1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các truyền thuyết, huyền thoại liên quan đến di tích lịch sử và danh thắng ở phú yên

166 2,9K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Truyền Thuyết, Huyền Thoại Liên Quan Đến Di Tích Lịch Sử Và Danh Lam Thắng Cảnh Ở Phú Yên
Tác giả Đào Minh Hiệp, Đoàn Việt Hùng
Trường học Sở Khoa Học Và Công Nghệ Phú Yên
Thể loại Báo cáo tổng kết
Năm xuất bản 2007
Thành phố Phú Yên
Định dạng
Số trang 166
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như đã nêu ở trên, đối tượng nghiên cứu của đề tài là những câu chuyện kể dân gian dưới hình thức truyền thuyết, huyền thoại liên quan đến các di tích lịch sử danh thắng Phú Yên... -Nhiệ

Trang 1

Sở khoa học và công nghệ phú yên

báo cáo tổng kết đề tài cấp bộ

các truyền thuyết, huyền thoại liên quan

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI GIỚI THIỆU …… 5

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG TRONG NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 7

I Tính cấp thiết của đề tài 7

II Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài 8

III Mục đích nghiên cứu của đề tài 9

IV Đóng góp của đề tài 10

V Phương pháp nghiên cứu 11

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA LÝ, LỊCH SỬ VÀ VĂN HÓA VÙNG ĐẤT PHÚ YÊN 13

I Vị trí địa lý, địa hình của tỉnh Phú Yên 13

I.1-Vị trí địa lý tỉnh Phú Yên 13

I.2-Địa hình tỉnh Phú Yên 13

II Lịch sử Phú Yên từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX 15

II.1-Lịch sử Phú Yên từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII 15

II.2-Lịch sử Phú Yên trong phong trào chống thực dân Pháp ở thế kỷ XIX……….18

II.3-Lịch sử Phú Yên trong phong trào chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ở thế kỷ XX 19

III Đặc điểm văn hoá vùng đất Phú Yên 22

III.1-Văn hóa ẩm thực 22

III.2-Trang phục 23

III.3-Nhà ở 23

III.4-Phong tục tập quán 24

III.5-Tín ngưỡng 24

III.6-Lễ hội 25

III.7-Tôn giáo 25

III.8-Văn nghệ dân gian, văn học 26

III.9-Nghệ thuật 27

III.10-Trò chơi dân gian 27

III.11-Di tích lịch sử, văn hóa và danh thắng 28

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỂ XÁC ĐỊNH CÁC TRUYỀN THUYẾT HUYỀN THOẠI TRÊN ĐẤT PHÚ YÊN 31

I Khái niệm về truyền thuyết và huyền thoại 31

I.1-Truyền thuyết 31

I.2-Huyền thoại 32

I.3-Những điểm giống nhau và khác nhau giữa truyền thuyết và huyền thoại 33

Trang 3

I.3.1-Điểm giống nhau giữa truyền thuyết và huyền thoại 33

I.3.2-Điểm khác nhau giữa truyền thuyết và huyền thoại 33

II Truyền thuyết, huyền thoại với những thể loại sáng tác dân gian khác 34

II.1-So sánh giữa truyền thuyết với huyền sử và dã sử 35

II.2-So sánh giữa huyền thoại với thần thoại và cổ tích 36

III Khái quát đặc điểm, diện mạo truyền thuyết, huyền thoại ở Phú Yên 37

III.1-Phân loại các truyền thuyết, huyền thoại liên quan đến di tích lịch sử và danh thắng ở Phú Yên 37

III.1.1-Số lượng các truyền thuyết, huyền thoại được phân theo nhóm………….… 38

III.1.2-Đặc điểm nội dung của các nhóm truyền thuyết, huyền thoại 38

III.2-Hình thức thể hiện của truyện truyền thuyết, huyền thoại 39

III.3-So sánh, đối chiếu với các dị bản 40

III.3.1-Số lượng các dị bản 40

III.3.2-Chủ đề của các dị bản 41

III.3.3-Nội dung của các dị bản 41

IV Truyền thuyết, huyền thoại ở Phú Yên với mối quan hệ trong khu vực Nam Trung bộ ……… 42

IV.1-Truyền thuyết ở Phú Yên với mối quan hệ trong khu vực 43

IV.2-Huyền thoại ở Phú Yên với mối quan hệ trong khu vực 44

Chương 3: TRUYỀN THUYẾT, HUYỀN THOẠI LIÊN QUAN ĐẾN DI TÍCH LỊCH SỬ VÀ DANH THẮNG Ở PHÚ YÊN 45

I Truyền thuyết, huyền thoại trên vùng đất Sông Cầu……… 45

1-Tiếng khóc trên đèo Cù Mông 49

2-Truyền thuyết gò Cà và vực Linh Thiêng 51

3-Huyền thoại về tên gọi đèo Cù Mông 52

4-Chiếc bánh nậm của Nữ Nhi Phù Quốc ở đầm Cù Mông 53

5-Tiên nữ ở bãi Tiên 55

6-Truyền thuyết về dấu chân Nguyễn Ánh ở vũng La 57

7-Bàn cờ ở gành Tướng 57

8-Truyền thuyết về hòn Bồ ở vũng Lắm 58

9-Hoàng tử của Long Vương lạc vào cù lao Ông Xá 60

10-Chuyện Cao Biền chém ngựa ở gành Cây Sung 61

II Truyền thuyết, huyền thoại trên vùng đất Tuy An 62

1-Đầm Ô Loan 64

2-Huyền thoại về tên gọi đầm Ô Loan 65

3-Chuyện trâu thần 66

4-Lã Vọng câu cá 66

5-Cao Biền trấn yểm 67

6-Mả Cao Biền ở Tuy An 67

7-Ngôi miếu thờ bà Trang 69

8-Gành Đá Đĩa và huyền thoại về kho báu biến thành đá 71

Trang 4

9-Chùa Lầu và thiên tình sử 73

10-Xoài Đá Trắng ở chùa Từ Quang 75

III Truyền thuyết, huyền thoại trên vùng đất Tuy Hoà ………… 77

1-Huyền thoại về người khổng lồ dời núi lấp biển 78

2-Chuyện chùa Hang trên núi Chóp Chài và Trại Cháy ở Vân Hoà 79

3-Núi Nhạn Sông Đà và chuyện xây tháp 81

4-Chuyện hai con rắn thần trên sông Đà Rằng 84

5-Huyền thoại Đá Bàn 85

6-Huyền thoại hang Hổ và hang Chùa 86

7-Long Thuỷ-chuyện rồng phun nước cứu dân 88

8-Huyền thoại về các hồn ma ở chợ Ma Liên 90

9-Truyền thuyết về ngôi chùa cổ trên hòn Chùa 91

IV Truyền thuyết, huyền thoại trên vùng đất Đông Hoà 92

1-Truyền thuyết về núi Đá Bia 94

2-Truyền thuyết về hồ Hảo Sơn 97

3-Mũi Điện và huyền thoại về quả trứng vàng của Đông Hải Long Phi 97

4-Bàn cờ tiên ở Đập Hàn 101

5-Ngôi miếu thờ bà Trang ở làng Hảo Sơn 102

V Truyền thuyết, huyền thoại trên vùng đất Tây Hoà 103

1-Huyền thoại vực Phun và sông Bánh Lái 104

2-Tiên nữ bàu Hương 107

3-Vườn chè trên núi Chúa 110

4-Núi Mẹ Bồng Con 111

VI Truyền thuyết, huyền thoại trên vùng đất Phú Hoà 114

1-Thành Hồ và thần Cao Các 115

2-Ông Ruộng và đồng Bầu Sấu 117

3-Núi Sầm và con trâu nước 118

4-Sự tích làng Cẩm Thạch hay chuyện bà Đào Thị và bầy rắn 119

VII Truyền thuyết, huyền thoại trên vùng đất Sơn Hoà 120

1-Hòn Ông và chiếc đầu Chi Lới 121

2-Dấu chân Y Rít ở bến nước buôn Chơ 123

3-Ông Chăm Mùng và con thuồng luồng 126

4-Truông Bà Viên 129

5-Huyền thoại sông Ba 130

6-Huyền thoại về chiếc gươm thần trên sông Ba 131

7-Huyền thoại về sông anh sông em 132

8-Huyền thoại về con rồng lửa của người Kinh 132

9-Huyền thoại về phụ lưu Ea Talui (Cà Lúi) 133

10-Huyền thoại Chơ Rấk lấp sông Ba 133

11-Suối Chồng Mâm 133

VIII Truyền thuyết, huyền thoại trên vùng đất Đồng Xuân 134

1-Huyền thoại về sông Kỳ Lộ và chiếc đầu vua Lới 136

2-Ấm nước nóng của vợ Chi Lới và suối Triêm Đức 136

Trang 5

3-Huyền thoại trên núi La Hiên 137

IX Truyền thuyết, huyền thoại trên vùng đất Sông Hinh 138

1-Chuyện tình bên thác H’Ly 139

2-Huyền thoại về con lươn ở buôn Đức 141

3-Nàng H’Pia, H’Lúi và con voi rừng 142

4-Sự tích hang Cồ 144

Kết luận: Ý NGHĨA VĂN HOÁ, XÃ HỘI VÀ GIÁO DỤC CỦA CÁC TRUYỀN THUYẾT VÀ HUYỀN THOẠI TRÊN VÙNG ĐẤT PHÚ YÊN. NHỮNG ĐÓNG GÓP VÀ KIẾN NGHỊ 146

Phụ lục 1: MỘT SỐ DI TÍCH LỊCH SỬ, DÁNH THẮNG CHƯA PHÁT HIỆN TRUYỀN THUYẾT, HUYỆN THOẠI 150

1-Vịnh Xuân Đài 150

2-Từ vũng Dông đến vũng Lắm 152

3-Vũng Rô 153

4-Đèo Cả 155

5-Đập Đồng Cam 157

Phụ lục 2: BẢNG PHÂN LOẠI CÁC TRUYỀN THUYẾT, HUYỀN THOẠI 159

Phụ lục 3: BẢN ĐỒ VỊ TRÍ DI TÍCH VÀ TRUYỀN THUYẾT, HUYỀN THOẠI 162

Tài liệu tham khảo 163

Trang 6

LỜI GIỚI THIỆU

Phú Yên là một tỉnh nằm ở duyên hải Nam Trung bộ, phía đông giáp biển Đông, phía tây giáp tỉnh Gia Lai và tỉnh Đắc Lắc, phía nam giáp tỉnh Khánh Hòa, phía bắc giáp tỉnh Bình Định Diện tích tự nhiên là 5.045km2 với dân số 803.846 người (năm 2000), gồm nhiều tộc người như: Êđê, Chăm, Bana, Hoa, Tày, Nùng, Dao trong đó phần lớn là người Kinh

Kể từ năm 1597, khi Lương Văn Chánh đưa dân từ các vùng Thanh-Nghệ, Thuận Quảng đến Trấn Biên khẩn hoang lập ấp, tạo dựng cơ nghiệp và lập nên phủ Phú Yên vào năm 1611 thì Phú Yên thực sự có tên gọi chính thức

Với một vị trí chiến lược quan trọng, vào thế kỷ 18 Phú Yên là nơi đối đầu quyết liệt giữa nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn, nơi đã ghi chiến công vang dội của Nguyễn Huệ vào tháng 7-1775, tiêu diệt 2 vạn quân ngũ dinh (Bình Khang, Bình Thuận, Trấn Biên, Phiên Trấn và Long Hồ) của Tống Phước Hiệp

Từ thế kỷ XIX trở về sau này, trong phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp, Phú Yên đã phát huy hào khí của ông cha ngày trước, hưởng ứng phong trào Cần Vương

do Lê thành Phương lãnh đạo và cuộc khởi nghĩa của Võ Trứ và Trần Cao Vân, đập tan chiến dịch Atlante của thực dân Pháp, góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ của

cả nước Trong công cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, phong trào đồng khởi Hoà Thịnh của Phú Yên cùng với nhiều chiến công vang dội khác đã tô đậm thêm truyền thống chống ngoại xâm vẻ vang của tỉnh, kết thúc bằng cuộc tổng tiến công nổi dậy giải phóng tỉnh Phú Yên 1-4-1975, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước

Phú Yên cũng chính là nơi đã phát hiện ra nhiều di sản văn hoá, như bộ trường ca quý giá của các dân tộc thiểu số, bộ đàn đá Tuy An có độ chuẩn về cung bậc thuộc loại chính xác nhất và những chiếc kèn đá có một không hai

Địa hình Phú Yên được cấu tạo bởi núi non, đồng bằng, sông ngòi và biển cả nên

có nhiều ưu thế về cảnh trí thiên nhiên Khi đặt chân đến một số nơi trong tỉnh, du khách

sẽ không khỏi ngạc nhiên bởi vẻ đẹp gần như còn hoang sơ, chưa bị con người khai thác một cách quá mức

Những cảnh đẹp ấy chạy dài suốt dọc bờ biển Phú Yên có chiều dài 198km với những gành đá lô nhô ven bờ, những đầm vũng xanh biếc một màu xanh ngọc bích và những bãi cát vàng mịn, thấp thoáng những chiếc thuyền câu của ngư dân trôi êm như chiếc lá trên mặt nước, cùng với những cánh hải âu nghiêng lượn trên những con sóng Những dòng sông chảy ngang qua tỉnh từ thượng nguồn đổ về biển, để lại hai bên bờ những bãi bồi phù sa màu mỡ, tạo thành những cánh đồng xanh mượt thì con gái và vàng ruộm màu mật ong mẩy vàng của lúa chín

Những cảnh trí thiên nhiên tuyệt vời đó, cùng với bề dày lịch sử và văn hoá đã tạo nên những câu chuyện truyền thuyết và huyền thoại độc đáo trên vùng đất Phú Yên Đó là những câu chuyện về đạo đức, nhân nghĩa, lễ tín ở đời, luôn ca ngợi cái đẹp và phê phán cái xấu, cái ác, hay những câu chuyện mang đậm màu sắc lãng mạn trong tình yêu đôi lứa Nghe lại những câu chuyện kể này, trong khung cảnh đã từng xảy ra sự việc sẽ làm

Trang 7

cho chúng ta cảm nhận được đầy đủ hơn cái đẹp cao quý của người và cảnh Những truyền thuyết và huyền thoại này tuy đã tồn tại cách đây hàng trăm năm, nhưng mỗi khi nghe lại có cảm giác như vừa mới xảy ra hôm nay…

Để khai thác hết vẻ đẹp của thiên nhiên ban tặng, rất cần đến bàn tay và khối óc của con người Và khởi đầu cho công việc không mấy dễ dàng này, chúng tôi đã bỏ nhiều công sức để sưu tầm, ghi chép, nghiên cứu và mô tả một cách trung thực và chính xác nhất những cảnh đẹp ấy cùng nội dung câu chuyện, với mong muốn không bỏ hoài những kho báu mà thiên nhiên và cha ông đã để lại

Tuy Hoà, tháng 11 năm 2006 Nhân kỷ niệm 395 năm Phú Yên (1611-2006)

Lời cảm ơn

Các tác giả công trình chân thành cảm ơn:

Các Ông (Bà): Trần Sĩ Huệ, Ka Sô Liễng, Nguyễn Định, Nguyễn Đình Chúc, Ngô Sao Kim, Dương Thái Nhơn, Tấn Lộc, Nguyễn Đích, Nguyễn Vinh, Nguyễn Điệm, Trần Văn Bương, Hà Thị Thỉ, Nguyễn Trọng, Nguyễn Bá Quát, Nguyễn Hốc, Đào Thị Kiết, Đoàn Thị Minh, Phan Sưu, thầy Ba Nghiêu (Tường Quang), Nguyễn Hoanh, Nguyễn Hoang, Võ Thại, Đỗ Thạnh, Nguyễn Hốc, Nguyễn Công, Đoàn Tợ, Đoàn Trở, Nguyễn Hoạt, Đào Chuyên, Đào Thị Kiết, Mô Lô YChoi, H’Lao, M’Bưck cùng các cụ ông cụ bà…

Và các nghệ sĩ nhiếp ảnh: Dương Thanh Xuân, Trần Quỳ, Lê Ngọc Minh, Võ Anh Cường, Ngọc Ánh, Nguyên Lưu, Thế lập, Phong Phú…

Đã cung cấp tư liệu và ảnh cho chúng tôi để thực hiện công trình này

Trang 8

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG TRONG NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

-

I- TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Muốn tìm hiểu về một vùng đất, thông thường người ta hay tìm đọc các công trình nghiên cứu về lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội… Tùy theo nhu cầu ta có thể nghiên cứu một cách tổng thể về các nội dung đã nêu hay từng chuyên ngành Chẳng hạn

để tìm hiểu về lịch sử Phú Yên, có thể tìm đọc các bộ lịch sử của Đảng bộ địa phương và của các ngành như: “Phú Yên kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)” Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Phú Yên xuất bản 1995, “Phú Yên kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)” Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Phú Yên xuất bản 1996, “Địa chí Phú Yên” do UBND tỉnh xuất bản, hoặc các bộ sử của Lực lượng vũ trang tỉnh, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, Ban

Tổ chức tỉnh ủy, ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, ngành Bưu điên, Giáo dục, Y tế…và của các Đảng bộ địa phương trong tỉnh (cấp xã, huyện, thành phố), các tập hồi ký của các bậc cách mạng lão thành…Tương tự như vậy, để tìm hiểu về các lĩnh vực khác như kinh tế, văn hóa, xã hội… người ta có thể tìm đọc “Địa chí Phú Yên” của UBND tỉnh, “Dư địa chí Phú Yên” của Thư viện Hải Phú hoặc các tập sách chuyên ngành về các lĩnh vực đó Các tập sách nói trên là những tài liệu rất quan trọng, dày hàng trăm trang, được viết bằng một giọng văn chính luận hoặc báo chí, rất phù hợp cho những đối tượng nghiên cứu chuyên sâu, nhưng không phù hợp với bạn đọc bình dân, hoặc khách tham quan, du lịch, các nhà đầu tư chỉ ghé qua tỉnh vài ngày

Như vậy, để phục vụ cho các đối tượng nói trên, góp phần giúp cho họ có điều kiện tìm hiểu thêm về lịch sử, văn hóa, xã hội của một vùng đất, bên cạnh các tài liệu, các công trình nghiên cứu quy mô rất cần có những ấn phẩm ngắn gọn, dễ hiểu và hấp dẫn người đọc là các câu chuyện truyền thuyết, huyền thoại liên quan đến các di tích lịch sử danh thắng Đặc biệt là đối với công tác du lịch, khi giới thiệu với du khách về một di tích lịch

sử, danh thắng nào đó, bên cạnh các tư liệu chính thống có trong chính sử (thường là rất ngắn gọn), các hướng dẫn viên còn kể cho các du khách nghe các câu chuyện kể dân gian

có liên quan đến di tích đó và thông thường các câu chuyện dân gian này lại rất hấp dẫn

du khách Chẳng hạn như núi Đá Bia, người dân Phú Yên không thể hình dung nổi núi Đá Bia lại không có câu chuyện vua Lê Thánh Tông khắc bia lên vách núi, mặc dù giờ đây theo các nhà khoa học đó chỉ là một truyền thuyết

Các câu chuyện dân gian này có thể được in thành sách bỏ túi, hoặc thành các tờ gấp-mỗi tờ gấp liên quan đến một di tích hay một điểm danh thắng Ngoài ra để phục vụ cho công tác nghiên cứu hay quảng bá du lịch, các câu chuyện truyền thuyết, huyền thoại nói trên có thể được xuất bản dưới dạng đĩa VCD Ngoài phần nội dung và ảnh nghệ thuật như trong bản thảo có thể bổ sung thêm hình ảnh các sinh hoạt văn hóa, lễ hội và các làn điệu dân ca, các điệu hò, bài hát…liên quan đến điểm di tích Sách và đĩa VCD có thể dùng làm quà tặng rất có ý nghĩa cho du khách

Như đã nêu ở trên, đối tượng nghiên cứu của đề tài là những câu chuyện kể dân gian dưới hình thức truyền thuyết, huyền thoại liên quan đến các di tích lịch sử danh thắng Phú Yên

Trang 9

Ở Phú Yên, du lịch đang là một ngành rất cần được sự quan tâm và đầu tư của các cấp, các ngành Để thu hút khách du lịch phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá bằng các ấn phẩm, bằng truyền miệng và bằng các phương tiện thông tin đại chúng Tiềm năng du lịch của Phú Yên khá phong phú, không chỉ bằng các điểm di tích lịch sử và danh thắng mà còn tồn tại dưới hình thức các di sản văn hóa phi vật thể qua các câu chuyện kể dân gian, là các truyền thuyết, huyền thoại và các lễ hội Những tiềm năng đó cần phải được khai thác để phát huy hiệu quả của chúng

Hiện nay số người hiểu biết và còn nhớ về các câu chuyện truyền thuyết, huyền thoại liên quan đến các điểm di tích lịch sử, danh thắng ở Phú Yên còn rất ít và phần lớn trong số họ tuổi đã cao Nếu không kịp thời ghi chép lại các câu chuyện đó để lưu giữ, một khi những người này qua đời thì các câu chuyện kể kia cũng sẽ bị biến mất cùng với

họ Vì vậy, việc sưu tầm biên soạn và xuất bản những câu chuyện đó là rất cần thiết

II- TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUỘC LĨNH VỰC CỦA

Trong nước:

Ở Việt Nam, một số tỉnh cũng đã bắt đầu thực hiện công việc này để thu hút khách

du lịch mà điển hình là tỉnh Long An Năm 2004 Sở Văn hóa-TT tỉnh Long An phối hợp với Trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh đã cho xuất bản bộ sách bỏ túi bằng 2 thứ tiếng Anh và Việt giới thiệu ngắn gọn và súc tính về các di tích lịch

sử và danh thắng của địa phương, dĩ nhiên bao gồm cả các huyền thoại, truyền thuyết và

dã sử Đó là các tập sách bỏ túi: “Chùa Tôn Thạnh”, “Đồn Rạch Cát”, “Nhà Trăm Cột”,

“Đám Lá Tối Trời”, “Lăng Nguyễn Huỳnh Đức”, “Vàm Nhựt Tảo”…Ở An Giang thì có các tờ gấp về “Đền Bà Chúa Xứ”…Đây là những ấn phẩm có nội dung tương tư như công trình “Các truyền thuyết, huyền thoại liên quan đến di tích lịch sử và danh thắng ở Phú

Trang 10

Yên” Tuy nhiên các ấn phẩm này mới chỉ là những tờ gấp còn khá sơ sài, hình thức in ấn chưa đẹp, chỉ kể lại một số câu chuyện truyền thuyết huyền thoại, nhằm phục vụ kịp thời cho công tác quảng bá du lịch, chưa phải là một công trình nghiên cứu quy mô và đầy đủ

Ở Phú Yên, cho đến nay đã có một số ấn phẩm về các câu chuyện cổ do nhà nghiên cứu văn nghệ dân gian Ngô Sao Kim sưu tầm, như “Truyện cổ, truyện dân gian Phú Yên” NXB Văn hoá dân tộc xuất bản năm 1996 và “Truyện dân gian và truyện cổ Phú Yên” Hội Văn nghệ dân gian và Văn hoá các dân tộc Phú Yên xuất bản năm 2003 Những câu chuyện cổ này được tập hợp một cách ngẫu nhiên, phần lớn không liên quan đến các di tích lịch sử danh thắng, không có các hình ảnh minh hoạ hấp dẫn, do đó không thể phục

vụ trực tiếp cho công tác quảng bá du lịch Ngoài ra, số lượng các câu chuyện cổ được sưu tầm cũng còn rất hạn chế, nhất là ở vùng miền núi

Năm 2005, cùng với việc đăng ký đề tài “Các truyền thuyết, huyền thoại liên quan đến di tịch lịch sử và danh thắng ở Phú Yên” với Sở Khoa học và Công nghệ, Hội Liên hiệp VHNT Phú Yên đã đầu tư kinh phí cho các hội viên chuyên ngành văn nghệ dân gian bắt đầu thực hiện công trình này với sự chủ trì của nhà nghiên cứu Đoàn Việt Hùng Đầu năm 2006, Hội Liên hiệp VHNT Phú Yên đã tiến hành chọn lọc một số câu chuyện truyền thuyết và huyền thoại được nhiều người biết đến để in thành tập sách “Huyền thoại Phú Yên” phục vụ cho các hoạt động chào mừng kỷ niệm 395 năm Phú Yên (01.4.2006) Tập sách “Huyền thoại Phú Yên” mặc dù đã đề cập đến một số truyền thuyết và huyền thoại liên quan đến di tích lịch sử và danh thắng ở Phú Yên, nhưng số lượng các câu chuyện còn ít, lại thiếu hẳn phần nghiên cứu-là cơ sở cho một công trình khoa học hoàn chỉnh

So với các công trình trước đó vừa được đề cập ở trên, đề tài “Các truyền thuyết, huyền thoại liên quan đến di tịch lịch sử và danh thắng ở Phú Yên” được đầu tư nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện hơn Đề tài này, ngoài phần nội dung chính là các truyền thuyết và huyền thoại được bố cục theo các huyện và thành phố, còn bổ sung thêm các phần sau:

-Những vấn đề chung trong nghiên cứu đề tài (trình bày về phương pháp luận nghiên cứu đề tài)

-Đôi nét về địa lý, lịch sử và văn hoá vùng đất Phú Yên

-Khái quát về các truyền thuyết, huyền thoại trên đất Phú Yên

-Kết luận: Ý nghĩa văn hoá, xã hội và giáo dục của các truyền thuyết và huyền thoại trên vùng đất Phú Yên

-Phụ lục

Kết quả của đề tài, ngoài phần bản thảo, còn có thêm bộ ảnh màu nghệ thuật chụp các di tích lịch sử và danh thắng được đề cập đến, một đĩa CD về đề tài được thể hiện như một trang VEB nhằm phục vụ cho công tác quảng bá du lịch

III- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Mục đích của đề tài là tổ chức sưu tầm và nghiên cứu một cách có hệ thống các truyền thuyết, huyền thoại liên quan đến các di tích lịch sử và danh thắng trên đất Phú Yên Sau đó, nội dung của đề tài có thể được xuất bản dưới hình thức ấn phẩm (sách cẩm

Trang 11

nang) và đĩa VCD, có nội dung hấp dẫn và lôi cuốn người đọc, người xem, phục vụ một cách thiết thực và có hiệu quả cho công tác quảng bá về lịch sử, văn hóa và du lịch

-Nhiệm vụ trọng tâm của đề tài là sưu tầm, tuyển chọn, phân loại và viết lại các câu chuyện truyền thuyết, huyền thoại có liên quan đến các di tích lịch sử và danh thắng Phú Yên dưới dạng văn học dân gian

-Trong đề tài cũng nêu những nét khái quát về đặc điểm địa lý, lịch sử, văn hoá vùng đất Phú Yên, nhằm giúp cho người đọc có một cái nhìn tương đối đầy đủ về vùng đất Phú Yên trước khi tiếp cận với các truyền thuyết, huyền thoại liên quan đến di tích lịch sử và danh thắng Phú Yên Đề tài cũng đề cập đến cơ sở lý luận để xác định các truyền thuyết, huyền thoại ở Phú Yên, giúp cho người đọc hiểu sâu thêm về các truyền thuyết, huyền thoại ở Phú Yên và mối quan hệ của chúng trong khu vực Nam Trung bộ

IV- ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Như đã nêu ở mục II (Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài), ta thấy ở trên thế giới, nhiều nước có ngành du lịch phát triển đã tổ chức xuất bản các ấn phẩm quảng bá du lịch Trong đó có đề cập đến những câu chuyện truyền thuyết và huyền thoại liên quan đến các điểm du lịch Ở nước ta, những ấn phẩm như vậy hầu như chưa có, chỉ mới xuất hiện một số tờ bướm về các truyền thuyết, huyền thoại của ngành Văn hoá-Thông tin tỉnh Long An Tuy nhiên một công trình chuyên đề về các câu chuyện kể dưới dạng truyền thuyết, huyền thoại liên quan cụ thể đến các di tích lịch sử danh thắng thì chưa có tác giả nào đề cập đến Có một số ấn phẩm dưới dạng truyện cổ tích, nhưng chúng hầu như không gắn với một địa danh di tích cụ thể nào nên không thể phục vụ trực tiếp cho các hoạt động du lịch

Công trình này có nhiệm vụ sưu tầm, nghiên cứu một cách toàn diện về các truyền thuyết, huyền thoại liên quan đến di tích lịch sử và danh thắng Phú Yên, giúp cho người đọc hiểu thêm về đất nước, con người Phú Yên thông qua các câu chuyện truyền thuyết, huyền thoại, góp phần bổ sung nội dung phi vật thể cho hệ thống di tích lịch sử và danh thắng ở Phú Yên, đóng góp vào việc giáo dục lịch sử, văn hoá và phát triển ngành du lịch của tỉnh, làm tài liệu tham khảo trong công tác đào tạo, nghiên cứu, quảng bá du lịch Ngoài việc xuất bản thành sách, công trình này còn có thể được xuất bản dưới dạng đĩa VCD và bằng các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền, quảng bá về kho tàng văn hóa phi vật thể của tỉnh, đồng thời giới thiệu về tiềm năng du lịch của tỉnh, nhất

là trong giai đoạn hiện nay, loại hình du lịch văn hóa và du lịch sinh thái đang có xu hướng phát triển mạnh Sách và đĩa VCD ngoài chức năng là những ấn phẩm văn hóa còn

là những món quà lưu niệm văn hóa rất có ý nghĩa về Phú Yên

Để phù hợp với từng điểm di tích lịch sử danh thắng, ngoài các ấn phẩm có dung lượng lớn như tập sách hoặc đĩa VCD, các ngành chức năng có thể sử dụng tư liệu trong công trình này để in thành những tờ gấp, tờ rơi, có kích thước bằng 01 tờ A4 hoặc 1/2 tờ A4 (gấp lại), chỉ viết về một điểm di tích Nội dung của tờ gấp gồm: Những đặc điểm cơ bản của di tích, lịch sử hình thành, những huyền thoại, truyền thuyết, cùng với những tấm ảnh màu về di tích hoặc lễ hội có liên quan đến di tích

Trang 12

V- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

IV.1-Cách tiếp cận:

Để sưu tầm được các câu chuyện truyền thuyết, huyền thoại cần phải thống kê các

di tích lịch sử danh thắng Tiến hành điền dã tại các địa phương, tìm hiểu qua các bậc cao tuổi hoặc những người am hiểu về văn nghệ dân gian, ghi chép các câu chuyện truyền thuyết, huyền thoại có liên quan đến các di tích lịch sử danh thắng Viết lại các câu chuyện bằng thể loại văn học dân gian, kèm theo các tấm ảnh nghệ thuật

IV.2- Phương pháp nghiên cứu:

Áp dụng phương pháp luận nghiên cứu văn học (chủ yếu là văn học dân gian), phương pháp thống kê, phân loại, so sánh, đối chiếu để xử lý các tư liệu đã thu thập được Khái quát đặc điểm, diện mạo các truyền thuyết, huyền thoại ở Phú Yên So sánh, đối chiếu các truyền thuyết, huyền thoại ở Phú Yên với các dị bản trong khu vực và cả nước (nếu có)

IV.3- Các bước nghiên cứu:

1-Tiến hành điền dã, sưu tầm, thu thập các tư liệu về các truyền thuyết, huyền thoại 2-Tuyển chọn trong số các truyền thuyết, huyền thoại đã sưu tầm được có liên quan đến các di tích lịch sử, danh thắng Phân biệt chúng với các câu chuyện cổ tích thông thường, hoặc không liên quan đến các di tích lịch sử, danh thắng

3-Hệ thống và phân loại các truyền thuyết, huyền thoại theo từng thể loại và vùng lãnh thổ (phân theo các huyện và thành phố)

4-Nghiên cứu đặc điểm, diện mạo các truyền thuyết, huyền thoại ở Phú Yên

5-Nghiên cứu mối quan hệ giữa các truyền thuyết, huyền thoại ở Phú Yên và trong khu vực Nam Trung bộ

6-So sánh, đối chiếu với các dị bản (nếu có)

7-Trên cơ sở những tư liệu đã thu thập được, viết lại các câu chuyện truyền thuyết, huyền thoại bằng thể loại văn học dân gian theo vùng lãnh thổ, từ Bắc vào Nam và từ đồng bằng lên miền núi (theo bước chân của các bậc tiền nhân trên đường mở cõi)

8-Tổ chức chụp ảnh các di tích lịch sử, danh thắng có liên quan đến các truyền thuyết, huyền thoại (kể cả các hoạt động lễ hội văn hóa của di tích)

9-Tiến hành thực hiện đĩa VCD

IV.4-Phạm vi, giới hạn nội dung nghiên cứu của đề tài:

-Không nghiên cứu về các câu chuyện cổ nói chung Chỉ giới hạn nghiên cứu các truyền thuyết, huyền thoại có liên quan đến các di tích lịch sử, danh thắng

-Nhiệm vụ trọng tâm của đề tài là sưu tầm, tuyển chọn, phân loại và viết lại các câu chuyện truyền thuyết, huyền thoại có liên quan đến các di tích lịch sử và danh thắng Phú Yên dưới dạng văn học dân gian

-Công tác nghiên cứu lý thuyết chỉ làm nhiệm vụ phân tích, đánh giá về mặt khoa học, làm cho người đọc hiểu rõ thêm về những đặc điểm, diện mạo của các truyền thuyết, huyền thoại lưu truyền trên vùng đất Phú Yên

Trang 13

IV.5-Tiêu chí tuyển chọn:

Tiêu chí để tuyển chọn các câu chuyện truyền thuyết, huyền thoại không giới hạn

về đề tài, nhưng phải có nội dung tư tưởng tiến bộ, có ý nghĩa giáo dục truyền thống lịch

sử, đạo đức, tình yêu quê hương đất nước, con người, ca ngợi cái đẹp, phê phán cái xấu, cái ác, hướng con người vươn tới Chân-Thiện-Mỹ, phù hợp với nhiệm vụ phát triển kinh

tế xã hội của tỉnh, nhất là công tác văn hóa, du lịch và giáo dục-đào tạo Đặc biệt thận trọng với những câu chuyện có nội dung nhạy cảm về mặt chính trị như tôn giáo, sắc tộc Trong quá trình viết lại phải luôn tôn trọng chủ đề tư tưởng của câu chuyện, nhưng

có thể xử lý các chi tiết nhằm tránh các vấn đề nhạy cảm chính trị

IV.6-Xác định quy mô các di tích danh thắng:

Ngoài 13 di tích cấp quốc gia đã được Bộ Văn hóa-TT xếp hạng có các câu chuyện truyền thuyết, huyền thoại, đề tài sẽ đề cập đến tất cả các di tích lịch sử và danh thắng trên địa bàn Phú Yên từ cấp xã, phường trở lên nếu các câu chuyện truyền thuyết, huyền thoại

đó có giá trị về mặt lịch sử và văn hóa, có ý nghĩa giáo dục và có thể phục vụ cho các hoạt động văn hóa và du lịch

IV.7-Xác định giới hạn thời gian, không gian của các truyền thuyết, huyền thoại:

-Thời gian: Qua kết quả điền dã sơ bộ, các câu chuyện truyền thuyết, huyền thoại chủ yếu liên quan đến các thời kỳ từ khi vua Lê Thánh Tông đưa quân vào vùng đất Phú Yên (1471) đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1954) Có một vài chuyện liên quan đến dân tộc Chăm Do đó mốc thời gian nghiên cứu của đề tài sẽ giới hạn từ thời tiền sơ sử và thời kỳ vương quốc Chăm, đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1954)

-Không gian: Chỉ nghiên cứu các truyền thuyết, huyền thoại trên vùng đất Phú Yên

và có liên quan đến các di tích lịch sử, danh thắng

IV.8-Bố cục của đề tài:

Các truyền thuyết, huyền thoại được phân loại và sắp xếp theo địa bàn lãnh thổ (các huyện, thành phố, từ đồng bằng lên miền núi, từ Bắc vào Nam) Vì trên cùng một di tích lịch sử, danh thắng có thể có nhiều câu chuyện truyền thuyết, huyền thoại và chúng có liên quan với nhau về nội dung, thời gian diễn biến câu chuyện hoặc vai trò của nhân vật chính Nếu sắp xếp theo thể loại sẽ làm cho người đọc khó theo dõi và thiếu tính logic Các di tích lịch sử danh thắng được trình bày một cách ngắn gọn về đặc điểm và cảnh quan của chúng nhưng phải đầy đủ và khoa học, tạo điều kiện thuận lợi cho người đọc có thể tiếp cận một cách dễ dàng Phần lớn dung lượng của đề tài là ghi lại các câu chuyện truyền thuyết, huyền thoại liên quan đến di tích đã sưu tầm được

Trang 14

Chương 1

KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA LÝ, LỊCH SỬ

VÀ VĂN HÓA VÙNG ĐẤT PHÚ YÊN

-

I - VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐỊA HÌNH CỦA TỈNH PHÚ YÊN

I.1-Vị trí địa lý tỉnh Phú Yên

Phú Yên là một tỉnh nằm ở duyên hải Nam Trung Bộ, có tọa độ từ 12º39’10” đến 13º45’20” vĩ độ Bắc và 108º39’45” đến 109º29’20” kinh độ Đông, phía đông giáp biển Đông, phía tây giáp tỉnh Gia Lai và Đắc Lắc, phía nam giáp tỉnh Khánh Hòa, phía bắc giáp tỉnh Bình Định, có diện tích tự nhiên là 5.045 km2 với dân số 803.846 người người, phần lớn là người Kinh và các tộc người khác như: Êđê, Chăm, Bana, Hoa, Tày, Nùng, Dao Trong tổng số 30 tộc người đang sinh sống ở Phú Yên, thì tộc người Việt, Chăm, Êđê, Bana, Hoa là những cư dân sinh sống lâu đời trên đất Phú Yên Về địa hình, nhìn vào bản đồ địa lý người ta có cảm giác Phú Yên như một chiếc quạt khổng lồ lưng tựa vào phía rừng núi đại ngàn mặt quay ra biển bao la Núi non chiếm phần lớn diện tích, đồng bằng chỉ là một lõm nan nhỏ nhờ phù sa hai con sông Ba và sông Cái bồi lắng, nhưng lại đóng vai trò quan trọng về mặt nông nghiệp trong đời sống cư dân

I.2-Địa hình tỉnh Phú Yên

Cả ba mặt của Phú Yên đều là núi, phía Bắc có dãy Cù Mông, phía Nam là dãy Đại Lãnh, phía Tây là mạn sườn Đông của dãy Trường Sơn Núi ở Phú Yên, những ngọn cao nhất tập trung ở phía tây huyện Đồng Xuân (núi Chư Treng-1.238m, núi La Hiên-1.318m), ở tây nam huyện Tuy Hòa (hòn Dù-1.470m, hòn Chúa-1.310m) và phía nam huyện Sông Hinh (núi Chư Ninh-1.636m), các núi còn lại nhìn chung không cao, dao động từ 300-600m Ở trong nội thị thành phố tuy Hòa có một núi tuy không cao nhưng rất nổi tiếng vì nằm ngay bên bờ sông Ba, có Tháp Nhạn cổ kính, phong cảnh trữ tình, đó là núi Nhạn Do địa hình có nhiều núi đồi nên ở Phú Yên cũng lắm đèo dốc Dọc theo quốc

lộ 1A có các đèo dốc tương đối dài và hiểm trở, nằm trên địa bàn các huyện:

-Huyện Sông Cầu: Đèo Cù Mông, nằm trên dãy núi Cù Mông, có độ cao 245m, là điểm phân ranh giữa Phú Yên và Bình Định; Đèo Tùy Luật (xã Xuân Cảnh); Đèo Nại (xã Xuân Phương); Dốc Găng (phía nam thị trấn Sông Cầu); Dốc Quýt (xã Xuân Thọ 1); Dốc Gành Đỏ (còn gọi là dốc Xuân Đài, xã Xuân Thọ 2)

-Huyện Tuy An: Dốc Vườn Xoài (còn gọi là dốc Đá Trắng xã An Dân); đèo Tam Giang (phía nam thị trấn Chí Thạnh); đèo Quán Cau (ranh giới giữa xã An Cư và An Hiệp); dốc Bà Ền (xã An Hòa)

-Huyện Đông Hòa: Đèo Cả (trên dãy núi Đèo Cả, xã Hòa Xuân Nam)

Trang 15

Ngoài ra trên các đường tỉnh, huyện, xã còn nhiều đèo dốc, đáng kể là đèo Cây Cưa ở Đồng Xuân, đèo Thị ở Tuy An, đèo Bình Thảo ở Sông Hinh, đèo Dinh Ông trên QL25

Cũng chính do cấu tạo địa chất có nhiều núi đèo, nên Phú Yên cũng có nhiều hang, gộp ăn sâu vào núi tạo thành những cảnh quan thiên nhiên đẹp mắt, phân bố đều trên khắp các địa phương trong tỉnh Tiêu biểu là:

-Huyện Tuy Hoà có các gộp bãi Xép, hốc Gạo, hốc Võ, hốc Răm, hốc Hoành, hốc Nhum, suối Cùng, suối Lạnh, suối Mua, suối Nước Đổ, Đá Đen, Hòn Đất, Chà Rang, Mòng Mòng

-Thành phố Tuy Hoà có hang Trai Thuỷ (hay còn gọi Hang Dơi) ở núi Chóp Chài, gộp Đá Bàn

-Huyện Tuy An có hốc Bé, hốc Tạ

-Huyện Sông Cầu có hốc Bà Beo, gộp Hoà Lợi

-Huyện Đồng Xuân có hốc Bà Chiền

-Huyện Sơn Hoà có hang Thuồng Luồng, gộp Hòn Huyệnh, gộp Ma Tửu

-Huyện Sông Hinh có hang Cồ

Một điều đáng lưu ý là hầu hết các hang, gộp ở Phú Yên đều gắn với cuộc kháng chiến chống Mỹ vì là nơi đóng cơ quan, đóng quân của cách mạng

Các con sông ở Phú Yên đều bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn ở phía tây, dãy Cù Mông ở phía bắc và dãy núi Đèo Cả ở phía nam, hướng chính là Tây Bắc-Đông Nam hoặc Tây-Đông, có độ dốc lớn nên thường cạn vào mùa khô Sông lớn nhất là sông Ba, ở thượng lưu còn gọi là Eaba, ở hạ lưu gọi là Đà Rằng, bắt nguồn từ dãy núi Ngọc Rô (Kon Tum) cao 1.500m và đổ ra cửa Đà Diễn (thành phố Tuy Hòa), dài 360km, phần chảy trong tỉnh dài 90m Sông Ba (sông Đà Rằng), cùng với núi Nhạn từ lâu đã tạo nên một thành ngữ “Núi Nhạn sông Đà” để nói về thành phố Tuy Hòa, hay rộng hơn là nói về Phú Yên Sông lớn thứ 2 là sông Kỳ Lộ, còn gọi là sông La Hiên ở thượng nguồn và sông Cái

ở hạ lưu, bắt nguồn từ dãy núi cao 1.000m ở Gia Lai và Bình Định, đổ ra cửa biển Tiên Châu ở Tuy An, có chiều dài 120km, phần chảy trong tỉnh là 76km Ngoài 2 sông lớn là sông Ba và sông Kỳ Lộ, trên địa bàn tỉnh còn có các sông: Bàn Thạch-còn gọi là sông Bánh Lái, sông Đà Nông (huyện Đông Hòa), sông Hinh, sông Krông Năng (huyện Sông Hinh), sông Cà Lúi, sông Thá, sông Con, sông Bà Lá (huyện Sơn Hòa), sông Cầu (huyện Sông Cầu), sông Con, sông Trong, sông Đồng Bò (huyện Tây Hòa), sông Trà Bương, sông Cô (huyện Đồng Xuân), sông Quy Hậu (huyện Phú Hòa)

Từ các dòng sông đổ ra biển đã tạo nên các đầm, vũng, vịnh tuyệt đẹp Ở Sông Cầu nổi tiếng nhất là đầm Cù Mông, vịnh Xuân Đài, vũng Lắm (còn gọi là vũng Lấm), vũng

La, vũng Chao, ở Tuy An có đầm Ô Loan với nhiều hải sản quý hiếm như sò huyết, ở Đông Hòa có Vũng Rô nổi tiếng với những con tàu không số của Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển Với các đầm, vũng, vịnh đó, ngay từ thời nhà Nguyễn, triều đình cũng đã cho mở các hải khẩu để vận chuyển, mua bán, giao lưu như những thương cảng nhỏ, đó là

6 hải khẩu: Cù Mông, Xuân Đài, Vũng Lấm, Phú Sơn, Đà Diễn, Đà Nông

Phú Yên có bờ biển dài 198km, chạy từ Cù Mông đến vũng Rô là một trong những

bờ biển tương đối đẹp Do đặc điểm cấu tạo địa hình có những đoạn núi ăn thông ra sát biển tạo thành những hang, động, đầm, vịnh, vũng, mũi, đảo và bán đảo Hai vịnh Xuân

Trang 16

Đài và Vũng Rô là những nơi neo đậu tàu thuyền tránh gió bão và có thể biến thành hải cảng cho các tàu có trọng tải lớn ra vào Bờ biển Phú Yên có những đoạn trải dài với những bãi cát trắng mịn và hàng thuỳ dương chạy men theo tựa như mái tóc thiếu nữ xoã dài trên tấm thân trắng ngọc ngà của những tiên nữ nằm trên bờ biển rì rào sóng nhạc Đó

là bãi Tiên huyện Sông Cầu hay bãi biển Mỹ Á thành phố Tuy Hoà Đất và núi chạy ra tận biển tạo thành những đảo và bán đảo đẹp như đảo hòn Nần hay còn gọi là đảo Bàn Than nằm trong đầm Cù Mông; đảo Nhất Tự Sơn thuộc địa phận thôn Khoan Hậu Sông Cầu… hay các bán đảo Vịnh Hoà, Xuân Thịnh, Vũng Rô…

Cũng chính do địa hình phức tạp như vậy, nên ở Phú Yên có những mỏm đá nhô ra tận biển xa như một bàn tay níu lấy biển cả vào sát gần đất liền Một trong những mỏm nổi tiếng là mũi Nạy hay còn gọi là Cap Varella, là điểm cực đông của Tổ quốc trên đất liền Ngay trong thời thuộc địa, người Pháp đã cho xây ngọn hải đăng ở đây để hướng dẫn tàu thuyền qua lại Một mỏn đá khác ở Tuy An nổi tiếng không chỉ ở trong tỉnh mà cả nước-đó là gành Đá Dĩa (Đĩa) Các cột đá ở đây có tiết diện hình lục giác hoặc hình tròn giống như cái đĩa, được dựng đứng thành từng cột, liền khít nhau và rất đều

Ở Phú Yên có 3 cao nguyên, nhưng nổi tiếng nhất nhờ đất đai trù phú, khí hậu ôn hòa mát mẻ là cao nguyên Vân Hòa Là một vùng đất đỏ bazan, nằm ở độ cao 400m trên địa bàn các xã Sơn Xuân, Sơn Long và Sơn Định của huyện Sơn Hòa, cao nguyên Vân Hòa nổi tiếng từ lâu với “thơm, mít chợ Đồn” và nhiều loại cây ăn quả khác Tiếp giáp với cao nguyên Vân Hòa về phía đông là cao nguyên An Xuân thuộc xã An Xuân huyện Tuy An Nơi đây có khí hậu mát mẻ và một loại trà ngon nổi tiếng là trà An Xuân Sơn Hòa còn có cao nguyên Trà Kê nằm ở xã Sơn Hội, khí hậu và đất đai không tốt bằng cao nguyên Vân Hòa

Đồng bằng Phú Yên được bồi đắp chủ yếu nhờ 3 con sông lớn: Sông Ba, sông Bàn Thạch bồi đắp nên đồng bằng Tuy Hòa và sông Kỳ Lộ bồi đắp nên đồng bằng Tuy An và Đồng Xuân, trong đó đồng bằng Tuy Hòa được xem như là vựa lúa của miền Trung Trước kia cánh đồng Tuy Hòa chỉ canh tác được một vụ lúa, nhưng từ khi công trình thủy nông Đồng Cam được hoàn thành vào năm 1932 thì hệ thống nông giang này đã tưới cho gần 19.000ha đảm bảo canh tác 2 vụ, góp phần làm cho sản lượng lúa ở Tuy Hòa tăng vọt

II - LỊCH SỬ PHÚ YÊN TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN THẾ KỶ XX

II.1-Lịch sử Phú Yên từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII

Năm 1471, vua Lê Thánh Tông thống lĩnh 26 vạn quân thuỷ bộ tiến vào đèo Cù Mông, lập nên 3 phủ Thăng Hoa (nay là Quảng Nam), Tư Nghĩa (nay là Quảng Ngãi) và Hoài Nhơn (nay là Quy Nhơn) Còn phần đất từ Cù Mông đến Đèo Cả (tức là Phú Yên ngày nay) là vùng đất Kimi-vùng đệm, tranh chấp giữa người Việt và người Chăm Tính đến nay thì vùng đất Phú Yên có bề dày lịch sử trên 530 năm

Trong buổi đầu mở đất, vùng đất từ Cù Mông đến Bà Diễn, Đà Nông đều là đất hoang, hoặc sình lầy lau sậy, hoặc gò nống lùm bụi um tùm, “rắn, rết, cọp beo thú dữ

Trang 17

nhiều hơn người” Ngoại trừ những vùng đất ăn sâu vào trong núi, số còn lại nằm ở vùng

hạ lưu các con sông, như sông Cái (Tuy An), sông Đà Rằng, sông Bàn Thạch (Tuy Hoà) đều là những vùng đất sa bồi màu mỡ Phù Nghĩa Hầu Lương Văn Chánh đã đưa lưu dân đến khẩn hoang những vùng này trước tiên Khai hoang đến đâu đều lấy đất chia cho dân sản xuất tới đó, chủ yếu là trồng các loại cây lương thực như lúa, còn ở những vùng đất cao, đất thổ không có điều kiện để đưa nước vào trồng lúa thì trồng các loại hoa màu như bắp, khoai và các loại đậu…

Trong những năm đầu tiên, trên vùng đất này còn tồn tại hai lãnh thổ khác, mà theo

Đại Nam Nhất Thống Chí là lãnh thổ của Thuỷ Xá và Hoả Xá, được mô tả như sau: “Từ huyện lỵ (Đồng Xuân) đi về phía Tây 20 dặm đến xã Phước Đức, lại đi 2 dặm đến thôn Phú Thành, lại đi 1 dặm đến thôn Cự Phú, lại đi thêm 5 dặm đến thôn Vân Hoà, từ đây đi

về phía Tây suốt đến địa giới hai nước Thuỷ Xá và Hoả Xá, hai bên ven đường đều là trại người Man, núi khe hiểm trở lại có nhiều nạn cọp” [11, tr.64]

Còn trong Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện thì viết: “Hai nước Thuỷ Xá, Hoả Xá

ở Nam Bàn Khi vua Lê Thánh Tông đánh được nước Chiêm Thành, lập dòng dõi người nước ấy làm vua nước Nam Bàn, cắt núi Thạch Bi lấy đất về phía Tây làm địa giới, có hơn 50 làng Trong nước có núi Bà Nam rất cao, vua nước Thuỷ Xá về phía Đông, vua nước Hoả Xá về phía Tây núi ấy” [10, tr.586]

Theo như những mô tả trên đây, thì trong thời kỳ này, đối đầu trực tiếp với Thuỷ

Xá, Hoả Xá không phải là triều đình và binh lính mà chính là những lưu dân tiên phong

mở đất ở Phú Yên Trong suốt những năm dài của thế kỷ này (1471–1578 ), vùng đất từ đèo Cù Mông đến Đá Bia đèo Cả, triều đình nhà Lê chưa thiết lập các cơ quan hành chánh, luật pháp một cách chặt chẽ như ở vùng đất kinh đô Chà Bàn phía bắc đèo Cù Mông, mà vẫn coi đây là vùng đất “Kimi” còn đang tranh chấp, là vùng đệm an toàn cho Đại Việt

Những lưu dân người Việt đầu tiên đã đến vùng đất này thăm dò tình hình yên ổn

về mặt chính trị và quân sự để tiến tới việc sinh cơ lập nghiệp, bởi trên giấy tờ chính thức thì phần đất này là của Đại Việt Đây có lẽ là một trong những lý do để sau này chúng ta hiểu ra phần nào về “huyền sử Thạch Bi Sơn” với lắm điều tồn nghi hoặc không xác thực:

“Vua Lê Thánh Tông lấy núi Thạch Bi làm biên giới và có đề thơ trên đó”

Bài thơ được vua Lê Thánh Tông khắc trên núi Thạch Bi có hay không, lại được các sử gia thêm bớt cho thêm phần huyền bí Ở Đại Nam Nhất Thống Chí quyển 10 có nêu lên sự kiện núi Đá Bia bị sét đánh vào năm thứ VI đời chúa Duệ Tông (tức Nguyễn Phước Thuần), năm Tân Mão 1771, làm cho đá trên núi hoá trắng cả một vùng, đứng xa trông như vôi, bia vẫn còn nhưng chữ thì bị sứt mẻ không nhận ra được

Trong Phủ Biên Tạp Lục, quyển II, phần nói về hình thế núi sông, thành luỹ, Lê Quý Đôn mô tả Đá Bia rõ ràng và gần sát với thực tế ngày nay hơn, dù rằng cũng có chút

thêm thắt mang chất huyền thoại về ngọn núi này: “Núi Thạch Bi ở phủ Phú Yên là chỗ tiên triều phân địa giới với Chiêm Thành, núi đến rất xa, tự đầu nguồn liền lạc đến bờ biển Núi này cao hơn các núi khác Thánh Tông đánh được Chiêm Thành, lấy đất đặt xứ Quảng Nam, lập dòng dõi vua Chiêm Thành cũ , phong cho đất tự núi ấy trở về phía Tây, tạc đỉnh núi lập bia làm địa giới, xoay lưng về phía Bắc, mặt về phía Nam, lâu ngày dấu chữ đã mòn mất… Tháng 12 năm Tân Mão, chợt có một tiếng sét rất to, đá biến thành sắc

Trang 18

trắng cả, trông xa một toà núi Thạch Bi đứng sừng sững như đá vôi Nguyễn Phúc Thuần sai đến tế” [15, tr.121]

Và trong “Phương Đình Dư Địa Chí” của Nguyễn Văn Siêu [33, tr.219] thì cho rằng, trong bi văn khắc vào núi đá Bia có câu:

“Chiêm Thành quá thử, binh bại quốc vong

An Nam quá thử, tướng tru binh chiết”

Dịch nghĩa :

“Chiêm Thành vượt qua, binh bại nước mất

An Nam vượt qua, tướng chết quân tan”

Lịch sử Phú Yên đã mở ra một bước ngoặt mới từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hoá vào năm 1558, mở ra xứ Đàng Trong Năm 1578, chúa Nguyễn Hoàng cử Lương Văn Chánh làm Trấn Biên quan, đưa quân vượt đèo Cù Mông, xâm nhập vào vùng đất “Kimi”, đến núi Đại Lãnh Từ đó Phú Yên hoàn toàn là vùng đất thuộc quyền cai trị của nhà Nguyễn

Đến đời Lê Thế Tông, vào năm 1597, Lương Văn Chánh nhận sắc dụ của chúa

Nguyễn Hoàng vào khai khẩn vùng đất từ Cù Mông đến đèo Cả Sắc dụ viết: “…dẫn đem theo những hộ dân mới tới đến các xứ Cù Mông, Bà Đài, Bà Diễn, Đà Nông, trên từ vùng sơn cước, dưới thì đến các cửa biển, cùng nhau lập nhà cửa, khai phá đất hoang hoá thành ruộng vườn, trải qua ba vụ thì nộp thuế như lệ Nếu sinh việc sách nhiễu nhân dân

mà bị phát giác sẽ phải chịu tội…”[14, tr.154]

Lương Văn Chánh phụng mệnh đưa dân từ Thanh Nghệ, Thuận Quảng vào khai hoang lập ấp Vào giữa năm 1611, chúa Tiên cử chủ sự Văn Phong vào thiết lập an ninh trật tự, đặt các cơ quan hành chính, quân sự, lập ra hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hoà thuộc Trấn Biên Đây là vùng đất rất hiểm trở, nhiều thuận lợi trong việc dụng binh, do đó

mà Văn Phong đã nổi lên làm phản, chiếm cứ Trấn Biên (Phú Yên) như một căn cứ để mở rộng binh lực về phía Nam Tham vọng ấy đã bị dập tắt khi phó tướng Nguyễn Phúc Vinh được chúa Nguyễn Phước Nguyên uỷ nhiệm thống lĩnh ba quân dẹp nội loạn Năm 1629 dinh Trấn Biên được thành lập, đặt quan tuần phủ cai trị Phần biên giới giáp Chămpa ở mạn biển đặt ra 38 thuộc có quyền hành và chức năng ngang hàng với các tổng nằm sâu trong đất liền

Trong quyển “Nghiên cứu Địa Bạ Triều Nguyễn”, phần phủ Phú Yên, ông Nguyễn

Đình Đầu đưa ra nhận xét: “Đất Phú Yên tuy nhỏ hẹp, người không đông, nhưng đã giữ một vị trí chiến lược và bản lề trong sự nghiệp phát triển của toàn dân và đất nước ta vậy” [13, tr.70]

Thời kỳ lịch sử tiếp theo, với một vị trí chiến lược quan trọng, Phú Yên là nơi đối đầu quyết liệt giữa nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn Năm 1771, anh em nhà Tây Sơn bắt đầu khởi nghiệp tại Tây Sơn thượng và Tây Sơn hạ Sau khi đã tập hợp đầy đủ lực lượng và huấn luyện quân sĩ chu đáo, quân Tây Sơn đánh hạ thành Quy Nhơn, tiến chiếm các phủ Quảng Nam, Phú Yên, Diên Khánh, Bình Khang, Bình Thuận Do điều kiện địa hình

Trang 19

miền Tây Phú Yên có dãy núi La Hiên tiếp giáp với vùng núi An Khê là nơi dấy nghiệp của nhà Tây Sơn nên nhân dân Phú Yên hưởng ứng phong trào rất đông, nhất là đồng bào Bana Tháng 5-1775, tướng nhà Nguyễn là Tống Phước Hiệp mang quân đánh Phú Yên, quân bộ đóng ở Xuân Đài, quân thủy đóng ở Vũng Lấm Sau đó quân của Tây Sơn do Nguyễn Quang Sáng, Lương Văn Trực cùng chúa Thủy Xá là Ma Khương tụ quân ở núi

Ma Hiên, phối hợp với lực lượng thủy quân của Lưu Quốc Hùng, Trần Văn Nhâm hợp thành lực lượng Tây Sơn hữu đạo, cùng với 2.000 do Nguyễn Huệ chỉ huy từ Quy Nhơn kéo vào đánh úp quân Tống Phước Hiệp đang đóng tại Xuân Đài và Vũng Lấm vào tháng 7-1775, tiêu diệt 2 vạn quân ngũ dinh (Bình Khang, Bình Thuận, Trấn Biên, Phiên Trấn

và Long Hồ) của Tống Phước Hiệp, ghi chiến công vang dội

Trong suốt 25 năm dài dặc đó (từ 1775-1800) cùng với những biến đổi quan trọng sau những trận chiếm đẫm máu giữa phong trào Tây Sơn và nhà Nguyễn, vì vậy trên vùng đất này đã sinh ra không biết bao nhiêu câu chuyện kể, nửa như là chính sử, nửa như dã

sử, như huyền thoại của một thời bi hùng

II.2-Lịch sử Phú Yên trong phong trào chống thực dân Pháp ở thế kỷ XIX

Từ thế kỷ XIX đến sau này, trong công cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp, toàn dân Phú Yên đã phát huy hào khí của ông cha ngày trước, lập nhiều chiến công vang dội,

mở ra một trang sử mới

Năm 1858 thực dân Pháp đánh chiếm Đà Nẵng, bắt đầu cuộc xâm lược của Pháp tại Việt Nam Tình hình chính trị, xã hội của Phú Yên cũng như của cả nước đã nhanh chóng chuyển sang một thời kỳ khác: Thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược

Năm 1885, hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, sau một thời gian chuẩn bị, ông Lê Thành Phương-một tú tài Nho học, người làng Mỹ Phú, tổng Xuân Vinh (nay là thôn Phú Mỹ, xã An Hiệp, huyện Tuy An) cùng các sĩ phu yêu nước đã đứng lên chiêu tập sĩ dân kéo cờ khởi nghĩa tại núi Một, thôn Tân An (nay thuộc xã An Hòa, huyện Tuy An) Trong các năm 1885-1886 nghĩa quân của Lê Thành Phương đã đánh thắng nhiều trận và làm chủ một vùng rộng lớn từ Phú Yên đến Bình Thuận Hoảng sợ trước sự lớn mạnh của phong trào, thực dân Pháp đã đưa một lực lượng lớn lính viễn chinh và tay sai đến Phú Yên để đàn áp Ngày 11-2-1887 Lê Thành Phương bị giặc bắt, chúng dùng mọi thủ đoạn dụ dỗ mua chuộc hòng bắt ông khuất phục, song ông đã khảng khái nói thẳng vào mặt kẻ thù: “Ninh thọ tử bất ninh thọ nhục” (Thà chết chứ không sống nhục)

Lê Thành Phương và sau đó một lãnh tụ khác của phong trào là Nguyễn Hào Sự bị địch

xử chém Cuộc khởi nghĩa của Lê Thành Phương mặc dù đã bị thất bại như toàn thể phong trào Cần Vương trong nước nhưng sự nghiệp của ông sẽ còn lưu danh mãi mai sau

Sau khi cuộc khởi nghĩa do Lê thành Phương khởi xướng và lãnh đạo bị thất bại, phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp ở Phú Yên vẫn tiếp tục bùng lên vào năm 1892 với cuộc khởi nghĩa của Võ Trứ và Trần Cao Vân Năm 1898, dưới lá cờ đề 4 chữ “Minh trai chủ tể” Võ Trứ chỉ huy một đạo quân khoảng 1.000 người, với vũ khí là giáo mác dao rựa từ trên rừng huyện Đồng Xuân kéo xuống tỉnh lỵ Phú Yên ở Sông Cầu, nhằm vây trại lính tập, cướp súng đạn, chiếm các dinh sở của chính phủ Bảo hộ và Nam triều Tuy nhiên, vì chưa có kinh nghiệm trận mạc, lực lượng của Võ Trứ bị quân địch đàn áp khốc

Trang 20

liệt, phải rút vào rừng Những ngày sau thực dân Pháp đưa quân đi đốt phá, chém giết dân lành vô cùng dã man ở xung quanh khu căn cứ Trước cảnh thường dân vô tội bị chết oan

ức, Võ Trứ quyết định tự nộp mình cho giặc Sau khi không khuất phục được ông chúng

đã chém đầu ông ở cầu Tam Giang Sự hy sinh anh dũng của ông đã làm cho quân Pháp phải kiêng nể, gọi ông là “Vua người Thượng”

II.3-Lịch sử Phú Yên trong phong trào chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ở thế kỷ 20

Sang đầu thế kỷ XX, hưởng ứng phong trào Duy Tân (còn gọi là cuộc vận động

“xin xâu”) bắt đầu nổ ra từ Quảng Nam vào tháng 3-1908, ở Phú Yên dưới sự lãnh đạo của các ông Nguyễn Hữu Dực và Lê Hanh, phong trào chống sưu cao thuế nặng, chống cường hào áp bức, chống đồi phong bại tục, cổ động dùng hàng nội hóa, mở trường dạy chữ quốc ngữ bùng lên phát triển mạnh mẽ

Vào những năm 30 của thế kỷ XX, phong trào chống Pháp với quy mô lớn có nhiều tộc người tham gia đã bùng lên ở một số tỉnh trên vùng núi Trường Sơn, mà Phú Yên là trung tâm với tên gọi là “Phong trào Săm Brăm” (hay còn gọi là phong trào “Xu đỏ”, phong trào “lấy nước phép đánh Tây”) Săm Brăm là người dân tộc Chăm ở Sơn Hòa, sớm được giác ngộ và được phong trào cổ vũ thôi thúc nên đã đứng ra khởi xướng phong trào đấu tranh chống Pháp trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Năm 1936, trước sự lớn mạnh nhanh chóng của phong trào, thực dân Pháp đã đưa quân đến bắt ông Săm Brăm về giam ở đồn Trà Kê, rồi đày lên Buôn Ma Thuột, Sông Cầu và cuối cùng đưa ra tận nhà lao Thanh Hóa

Tháng 6-1928, chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Phú Yên chính thức

ra đời tại Sông Cầu do đồng chí Nguyễn Văn Nguyên làm Bí thư chi bộ, đến đầu năm

1929 thì giải tán vì các đảng viên được điều động đến các địa bàn khác Mùa hè năm

1929, đồng chí Hoàng Hữu Đàn là liên lạc của Kỳ bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên Trung kỳ đến Phú Yên móc nối xây dựng lại cơ sở dưới hình thức hợp pháp là các Hưng nghiệp hội xã Đến cuối năm 1929 phong trào lại bị đàn áp tan rã Từ năm 1927 tổ chức Tân Việt đầu tiên ở Phú Yên đã được thầy giáo Phạm Đức Bân thành lập ở Sông Cầu với nhiều hình thức tập hợp lực lượng và đấu tranh phong phú, như rải truyền dơn, treo cờ, kêu gọi đấu tranh chống đế quốc và phong kiến

Cuối năm 1929, đồng chí Phan Lưu Thanh là thành viên trong tổ chức Hưng nghiệp Hội xã ở La Hai vào Sài Gòn học lái xe ô tô đã được các đảng viên cộng sản ở xưởng đóng tàu Ba Son tuyên truyền giác ngộ cách mạng Qua những hoạt động và thử thách ngay trên quê hương Phú Yên, tháng 8-1930, Phan Lưu Thanh được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam tại chi bộ Thị Nghè (Sài Gòn) rồi được cử về La Hai (Phú Yên) hoạt động Sau một thời gian tuyên truyền, tập hợp lực lượng, ngày 5-10-1930, tại thôn Đồng Bé, xã Xuân Long, huyện Đồng Xuân, đồng chí Phan Lưu Thanh đã tổ chức hội nghị đảng viên, tuyên bố thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên tại Phú Yên Sau đó nhiều chi bộ khác cũng được thành lập tại Đồng Xuân và Tuy An Sau một thời gian hoạt động và phát triển các cơ sở Đảng, số lượng đảng viên và chi bộ đảng tăng lên đáng kể, cần phải có một tổ chức lãnh đạo chung Trước tình hình đó, tháng 01-1931, các đồng chí

Trang 21

đảng viên tổ chức Hội nghị và quyết định thành lập Tỉnh ủy lâm thời; đồng chí Phan Lưu Thanh được cử giữ chức Bí thư Đến tháng 7-1931, do có người khai báo, bọn địch đã bất ngờ tập kích và truy bắt các đồng chí đảng viên, mở tòa án xét xử, kết án đưa các đảng viên đi đày Phong trào tan rã Đến tháng 6-1936 sau một thời gian bị phân tán, Hội nghị thành lập Tỉnh ủy Phú Yên được tiến hành tại làng Phước Hậu xã Bình Kiến Hội nghị đã bầu đồng chí Trần Hào làm Bí thư Thời kỳ này, Tỉnh ủy chia làm 2 bộ phận để hoạt động: Bộ phận bí mật và bộ phận công khai

Giữa tháng 5-1945 trước tình hình Nhật đảo chính Pháp, Đảng ủy nhà lao Ban Mê Thuột đã phân công một số đảng viên về Phú Yên để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với 2 nhiệm vụ: Thành lập Tỉnh ủy và triển khai công tác tổng khởi nghĩa Giữa tháng 6-

1945 Tỉnh ủy lâm thời Phú Yên được thành lập do đồng chí Trương Kiểm làm bí thư Đến ngày 17-7-1945 Đại hội Mặt trận Việt Minh được tổ chức tại làng Phước Hậu, xã Bình Kiến, Tuy Hòa Sau đó trong những ngày cuối tháng tám nhiều cuộc biểu tình vũ trang thị

uy có hàng ngàn quần chúng tham gia đã được các tổ chức Đảng tổ chức công khai ở La Hai, Sông Cầu, Tuy An, Tuy Hòa, Đồng Bò Tối ngày 23-8-1945, Tỉnh ủy họp phiên bất thường và quyết định: Tỉnh, Huyện, Phủ khởi nghĩa cùng thời điểm là nửa đêm ngày 24-8-1945 Sáng ngày 25-8-1945, Ủy ban Khởi nghĩa tuyên bố xóa bỏ chính quyền thực dân-phong kiến, thành lập chính quyền Cách mạng và kêu gọi nhân dân ủng hộ chính quyền Cách mạng Sáng 26-8-1945, Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Phú Yên chính thức ra mắt quần chúng tại tỉnh lỵ Sông Cầu, do đồng chí Nguyễn Văn Nguyên làm Chủ tịch, đồng chí Trương Kiểm làm Phó chủ tịch Cuộc khởi nghĩa kết thúc thắng lợi

Từ năm 1945 đến năm 1954, sau khi giành được chính quyền, Đảng ta chủ trương vừa tập trung xây dựng và củng cố chính quyền, đồng thời vừa tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Ngày 19-12-1946, cuộc kháng chiến chống Pháp bắt đầu bùng nổ trên toàn quốc, thì ngày 13-01-1947 hai trung đoàn Pháp từ Khánh Hòa cùng một lúc tấn công trận địa của Phú Yên tại đèo Cả và phía tây đèo Cả Những ngày tiếp theo chúng tập trung quân đánh ra Hòa Hiệp, Phú Lâm, Hòa Thành, Hòa Bình, Hòa Thịnh, Hòa Mỹ Trước tình hình mới, tháng 6-1947, cơ quan Tỉnh đội Phú Yên được thành lập Lực lượng vũ trang của huyện, xã cũng được hình thành để làm nhiệm vụ chiến đấu

Trước những thất bại to lớn trên khắp các chiến trường, tháng 3-1953 chính phủ Pháp cử Đại tướng Navarre sang làm Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương Sau khi nghiên cứu tình hình trên các chiến trường, Navarre trình lên Hội đồng Quốc phòng Pháp một kế hoạch quân sự lớn nhằm xoay chuyển tình thế và kết thúc chiến tranh trong vòng 18 tháng Chiến dịch Atlante là một bộ phận quan trọng của kế hoạch này Chỉ trong vòng 2 tháng, từ ngày 20-01-1954 khi địch bắt đầu mở chiến dịch cho đến cuối tháng 3-

1954 quân và dân Phú Yên đã ngoan cường chiến đấu, giải phóng một vùng lãnh thổ rộng lớn phía tây huyện Đồng Xuân, làm chủ đường số 7 ở Sơn Hòa, tập kích vào hàng loạt cứ điểm quan trọng, tiêu diệt hàng trăm tên địch, phá hủy hàng chục xe máy, đánh bại chiến dịch Atlante của địch, góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của cả nước

Sau Hiệp định Giơnevơ, ngoài lực lượng quân đội, công an và cán bộ dân chính đảng được đưa đi tập kết, tỉnh Phú Yên còn chủ động bố trí, tổ chức lực lượng cách mạng

ở lại bám trụ, kịp thời lãnh đạo nhân dân chống lại sự khủng bố và đàn áp của địch, mà

Trang 22

đẫm máu nhất là vụ tàn sát dã man đồng bào tại Ngân Sơn-Chí Thạnh Sau khi quán triệt Nghị quyết 15, phong trào cách mạng của tỉnh Phú Yên có nhiều chuyển biến tích cực Ta

đã tổ chức được nhiều vụ diệt ác phá kềm, phát động quần chúng nhân dân nổi dậy giành chính quyền

Đêm ngày 22-12-1960, sau khi Nguyễn Chánh Thi làm đảo chính Ngô Đình Diệm, Tỉnh ủy đã phát động quần chúng ở Hòa Thịnh nổi dậy đồng khởi, xóa bỏ chính quyền địch, thành lập chính quyền cách mạng, mở đầu cho phong trào giải phóng các tỉnh đồng bằng khu V

Giữa năm 1960, thực hiện chỉ thị của Khu ủy khu V về việc giải thoát và đưa luật

sư Nguyễn Hữu Thọ ra vùng căn cứ, sau đợt tấn công vào quận lỵ Sơn Hòa để giải thoát luật sư không thành, tối ngày 30-10-1961 Tỉnh ủy Phú Yên đã tổ chức chỉ đạo đưa luật sư

ra vùng giải phóng theo hướng chân núi Chóp Chài thành công

Từ khi Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam ra đời 20-12-1960, bộ máy cai trị và hệ thống kềm kẹp của chính quyền ngụy ngày càng lung lay Mỹ-Ngụy phải đưa ra chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” nhằm hà hơi tiếp sức cho chính quyền ngụy Ở Phú Yên, để mở đầu cho chiến lược này, địch đã mở chiến dịch Hải Yến, nhưng chỉ trong năm 1964, quân và dân Phú Yên đã làm tan rã gần một chục tiểu đoàn, hàng chục đại đội, tiêu diệt hơn 2 ngàn và làm bị thương 4 ngàn tên địch, thu hàng trăm súng các loại, phá hàng chục ấp chiến lược, giải phóng 47/69 xã

Bắt đầu từ giữa năm 1964, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh ủy Phú Yên tổ chức xây dựng bàn đạp tại Vũng Rô để đón tàu chở vũ khí chi viện từ miền Bắc vào

Bị thất bại trong “Chiến tranh đặc biệt”, Mỹ chuyển sang “Chiến tranh cục bộ”, nhưng càng dấn sâu vào cuộc chiến tranh chúng lại càng sa lầy Ở Phú Yên, các đơn vị vũ trang đã tổ chức nhiều đợt tấn công vào các đơn vị của quân Mỹ và quân Nam Triều Tiên, gây cho chúng nhiều tổn thất nặng nề, như trận tiêu diệt Lữ đoàn dù 173 của Mỹ ở Gò Thì Thùng, các trận đánh quân Nam Triều Tiên ở An Định và An Nghiệp Trong cuộc Tổng tiến công nổi dậy Mùa xuân 1968, cùng với các địa phương khác trong toàn miền Nam, vào lúc 0 giờ ngày 30-01-1968 quân và dân Phú Yên đã nhất tề đồng loạt nổ súng tấn công vào các cứ điểm quan trọng của địch trên địa bàn tỉnh Đồng thời trong dịp này đã đưa 500 thanh niên ra căn cứ tham gia lực lượng cách mạng

Sau khi “Chiến tranh cục bộ” bị thất bại nặng nề, Mỹ phải chấm dứt ném bom miền Bắc và ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Paris, nhưng chúng vẫn ngoan cố thay chiến lược “chiến tranh cục bộ” bằng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” với mục tiêu

là dùng người Việt đánh người Việt Tháng 10-1969 sau khi tiếp thu Nghị quyết Khu ủy Khu V về công tác giành dân, giữ dân, xây dựng lực lượng cách mạng, tỉnh đã mở các đợt vận động, đưa hàng ngàn thanh niên tham gia vào các đội du kích và thoát ly lên vùng căn

cứ Song song với việc củng cố, tổ chức các lực lượng vũ trang, Tỉnh ủy chủ trương đẩy mạnh công tác dân vận nhằm cô lập, phân hóa nội bộ địch, đồng thời tranh thủ lực lượng thứ ba với khẩu hiệu “Hòa hợp dân tộc” để đấu tranh chống Mỹ-Ngụy Cùng với việc tổ chức lực lượng chiến đấu chống càn, ta tổ chức lực lượng đặc công đánh sâu vào vùng hậu cần của địch, mở rộng vùng giải phóng, phá các khu dồn dân, đưa dân về lại quê cũ

Trang 23

Sau khi quân và dân miền Bắc đánh bại cuộc tập kích bằng không quân của Mỹ nhằm hủy diệt thủ đô Hà Nội và Hải Phòng trong 12 ngày đêm tháng 12 năm 1972 Trước những chiến thắng của ta trên mặt trận quân sự ở cả hai miền Nam-Bắc, ngày 27-01-1973

Mỹ buộc phải ký vào Hiệp định Paris Mặc dù Hiệp định đã được ký kết nhưng Mỹ-Thiệu vẫn ra sức phát triển quân đội, lấn chiếm vùng giải phóng Ở Phú Yên, chúng đánh phá các cửa khẩu, bao vây kinh tế các vùng giải phóng ở An Lĩnh-Tuy An, Xuân Lãnh-Đồng Xuân, Gò Chợ-Tuy Hòa, đồng thời rải quân chiếm giữ Đường số 7, ra sức củng cố bộ máy tề xã

Từ giữa năm 1974 trên chiến trường miền Nam đã xuất hiện những nhân tố mới Nhiều thị trấn, quận lỵ đã được giải phóng Ngày 18-12-1974, Bộ Chính trị họp, phân tích thời cơ và hạ quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của

Bộ Chính trị, ngày 25-02-1975, Ban Thường vụ Tỉnh ủy họp đề ra chủ trương “động viên

sự nỗ lực cao nhất của toàn Đảng bộ, khắc phục mọi khó khăn, giành thắng lợi lớn nhất trong năm 1975, nhằm góp phần với toàn miền Nam hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong một thời gian ngắn” Ngày 10-3-1975, quân chủ lực của ta mở cuộc tấn công vào thị xã Buôn Mê Thuột, cũng vào thời điểm đó Phú Yên bắt đầu mở chiến dịch tiến công vào các cứ điểm quan trọng của địch ở Đồng Xuân, Sông Cầu, Tuy An, Tuy Hòa Ngày 14-3-1975, sau nhiều lần tiến công phản kích nhằm chiếm lại Buôn Mê Thuột không thành, quân địch quyết định bỏ Tây Nguyên xuống đồng bằng qua Đường số

5 Nắm được ý đồ của địch, ngày 18-3-1975, Tỉnh uỷ Phú Yên họp quán triệt nhiệm vụ làm tan rã và tiêu hao sinh lực địch trên đường rút chạy Cho đến ngày 25-3-1975, chỉ từ đoạn Mỹ Thạnh Trung đến Lương Phước trên đường số 5, quân và dân Phú Yên đã tiêu diệt 400 tên địch, làm bị thương 200 tên và bắt sống 1.200 tên, đốt cháy và phá hủy hàng trăm xe quân sự Chiến thắng Đường 5 là một mốc son lịch sử, mở màn cho chiến dịch giải phóng thị xã Tuy Hòa và các địa phương khác trong tỉnh, góp phần vào chiến thắng chung giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước

Sau ngày thống nhất đất nước, Phú Yên cũng như nhiều tỉnh khác của cả nước bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới Sau 14 năm tỉnh Phú Yên sát nhập với tỉnh Khánh Hòa thành tỉnh Phú Khánh, ngày 01-7-1989 tỉnh Phú Yên lại tách ra trở về với tên gọi cũ vốn

có Bắt đầu từ đây, Phú Yên bước vào giai đoạn mới

III -ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA VÙNG ĐẤT PHÚ YÊN

Là một vùng đất có 30 tộc người sinh sống nên đặc điểm văn hóa của Phú Yên cũng khá phong phú và đa dạng Tuy nhiên dân số ở Phú Yên phần lớn là người Việt (Kinh) nên văn hóa của người Việt cũng in đậm trong đời sống văn hóa-xã hội của toàn dân cả tỉnh

III.1-Văn hóa ẩm thực

Cũng như mọi cộng đồng dân cư người Việt khác trên đất nước Việt Nam, lương thực chính của người Việt ở Phú Yên là lúa gạo có kèm theo khoai, sắn vào những lúc

Trang 24

giáp hạt Thức ăn chủ yếu được chế biến từ các loại rau, củ và thịt, cá Do đặc điểm là một tỉnh duyên hải nên trong thực đơn hàng ngày cá biển chiếm vị trí tương đối quan trọng Ngoài ra, cũng nhờ nguồn lợi từ biển mà người dân Phú Yên còn có nghề truyền thống chế biến nước mắm và các loại mắm khác từ cá biển Nước mắm Gành Đỏ, nước mắm Yến là những thương hiệu nổi tiếng không chỉ trong tỉnh Ngoài bữa ăn hàng ngày, thì vào dịp Tết, hoặc trong cúng giỗ, đám tiệc, thực đơn phong phú hơn vì có thêm các loại bánh, các loại gỏi và nhiều món đặc sản khác như: sò huyết, tôm, cua, ghẹ, cá ngừ đại dương…Trong các loại bánh thì bánh tráng Phú Yên khá nổi tiếng với các thương hiệu bánh tráng Hòa Đa, bánh tráng Phường Lụa (Tuy An) và bánh tráng Đông Bình (Phú Hòa)

Đối với các dân tộc thiểu số khác sinh sống trên đất Phú Yên như Êđê, Bana, Chăm lương thực chính cũng là gạo và bắp, những khi thiếu ăn họ vào rừng đào hái củ rừng, rau rừng Thực phẩm chính là cá và thú rừng, rau rừng, được chế biến đơn giản Gia súc gia cầm chăn nuôi không nhiều Món đồ uống không thể thiếu trong các dịp lễ hội là rượu cần Rượu cần được làm bằng gạo, bắp, sắn, ủ trong ché, khi uống thì hút bằng cần, hút đến đâu đổ thêm nước đến đấy cho đến khi rượu lạt thì thôi

III.2-Trang phục

Trang phục của người Việt ở Phú Yên từ thời xa xưa nằm trong khuôn phép quy định của triều đình cũng như trào lưu ăn mặc của người Việt ở miền Trung nói chung Ở Đàng Trong, từ cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, nhà Nguyễn khuyến khích phụ nữ mặc quần Nhất là từ khi vua Minh Mạng ra chiếu cấm phụ nữ mặc váy vào năm 1828 thì

cả đàn ông và đàn bà ở Phú Yên đều mặc quần Áo của phụ nữ gọi là áo bà ba, vào dịp lễ hội thì có thêm chiếc áo dài 5 thân Sang đầu thế kỷ 20 trang phục của người Việt bị ảnh hưởng của trang phục châu Âu, nam mặc quần âu, áo sơ mi Phụ nữ mặc đồ bộ với đủ màu sắc, hoa văn Có thể nói, đồ bộ là một sáng tạo của phụ nữ Nam Trung bộ và Nam

bộ, rất thuận lợi trong sinh hoạt và phù hợp với thời tiết nóng bức

Trang phục của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Phú Yên, nam đóng khố, cởi trần hoặc áo khoác, nữ mặc váy, áo Điều đặc biệt dễ nhận thấy là trên trang phục của đồng bào dân tộc ít người ở miền núi bao giờ cũng có các họa tiết hoa văn truyền thống với màu sắc khá sặc sỡ

Để đáp ứng cho nhu cầu mặc, từ xa xưa người Phú Yên đã biết tự trồng bông, hoặc trồng dâu nuôi tằm, kéo sợi, dệt vải Hai làng dệt vải nổi tiếng nhất của người Việt ở Phú Yên là Ngân Sơn ở hạ lưu sông Kỳ Lộ và Đông Bình ở hạ lưu sông Đà Rằng Trong chín năm kháng chiến chống Pháp, người dân Phú Yên đã dệt được vải xi-ta vừa bền vừa đẹp

III.3-Nhà ở

Trong buổi đầu khai thiên lập địa, người Việt ở Phú Yên xây nhà của mình theo từng làng để dễ bề tương thân tương ái, tối lửa tắt đèn có nhau Tùy hoàn cảnh kinh tế của từng gia đình mà các loại nhà của người Việt được phân loại và đặt tên theo vật liệu lợp trên mái, như: Nhà lá (lợp bằng các loại lá, chủ yếu là lá dừa), nhà tranh (lợp bằng tranh),

Trang 25

nhà ngói (lợp bằng ngói), nhà tôn (lợp bằng tole), nhà lầu (nhà có nhiều tầng, mái đúc bằng xi măng cốt thép hoặc lợp ngói) Khi làm nhà, người Việt thường nhờ thầy địa lý chọn hướng nhà, hướng bếp, chọn tuổi cất nhà, chọn ngày giờ mở móng, xem ngày về nhà mới

Nhà của các dân tộc thiểu số thường làm bằng gỗ, lợp tranh theo kiểu nhà sàn để

đề phòng thú dữ Phía dưới sàn thường dùng để chứa củi, nhốt gia súc gia cầm Ngoài nhà

ở, người dân tộc còn làm nhà chứa thóc (kho thóc) bên cạnh nhà ở hoặc ngoài rẫy Người Bana còn có nhà rông, là ngôi nhà công cộng, trung tâm sinh hoạt văn hóa, xã hội, tín ngưỡng của cộng đồng, dùng để hội họp, xét xử, tổ chức các cuộc vui chơi, lễ hội, như một bảo tàng giữ gìn những kỷ vật, hiện vật quan trọng của làng, có chức năng giáo dục thế hệ trẻ

III.4-Phong tục tập quán

Các tộc người Việt, Êđê, Bana, Chăm, Hoa sống trên vùng đất Phú Yên, mỗi dân tộc đều có phong tục tập quán riêng tồn tại từ bao đời nay Tuy nhiên nếu so sánh phong tục tập quán của họ với phong tục tập quán của những tộc người tương tự sinh sống ở các vùng đất khác trên lãnh thổ Việt Nam thì không có sự khác biệt gì nhiều Người Việt ở Phú Yên cũng tổ chức đón Tết Nguyên đán bằng cách dựng cây nêu, cúng giỗ ông bà tổ tiên, thanh toán nợ nần, làm bánh mứt, mừng tuổi con cháu, thăm hỏi chúc tết lẫn nhau Ngoài Tết Nguyên đán còn có Tết Thượng nguyên, còn gọi là Tết Nguyên tiêu (tổ chức vào rằm tháng giêng âm lịch), Tết Đoan ngọ (tổ chức vào ngày 5 tháng 5 âm lịch), Tết Trung nguyên (còn gọi là lễ Xá tội vong nhân), lễ Vu lan (tổ chức vào rằm tháng 7), Tết Trung thu (tổ chức vào rằm tháng 8)

Người Việt ở Phú Yên tổ chức các ngày Tết nói trên cũng không có gì đặc biệt so với nơi khác, duy chỉ Tết Đoan ngọ là tổ chức rất chu đáo Vào ngày này, người ta thường cùng gia đình, bạn bè đi chơi, chủ yếu là đến các bãi biển, tổ chức vui chơi, ăn uống khá thịnh soạn Có những năm bãi biển thành phố Tuy Hòa, Mỹ Á, Đại Lãnh đông nghẹt người, không có chỗ len chân Các lễ thức khác của đời người, như sinh đẻ, cưới hỏi, tang

ma, cúng giỗ cũng không có gì khác biệt so với địa phương khác Phong tục tập quán của các dân tộc ít người ở Phú Yên giống như ở những vùng khác, thường chặt chẽ và phức tạp hơn so với người Việt và được mọi người thực hiện rất nghiêm túc

III.5-Tín ngưỡng

Tín ngưỡng của người Việt ở Phú Yên cũng giống ở nơi khác là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ thần bản gia và tín ngưỡng cộng đồng Việc thờ cúng tổ tiên thường tổ chức vào ngày húy kỵ của vị thủy tổ hoặc dịp Tết Nguyên đán tại nhà thờ họ Tín ngưỡng thờ thần bản gia là thờ ông Táo, ông Địa và Thần tài, nhằm giúp cho gia đình sống lâu khoẻ mạnh, ăn nên làm ra Tín ngưỡng cộng đồng ở Phú Yên gồm có tục cúng đất (tá thổ), thờ cúng Thành hoàng và thờ cúng cá Ông (cá Voi)

Ở Phú Yên các vị thành hoàng được thờ cúng gồm có các ông Lương Văn Chánh, Cao Các, thần thổ địa Hậu tế, thần Bạch Mã, Bổn cảnh thành hoàng, thần Nam Hải, Thủy

Trang 26

Đức phu nhân, Thiên Y A Na Trong tín ngưỡng cộng đồng thì tục thờ cúng thành hoàng được người dân làm nông nghiệp thực hiện rất nghiêm ngặt, còn tục thờ cúng cá Ông thì chủ yếu ở vùng biển Theo tâm thức của người đi biển thì cá Ông là con vật thiêng, gắn với sự hưng thịnh của dân chài và người đi biển Vì thế, khi thấy cá Ông chết (lụy), vạn chài tổ chức tang ma và tổ chức các nghi lễ khác rất cầu kỳ và chu đáo như đối với người Sau đó hàng năm, vạn chài còn tổ chức lễ cúng cá Ông (còn gọi là lễ Cầu ngư) kéo dài từ 3-5 ngày Đây cũng là dịp để dân vạn chài nghỉ ngơi, vui chơi, nghe hát bả trạo, xem múa siêu và xem tuồng rất náo nhiệt

Tín ngưỡng của người Êđê mang sắc thái tôn giáo sơ khai Họ quan niệm con người cũng như vạn vật đều có linh hồn, có thần (Yàng) ngự trị, hoặc có quỷ dữ trú ngụ sai bảo (Ma lai) Người Bana cũng quan niệm vạn vật đều do các thần cai quản và phân ra thành thần tốt và thần xấu Người Chăm lại quan niệm, mọi vật sinh ra trên trái đất là do

bà tạo hóa (Mó Pinh), cũng có thần tốt, thần xấu và Ma lai

III.6-Lễ hội

Các lễ hội truyền thống của người Việt ở Phú Yên còn lại đến ngày nay gồm có hội Đánh bài chòi, lễ hội đầm Ô Loan và lễ hội đập Đồng Cam Hội đánh bài chòi thường được người dân Phú Yên tổ chức ở nông thôn vào dịp Tết Nguyên đán với 9 hoặc 11 chòi được chia làm 2 bên cùng bộ bài chòi là bộ tam cúc đã được cải tiến gồm 33 lá Để giúp vui cho cuộc chơi còn có một ban nhạc cổ gồm đờn cò, kèn, sanh trống, thường tấu lên mỗi khi có chòi “tới” Lễ hội đầm Ô Loan được tổ chức vào ngày 7 tháng giêng âm lịch tại thôn Phú Tân, xã An Cư, huyện Tuy An, phần lễ có lễ cúng cá Ông, phần hội có hát tuồng, đua thuyền chài, đua thuyền rồng, đua thuyền thúng, bơi lội Lễ hội đập Đồng Cam tổ chức vào ngày 8 tháng giêng âm lịch tại khu vực đập Đồng Cam, thời kỳ đầu chỉ

để dâng hương tưởng niệm những người đã mất trong quá trình xây dựng đập, dần dần sau này đã trở thành một sinh hoạt văn hóa thu hút nhiều người tham gia với lòng tôn kính

và biết ơn sâu sắc Đối với các tộc người thiểu số Êđê, Bana, Chăm có các lễ bỏ mả, lễ đâm trâu xoay cột, lễ cúng bến nước, lễ lên nhà mới, lễ cầu mùa, lễ cúng cầu mưa

III.7-Tôn giáo

Tôn giáo lâu đời nhất ở Phú Yên là đạo Phật, có từ thời các chúa Nguyễn ở thế kỷ

17 Ngôi chùa được dựng đầu tiên ở Phú Yên là chùa Hội Tôn ở Tuy An do hòa thượng

Tế Viên sáng lập và chủ trì, về sau dời về núi Sơn Chà ở An Thạch và đổi tên là Cổ Lâm Ngày nay ngôi chùa chỉ còn phế tích với trên 10 ngôi mộ mờ nét rêu phong Người kế nghiệp hòa thượng Tế Viên là thiền sư Liễu Quán (người Đồng Xuân), viên tịch vào năm

1742 Ngài là người thuộc đời 35 dòng Lâm Tế Phần lớn những ngôi chùa ở Phú Yên thuộc phái Lâm Tế, duy chỉ có chùa Long Sơn ở An Mỹ, Tuy An có tổ khai sơn là Tế Tín Trong thời kỳ chiến tranh giữa nhà Nguyễn và nhà Tây Sơn phật giáo cũng bị nhiều ảnh hưởng, chùa chiền không được trùng tu, xây dựng, sự truyền bá Phật pháp bị đình đốn, cho đến khi vua Gia Long lên ngôi, Phật giáo ở Phú Yên mới có điều kiện phát triển Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhiều tăng ni phật tử Phú Yên đã tham gia vào cuộc

Trang 27

khởi nghĩa của Võ Trứ và Trần Cao Vân Bản thân Võ Trứ cũng gia nhập làm môn đệ thầy chùa Đá Bạc ở Bình Định, sau này ông dùng chùa Đá Trắng ở Phú Yên làm nơi hội họp, bàn định kế hoạch đánh Pháp Ngày 5-10-1963, đại đức Quảng Hương, hiệu Bảo Châu trụ trì chùa Quang Sơn (An Hiệp, Tuy An) đã tự thiêu tại Sài Gòn để phản đối chế

độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm

Đạo Thiên chúa xuất hiện ở Đàng Trong vào năm 1612 tại cửa biển Hội An, đến năm 1618 thì việc truyền giáo đã tới Quy Nhơn Năm 1641, cố đạo Alexandre De Rhode

đã thâu nhận và làm lễ rửa tội cho 91 người dân Phú Yên, trong đó có một người sau này trở thành thầy giảng có tên thánh là Andre Phú Yên Năm 1642, thầy giảng Andre Phú Yên được Alexandre De Rhode đưa ra Hội An để học trường các thầy giảng và trở thành học viên suất sắc nhất mặc dù còn rất trẻ Năm 1643, thầy giảng Andre Phú Yên cùng với một số giáo sĩ phương Tây đi truyền giáo tại các tỉnh Thuận Hóa, Quảng Trị, Quảng Nam Ông đã bị viên quan cai bạ Quảng Nam bắt gian và kết án tử hình vào ngày 26-7-1644 vì không chịu bỏ đạo Ở Phú Yên, Mằng Lăng là giáo xứ thiên chúa giáo đầu tiên và nhà thờ Mằng Lăng cũng là nhà thờ được xây dựng đầu tiên vào năm 1892 Linh mục Joseph de

La Cassagne (thường gọi là Cố Xuân) là vị linh mục đầu tiên của giáo xứ đồng thời là một đại địa chủ với rất nhiều ruộng đất Người Phú Yên đầu tiên được phong linh mục vào năm 1929 là ông Nguyễn Văn Quyến, người Mằng Lăng, sinh năm 1897 Tính đến năm

2000, ở Phú Yên có 7 giáo xứ với 21 nhà thờ và 3 nhà nguyện

Đạo Tin Lành được du nhập vào Việt Nam từ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế

kỷ XX Ở Phú Yên đạo Tin Lành phát triển mạnh và có nhiều cơ sở kể từ sau năm 1954,

do được sự đầu tư tiền của, phương tiện và con người của tổ chức Tin Lành thế giới Địa hạt Tin Lành Phú Yên trực thuộc Hội thánh Tin Lành miền Nam Do sự phân rẽ của Hội thánh Tin Lành miền Nam, nên đạo Tin Lành ở Phú Yên cũng chịu ảnh hưởng, có nhiều

hệ phái, nhất là các hệ phái Tin Lành Mỹ Đến năm 2000, ở Phú Yên đạo Tin Lành có 2 nhà thờ, 3 nhà nguyện và khoảng 1.500 tín đồ

Đạo Cao Đài là tên gọi tắt của Cao Đài đại đạo tam kỳ phổ độ, ra đời vào đêm Noel năm 1925 ở Nam Bộ, nhằm tập hợp quần chúng chống lại sự kỳ thị, chèn ép, bóc lột của thực dân Pháp Sau một thời gian, đạo Cao Đài có sự phân hóa chia rẽ thành nhiều hệ phái tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau trong quần chúng Tuy nhiên, cho đến năm 1995, Nhà nước mới chỉ công nhận hệ phái Cao Đài Tây Ninh Năm 1996 hệ phái Cao Đài truyền giáo Đà Nẵng được công nhận Đạo Cao Đài ở Phú Yên có 5 phái là: Cao Đài Tây Ninh, Cao Đài truyền giáo Đà Nẵng, phái Định Tường, phái Bến Tre, phái Cầu Kho, mỗi phái có cơ quan lãnh đạo riêng Về hình thức thờ phụng, ở Phú Yên có 2 dạng: Thánh thất

và thiên bàn tư gia

Đạo Hòa Hảo, còn gọi là Phật giáo Hòa Hảo, ra đời ngày 15-5-1939, tại làng Hòa Hảo, Châu Đốc, tỉnh An Giang, do ông Huỳnh Phú Sổ sáng lập Đạo phát triển chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, tín đồ phải để râu, búi tóc, ăn chay, sinh hoạt đạo theo lối “tu tại gia” Ở Phú Yên tín đồ Hòa Hảo không nhiều, đến năm 1996 có khoảng

350 người, tập trung chủ yếu ở xã Xuân Lộc, huyện Sông Cầu

III.8-Văn nghệ dân gian, văn học

Trang 28

Văn nghệ dân gian Phú Yên từ xưa đã khá nổi tiếng nhờ những bộ trường ca (khan) của đồng bào các dân tộc thiểu số như “Trường ca Đam San”, “Trường ca Xinh Nhã”, “Trường ca Khinh Dú”, “Trường Ca Chi Liêu”, “Trường ca Tiếng cồng ông bà Hơbia Lơđă”, “Trường ca Chi Lơ Kok”, “Trường ca Xinh Chi ôn” do các nhà nghiên cứu văn nghệ dân gian Ka Sô Liễng, Y Điêng, Y Đúp, Hà Nam Tiến sưu tầm Sau này các nhà nghiên cứu văn nghệ dân gian đã cho ra mắt hàng chục công trình nghiên cứu khác Nhiều tác giả được giải cao của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam như Trần Sĩ Huệ, Ka

Sô Liễng, Nguyễn Đình Chúc, Bùi Tân, Ngô Sao Kim Trên nền tảng văn nghệ dân gian phong phú, văn học viết ở Phú Yên cũng xuất hiện rất sớm, từ những năm 40 của thế kỷ trước và được bổ sung hùng hậu hơn sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước Đến năm 2005, có 8 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam sống và công tác ở Phú Yên

Nghệ thuật biểu diễn của người Việt, ở thể loại hát có hò khoan, hát ru, hát rập, hát

bả trạo, hô bài chòi, hát tuồng Về múa có múa siêu, múa bả trạo, múa lân, múa tứ linh, múa lục cúng Các điệu hát của các dân tộc thiểu số ở Phú Yên chủ yếu là hát ru, hát khan (trường ca) và một số làn điệu dân tộc khác Về múa, các dân tộc Êđê, Bana, Chăm đều có múa xoan Người Êđê còn có múa khiên, múa trống, múa diều, người Chăm còn có múa tôm tắc, múa trống đôi, múa pakua, múa tahara

Trước đây, trong sinh hoạt âm nhạc, người Việt ở Phú Yên thường sử dụng các nhạc khí dân tộc như sáo, tiêu, nhị (đàn cò), mõ, phách, trống, phèng la Đặc biệt ở Phú Yên có các nhạc cụ bằng đá rất độc đáo, đó là đàn đá và kèn đá (tù và đá) Bộ đàn đá được phát hiện vào cuối năm 1991 tại thôn Trung Lương, xã An Nghiệp, huyện Tuy An là một bộ đàn đá cổ xưa đích thực, có độ chuẩn về cung bậc thuộc loại chính xác nhất Bộ kèn đá được phát hiện ở thôn Phú Cần, xã An Thọ, huyện Tuy An, có niên đại vào khoảng nửa sau thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên đến thế kỷ VI sau công nguyên, với thang âm có thể dùng hòa tấu với các nhạc cụ dân tộc khác

Các dân tộc thiểu số có nhạc khí thổi hơi là đinh tut, đinh păng, đinh tác, đinh năm, đinh puốt, đinh tú, đinh klơk, kipal, ala, kèn xaranai Nhạc cụ dây có brố, đinh goong, goong kram, kơnhi Nhạc cụ gõ có cồng chiêng Cồng chiêng là nhạc cụ không thể thiếu trong đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số Ngoài giá trị tinh thần, cồng chiêng còn có giá trị vật chất, được xem là thước đo đánh giá giàu nghèo của gia đình hay

cá nhân

III.10-Trò chơi dân gian

Trang 29

Trò chơi dân gian ở Phú Yên cũng giống như ở các vùng miền khác là một nhu cầu văn hóa do con người sáng tạo ra trong quá trình lao động, sản xuất Trải qua quá trình hình thành, phát triển, giao thoa và biến đổi nhằm thích nghi với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội của con người, một số trò chơi được bảo tồn, số khác được cải tiến hoặc mất đi, một số khi chơi kèm theo những bài đồng dao rất vui nhộn Hầu hết trò chơi dân gian ở Phú Yên có nhiều nét tương đồng với trò chơi dân gian các vùng miền khác, có thể kể ra đây một số trò chơi phổ biến như: Sấp ngửa, Oản tù tì, Chi chi chành chành, Trốn tìm (Cút kiếm), Chồng nụ chồng hoa, Nhảy cò cò, Đá gà (Cò cò huých), Vật tay, Chim bay cò bay, U mọi (U tù), Chặt cây dừa chừa cây mận, Bịt mắt bắt dê, Cướp cờ, Nhảy dây, Kéo

co, Đẩy gậy, Đá gà cỏ, Đá dế, Đá kiện, Đánh đáo, Đánh bi, Đánh khăng (Đánh trổng), Đánh cù, Đánh chuyền, Chơi ô ăn quan (Đánh ruộng), Đi cà kheo, Nhảy bao bố, Cờ tam cúc

III.11-Di tích lịch sử, văn hóa và danh thắng

Hiện nay ở Phú Yên có 13 di tích lịch sử, văn hóa và danh thắng được xếp hạng di tích quốc gia và hàng chục di tích khác phân bố trên khắp địa bàn của 9 huyện và thành phố Ở đây chỉ nêu tóm tắt các di tích lịch sử, văn hóa, danh thắng cấp quốc gia và một số

di tích nổi tiếng có liên quan đến những câu chuyện truyền thuyết và huyền thoại được lưu truyền trong dân gian

III.11.1-Các di tích lịch sử-văn hoá và danh thắng cấp quốc gia:

1-Di tích kiến trúc nghệ thuật Tháp Nhạn

Tháp Nhạn nằm trên núi Nhạn bên bờ sông Ba, ở phường 1, thành phố Tuy Hòa, là một công trình kiến trúc vào loại lớn của người Chăm, xây dựng vào khoảng thế kỷ X-XIII Trong dân gian vẫn còn lưu lại câu chuyện về việc xây tháp Nhạn Di tích được Bộ Văn hoá-Thông tin công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia tại Quyết định

số 1288/QĐ-VH, ngày 16.11.1988

2-Di tích lịch sử Mộ và đền thờ Lương Văn Chánh

Lương Văn Chánh là vị thành hoàng mở đất dựng làng, bảo vệ nhân dân Đền thờ Lương Văn Chánh nằm ở thôn Phụng Tường, huyện Phú Hòa Mộ nằm ở phía đông-bắc thôn, trên gò cao, quay mặt ra sông Bến Lội Di tích được Bộ Văn hoá-Thông tin công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia tại Quyết định số 2410/QĐ-VH, ngày 27.7.1996

3-Di tích lịch sử Mộ và Đền thờ Lê Thành Phương

Lê Thành Phương là người khởi xướng và lãnh đạo phong trào Cần Vương ở Phú Yên Mộ Lê Thành Phương nằm trên núi Đá Trắng, thôn Phú Mỹ, xã An Hiệp, huyện Tuy

An Trước mộ có tấm bia khắc chữ Hán “Lê Thành Phương chi mộ”, hai bên có câu

“Quốc gia tri ân” và “Anh hùng liệt sĩ” Di tích được Bộ Văn hoá-Thông tin công nhận là

di tích lịch sử cấp quốc gia tại Quyết định số 2410/QĐ-VH, ngày 27.9.1996

4-Di tích lịch sử-nghệ thuật Chùa Từ Quang (chùa Đá Trắng)

Chùa đá Trắng nằm trên núi cao 100m so với mặt nước biển, ở thôn Cần Lương, xã

An Dân, huyện Tuy An Xung quanh chùa có vườn xoài ngon nổi tiếng, đã đi vào thành

Trang 30

ngữ “Xoài Đá Trắng, sắn Phường Lụa” Ngày xưa xoài Đá Trắng được dùng để tiến cho vua Năm 1898, chùa là nơi dấy binh chống Pháp của Võ Trứ Di tích được Bộ Văn hoá-Thông tin công nhận là di tích lịch sử-nghệ thuật cấp quốc gia tại Quyết định số

2410/QĐ-VH, ngày 29.6.1996

5-Di tích thắng cảnh Đầm Ô Loan

Đầm Ô Loan nằm dưới chân đèo Quán Cau, bên quốc lộ 1A, là địa danh gắn với phong trào Cần Vương của Phú Yên Nơi đây có nhiều truyền thuyết huyền thoại, lễ hội

và đặc sản nổi tiếng Di tích được Bộ Văn hoá-Thông tin công nhận là di tích thắng cảnh

cấp quốc gia tại Quyết định số 2410/QĐ-VH, ngày 29.6.1996

6-Di tích thắng cảnh Gành Đá Dĩa

Gành Đá Dĩa nằm ở xã An Ninh Đông, huyện Tuy An, có cấu tạo bằng nhiều cột

đá hình lục giác, đều khít, chồng lên nhau Di tích được Bộ Văn hoá-Thông tin công nhận

là di tích thắng cảnh cấp quốc gia tại Quyết định số 141/QĐ-VH, ngày 23.1.1997

7-Di tích lịch sử Nơi thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở tỉnh Phú Yên Nơi đây nguyên là nhà của đồng chí Phan Lưu Thanh, ở thôn Long Bình, thị trấn

La Hai Ngày 5-10-1930, tại đây, các đồng chí đảng viên đã họp và tuyên bố thành lập chi

bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở tỉnh Phú Yên Di tích được Bộ Văn hoá-Thông tin công

nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia tại Quyết định số 1543/QĐ-VH, ngày 18.6.1997

8-Di tích lịch sử Nơi xảy ra vụ thảm sát Ngân Sơn-Chí Thạnh

Di tích nằm ở thôn Ngân Sơn, xã Chí Thạnh, huyện Tuy An Tháng 9-1954, tại đây, địch đã gây ra vụ thảm sát giết chết 64 người và làm 76 người khác bị thương Di tích được Bộ Văn hoá-Thông tin công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia tại Quyết định

số 1543/QĐ-VH, ngày 18.6.1997

9-Di tích lịch sử Vũng Rô

Vũng Rô nằm ở gần đèo Cả, xã Hòa Tâm, huyện Đông Hòa, là nơi tiếp nhận Tàu không số chở vũ khí đạn dược thuốc men từ miền Bắc vào cho chiến trường Phú Yên Di tích được Bộ Văn hoá-Thông tin công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia tại Quyết định

số 1543/QĐ-VH, ngày 18.6.1997

10-Di tích lịch sử Đường số 5

Đường số 5 nay là tỉnh lộ ĐT645, từ thị trấn Phú Lâm qua Sông Hinh lên Tây Nguyên Tháng 3-1975, các lực lượng vũ trang Tuy Hòa đã chặn đánh cuộc rút lui của tàn quân ngụy từ Tây Nguyên xuống, góp phần đáng kể vào việc giải phóng Phú Yên và giải phóng hoàn toàn miền Nam Di tích được Bộ Văn hoá-Thông tin công nhận là di tích lịch

sử cấp quốc gia tại Quyết định số 1543/QĐ-VH, ngày 18.6.1997

11-Di di tích lịch sử Thành Hồ

Di tích nằm ở xã Hòa Định Đông, huyện Phú Hòa, là một thành quân sự rất kiên cố

và quan trọng của người Chăm Di tích được Bộ Văn hoá-Thông tin công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia tại Quyết định số 36/2005/QĐ-BVHTT, ngày 22.8.2005

12-Di tích lịch sử thành An Thổ

Thành An Thổ là thành quân sự của người Việt được xây dựng từ thời vua Minh Mạng tại thôn Long Uyên, nay thuộc xã An Dân, huyện Tuy An Đây là thành có quy mô lớn nhất trong số 3 thành của người Việt ở Hội Phú, Long Uyên, Tân Thạnh và là thành

có thời gian tồn lại lâu nhất Đây cũng là nơi sinh của đồng chí Trần Phú-Tổng bí thư đầu

Trang 31

tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam Di tích được Bộ Văn hoá-Thông tin công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia tại Quyết định số 37/2005/QĐ-BVHTT, ngày 22.8.2005

13-Di tích lịch sử Đồng khởi Hòa Thịnh

Nơi đây đã diễn ra cuộc đồng khởi của nhân dân, nổi dậy xóa bỏ chính quyền ngụy, thành lập chính quyền cách mạng vào đêm 22-12-1960 tại xã Hòa Thịnh, huyện Phú Hòa Di tích được Bộ Văn hoá-Thông tin công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia tại Quyết định số 69/2005/QĐ-BVHTT, ngày 16.11.2005

III.11.2-Các di tích lịch sử và danh thắng khác:

-Nhà Tưởng niệm Bác Hồ tại truông Bà Viên, xã Sơn Định, huyện Sơn Hòa, được cán bộ, nhân dân và các lực lượng vũ trang xây dựng bằng tranh tre nứa lá vào năm 1969

để tỏ lòng thương tiếc và nhớ đến công lao của Bác

-Hòn Chùa là một đảo nhỏ, cách bờ 2 km, thuộc xã An Phú, thành phố Tuy Hòa Trên đỉnh hòn Chùa có nhiều dấu tích về người Chăm và nhiều truyền thuyết liên quan đến cuộc chiến tranh giữa nhà Nguyễn và nhà Tây Sơn

-Núi Đá Bia trên dãy đèo Cả, cao 706m, có một huyền thoại về việc Vua Lê Thánh Tông khắc bia lên núi để phân định ranh giới với Chiêm Thành

-Cổ thành, được xây dựng ở thôn Hội Phú, nay thuộc xã An Ninh Tây, huyện Tuy

An Từ thời chúa Nguyễn là nơi đóng dinh Trấn Biên và căn cứ hải quân của dinh

-Dinh Ông nằm cạnh quốc lộ 25 xã Hòa Định Đông, huyện Phú Hòa Theo truyền thuyết, nơi đây đã diễn ra trận đánh quan trọng khi Lương Văn Chánh đem quân đánh vào Thành Hồ

-Cù lao Nần (hòn Nần) nằm ở làng Phú Dương, xã Xuân Thịnh, huyện Sông Cầu Trên cù lao có miếu Công thần ghi nhận công lao của nữ nhi họ Phạm đã giúp Nguyễn Ánh trong lúc hoạn nạn

-Vũng Lắm thuộc xã Xuân Thọ I, huyện Sông Cầu, là chiến địa trong các cuộc giao tranh giữa nhà Nguyễn và nhà Tây Sơn, là thương cảng buôn bán sầm uất cuối thế kỷ XIX

Những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, truyền thống lịch sử và kho tàng văn hóa của vùng đất Phú Yên là nền tảng quan trọng tạo nên những câu chuyện truyền thuyết, huyền thoại vô cùng phong phú và hấp dẫn được lưu truyền trong dân gian Trong số đó có rất nhiều những câu chuyện liên quan đến các di tích lịch sử và danh thắng

Trang 32

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỂ XÁC ĐỊNH CÁC TRUYỀN THUYẾT,

HUYỀN THOẠI TRÊN ĐẤT PHÚ YÊN

Theo “Từ điển tiếng Việt” do Phòng Từ điển-Viện Ngôn ngữ học thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam chủ biên, NXB Khoa học xã hội xuất bản năm 1988 (gọi tắt là

Từ điển tiếng Việt năm 1988) và tái bản lần thứ 2 năm 1992 có sửa chữa bổ sung (gọi tắt

là Từ điển tiếng Việt năm 1992) thì truyền thuyết là “Truyện dân gian truyền miệng về các nhân vật và sự kiện có liên quan đến lịch sử, thường mang nhiều yếu tố thần kỳ Truyền thuyết về nguồn gốc dân tộc Truyền thuyết về Thánh Gióng” [51, tr.1034]

Theo “Từ điển tiếng Việt” của ban Biên soan chuyên từ điển NEW ERA, NXB Văn hoá-Thông tin xuất bản năm 2005, (gọi tắt là Từ điển tiếng Việt năm 2005), thì truyền

thuyết là “Lời nói hay câu chuyện được dân gian truyền từ đời này qua đời khác từ lâu Chuyện Sơn Tinh Thuỷ Tinh là một truyền thuyết đã có từ lâu đời” [52, tr.2011]

“Từ điển Văn học”, tập 2, NXB Khoa học xã hội xuất bản năm 1984, định nghĩa,

truyền thuyết là “Một trong những thể loại tự sự dân gian, có quan hệ gần gũi với các thể loại tự sự dân gian khác như thần thoại và truyện cổ tích, vì trong hệ thống hình tượng truyền thuyết phần hư cấu nghệ thuật chủ yếu dựa vào những mẫu đề và hình tượng của thần thoại và truyện cổ tích thần kỳ Đặc điểm chủ yếu phân biệt truyền thuyết với các thể loại thần thoại và truyện cổ tích là trong truyền thuyết bao giờ cũng giữ lại được những nét chính yếu của những sự kiện và con người có thực, làm thành cái cốt lõi hiện thực lịch sử-cụ thể cho trí tưởng tượng nghệ thuật của nhân dân” [53, tr.449]

“Từ điển bách khoa Việt Nam”, tập 4, NXB Từ điển bách khoa, năm 2005, định

nghĩa, truyền thuyết là “Chuyện dân gian truyền miệng, cũng giống như thần thoại và truyện cổ tích, nhưng khác ở chỗ, truyền thuyết dựa vào những nhân vật có thật, những sự việc có thật, và mang nhiều yếu tố thần kỳ, do người xưa tưởng tượng ra” [46, tr.6341]

Trong “Tổng tập Văn học dân gian người Việt”, Tập 4 “Truyền thuyết dân gian người Việt” của Viện Khoa học xã hội Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, năm 2004 (gọi

tắt là Truyền thuyết dân gian người Việt năm 2004), nói về truyền thuyết như sau: “Dựa trên những điều có thật trong lịch sử, người dân tô điểm thêm những tình tiết có tính huyền thoại như các nhân vật là quỷ thần, yêu quái làm cho câu chuyện thêm phần hấp

Trang 33

dẫn và dễ lưu truyền trong dân gian từ thế hệ này qua thế hệ khác Trước khi truyền thuyết được sưu tầm và ghi lại bằng văn tự, nó là một thể loại của văn học truyền miệng”

[44, tr.22]

Còn theo Phan Trần (tức Phan Kế Hoành và Trần Quốc Vượng) trong bài báo “Tinh

thần dân tộc qua các truyền thuyết lịch sử” trong tạp chí Văn học, số 3, 1967, thì “Truyền thuyết là những sáng tác dân gian, những câu chuyện dân gian có dựa trên cơ sở những

-Là chuyện dân gian truyền miệng

-Về các nhân vật và sự kiện có liên quan đến lịch sử

-Thường mang nhiều yếu tố thần kỳ

Có nghĩa là chúng được sáng tạo ra, lưu giữ và truyền lại cho thế hệ sau trong quần chúng nhân dân bằng truyền miệng, lưu truyền trong nhân dân; thường có liên quan đến những sự kiện trong lịch sử, nhưng không phải là chính sử, không được ghi chép trong chính sử; các nhân vật hay sự kiện mang nhiều yếu tố thần kỳ, hư ảo

“Từ điển tiếng Việt” năm 2005, định nghĩa, huyền thoại là “Câu chuyện huyền hoặc, khó tin của thời cổ” [52, tr.1004]

“Từ điển bách khoa Việt Nam”, tập 2, NXB Từ điển bách khoa xuất bản năm 2002,

định nghĩa, huyền thoại là “Chuyện huyễn hoặc, thần bí, do trí tưởng tượng hư cấu Huyền thoại thường kể về các vị thần linh, các nhân vật siêu phàm, có những hành động

kỳ vĩ, gắn ít nhiều với lịch sử, phần lớn không có cơ sở thực tế [46, tr.414]

Trong “150 thành ngữ Văn học” của Lại Nguyên Ân, NXB Đại học quốc gia, năm

1999, nhận xét: “Huyền thoại và thần thoại ở tiếng Việt là hai từ đồng nghĩa, tương đương với các thuật ngữ châu Âu vốn có gốc từ Mythos của Hy Lạp” [2, tr.155]

Trong “Từ điển Văn học”-Đỗ Đức Hiểu chủ biên, NXB Thế giới, năm 2003, trích

dẫn: “Theo Từ điển Robert, huyền thoại là một câu chuyện hoang đường, có nguồn gốc trong dân gian từ thời sơ khai, nó kể chuyện, dưới dạng biểu tượng, những con người, những sức mạnh thiên nhiên, như là những mặt khác nhau của thân phận con người Huyền thoại là câu chuyện hư tưởng và có ý nghĩa biểu tượng, mang nhiều nghĩa bí ẩn”

Trang 34

[18, tr.667]

Trong các tài liệu vừa dẫn ở trên, không có tài liệu nào ghi nhận là các câu chuyện huyền thoại có liên quan đến nhân vật hay sự kiện trong lịch sử Nhưng cũng trong “Từ điển Văn học”-Đỗ Đức Hiểu chủ biên, NXB Thế giới, năm 2003, tác giả có nhận xét về

mối quan hệ giữa nhân vật lịch sử và huyền thoại như sau: “Nhân vật lịch sử có thể trở thành nhân vật huyền thoại: Truyện pha trộn cái thực với cái hoang đường, cái hư ảo, cái

kỳ diệu, thường bằng phương pháp phóng đại các kích cỡ, làm lệch lạc hình tượng nhân vật hay sự kiện lịch sử, có khi thần bí hoá nó, nhằm giải thích một nhân vật kỳ vĩ, hoặc tuyên truyền trong dân chúng một tư tưởng nào đó” [18, tr.666]

Qua các định nghĩa trên, ta có thể rút ra một số nhận xét về huyền thoại sau đây:

-Là chuyện dân gian truyền miệng

-Mang yếu tố huyền hoặc hay kỳ lạ, hoàn toàn do tưởng tượng

-Chuyện không liên quan đến nhân vật hay sự kiện lịch sử Tuy nhiên trong một số trường hợp cụ thể, nhân vật lịch sử có thể trở thành nhân vật huyền thoại

I.3-Những điểm giống nhau và khác nhau giữa truyền thuyết và huyền thoại

Như vậy, truyền thuyết là những câu chuyện dân gian truyền miệng về các nhân vật và

sự kiện có liên quan đến lịch sử thường mang những yếu tố thần kỳ Huyền thoại là những câu chuyện huyền hoặc, kỳ lạ, hoàn toàn do tưởng tượng Trên cơ sở những khái niệm trên, chúng ta có thể rút ra những điểm giống nhau và khác nhau giữa truyền thuyết và

huyền thoại

I.3.1-Điểm giống nhau giữa truyền thuyết và huyền thoại:

Truyền thuyết thường mang những yếu tố thần kỳ

Huyền thoại là câu chuyện huyền hoặc, kỳ lạ

Có nghĩa là cả hai thể loại này đều mang những yếu tố thần kỳ, kỳ lạ, huyền hoặc, tức

là sự hiện diện của yếu tố thần kỳ, trong truyện phải có những chi tiết hay hành động khác thường mà những con người bình thường không thể làm được

Ngoài ra, truyền thuyết và huyền thoại còn có chung dấu hiệu niềm tin, tức là những người mang chúng tin vào tính xác thực của điều được thông báo

Ngôn bản của truyền thuyết và huyền thoại thuộc về toàn thể bộ lạc hoặc toàn thể dòng họ

Về kết cấu, nhìn chung các truyền thuyết, huyền thoại thường là những tác phẩm có cốt truyện không hoàn chỉnh và không ổn định, mà chỉ là những mẩu chuyện hoặc tình tiết

mà người kể hoặc người biên soạn có thể tuỳ ý sắp xếp theo những bố cục khác nhau Tuy nhiên, có một số truyền thuyết, huyền thoại về nhân vật có kết cấu khá chặt chẽ, đôi khi là những câu chuyện hoàn chỉnh

I.3.2-Điểm khác nhau giữa truyền thuyết và huyền thoại:

Trang 35

Truyền thuyết có liên quan đến nhân vật và sự kiện có thật trong lịch sử, còn huyền thoại là hoàn toàn do tưởng tượng Nghĩa là truyền thuyết nhất thiết phải liên quan đến

lịch sử, có thể là sự kiện hay nhân vật, dù ít hay nhiều và có nền tảng cơ bản là những sự kiện đã từng diễn ra trong lịch sử Còn huyền thoại thì không liên quan đến những nhân vật hay sự kiện trong lịch sử và hoàn toàn là do tưởng tượng Tuy nhiên, mặc dù huyền thoại là những câu chuyện tưởng tượng, nhưng đó không phải là chuyện khoa học viễn tưởng mà là những câu chuyện về con người sống trên trần thế, dù là những câu chuyện

tưởng tượng thì chúng cũng được xây dựng trên nền tảng của đời sống xã hội hiện thực

Để chứng minh cho 2 thể loại truyền thuyết và huyền thoại, ta có thể lấy ví dụ từ 2 câu chuyện đều được sưu tầm tại Vũng La

-Chuyện thứ nhất “Truyền thuyết về dấu chân của Nguyễn Ánh tại Vũng La”

Tóm tắt nội dung: Nguyễn Ánh giao tranh với nhà Tây Sơn trong vịnh Xuân Đài, thua trận, bị truy đuổi đến Vũng La Bước đường cùng, ngửa mặt lên trời dậm chân xuống đất thề quyết lấy lại giang san Dấu chân in sâu xuống tảng đá vẫn còn lại đến ngày nay Qua truyền thuyết này ta thấy, nhân vật Nguyễn Ánh là có thật trong lịch sử, việc nhà Nguyễn giao tranh với nhà Tây Sơn trong vịnh Xuân Đài, rồi thua trận bị nhà Tây Sơn truy đuổi cũng được ghi trong chính sử Như vậy, trước hết câu chuyện này mang yếu tố

của truyền thuyết vì đây là câu chuyện về các nhân vật và sự kiện có liên quan đến lịch

sử Tuy nhiên, chi tiết Nguyễn Ánh đến bước đường cùng, ngửa mặt lên trời, dậm chân và dấu chân in sâu xuống tảng đá vẫn còn lại đến ngày nay-là một chi tiết mang yếu tố thần

kỳ, bởi lẽ bàn chân con người dậm xuống không thể in dấu trên nền đá cứng Câu chuyện này được xếp vào loại truyện “truyền thuyết” vì nó đề cập đến đến nhân vật và sự kiện có liên quan đến lịch sử, đồng thời mang yếu tố thần kỳ

-Chuyện thứ hai: “Bàn cờ trên Gành Tướng”

Tóm tắt nội dung: Ở Vũng La có một ngư dân nghèo, một hôm nhìn thấy hai ông già tướng mạo phương phi ngồi đánh cờ trên Gành Tướng Qua câu chuyện nghe lỏm, người ngư dân biết được hai ông lão kia là thiên tướng nhà trời, đi ngang qua thấy non nước hữu tình bèn dừng chân, nghỉ ngơi, ngắm cảnh, đánh cờ Nghe theo lời căn dặn của hai ông tiên, người ngư dân không kể lại chuyện đó cho ai biết, gia đình từ đó ăn nên làm ra, phát tài, phát lộc, bản thân ông cũng trường thọ Nhân dịp lễ thựơng thọ chín mươi tuổi, người ngư dân buột miệng kể lại cho con cháu biết thì gia đình từ đó sa sút, lụn bại Ngày nay dấu vết bàn cờ của hai ông tiên vẫn còn lại trên Gành Tướng

Toàn bộ câu chuyện không có chi tiết nào liên quan đến nhân vật hay một một sự kiện

trong lịch sử, mà các chi tiết đều mang yếu tố huyền hoặc, kỳ lạ và là một câu chuyện hoàn toàn do tưởng tượng, dựa trên cơ sở một hòn đá có hình dạng giống bàn cờ, vì vậy

đây là một câu chuyện huyền thoại

II- TRUYỀN THUYẾT, HUYỀN THOẠI VỚI NHỮNG THỂ LOẠI SÁNG TÁC DÂN GIAN KHÁC

Trang 36

Để so sánh truyền thuyết, huyền thoại với những thể loại sáng tác dân gian khác, chúng ta hãy điểm qua một số khái niệm có liên quan

* Huyền sử: “Là chuyện truyền thuyết có tính chất huyền hoặc, hoang đường”.[51,

tr.471] Nội dung có liên quan đến các nhân vật và sự kiện lịch sử

* Dã sử: Là ký ức lịch sử được lưu truyền trong dân gian Khác với chính sử do nhà

nước tổ chức hoặc các học giả biên soạn và ấn hành Từ điển Tiếng Việt 1992, định nghĩa

dã sử là: “Lịch sử ghi chép những chuyện lưu truyền trong dân gian, do tư nhân viết, phân biệt với chính sử” [51, tr.245] Nội dung có liên quan đến các nhân vật và sự kiện

lịch sử

* Thần thoại: Là “Truyện kể dân gian về các vị thần, phản ánh những khát vọng của con người thời cổ trong đấu tranh chinh phục thiên nhiên” [51, tr.909] Nội dung không

liên quan đến các nhân vật hay sự kiện lịch sử

* Truyện cổ tích: “Là truyện cổ dân gian phản ánh cuộc đấu tranh trong xã hội, thể hiện tình cảm, đạo đức, mơ ước của nhân dân, về hình thức thường mang nhiều yếu tố thần kỳ, tượng trưng và ước lệ” [51, tr.1034] Đây là một trong những thể loại văn học

dân gian quan trọng và phổ biến rộng rãi Truyện cổ tích có các loại như: Truyện cổ tích loài vật, truyện cổ tích thần kỳ, truyện cổ tích hiện thực, truyện cổ tích phiêu lưu, truyện

cổ tích thế sự Điểm chung của truyện cổ tích là: Nội dung không liên quan đến các nhân vật hay sự kiện lịch sử

II.1-So sánh giữa truyền thuyết với huyền sử và dã sử

*So sánh truyền thuyết với huyền sử:

Như đã trình bày ở trên, những đặc điểm cơ bản của truyền thuyết là: Là chuyện dân gian truyền miệng Về các nhân vật và sự kiện có liên quan đến lịch sử Thường mang nhiều yếu tố thần kỳ

Còn huyền sử là chuyện truyền thuyết có tính chất huyền hoặc, hoang đường

Đối chiếu với huyền sử, ta thấy, giữa 2 thể loại truyền thuyết và huyền sử có nhiều nét tương đồng: Cả 2 đều là truyện truyền thuyết, đều là truyện dân gian truyền miệng, có liên quan đến nhân vật hay sự kiện trong lịch sử và đều mang những yếu tố thần kỳ, hoặc huyền hoặc, hoang đường Tuy nhiên, trong thể loại huyền sử, yếu tố thần kỳ, huyền hoặc, hoang đường đậm nét hơn so với truyền thuyết Trong các truyền thuyết sưu tầm được ở

Phú Yên, có những truyện truyền thuyết sau đây gần với huyền sử: Tiếng khóc trên đèo

Cù Mông, Truyền thuyết gò Cà và vực Linh Thiêng, Truyền thuyết về hồ Hảo Sơn…

*So sánh truyền thuyết với dã sử:

Còn truyện dã sử, theo định nghĩa, là ký ức lịch sử được lưu truyền trong dân gian Khác với chính sử do nhà nước tổ chức hoặc các học giả biên soạn và ấn hành Đối chiếu với thể loại truyền thuyết ta thấy, cả hai thể loại này có nét chung đều là truyện dân gian

Trang 37

và đều liên quan đến lịch sử Trong dã sử, vì yếu tố lịch sử được đặt lên hàng đầu (trong tên gọi có từ “sử”, trong định nghĩa có cụm từ “ký ức lịch sử”, cho nên truyện dã sử gần với lịch sử hơn Ngoài ra, trong truyện dã sử ít có, hoặc không có những yếu tố thần kỳ Thực chất có thể coi dã sử là truyện truyền thuyết không mang yếu tố thần kỳ Có thể kể

ra đây một số truyện truyền thuyết mang đặc điểm của truyện dã sử: Chiếc bánh nậm của

Nữ Nhi Phù Quốc ở đầm Cù Mông, Ngôi miếu thờ bà Trang, Truyền thuyết về hòn Bồ ở vũng Lắm, Ngôi miếu thờ bà Trang ở làng Hảo Sơn, Huyền thoại hang Hổ và hang Chùa…Các câu chuyện này, ít nhiều đều liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện có thật diễn

ra trong lịch sử, nhưng không được ghi chép trong chính sử và không mang yếu tố thần

kỳ

II.2-So sánh giữa huyền thoại với thần thoại và cổ tích

*So sánh huyền thoại với thần thoại

Đặc điểm của truyện huyền thoại là: Chuyện dân gian truyền miệng Mang yếu tố huyền hoặc hay kỳ lạ, hoàn toàn do tưởng tượng Chuyện không liên quan đến nhân vật hay sự kiện lịch sử Tuy nhiên trong một số trường hợp cụ thể, nhân vật lịch sử có thể trở thành nhân vật huyền thoại

Còn thần thoại là: Truyện kể dân gian về các vị thần, phản ánh những khát vọng của con người thời cổ trong đấu tranh chinh phục thiên nhiên”

Đặc điểm chung của 2 thể loại này: Đều là truyện dân gian

Truyện thần thoại là về các vị thần Điều này có nghĩa là truyện mang yếu tố huyền hoặc hay kỳ lạ vì đây là khả năng đặc biệt của các vị thần-là điểm khác biệt quan trọng so với người trần Và lẽ dĩ nhiên, truyện về các vị thần là do con người tưởng tuợng ra chứ hoàn toàn không có trong lịch sử Nghĩa là, thần thoại cũng mang yếu tố huyền hoặc hay

kỳ lạ và hoàn toàn do con người tưởng tượng ra

Từ đây, ta có thể rút ra nhận xét: Huyền thoại và thần thoaị có nét tương đồng là truyện dân gian, đều mang yếu tố huyền hoặc hay kỳ lạ, hoàn toàn do tưởng tượng Điểm khác biệt là thần thoại là truyện kể về các vị thần, còn huyền thoại có thể kể về nhiều nội dung khác Qua sưu tầm, phân tích, chúng tôi thấy, một số truyện huyền thoại sau đây

mang đặc điểm của thần thoại: Hoàng tử của Long Vương lạc vào cù lao Ông Xá, Huyền thoại về người khổng lồ dời núi lấp biển, Mũi Điện và huyền thoại về quả trứng vàng của Đông Hải Long Phi…Đây là những truyện nói về các vị thần tiên từ trên trời xuống trần

gian giúp con người, hoặc dạo chơi và để lại những dấu ấn về sự hiện diện của họ trên mặt đất

*So sánh huyền thoại với cổ tích

Truyện cổ tích, như đã nêu ở trên, là truyện cổ dân gian phản ánh cuộc đấu tranh trong

xã hội, thể hiện tình cảm, đạo đức, mơ ước của nhân dân, về hình thức thường mang nhiều yếu tố thần kỳ, tượng trưng và ước lệ Như vậy, giữa huyền thoại và truyện cổ tích có nhiều nét tương đồng Chúng đều là truyện dân gian, đều mang nhiều yếu tố thần kỳ, đều

do nhân dân tưởng tượng ra, hoàn toàn không liên quan đến nhân vật hay sự kiện lịch sử Điểm khác biệt quan trọng có thể phân biệt truyện cổ tích với huyền thoại là: Về hình

Trang 38

thức thể hiện thì truyện cổ tích mang nhiều yếu tố tượng trưng và ước lệ, về nội dung thì truyện cổ tích phản ánh cuộc đấu tranh trong xã hội, thể hiện tình cảm, đạo đức, mơ ước

của nhân dân (Tấm Cám, Bánh chưng bánh dày, Thạch Sanh…) Còn huyền thoại có nội

dung đa dạng hơn và không nhất thiết phải mang yếu tố tượng trưng và ước lệ Đối chiếu với các truyện huyền thoại sưu tầm được ở Phú Yên liên quan đến di tích lịch sử và danh

thắng, một số huyền thoại sau đây mang yếu tố của truyện cổ tích, đó là các truyện: Tiên

nữ ở bàu Hương, Chuyện bà Đào Thị và bầy rắn, Vườn chè trên Núi Chúa

III- KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM, DIỆN MẠO

TRUYỀN THUYẾT, HUYỀN THOẠI Ở PHÚ YÊN

III.1-Phân loại các truyền thuyết, huyền thoại liên quan đến di tích lịch sử và

3 loại (truyền thuyết Nhân vật, truyền thuyết Lịch sử, truyền thuyết Phong vật địa phương)… [44, tr 27]

Riêng ở Việt Nam, trong sách “Văn học dân gian Việt Nam” của Lê Chí Quế, NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, năm 1990, thì “tạm chia” truyền thuyết làm 3 loại là truyền thuyết Lịch sử, truyền thuyết Anh hùng và truyền thuyết Danh nhân văn hóa Theo

Lê Trường Phát trong cuốn “Thi pháp văn học dân gian”, NXB Giáo dục, năm 2000 cho biết, thì tác giả Đỗ Bình Trị có một cách chia truyền thuyết thành truyền thuyết Địa danh, truyền thuyết Phổ hệ và truyền thuyết Lịch sử

Cuối cùng, theo Viện Khoa học xã hội Việt Nam, thì truyền thuyết được phân thành

3 nhóm:

-Truyền thuyết Nhân vật

-Truyền thuyết Địa danh

-Truyền thuyết Phong vật (phong tục và sản vật)

[44, tr 35]

Đối với các truyền thuyết, huyền thoại có liên quan đến các di tích lịch sử danh thắng ở Phú Yên, qua sưu tầm, nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy các truyền thuyết, huyền thoại ở Phú Yên cũng tập trung vào các nội dung trên Do đó để thuận lợi cho việc phân tích, so sánh sau này, chúng tôi cũng phân theo 3 nhóm trên

Trang 39

III.1.1-Số lượng các truyền thuyết, huyền thoại được phân theo các nhóm:

-Các truyền thuyết, huyền thoại về Nhân vật: 24 truyện

-Các truyền thuyết, huyền thoại về Địa danh: 31 truyện

-Các truyền thuyết, huyền thoại về Phong vật: 03 truyện

Nội dung chi tiết về số lượng các truyền thuyết, huyền thoại phân theo các nhóm được thể hiện trong PHỤ LỤC 2 -BẢNG PHÂN LOẠI CÁC TRUYỀN THUYẾT, HUYỀN THOẠI

III.1.2-Đặc điểm nội dung của các nhóm truyền thuyết, huyền thoại:

* Các truyền thuyết, huyền thoại về nhân vật:

Đây là loại truyện có kết cấu tương đối chặt chẽ, tình tiết phong phú, hấp dẫn, nội dung sinh mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc, có truyện còn mang ý nghĩa triết lý Điển hình

là các truyện: Chiếc bánh nậm của Nữ Nhi Phù Quốc-nói về tấm lòng nhân hậu của người phụ nữ nông thôn Phú Yên; truyện Gành Đá Đĩa và huyền thoại về kho báu biến thành

đá, Truyền thuyết về con lươn ở buôn Đức phê phán những thói hư tật xấu của con người; truyện Vườn chè trên núi Chúa-ca ngợi tình yêu cha mẹ-con cái và tình yêu đôi lứa; truyện Dấu chân Y Rít và bến nước buôn Chơ, Ông Chăm Mùng và con thuồng luồng ca

ngợi lòng dũng cảm tinh thần hy sinh vì cộng đồng của những con người bình thường… Trên vùng đất Sông Cầu, Tuy An và Tuy Hoà-nơi diễn ra những sự kiện quan trọng giữa nhà Nguyễn và phong trào Tây Sơn, vì vậy cũng có nhiều truyền thuyết liên quan

đến sự kiện này (Chiếc bánh nậm của Nữ Nhi Phù Quốc, Truyền thuyết về dấu chân Nguyễn Ánh ở Vũng La, Ngôi miếu thờ Bà Trang, Chuyện chùa Hang trên núi Chóp Chài

và Trại Cháy ở Vân Hoà, Truyền thuyết về ngôi chùa cổ trên Hòn Chùa, Ngôi miếu thờ bà Trang ở làng Hảo Sơn) Tuy nhiên hầu hết các truyền thuyết chỉ liên quan đến nhân vật

Nguyễn Ánh, còn các truyền thuyết về anh em nhà Tây Sơn hoàn toàn không có Điều này, theo chúng tôi, nguyên nhân có thể bắt nguồn từ sự việc: Sau nhiều năm chiến tranh, cuối cùng Nguyễn Ánh cũng lấy được ngôi báu Sau này, một số tác giả đã chép lại và tạo

ra những truyền thuyết về quá trình “tẩu quốc” và “phục quốc” của Nguyễn Ánh thành 2

tập sách “Gia Long tẩu quốc” và “Gia Long phục quốc” và cho lưu truyền trong nhân dân

Những chuyện đó, trải qua năm tháng, cùng với trí tưởng tượng của nhân dân, bây giờ trở thành truyền thuyết dân gian (?) Còn anh em nhà Nguyễn Huệ, dù sao thì cuối cùng họ cũng thua nên không được nhắc đến trong thời kỳ Nguyễn Ánh trị vì

* Các truyền thuyết, huyền thoại về địa danh:

Đây là thể loại có số truyện nhiều nhất đã sưu tầm được Có cảm giác như người Phú Yên rất có trí tưởng tượng, vì bất cứ một cảnh quan nào có hình dáng hơi khác thường một chút là có ngay một cái tên tương ứng cùng một câu chuyện khá ly kỳ liên quan đến địa danh đó Có những địa danh gắn với những nhân vật hay sự kiện lịch sử (thuộc thể loại truyền thuyết) như: núi Đá Bia, Hòn Bồ, Dấu chân Nguyễn Ánh, Tháp Nhạn và những câu chuyện liên quan đến nhân vật Cao Biền của Trung Hoa Những câu

Trang 40

chuyện còn lại hoàn toàn do tưởng tượng (huyền thoại), đó là các truyện về các địa danh: Gành Tướng, đèo Cù Mông, vũng Lấm, bãi Tiên, đầm Ô Loan, hai hòn đá của Lã Vọng, núi Nhạn và núi Chóp Chài, Thạch Hổ Động, chợ Ma Liên, hang Cồ

* Các truyền thuyết, huyền thoại về phong vật ( phong tục và sản vật):

Ở Phú Yên có nhiều sản vật ngon và quý hiếm, rất nổi tiếng không chỉ trong tỉnh mà

cả nước, như sò huyết Ô Loan, xoài Đá Trắng, gỏi cá Tuy An, lúa Tuy Hòa, dừa Mỹ Á, ốc

vú nàng Vũng Rô Khi thi sĩ Tản Đà vào đến Sông Cầu, Tuy An, ông đã theo thuyền ra đầm Ô Loan để thưởng thức các món ngon vật lạ nơi đây và thốt lên:

Lấy chi vui với thu tàn

Phú Câu cước cá, Ô Loan miếng hàu

Tuy nhiên, trong quá trình điền dã chúng tôi cố gắng sưu tầm, dò hỏi, đối chiếu, nhưng rất hiếm các câu chuyện truyền thuyết, huyền thoại liên quan đến phong tục và sản vật Qua phân loại chỉ có 3 truyện Về nội dung, các truyện này cũng cũng không hấp dẫn bằng các truyện về nhân vật

III.2-Hình thức thể hiện của truyện truyền thuyết, huyền thoại

Như đã phân tích, huyền thoại là hoàn toàn do tưởng tượng và luôn mang yếu tố huyền hoặc, kỳ lạ, còn truyền thuyết là những câu chuyện liên quan đến các nhân vật hoặc

sự kiện trong lịch sử và thường mang yếu tố thần kỳ

Tuy nhiên nói như vậy không phải câu chuyện truyền thuyết nào ở Phú Yên liên quan đến các di tích lịch sử danh thắng cũng mang yếu tố thần kỳ Có những câu chuyện, liên quan đến các nhân vật hoặc sự kiện trong lịch sử, song không mang màu sắc thần kỳ, huyền bí Có thể vì đó là những nhân vật hay sự kiện không quan trọng nên không được ghi lại trong chính sử, hoặc do nhân dân vì một lý do nào đó đã nghĩ ra rồi gán câu chuyện

đó cho nhân vật hay sự kiện và được lưu truyền trong dân gian Những truyện như vậy thuộc loại truyền thuyết nhưng không mang yếu tố thần kỳ Xét về mặt thể loại thì chúng mang yếu tố của chuyện dã sử

Truyện Chiếc bánh nậm của Nữ Nhi Phù Quốc ở đầm Cù Mông là một truyện điển

hình thuộc loại truyền thuyết nhưng không mang yếu tố thần kỳ

Nội dung câu chuyện nói về việc Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn truy đuổi, dạt xuống hòn Nần ở đầm Cù Mông Bà Phạm Thị một phụ nữ nông dân chất phác, chân yếu tay mềm chứng kiến cảnh hoạn nạn của Nguyễn Ánh đã không nỡ bỏ mặc ông hoặc trao ông vào tay quân lính nhà Tây Sơn Bà đã làm những chiếc bánh nậm để nuôi ông với tâm niệm giản dị “thấy người cùng đường mà không giúp là kẻ không có lòng nhân, lại bắt nộp để nhận vàng bạc châu báu là kẻ bất lương” Sau này, khi qua cơn hoạn nạn, lên ngôi vàng, Nguyễn Ánh đã cho người tìm bà để báo đáp ân xưa và phong cho bà 4 chữ “Nữ Nhi Phù Quốc”

Toàn bộ câu chuyện chỉ kể về tấm lòng chân thành và đôn hậu của người dân Phú Yên thông qua hình ảnh người phụ nữ nông thôn chất phác là bà Phạm Thị Trong truyện không có chi tiết nào mang yếu tố thần kỳ, thần bí, nhưng có liên quan đến nhân vật có thật trong lịch sử là Nguyễn Ánh và sự kiện có thật là Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn truy

Ngày đăng: 14/05/2014, 09:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG PHÂN LOẠI CÁC TRUYỀN THUYẾT, HUYỀN THOẠI - Các truyền thuyết, huyền thoại liên quan đến di tích lịch sử và danh thắng ở phú yên
BẢNG PHÂN LOẠI CÁC TRUYỀN THUYẾT, HUYỀN THOẠI (Trang 160)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w