịp lễ hội theo quy định; những phụ nữ

ở độ tuổi 40 tuổi tuy còn mặc nhưng không thường xuyên, chỉ có các Mế già cao tuổi mới là đối tượng luôn mặc Mường phục mọi lúc, mọi nơi Sau đây là một vàì ví dụ cụ thể:

- Dự lễ công nhận làng văn hóa cấp huyện ở xóm Yên xã Kim Truy, huyện Kim Bôi (28/5/2006 ), một xã thuần Mường, song chúng tôi thấy không một cháu gái nào ở tuổi học sinh mặc váy áo Mường; nhìn vào chỗ các cháu thiếu niên, học sinh, người ta hoàn toàn có thể nghĩ đó học sinh ở một trường miền xuôi nào đó Các bà, các chị tất nhiên đều mặc nữ phục Mường theo quy

định của làng, xã trong các dịp lễ hội

- Dự buổi họp với cán bộ phụ nữ xã Thanh Hối huyện Tân Lạc, tại Uỷ Ban xã đặt cạnh cây đa xóm Bào ( 8/5/2006 ), chúng tôi thấy trong số 20 chị

đến họp chỉ có 5 chị mặc y phục Mường Phỏng vấn chị Nguyễn Thị Huyên chủ tịch Hội Phụ nữ xã, chị cho biết: cả xã chỉ còn khoảng 10% phụ nữ biết nghề dệt, 30% phụ nữ thường xuyên mặc váy áo Mường (độ tuổi trên 40 trở lên ), xã quy định chị em phải mặc trang phục dân tộc trong những ngày lễ hội, lễ tết, cưới xin, ma chay… còn ngày thường thì không bắt buộc

- Hai lần dự hội “Khuống Mùa” ở Mường Bi, Tân Lạc ( 2006, 2007 ) tổ chức vào ngày 8 tháng Giêng Âm lịch, chúng tôi thấy phụ nữ Mường đi dự hội đều mặc trang phục Mường với màu sắc rất tươi tắn, tham gia các sinh hoạt của lễ hội; Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin của tỉnh vốn là một phụ nữ Mường cũng duyên dáng trong bộ váy áo Mường trong đoàn cán bộ của tỉnh xuống dự lễ hội với bà con trong xã Tương tự như ở huyện Kim Bôi, Mường Bi

là vùng Mường gốc, song chúng tôi không thấy một bé gái Mường nào mặc trang phục dân tộc đi dự lễ hội “Khuống Mùa” ở chính quê hương của các em

- Thị trấn Bo huyện Kim Bôi có hai hiệu may đo chuyên may trang phục nữ Mường mà thợ may cũng là người Mường Điều đó nói lên rằng phụ nữ Mường vẫn có nhu cầu mặc trang phục dân tộc, tuy không mặc thường xuyên như trước kia, song trang phục Mường vẫn là một nhu cầu không thể thiếu của phụ nữ Mường Tương tự như phụ nữ Việt ( Kinh ) hiện nay, tuy hàng ngày đi làm việc ở cơ quan, văn phòng, xí nghiệp… chị em mặc Âu phục, song

ai cũng có vài bộ áo dài để mặc vào những lúc cần thiết Các nhà may áo dài

có mặt ở khắp mọi tỉnh, thành phố phục vụ cho nhu cầu đó, không ai tự ngồi cắt, khâu áo dài cho mình cả

Trang 30

những tấm lụa màu giá phải chăng, bày bán ở tất cả các chợ ( hiện tượng này cũng xuất hiện ở phụ nữ Thái, Mông, Tây Nguyên và nhiều tộc người khác )

Xu hướng biến đổi này không chỉ diễn ra ở đồng bào Mường, ở riêng nước ta mà dường như hiện diện trên toàn thế giới Chẳng hạn, người đàn ông Tây Nguyên lớn tuổi có khi mặc áo sơ mi, thậm chí áo veston mà vẫn đóng khố, phụ nữ Lào có thể mặc áo sơ mi kết hợp với chiếc sa rông đặc trưng của người Lào; nhiều người đàn ông vùng Trung á vẫn đội chiếc mũ cổ truyền nhưng lại mặc Complet v.v…

Việc chị em phụ nữ Mường mặc theo kiểu “hỗn hợp” như trên phản ánh một số thực tế sau:

- Cộng đồng Mường đã có cái nhìn linh hoạt hơn, đỡ khắt khe hơn đối với trang phục của người phụ nữ Sự linh hoạt này có được nhờ giao tiếp văn hóa được rộng mở hơn, qua nhiều kênh hơn thay vì cho tính khép kín trước kia

- Điểm nhấn trong bộ nữ phục Mường là chiếc váy, đặc biệt là chiếc cạp váy thổ cẩm Việc chuyển từ mặc váy Mường sang mặc quần Âu là cả một vấn

đề đối với người mặc, còn việc thay đổi ở chiếc áo thì không làm ảnh hưởng nhiều lắm tới nữ phục Mường

- Là bước chuyển tiếp trung gian theo xu hướng bỏ dần trang phục dân tộc để “mặc theo lối xuôi”, thực chất là trang phục hiện đạinhư đã và đang xảy

ra hiện nay

3 Văn hóa nhà ở và kiến trúc

3.1 Giá trị lịch sử của nhà sàn Mường

Nhà sàn không phải là một “đặc sản” chỉ có ở Việt Nam mà là sản phẩm chung của cả khu vực Đông Nam á Nhà sàn không giản đơn chỉ là chỗ

ở, mà còn là sự biểu hiện của lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng của đồng bào Mường

Nhà sàn Mường giản dị hơn nhà sàn Thái song lại lưu giữ trong lòng nó một giá trị lịch sử đặc sắc Tính chất cổ xưa của nhà sàn Mường biểu hiện ở chính sự giản dị này cũng như biểu hiện ở kết cấu kỹ thuật và kiểu dáng của ngôi nhà

Việc xử lý kỹ thuật trong kết cấu nhà sàn Mường còn khá thô sơ, các vì kèo chỉ được gá lỏng vào các vì cột bằng các ngoãm và dây buộc, loại hình nhà cũng đơn giản Bởi thế, khi có điều kiện làm nhà bằng vật liệu tốt, thường các gia đình giàu có phải đón các tốp thợ miền xuôi lên thì mới yên tâm về mặt kỹ thuật

Trong những thập kỷ gần đây, nhà sàn Mường vẫn giữ được dáng nhà cổ xưa có mái khum khum hình mui rùa như được miêu tả trên trống đồng Ngọc

Lũ thuộc văn hóa Đông Sơn Mái nhà kiểu này trùm xuống rất thấp, che khoảng 1/3 chiều cao các cửa voóng ( cửa sổ ) vừa làm mát cho ngôi nhà vừa chống mưa gió tốt hơn Mo Mường ( Đẻ đất đẻ nước ) có nói về việc rùa xám

Trang 31

rồi Rùa thiêng ( Rùa vàng ) dạy dân cách làm nhà sàn Huyền thoại này nói lên quá trình sáng tạo văn hóa gian khổ, vừa thích ứng, vừa khai thác tự nhiên, mô phỏng tự nhiên một cách sáng tạo của người Việt cổ mà ngôi nhà sàn được làm nên từ gỗ lạt, nứa lá, tranh, tre là một bằng chứng của sự sáng tạo ấy Trong tâm linh người Mường, Rùa là con vật thông thái, thiêng liêng, người ta kiêng không ăn thịt rùa.Trong một số thư tịch cổ Trung Hoa cũng ghi chép rõ “ người Giao Chỉ gác gỗ làm nhà” Đây là kiểu nhà sàn , khác với kiểu nhà hầm, nhà có tường đất nện của người Hán cổ Kết quả khảo cổ học hiện nay cũng đã có đủ tư liệu về nhà sàn trong Văn hóa Đông Sơn

Nhà sàn Mường là sự tiếp nối kiểu kiến trúc nhà sàn vốn có của người Việt cổ, còn người Việt ( Kinh ) do điều kiện sinh hoạt ở vùng đồng bằng nên

đã chuyển dần từ nhà sàn sang nhà đất ( cũng làm từ gỗ, bương, tre, lợp tranh hoặc lá gồi…); điều đáng lưu ý là , tuy chuyển sang làm nhà đất, song tên gọi các bộ phận chính trong ngôi nhà vẫn được lưu giữ, chẳng hạn: cột cái, cột con, vì kèo, đòn nóc, đòn tay, rui, mè, mái lá v.v…Hiện tại, chúng ta vẫn thấy một

số ngôi đình nổi tiếng của người Việt ở đồng bằng Bắc bộ như đình Tây Đằng (Hà Tây), đình Đình Bảng (Bắc Ninh), đình Trà Cổ (Móng Cái, Quảng Ninh) vẫn giữ lại chút dáng dấp nhà sàn xưa như một hoài niệm của cộng đồng về ngôi nhà sàn truyền thống mà cha ông đã tạo nên từ hàng ngàn năm trước

Tính cổ xưa còn thể hiện ở công dụng đa năng của nhà sàn Mường Mỗi gia đình người Mường bình dân xưa kia chỉ có một ngôi nhà duy nhất, phần sàn nhà vừa để ở, vừa làm bếp; phía trên sàn là gác để thóc lúa; gầm sàn là nơi cất giữ công cụ sản xuất (cày, bừa, cuốc, thuổng, nơm úp cá…), cất giữ củi đun, nhốt trâu bò, chuồng nuôi lợn, gà, vịt v.v…, rìa cạnh nhà sàn (dưới đất) đặt máng vò lúa, cối xay lúa, cối giã …( nhà các quan lang mới có nhiều căn, nhà chính, nhà phụ, kho thóc, nhà bếp, chuồng trại v.v…).Từ sau 1954 đến nay, qua nhiều cuộc vận động, mức sống và trình độ nhận thức được nâng cao dần, đồng bào Mường đã làm chuồng nuôi gia súc riêng, nhà cửa cũng có nhiều biến đổi

Như vậy, nhà sàn của đồng bào Mường có tuổi lịch sử đã mấy ngàn năm, là một biểu hiện sinh động, đặc sắc của văn hóa vật chất từng gắn bó máu thịt với sinh hoạt hàng ngày của đồng bào qua nhiều thế hệ Trong cấu trúc truyền thống, nhà sàn Mường là một kiến trúc đa năng, ngôi nhà thỏa mãn nhiều nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của mỗi gia đình

văn hóa nhà sàn của các dân tộc Việt Nam và khu vực Đông Nam á

3.2 Không gian văn hóa nhà sàn Mường

Nhà sàn Mường không chỉ là một giá trị vật chất hiện hữu của mấy ngàn năm lịch sử mà còn là một không gian tinh thần chứa đựng những giá trị nhân sinh, tín ngưỡng, phong tục tập quán lâu đời của nhiều thế hệ người Mường

Trang 32

Từ không gian bên ngoài đến không gian bên trong ngôi nhà sàn Mường

đều là những không gian văn hóa, ở đó giữa cái tiện ích, thực dụng và cái tinh thần thiêng liêng hòa quyện với nhau một cách tự nhiên Chẳng hạn:

- Không gian bên ngoài :

Mỗi gia đình đồng bào Mường, ngoài ngôi nhà sàn bao giờ cũng có một khoảng vườn trồng cây ăn quả, trồng ngô , đậu, bàu, bí…tạo nên một không gian đẹp và thuận lợi cho sinh hoạt của con người

Tại không gian bên ngoài, miếu thờ Thần Đất như một yếu tố không thể thiếu trong tổ hợp kiến trúc của nhà sàn Mường Miếu được lập ngay trong đất vườn tại vị trí gần cầu thang chính, hơi chếch với hướng nhìn thẳng vào cửa chính - đối diện với bàn thờ tổ tiên Điều đặc biệt là, miếu thờ Thần Đất luôn

được dựng rất đơn sơ, không phải do sự cẩu thả của con người mà là kiểu đơn sơ bắt buộc bởi nó gắn với sự tích của hai vị Thần Đất vốn là hai anh em trên mường Trời được phái xuống mường Bằng cai quản phần đất cho mỗi gia đình Tuy miếu thờ luôn chỉ có một mái nhỏ xíu được dựng tạm bằng tre nứa, lá, song việc thờ Thần Đất lại là một tín ngưỡng ăn sâu, bắt rễ trong đời sống tinh thần của người Mường

Cầu thang chính là một không gian mở ra bên ngoài, luôn có mái che Khi khách đến nhà phải rửa chân tại một bồn nước với chiếc gáo nhỏ đặt ở gần cầu thang chính Rửa cho sạch chân cũng là để giữ cho sạch nhà là một nhu cầu rất thực tế, nhất là ở vùng đất đồi núi Song ý nghĩa của nó không dừng ở

đây mà hơn thế, đó là cách thể hiện lòng hiếu khách, tôn trọng khách và ngược lại là sự tôn trọng chủ nhà, tôn trọng cả ngôi nhà của gia chủ Cũng cần nói thêm rằng, cầu thang chính luôn nằm trong không gian có mái che cũng mang cả hai ý nghĩa nói trên

- Không gian bên trong càng thể hiện rõ sự kết hợp hài hòa giữa cái tiện ích và cái thiêng liêng, giữa không gian sinh hoạt và không gian văn hóa

Sự phân biệt “nhà ngoài - nhà trong” ( giạu ngoài , giạu trong ), “nhà trên - nhà dưới” hoàn toàn mang tính ước lệ song lại được tôn trọng đặc biệt

“ Giạu ngoài ” ở phần “nhà trên” bao giờ cũng là nơi đặt bàn thờ tổ tiên, và cũng là chỗ ngồi dành cho người cao tuổi, khách quý; khách nam giới được tiếp

ở “giạu ngoài ” song nếu là bậc con cháu, ít tuổi thì chỉ được ngồi ở phần nhà dưới để tỏ sự khiêm tốn và kính trọng gia chủ “Giạu trong” là nơi đặt lò bếp, phần không gian tiếp theo là chỗ dành cho sinh hoạt của phụ nữ, có thể được ngăn thành một hoặc nhiều buồng nhỏ, liên hệ với bên ngoài bằng một cầu thang phụ

Lò bếp và cửa sổ là những bộ phận không thể thiếu được của một ngôi nhà về tính hữu dụng của nó Song cũng tại đây những giá trị nhân sinh và tín ngưỡng cổ truyền của người Việt Mường được bảo lưu dưới những hình thức hết sức cụ thể, giản dị mà vô cùng thiêng liêng, thuần khiết:

- Cùng với lò bếp là tín người thờ Vua Bếp vừa sâu nặng nghĩa tình chồng vợ vừa là khát vọng no ấm của mọi nhà; có thể thấy rõ sự “chung gốc”

Trang 33

của hai tộc Mường - Kinh ở sự tích “Ông Đầu Rau” và tín ngưỡng thờ Vua Bếp trong mỗi gia đình

- Cột nhà nơi gần bếp được gọi là “cột cái”, mang ý nghĩa thiêng liêng gắn với ước vọng no ấm của gia đình

- Cùng với cửa sổ là tín ngưỡng về thế giới của “Mường ma”, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Mường “Voóng tôông”( cửa sổ ở “nhà trên, giạu ngoài”) là nơi ra - vào của “người Mường Ma” và các vị thần linh; mâm cơm cúng tổ tiên bên người cha bao giờ cũng đặt ở sát “voóng tôông”, còn mâm cơm cúng tổ tiên bên người Mẹ đặt ở “voóng lại” ( cửa sổ ở nhà trên, giạu trong) với ý nghĩa người phụ nữ gắn với bếp, với thóc lúa - sự no ấm và sinh sôi

Đồng thời, hệ thống cửa sổ cũng mang lại sự thoáng, mát cho ngôi nhà, tạo không gian xanh trong tầm nhìn của con người - mỗi khuôn cửa sổ là một bức tranh của sắc màu hoa lá, của quả chín mọng cành…

Khi khách tới nhà, đặc biệt nếu vị khách ấy không phải người Mường thì sự thận trọng là vô cùng cần thiết Khách lạ phải có ý thức “nhập thân văn hóa” bắt đầu từ việc rửa chân trước khi lên cầu thang cho tới ý tứ trong lựa chỗ ngồi cùng những hiểu biết cần thiết về không gian thiêng của lò bếp và cửa sổ trong nhà v.v

Như vậy, nhà sàn Mường không chỉ là một giá trị vật chất có bề dày lịch

sử mà còn hàm chứa trong lòng nó nhiều giá trị tinh thần đáng trân trọng, đó là: Tôn trọng ông bà, tổ tiên, tôn trọng người già; lòng hiếu khách, tôn trọng khách ; tôn trọng giá trị gia đình, tình nghĩa vợ chồng thủy chung; khát vọng về một cuộc sống no ấm và bình yên; tôn trọng thần linh và các lực lượng siêu nhiên trong quan hệ trực tiếp với cuộc sống con người

Cuối cùng, vẻ đẹp bình dị, ấm cúng mà duyên dáng của nhà sàn Mường chỉ được tôn lên khi nó gắn với quần thể của bản Mường, ẩn hiện trong cái dịu ngọt, huyền bí của thiên nhiên xứ Mường

3.3 Thực trạng nhà sàn Mường hiện nay:

Hiện nay, nhà sàn Mường đang mất dần đi một cách tự phát với tốc độ ngày càng nhanh Con số thống kê của tỉnh Hòa Bình cho thấy sự biến đổi về nhà ở, sự mất dần của nhà sàn diễn ra như sau:

- Vào những năm 60 – 70 của thế kỷ XX, nhà sàn truyền thống chiếm tới 80% tổng số ngôi nhà trong toàn tỉnh; những xã, những làng của đồng bào Mường có 100% nhà sàn là phổ biến, bình thường như một lẽ đương nhiên

- Tới năm 1999, số hộ có nhà ở tăng lên, chiếm tới 99, 88% tổng số hộ gia đình trong toàn tỉnh, song nhà sàn chỉ còn 35% trong tổng số nhà ở của nhân dân các dân tộc trong tỉnh mà thôi

- Năm 2005 – 2006, Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Hòa Bình đã tiến hành thống kê nhà sàn Mường trong toàn tỉnh, trong đó, con số thu được ở bốn huyện gắn với bốn vùng Mường cổ nổi tiếng như sau:

Trang 34

( Xem bảng thống kê trang sau )

Tên huyện Tổng số hộ Tổng số nhà hiện có Nhà sàn Mường Tỷ lệ %

Lạc sơn 26.863 16.974 16.974 63,0 Tân Lạc 16.880 9.326 9.326 55,2 Cao Phong 8.500 2.324 2.324 27,0 Kim Bôi 29.415 1.610 1.610 5,4 Yên Thủy

Lạc Thủy

25.173 1.000 1.000 3,97

Kỳ Sơn 7.786 194 194 2,5 Thành Phố

Qua khảo sát điền dã, chúng tôi thu được những thông tin trực tiếp về thực trạng nhà sàn tại một số vùng Mường cổ như sau :

- Huyện Kim Bôi : Ngay tại làng văn hóa xã Bôi Câu, chúng tôi chứng kiến tận mắt sự bê tông hóa 100% nhà ở của cư dân trong làng Có thể nói, đi

trong một Làng Văn hóa của đồng bào Mường mà chúng tôi thật khó tìm được

cảm xúc nào về văn hóa Mường Cả huyện Kim Bôi chỉ còn xóm Vay( xã Thượng Tiến ) giữ được 100% nhà sàn truyền thống bởi xóm Vay được Sở Văn hóa – Thông tin của tỉnh chọn làm nơi thực hiện Dự án bảo tồn Làng Văn hóa truyền thống trong tỉnh

- Cao Phong là một huyện mới thành lập, song Mường Thàng nằm trên

đất Cao Phong lại là một vùng Mường cổ nổi tiếng

Tại Cao Phong, chúng tôi chọn khảo sát xã Dũng Phong, nơi đây vốn là vùng đất của trung tâm Mường Thàng khi xưa Hiện nay, Dũng Phong là một xã nằm ven thị trấn của huyện Đứng trên đất Dũng Phong, chúng tôi cũng khó tìm thấy dấu ấn của một làng Mường về phương diện kiến trúc Đi sâu xuống xóm Đồng Mới, một xóm có những Ông Mo thuộc lòng những bài Mo, có những Bà Mế hơn 80 tuổi vẫn say xưa hát “Thường đang, bộ mẹng”, song về nhà sàn thì toàn thôn chỉ còn 5 chiếc ( thời điểm tháng 10.2003 ) Cả 5 ngôi nhà sàn này đều đã cũ nát, chủ nhân của nó cũng không có ý định tu sửa mà chỉ là

cố gắng chịu khổ thêm ít ngày, khi có đủ điều kiện sẽ “phá bỏ nhà sàn, làm nhà theo kiểu xuôi như người ta” ( lời Mế Thiết hơn 80 tuổi, thôn Đồng Mới )

Trang 35

Tháng 5/ 2006, khảo sát lần thứ hai tại Dũng Phong, chúng tôi thấy khu

vực huyện lỵ hiện đại hơn rất nhiều bởi đoạn Quốc lộ 6 xuyên qua huyện đã

hoàn thành, điện cao áp, nhà cao tầng mọc lên khắp nơi, đường đi lại trong xã

tốt hơn, “ khí thế” ấy đã làm mất đi những ngôi nhà sàn cuối cùng là đương

nhiên

Cả huyện Cao Phong chỉ còn xóm Giang Mỗ ( xã Bình Thanh ) ở cách thị

xã Hòa Bình hơn 10 Km vẫn giữ được 100% nhà sàn Điều may mắn này có

được nhờ vị trí thuận lợi, phong cảnh đẹp của Giang Mỗ nên ngành du lịch

trong tỉnh quan tâm giữ gìn, khaithác phục vụ khách du lịch

Khảo sát ở huyện Lương Sơn vào tháng 6 /2006, chúng tôi có được con

số thống kê số lượng nhà sàn trong toàn huyện tính đến hết năm 2005 như sau:

( Số liệu do Phòng Văn hóa huyện Lương Sơn cung cấp )

Con số thống kê ở 7 xã trên cho ta thấy nhà sàn Mường đang dần biến

mất ngay tại vùng Mường; toàn huyện chỉ có xã Cao Răm còn giữ được nhà sàn

bởi đây là một xã vùng sâu, đường đi lại còn khó khăn, song nhiều nhà sàn

trong số đó cũng đang xuống cấp, nguy cơ biến mất cũng không xa

Sự mất đi của những mái nhà sàn Mường là sự mất đi của một kiểu kiến

trúc có giá trị lịch sử, sự mất đi của một không gian văn hóa thiêng liêng, chứa

đựng trong lòng nó một lối sống giàu nhân bản và đạo lý truyền thống Mất

nhà sàn cũng là sự đánh mất một phần lịch sử, một phần cái riêng của bản sắc

và đã nhanh chóng bị biến mất trước sức ép của chữ Hán khi người Hán xâm

lược và thực hiện chính sách truyền bá chữ Hán, văn hóa Hán vào nước ta

Trang 36

Tiếng Mường thuộc tiểu chi Việt Mường, ngành Môn - Khơ me, họ Nam

á Một số nhà nghiên cứu cho rằng : cách ngày nay chừng 4.000 năm, ngôn ngữ Tiền Việt Mường được hình thành trên cơ sở tách ra từ khối ngôn ngữ Việt – Ka tu; hơn một ngàn năm sau, ngôn ngữ Tiền Việt Mường phát triển thành ngôn ngữ Việt Mường Chung; đến khoảng thế kỷ IX , thế kỷ X thì ngôn ngữ Việt Mường chung bắt đầu phân hóa thành hai ngôn ngữ gắn với hai nhóm cư dân : nhóm sống trong các làng bản, ít tiếp xúc với người Hán, ngôn ngữ Hán

và nhóm sống ở gần các trị sở, đô thị và đồng bằng, tiếp xúc nhiều với ngôn ngữ Hán cùng nhiều ngôn ngữ khác trong khu vực Đông Nam á Từ đó dẫn đến

sự hình thành tiếng Việt (Mường ) và tiếng Việt ( Kinh )

Hiện nay, có thể dễ dàng nhận thấy nhiều nét gần gũi giữa tiếng Mường

và tiếng phổ thông ( tiếng Kinh ) bởi vốn đây là hai ngôn ngữ có cùng một gốc Cuộc chia tay lịch sử mới diễn ra hơn một ngàn năm nay, tiếng Việt cổ vẫn tiếp tục được bảo lưu trong môi trường văn hóa Mường, tiếng Việt ( Kinh ) tiếp tục phát triển và trở thành một ngôn ngữ hiện đại như ngày nay

Bề dày lịch sử như trên khiến cho ngôn ngữ Mường, mặc dù chưa có chữ viết song bằng con đường truyền miệng đã lưu giữ trong lòng nó nhiều vốn văn hóa dân gian cổ truyền nổi tiếng như: “Mo –Sử thi dân tộc Mường”, các truyện thơ dân gian: “Nàng Nga - Hai Mối”, “út Lót – Hồ Liêu”, “Nàng ờm chàng Bồng Hương”…các điệu hát dân ca “Thường đang, bọ mẹng”, “Ru ún”,

“Mời trầu”, “Hát ví đúm”v.v trong đó, nổi tiếng nhất làMo Mường Dưới hình thức tín ngưỡng, “Mo Mường” thực sự là một bộ sử thi vĩ đại của người Việt cổ

được gìn giữ trong ký ức của đồng bào Mường và luôn hiện diện sống động trong văn hóa Mường qua các đêm Mo bằng ngôn ngữ Mường

Tiếng Mường và tiếng Việt ( Kinh ) có mối quan hệ sâu xa từ trong cội nguồn như trên đã tạo thuận lợi cho việc giao lưu giữa hai ngôn ngữ Trong quá trình tiếp xúc, tiếng Mường tiếp nhận nhiều vốn từ hiện đại từ tiếngViệt (kinh)

là chuyện bình thường và dễ hiểu Hơn nữa, tiếng Việt ( Kinh ) lại là ngôn ngữ thống nhất của cả cộng đồng dân tộc nên ảnh hưởng của nó đến ngôn ngữ các tộc người anh em khác là tất yếu

Như vậy, tuy đã có nhiều đổi thay trong cuộc sống, song tiếng Mường vẫn được giữ gìn và sử dụng trong môi trường giao tiếp của cộng đồng Mường

Với 348 đối tượng khảo sát là các em học sinh dân tộc Mường, chúng tôi nhận được kết quả về việc sử dụng ngôn ngữ của các em như sau:

- ở nhà : 319 ; trong thôn bản : 249 ; giờ ra chơi : 84

+ Việc dùng tiếng phổ thông ( Kinh ): ở lớp học ( 243 ); ở nhà ( 81 ) và trong thôn bản ( 75 )

Trang 37

Như vậy, tiếng Mường ( tiếng mẹ đẻ ) vẫn được dùng thành thạo và thường xuyên tại gia đình, thôn bản; tiếng phổ thông ( Kinh ) được dùng trong quan hệ giao tiếp tại trường học là chính, đôi khi có dùng trong môi trường gia

đình và thôn bản, đó cũng là điều bình thường Đáng lưu ý là có 19/ 348 em trả lời không thành thạo tiếng mẹ đẻ, tuy con số không lớn nhưng là một dấu hiệu xấu mới xuất hiện gần đây

Việc sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ của thế hệ người Mường trẻ không chỉ có ý nghĩa tình cảm mà còn vô cùng quan trọng đối với việc thấu hiểu các giá trị tinh thần để làm chủ chúng cũng như việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa mường trong đời sống xã hội hiện nay

Những làn điệu dân ca, những bài hát ru, những câu chuyện cổ tích, truyện thơ dân gian, các bài Mo…là những giá trị tinh thần quý giá do cộng

đồng Mường sáng tạo nên Những giá trị này chỉ có thể thực hiện đầy đủ giá trị của nó trong không gian văn hóa Mường, kể, hát bằng tiếng Mường Một khi không gian ấy bị mất đi, người ta chỉ còn đọc nó trong các sách ghi bằng chữ Quốc ngữ thì “cái hồn Mường” ẩn chứa trong đó đã bị tổn thất nặng nề

2 Phong tục Mường ( cưới xin, tang ma, lễ hội )

Phong tục là những quy định, quy ước trong đời sống của một cộng đồng

được tiếp nối qua nhiều thế hệ, đã trở thành những thói quen khó thay đổi trong mỗi cộng đồng văn hóa

Phong tục là lĩnh vực văn hóa hết sức phức tạp và đa dạng, khuôn khổ

của đề tài chỉ khảo sát ba hiện tượng: cưới xin, tang ma và lễ hội

2.1 Về phong tục cưới xin

2.1.1 Lễ thức truyền thống và ý nghĩa văn hóa của nó :

Cưới xin trong tâm thức của đồng bào Mường là một sự kiện trọng đại, thiêng liêng của mỗi đời người, của gia đình và cộng đồng Bởi vậy, để một đôi trai gái nên vợ, nên chồng, phong tục cưới xin trong Văn hóa Mường cổ truyền phải tiến hành qua nhiều bước, với một khoảng cách thời gian rất dài , ở đây chỉ nêu vắn tắt trình tự các bước để dẫn đến hôn nhân sau khi đôi trai gái đã chính thức báo cáo với hai bên cha mẹ như sau:

- Lễ “Kháo tiếng” ( thăm dò, ướm hỏi )

- Lễ “Ti nòm bánh “( lễ bỏ trầu, ăn hỏi )

- Lễ “Ti cháu” ( lễ cưới rể, đi rể )

- Lễ “Ti du” ( lễ cưới dâu, đi dâu, đón dâu ) Trong các bước trên, nhà trai đều phải mang đủ lễ vật theo quy định Trong đó, “Ti cháu” được xem là lễ cưới chính thức, song lại diễn ra ở nhà gái

và phải sau từ 1 đến 3 năm nữa mới tổ chức lễ “ Ti du” Đây chính là thời gian thử thách chàng rể; gia đình bên gái và cô dâu tìm hiểu thêm, nếu phát hiện thấy chú rể là người xấu thì họ có quyền từ hôn, trả lại lễ vật qua sự thương thuyết của các ông - bà mối

Trang 38

Lễ “Ti du”, đoàn nhà trai sang nhà gái đón dâu; về nhà chồng, cô dâu phải mang theo mấy chục chiếc gối, chăn, vải , đệm do tự tay mình làm để biếu tặng ông bà, cha mẹ, anh em bên chồng Sau các nghi lễ trước bàn thờ Tổ tiên, tiệc cưới sẽ diễn ra vui vẻ với đủ mặt hai họ và bà con trong làng Sau lễ

“Lại mặt”, cô dâu ở hẳn bên nhà chồng song vẫn phải chờ hàng năm nữa cho cô dâu quen nếp ăn, nếp ở của nhà chồng rồi chọn ngày lành tháng tốt, nhà trai nhờ một bà phúc hậu dễ nuôi con tới trải chiếu, căng màn cho đôi vợ chồng, từ hôm ấy họ mới chính thức nên vợ nên chồng

Vị trí của Ông Mối, Bà Mối ( tiếng Mường gọi là ông Mờ, bà Mờ ) rất quan trọng trong toàn bộ các lễ thức của tục cưới Đặc biệt, họ phải là những người hát hay, giỏi ứng đối bằng câu hát, nhiều khi phải ngẫu hứng đặt lời Trong các lễ thức, từ đặt vấn đề, lý do, giới thiệu tài đức của con trai nhà mình ( chú rể ), con gái nhà mình ( cô dâu ) cho “đối tác” rõ đến việc cám ơn nhau của đôi bên… các ông - bà Mối đều phải hát bằng các làn điệu dân ca Mường

- Hôn nhân không chỉ là việc riêng của mỗi cá nhân mà còn là sự kiện của cả cộng đồng gia đình, làng bản; lễ thức hôn nhân thể hiện rõ sự gắn kết cá nhân

2.1.2 Xu hướng thay đổi hiện nay:

Cùng với sự thay đổi của đời sống kinh tế – văn hóa trong thời đại mở cửa, bùng nổ thông tin và đô thị hóa, đám cưới Mường cũng có nhiều biến đổi

về cả hai mặt hay và dở, xin đơn cử vài ví dụ:

Trang 39

- Những chiếc chăn, gối đậm bản sắc Mường vẫn được các cô dâu chuẩn

bị mang theo khi về nhà chồng để tặng ông bà, cha mẹ bên chồng như một cách bày tỏ lòng kính trọng và thể hiện sự cần cù, khéo tay của mình Một phần trong số hàng chục chiếc chăn ấy cô dâu được giữ lại cho vợ chồng cô cũng như con cái cô dùng sau này

Cái dở:

Cô dâu ít mặc trang phục truyền thống trong ngày cưới, họ thường chọn

áo dài theo lễ phục của phụ nữ Kinh, thậm chí mặc váy áo hiện đại phương Tây

Thay vì rượu cần, các món ăn dân tộc và các làn điệu dân ca Mường trong không gian nhà sàn truyền thống là phòng cưới trang trí phông màn, loa

đài với các băng đĩa nhạc mở hết công suất

Ngày nay, hầu hết các cô gái Mường không biết và cũng không tha thiết việc học dệt vải , dệt thổ cẩm, làm chăn, làm gối …Bởi vậy, nếu trong nhà có con gái, thì hiện tượng phổ biến là các bà mẹ chuẩn bị giúp chăn gối kiểu Mường kết hợp với mua thêm các loại chăn hiện đại cho con gái mang về nhà chồng

Chị Bùi Thị Bựng ( sinh năm 1950 ), Phân Hội Trưởng Phân Hội Phụ nữ xóm Tam 4 xã Thanh Hối ( Tân Lạc ) cho biết: “ Các cô gái bây giờ ít người biết dệt vải , làm chăn, gối, phong tục Mường vẫn muốn con dâu về nhà chồng phải tặng gối, chăn dân tộc cho ông bà, bố mẹ chồng Các bà mẹ phải chuẩn bị giúp con gái từ lúc con còn nhỏ – 13, 14 tuổi mới kịp, vì những công việc này

đòi hỏi rất nhiều thời gian”

Chị Bựng còn cho biết thêm, con gái lớn của chị khi lấy chồng đã đưa về nhà chồng 10 chăn dân tộc, 5 chăn nỉ hiện đại và rất nhiều gối kiểu Mường các loại to nhỏ… Hiện tại, chị đang dệt phà, chuẩn bị chăn cho con gái út, thậm chí còn chuẩn bị sẵn cho đứa cháu gái nội mới 4 tuổi Chị Bựng phòng xa, ít năm nữa cao tuổi hơn, mắt kém đi, không dệt phà, làm gối được …

Lễ cưới Mường hiện nay đang đổi thay theo hướng mất dần diện mạo truyền thống, nếu không có những biện pháp hữu hiệu thì hiện tượng này có sức dẫn truyền rất mạnh bởi đối tượng của các lễ cưới chính là thế hệ trẻ

2.2 Về phong tục tang ma

Lễ tang Mường cổ truyền là một hệ thống hoàn chỉnh gồm hai phần chính : phần Lễ thức và phần tang ca ( những đêm Mo ) song hành và đan xen với nhau Cả hai phần này đều vô cùng phức tạp, hàm chứa nhiều ý nghĩa tâm linh và giá trị đặc sắc, nhất là phần tang ca

Trang 40

Phần lễ thức gồm rất nhiều nghi lễ được thực hiện từ lúc trong nhà có

người lâm chung cho đến lúc người chết đã có mồ yên mả đẹp Sau đây là một

số nghi lễ chính:

- Dóng 3 hồi chiêng cụt ( dứt 3 hồi không có tiếng tiếp theo ) báo tin cho dân làng biết nhà có người sắp mất Khi người thân đã chết hẳn thì gõ trống chiêng liên hồi để báo tin dữ

- Con trai cả của người chết dùng dao chặt 3 nhát lên thành cửa Voóng ( cửa sổ thiêng nơi phía trên đặt bàn thờ Tổ tiên ) và kêu lên: “Trời ơi, cha mẹ tôi chết rồi”- dấu hiệu nhận trách nhiệm thay cha thờ cúng Tổ tiên Sau nghi lễ này người ta mới nhập quan và phát tang

- Lễ kẹ (lễ cắt đứt mối quan hệ giữa người chết và người sống ) để phân biệt “mường sáng” – thế giới của người sống với “mường tối” – thế giới của người chết

- Lễ đạp ma, xua đuổi, trấn áp ma xấu và cảnh tỉnh linh hồn người chết

về ranh giới giữa hai thế giới

- Lễ đưa tang với rất nhiều nghi lễ kèm theo mang ý nghĩa mong cho hồn người chết được tốt tươi no đủ nơi “mường tối” và biết đường trở về nhập với tổ tiên

Phần tang ca chính là các đêm Mo do các Thày Mo thực hiện Tang ca

đầy đủ nhất trong một lễ tang trước kia trong các nhà quyền quý diễn ra trong

12 đêm ( 11 đêm hát Mo và 1 đêm hành lễ không có hát Mo):

- Đêm thứ nhất có 6 áng mo, gồm Mo “đẻ Khót” ( túi thiêng làm tăng sức mạnh của ông Mo ), mo đèn, và các áng mo giải thích về cái chết và nguồn gốc chiếc quan tài

- Đêm thứ hai: Mo Đẻ Đất, Đẻ Nước” kể về việc sinh ra trời đất, con người, cây cỏ , muông thú và muôn loài trên trái đất, giúp người chết hiểu biết để họ không đi vào “mường tối” như một kẻ dốt nát Đây là áng mo chứa

đựng nhiều giá trị lịch sử và triết học nhất

- Đêm thứ ba: Mo nhòm họ, nhòm mường Thày Mo dẫn linh hồn người chết đi vào thế giới bên kia để tìm gặp những người thân đã mất và nhập vào thế giới của ho

- Từ đêm thứ tư đến đêm thứ tám ( 5 đêm mo ) là các Mo đi kiện: loài vật, gia súc bị người giết hại đã kiện con người, linh hồn lên Mường Trời phải

đi hầu kiện nhưng cuối cùng con người đã thắng kiện

- Đêm thứ chín: Mo xuống sông Tỵ – con sông địa phủ ngăn cách người sống với người chết

- Đêm thứ mười: Mo Vườn Hoa Núi Cối kể về một câu chuyện tình yêu, mang ý nghĩa giải trí cho linh hồn người chết đỡ mệt mỏi vì những chuyến đi dài

- Đêm thứ mười một gồm 4 áng mo, trong đó có “Mo tách lìa”là những lời vĩnh biệt cuối cùng của người chết với người sống và những vật nuôi trong nhà Đây là áng mo xúc động lòng người qua lời hát lâm li thống thiết của các Thày Mo

Ngày đăng: 14/05/2014, 10:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w