1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam trên thị trường quốc tế .DOC

41 907 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Khả Năng Cạnh Tranh Của Hàng Dệt May Việt Nam Trên Thị Trường Quốc Tế
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 317 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam trên thị trường quốc tế

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I LÍ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH 3

I - Khái niệm 3

1 Cạnh tranh 3

2 Khả năng cạnh tranh 4

3 Vai trò của cạnh tranh 5

II - Phân loại khả năng cạnh tranh 6

1 Khả năng cạnh tranh quốc gia 6

2 Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp 6

3 Khả năng cạnh tranh của sản phẩm 7

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ 8

I – Tình hình xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam trong những năm qua .8 1 Xuất khẩu sang thị trường Mỹ 16

2 Xuất khẩu sang thị trường EU: 19

3 Xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản: 20

II - Thực trạng khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam 22

1 Về chất lượng sản phẩm 24

2 Về giá 25

3 Về cơ cấu mặt hàng và khả năng đổi mới mặt hàng 26

4 Về tiến độ giao hàng và hậu mãi 26

III Nguyên nhân 26

Trang 2

CHƯƠNG III KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG

QUỐC TẾ 31

I Kiến nghị từ phía doanh nghiệp 31

II Kiến nghị với Nhà nước và Hiệp hội dệt may Việt Nam 34

1 Kiến nghị với Nhà nước 34

2 Kiến nghị với Hiệp hội dệt may Việt Nam 36

KẾT LUẬN 37

TÀI LIỆU THAM KHẢO 38

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Từ hơn một thập kỉ nay, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoátrở thành một xu thế khách quan và diễn ra nhanh chóng, vừa tạo cơ hội cho cácnền kinh tế, vừa tăng sức ép cạnh tranh Thực tế cho thấy trong thập kỉ qua, thếgiới kinh doanh sống trong môi trường mà sự xáo động của nó không ngừng làmcho các nhà kinh tế phải ngạc nhiên, mọi dự đoán đều không vượt quá 5 năm.Cạnh tranh là một trong những quy luật kinh tế cơ bản của kinh tế thị trường, làcông cụ để thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo dựng nên những doanh nghiệp thànhđạt đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế Sự cạnh tranh gaygắt diễn ra giữa các doanh nghiệp, các quốc gia tăng mạnh, hầu hết các thịtrường đều được quốc tế hóa, chỉ có những doanh nghiệp có khả năng cạnhtranh mới có thể tồn tại trong thị trường này

Vì thế doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải có khả năng cạnh tranhcao Ngày 11/1/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổchức thương mại thế giới WTO, đánh dấu cột mốc mới trên con đường hội nhậpkinh tế quốc tế của nước ta Đặc biệt đối với ngành dệt may- ngành có tốc độphát triển nhanh chóng, sản phẩm dệt may luôn chiếm tỷ trọng lớn và đứng vị tríthứ hai sau dầu thô của nước ta, hàng dệt may có khả năng thâm nhập không chỉnhững thị trường quy định hạn ngạch mà cả những thị trường không có hạnngạch

Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may năm 2003 đạt 3,6 tỷ USD, tăng thêm30% so với năm 2002 là mốc son mới của ngành dệt may, trong vòng ba nămkim ngạch xuất khẩu tăng gần hai lần

Do có đặc điểm không đòi hỏi vốn lớn, lại thu hồi vốn nhanh và sử dụngnhiều lao động, là ngành hầu hết các nước đang phát triển tham gia nên mức độcạnh tranh càng cao Từ năm 1995 đến nay, với những lợi thế so sánh về laođộng, chi phí, hàng dệt may Việt Nam đã từng bước chiếm lĩnh thị trường quốc

Trang 4

tế, trong đó có ba thị trường lớn: thị trườngEU, thị trường Nhật Bản và thịtrường Mỹ Tuy nhiên sức cạnh tranh của phần lớn sản phẩm dệt may của ViệtNam còn yếu cả về chất lượng và giá cả Do vậy, nâng cao sức cạnh tranh củahàng dệt may Việt Nam trên thị trường quốc tế là cánh cửa duy nhất, là vấn đềsống còn đảm bảo thành công cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam.

Nhận thấy tầm quan trọng của cạnh tranh và nâng cao sức cạnh tranh chocác doanh nghiệp dệt may Việt Nam, nhóm nghiên cứu khoa học của em đã

chọn đề tài “Nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam trên thị trường quốc tế ”

Đề tài của nhóm em được chia làm 3 phần:

Phần mở đầu

Chương I: Lí luận về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh

Chương II: Thực trạng về khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Namtrên thị trường quốc tế

Chương III: Kiến nghị nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng dệtmay Việt Nam trên thị trường quốc tế

Phần kết luận

Để hoàn thành đề tài này, nhóm em xin chân thành cảm ơn trung tâm thưviện trường Đại học kinh tế quốc dân đã tạo điều kiện giúp đỡ nhóm trong việcnghiên cứu và thu thập tài liệu Đặc biệt, nhóm em xin chân thành cảm ơn côgiáo Nguyễn Thị Hồng Thắm đã giúp nhóm tiếp cận và hoàn thành đề tài nàyđúng thời gian quy định

Trang 5

hệ xã hội.

Khái niệm cạnh tranh được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnhvực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, thể thao; thườngxuyên được nhắc đến trong sách báo chuyên môn, diễn đàn kinh tế cũng như cácphương tiện thông tin đại chúng và được sự quan tâm của nhiều đối tượng, từnhiều góc độ khác nhau Theo các cách tiếp cận, chúng ta có hai khái niệm sau:

- Tiếp cận ở góc độ đơn giản, mang tính tổng quát: Cạnh tranh là hànhđộng ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mụcđích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh,các phần thưởng hay những thứ khác

- Trong kinh tế chính trị học: Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữanhững chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiệnthuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu đượcnhiều lợi ích nhất cho mình Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những người sản xuấtvới người tiêu dùng (người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn muarẻ); giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn; giữa những ngườisản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ

Trang 6

Ngoài ra chúng ta cũng thường gặp một số quan điểm về cạnh tranh củacác tổ chức lớn.

Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp của Tổng thống Mỹ sử dụng định nghĩacạnh tranh đối với một quốc gia như sau: “Cạnh tranh đối với một quốc gia làmức độ mà ở đó dưới các điều kiện thị trường tự do và công bằng, có thể sảnxuất các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường quốc,đồng thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của nhân dân nước đó” Báo cáo về cạnh tranh toàn cầu định nghĩa đối với một quốc gia: “Cạnhtranh là khả năng cạnh tranh của một nước đạt được những thành quả nhanh

và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỉ lệ tăng trưởng kinh tế caođược xác định bằng sự thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên đầungười theo thời gian”

Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức Hợp tác và pháttriển kinh tế (OECD) đã chọn định nghĩa về cạnh tranh, cố gắng kết hợp cácdoanh nghiệp, ngành và quốc gia như sau: “ Khả năng của các doanh nghiệp,ngành, quốc gia, vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điềukiện cạnh tranh quốc tế”

Định nghĩa trên phù hợp vì nó phản ánh khả năng cạnh tranh quốc gia nằmtrong mối liên hệ trực tiếp với hoạt động cạnh tranh của các doanh nghiệp và lợithế cạnh tranh trở thành một nhân tố quan trọng trong hoạt động kinh tế

2 Khả năng cạnh tranh

Thuật ngữ “Khả năng cạnh tranh” được sử dụng rộng rãi trong các phươngtiện thông tin đại chúng, trong sách báo chuyên môn, trong giao tiếp hàng ngàycủa các chuyên gia kinh tế, các nhà kinh doanh… Nhưng cho đến nay vẫn chưa

có một sự nhất trí cao trong các học giả và giới chuyên môn về khái niệm khảnăng cạnh tranh ở các cấp quốc gia lẫn cấp ngành, công ty, xí nghiệp Lý do cơbản là ở có nhiều cách hiểu khác nhau về khả năng cạnh tranh

Trang 7

Đối với một số người, khả năng cạnh tranh chỉ có ý nghĩa rất hẹp, đượcthực hiện qua các chỉ số về tỷ giá thực và trong mối quan hệ thương mại Trongkhi đó, đối với những người khác, khái niệm khả năng cạnh tranh lại bao gồmkhả năng sản xuất hàng hoá và dịch vụ đủ sức đáp ứng đòi hỏi của cạnh tranhquốc tế và yêu cầu đảm bảo mức sống cao cho các công dân trong nước.

Trong cuốn sách nổi tiếng “ Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia”, M.Porter

đã cho rằng chỉ có năng suất là chỉ số có ý nghiã khi nói về khả năng cạnh tranhquốc gia

Còn Krugman (1994) thì lại cho rằng : “Khái niệm về khả năng cạnh tranhchỉ phù hợp với cấp độ công ty, đơn giản là vì nếu một công ty nào đó không đủkhả năng bù đắp chi phí của mình thì chắc chắn phải từ bỏ kinh doanh hoặc phásản”

3 Vai trò của cạnh tranh

Cạnh tranh có vai trò vô cùng quan trọng không chỉ với doanh nghiệp màđối với cả người tiêu dùng và nền kinh tế

- Đối với doanh nghiệp: Cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển củamỗi doanh nghiệp do khả năng cạnh tranh tác động đến tiêu thụ mà kết quả tiêuthụ sản phẩm là khâu quyết định trong việc doanh nghiệp tiếp tục sản xuất haydừng lại Cạnh tranh là động lực cho sự phát trển của doanh nghiệp, thúc đẩydoanh nghiệp tìm ra những giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh củamình, cạnh tranh quyết định vị trí của doanh nghiệp trên thị trường thông qua thịphần mà doanh nghiệp đang nắm giữ

- Đối với người tiêu dùng: Nhờ có cạnh tranh giữa các doanh nghiệp màngười tiêu dùng có cơ hội nhận được nhiều sản phẩm hơn, chất lượng tốt hơn vàgiá cả hợp lý hơn

- Đối với nền kinh tế: Cạnh tranh là động lực phát triển của các doanhnghiệp thuộc các thành phần kinh tế Cạnh tranh là biều hiện quan trọng để thúc

Trang 8

đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển của khoa họccông nghệ Cạnh tranh là điều kiện giáo dục tính năng động của doanh nghiệpbởi cạnh tranh góp phần gợi mở nhu cầu mới của xã hội thông qua các sản phẩmmới điều này chứng tỏ chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao Tuynhiên cạnh tranh cũng dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo, có thể dẫn đến độcquyền trong kinh doanh.

II - Phân loại khả năng cạnh tranh

Khả năng cạnh tranh của nền kinh tế bao gồm khái niệm cạnh tranh quốcgia, khái niệm cạnh tranh doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của hàng hoádịch vụ Trong đó, khả năng cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ là nhiệm vụtrọng tâm và cơ bản để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa và chủ động hội nhập nền kinh tế quốc tế của nước ta

1 Khả năng cạnh tranh quốc gia

Đây là một khái niệm phức hợp bao gồm các yếu tố ở tầm vĩ mô đồng thờicũng bao gồm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong cả nước Khảnăng cạnh tranh được định nghĩa là khả năng của một nền kinh tế đạt được tăngtrưởng bền vững, thu hút đựơc đầu tư đảm bảo ổn định kinh tế xã hội, nâng caođời sống người dân

2 Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp

Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và

mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranhtrong nước và quốc tế

Một doanh nghiệp có thể kinh doanh một hay nhiều sản phẩm và dịch vụ

Vì vậy mà có phân biệt khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp với khả năngcạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ

Trang 9

3 Khả năng cạnh tranh của sản phẩm

Khả năng cạnh tranh của sản phẩm được đo bằng thị phần của sản phẩm đótrên thị trường

Giữa ba cấp độ khả năng cạnh tranh có mối quan hệ qua lại mật thiết vớinhau, tạo điều kiện cho nhau, chế định và phụ thuộc lẫn nhau Một nền kinh tế

có khả năng cạnh tranh cao phải có nhiều doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh.Ngược lại để tạo điều kiện doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh, môi trườngkinh doanh của nền kinh tế phải thuận lợi, các chính sách kinh tế vĩ mô phải rõràng, có thể dự báo được nền kinh tế phải ổn định, bộ máy nhà nước phải trongsạch, hoạt động có hiệu quả, có tính chất chuyên nghiệp

Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được thể hiện qua hiệu quả kinhdoanh của doanh nghiệp được đo thông qua lợi nhuận, thị phần của doanhnghiệp thể hiện qua chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Là tế bào của nềnkinh tế, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp tạo cơ sở cho khả năng cạnhtranh quốc gia

Đồng thời khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cũng thể hiện qua khảnăng cạnh tranh của các sản phẩm mà doanh nghiệp đó kinh doanh Doanhnghiệp có thể kinh doanh một hay một số sản phẩm có khả năng cạnh tranh Khảnăng cạnh tranh của sản phẩm phụ thuộc vào chính sách quốc gia, vào năng lực

và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Trang 10

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

I – Tình hình xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam trong những năm qua

Ngành may Việt Nam thực sự khởi sắc từ thập niên 90 và có tốc độ tăngtrưởng khá nhanh Số liệu về tốc độ tăng xuất khẩu của hàng dệt may Việt Namtrên ba thị trường chủ yếu : Mỹ, EU và Nhật Bản đã phản ánh những cố gắnglớn của ngành này hơn mười năm qua

Bảng: Kim ngạch xuất khẩu (KNXK) hàng dệt may Việt Nam

KNXK sang Mỹ

KNXKk sang thị trường khác

Trang 11

Đơn vị: Triệu USD

4500

2710 2000

1892

215 8500

Xuất khẩu sang Canada tăng 18,21% và KNXK sang Nga tăng 54% so vớitháng trước Đặc biệt, KNXK hàng dệt may của nước ta sang Trung Quốc tăngđột biến, hơn 108% so với tháng 5 và tăng tới 147% so với cùng kỳ năm ngoái,đạt 9,2 triệu USD Đây là tháng có mức tăng cao nhất và đạt KNXK cao nhấttrong nhiều năm qua

KNXK hàng dệt may của nước ta sang Hong Kong, Campuchia… cũngtăng cao Tuy nhiên, xuất khẩu sang các thị trường Hàn Quốc, Úc… giảm

Trang 12

Tiến độ xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam đã có những dấu hiệu tăngchậm lại Tốc độ tăng trưởng chung chỉ tăng 17,58% - thấp hơn nhiều so vớimức kế hoạch tăng trung bình là 23% Nguyên nhân chính do KNXK sang thịtrường Mỹ tăng chậm lại Trong tháng 6, KNXK hàng dệt may của Việt Namsang thị trường Mỹ chỉ tăng 10,91% - thấp hơn nhiều so với mức tăng chung17%, đạt 471 triệu USD

Tính chung, 6 tháng đầu năm 2008, KNXK hàng dệt may của nước ta đạt4,162 tỷ USD, tăng 19,30% so với nửa đầu năm 2007 Như vậy, ngành dệt mayViệt Nam mới hoàn thành được 44% kế hoạch xuất khẩu trong cả năm Vớinhững khó khăn chung của tình hình kinh tế thế giới cũng như những khó khănriêng của ngành, ngành dệt may Việt Nam vẫn đạt được kết quả như trong 6tháng đầu năm nay là khá thuận lợi KNXK hàng dệt may của nước ta sang cácthị trường trọng điểm đều tăng so với cùng kỳ năm ngoái Bên cạnh đó, nhiềudoanh nghiệp đã mở rộng thêm nhiều thị trường mới trong khu vực Đông Âu,Nam Mỹ và úc

Thị trường và KNXK hàng dệt may của Việt Nam nửa đầu năm 2008

Thị trường Tháng 6

So với T5/2008 (%)

So với T6/2007 (%)

6 tháng

So với 6T/2007 (%)

Tổng 865.639.61817,58 17,48 4.162.189.69119,30

Trang 13

(Tin thương mại)

Trong thời gian gần đây, Mỹ là thị trường xuất khẩu hàng dệt may lớn nhấtcủa Việt Nam, chiếm tới 57% thị phần, trong khi cả một thị trường rộng lớn như

EU chỉ là 18% Đặc biệt, năm 2009, ngành dệt may Việt Nam đặt mục tiêuKNXK khoảng 9.2 tỷ USD, trong đó sẽ đạt trên 5tỷ USD ở thị trường Mỹ Con

số này vào năm 2010 là khoảng 10.5 tỷ

Trang 14

Tuy nhiên, hàng dệt may Việt Nam khi xâm nhập thị trường nước ngoài đãgặp phải không ít trở ngại mà tiêu biểu nhất là rào cản kỹ thuật

Ngành dệt may Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều rào cản kỹ thuậtmới trong việc bảo vệ môi trường cho người tiêu dùng Mỹ, có hiệu lực từ ngày1/1/2010 Theo đạo luật này, các lô hàng XK vào Mỹ phải có giấy kiểm nghiệmcủa bên thứ 3 xác nhận sản phẩm sử dụng nguyên liệu đảm bảo cho sức khỏengười tiêu dùng Nhà sản xuất sẽ phải chịu trách nhiệm về bất kỳ thiệt hại nàogây ra cho người tiêu dùng Do vậy, Việt Nam phải có 1 phòng thí nghiệm hiệnđại đủ tiêu chuẩn để được phía Mỹ công nhận và cấp giấy chứng nhận Bên cạnh

đó chúng ta cũng phải tiếp tục tăng tỷ lệ sản xuất nguyên vật liệu trong nước,giảm nhập siêu

Ngành dệt may Việt Nam cũng được một số doanh nghiệp Mỹ cảnh báorằng nếu không sớm nâng năng lực làm hàng chất lượng cao, sẽ khó cạnh tranhđược với các đối tác khác đến từ các nước Châu Á Áp lực này khiến ngành dệtmay phải xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn sản phẩm dệt may phù hợp và hàihòa với các tiêu chuẩn quốc tế Đồng thời đầu tư nâng cấp các trung tâm giámđịnh, kiểm tra chất lượng sản phẩm dệt may để hỗ trợ cho các doanh nghiệptrong quản lý chất lượng và khắc phục các rào cản kỹ thuật

Không chỉ có Mỹ đưa ra những rào cản kỹ thuật đối với ngành dệt mayViệt Nam, mà hầu hết các nước có hàng Việt Nam nhập khẩu đều đưa ra nhữngrào cản kỹ thuật, khiến dệt may Việt Nam phải đối đầu với nhiều thách thức Ví

dụ khi xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản (đứng sau thị trường Mỹ và EU), ràocản kỹ thuật là việc yêu cầu các sản phẩm phải có chứng chỉ sạch và thân thiệnvới môi trường

Với vị trí thứ hai, sau Hoa Kỳ, EU luôn được coi là thị trường tiềm năng vàtruyền thống của hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam Trong những năm gần đâyxuất khẩu hàng dệt may vào thị trường này đều duy trì được mức tăng trưởngkhá

Trang 15

Trong cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam sang EU, hàng dệt may có kimngạch đứng thứ hai sau giày dép Số liệu thồng kê cho thấy, nếu năm 2003KNXK hàng dệt may của Việt Nam sang EU chỉ đạt 537,1 triệu USD, đến năm

2004 tăng lên mức 760 triệu USD, năm 2005 tiếp tục tăng lên mức 882,8 triệuUSD, năm 2006 vượt qua ngưỡng 1 tỉ USD (đạt 1,245 tỷ USD), năm 2007 đạt1,432 tỷ USD, tăng 15% so với năm 2006, tăng 62,2% so với năm 2005, gấp gần

3 lần so với năm 2003

Theo các chuyên gia thương mại, đặc điểm của khu vực thị trường EU lànhiều thị trường “ngách” có mức sống và nhu cầu hàng dệt may rất đa dạng từhàng có phẩm cấp thấp đến hàng có chất lượng cao phù hợp năng lực sản xuấtnhiều thành phần của Việt Nam

Tuy nhiên, việc mất giá của đồng đôla Mỹ so với đồng Euro là một nhân tốảnh hưởng lớn đến xuất khẩu sang thị trường này Năm 2008, EU cũng sẽ bãi bỏhạn ngạch dệt may cho Trung Quốc và sẽ áp dụng một hệ thống giám sát “kiểmtra kép” để theo dõi việc cấp phép xuất khẩu hàng dệt may tại Trung Quốc vàviệc nhập khẩu mặt hàng này vào EU So với trước đây, rõ ràng từ năm 2008xuất khẩu của Trung Quốc sang EU sẽ thuận lợi hơn Và như thế, các nước xuấtkhẩu hàng dệt may sẽ không dễ dàng nếu muốn tăng thị phần tại EU, bởi hàngdệt may của các nước( trong đó có Việt Nam) sẽ phải cạnh tranh gay gắt hơn vớihàng dệt may Trung Quốc vốn có năng lực cạnh tranh lớn do chủ động đượcnguyên phụ liệu và có khả năng đáp ứng nhiều loại phẩm cấp hàng hoá

Mặc dù vậy, Bộ Công Thương Việt Nam vẫn tự tin cho rằng, các doanhnghiệp dệt may Việt Nam vẫn có cơ hội không chỉ giữ vững thị trường mà còn

có mức tăng trưởng do duy trì tốt thị trường này trong những năm qua

Theo kế hoạch của Bộ Công Thương Việt Nam, xuất khẩu hàng dệt trongnăm 2008 là 9,5 tỷ USD, tăng 23,4% so với năm 2007 Trong đó dự kiến các thịtrường chính như sau: Thị trường Hoa Kỳ ước đạt 5,3-5,5 tỷ USD, thị trường

EU đạt khoảng 1,6-1,8 tỷ USD, thị trường Nhật đạt khoảng 800 triệu USD

Trang 16

Bộ Công Thương Việt Nam cho biết, Hoa Kỳ và EU đang có đề xuất trongkhuôn khổ WTO về dự thảo thoả thuận quy định về nhãn mác đối với hàng dệtmay, giày dép và hàng du lịch Theo đó, hàng dệt may xuất khẩu cần phải cónhãn mác nêu rõ xuất xứ hàng hoá, thành phần vải và hướng dẫn sử dụng Với

đề xuất này, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần nghiên cứu kỹ và chuẩn bịcho việc nhận đơn hàng và sản xuất của mình cho phù hợp

Trong năm 2008, xuất khẩu hàng dệt may của nước ta sang hai thị trườngtruyền thống Mỹ và EU đạt được mức tăng trưởng thấp thì xuất khẩu mặt hàngnày của nước ta sang các thị trường Đông Bắc lại tăng trưởng rất khả quan.Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, trong năm 2008, xuất khẩudệt may của Việt Nam sang Nhật Bản đạt 820 triệu USD, tăng 16,38% so vớinăm 2007, cao hơn nhiều so với mức tăng 12% của năm 2006

Nhìn lại diễn biến tình hình xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thịtrường Nhật Bản trong năm 2008 ta thấy sự nỗ lực bứt phá mạnh của các doanhnghiệp trong việc đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường này đặc biệt từ tháng 7đến cuối năm Vào tháng 8/2008, KNXK hàng dệt may sang Nhật Bản lần đầutiên tăng vọt và vượt xa mức đỉnh 78 triệu vào năm 2007, đạt trên 113 triệuUSD Và đến tháng 12, kim ngạch đạt trên 79 triệu USD, tăng 20 triệu so vớicùng kỳ năm 2007 Kết quả này có thể coi là tiền đề để tạo đà cho hoạt độngxuất khẩu hàng dệt may của nước ta sang thị trường này sẽ có nhiều đột phátrong năm 2009, trong bối cảnh hàng dệt may của nước ta sang các thị trườnglớn đang gặp khó khăn

Năm 2009, hàng dệt may của nước ta sang thị trường Nhật Bản không phảichịu thuế nhập khẩu, điều này sẽ mang lại nhiều thuận lợi cho hàng dệt may xuấtkhẩu của nước ta Dự báo, năm 2009, KNXK mặt hàng này của Việt Nam sangNhật Bản tăng 20% so với năm 2009

Trang 17

Tháng 12/2009, KNXK hàng dệt may của Việt Nam là 882 triệu USD, tăng20,8% so với tháng trước, nâng tổng kim ngạch nhóm hàng này năm 2009 lên9,06 tỷ USD, giảm 0,6% so với năm 2008.

Năm 2009, Hoa kỳ, EU và Nhật Bản tiếp tục là 3 đối tác lớn nhất của hàngdệt may Việt Nam, chiếm tỷ trọng xuất khẩu lần lượt là 55,1%; 18,2% và 10,5%trong tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước Tuy nhiên so với năm

2008, chỉ có xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản là có tốc độ tăng trưởng dương(tăng 16,3%), đạt kim ngạch 954 triệu USD còn thị trường Hoa Kỳ đạt 4,99 tỷUSD, giảm 2,2% và EU đạt 1,65 tỷ USD, giảm 3,1%

Trong tháng 12/2009 trị giá nhập khẩu nguyên phụ liệu là 730 triệu USD,tăng 6,6% so với tháng 11/2009 Trong đó trị giá nhập khẩu vải là gần 400 triệuUSD, tăng 4,5%; nguyên phụ liệu dệt may da giày 191 triệu USD, tăng 0,6%; xơsợi dệt là gần 94 triệu USD, tăng 14,8% và bông 44,5 triệu USD, tăng 20,4%.Hết tháng 12/2009, nhập khẩu nguyên phụ liệu ngành dệt may da giày cókim ngạch là 7,36 tỷ USD, giảm 8,5% so với năm 2008 Trong đó, nhập khẩucủa khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 4,6 tỷ USD, giảm 6,2% sovới năm 2008

Các thị trường chính cung cấp nhóm hàng này cho Việt Nam trong nămqua là: Trung Quốc: 2,09 tỷ USD, Đài Loan: 1,47 tỷ USD, Hàn Quốc: 1,44 tỷUSD, Nhật Bản: 466 triệu USD, Hồng Kông: 415 triệu USD

Tổng KNXK tháng 1 năm 2010 đạt 5,01 tỷ USD, trong đó khu vực có vốnđầu tư nước ngoài đạt 2,39 tỷ USD, giảm 6,4% so với tháng 12/2009 và chiếm47,7% tổng KNXK hàng hoá của cả nước

Xuất khẩu hàng dệt may trong tháng đạt 810 triệu USD, giảm 8,2% so với

tháng 12/2009 Hàng dệt may là mặt hàng dẫn đầu về KNXK và chiếm gần16,2% tổng KNXK của cả nước trong tháng 1/2010

Trang 18

Trong tháng, Hoa Kỳ và EU vẫn là hai thị trường chính nhập khẩu hàng dệtmay của Việt Nam, trong đó Hoa Kỳ đạt kim ngạch là 468 triệu USD và EU đạtkim ngạch là 136 triệu USD.

Hàng dệt may Việt Nam hiện đang xuất khẩu vào hai khu vực thị trường :thị trường có hạn ngạch và thị trường phi hạn ngạch Trong các thị trường xuấtkhẩu đó thì ba thị trường quan trọng nhất là: thị trường Mỹ, thị trường EU, thịtrường Nhật Bản với tình hình xuất khẩu cụ thể như sau:

1 Xuất khẩu sang thị trường Mỹ.

Trong 6 tháng đầu năm 2008, KNXK hàng dệt may của nước ta sang Mỹđạt 2,394 tỷ USD, tăng 17,24%, thấp hơn so với tốc độ tăng xuất khẩu sang cácthị trường như EU, Nga, Canada… và đặc biệt tăng thấp hơn nhiều so với tốc độtăng 32% của năm 2007

Nguyên nhân khiến xuất khẩu hàng dệt may của ta sang Mỹ tăng chậm là

do kinh tế nước này suy giảm mạnh tốc độ tăng trưởng và có nguy cơ rơi vàosuy thoái Chính những khó khăn của nền kinh tế đã khiến nhập khẩu hàng hoácủa Mỹ 6 tháng đầu năm nay giảm, nhất là ở mặt hàng tiêu dùng Như đã thống

kê, KNXK hàng dệt may của Mỹ 5 tháng đầu năm nay giảm 4% so với cùng kỳ.Nhưng nhập khẩu từ Việt Nam trong thời gian này vẫn tăng 25,51%

Như vậy, mặc dù xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ 6 tháng đầu năm đạtthấp so với kế hoạch nhưng trong bối cảnh suy giảm của kinh tế Mỹ thì KNXKhàng dệt may những tháng đầu năm 2008 của nước ta sang thị trường này tăngtới 17,24% vẫn là một tín hiệu tốt Đây sẽ là cơ sở để xuất khẩu hàng dệt maycủa nước ta sang thị trường Mỹ sẽ tiếp tục duy trì và sẽ bứt phá mạnh khi kinh tế

Mỹ thoát ra khỏi những khó khăn hiện nay và tăng trưởng cao trở lại

Suy thoái kinh tế đã khiến cho hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của ViệtNam bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đặc biệt là xuất khẩu mặt hàng này sang thịtrường Mỹ Trong quý I/2009, KNXK hàng dệt may của cả nước sang thị trường

Trang 19

Mỹ giảm 4,46% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi đó cùng kỳ năm 2008 và

so với 2007 chỉ số này tăng 18,86%

Riêng tháng 3 năm 2009, KNXK mặt hàng này của Việt Nam sang Mỹ đãtăng 18% so với tháng 2/2009, nhưng vẫn giảm nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái,đạt 361 triệu USD

Các mặt hàng có KNXK chính đều giảm là áo thun, quần short, áo sơ mi,

áo jacket, quần áo trẻ em, quần áo bơi, quần áo vest, quần áo thể thao, găng tay,

áo len, khăn….Cụ thể:

+ KNXK áo thun giảm nhẹ 3,2% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 327 triệuUSD Bên cạnh đó, xuất khẩu quần short giảm mạnh trên 25,2% so với cùng kỳnăm 2008

+ KNXK mặt hàng áo sơ mi và áo jacket cùng xu hướng giảm lần lượt10,6%; 11,5% so với cùng kỳ năm 2008, đạt lần lượt 52,3 triệu USD và 52 triệuUSD

+ KNXK các mặt hàng khác như quần áo, đồ lót, váy, áo khoác, quần áongủ…vẫn duy trì mức tăng trưởng trong quý I như: quần tăng 3,5%, đạt 180,4triệu USD; váy tăng 4,8%, đạt 87,1 triệu USD; đồ lót tăng 161,9% đạt 24,8 triệuUSD; áo khoác tăng 23,5%,d dạt 23,1 triệu USD; quần áo ngủ tăng 3,14%, đạt15,4 triệu USD…

Mặc dù KNXK mặt hàng khác có mức tăng trưởng khả quan so với cùng

kỳ năm 2008 nhưng kim ngạch thấp Cụ thể:

+ KNXK quần Jean tăng 1269,3%, đạt 6,28 triệu USD

+ KNXK sợi tăng 7.041,1% , đạt 4,0 triệu USD

+ KNXK khăn bông tăng 2580%, đạt 1,5 triệu USD

Tham khảo một số chủng loại hàng dệt may xuất khẩu sang thị trường Mỹtrong quí I/2009:

Trang 20

Chủng loại Lượng

(cái)

Trị giá(USD)

Đơn giá(USD/cái)

Ngày đăng: 04/09/2012, 14:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình kinh tế và quản lý công nghiệp, GS.PTS Nguyễn Đình Phan Nhà xuất bản giáo dục 1999 Khác
2. Việt Nam với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Nhà xuất bản thống kê 2003 Khác
3. Tổng quan về cạnh tranh công nghiệp Việt Nam - UNIDO & DSI Nhà xuất bản chính trị quốc gia 2003 Khác
4. Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia- CIEM& UNDP Nhà xuất bản giao thông vận tải 2003Báo, tạp chí Khác
5. Xuất khẩu hàng dệt may sẽ phải cạnh tranh quyết liệt – Thuỳ Dương T/C Công nghiệp & Thương Mại Việt Nam Khác
6. Thử tìm hiểu khả năng cạnh tranh của ngành Công nghiệp dệt may Việt Nam – Dương Đình GiámT/C Nghiên cứu – Trao đổi số 4/2003 Khác
7. Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam trong hội nhập kinh quốc tế - Vũ Thị Nguyệt NgaT/C Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương số 1(42), 2/2003 Khác
8. Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt trên thị trường quốc tế - Đan Tuấn AnhT/C Kinh tế và Phát triển số 111/2003 Khác
9. Thời cơ và thách thức với ngành may mặc Việt Nam T/C Dệt may và thời trang Việt Nam số 10/2003 Khác
10. Vinatex.com.vn 11. Google.com.vn 12. Vietnamnet.vn 13. tcptkt.ueh.edu.vn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng: Kim ngạch xuất khẩu (KNXK) hàng dệt may Việt Nam qua một số năm  - Nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam trên thị trường quốc tế .DOC
ng Kim ngạch xuất khẩu (KNXK) hàng dệt may Việt Nam qua một số năm (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w