Sản xuất hàng hóa là một bộ phận của kinh tế quốc tế, là tổng thể các quan hệ kinh tế, khoa học, kỹ thuật, công nghệ được thực hiện dưới nhiều hình thức, hình thành và phát triển trên cơ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐẠI NAM
GV hướng dẫn: Nguyễn Đăng Thu
Hà Nội , ngày 03 tháng 03 năm 2023
Trang 2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ……… 2
CHƯƠNG 1: LÍ LUẬN CHUNG VỀ NỀN SẢN XUẤT HÀNG HÓA……… 3
I.Sản xuất hàng hóa ……… 5
1.1 Khái niệm sản xuất hàng hóa………5
1.2 Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa………6
2 Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa ……… 7
2.1 Đặc trưng……… 8
2.2 Ưu thế ……… 8
3 Các quy luật của sản xuất hàng hóa………9
3.1 Quy luật giá trị……… 9
3.2 Quy luật cạnh tranh……… 13
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH THAM QUAN, NGHIÊN CỨU NỀN SẢN XUẤT HÀNG HÓA VÀ MẶT HẠN CHẾ CỦA NỀN SẢN XUẤT HÀNG……… 15
I Sơ lược về lịch sử phất triển kinh tế sản xuất hàng hóa ở Việt Nam……… 15
II Tình hình sản xuất hàng hóa nước ta……… 16
1 Bối cảnh trong nước và quốc tế trước đổi mới………16
III Thực trạng nền sản xuất hàng hóa ở nước ta hiện nay……20
1.Thực trạng ……… 20
2 Thách thức cho nền sản xuất hàng hóa Việt Nam… 21
VI Những mặt hạn chế sản xuất hàng hóa nước ta hiện nay…22 CHƯƠNG 3: HẠN CHẾ VÀ GIẢI PHÁP NỀN KINH TẾ VIỆT NAM HIỆN NAY………… 31
KẾT LUẬN……… 32
TÀI LIỆU KHAM KHẢO……… 33
PHỤ LỤC……… 34
Trang 3MỞ ĐẦUTrong thời kì đầu của xã hội loài người do sự lạc hậu của lực lượngsản xuất
nên sản xuất của xã hội mang tính tự cung tự cấp khiến nhu cầu của con người
bị bó hẹp trong một phạm vi, giới hạn nhất định Khi lực lượng sảnxuất
phát triển và có nhiều thành tựu mới, con người dần thoát khỏi nền kinh tế tự
nhiên và chuyển sang nền kinh tế hàng hóa Nền kinh tế hàng hóa phát triển
càng mạnh mẽ và đến đỉnh cao của nó là nền kinh tế thị trường Sản xuất hàng
hóa là một bộ phận của kinh tế quốc tế, là tổng thể các quan hệ kinh tế, khoa
học, kỹ thuật, công nghệ được thực hiện dưới nhiều hình thức, hình thành và
phát triển trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động
quốc tế Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sản xuất hàng
hóa được ví như một mắt xích quan trọng trong guồng máy của nền kinh tế,
đóng vai trò quan trọng, nhất là trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay,
Trang 4không những góp phần đắc lực vào quá trình thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế phát
triển mà còn mở rộng quan hệ giao lưu, hợp tác quốc tế cả về cáclĩnh vực khác
Sản xuất hàng hóa là một quá trình tạo ra sản phẩm hàng hóa nhằm đáp ứng và
làm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người Trong thời đại nền kinh tế mở và
cạnh tranh như hiện nay, mỗi quốc gia phải nghiên cứu tìm ra hướng đi đúng đắn
cho nền kinh tế, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đất nước, phù hợp với khu
vực thế giới và thời đại Chính vì vậy việc nghiên cứu về điều kiện
Trang 5Sản xuất hàng hóa là một khái niệm được sử dụng trong kinh tế chính trị Lênin dùng để chỉ về kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra
Mac-nó mà là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán trên thị trường
Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế phân biệt với sản xuất tự cung tự cấp ở thời kì đầu của lịch sử loài người Ở thời kì đó, sản phẩm của sự lao động được tạo
ra chỉ để phục vụ trực tiếp cho nhu cầu của chính người sản xuất ra chúng Nhưng
do sản xuất ngày càng phát triển, nhu cầu của con người ngày càng tăng cao làm cho sản xuất tự cung tự cấp dần dần bị chuyển hóa thành sản xuất hàng hóa Sản xuất hàng hóa đã tồn tại từ trong chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, sau
đó là chế độ tư bản chủ nghĩa và chế độ xã hội chủ nghĩa Sản xuất hàng hóa tồn
tại trên cơ sở của sự trao đổi hàng hóa và là nền tảng cho mọi nền kinh tế.VD:
Trang 6Công xưởng sản xuất bánh mì
Trang 7Công xưởng sản xuất bánh , nước ngọt
1.2 Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa
Ở thời kì đầu lịch sử loài người, sản phẩm của sự lao động được tạo ra chỉ để phục
vụ trực tiếp cho nhu cầu của chính người sản xuất ra chúng Nhưng do sản xuất ngày càng phát triển, nhu cầu của con người ngày càng tăng cao làm cho sản xuất
tự cung tự cấp dần dần bị chuyển hóa thành sản xuất hàng hóa Sản xuất hàng hóa
đã tồn tại từ trong chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, sau đó là chế độ tư bản chủ nghĩa và chế độ xã hội chủ nghĩa Sản xuất hàng hóa tồn tại trên cơ sở của
sự trao đổi hàng hóa và là nền tảng cho mọi nền kinh tế
Nền kinh tế hàng hóa có thể hình thành và phát triển khi có các điều kiện:
Điều kiện thứ nhất, phân công lao động xã hội.
Phân công lao động xã hội chính là sự chuyên môn hóa sản xuất cũng như phân chia lao động trong xã hội ra thành các ngành và các lĩnh vực sản xuất khác nhau, tạo nên sự chuyên môn hóa của những người sản xuất thành những ngành, nghề khác nhau Khi đó, mỗi người thực hiện sản xuất một hoặc một số loại sản phẩm
Trang 8nhất định, tuy nhiên nhu cầu của họ lại yêu cầu nhiều loại sản phẩm khác nhau Đểthỏa mãn nhu cầu của mình, tất yếu những người sản xuất buộc phải trao đổi sản phẩm với nhau để đáp ứng đầy đủ nhu cầu Đây được xem là lý do dẫn đến hoạt động trao đổi sản phẩm trở thành tất yếu.
Việc phân công lao động xã hội hay chuyên môn hóa sản xuất cũng là yếu tố nâng cao năng suất lao động, sản phẩm thặng dư cũng ngày càng nhiều nên càng thúc đẩy sự trao đổi sản phẩm hơn
Điều kiện thứ hai, sự tách biệt về mặt kinh tế của các chủ thể sản xuất
Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất làm cho giữa
những người sản xuất độc lập với nhau, có sự tách biệt về lợi ích Trong điều kiện
đó, người này muốn tiêu dùng sản phẩm của người khác phải thông qua trao đổi, mua bán, tức là phải trao đổi dưới hình thức hàng hóa C.Mác viết: “Chỉ có sản phẩm của những lao động tư nhân độc lập và không phụ thuộc vào nhau mới đối diện với nhau như là những hàng hóa”(C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H 1993, t 23, tr 72.)
Trong lịch sử, sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất hiện khách quan dựa trên sự tách biệt về sở hữu Xã hội loài người càng phát triển, sự tách biệt
về sở hữu càng sâu sắc, hàng hóa được sản xuất ra càng phong phú
Khi còn sự tồn tại của hai điều kiện nêu trên, con người không thể dùng ý chí chủ quan mà xóa bỏ nền sản xuất hàng hóa được Việc cố tình xóa bỏ nền sản xuất hàng hóa, sẽ làm cho xã hội đi tới chỗ khan hiếm và khủng hoảng Với ý nghĩa đó, cần khẳng định, nền sản xuất hàng hóa có ưu thể tích cực vượt trội so với nền sản xuất tự cấp, tự túc
Tóm lại, sản xuất hàng hóa chỉ ra đời và tồn tại khi có đủ hai điều kiện trên Thiếu một trong hai điều kiện thì không có sản xuất hàng hóa và sản phẩm của lao động cũng không mang hình thái hàng hóa
2 Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa
Trang 92.1 Đặc trưng
Sản xuất hàng hóa có hai đặc trưng cơ bản sau:
Sản xuất hàng hóa là sản xuất để trao đổi, mua bán Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế đối lập với sản xuất tự cung tự cấp trong thời kì đầu của lịch sử loài người Cụ thể, trong sản xuất hàng hóa sản phẩm được tạo ra để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán
• Lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tinh tư nhân, vừa mang tinh xã hội Tính chất tư nhân thể hiện ở việc đặc tính của sản phẩm được quyết định bởi
cá nhân người làm ra nó hoặc người trực tiếp sở hữu tư liệu sản xuất trên danh nghĩa Tính chất xã hội thể hiện qua việc sản phẩm tạo ra đáp ứng cho nhu cầu của những người khác trong xã hội Tính chất tư nhân đó có thể phù hợp hoặc không phù hợp với tính chất xã hội Đó chính là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hóa
• Đẩy mạnh quá trình xã hội hóa sản xuất Sản xuất hàng hóa phá vỡ tính tự cung
tự cấp, bảo thủ, lạc hậu của nền sản xuất tự cấp tự túc Khai thác được lợi thế về tựnhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở, từng vùng, từng địa phương, kích thích sự phát triển về kinh tế của cả quốc gia
• Đáp ứng nhu cầu đa dạng cho xã hội Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người ngày càng gia tăng cả về lượng và chất, sản xuất hàng hóa giúp cho họ
có nhiều sự lựa chọn hơn để đáp ứng nhu cầu của mình Góp phần cải thiện đời sống xã hội đồng thời làm tăng khả năng lao động của xã hội
Trang 10Muốn phân tích mức độ phát triển của nền sản xuất hàng hóa, ta cần xem xét, đánhgiá thông qua sự biểu hiện của các ưu thế này.
3 Các quy luật của sản xuất hàng hóa
3.1 Quy luật giá trị
a) Nội dung và yêu cầu của quy luật giá trị
Sự phân công lao động trong xã hội chính là để tạo ra sản phẩm chuyên dùng Người làm ra sản phẩm cần đảm bảo được rằng nó sẽ đem lại lợi ích cho cuộc sống Bởi trên thực tế hàng hóa làm ra không được sử dụng để phục vụ cho bản thân thì phải để người khác có thể sử dụng.
Tùy vào mặt hàng mà nhu cầu sử dụng và sản xuất có nhiều hay không và có cần nhiều nguồn lực, công sức để tạo ra nó hay không Khi càng mất nhiều thời gian vàcông sức tạo ra nó thì càng thể hiện được giá trị của sản phẩm Giá trị của sản phẩm chính là công sức của những người lao động được tính vào sản phẩm mà họ đem đi trao đổi.
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và lưu thông hàng hóa, vì
nó đề cập đến việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở giá trị của hàng hóa, quy định bản chất của sản xuất hàng hóa, là cơ sở của tất cả các quy luật khác của sản xuất hàng hóa
Nội dung của quy luật giá trị là: Sản xuất và trao đổi hàng hóa dựa trên cơ sở giá trị của nó, tức là dựa trên hao phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa
đó Nền kinh tế hiện nay là nền kinh tế thị trường có tín hiệu nhạy bén nhất là giá
cả mà giá cả lại chịu sự chi phối của quay luật giá trị vì thế nói quy luật giá trị có ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế là hoàn toàn phù hợp mang tính tất yếu Trong sản xuất, tác động của quy luật giá trị buộc người sản xuất phải làm sao cho mức hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức hao phí lao động xã hội cần thiết có như vậy họ mới có thể tồn tại được; còn trong trao đổi, hay lưu thông, phải
Trang 11thực hiện theo nguyên tắc ngang giá: Hai hàng hóa được trao đổi với nhau khi cùng kết tinh một lượng lao động như nhau hoặc trao đổi, mua bán hàng hóa phải thực hiện với giá cả bằng giá trị Cơ chế tác động của quy luật giá trị thể hiện cả trong trường hợp giá cả bằng giá trị, cả trong trường hợp giá cả lên xuống xung quanh giá trị Ở đây, giá trị như cái trục của giá cả.
b) Tác động của quy luật giá trị
-Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa
Quy luật giá trị điều tiết sản xuất hàng hóa được thể hiện trong hai trường hợp sau:Thứ nhất, nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả cao hơn giá trị, hàng hóa bán chạy và lãi cao, những người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư thêm tư liệu sản xuất và sức lao động Mặt khác, những người sản xuất hàng hóa khác cũng
có thể chuyển sang sản xuất mặt hàng này, do đó, tư liệu sản xuất và sức lao động
ở ngành này tăng lên, quy mô sản xuất càng được mở rộng
Thứ hai, nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả thấp hơn giá trị, sẽ bị lỗ vốn Tìnhhình đó buộc người sản xuất phải thu hẹp việc sản xuất mặt hàng này hoặc chuyển sang sản xuất mặt hàng khác, làm cho tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành nàygiảm đi, ở ngành khác lại có thể tăng lên
Còn nếu như mặt hàng nào đó giá cả bằng giá trị thì người sản xuất có thể tiếp tục sản xuất mặt hàng này Như vậy, quy luật giá trị đã tự động điều tiết tỷ lệ phân chia tư liệu sản xuất và sức lao động vào các ngành sản xuất khác nhau, đáp ứng nhu cầu của xã hội Tác động điều tiết lưu thông hàng hóa của quy luật giá trị thể hiện ở chỗ nó thu hút hàng hóa từ nơi có giá cả thấp hơn đến nơi có giá cả cao hơn,
và do đó, góp phần làm cho hàng hóa giữa các vùng có sự cân bằng nhất định
Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm
Các hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện khác nhau, do đó, có mức hao phí lao động cá biệt khác nhau, nhưng trên thị trường thì các hàng hóa đều phải được trao đổi theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết Vậy người sản xuất
Trang 12hàng hóa nào mà có mức hao phí lao động thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, thì sẽ thu được nhiều lãi và càng thấp hơn càng lãi Điều đó kích thích những người sản xuất hàng hóa cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, cải tiến tổ chức quản lý, thực hiện tiết kiệm nhằm tăng năng suất lao động, hạ chi phí sản xuất Sự cạnh tranh quyết liệt càng làm cho các quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn Nếu người sản xuất nào cũng làm như vậy thì cuối cùng sẽ dẫn đến toàn bộ năng suất lao động xã hội không ngừng tăng lên, chi phí sản xuất xã hội không ngừng giảm xuốnng VD:
Trang 13Công xưởng sản suất gỗ giá trị hàng hóa sản suất cao
Công xưởng may giá trị hàng hóa sản suất thấp
Phân hóa những người sản xuất hàng hóa thành giàu, nghèo
Những người sản xuất hàng hóa nào có mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mứchao phí lao động xã hội cần thiết, khi bán hàng hóa theo mức hao phí lao động xã
Trang 14hội cần thiết (theo giá trị) sẽ thu được nhiều lãi, giàu lên, có thể mua sắm thêm
tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh, thậm chí thuê lao động trở thành ông chủ Ngược lại, những người sản xuất hàng hóa nào có mức hao phí lao động
cá biệt lớn hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, khi bán hàng hóa sẽ rơi vào tình trạng thua lỗ, nghèo đi, thậm chí có thể phá sản, trở thành lao động làm thuê Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân làm xuất hiện quan hệ sản xuất
tư bản chủ nghĩa, cơ sở ra đời của chủ nghĩa tư bản Như vậy, quy luật giá trị vừa
có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực Do đó, đồng thời với việc thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, nhà nước cần có những biện pháp để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của nó, đặc biệt trong điều kiện phát triển nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
3.2 Quy luật cạnh tranh
Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình Cạnh tranh có thể diễn ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng Ví dụ: người sản xuất thì muốn bán được hàng hóa với giá cao, người tiêu dùng lại muốn mua được hàng hóa với giá rẻ; hoặc giữa người tiêu dùng với người tiêu dùng để mua được hàng hóa với giá rẻ hơn, chất lượng hơn; hoặc giữa người sản xuất với người sản xuất nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, như điều kiện về vốn, lao động, nguồn nguyên liệu, thị trường, giành nơi đầu tư có lợi để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình Trong cuộc cạnh tranh này người ta có thể dùng nhiều biện pháp khác nhau Chẳng hạn, để giành giật thị trường tiêu thụ, họ
có thể dùng biện pháp cạnh tranh giá cả như giảm giá cả hàng hóa để đánh bại đối thủ, hoặc cạnh tranh phi giá cả như dùng thông tin, quảng cáo sản phẩm, quảng cáo dây chuyền sản xuất để kích thích người tiêu dùng
Nội dung của quy luật cạnh tranh là: Trong nền sản xuất hàng hóa, sự cạnh tranh giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa người sản xuất và người tiêu dùng là
Trang 15một tất yếu khách quan, là yêu cầu thường xuyên đối với những người sản xuất hàng hóa
Quy luật cạnh tranh xuất phát từ bản chất của nền sản xuất hàng hóa, của quy luật giá trị Cạnh tranh có vai trò rất quan trọng và là một trong những động lực mạnh
mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển Nó buộc người sản xuất phải thường xuyên năng động, nhạy bén, thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, nâng cao tay nghề, hoàn thiện tổ chức quản lý để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế…Thực tế cho thấy, ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì ở đó thường trì trệ, bảo thủ, kém phát triển Bên cạnh mặt tích cực, cạnh tranh cũng có những mặt tiêu cực, thể hiện ở cạnh tranh không lành mạnh như dùng những thủ đoạn vi phạm đạo đức hoặc vi phạm pháp luật nhằm thuđược nhiều lợi ích nhất cho mình, gây tổn hại đến lợi ích của tập thể, xã hội, cộng đồng như làm hàng giả, buôn lậu, trốn thuế, ăn cắp bản quyền, tung tin phá hoại uytín đối thủ, hoặc cạnh tranh làm tăng sự phân hóa giàu nghèo hoặc tổn hại đối với
môi trường sinh thái v.v.VD:
Công xưởng sản xuất hàng lậu dầu gội , mỹ phẩm
Trang 16CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH THAM QUAN, NGHIÊN CỨU NỀN SẢN XUẤT HÀNG HÓA VÀ MẶT
HẠN CHẾ CỦA NỀN SẢN XUẤT HÀNG HÓA
I.Sơ lược về lịch sử phát triển nền kinh tế sản xuất hàng hóa ở Việt Nam
Từ nền sản xuất hàng hóa giản đơn thời phong kiến tới nền kinh tế hàng hóa sau này, nền sản xuất hàng hóa của nước ta đã không ngừng biến đổi và phát triển Thời kì phong kiến, trình độ lao động, năng suất lao động nước ta chưa cao, chính sách bế quan tỏa cảng ở một số triều đại kìm hãm sự lưu thông hàng hóa giữa các khu vực , quốc gia Sở hữu về tư liệu lao động nằm trong tay một số ít người ở tầng lớp trên Nhìn chung, ở thời kì này, nền sản xuất hàng hóa ở nước ta mới chỉ xuất hiện ở giai đoạn sơ khai
Trong thời kì bao cấp trước đổi mới, nên kinh tế hàng hóa đồng thời là nền kinh tế
kế hoạch Cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp kìm hãm sự phá triển của nền sản xuất hàng hóa Biến hình thức tiền lương thành lương hiện vật, thủ tiêu động lực sản xuất, thủ tiêu cạnh tranh và lưu thông thị trường Sự nhận thức sai lầm của nước ta thời kì này đã khiến nền kinh tế suy sụp, sức sản xuất hàng hóaxuống dốc không phanh Từ năm 1976 đến 1980, thu nhập quốc dân tăng rất chậm,
có năm còn giảm Từ năm 1986, sau khi Đảng và Nhà nước đã kịp thời chuyển đổinền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế sản xuất hàng hóa nước ta đã có bước phát triển mạnh mẽ Thị trường và nền kinh tế nhiều thành phần được công nhận và bước đầu phát triển Nền kinh tế Việt Nam bắt đầu trên cơ sở đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước
Trang 17Tuy nhiên sản xuất hàng hóa cũng có những mặt trái của nó như phân hóa giàu – nghèo giữa những người sản xuất, tiềm ẩn những khả năng khủng hoảng, phá hoại môi trường sinh thái, xã hội,v.v… Cụ thể những hạn chế đó sẽ phân tích và tìm giải pháp sau khi chúng ta làm rõ sự vận hành nền sản xuất hàng hóa Việt Nam dưới đây.
II Tình hình sản xuất hàng hóa nước ta
1 Bối cảnh trong nước và quốc tế trước đổi mới
a, Về bối cảnh trong nước
Sau khi đất nước giải phóng cho tới năm 1985, cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp và mô hình công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa kiểu Xô Viết đã được áp dụng rộng rãi trên
cả nước Mặc dù có nhiều nỗ lực trong xây dựng và phát triển kinh
tế, nhất là tập trung cho công nghiệp hóa, ưu tiên phát triển côngnghiệp nặng Nhưng nền kinh tế nói chung và sản xuất công
nghiệp vẫn tăng chậm Hơn nữa, có xu hướng giảm sút và rơi vào khủng hoảng Nền sản xuất bao cấp đã tỏ ra không còn phù hợp
và kìm hãm sự phát triển của kinh tế Trong khi nguồn viện trợ của bên ngoài, các nguồn vốn và hàng hóa vật tư, nguyên liệu và hàng hóa tiêu dùng đã bị cắt giảm đáng kể, lại thêm bao vây cấmvận của đế quốc Mỹ ngăn cản Việt Nam bình thường hóa quan hệ thế giới Mặt khác, do đặc trưng của nền kinh tế tập trung là rất cứng nhắc nên nó chỉ có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn ngắn và chỉ có tác dụng phát triển kinh tế theo chiều rộng Nền kinh tế chỉ huy ở nước ta tồn tại quá dài nên nó không những không còn tác dụng đáng kể trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển mà nó còn sinh ra nhiều hiên tượng tiêu cực làm giảm năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất
Trang 18Nếu không thay đổi cơ chế kinh tế, vẫn giữ cơ chế kinh tế cũ thì không thể nào có đủ sản phẩm để tiêu dùng chứ chưa muốn nói đến tích lũy vốn để mở rộng sản xuất Thực tế những năm cuối của thập kỷ 80 đã chỉ rõ thực hiện cơ chế kinh tế cũ cho dù chúng
ta đã liên tục đổi mới, hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, nhưng hiệu quả của nền sản xuất xã hội đạt mức rất thấp Sản xuất hôngđáp ứng được nhu cầu của xã hội, tích lũy hầu như không có, đôi khi còn ăn lạm cả vào vốn vay của mỗi người
Trước những khó khăn, nhiều địa phương đã tìm lối thoát và đổi mới kinh tế từ cơ sở Từ việc tổng kết thực tiễn này, năm 1979, tại Hội nghị trung ương IV, Đảng ta đã tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong cơ chế quản lý nền kinh tế, nhằm “cởi trói” và để cho sản xuất “bung ra” – sản xuất hàng hóa Tiếp theo, những cải tiếnquản lý thử nghiệm được bắt đầu từ năm 1981 với khoán trong nông nghiệp, điều chỉnh kế hoạch và mở rộng quyền tự chủ cho xínghiệp, công nghiệp quốc doanh Có thể coi những cải tiến quản
lý trong các năm 1979 – 1985 là các tìm tòi thể nghiệm chuẩn bị cho cải cách toàn diện (Đổi mới) nền kinh tế Xong, các cải tiến cục bộ này vẫn chưa làm thay đổi căn bản thực trạng nền kinh tế,khủng hoảng kinh tế vẫn rất trầm trọng Vì vậy, đổi mới toàn diệnnền kinh tế trở thành yêu cầu cấp bách ở nước ta
Đặc trung nổi bật trong thời kỳ này là đổi mới Đại hội VI (tháng 12/1986) của Đảng là mốc lịch sử quan trọng trên con đường đổi mới toàn diện ở nước ta Sau khi phân tích phê phán nghiêm túc sai lầm, thiếu sót trong thời gian qua, Đại hội đã đề ra đường lối đổi mới kinh tế toàn diện cho đất nước trong thời kỳ mới Tiếp theo, các Đại hội VII (tháng 6/1991), Đại hội VIII (tháng 6/1996) và