1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Câu hỏi ôn tập môn Lý luận hành chính nhà nước

100 13,7K 46

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Câu hỏi ôn tập môn lý luận hành chính nhà nước
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Lý luận hành chính nhà nước
Thể loại Tài liệu ôn tập
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 192,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu hỏi ôn tập môn Lý luận hành chính nhà nước

Trang 1

Câu hỏi ôn tập môn lý luận HCNN

MỤC LỤC Câu 1: quản lý nhà nước là gì ? Làm rõ những điểm chung và khác biệt giữa quản lý Nhà nước với

các dạng quản lý xã hội khác để chứng tỏ rằng “quản lý Nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc

biệt” 2

Câu 2: khái niệm, bản chất, vai trò, đặc điểm của hành chính nhà nước 3

Câu 3: : Phân tích sự khác biệt giữa hành chính công và hành chính tư (có ví dục minh hoạ) 9

Câu 4: Hành chính công có mối tương quan với các ngành khoa học như thế nào? (Làm rõ tính khoa học liên ngành của hành chính công) 11

Câu 5 Nguyên tắc hoạt động là những tư tưởng chỉ đạo nền tảng cơ bản của một tổ chức, trong hoạt động quản lý các nhà quản lý 13

Câu: 6 trình bày các lý thuyết nghiên cứu hành chính nhà nước 29

Câu 7 Trình bày các mô hình hcnn tiêu biểu 37

Câu 8: So sánh mô hình hành chính công truyền thống (Mô hình bộ máy Thư lại) với mô hình mới của quản lý công 43

Câu 9: Các yếu tố cấu thành nền hcnn và mqh giữa các yếu tố 45

Câu 10 Chức năng hànhchính Nhà nước là gì? Phân loại chức năng HCNN và ý nghĩa của việc nghiên cứu chức năng HCNN 54

câu 11: trình bày nội dung của chức năng hành chính 56

Câu: 12 Trình bày hình thức hoạt động hcnn 63

Câu 13: trình bày các phương pháp quản lý hcnn 65

Câu 14: khái niệm, tính chất, phân loại quyết định hành chính nhà nước 67

Câu 15 trình bày các yêu vầu về nội dung và hình thức, thủ tục đối với quyết định hcnn 70

Câu 16: những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xây dựng quyết định quản lý hành chính nhà nước. .72

Câu 17: trình bày quy trình xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện quyết định quản lý hành chính nhà nước 73

Câu 18: các hình thức xử lý đối với các quyết định quản lý hcnn bất hợp pháp và bất hợp lý 78

Câu 19: Kiểm soát đối với hành chính Nhà nước là gì? Sự cần thiết của kiểm soát đối với hành chính Nhà nước ( vai trò) 79

câu 20 : các hình thức kiểm soát hcnn 81

Trang 2

Câu 21: trình bày công tác kiểm soát hcnn của quốc hội, HĐND, Đảng, tổ chức chính trị - xã hội,

cơ quan tư pháp, kiểm toán nhà nước, công dân và công luận 81

Câu 22: trình bày hoạt động kiểm soát bên trong ( nội bộ ) hành chính nhà nước 87

Câu 23: năng lực hành chính là gì ? các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực hành chính ? 89

Câu 24: hiệu lực hành chính nhà nước là gì ? hiệu lực hcnn phụ thuộc vào các yếu tố nào ? 90

Câu 25: hiệu quả hcnn là gì Hiệu quả hcnn được thể hiện như thế nào ? 90

Câu 26: các tiêu chí đánh giá hiệu lực và hiệu quả của hoạt động hcnn, 90

Câu 27: tại sao phải nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động hcnn ? 92

Câu 28: các giải pháp nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động hcnn là gì ? 94

Câu 29: nội dung cải cách hcnn trong thời gian tới 96

Câu 1: quản lý nhà nước là gì ? Làm rõ những điểm chung và khác biệt giữa quản lý Nhà nước với các dạng quản lý xã hội khác để chứng tỏ rằng “quản lý Nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt”

Quản lý là một hoạt động phức tạp và có nhiều chức năng Quản lý ở góc độ quản lý học là sự tác động có tổ chức có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm hướng hành vi của đối tượng đạt tới mục tiêu đã định trước Quản lý báo gồm 3 dạng: quản lý giới vô sinh, quản

lý giới sinh vật, quản lý tổ chức con người (quản lý xã hội)

Quản lý xã hội bao gồm các thực thể có tổ chức, có lý trí kết thành hệ thống chặt chẽ Đây là dạng quản lý phức tạp nhất nhưng cũng là hoàn thiện nhất vì đối tượng quản lý là con người có lý trí và mối quan hệ nảy sinh liên tục Xã hội càng phát triển thì mối quan hệ giữa họ càng phong phú, đa dạng, phức tạp cả bề rộng lẫn chiều sâu, cả hữu hình lẫn vô hinh

Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước, đó là quản lý toàn xã hội Nội hmaf của quản lý nhà nước thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, lịch sử và đặc điểm văn hóa, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia ở những thời điểm nhất định Xét về mặt chức năng, nhà nước có 3 chức năng là lập pháp, hành pháp và tư pháp

Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt mang tính quyền lực nhà nước và sử

dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự

ổn định và phát triển của xã hội

Trang 3

Trong hệ thống xã hội, có nhiều chủ thể tham gia quản lý xã hội như: tổ chức chính trị, totchức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, các đoàn thể nhân dân, hiệp hội,… Quản lý Nhà nước làdạng quản lý xã hội nên nó có đặc trưng của quản lý xã hội

- Quản lý Nhà nước cũng như quản lý xã hội báo giờ cũng bao hàm chủ thể và đối tượng Chủthể quản lý đềulà các thực tế có tổ chức có lý trí và đối tượng quản lý là con người với đủ bản chất

- Quản lý Nhà nước phải có mục tiêu nhất định không nằm ngoài các yếu tố cấu thành quátrình quản lý xã hội

Quản lý Nhà nước mang những đặc điểm chung với của quản lý xã hội nhưng quản lý nhànước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt Tính chất đặc biệt ấy thể hiện ở sự khác biệt giữa quản

lý Nhà nước với các hoạt động quản lý xã hội khác

- Quản lý Nhà nước, chủ thể quản lý là các cơ quan trong bộ máy Nhà nước: Lập pháp, Hànhpháp, Tư pháp Còn quản lý xã hội chủ thể của nó là các thực thể có lý trí và có tổ chức đảng, đoànthể, các tổ chức khác v.v

- Đối tượng quản lý của quản lý Nhà nước bao gồm toàn bộ nhân dân, mọi cá nhân sống vàlàm việc trên lãnh thổ quốc gia và phạm vi của nó mang tính toàn diện trên mọi lĩnh vực Còn đốitượng quản lý của quản lý xã hội nó bao gồm các cá nhân, các nhóm trong phạm vi một tổ chức

- Quản lý nhà nước là quản lý toàn diện trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị,kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh,…

- Quản lý Nhà nước mang tính quyền lực Nhà nước và sử dụng pháp luật làm công cụ chủyếu để duy trì trật tự xã hội và thúc đẩy xã hội phát triển Quản lý xã hội mang tính quyền lực xãhội sử dụng các quy phạm quychế nội bộ để điều chỉnh các quan hệ

- Mục tiêu của quản lý nhà nước là phục vụ nhâ dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xãhội

Trang 4

Câu 2: khái niệm, bản chất, vai trò, đặc điểm của hành chính nhà nước.

1 Khái niệm.

Từ điển Oxford định nghĩa hành chính là: “một hành động thi hành”, “quản lý các công việc”hoặc “hướng dẫn giám sát sự thực hiện, sử dụng hoặc điều khiển” Theo gốc Latinh, ban đầu hànhchính bắt nguồn từ minor, nghĩa là: “phục vụ”, sau này là ministrate, nghĩa là: “điều hành”

Từ những định nghĩa ở trên có thể thấy rằng về cơ bản hành chính có những đặc tính sau:thứ nhất, hành chính phục vụ người khác thong qua việc chấp hành các quyết định do người đóban hành và chịu sự kiểm soát của họ Thứ hai, hành chính là điều hành - khai thác, huy động và

sử dụng các quyền lực (cơ sở vật chất, tài nguyên, nhân lực, tài chính ) theo quy định (luật hoặcđiều lệ) nhằm đạt được mục tiêu của hệ thống (tổ chức hoặc nhà nước)

Tóm lại, có thể hiểu: hành chính là hoạt động chấp hành và điều hành trong quản lý một hệ thống theo những quy định định trước nhằm đạt mục tiêu của hệ thống.

Hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp của nhà nước, đó là hoạt động

chấp hành và điều hành của hệ thống hành chính nhà nước trong quản lý xã hội theo khuôn khổpháp luật nhà nước nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội

Hành chính nhà nước là một bộ phận của quản lý nhà nước, nói cách khác hành chính nhànước có phạm vi hẹp hơn so với quản lý nhà nước ở hai điểm cơ bản:

Thứ nhất;hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp của nhà nước tức là

Trang 5

- hành chính nhà nước thực thi chức năng lập quy – tức ban hành các văn bản quy phạm phápluật cụ thể và hướng dẫn thi hành luật.

2.3 Hành chính nhà nước là hoạt động quản lý

- Hành chính nhà nước là một bộ phận của quản lý nhà nước , mang bản chất của quản lý nhà

nước Nó tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước

- hành chính nhà nước là chức năng hành pháp của nhà nước – chức năng thực thi pháp luật,chính sách Nó phối hợp với các tổ chức xã hội, các cá nhân nhằm đạt đến mục tiêu chung nhất

- Ngoài ra, hành chính nhà nước vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật, và mang tính trật

tự thứ bậc của quản lý nói chung

+ Hành chính công là khoa học nó dựa trên các tiêu chí khoa học có người nghiên cứu nó, có các công trình nghiên cứu, có cơ sở để nghiên cứu nó ở đây đối tượng nghiên cứu của khoa học hành chính là rất rộng lớn, nó bao gồm các quy luật tổ chức và vận hành bộ máy hành pháp, nó nghiên cứu các phương pháp quản lý trong hành chính Nhà nước, nghiên cứu phong cách lãnh đạo, tâm

lý công chức, đạo đức công chức, hay nghiên cứu về tổ chức điều hành công sở, kỹ thuật xây dựng

và ban hành văn bản và đặc biệt là nghiên cứu chuyên sâu của việc quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá, môi trường

+ Hành chính công là nghệ thuật: Đây là nghệ thuật làm việc với con người giao tiếp, tìm hiểu tâm

lý con người và nghệ thuật này được ứng dụng vào bất cứ lĩnh vực nào để công việc được thực hiện một cách hoàn hảo, khéo léo

+ Hành chính công là khoa học kết hợp với nghệ thuật: Nghĩa là Hành chính công tác động đến hoạt động của con người mang tính 2 mặt, một mặt là nghệ thuật, nghệ thuật của việc sử dụng kỹ năng, các mối quan hệ; mặt khác đòi hỏi phải vận dụng nhiều quy luật Một mặt nó là khoa học vì nếu thiếu cơ sở khoa học thì Hành chính công không thể tồn tại

Thứ nhất, hành chính nhà nước thực hiện hóa các mục tiêu, ý tưởng của các nhà chính trị

-những người đại diện của nhân dân Vai trò này xuất phát từ chức năng chấp hành của hành chínhnhà nước Chủ thể hành chính nhà nước có trách nhiệm chấp hành quyết định của các cơ quan

Trang 6

chính trị nhằm đạt được các mục tiêu chính trị của quốc gia, phục vụ lợi ích của đất nước, củanhân dân.

Thứ hai, hành chính nhà nước điều hành các hoạt động kinh tế - xã hội nhằm đạt mục tiêu tới

mức tối đa và với hiệu quả cao nhất Vai trò này xuất phát từ chức năng cụ thể của điều hành hànhchính nhà nước là: định hướng (thông qua quy hoạch, kế hoạch), điều chỉnh các quan hệ xã hội(thông qua ban hành văn bản lập quy); hướng dẫn và tổ chức thực hiện Hiến pháp, luật, chínhsách ; kiểm tra, thanh tra và xử lý những vi phạm pháp luật

Thứ ba, hành chính nhà nước duy trì và thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng Để thực

hiện tốt hai vai trò trên, hành chính luôn có trách nhiệm duy trì và tạo lập những điều kiện thuậnlợi cho sự phát triển của các yếu tố cấu thành xã hội: duy trì và phát triển các nguồn tài nguyên,kiến tạo các nguồn lực vật chất , sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính, phát triển nguồn lựccon người, khắc phục những thất bại của thị trường hoặc hậu quả do những sai sót của hành chínhnhà nước gây ra

Thứ tư, hành chính nhà nước đảm bảo cung cấp dịch vụ công cho xã hội Cùng với sự phát

triển của xã hội và quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội thì vai trò này càng quan trọng và mởrộng Vì suy cho cùng, hành chính nhà nước được thiết lập nhằm để phục vụ lợi ích của nhân dânvới tư cách là chủ thể của xã hội, là chủ thể của quyền lực nhà nước

4 Đặc điểm.

4.1 Tính lệ thuộc vào chính trị và hệ thống chính trị

Hành chính nhà nước là một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị, là công cụ để thựchiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp đối kháng và thực hiện ý chí của nhân dântrong xã hội dân chủ dưới sự lãnh đạo của đảng cầm quyền Vì vậy hành chính trước hết là phục

vụ chính trị, thực hiện những nhiệm vụ chính trị do cơ quan quyền lực Nhà nước quyết định Hànhchính nhà nước là trung tâm thực thi các quyết định của hệ thống quyền lực chính trị, hoạt độngcủa nó có ảnh hưởng lớn đến hiệu lực và hiệu quả của hệ thống chính trị

Ở nước ta, nền hành chính nhà nước mang bản chất của một Nhà nước “của nhân dân, donhân dân và vì nhân dân” dựa trên nền tảng của liên minh giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức doĐCSVN lãnh đạo hành chính nhà nước ở nước ta là yếu tố cấu thành hệ thống chính trị trong đóĐảng cộng sản là hạt nhân lãnh đạo, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị xã hội có vai trògiám sát và tham gia hoạt động của Nhà nước Trong hoạt động thực thi quyền lực Nhà nước, hànhchính nhà nước là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả hoạt động quản lý Nhà nước cả hệ thốngchính trị

Tuy nhiên, hành chính nhà nước cũng có tính độc lập tương đối nhất định, thể hiện ở tínhchuyên môn, kỹ thuật; cán bộ, công chức hành chính nhà nước vận dụng hệ thống tri thức khoahọc vào việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình như: quản trị học, khoa học quản trị nhân

sự, kinh tế học, luật học, chính trị học, …

4.2 Tính pháp quyền

Trang 7

Trong một xã hội dân chủ, để bảo vệ quyền tự do, dân chủ của người dân, cần phải xây dưngmột nhà nước pháp quyền hay còn họi là một nền pháp trị.

Trong nhà nước pháp quyền những hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước phải tuânthủ pháp luật Hệ thống pháp luật đòi hỏi mọi cơ quan Nhà nước, mọi tổ chức trong xã hội, mọicông chức và công dân phải tuân thủ mà chính bản thân của các cơ quanhành chính nhà nước cũngphải nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật Không có một cơ quan hành chính nhànước nào có thể hoạt động ngoài quy định của pháp luật Đảm bảo tính pháp quyền của nền hànhchính tức là bảo đảm được tính chính quy, hiện đại của một bộ máy hành chính có kỷ luật, kỷcương

Tính pháp quyền đòi hỏi các cơ quan hành chính, mọi công chức phải nắm vững quyềnlực, sử dụng đúng đắn quyền lực, đảm bảo đúng chức năng và thẩm quyền của mình khi thực thicông vụ Bên cạnh đó luôn quan tâm chú trọng đến việc nâng cao uy tín về chính trị, về phẩm chấtđạo đức và về năng lực trí tuệ Phải kết hợp chặt chẽ yếu tố quyền lực và uy tín mới có thể nângcao được hiệu lực và hiệu quả của một nền hành chính phục vụ dân

Nền hành chính cần có pháp quyền để bảo vệ quyền tự do, dân chủ của người dân Tính phápquyền của hcnn thể hiện ở việc các chủ thể quản lý hcnn phải năm vững thẩm quyền, chức năng,nhiệm vụ quyền hạn của mình trong thực thi công vụ, cơ quan hành chính cấp dưới phải nghiêmchỉnh chấp hành quy định của cơ quan cấp trên, văn bản pháp quy do chủ thể ql hcnn ban hành vàcác hoạt động của chủ thể ql hcnn phải đảm bảo quyền con người,hướng tới lợi ích chung của conngười; Cán bộ,công chức hcnn luôn quan tâm nâng cao uy tín,đạo đức và năng lực thực thi côngvụ

Muốn nền hành chính nhà nước có tính pháp quyền,phải : xây dựng hệ thống pháp luật đày

đủ, pháp luật phải thể hiện ý chí của người dân, pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh, xử lýnghiêm những hành vi vi phạm

4.3 Tính liên tục tương đối ổn định và thích ứng

Nhiệm vụ của hành chính công là phục vụ dưới hình thức công vụ đối với công dân Đây làcông việc hàng ngày thường xuyên và liên tục vì các mối quan hệ xã hội và hành vi công dân đượcpháp luật hành chính điều chỉnh diễn ra thường xuyên, liên tục Chính vì vậy, nền hành chính nhànước phải đảm bảo tính liên tục, ổn định để đảm bảo hoạt động không bị gián đoạn trong bất kỳtình huống nào

Tính liên tục và ổn định không loại trừ tính thích ứng Chính vì vậy ổn định ở đây mangtính tương đối, không phải là cố định, không thay đổi Nhà nước là một sản phẩm của xã hội, đờisống kinh tế xã hội luôn chuyển biến không ngừng do đó hoạt động của hành chính nhà nước luônphải thích ứng với hoàn cảnh kinh tế xã hội Trong từng thời kỳ nhất định, thích nghi với xu thếcủa thời đại đáp ứng được những nhiệm vụ kinh tế, xã hội trong giai đoạn mới

Trang 8

Tính liên tục trong hành chính nhà nước thể hiện ở sự thường xuyên, kế thừa và tránh tìnhtrạng làm theo phong trào.

Tính tương đối ổn định thể hiện ở sự ổn định trong tổ chức bộ máy, trong tổ chức nhân sự,trong hoạt động, tránh tình trạng tân quan tân chính sách

Tính thích ứng thể hiện ở hành chính nhà nước phải đáp ứng kịp thời các nhu cầu của ngườidân; hành chính nhà nước phải thích nghi với xu thế thời đại, của môi trường để đáp ứng được nhucầu mới, nhiệm vụ mới

4.4 Tính chuyên môn hóa và nghề nghiệp cao

Tính chuyên môn hoá và nghề nghiệp cao là một bắt buộc đối với hoạt động quản lý Nhànước của các cơ quan hành chính nhà nước và là đòi hỏi của 1 nền hành chính phát triển, Khoa họcvăn minh và hiện đại Hoạt động quản lý Nhà nước của hành chính nhà nước có nội dung phức tạp

và đa dạng đòi hỏi các nhà HÀNH CHÍNH phải có kiến thức xã hội và kiến thức chuyên môn sâurộng

Những người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước là những thực thi công vụ,trình độ chuyên môn và nghiệp vụ của họ có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng công vụ vì lẽ đótrong hoạt động hành chính nhà nước năng lực chuyên môn và quản lý của những người làm việctrong các cơ quan hành chính nhà nước phải là những tiêu chuẩn hàng đầu Xây dựng và tuyểnchọn đội ngũ những người vào làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước có năng lực, trình

độ chuyên môn đáp ứng tốt nhất những đòi hỏi của hoạt động quản lý Nhà nước là một trongnhững vấn đề khó khăn hiện nay của các nước nói chung và của Việt Nam nói riêng

Cần có hệ thống thứ bậc chặt chẽ để dễ dàng trong phân công nhiệm vụ, quyền hạn và kiểmsoát lẫn nhau; để đảm bảo tính thống nhất trong quản lý hành chính nhà nước

Tính hệ thống thứ bậc được thể hiện ở hệ thống hành chính nhà nước là một hệ thống dọc,mang tính thứ bậc thông suốt từ TW đến địa phương mà trong đó cấp dưới phục tùng cấptrên,nhận chỉ thị mệnh lệnh và chịu sự kiểm tra của cấp trên.; Mỗi cấp,mỗi cơ quan,mỗi cc hoạtđộng trong phạm vi thẩm quyền đc giao

Trang 9

Tính xã hội, tính nhân dân làm cho hành chính nhà nước không vụ lợi, không vì tổ chứcriêng của mình.

4.7 Tính nhân đạo

Tính nhân đạo của hoạt động quản lý Nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước làtôn trọng con người, phục vụ con người và lấy mục tiêu phát triển làm động lực Cơ quan hànhchính và đội ngũ những người được Nhà nước trao cho việc thực thi hoạt động quản lý Nhà nướckhông được quan liêu, cửa quyền, hách dịch, gây phiền hà cho dân khi thi hành công vụ Sự cưỡngbức của hành chính nhà nước là biện pháp cần thiết nhằm bảo đảm để mọi vi phạm phải được xử

lý chứ không phải chỉ nhằm để trừng phạt

Nhà nước Việt Nam có bản chất là Nhà nước của nhân dân và do nhân dân, vì dân vì vậy tôntrọng quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công dân là xuất phát điểm của hệ thống lật, thể chế quytắc, thủ tục hành chính Các công chức không được quan liêu, cửa quyền, hách dịch, gây phiên hàcho dân khi thi hành công vụ Mặt khác, hiện nay chúng ta xây dựng nền kinh tế thị trường nênnền hành chính càng đảm bảo tính nhân đạo để hạn chế tối đa mạt trái của nền kinh tế thị trường,thúc đẩy kinh tế- xã hội phát triển bền vững

- Xuất phát từ bản chất NN XHCN VN,tất cả các hd hcnn đều hướng tới mục tiêu phục vụcon người,tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và lấy đó làm xuất phát điểm cho việcxây dựng 1 hệ thống thể chế,cơ chế,chính sách và thủ tục hc,cũng như trong việc thực hiện cáchành vi hc

Câu 3: : Phân tích sự khác biệt giữa hành chính công và hành chính tư (có ví dục minh hoạ)

Khái niệm hành chính công xuất hiện và được sử dụng rất phổ biến ở các nước có nền kinh tếthị trường phát triển mạnh, nơi mà khu vực tư nhận đóng vai trò quan trọng Hành chính công làmột khái niệm để phân biệt với “hành chính tư” sự khác nhau căn bản ở đây nằm ở hai khái niệm

“công” và ‘tư”, nhưng càng ngày 2 khái niệm Hành chính công mới đáp ứng được, hay hình thứcliên doanh ngày càng được áp dụng và nó đã đạt được hiệu quả cao nên việc phân biệt Hành chínhcông và Hành chính tư ngày càng trở nên khó khăn Tuy vậy, nó vẫn có nhữg điểm khác nhaumang tính nguyên tắc đó là:

Trang 10

- Mục tiêu hoạt động: Đặc điểm nổi bật của bất kỳ một cơ quan Hành chính công nào là hoạt

động vì mục đích công cộng, lợi ích của cộng đồng, trong khi đó mục tiêu chủ yếu của hành chính

tư là lợi nhuận, phục vụ mọi người vị động cơ lợi nhuận

Ví dụ: Một Chính phủ được thành lập ra, hoạt động vì mục đích quản lý chung cho xã hội,

điều hoà lợi ích của các cộng động, có nghĩa là Chính phủ hoạt động vì lợiích của cả đất nước chứkhông vì một cá nhân hay tổ chức nào Nhưng một công ty do tư nhân lập ra, nó tiến hành các hoạtđộng sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch cụ cho cộng độg người không vì lợi ích của người tiêudùng hay của cộng đồng mà là vì lợi nhận do hoạt động này đem lại cho họ

- Tính chính trị: Hành chính công vì tính chất chính trị của tổ chức, trong mọi hoạt động của

mình Hành chính côngluôn mang màu sắc chính trị và bị các mục tiêu chính trị chi phối, gây ảnhhưởng Nhưng hành chính tư lại không hề có màu sắc chính trị, nó hoạt động mà không hề bị tácđộng bởi một động cơ chính trị nào

Ví dụ: Chính phủ hoạt động trên những nguyên tắc, mục tiêu mà Đảng chính trị đã lập ra

Chính phủ, nghĩa là hoạt động của Chính phủ phải nằm trong khuôn khổ đường lối của Đảng chínhtrị đề ra và luôn mang màu sắc chính trị Ngược lại hình chính tư của một công ty chỉ bị chi phốibởi lợi nhuận, họ không bị đường lối chính trị của đảng nào lôi kéo, họ đứng bên lề của các mụctiêu chính trị, họ chỉ tuân thủ các mục tiêu của tổ chức mình đề ra và của pháp luật

- Tính quyền lực: Hành chính công mang tính quyền lực Nhà nước, tính mệnh lệnh cưỡng chế

rất cao Hành chính tư không mang tính quyền lực Nhà nước tính cưỡng chế không cao

Ví dụ: quyết định của Bộ trưởng và giám đốc của người đứng đầu một doanh nghiệp Một

được đảm bảo bằng quyền lực Nhà nước, một đảm bảo bằng điều lệ doanh nghiệp

- Cơ sở pháp lý: Hành chính công có những thủ tục hết sức phức tạp, phải tuân theo một trình

tự thủ tục do pháp luật quy định, không được phá bỏ, nó luôn luôn cứng nhắc, mang tính quan liêu,chậm chạp,hiệu quả hoạt động thấp Còn Hành chính tư cũng phải tuân theo một số quy tắc nhưng

nó lại mềm dẻo và linh hoạt hơn rất nhiều và thủ tục thì đơn giản và dễ dãng thực hiện

Ví dụ: trong một phiên họp thường kỳ của Chính phủ, phải tổ chức tại một ngày nhất định

trong tháng và phải do Thủ tướng chủ trì (hay uỷ nhiệm), trong phiên họp phải tuân theo các thủtục nhất định không thể làm khác, không thể thay đổi, nhưng tại một công ty sản xuất kinh doanhthì các phiên họp có thể tiến hành bất cứ lúc nào, miễn là giải quyết tốt công việc của công nty, cácthủ tục đơn giản, nếu cần thiết có thể bỏ qua nhiều công đoạn

- Quy mô tổ chức hoạt động: Quy mô của Hành chính công trên nguyên tắc rất lớn, có thể bao

trùm cả xã hội hay một lĩnh vực rộng lớn Nhưng Hành chính tư lại có quy mô linh hoạt, tuỳ vàotừng tổ chức mà áp dụng quy mô

Trang 11

Ví dụ: Bộ máy của Chính phủ là bộ máy đặc biệt về phạm vi, tầm cỡ, cũng như sự đa dạng

của các hoạt động mà Chính phủ thực hiện hơn nữa hoạt động của Chính phủ có ảnh hưởng sâurộng đến nhiều yếu tố Còn hành chính tư chỉ có phạm vi trong tổ chức đó và chỉ ảnh hưởng trongphạm vi nhất định (Tập đoàn Boeing là tập đoàn xuyên quốc gia tuy nhiên tính toàn bộ các cán bộquản lý chỉ bằng 1/13 Bộ công chức hành chỉnh của Hoa Kỳ)

- Hoạt động của Hành chính công chịu áp lực của xã hội và mọi quyết định của Hành chínhcông đều phù hợp và đáp ứng được lợi ích của cộng đồng, đó là sự đồng hành của Hành chínhcông với xã hội, nghĩa là mọi quyết định hay hoạt động của Hành chính công phải tham khảo ýkiến của công chúng, còn Hành chính tư không cần quan tâm đến điều này

- Tài chính hoạt động: hành chính công sử dụng mặt khối lượng lớn về vật chất và tài chính

hoạt động nên sai sót của nó ảnh hưởng lớn đến kinh tế- xã hội Tài chính hoạt động từ ngân sáchNhà nước Hành chính tư sử dụng khối lượng nhỏ tài chính vật chất sai sót ảnh hưởng ở phạm vinhỏ, tài chính hoạt động tự có

Ví dụ: Chi phí tài chính của hệ thống hành pháp Hoa Kỳ gấp 10 lần chi phí tài chính của 5

tập đoàn lớn nhất ở Hoa Kỳ

- Chủ thể và khách thể của Hành chính công và Hành chính tư khác nhau Chủ thể của Hành

chính công là các cơ quan cảunn, các cá nhân được uỷ quyền và các chủ thể này có những đặcđiểm là mang tính quyền lực Nhà nước, hoạt động rộng khắp trên các mặt của đời sống xã hội,quản lý thông qua các quyết định hành chính và hành vi hành chính Còn hành chính tư chủ thểcủa có thể là cá nhân hay tổ chức đứng ra thành lập tổ chức đó, chủ thể này chỉ có quyền lực tổchức, chỉ có quyền quản lý trong phạm vi tổ chức, họ có thể quản lý tổ chức bằng nhiều biện pháp

và hình thức mà pháp luật cho phép

Ví dụ: Chủ thể quản lý của Hành chính công là cơquan Nhà nước, Chính phủ hoạt động trong

tất cả các mặt của đời sống xã hội, còn công ty chỉ quản lý mặt sản xuất kinh doanh mà mình đăng

ký, chủ thể là giám đốc công ty hay hội đồng quản trị

- yêu cầu đối với đội ngũ những người tham gia hoạt động: Kỹ năng cần có đối với nhà hành

chính lớn hơn rất nhiều so với nhà điều hành doanh nghiệp Ví dụ: Trong nền hành chính công kỹnăng lãnh đạo coi là kỹ năng cốt yếu trong điều hành doanh nghiệp lại là kỹ năng quản lý

Câu 4: Hành chính công có mối tương quan với các ngành khoa học như thế nào? (Làm rõ tính khoa học liên ngành của hành chính công)

Hành chính học là khoa học lấy quản lý hành chính làm đối tượng nghiên cứu chính Có thểđịnhnghĩa hành chính học là khoa học nghiên cứu các quy luật quản lý có hiệuquả những côngviệc xã hội của các tổ chức hành chính Nhà nước

Trang 12

Hành chính học là một khoa học ra đời muộn hơn nhiều ngành khoa học khác và do tính chấtđặc biệt của đối tượng nghiên cứu – hoạt động qủn lý hành chính nhà nước nên hành chính học có

sự liên kết chặt chẽ với các ngành khoa học Hành chính học là một khoa học liên ngành và mangtính ứng dụng cao

1.Hành chính học và chính trị học

chính trị học là khoa học nghiên cứu về tổ chức và đời sống chính trị của xã hội, về nhữngđường lối, chính sách đối nội, quan hệ đối ngoại chính trị học là khoa học nghiên cứu về đấu tranhdân tộc, đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa các tầng lớp xã hội có những quyền lợi khác nhau, làkhoa học nghiên cứu về quyền lực chính trị trong xã hội ở giai cấp; hành chính học là khoa học vềnhững quy luật tổ chức và vận hành bộ máy Nhà nước, về hoạt động quản lý của bộ máy nhànước

Hành chính học vận dụng những lý luận cơ bản của chính trị học trong những nghiên cứu vè

tổ chức hành chính và quản lý hành chính Nếu chính trị học là khoa học mang nặng đặc điểm lýluận thì hành chính học là một khoa học liên ngành mang nặng đặc điểm ứng dụng

2.Hành chính học với luật học

Luật học là một môn khoa học xã hội lấy qui tắc pháp lý trong các hiện tượng xã hội làm chấtlượng nghiên cứu Quy luật quan trọng của hành chính học là hành chính dựa vào luật pháp quản

lý hành chính vừa phải chịu sự chỉ đạo và chế ước của luật pháp, vừa vận dụng luật pháp để định

ra những pháp quy của nền hành chính trong việc quản lý Nhà nước đối với toàn bộ xã hội

Mặt khắc hành chính học lại làm sinh động và phong phú thêm những nội dung của luật học

Vì vậy, giữa luật học và hành chính học tồn tại một mối quan hệ thẩm thấu lẫn nhau và giao thoavới nhau

3.Hành chính học với kinh tế học

hành chính học nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến việc quản lý mọi mặt trong xã hộicủa Nhà nước trong đó có kinh tế

Kinh tế học là một khoa học nghiên cứu cách thức của con người trong việc sử dụng các nhân

tố sản xuất có hiệu quả để thoả mãn tối đa nhu cầu vô hạn của con người

Hành chính học và kinh tế học có mối quan tâm chung về các vấn đề: tài chính công; thuếkhoá Hiện nay các nước phát triển kinh tế hỗn hợp với sự điều tiết của Nhà nước và bản thân cơchế thị trường thì kinh tế ngày càng được áp dụng rộng rãi và đóng gopa quan trọng vào sự pháttriển của hành chính học

4.Hành chính học và xã hội học

Trang 13

Xã hội học là một môn khoa học nghiên cứu xã hội như một hệ thống toàn vẹn, về những thểchế xã hội khác nhau, về các tiến trình và các nhóm xã hội với các mối quan hệ phức tạp củachung với mục đích tìm ra quy luật vận hành một xã hội tốt đẹp

Hành chính học vận dụng những lý luận, phương pháp và nguyên tắc trong xã hội học vàoquản lý hành chính, bổ sung thêm vào nội dung của hành chính học Những lý luận, nguyên tắccủa hành chính học cũng phải nhờ vào thực tiến thực thi và nghiệm chứng trong hành chính

5.Hành chính học với tâm lý học

tâm lý học là khoa học về thế giới nội tâm của con người và động cơ dẫn đến các hành vi của

họ

Hành chính học trong khi nghiên cứu để tìm ra những quy luật quản lý hành chính nhà nước

có hiệu quả cần dựa vào lý luận và phương pháp của tâm lý học, vì con người với những đặc điểmhành vi của họ cũng là một trong những vấn đề trọng tâm của những nghiên cứu trong hành chínhhọc

Câu 5 Nguyên tắc hoạt động là những tư tưởng chỉ đạo nền tảng cơ bản của một tổ chức, trong hoạt động quản lý các nhà quản lý

Nguyên tắc được hiểu là những chuẩn mực mà cá nhân, tổ chức phải dựa vào đó trong suốtquá trình hoạt động, hay nói cách khác nó là tiêu chuẩn định hướng hành vi của con người, tổchức

Nguyên tắc HCNN là các quy tắc,những tư tưởng chỉ đạo,những tiêu chuẩn hành vi đòi hỏicác chủ thể hcnn phải tuân thủ trong tổ chức và hoạt động hcnn

Yêu cầu đối với nguyên tắc hành chính nhà nước

Khi xây dựng các nguyên tắc hành chính nhà nước cần đảm bảo các yêu cầu sau:

- Nguyên tắc hành chính nhà nước phải phản ánh được các yêu cầu của các quy luật vận độngkhách quan của xã hội;

- Các nguyên tắc hành chính nhà nước phải phù hợp với mục tiêu của hành chính nhà nước;

Trang 14

- Các nguyên tắc hành chính nhà nước phải phản ánh đúng tính chất và các quan hệ hànhchính nhà nước;

- Các nguyên tắc hành chính nhà nước phải đảm bảo tính hệ thống, tính nhất quán và phảiđược đảm bảo tuân thủ bằng tính cưỡng chế

1 Nguyên tắc Đảng lãnh đạo đối với hành chính nhà nước

(1) Quan điểm của Các Mác và Ph Ănghen về Đảng cộng sản – những nguyên lí cơ bản :

Khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Đảng

(2) V.I.Lênin với học thuyết Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân và việc Đảng lãnh đạo xây dựng CNXH

(3) Tư tưởng HCM về Đảng cầm quyền: Sự nghiệp giành chính quyền là của nhân dân,

nhưng nhân dân có Đảng dẫn đường- ĐCSVN là sự kết hợp giữa CN M-L, phong trào công nhân

và phong trào yêu nước ở VN - Đảng cầm quyền phải thực sự là một tổ chức chính trị đại diện chotrí tuệ của cả dân tộc - Cách dùng người…

1.3 Cơ sở thực tiễn

Chúng ta có duy nhất một Đảng cầm quyền đó là ĐCSVN, là đội tiên phong của giai cấp

công nhân, lãnh đạo Nhà nước và ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, với việc

đề ra các đường lối, chủ trương hoạt động Điều đó được thể hiện thông qua các kì họp, các đại

hội

Đảng đã thể hiện sự lãnh đạo của mình đối với Nhà nước trước hết là ở lãnh đạo “tiếp tục đổimới tổ chức và hoạt động của Quốc hội”(đẩy mạnh hoạt động lập pháp, tăng cường giám sát tạicác kì họp Quốc hội và hoạt động giám sát UBTVQH, đổi mới tổ chức QH ,…

Thứ 2 là lãnh đạo Chính phủ Chính phủ hầu hết là ủy viên ban chấp hành TW Đảng

Trang 15

Ba là Đảng lãnh đạo các cơ quan Nhà nước ở cấp tỉnh ( tp trực thuộc trung ương), quận,huyện, tp trực thuộc tỉnh, thị xã, xã, phường…

1.4 Nội dung nguyên tắc

ĐCS VN là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội,là Đảng cầm quyền,giữ vai trò lãnh đạotoàn dân,toàn diện trên mọi mặt của đời sống xh( ctri,kte xh,an ninh qp,ngoại giao….Sự lãnh đạocủa Đảng đối với hcnn đc thể hiện trên các nội dung sau :

1.4.1 Đảng đề ra đường lối chủ trương định hướng cho quá trình tổ chức và hoạt động của hành chính nhà nước ;

Chủ trương đường lối của Đảng phải phù hợp với ý nguyện của nhân dân, của dân tộc, phùhợp với hoàn cảnh của đất nước

Thực tế lịch sử đã chứng minh, sự lãnh đạo của Ðảng là hạt nhân của mọi thắng lợi của cáchmạng Việt Nam Sự lãnh đạo đó chính là việc định hướng về mặt tư tưởng, xác định đường lối,quan điểm giai cấp, phương châm, chính sách, công tác tổ chức trên lĩnh vực chuyên môn

1.4.2 Đảng phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng những người có phẩm chất, năng lực và giới thiệu vào đảm nhận các chức vụ trong bộ máy nhà nước thông qua con đường bầu cử dân chủ;

Mục đích việc bầu cử trong Đảng để lựa chọn được Đảng viên đủ đức đủ tài được nhân dântín nhiệm Bởi vì đức và tài trong mỗi Đảng viên là hạt nhân trong việc ban hành chính sáchđường lối chủ trương sát hợp với thực tế: phù hợp với sự vận động và phát triển xã hội Bởi lẽ

“cán bộ là cái gốc của mọi công việc” và “muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” ( Hồ Chí Minh ) Vì vậy trong Đảng để thực hiện việc lựa chọn những Đảng viên ưu tú,

uy tín, năng lực nhất vào Ban chấp hành Thông qua bầu cử trực tiếp sẽ góp phần phòng, tránhnguy cơ “chạy chức, chạy quyền” và cơ hội Nhưng để thực hiện việc bầu cử dân chủ có hiệu quảthì phải xây dựng tiêu chuẩn của các chức danh phải dựa trên nguyên tắc chung là có đức, có tài,

uy tín

Ngoài ra cần mở rộng quyền đề cử, tự ứng cử và giới thiệu nhiều phương án để lựa chọn,đảm bảo tính yêu cầu về chất lượng, số lượng, cơ cấu, công tâm khách quan trong việc lựa chọnđược người thật sự có đức có tài, có ý thức tổ chức kỉ luật, gắn bó mật thiết và tận tụy phục vụnhân dân

Các tổ chức Ðảng đã bồi dưỡng, đào tạo những Ðảng viên ưu tú, có phẩm chất và năng lựcgánh vác những công việc trong bộ máy hành chính nhà nước, đưa ra các ý kiến về việc bố trínhững cán bộ phụ trách vào những vị trí lãnh đạo của các cơ quan hành chính nhà nước Tuy nhiênvấn đề bầu, bổ nhiệm được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước theo trình tự, thủ tục do pháp luậtquy định, ý kiến của tổ chức Ðảng là cơ sở để cơ quan xem xét và đưa ra quyết định cuối cùng

Trang 16

1.4.3 Đảng kiểm tra hoạt động của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện đường lối chủ trương của Đảng;

Không phải tất cả mọi việc Đảng làm, mọi chủ trương, đường lối của Đảng đưa ra đều đúng

Do vậy thông qua kiểm tra xác định tính hiệu quả, tính thực tế của các chủ trương chính sách màÐảng đề ra từ đó khắc phục khiếm khuyết, phát huy những mặt tích cực trong công tác lãnh đạo.Hơn nữa là nếu chủ trương đưa ra đúng nhưng cơ quan thực hiện chưa chắc đã làm đúng, do vậy

mà cần phải kiểm tra Vd như các chính sách cho xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ những gia đình cóhoàn cảnh khó khăn ăn tết…

1.4.4 Các cán bộ, đảng viên và các tổ chức Đảng gương mẫu trong việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng.

Sự lãnh đạo của Ðảng trong quản lý hành chính nhà nước còn được thực hiện thông qua uytín và vai trò gương mẫu của các tổ chức Ðảng và của từng Ðảng viên Ðây là cơ sở nâng cao uy

tín của Ðảng đối với dân, với cơ quan nhà nước

1.5 Đánh giá thực tế hiện nay

Đảng ngày càng xác định rõ hơn nội dung của phương thức lãnh đạo và các "kênh", các conđường đổi mới phương thức lãnh đạo

- Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội được đổi mới theo hướngkhông ngừng mở rộng dân chủ và công khai; các phương tiện thông tin đại chúng ngày càng pháthuy vai trò tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục nhân dân và vai trò người phản biện đối với cácchủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

- Đảng và các tổ chức đảng ngày càng coi trọng và tôn trọng vai trò các cơ quan nhà nướcnhư Quốc hội, Chính phủ, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp, Tòa án nhân dân các cấp, Hội đồngnhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp Vai trò của các tổ chức Nhà nước ngày càng được phát huy,được đổi mới về tổ chức và phương thức hoạt động, tính chủ động, hiệu lực và hiệu quả ngày càngđược nâng cao Ngày càng phân định rõ hơn chức năng của các tổ chức đảng và các cơ quan nhànước, nhất là ở Trung ương, giảm bớt sự chồng chéo, lấn sân của nhau

Trang 17

- Đảng đã bố trí cán bộ, đảng viên của mình giữ những cương vị chủ chốt trong bộ máy chínhquyền các cấp, nhờ đó, giữ vững được sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng đối với hệthống chính trị.

- Ngày càng xác định rõ hơn nội dung, phạm vi lãnh đạo, mối quan hệ lãnh đạo của cấp ủyvới cơ quan nhà nước, nhất là ở Trung ương Đã xây dựng được quy chế làm việc của Trung ương,

Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp ủy các cấp, cũng như xây dựng chương trình công tác của cấp ủytoàn khóa, hằng năm

- Quá trình xây dựng và ban hành Nghị quyết của Đảng đã được cải tiến (chú ý hơn đến côngtác tham mưu, tư vấn, sử dụng chuyên gia, làm thí điểm), việc phổ biến nghị quyết cũng giảm bớttính hình thức, tăng tính thiết thực, ngắn gọn, gắn với chương trình hành động

1.5.2 hạn chế

Thật sự mà nói hiện nay, trên thực tế Đảng ta đã và rất nỗ lực để thực hiện tốt chức năng vànhiệm vụ của mình Tuy nhiên không có cái gì là toàn vẹn Càng cố gắng và nỗ lực thực hiện thìcàng ngày càng cho thấy nhưng kẽ hở trong việc thực hiện Nhất là khi Đảng trở thành Đảng cầmquyền

- Nguy cơ sai lầm về đường lối,

- Chủ nghĩa cá nhân phát triển trầm trọng : bệnh kiêu ngạo, địa phương cục bộ, óc bè phái, óc

quân phiệt, quan liêu, óc hẹp hòi; vô kỉ luật, kỷ luật không nghiêm, làm trái phép nước, coi thườngpháp luật; ích kỉ, tham nhũng

- Xa dân và mất dần quần chúng

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, làm sao cho Đảng không rơi vào tình trạng lạm quyền, lấn

át Nhà nước, bao biện làm thay các công việc Nhà nước, trái lại phát huy được vai trò quản lý,hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước Mặt khác, làm sao không hạ thấp, buông lỏng vai trò lãnh đạocủa Đảng đối với Nhà nước Đây là những vấn đề còn khó khăn và phức tạp mà kinh nghiệm củachủ nghĩa xã hội trên thế giới vừa qua chưa đủ để giải quyết, cần phải tiếp tục nghiên cứu sâu hơn

về lý luận và thực tiễn về đổi mới hệ thống chính trị, về xây dựng Đảng và xây dựng, hoàn thiệnNhà nước xã hội chủ nghĩa; trong đó, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân,

do dân, vì dân là một phương hướng rất cơ bản

Trang 18

dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Cần nghiên cứu sâu hơn, có

hệ thống và toàn diện hơn vấn đề đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta trong điều kiện đẩy mạnh

công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xác định rõ mô hình của hệ thống chính trị ở nước ta làm cơ sở cho đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.

- Tiếp tục thực hiện việc kiện toàn tổ chức theo Nghị quyết Trung ương 7, khóa VIII, tiếp tục xácđịnh rõ hơn chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức đảng và tổ chức nhà nước, tránh chồng chéo,lấn sân Nâng cao vai trò công tác tham mưu của ban đảng các cấp Cần tiếp tục làm rõ vai trò bancán sự đảng của bộ, mối quan hệ giữa ban cán sự đảng của bộ và của tổng công ty với Ban Cán sựđảng Chính phủ và Bộ Chính trị, Ban Bí thư

- Bổ sung, hoàn thiện hệ thống các quy chế về sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương, BộChính trị, Ban Bí thư đối với Quốc hội, Chính phủ, sự lãnh đạo của cấp ủy và tổ chức đảng đối với

cơ quan chính quyền cùng cấp Cần cụ thể hóa và bổ sung một số quy định về quan hệ và lề lốilàm việc của Bộ Chính trị, Ban Bí thư với Đảng đoàn Quốc hội, Ban Cán sự đảng Chính phủ tronglãnh đạo công tác an ninh, quốc phòng, đối ngoại và tổ chức cán bộ,

- Cần cụ thể hóa nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộsao cho vừa giữ vững nguyên tắc này vừa bảo đảm quyền hạn và trách nhiệm pháp lý của ngườiđứng đầu các tổ chức chính quyền Cần có quy chế về trách nhiệm và thẩm quyền của người đứngđầu tổ chức về công tác cán bộ

- Tăng cường công tác kiểm tra, nâng cao chất lượng và hiệu quả kiểm tra, nhất là kiểm tra thườngxuyên để phục vụ cho sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minhcác vụ việc tiêu cực, tham nhũng, vi phạm nguyên tắc

- Tiếp tục mở rộng và phát huy dân chủ, trước hết là dân chủ nội bộ Đảng cho đến dân chủ ngoài

xã hội, đẩy mạnh thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở, xây dựng và thực hiện các cơ chế, quy chếdân chủ, mở rộng dân chủ trong bầu cử và hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp

Có cơ chế nhân dân tham gia giám sát Đảng và chính quyền

- Tích cực đổi mới phong cách lãnh đạo của các cấp ủy, hoàn thiện quy trình xây dựng, ra nghịquyết và triển khai thực hiện nghị quyết; tăng cường chế độ làm việc có tính khoa học, có quy chế,chương trình, kế hoạch; cán bộ lãnh đạo cần sâu sát quần chúng, cơ sở, coi trọng tổng kết thựctiễn, coi trọng tính thiết thực, hiệu quả, tránh bệnh hình thức, bệnh thành tích trong công tác

2 Nguyên tắc nhân dân tham gia quản lý hành chính nhà nước

2.1 Cơ sở pháp lý

Trang 19

Ðiều 2 - Hiến pháp 1992 nêu rõ: Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức

2.2 Nội dung nguyên tắc

Việc tham gia đông đảo của nhân dân lao động vào quản lý hành chính nhà nước thông qua cáchình thức trực tiếp và gián tiếp tương ứng như sau:

2.2.1 Tham gia gián tiếp:

a Tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước

- Các cơ quan trong bộ máy nhà nước là công cụ để thực hiện quyền lực nhà nước, việc nhân dântham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước là hình thức tham gia tích cực, trực tiếp và cóhiệu quả nhất trong quản lý hành chính nhà nước Người lao động nếu đáp ứng các yêu cầu củapháp luật đều có thể tham gia một cách trực tiếp hay gián tiếp vào công việc quản lý hành chínhnhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

- Người lao động có thể tham gia trực tiếp vào cơ quan quyền lực nhà nước với tư cách là thànhviên của cơ quan này - họ là những đại biểu được lựa chọn thông qua bầu cử hoặc với tư cách làcác viên chức nhà nước trong các cơ quan nhà nước Khi ở cương vị là thành viên của cơ quanquyền lực nhà nước, người lãnh đạo trực tiếp xem xét và quyết định các vấn đề quan trọng của đấtnước, của từng địa phương trong đó có các vấn đề quản lý hành chính nhà nước Khi ở cương vị làcán bộ viên chức nhà nước thì người lao động sẽ sử dụng quyền lực nhà nước một cách trực tiếp

để thực hiện vai trò người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, có điều kiện biến những ý chí,nguyện vọng của mình thành hiện thực nhằm xây dựng đất nước giàu mạnh

- Ngoài ra, người lao động có thể tham gia gián tiếp vào hoạt động của các cơ quan nhà nướcthông qua việc thực hiện quyền lựa chọn những đại biểu xứng đáng thay mặt mình vào cơ quanquyền lực nhà nước ở trung ương hay địa phương Ðây là hình thức tham gia rộng rãi nhất củanhân dân vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước

b Tham gia vào hoạt động của các tổ chức xã hội

- Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân lao động tham gia tích cực vào hoạt động của các

tổ chức xã hội Các tổ chức xã hội là công cụ đắc lực của nhân dân lao động trong việc thực hiệnquyền tham gia vào quản lý hành chính nhà nước Thông qua các hoạt động của các tổ chức xãhội, vai trò chủ động sáng tạo của nhân dân lao động được phát huy Ðây là một hình thức hoạtđộng có ý nghĩa đối với việc bảo đảm dân chủ và mở rộng nền dân chủ ở nước ta

2.2.2 Tham gia trực tiếp

Trang 20

a Tham gia vào hoạt động tự quản ở cơ sở

- Ðây là hoạt động do chính nhân dân lao động tự thực hiện, các hoạt động này gần gủi và thiếtthực đối với cuộc sống của người dân như hoạt động bảo vệ an ninh trật tự, vệ sinh môitrường, Những hoạt động này xảy ra ở nơi cư trú, làm việc, sinh hoạt nên mang tính chất tự quảncủa nhân dân

- Thông qua những hoạt động mang tính chất tự quản này người lao động là những chủ thể thamgia tích cực nhất, quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội của họ được tôn trọng và bảođảm thực hiện

b Trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân trong quản lý hành chính nhà nước

- Ðiều 53-Hiến pháp 1992 quy định công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, thamgia thảo luận những vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, các

tổ chức xã hội hay chính người dân trực tiếp thực hiện

- Kiểm tra các cơ quan quản lý nhà nước

- Tham gia trực tiếp với tư cách là thanh viên không chuyên trách trong hoạt động cơ quan quản

lý, các cơ quan xã hội

- Tham gia với tư cách là thành viên của tập thể lao động trong việc giải quyết những vấn đề quantrọng của cơ quan

Việc trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân trong quản lý hành chính nhà nước làmột hình thức có ý nghĩa quan trọng để nhân dân lao động phát huy vai trò làm chủ của mình Ðây là nguyên tắc được nhà nước ta thừa nhận và bảo đảm thực hiện Nguyên tắc này thể hiện bảnchất dân chủ sâu sắc giữ vai trò quan trọng thiết yếu trong quản lý hành chính nhà nước Nhân dânkhông chỉ có quyền giám sát đối với hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước; thực hiện khiếunại tố cáo nếu cho rắng cán bộ hành chính nhà nước vi phạm quyền lợi của họ hoặc thực hiệnkhông đúng đắn, mà còn có quyền tự mình tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước, trực tiếp thểhiện quyền lợi của toàn thể nhân dân lao động Ðiều này này khẳng định vai trò hết sức đặc biệtcủa nhân dân lao động trong quản lý hành chính nhà nước, đồng thời xác định những nhiệm vụ mànhà nước phải thực hiện trong việc đảm bảo những điều kiện cơ bản để nhân dân lao động đượctham gia vào quản lý hành chính nhà nước Ðiểm thú vị về mặt lý luận của nguyên tắc vì vậy chỉ

có ý nghĩa khi được bảo đảm thực hiện trên thực tế Có thể mở rộng, tăng cường quyền của côngdân trong hoạt động quản lý, nhưng không được phép hạn chế, thu hẹp những gì mà Hiến pháp đãđịnh

3 Nguyên tắc tập trung dân chủ

Trang 21

3.1 Cơ sở pháp lý

Ðây là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của nhà nước ta nên việc thực hiện quản

lý hành chính nhà nước phải tuân theo nguyên tắc này Ðiều 6-Hiến pháp 1992 quy định :Quốchội, hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyêntắc tập trung dân chủ

3.2 Nội dung nguyên tắc

Nguyên tắc tập trung dân chủ bao hàm sự kết hợp giữa hai yếu tố tập trung và dân chủ, vừađảm bảo sự lãnh đạo tập trung trên cơ sở dân chủ, vừa đảm bảo mở rộng dân chủ dưới sự lãnh đạotập trung

¨ Tuy nhiên, đây không phải là sự tập trung toàn diện và tuyệt đối, mà chỉ đối với những vấn

đề cơ bản, chính yếu nhất, bản chất nhất Sự tập trung đó bảo đảm cho cơ quan cấp dưới, cơ quanđịa phương có cơ sở và khả năng thực hiện quyết định của trung ương; đồng thời, căn cứ trên điềukiện thực tế của mình, có thể chủ động sáng tạo trong việc giải quyết các vấn đề của địa phương và

cơ sở Cả hai yếu tố này vì thế phải có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ Chúng có mối quan hệ qualại, phụ thuộc và thúc đẩy nhau cùng phát triển trong quản lý hành chính nhà nước

¨ Tập trung dân chủ thể hiện quan hệ trực thuộc, chịu trách nhiệm và báo cáo của cơ quanquản lý trước cơ quan dân chủ ; phân định chức năng, thẩm quyền giữa cơ quan quản lý các cấp,bảo đảm sự lãnh đạo tập trung của cấp trên của trung ương và quyền chủ động của cấp dưới Ngoài

ra, đó là hệ thống "song trùng trực thuộc" của nhiều cơ quan quản lý, bảo đảm sự kết hợp tốt nhất

sự lãnh đạo tập trung theo ngành với quyền quản lý tổng thể của địa phương

¨ Có sự phân cấp rành mạch Quyền lực nhà nước không phải được ban phát từ cấp trênxuống cấp dưới Sự phân quyền cho từng cấp là cần thiết nhưng phải đồng thời được kết hợp vớiviệc xác định vai trò của từng cấp hành chính: trung ương, tỉnh, huyện, xã Từ khi ra đời, mỗi cấp

đã có "sứ mệnh lịch sử" và vai trò quản lý hành chính nhà nước riêng, đặc thù Có những chứcnăng được thực hiện ở cấp dưới lại có hiệu quả hơn cấp trên, hoặc có những chức năng tất yếuphải được thực hiện ở cấp cơ sở Hương ước làng xã là một ví dụ Hương ước không thể được "lậpra" ở cấp huyện, cấp mà có thể có rất nhiều làng xã với những tập quán và lối sống khác nhau Từ

đó, nguyên tắc tập trung dân chủ được biểu hiện cụ thể như sau:

- Sự phụ thuộc của cơ quan hành chính nhà nước vào cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp

Ðiều 6-Hiến pháp 1992 quy định : Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội

và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhândân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân

Trang 22

Như vậy, Hiến pháp quy định tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân sử dụngquyền lực nhà nước thông qua các cơ quan quyền lực nhà nước do chính họ bầu ra để thay mặtmình trực tiếp thực hiện những quyền lực đó Ðể thực hiện chức năng quản lý hành chính nhànước, hệ thống cơ quan hành chính nhà nước được thành lập và nó luôn có sự phụ thuộc vào các

cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp

Các cơ quan quyền lực nhà nước có những quyền hạn nhất định trong việc thành lập, thayđổi, bãi bỏ các cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp

Trong hoạt động, các cơ quan hành chính nhà nước luôn chịu sự chỉ đạo, giám sát của cơquan quyền lực nhà nước và chịu trách nhiệm báo cáo hoạt động của mình với cơ quan quyền lựcnhà nước cùng cấp

Tất cả sự phụ thuộc này nhằm mục đích bảo đảm cho hoạt động của hệ thống cơ quan hànhchính nhà nước, phù hợp với ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân lao động, bảo đảm sự tậptrung quyền lực vào cơ quan quyền lực-cơ quan do dân bầu và chịu trách nhiệm trước nhân dân

- Sự phục tùng của cấp dưới đối với cấp trên, của địa phương đối với trung ương

Nhờ có sự phục tùng này cấp trên và trung ương mới tập trung quyền lực nhà nước để chỉđạo, giám sát hoạt động của cấp dưới và của địa phương, nếu không có sự phục tùng sẽ xảy ra tìnhtrạng cục bộ địa phương, tùy tiện, vô chính phủ

Sự phục tùng ở đây là sự phục tùng mệnh lệnh hợp pháp trên cơ sở quy định của pháp luật Mặt khác, trung ương cũng phải tôn trọng ý kiến của cấp dưới, địa phương về công tác tổchức, hoạt động và về các vấn đề khác của quản lý hành chính nhà nước

Phải tạo điều kiện để cấp dưới, địa phương phát huy sự chủ động, sáng tạo nhằm hoàn thànhtốt nhiệm vụ được giao, nhằm chủ động thực hiện được "thẩm quyền cấp mình" Có như thế mớikhắc phục tình trạng quan liêu, áp đặt ý chí, làm mất đi tính chủ động sáng tạo của địa phương,cấp dưới

- Sự phân cấp quản lý

Là sự phân định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong bộ máy quản lý hành chính nhà nước.Mỗi cấp quản lý có những mục tiêu, nhiệm vụ, thẩm quyền và những phương thức cần thiết đểthực hiện một cách tốt nhất những mục tiêu, nhiệm vụ của cấp mình

Phân cấp quản lý là một biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ Tuy nhiên, việc phân cấpphải đảm bảo những yêu cầu sau:

Trang 23

Phải xác định quyền quyết định của trung ương đối với những lĩnh vực then chốt, những vấn

đề có ý nghĩa chiến lược để đảm bảo sự phát triển cân đối hài hòa của toàn xã hội, bảo đảm sựquản lý tập trung và thống nhất của nhà nước trong phạm vi toàn quốc

Phải mạnh dạn phân quyền cho địa phương, các đơn vị cơ sở để phát huy tính chủ động sángtạo trong quản lý, tích cực phát huy sức người, sức của, đẩy mạnh sản xuất và phục vụ đời sốngnhằm hoàn thành nhiệm vụ mà cấp trên giao phó

Phải phân cấp quản lý cụ thể, hợp lý trên cơ sở quy định của pháp luật Hạn chế tình trạngcấp trên gom quá nhiều việc, khi không làm xuể công việc ấy thì giao lại cho cấp dưới Phân cấpquản lý phải xác định chức năng cơ quan Mỗi loại việc chỉ được thực hiện bởi một cấp cơ quan,hoặc một vài cấp cơ quan Cấp trên không phải lúc nào cũng thực hiện được một số chức năng mộtcách có hiệu quả như cấp dưới

- Sự hướng về cơ sở

Hướng về cơ sở là việc các cơ quan hành chính nhà nước mở rộng dân chủ trên cơ sở quản lýtập trung đối với hoạt động của toàn bộ hệ thống các đơn vị kinh tế, văn hóa xã hội trực thuộc Cácđơn vị cơ sở của bộ máy hành chính nhà nước là nơi tạo ra của cải vật chất trực tiếp phục vụ đờisống nhân dân Vì thế nhà nước cần có các chính sách quản lý thống nhất và chặt chẽ, cung cấp vàgiúp đỡ về vật chất nhằm tạo điều kiện để đơn vị cơ sở hoạt động có hiệu quả Có như vậy hoạtđộng của các đơn vị này mới phát triển một cách mạnh mẽ theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.Ðây cũng chính là việc thực hiện "dân là gốc" trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước

- Sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

Các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắcsong trùng trực thuộc Ðối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung một mặt phụ thuộc vào cơquan quyền lực nhà nước cùng cấp, mặt khác phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà nước cấptrên

Ví dụ: UBND Tỉnh A một mặt chịu sự chỉ đạo của HÐND Tỉnh A theo chiều ngang, một mặtchịu sự chỉ đạo của Chính phủ theo chiều dọc

Ðối với cơ quan chuyên môn, một mặt phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà nước có thẩmquyền chung cùng cấp, mặt khác nó phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyềnchuyên môn cấp trên trực tiếp

Ví dụ: Sở Tư pháp Tỉnh B, một mặt phụ thuộc vào UBND Tỉnh B, mặt khác phụ thuộc vào

Bộ Tư pháp

Trang 24

Nguyên tắc song trùng trực thuộc của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương bảo đảm sựthống nhất giữa lợi ích chung của nhà nước với lợi ích của địa phương, giữa lợi ích ngành với lợiích của lãnh thổ

4 Nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc

4.1 Cơ sở pháp lý

Việt Nam là nước có nhiều dân tộc cùng sinh sống trên lãnh thổ Các dân tộc đều có quyềnbình đẳng với nhau trong mọi lĩnh vực "Nhà nước CH XHCN Việt nam là nhà nước thống nhấtcủa các dân tộc sinh sống trên đất nước Việt nam

Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấmmọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc" (Ðiều 5- Hiến pháp 1992)

4.2 Nội dung nguyên tắc

- Trong công tác lãnh đạo và sử dụng cán bộ:

Nhà nước ưu tiên đối với con em các dân tộc ít người, thực hiện chính sách khuyến khích vềvật chất, tinh thần để họ học tập Số cán bộ nhà nước là người dân tộc ít người cũng chiếm một sốlượng nhất định trong cơ quan nhà nước, tạo điều kiện cho người dân tộc ít người cùng tham giaquyết định những vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng của họ và các vấn đề quantrọng khác của đất nước

- Trong việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội

Nhà nước chú ý tới việc đầu tư xây dựng công trình quan trọng về kinh tế, quốc phòng ở cácvùng dân tộc ít người, một mặt khai thác những tiềm năng kinh tế, xóa bỏ sự chênh lệch giữa cácvùng trong đất nước, đảm bảo nâng cao đời sống vật chất tinh thần của các dân tộc ít người

Nhà nước có những chính sách đúng đắn đối với người đi xây dựng vùng kinh tế mới, tổ chứcphân bố lại lao động một cách hợp lý tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc ít người nâng cao vềmọi mặt

Những ưu tiên cho các dân tộc ít người là sự cần thiết không thể phủ nhận nhằm bù đắp phầnnào cho việc thiếu thốn điều kiện, đồng thời để tất cả các dân tộc có thể đủ điều kiên để vươn lêntrong xã hội Tuy nhiên, sự ưu tiên chính sách sẽ mất đi tác dụng nếu vượt khỏi phạm vi khuyếnkhích, động viên Nếu sự ưu tiên quá lớn, chắc chắn sẽ dẫn đến việc cùng một vị trí giống nhau,nhưng hai khả năng không tương đồng nhau Ðiều này sẽ dẫn đến những khó khăn nhất định trongcông việc chung cũng như cho chính bản thân người được ưu tiên đó

5 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

Trang 25

5.1 Cơ sở pháp lý

Ðây là nguyên tắc thể hiện một nguyên lý căn bản của tổ chức và hoạt động của bộ máy nhànước Bởi vì trước hết việc tổ chức và hoạt động hành chính phải hợp pháp, tức là phải tuân theopháp luật Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa vì vậy là một biện pháp để phát huy dân chủ xãhội chủ nghĩa "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chếxãhội chủ nghĩa" (Ðiều 12- Hiến pháp 1992)

5.2 Nội dung nguyên tắc

Biểu hiện của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý hành chính nhà nước nhưsau:

a Trong lĩnh vực lập quy

Khi ban hành quy phạm pháp luật thuộc phạm vi thẩm quyền của mình, các cơ quan hànhchính nhà nước phải tôn trọng pháp chế xã hội chủ nghĩa, phải tôn trọng vị trí cao nhất của hiếnpháp và luật, nội dung văn bản pháp luật ban hành không được trái với hiến pháp và văn bản luật,chỉ được ban hành những văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi thẩm quyền và hình thức,trình tự, thủ tục do pháp luật quy định

b Trong lĩnh vực thực hiện pháp luật

Việc áp dụng quy phạm pháp luật phải tuân theo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, tức làphải phù hợp với yêu cầu của luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác, phải thiết lập tráchnhiệm pháp lý đối với các chủ thể áp dụng quy phạm pháp luật, mọi vi phạm phải xử lý theo phápluật, áp dụng pháp luật phải đúng nội dung, thẩm quyền và phải tôn trọng những văn bản quyphạm pháp luật do chính cơ quan ấy ban hành

d Trong việc quản lý nói chung

Mở rộng, bảo đảm các quyền dân chủ của công dân Mọi quyết định hành chính và hành vihành chính đều phải dựa trên quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trực tiếp hoặc gián tiếp.Ngược lại, việc hạn chế quyền công dân chỉ được áp dụng trên cơ sở hiến định

Trang 26

c Phải chịu trách nhiệm trước xã hội và pháp luật

Các chủ thể quản lý hành chính nhà nước phải chịu trách nhiệm do những sai phạm của mìnhtrong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, xâm phạm đến lợi ích tới quyền và lợi ích hợp phápcủa công dân và phải bồi thường cho công dân Chính vì vậy, hoạt động quản lý gắn liền với mộtchế độ trách nhiệm nghiêm ngặt đối với một chủ thể quản lý Chế độ trách nhiệm ấy thông quapháp luật và các hệ thống kỷ luật nhà nước Cụ thể hơn, yêu cầu của quản lý đặt dưới sự thanh tra,kiểm tra giám sát và tài phán hành chính để pháp chế được tuân thủ thống nhất, mọi vi phạm đều

bị phát hiện và xử lý theo đúng pháp luật Sự kiểm tra và giám sát ấy, trước hết phải được bảo đảmthực hiện chính từ chủ thể quản lý Tự kiểm tra với tư cách tổ chức chuyên môn vì thế cũng rất cầnthiết như sự kiểm tra, giám sát từ phía các cơ qaun nhà nước tương ứng, các tổ chức xã hội vàcông dân

6 Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo địa giới hành chính

Ngành là một phạm trù chỉ tổng thể những đơn vị, tổ chức sản xuất, kinh doanh có cùng một

cơ cấu kinh tế-kỹ thuật hay các tổ chức, đơn vị hoạt động với cùng một mục đích giống nhau Có

sự phân chia các hoạt động theo ngành tất yếu dẫn đến việc thực hiện hoạt động quản lý theongành

Quản lý theo ngành là hoạt động quản lý ở các đơn vị, các tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội cócùng cơ cấu kinh tế-kỹ thuật hay hoạt động với cùng một mục đích giống nhau nhằm làm cho hoạtđộng của các tổ chức, đơn vị này phát triển một cách đồng bộ, nhịp nhàng, đáp ứng được yêu cầucủa nhà nước và xã hội Hoạt động quản lý theo ngành được thực hiện với hình thức, qui mô khácnhau, có thể trên phạm vi toàn quốc, trên từng địa hay một vùng lãnh thổ

Quản lý theo địa giới hành chính là quản lý trên một phạm vi địa bàn nhất định theo sự phânvạch địa giới hành chính của nhà nước Quản lý theo địa giới hành chính ở nước ta được thực hiện

ở bốn cấp:

- Cấp Trung ương (cấp nhà nước)

- Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

- Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;

- Xã, phường, thị trấn

Nội dung của hoạt động quản lý theo địa giới hành chính gồm đề ra các chủ trương, chínhsách, có quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trên một phạm vi toàn lãnh thổ Bắt đầu từ

Trang 27

qui hoạch xây dựng và quản lý kết cấu hạ tầng cho sản xuất, đời sống dân cư sống và làm việc trênlãnh thổ Tiếp đó, có sự tổ chức điều hòa phối hợp sự hợp tác, quản lý thống nhất về khoa họccông nghệ, liên kết, liên doanh các đơn vị kinh tế, văn hóa, xã hội trên lãnh thổ

Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, quản lý theo ngành luôn được kết hợp chặtchẽ với quản lý theo địa giới hành chính Ðây chính là sự phối hợp giữa quản lý theo chiều dọccủa các Bộ với quản lý theo chiều ngang của chính quyền địa phương theo sự phân công tráchnhiệm và phân cấp quản lý giữa các ngành, các cấp Sự kết hợp này là một nguyên tắc cơ bảntrong quản lý hành chính nhà nước, mang tính cần thiết, khách quan Nội dung của quản lý theođiạ giới hành chính:

- Xây dựng qui hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội trên lãnh thổ, nhằm xây dựng cơcấu kinh tế có hiệu quả từ trung ương tới địa phương

- Qui hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng cho sản xuất và đời sống dân cư sống và làm việc trênmột địa giới hành chính Ðầu tư kinh tế luôn được khuyến khích và chù ý trong quá trình lập dự án

hạ tầng Tuy nhiên, phải có kế hoạch và định hướng, tránh tình trạng "đầu tư đi trước, qui hoạchtheo sau", làm sự phát triển và an cư bị xáo trộn, gây mất cân bằng trong quản lý kinh tế-xã hội

- Tổ chức điều hoà, phối hợp, hợp tác liên doanh giữa các đơn vị kinh tế trực thuộc Trungương về những mặt có liên quan đến linh tế- xã hội trên địa bàn lãnh thổ; bảo đảm cho các điềukiện ở địa phương phục vụ cho phương hướng phát triển của trung ương, và đa dạng hoá các khảnăng, ngành nghề phát triển

- Tổ chức, chăm lo đời sống nhân dân trên một địa bàn lãnh thổ, không kể các nhân, tổ chức

đó do Trung ương hay địa phương quản lý Mặt khác, bảo đảm sự chấp hành pháp luật chính sáchcủa địa phương, không trái với Trung ương

7 Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng

Khi thực hiện hoạt động quản lý ngành đòi hỏi các chủ thể quản lý phải thực hiện rất nhiềuviệc chuyên môn khác nhau như lập quy hoạch và kế hoạch phát triển ngành, quản lý thực hiện cáckhoản thu chi, giám sát, kiểm tra việc thực hiện pháp luật Do khối lượng công việc quản lý ngàycàng nhiều và mang tính chất phức tạp nên đòi hỏi tính chyên môn hóa cao, vì thế nhu cầu quản lýtheo chức năng luôn được đặt ra

Quản lý theo chức năng là quản lý theo từng lĩnh vực chuyên môn nhất định của hoạt độngquản lý hành chính nhà nước Cơ quan quản lý theo chức năng là cơ quan quản lý một lĩnh vựcchuyên môn hay một nhóm các lĩnh vực chuyên môn có liên quan với nhau

Quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng nhằm đảm bảo việc thực hiện có hiệuquả từng chức năng quản lý riêng biệt của các đơn vị, tổ chức trong ngành, đồng thời bảo đảm mối

Trang 28

quan hệ liên ngành, làm cho toàn bộ hoạt động của hệ thống ngành được phối hợp chặt chẽ, cóhiệu quả

Ví dụ: Trong lĩnh vực xây dựng, có sự kết hợp giữa Bộ Xây dựng, Bộ kế hoạch và đầu tư, BộGiao thông vân tải Trong đó, Bộ Xây dựng có vai trò trung tâm, kết hợp với các bộ và các cơquan hữu quan lập nên các dự án qui hoạch xây dựng tương ứng

Theo quy định của pháp luật, hệ thống các cơ quan chuyên môn được hình thành để thực hiệnviệc quản lý theo chức năng Theo hệ thống dọc có bộ, sở, phòng, ban chuyên môn quản lý chứcnăng, chịu sự quản lý của cơ quan quản lý theo chức năng có thẩm quyền ở cấp trên Nguyên tắcnày thể hiện quyền hạn, nhiệm vụ của cơ quan quản lý theo chức năng trong việc thực hiện cáchoạt động quản lý hành chính nhà nước Cụ thể:

- Các cơ quan quản lý theo chức năng có quyền ban hành các quy phạm pháp luật, các mệnhlệnh cụ thể liên quan đến chức năng quản lý của mình theo quy định của pháp luật, có tính chất bắtbuộc thực hiện đối với các cơ quan quản lý chuyên ngành

- Các cơ quan quản lý theo chức năng kiểm tra việc thực hiện các chính sách, chủ trương domình đề ra, xử lý hay đề nghị cấp có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm các chính sách, chủtrương đó theo quy định của pháp luật

Có thể nói nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng là một nguyêntắc có tầm quan trọng rất lớn trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, nó giúp cho hoạt độngcủa bộ máy hành chính nhà nước có sự đồng bộ và thống nhất với nhau Nếu thiếu sự liên kết này,hoạt động của ngành trở nên thiếu đồng bộ, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của hoạt độngquản lý hành chính nhà nước

8 Phân định chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với quản lý sản xuất kinh doanh

Theo Hiến pháp 1992 nước CHXHCN Việt nam, nền kinh tế nước ta là "nền kinh tế hàng hoánhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng XHCN"(Ðiều 15) Liên quan đến chức năng quản lý nhà nước về kinh tế, có các vấn đề sau:

- Tuy nắm quyền sở hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu, nhà nước không phải là người trựctiếp kinh doanh Các cơ quan nhà nước định ra chiến lược, qui hoạch và định hướng kế hoạch pháttriển kinh tế - xã hội và cơ chế quản lý có cơ sở pháp lý ổn định vững chắc Các tổ chức kinhdoanh có nhiệm vụ chấp hành và cụ thể hoá chiến lược và kế hoạch kinh tế- xã hội của nhà nước,thực hiện cơ chế kinh doanh, tiêu chuẩn, định mức của nhà nước, chịu sự kiểm tra, giám sát củacác cơ quan nhà nước có thẩm quyền

- Nhà nước có chức năng tổ chức và điều chỉnh nền kinh tế quốc dân bằng những biện pháp

vĩ mô: thông qua các biện pháp kinh tế, hành chính, tạo khung cho cạnh tranh lành mạnh trong sảnxuất kinh doanh Các tổ chức kinh doanh trực tiếp thực hiện kinh doanh như: xây dựng, vận tải,

Trang 29

ngân hàng trong phạm vi vĩ mô, nhằm tạo nhiều của cải vật chất thiết yếu cho xã hội, tránh sựđộc quyền của tư nhân, có thể ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế quốc dân

- Khác với các mối quan hệ trong hoạt động chấp hành điều hành, các quan hệ trong hoạtđộng kinh doanh của các tổ chức kinh doanh được điều chỉnh bình đẳng theo quan hệ pháp luậtdân sự, luật thương mại

- Nếu các cơ quan nhà nước hoạt động bằng ngân sách nhà nước, thì các tổ chức kinh doanh

là những tổ chức độc lập tự chủ về tài chính, tự cấp vốn và hạch toán kinh tế

- Việc quản lý trong hành lang pháp lý chặt chẽ thông qua các cơ quan quản lý hành chínhnhà nước sẽ tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế thuận lợi, thông thoáng, tự chủ và đạt hiệu quảcao

9 nguyên tắc công khai, minh bạch.

Công khai là việc cơ quan, tổ chức, đơnvị thông tin chính sách về văn bản, hoạt động hoặcnội dung nhất định Tất cả những thông tin hành chính nhà nước phải được công khai cho ngườidân trừ trường hợp có quy định cụ thể với lý do hợp lý và trên cơ sở những tiêu chí rõ ràng

Minh bạch trong hành chính là những thông tin phù hợp được cung cấp kịp thời cho nhân dândưới hình thức dễ sử dụng, và đồng thời các quyết định và các quy định của hành chính nhà nướcphải rõ ràng và được phổ biến đầy đủ Tính minh bạch là điều kiện tiên quyết để hành chính nhànước thực sự trước nhân dân và giúp nâng cao khả năng dự báo của người dân nếu không minhbạch sẽ dẫn đến sự tùy tiện hoặc sai lầm trong việc thực thi quyền hạn, có những giao dịch khôngtrung thực, những dự án đầu tư sai lầm, dẫn đến quan liêu tham nhũng Sự minh bạch sẽ giúp xâydựng một nền hành chính cởi mở, có trách nhiệm, ngăn chặn được tham nhũng trong hành chínhnhà nước

Nguyên tắc này đòi hỏi, các cơ quan nhà nước, các tổ chức và các đơn vị khi xây dựng, banhành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật phải được tiến hành công khai, minh bạch, đảmbảo công bằng dân chủ theo quy định của pháp luật

Câu: 6 trình bày các lý thuyết nghiên cứu hành chính nhà nước.

Hành chính công là một lĩnh vực được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm bởi đó là lĩnh vực gắnliền với hoạt động vủa nhà nước Nghiên cứu hành chính công trên các hướng tiếp cận khác nhau

sẽ cho phép các nhà khoa học cũng như các nhà hành chính hiểu rõ hơn sự phát triển tư duy vềlĩnh vực này và từ đó có thể vận dụng các cách tư duy vào trong điều kiện môi trường cụ thể

1 Các lý thuyết nghiên cứu hcnn trên góc độ thực thi quyền lực nn

Những người nghiên cứu qlhcnn theo hướng này bắt đầu từ việc nghiên cứu quyền lực nn và

sự phân chia ql nn ở các quốc gia khác nhau thông qua việc nghiên cứu hệ thống luật hành chính

và họ rút ra các kết luận:

Trang 30

- Sự phân chia thực thi quyền lực nn tồn tại ở mọi quốc gia,dù quốc gia đó theo mô hìnhphân quyền hay tập quyền.

- Quyền hành pháp đc trao cho các bộ phận khác nhau của hệ thống CP thực hiện

- mqh giữa các cơ quan thực thi q` lực nn ở các nước là khác nhau Bởi vì nó liên quan đếnyếu tố văn hóa, kinh tế, trình đồ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia

- Các nhà nghiên cứu hcc căn cứ vào quyền hợp pháp đã đc ghi nhận trong hệ thống PL củaquốc gia để nghiên cứu tại sao nn lại quy định như vậy và các cqnn đc trao n vụ thực thì q`l nnphải làm gì?

Mặc dù vậy, đây là cách tiếp cận tương đối khoa học, nhưng vẫn bị chỉ trích do một số lý do

cơ ban sau:

(1) Theo cách tiếp cận này, các nhà nghiên cứu coi quản lý hành chính là một lĩnh vực hẹp và bịđộng, hoặc chỉ như công cụ hỗ trợ bên trong hệ thống luật công

(2) Chưa chú trọng tới những vấn đề liên quan tới môi trường của nền hành chính, chưa quantâm một cách đầy đủ đến hoạt động hành chính như là một sự hợp tác, phối hợp của những conngười nhằm đạt được mục tiêu chung

(3) Theo cách tiếp cận này, các nhà nghiên cứu coi quản lý hành chính là một lĩnh vực hẹp và bịđộng, hoặc như một số nhà nghiên cứu đã thừa nhận rằng hành chính chỉ là một công cụ bổ trợ bêntrong hệ thống luật công

2 Nghiên cứu hành chính công trên mối quan hệ với chính trị:

Mối quan hệ giữa hành chính công và chính trị được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Bảnchất của nhà nước cũng như bản chất của hoạt động lập pháp là tính chính trị Có hai cách tiếp cận

- Hành chính độc lập với chính trị (độc lập mang tính tương đối)

- Hành chính và chính trị không phân đôi

2.1 Hành chính độc lập với chính trị:

Những nhà nghiên cứu theo hướng này tìm kiếm cho hành chính nhà nước một vị độc lập,bên cạnh chính trị Để nhấn mạnh sự khác biệt của hành chính nhà nước với các hoạt động chínhtrị, những người theo tư tưởng này đã đưa ra một lập luận đơn giản nhưng có sức thuyết phục cao,

đó là trong quản lý nhà nước không thể theo ý chí của các đảng phái chính trị mà phải theo cáchriêng mang tính kỹ thuật

2.1.1 Woodrow Wilson (1856 – 1924)

Ông là tổng thống thứ 28 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ - người đầu tiên đặt nền móng chonghiên cứu hành chính công trong tác phẩm “Nghiên cứu về hành chính công” năm 1887 Tác

Trang 31

phẩm này được coi như dấu ấn khởi xướng một ngành khoa học mới – khoa học hành chính công,tách biệt khỏi khoa học hành chính.

Theo ông, “thực hiện Hiến pháp khó hơn là xây dựng nên nó”, điều này cũng có nghĩa làthực thi pháp luật khó hơn việc ban hành pháp luật Woodrow Wilson nhấn mạnh vai trò quản lýcủa Chính phủ và việc sử dụng lực lượng tri thức để thực hiện quản lý có hiệu quả một quốc gia.Ông cho rằng hoạt động hành chính nhà nước không chỉ có hiệu lực mà còn phải có hiệu quảkhi nền hành chính hoạt động một cách độc lập Nền hành chính chỉ hoạt động độc lập nếu nhưcác nhà hành chính được tự do tập trung vào việc thực thi chính sách do các nhà lập pháp ban hành

ra Ông cũng cho rằng việc bổ nhiệm viên chức công nên dựa vào thành tích và công trạng hơn là

sự trung thành với các đảng phái, điều này cho thấy hành chính phải trung lập với chính trị Đểhành chính độc lập với chính trị thì :

- Hành chính phải tự mình ly khai ra khỏi chính trị

- Hành chính công phải tổ chức theo mô hình riêng và có thể áp dụng chung cho mọi chế độchính trị

- Hành chính phải được tập trung quyền lực để quản lý

Giá trị dẫn dắt nền hành chính nhà nước là hiệu quả hoạt động (Đây là nguyên tắc bất di bấtdịch Nếu hoạt động không có hiệu quả, hành chính Nhà nước sẽ không tồn tại lâu dài)

Tuy nhiên, W Wilson cũng nhấn mạnh hành chính công phải thực hiện theo các ý tưởngchính trị và Hiến pháp quốc gia

2.1.2.Quan niệm của Frank Jonhson Goodnow (1859 – 1939)

Quan điểm của W Wilson cũng được nhiều học giả khác ủng hộ như Frank J.Goodnow và

Leonard D White

Frank J.Goodnow là một trong những người sáng lập và là chủ tịch đầu tiên của hiệp hội khoahọc chính trị hoa kỳ Ông là tác giả của cuốn sách “Chính trị và hành chính” xuất bản năm 1900trình bày một cách kỹ lưỡng về sự phân đôi hành chính – chính trị

Trong tác phẩm của mình F Goodnow cho rằng Nhà nước có hai chức năng chính: chức năngban hành chính sách (chức năng chính trị) và chức năng thực thi chính sách (chức năng hànhchính).Hai chức năng này được hình thành lởi sự phân chia quyền lực nhà nước cho các cơ quankhác nhau thực thi các loại quyền lực đó Ngành lập pháp được sự hỗ trợ bởi khả năng thực hiệncủa ngành tư pháp, thể hiện các ý chí của nhà nước và lập ra các chính sách; ngành hành pháp thựcthi các chính sách này một cách “vô tư” và “phi chính trị”

Những nhà nghiên cứu hành chính công theo hướng này tìm kiếm cho hành chính công một

vị trí độc lập, bên cạnh chính trị Để nhấn mạnh sự khác biệt của hành chính công với các hoạtđộng chính trị, những người có tư tưởng này đã đưa ra một lập luận đơn giản nhưng có sức lôi

Trang 32

cuốn cao, đó là trong quản lý nhà nước không thể theo ý chí của Đảng cộng hoà hay Đảng dân chủ

mà phải theo cách riêng: hành chính - kỹ thuật

Theo cách tư duy độc lập với chính trị, khoa học hành chính cần quan tâm đến trách nhiệmcủa công chức nhà nước đối với công dân, trang bị kiến thức chuyên môn, đào tạo các chuyên gia

và chuẩn bị các nhà chuyên môn cho các vị trí trong Chính phủ và công tác nghiên cứu Những nộidung đó làm cho “hành chính công” không thể là một bộ phận của khoa học chính trị mà phải tách

ra thành một lĩnh vực riêng – khoa học hành chính

2.1.3 quan niệm của Leonard D White: (1891 – 1958)

L.D là nhà nghiên cứu lỗi lạc về hành chính trong lịch sử của nước Mỹ Ông là một nhà sánglập quan trọng của khoa học hành chính, đã từng làm việc tại Đại học Chicago sau khi miễn nhiệmtrong Chính phủ của Tổng thống F.D Roosevelt Ông đã sử dụng một phương pháp nghiên cứu rấtđặc biệt đó là nghiên cứu hành chính công trong bối cảnh xã hội và chính trị riêng dưới từng thờitổng thống Mỹ

Ông là tác giả của cuốn sách “Nhập môn hành chính” xuất bản năm 1956 Có thể nói đây làcuốn sách đầu tiên chuyên sâu về lĩnh vực hành chính Trong tác phẩm này, White đã đưa ra một

số nguyên tắc quan trọng như:

- Chính trị không được xâm phạm vào hành chính

- Hành chính công phải dựa trên kết quả của việc nghiên cứu khoa học quản lý

- Hành chính công có thể trở thành một khoa học độc lập

- Sứ mệnh của hành chính là kinh tế và hiệu quả

Theo L White, hành chính công là một quá trình thống nhất Bất kỳ ở nơi nào có nó đều có

sự thống nhất về nội dung thông qua các đặc tính hành chính Vì vậy, nên nghiên cứu hành chínhcông trên nền tảng quản lý thay vì nền tảng pháp luật.Theo White, Hành chính khác với chính trị ởnhững điểm sau:

- Hành chính công là một quá trình đơn nhất, ở bất kỳ nơi nào thấy được, nó đều đồng nhất về mặtnội dung thông qua những đặc tính quan trọng của nó Vì vậy, không nhất thiết phải nghiên cứuhành chính trung ương và hành chính địa phương, mặc dù trong đó cũng có những điểm khác biệtđáng lưu ý, suy cho cùng, sự quản lý của các nhà hành chính đều có một vỏ bọc bên ngoài

- Trước hết hành chính là nghệ thuật song cũng đang có một xu hướng là chuyển nó thành mộtngành khoa học Các nhà hành chính hiện nay có rất nhiều trang thiết bị và kiến thức hệ thống để

hỗ trợ họ trong công việc Khoa học giúp đưa các phương thức hành chính vào thực tiễn công táchàng ngày và loại bỏ dần lối làm việc chỉ theo kinh nghiệm chủ nghĩa

- Hành chính đã, đang và sẽ trởi thành trọng tâm của vấn đề quản lý hiện đại của Chính phủ Vìthế, nên bắt đầu nghiên cứu về hành chính trên cơ sở của quản lý hơn là nền tảng pháp luật Việcbắt đầu nghiên cứu pháp luật làm cho hành chính chú trọng nhiều hơn vào các phương diện pháp

lý và hình thức của nó so với các đặc điểm mang tính tác nghiệp Pháp luật, nhất là hệ thống luậthành chính có lẽ có ảnh hưởng nhiều nhất và qui định những giới hạn đối với nền hành chính

Trang 33

Các lý thuyết này đã tạo nên sự phân biệt mạnh mẽ giữa hành chính và chính trị Sự phânnbiệt này cũng đã được thể hiện trong chương trình đào tạo tại các trường tổng hợp ở Mỹ: trong khicác nhà hành chính học giảng dạy về lý thuyết tổ chức, lập ngân sách, và những vấn đề về nhân sựthì các nhà chính trị lại giảng dạy về chính phủ, về các tiến trình lập pháp, hành vi tư pháp, cácchính sách của nhà nước và chính quyền địa phương.

Nhóm lý thuyết này cũng hướng đến sự tách hành chính công ra khỏi lĩnh vực quản trị doanhnghiệp – một lĩnh vực đi sau vào bản chất của các tổ chức Sự phân biệt giữa lý thuyết và thực tếtrong hành chính công cũng đã đưa đến những đóng góp không nhỏ của hành chính công trongviệc tìm ra nguyên tắc của hành chính

2.2 Hành chính và chính trị không phân đôi:

Trong khi có những người tiếp cận hành chính và chính trị độc lập như là hai ngành khoa họcthì một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng sự độc lập của hành chính đối với chính trị chỉ mangtính tương đối Những người theo tư duy này không thừa nhận sự tách biệt hành chính với chínhtrị Họ cho rằng hành chính và chính trị có cùng nguồn gốc, hành chính phụ thuộc vào chính trịhay chính trị là nguồn gốc của hành chính Họ không thừa nhận hành chính là một lĩnh vực khoahọc độc lập với khoa học chính trị

2.2.1 Fritz Morstei Marx:

Cuốn sách “Các yếu tố của hành chính công” do Fritz Morstei Marx chủ biên ra đời năm

1947 là một trong những tác phẩm chính nghi vấn giả thuyết sự phân đôi giữa chính trị và hànhchính Tất cả 14 bài báo của cuốn sách do các nhà thực tiễn viết đã chỉ ra rằng cái gọi là “hànhchính độc lập” trên thực tế lại mang nặng tính chính trị Người ta đã đặt ra một số câu hỏi sau:

- Liệu một quyết định mang tính kỹ thuật về ngân sách và nhân sự có thật là khách quan và phichính trị không hay la nó mang nặng tính chủ quan và chính trị?

- Liệu có phải lúc nào cũng có thể phân biệt rõ ràng sự khác nhau giữa hành chính và chính trị haykhông?

- Liệu việc phân biệt rõ ràng hành chính và chính trị lúc nào cũng cần thiết và có giá trị haykhông?

- Liệu cơ sở của việc phân đôi chính trị và hành chính đã chín muồi hay chưa?

2.2.2 Allen Schick:

Trong cuốn “Chấn thương của quan điểm chính trị: Hành chính công những năm 60” AllenSchick khẳng định rằng “hành chính” và “chính trị” là những gì hoàn toàn không thể tách rời nhauđược Ông khẳng định hành chính công luôn phục vụ quyền lực và có quyền lực, rằng sự phục vụquyên lực là để giúp giới quyền lực giữ vững sự cai trị có hiệu quả hơn Theo ông, tất cả mọingười đều có lợi từ sự cai trị tốt của Chính phủ

Ông cho rằng sự phân đôi thực ra lại đưa ra một khuôn khổ để đưa chúng lại gần nhau vàchính và chính sự phân đôi giữa hành chính và chính trị đã tạo nên uwy thế cho hành chính đốivới chính trị: hiệu quả thắng sự đại diện, sự hợp lý thắng quyền lợi cá nhân,… Cuối cùng, sự phân

Trang 34

đôi đã bị phải đối không phải vì nó tách hành chính ra khỏi chính trị mà vì nó hợp nhất chúng theocách vi phạm các chuẩn mực đa nguyên của các khoa học sau chiến tranh.

2.2.3 Paul Appleby (1891 – 1963)

Paul Appleby là nhà hành chính xuất chúng trong thời kỳ chính sách kinh tế mới và từng làhiệu trưởng của trường Maxwell tại Đại học Syracuse, Mỹ Ông đã khẳng định việc thừa nhận cáchoạt động chính phủ mang tính phi chính trị là hoàn toàn trái với kinh nghiệm thực tiễn của nướcMỹ

Trong cuốn “ nền dân chủ vĩ đại” xuất bản năm 1945, ông đã so sánh hoạt động của chínhphủ với doanh nghiệp và ông đã làm đảo lộn hoàn toàn sự phân định ranh giới áp đặt giữa hànhchính và chính trị Ồng tuyên bố sẽ là hoang tưởng nếu cho rằng hành chính là riêng rẽ và có thểkhông biết lý do tại sao bị tách khỏi chính trị Tác phẩm “ Nền dân chủ vĩ đại” của Appleby đượccoi là lời “ cáo phó” cho sự phân tách giữa chính trị và hành chính khi ông đưa ra một tiền đề hếtsức cô đọng và khái quát là “ chính phủ là khác biệt vì chính phủ là chính trị”

Nhiều nhà cải cách tiến bộ thời kỳ chính sách kinh tế mới ở Mỹ cũng cho rằng sự dính líu,can thiệp của chính trị vào hành chính là tốt vì sự can thiệp này sẽ giúp thực hiện vai trò kiềm chế,điều tiết và hạn chế sự chuyên quyền của bộ máy hành chính

3 Các lý thuyết nghiên cứu các nguyên tắc cho hoạt động của hành chính công:\

Một số tác gia tiêu biểu nghiên cứu theo xu hướng này là Marry Parker Follet với tác phẩm

“Kinh nghiệm sáng tạo” (1924), “ Hành chính chung và trong doanh nghiệp” của Henrry Fayol(1930) và Các nguyên tắc của tổ chức của Mooney và AlanC.Reiley (1939), Max Weber với xâydựng các nguyên tắc cho bộ máy thư lại.\

Tất cả các tác phẩm trên đều đưa ra những nguyên tắc hành chính nhất định Vì thế, các nhà

lý thuyết tổ chức đã gãn cho trường phái này cái tên “quản lý hành chính” vì nó chỉ chú trọng đếncác vị trí quản lý cấp cao nhất trong thang bậc quản lý của các tổ chức

3.1 Henrry Fayol (1841 – 1925):

henry Fayol sinh ra trong một gia đình tiểu tư sản Pháp, là người đặt nền móng cho lý thuyết

tổ chức cổ điển Ông tốt nghiệp kỹ sư mỏ và trải qua nhiều vị trí trong ngành khai thác mỏ Năm

1918 ông từ giã ngành khai thác mỏ để tập trung nghiên cứu về quản lý hành chính tại Trung tâmnghiên cứu do ông sáng lập Tác phẩm xuất sắc của ông là cuốn “ Hành chính chung và trongdoanh nghiệp” xuất bản năm 1915 Ông được đánh giá là cha đẻ của một trong những thuyết quản

lý hiện đại nhất – thuyết quản lý hành chính

Lần đầu tiên khi nghiên cứu các chức năng quản lý cấp cao trong các tổ chức ông đã đưa ra

14 nguyên tắc quản lý mà cho đến nay chúng vẫn còn được sử dụng rộng rãi với cái tên mà chínhông đặt cho chúng – những nguyên tắc quản lý hành chính Theo ông, khi nghiên cứu các chứucnăng quản lý cấp cao trong tổ chức, cần quan tâm tớ 14 nguyên tắc quản lý hành chính:

- Phân chia công việc: sự phân chia công việc, đảm bảo sự chuyên môn hóa là rất cần thiết Nó

đảm bảo công việc được hoàn thành nhanh chóng và có chất lượng cao

Trang 35

- Thẩm quyền và trách nhiệm: có quan hệ mật thiết với nhau Quyền hạn phải gắn liền với trách

nhiệm Giao trách nhiệm mà không giao quyền thì công việc không hoàn thành được Có quyềnquyết định mà không chịu trách nhiệm về quyết định đã đưa ra thì sẽ dẫn tới thói vô trách nhiệm

và hậu quả xấu

- Kỷ luật: là sự tôn trọng những thỏa thuận đạt đến sự tuân lệnh, tính chuyên cần Fayol tuyên bố

rằng kỷ luật đòi hỏi có những người lãnh đạo tốt ở mọi cấp, chất lượng và hiệu quả cao trong kinhdoanh

- Thống nhất chỉ huy: Nguyên tắc này có nghĩa là nhân viên chỉ được nhận mệnh lệnh từ một

thượng cấp mà thôi

- Thống nhất điều khiển: theo nguyên tắc này thì một nhóm hoạt động có cùng một mục tiêu

phải có người đứng đầu và phải có kế hoạch thống nhất Nguyên tắc này có liên quan đến đoànnhóm hơn là đối với cá nhân, nhân viên như ở nguyên tắc trên

- Cá nhân lợi thuộc lợi ích chung: nguyên tắc này tự nó đã giải thích rõ Tuy nhiên, theo H.

Fayol khi có sự khác biệt không thống nhất giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung thì cấp quản trịphải hòa giải hợp lý

- Thù lao: cách trả công phải công bằng, hợp lý và mang lại sự thỏa mãn tối đa có thể cho chủ và

thợ

- Tập trung và phân tán: nguyên tắc này của H Fayol nói lên mức độ quan hệ và thẩm quyền

giữa tập trung và phân tán Chuẩn mực của mối quan hệ này phải dẫn đến 'năng suất toàn bộ caonhất'

- Cấp bậc, tuyến hay 'xích lãnh đạo': trong quản trị phải có 'xích lãnh đạo' từ cấp cao nhất đến

cấp thấp nhất Phải đảm bảo nguyên tắc, không được đi trật khỏi đường dây Sự vận dụng phải linhhoạt, không cứng nhắc

- Trật tự hay sắp xếp người và vật vào đúng chỗ cần thiết: H.Fayol cho rằng vật nào, người

nào cũng có chỗ riêng của nó Phải đặt cho đúng vật nào, người nào vào chỗ nấy Đây là mộtnguyên tắc quan trọng trong việc sắp xếp, sử dụng người và dụng cụ, máy móc

- Công bằng: sự công bằng trong cách đối xử với cấp dưới và nhân viên cũng như lòng tử tế đối

với họ là sự cần thiết tạo nên lòng trung thành và sự tận tụy của nhân viên đối với xí nghiệp

- Ổn định nhiệm vụ: sự ổn định nhiệm vụ là nguyên tắc cần thiết trong quản trị Nó đảm bảo cho

sự hoạt động với mục tiêu rõ ràng và có điều kiện để chuẩn bị chu đáo Sự thay đổi luôn luônkhông cần thiết và thiếu căn cứ tạo nên những nguy hiểm do thiếu ổn định kèm theo những lãngphí và phí tổn to lớn

- Sáng kiến: sáng kiến được quan niệm là sự nghĩ ra và thực hiện công việc một cách sáng tạo.

Fayol khuyên các nhà quản trị nên 'hy sinh lòng tự kiêu cá nhân' để cho phép cấp dưới thực hiệnsáng kiến của họ Điều này rất có lợi cho công việc

- Tinh thần đoàn kết: nguyên tắc này nói rằng đoàn kết luôn tạo ra sức mạnh Sự thống nhất, sự

đoàn kết nhất trí trong cộng đồng mang lại những hiệu quả to lớn

3.2 nguyên tắc quản lý theo khoa học của Frederick W Taylor (1856 – 1915)

Trang 36

F.W Taylor sinh ra trong một gia đình luật sư giàu có ở Mỹ Ông làm việc trong lĩnh vực cơkhí, có nhiều sáng kiến và trải qua nhiều vị trí quản lý quan trọng trong các nhà máy Ông là tácgiả của nhiều bài viết về quản lý được thuyết trình và đăng trên tạp chí của hiệp hội cơ khí Từnăm 1898 – 1901, ông làm việc cho công ty thép Bethlehem Sau đó, ông thôi việc và dành phầnthời gian còn lại để truyền bá thuyết quản lý theo khoa học Taylor được lịch sử thừa nhận là “ cha

đẻ của thuyết quản lý theo khoa học” Ông vừa là nhà khoa học lý thuyết đồng thời là nhà quản lýthực tiễn

Với tác phẩm nổi tiếng “Các nguyên tắc quản lý khoa học”, ông đã phát triển các nguyên tắchiệu quả để tối đa hoá hiệu quả của quản lý.Theo Taylor, những nguyên tắc quản lý khoa học giúpcho các tổ chức tăng cường hiệu quả:

- Phát triển một chuỗi hành động cho mỗi khâu công việc (Phân công lao động);

- Tăng cường chuyên môn hoá;

- Lựa chọn một cách khoa học, đào tạo và phát triển nhân viên;

- Lập kế hoạch và phân công công việc;

- Thiết lập các phương pháp và thời gian chuẩn mực cho mỗi nhiệm vụ;

- Sử dụng hệ thống lương bổng để thúc đẩy, khuyến khích người lao động

3.3 ngyên tắc bộ máy thư lại của Max Weber: (1864 – 1920):

Max Weber là nhà kinh tế chính trị học và xã hội học người Đức, được nhìn nhận là mộttrong 4 người sáng lập ngành xã hội học và quản trị công đương đại Ông nghiên cứu nhiều lĩnhvực khác nhau, tiêu biểu là xã hội học, chính trị học, kinh tế học, lịch sử và tôn giáo

Trong tác phẩm “ kinh tế và xã hội” năm 1922 Ông đã đưa ra các nguyên tắc để thiết lập bộmáy thư lại hay là hành chính công truyền thống Max Weber đã khẳng định vai trò quan trọngtrong xã hội của các tổ chức thư lại quan liêu với chức năng quản lý xã hội Theo ông, một tổ chứcđược quản lý có hiệu quả phải tuân thủ các nguyên tắc hành chính sau:

- Sắp xếp các cơ quan theo hệ thống thứ bậc, cơ cấu hành chính của bộ máy thư lại là theo hìnhtháp, mỗi cơ quan cấp dưới chịu sự kiểm soát của cơ quan cao hơn

- Phân công lao động hợp lý và có hệ thống, mỗi cơ quan hay chức vụ có phạm vi thẩm quyền xácđịnh

- Các quy tắc được viết chính thức thành văn bản và các thể thức được ứng dụng một cách nhấtquán Những quy tắc này được thực hiện và tuân thủ nghiêm ngặt, phù hợp với các quy định củapháp luật của Nhà nước độc quyền nắm pháp luật và có đầy đủ các lực lượng cưỡng chế trong tay

- Tính chất vô nhân xưng: các viên chức lệ thuộc vào một trình tự vô nhân xưng và các tiêu chíthực hiện được quy định trong các văn bản chính thức

- Tính trung lập là biểu hiện đặc trưng của người viên chức trong bộ máy thư lại Các viên chứcđược tuyển lựa và đề bạt thông qua chức nghiệp trên cơ sở năng lực, chuyên môn của họ, khôngxem xét tới các mặt khác như như địa vị xã hội, lòng trung thành hay sự ủng hộ của họ đối với cácđảng phái chính trị

4 Các lý thuyết nghiên cứu của chức năng hành chính nhà nước:

Trang 37

Một số nhà khoa học quản lý đã nghiên cứu các chức năng quản lý nói chung và chức năngcủa hành chính nhà nước nói riêng, tiêu biểu bao gồm: F.W Taylor; Henry Fayol; LutherH.Gulick và Lyndall Urwick; Garson và Overman.

4.1 F.W Taylor

Taylor đã xem xét hoạt động quản lý qua 2 chức năng cơ bản Thứ nhất là chức năng phân

tích, phân chia công việc để có chuyên môn hóa các thao tác, động tác nhằm đạt năng suất tối đa.Thứ hai là chức năng kiểm soát chặt chẽ buộc mọi người đều phải làm việc chăm chỉ trong mộtdây chuyền sản xuất liên tục

4.2 Henry Fayol

Là người xây dựng một cách có hệ thống các chức năng quản lý được áp dụng vào lĩnh vựchành chính nhà nước Ông chia hoạt động sản xuất công nghiệp thành 6 nhóm hoạt động cơ bản:

Kỹ thuật ( sản xuất, chế tạo, chế biến); Thương mại (mua, bán, trao đổi); Tài chính (huy động vốn

và sử dụng vốn); Bảo vệ ( bảo vệ người và tài sản); Kế toán ( kiểm kê tài sản, lập bảng công nợ,tính toán giá thành, thống kê,…) và hành chính Chức năng hành chính là một trong những chứcnăng quan trọng của sản xuất kinh doanh và bao gồm 5 chức năng: kế hoạch, tổ chức, chỉ huy,phối hợp và kiểm tra

4.3 Luther H Gulick và Lyndall Urwick t

Đã nghiên cứu lý thuyết về chức năng hành chính trong cuốn sách “ những bài viết về khoa học hành chính” năm 1973 Hai ông đã đưa ra quy định hành chính, hay còn gọi là chức năng nội

bộ của hành chính nhà nước theo mô hình POSDCoRB (1)  (2) (3) (4)(5)(6)(7)

4.4 Lý thuyết nghiên cứu về chức năng hành chính nhà nước của Garson và Oveman:

Năm 1983, hai nhà khoa học trên đề xuất một cụm từ mới “PAPHIER” coi như một bước tiếntriển về chức năng hành chính để chuyển nền hành chính công truyền thống sang nền hành chínhcông hiện đại, nền hành chính phát triển: (1)(2)(3)(4)(5)

(1) Phân tích chính sách (Policy Analysic) – PA

(2) Quản lý tài chính (Financial Management) – F

(3) Quản lý nhân sự (Human Resource Management) – H

(4) Quản lý thông tin (Information Management) – IM

(5) Quan hệ bên ngoài (External Relation) – ER

Trang 38

Câu 7 Trình bày các mô hình hcnn tiêu biểu

I Mô hình hcc truyền thống

Mô hình hành chính công truyền thống đc xây dựng trên cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữactri và hc của t.w.wilson ,nguyên tắc thiết lập bộ máy quan liêu của Max weber và nguyên tắcquản lý theo khoa học của w.Taylor dây được coi là mô hình hành chính lâu đời nhất và là lýthuyết quản lý khu vực công thành công nhất

1 mô hình hành chính công truyền thống có những đặc trưng sau:

- Phân công hóa và chuyên môn hóa sâu sắc

-Nhân sự trong bộ máy hcnn theo chế độ làm việc suốt đời

- Viên chức nhà nước hoạt động chuyên nghiệp và hoạt động phi chính trị

- Bộ máy hc là một hệ thống thứ bậc chặt chẽ và thông suốt từ trên xuống dưới

- Người thực thi công vụ làm việc tập trung vào sự chính xác ,thực hiện đúng quy trình,quy tắcđịnh sẵn

- Quá trình thực hiện công việc đúng đắn

- Không thiên vị

- Qlxh bằng pl

2 ưu điểm: thủ tục hcnn rất chặt chẽ,chính xác; đảm bảo hiệu lực hành chính.

3 nhược điểm: tính quan liêu, cứng nhắc cao do hệ thống hành chính được thiết lập theo hệ thống

thứ bậc, chặt chẽ, nhiều tầng nấc và công kềnh; hiệu quả quản lý thấp do quá quan tâm đến quátrình làm việc; quan tâm nhiều đến yếu tố đầu vào, ít quan tâm đến đầu ra; hạn chế tính năng động,sáng tạo, linh hoạt của người lao động

II Mô hình qlc mới

1 Hoàn cảnh ra đời

Mô hình quản lý công mới(New Public Management) là cụm từ của nhóm các xu hướng cải

cách hành chính thuộc chương trình cải cách của các nước OECD những năm 1970 Người đưa ra

ý tưởng này là bà Magaret Thatcher – Thủ tướng Anh và Tổng thống Ronald Reagan của Mỹ Môhình quản lý công mới tiếp tục được bổ sung, phát triển cho đến ngày nay

Có thể nhận thấy một trong những xu hướng chung trên thế giới hiện nay là làm thế nào xâydựng một chính phủ gọn nhẹ để có thể hoạt động một cách nhanh nhạy hơn và hiệu quả hơn nhằmtăng năng lực cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa Xu hướng này ở các nước phát triển thường

Trang 39

được thể hiện qua thuật ngữ “Quản lý công mới” (Anh), “Tái tạo lại chính phủ” (Mỹ), “Mô hìnhquản lý mới” (Cộng hòa liên bang Đức), “Hành chính công định hướng hiệu quả” (Thụy Sĩ),…Cuộc cải cách này không chỉ mang ý nghĩa của một cuộc thay đổi nội bộ mà còn phản ánh một xuhướng mới trong hoạt động của nhà nước: nền hành chính không chỉ làm chức năng “cai trị” màchuyển dần sang chức năng “phục vụ”, cung cấp các dịch vụ công cho xã hội.

Có thể nhận thấy những nguyên nhân chủ yếu đưa tới cải cách hành chính ở các nước pháttriển gồm:

Một là, khủng hoảng tài chính công ở hầu hết các nước phát triển cuối những năm 1970, đầu

những năm 1980 Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, yêu cầu tái thiết nền kinh tế và tăng cườngvai trò của nhà nước đòi hỏi chính phủ các nước phát triển phải không ngừng mở rộng chức năngcủa mình khiến cho bộ máy nhà nước ngày càng phình to hơn Biên chế tăng tạo áp lực cho ngânsách nhà nước Suy thoái kinh tế và việc mở rộng sự tham gia của nhà nước trong việc cung ứngcác dịch vụ công đã đẩy hầu hết các nước phát triển vào cuộc khủng hoảng tài chính công Thâmhụt ngân sách đặt các quốc gia trước lựa chọn: hoặc là xây dựng bộ máy nhà nước gọn nhẹ, giảmbớt số lượng các dịch vụ công do nhà nước cung cấp, hoặc là tăng thuế Việc xây dựng một nhànước gọn nhẹ hơn, hoạt động năng động hơn và bảo đảm vai trò của “người định hướng” chứkhông phải “nhà cung cấp” của nhà nước là một đòi hỏi khách quan

Hai là,sự tác động của cách mạng khoa học và công nghệ Sự phát triển của khoa học – công

nghệ đã tạo nên những thay đổi vượt bậc trong đời sống xã hội và có ảnh hưởng tới mọi mặt củađời sống con người, trong đó có hành chính công Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học – côngnghệ, nhất là trong lĩnh vực công nghệ thông tin khiến cho hoạt động hành chính ngày càng đi theohướng hiện đại Tất cả các cơ quan nhà nước đều được đưa lên mạng; nhiều thủ tục hành chínhđược giải quyết qua mạng điện tử; công dân, tổ chức muốn tìm hiểu, tra cứu các chế độ, chính sách

và thủ tục hành chính đều có thể tìm thông tin trên mạng… Việc cung cấp thông tin cho công dân

và xã hội cũng trở nên dễ dàng hơn, đồng thời nó cũng tạo áp lực đối với các nhà quản lý hànhchính Họ phải được cập nhật những kiến thức khoa học – công nghệ mới, bổ sung các kiến thức

về công nghệ thông tin

Việc áp dụng khoa học – kỹ thuật cũng đòi hỏi nhà quản lý phải bố trí lại lực lượng lao độngphù hợp, có chất lượng Ví dụ, ngành hải quan ở Việt Nam trong những năm gần đây đã thực hiện

kê khai thủ tục hải quan điện tử nên đã thông quan nhanh hơn, hạn chế phiền hà, sách nhiễu từphía cán bộ hải quan; kiểm tra hành hóa tự động, không cần mở côngtơnơ như trước đây nên tiếtkiệm được thời gian và các chi phí khác

Ba là,quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế của các quốc gia Toàn cầu hóa và hội nhập

quốc tế có ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự phát triển kinh tế - xã hội của hầu hết các quốc gia trên thếgiới Bắt đầu và ảnh hưởng mạnh mẽ nhất là trong lĩnh vực kinh tế Sau đó, toàn cầu hóa đã lanrộng ra hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội Sau khi kết thúc Chiến tranh lạnh, việc hầu hếtcác quốc gia trên thế giới chuyển sang xây dựng nền kinh tế thị trường đã thúc đẩy một làn sóngtoàn cầu hóa mới Nhờ có toàn cầu hóa mà các quốc gia trở nên gần gũi nhau hơn, quan hệ với

Trang 40

nhau nhiều hơn, việc chuyển giao tri thức, kinh nghiệm cũng trở nên đơn giản và nhanh chónghơn Sự tăng cường liên kết giữa các quốc gia, khu vực đòi hỏi chính phủ các nước phải trở nênnhanh nhạy hơn, hoạt động có tính cạnh tranh cao hơn, pháp luật phải phù hợp với “luật chơi”chung.

Bốn là,các nhược điểm của mô hình hành chính công truyền thống Mô hình hành công chính

truyền thống với những đặc điểm cơ bản của mô hình bộ máy thư lại mà Max Weber đã đề xuấtvào những năm 20 của thế kỷ XX mặc dù đã khẳng định được những giá trị nhất định, thể hiệnnhiều ưu điểm nhưng hiện nay đang bộc lộ nhiều nhược điểm: quá cồng kềnh, quan liêu, lãng phí,đội ngũ công chức không được khuyến khích đầy đủ… Bộ máy này đang ngày càng tỏ ra khôngcòn thích hợp với xu thế phát triển của thế giới hiện đại, khi trình độ dân trí và yêu cầu dân chủngày một cao hơn Việc thay thế mô hình quản lý công truyền thống bằng mô hình quản lý côngmới là một xu thế tất yếu nhằm hướng nhiều hơn tới mục tiêu nâng cao chất lượng và hiệu quảhoạt động của bộ máy nhà nước

Năm là, đòi hỏi của người dân đối với chất lượng hoạt động của nền hành chính nhà nước

ngày càng cao hơn

Sáu là, xu hướng dân chủ hóa đời sống xã hội do trình độ daann trí được nâng cao, đòi hỏinhà nước phải điều chỉnh nền hành chính nhà nước phải thích ứng, chuyển từ hành chính cai trịsang hành chính phục vụ

2 các xu hướng mang tính đặc trưng của mô hình qlc mới

mục tiêu của mô hình quản lý công mới là làm tăng hiệu quả hoạt động do đó các nhà quản lýphải tính toán, dự toán, sáng tạo và năng động để đạt được mục tiêu Họ không quan tâm nhiềuđến chu trình, cách thức tiến hành mà quan tâm trước hết đến mục tiêu cần đạt được, cụ thể là hiệuquả đo đếm được bằng một hệ thống chỉ tiêu đánh giá, so sánh giữa kết quả và chi phí Bên cạnhhiệu quả về mặt kinh tế, thước đo để đánh giá hoạt động quản lý hành chính còn được đo bằnghiệu quả xã hội

xuất phát từ mục tiêu làm tăng hiệu quả hoạt động của hành chính nhà nước, các nước ápdụng mô hình NPM đã tìm kiếm các xu hướng cải cách khác nhau, nhưng tựu chung lại có các xuhướng phổ biến sau:

2.1 đơn giản hóa hệ thống quy định, quy tắc.

nền hành chính công truyền thống đòi hỏi công chức phải tuân thủ một cách cứng nhắc vànghiêm ngặt các quy định Còn trong mô hình quản lý công mới, cơ chế hoạt động của hành chínhnhà nước mền dẻo hơn, linh hoạt hơn, dễ thích nghi với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội mới.các nhà nước cần đơn giản hóa các thể chế, các quy định, thủ tục để người dân thực sự hiểu,

có thể thực hiện đúng các quy định và các cơ quan hành chính nhà nước cũng có thể dễ dàng ápdụng trong thực tế Để đơn giản hóa các quy định, thủ tục cần giảm số lượng các quy định, quytắc, tránh gây phiền hà cho người dân lẫn người thực thi công vụ và nâng cao chất lượng các vănbản quy phạp pháp luật

2.2 đẩy mạnh phân quyền

Ngày đăng: 14/05/2014, 09:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w