1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Triết học Mác Lênin với việc xác định con đường và động lực đi lên chủ nghĩa xã hội ở việt nam hiện nay

538 1,1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Triết học Mác - Lênin với việc xác định con đường và động lực đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay
Tác giả PGS. TS. Nguyễn Thế Kiệt, ThS. Thiều Quang Đồng
Trường học Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 538
Dung lượng 3,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2.3 Triết học Mác – Lênin với tính cách là thế giới quan, phương pháp luận cho việc xác định con đường lên CNXH ở Việt Nam 31 1.2.4 Triết học Mác – Lênin với tính cách là thế giới qu

Trang 1

Học viện chính trị – hành chính quốc gia Hồ chí minh

Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu

khoa học cấp bộ Năm 2007

M∙ số: b 07 – 16

Triết học Mác – Lênin với việc xác định con đường và động lực đi lên chủ nghĩa xã hội

ở Việt Nam hiện nay

Chủ nhiệm đề tài : pGS TS Nguyễn thế kiệt Thư ký đề tài : ths Thiều quang đồng Cơ quan chủ trì : Viện Triết học

6882

30/5/2008

Trang 2

Danh sách cộng tác viên tham gia đề tài

Học viện chính trị – hành chính quốc gia Hồ chí minh

Bản tổng hợp kết quả nghiên cứu

Đề tài khoa học cấp bộ Năm 2007

M∙ số: b 07 – 16

Triết học Mác – Lênin với việc xác định con

đường và động lực đi lên chủ nghĩa xã hội

ở Việt Nam hiện nay

Chủ nhiệm đề tài : pGS TS Nguyễn thế kiệt Thư ký đề tài : ths Thiều quang đồng Cơ quan chủ trì : Viện Triết học

Hà Nội 2007

Trang 3

Danh s¸ch céng t¸c viªn

PGS TS L−¬ng Gia Ban Tr−êng §H Th−¬ng m¹i

TS Ph¹m Th¸i B×nh HV C¶nh s¸t nh©n d©n

GS TS NguyÔn Träng ChuÈn ViÖn KHXH VN

ThS §Æng Quang §Þnh ViÖn TriÕt häc - HV PGS.TS NguyÔn TÜnh Gia ViÖn TriÕt häc - HV ThS §µo H÷u H¶i ViÖn TriÕt häc - HV PGS.TS NguyÔn Hïng HËu ViÖn TriÕt häc - HV PGS TS Mai Trung HËu HVCTQG HCM

PTS NguyÔn Minh Hoµn ViÖn TriÕt häc - HV

NCS NguyÔn ChÝ HiÕu ViÖn TriÕt häc

ThS Vò Thanh H−¬ng ViÖn TriÕt häc - HV ThS Ph¹m Anh Hïng ViÖn TriÕt häc - HV PGS TS NguyÔn ChÝ Mú Ban Tuyªn gi¸o TU HN PGS TS NguyÔn ThÞ Nga ViÖn TriÕt häc - HV ThS Ph¹m ViÕt L−îng HV An ninh nh©n d©n PGS.TS TrÇn V¨n Phßng ViÖn TriÕt häc - HV ThS TrÇn ViÕt Qu©n HV ChÝnh trÞ khu vùc III

PGS TS TrÇn Thµnh ViÖn TriÕt häc - HV ThS §µo ThÞ Minh Th¶o Tr−êng §H H¶i Phßng

GS TS TrÇn Phóc Th¨ng ViÖn TriÕt häc - HV

Trang 4

Mục lục Trang

Chương I Triết học Mác – Lênin – Cơ sở lý luận của việc

xác định con đường và động lực lên CNXH ở Việt Nam

9

1.1 Triết học Mác – Lênin, vai trò của nó trong đời sống xã

hội

9

1.1.1 Chức năng thế giới quan, phương pháp luận của triết học 9

1.1.2 Triết học Mác – Lênin là thế giới quan, phương pháp

luận khoa học hoàn bị nhất

12

1.1.3 Vai trò của triết học Mác – Lênin trong đời sống x∙ hội 16

1.1.4 Những giá trị bền vững của triết học Mác – Lênin 21

1.2 Triết học Mác – Lênin với tính cách là thế giới quan,

phương pháp luận cho việc xác định con đường và động lực trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam

1.2.3 Triết học Mác – Lênin với tính cách là thế giới quan,

phương pháp luận cho việc xác định con đường lên CNXH ở Việt Nam

31

1.2.4 Triết học Mác – Lênin với tính cách là thế giới quan,

phương pháp luận cho việc xác định động lực trong thời

kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam

38

Chương II Vận dụng, phát triển triết học Mác – Lênin

trong việc xác định con đường và động lực lên CNXH ở Việt Nam – Thực trạng và những vấn đề

đặt ra

43

Trang 5

2.1 Thực trạng và vận dụng phát triển triết học Mác – Lênin

trong việc xác định con đường lên CNXH ở Việt Nam

43

2.1.1 Học thyết hình thái kinh tế – x∙ hội với việc xác định con

đường lên CNXH ở Việt Nam

43

2.1.2 Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát

triển của lực lượng sản xuất với việc xác định con đường lên CNXH ở Việt Nam

49

2.1.3 Quan hệ giữa kinh tế và chính trị với việc đổi mới kinh tế

và chính trị ở Việt Nam hiện nay

54

2.1.4 Triết học Mác – Lênin với việc xây dựng nền văn hoá

mới, con người mới ở Việt Nam

61

2.1.5 Quan điểm triết học mácxít về bản chất của nhà nước với

việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay

67

2.2 Thực trạng vận dụng và phát triển triết học Mác –

Lênin trong việc xác định động lực của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam

74

2.2.1 Triết học Mác – Lênin về đấu tranh giai cấp với việc đấu

tranh giai cấp ở Việt Nam hiện nay

74

2.2.2 Triết học Mác – Lênin với việc xây dựng nền dân chủ

XHCN, thực hiện đoàn kết dân tộc ở Việt Nam hiện nay

80

2.2.3 Triết học Mác – Lênin về nhu cầu, lợi ích và việc xác

định động lực lên CNXH ở Việt Nam

86

2.2.4 Phép biện chứng duy vật với tính cách là phương pháp

luận cho việc xác định động lực lên CNXH ở Việt Nam

92

2.2.5 Quan điểm triết học mácxít về tha hóa với việc khắc phục

sự tha hóa trong công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam

98

2.3 Một số vấn đề đặt ra trong việc vận dụng, phát triển

triết học Mác – Lênin vào việc xác định con đường và

động lực lên CNXH ở Việt Nam hiện nay

109

2.3.1 Những hạn chế yếu kém về trình độ tư duy lý luận chính 109

Trang 6

2.3.2 Một số vấn đề giáo dục lý luận Mác – Lênin nói chung,

triết học Mác – Lênin nói riêng ở các trường đại học hiện nay

113

2.3.3 Những mâu thuẫn nảy sinh trong qúa trình nhận thức và

vận dụng triết học Mác – Lênin về con đường và động lực lên CNXH ở Việt Nam hiện nay

123

Chương III Các quan điểm định hướng và những giải pháp

chủ yếu nhằm phát huy vai trò triết học Mác – Lênin trong việc xác định con đường và động lực lên CNXH ở Việt Nam hiện nay

130

3.1 Các quan điểm định hướng trong việc phát huy vai trò

triết học Mác – Lênin trong việc xác định con đường và

động lực lên CNXH ở Việt Nam hiện nay

130

3.1.1 Đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong

việc nhận thức, bổ sung phát triển và giáo dục triết học Mác – Lênin

130

3.1.2 Bảo đảm sự thống nhất giữa tính cách mạng và tính khoa

học trong việc nhận thức, bổ sung, phát triển và giáo dục triết học Mác – Lênin

134

3.2 Những giải pháp chủ yếu phát huy vai trò triết

học Mác – Lênin trong việc xác định con đường

và động lực lên CNXH ở Việt Nam hiện nay

138

3.2.1 Nâng cao nhận thức, bổ sung và phát triển triết học Mác

– Lênin nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và của thời

đại mở rộng giao lưu quốc tế

138

3.2.2 Giảng dạy triết học với việc phát triển năng lực tư duy

biện chứng cho người học ở các trường đại học, các học viện hiện nay

150

3.2.3 Xây dựng và phát huy đội ngũ cán bộ làm công tác lý

luận vừa “hồng” vừa “chuyên” đáp ứng yêu cầu công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam

158

3.2.4 Nâng cao năng lực tư duy biện chứng, chống bệnh giáo

điều, kinh nghiệm, chủ quan duy ý chí trong cán bộ đảng viên ở Việt Nam hiện nay

163

Trang 7

KÕt luËn vµ kiÕn nghÞ 172

Trang 8

Các chữ viết tắt trong đề tài

* * *

Trang 9

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đổi mới là vấn đề sống còn, đây là quá trình cải biến cách mạng mà chủ thể của nó phải thay đổi chính bản thân mình Phải thay đổi những lực cản trong xã hội và trong chính bản thân con người Đổi mới tư duy triết học là cơ

sở để đổi mới tư duy, đặc biệt là triết học Mác- Lênin Tầm quan trọng của triết học mác xít đối với đổi mới tư duy là ở chỗ, nó vừa có tính bao quát, vừa

có tính thực tiễn Nó có tính bao quát bởi lẽ sứ mệnh của nó là giải đáp những vấn đề chung nhất về thế giới quan, phương pháp luận làm cơ sở cho tư duy khoa học Nó có tính thực tiễn vì sứ mệnh của nó không chỉ giải thích thế giới

mà còn là cải tạo thế giới ở đây, việc nhận thức một cách sâu sắc các nguyên

lý của chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung, triết học Mác-Lênin nói riêng, đồng thời bổ sung phát triển triết học gắn với thực tiễn và thời đại có một ý nghĩa quan trọng và cấp bách Nó giúp chúng ta phương hướng và cách tiếp cận

đúng đắn về mặt nhận thức, khiến chúng ta bắt tay vào việc giải quyết những vấn đề cụ thể trong đời sống xã hội

Trong quá trình đổi mới với việc phát huy tinh thần sáng tạo, dám nghĩ dám làm, toàn đảng toàn dân ta đã đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử(1)(1) Những thành tựu đó chứng tỏ "đường lối đổi mới của Đảng ta là

đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam Nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ngày càng sáng tỏ hơn, hệ thống quan điểm lý luận

về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên CNXH

ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản(2)

Tuy nhiên, phải thẳng thắn thừa nhận rằng cho đến nay công tác lý luận của chúng ta vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn , còn vấp phải nhiều khó khăn và còn nhiều hạn chế Trên một loạt vấn đề quan trọng của cách mạng xã hội chủ nghĩa, đang tồn tại những quan điểm khác nhau, có khi

Trang 10

trái ngược nhau khiến cho nhiều chủ trương thiếu dứt khoát, hành động thiếu nhất trí, quyết tâm thiếu cơ sở Một trong những nguyên nhân chủ yếu là do nhiều vấn đề chưa được làm sáng tỏ về mặt lý luận Những hạn chế trên đã cản trở tính năng động sáng tạo của con người trong nghiên cứu, vận dụng và phát triển lý luận Mác- Lênin nói chung, triết học Mác -Lênin nói riêng Đổi mới ngày nay chính là từng bước khắc phục hạn chế và không ngừng bổ sung, phát triển lý luận (trong đó có lý luận triết học), đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới ở Việt Nam, gắn lý luận với thực tiễn Vì thế, việc nghiên cứu, đánh giá vai trò của triết học Mác- Lênin trong việc xác định con đường và động lực đi lên CNXH ở Việt Nam , từ đó đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy triết học Mác - Lênin trong vấn đề này là cần thiết và cấp bách

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

ở ngoài nước, những cuộc hội nghị, hội thảo quốc tế với chủ đề về chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa xã hội liên tiếp được tổ chức ở nhiều nơi trên hầu khắp các châu lục, nhất là châu á, châu Âu và châu Mỹ như: Hội nghị "Chủ nghĩa Mác bên thềm thế kỷ XXI" tại Elgerbua (Đức), tháng 3- 1999; Hội thảo quốc tế " Chủ nghĩa xã hội: hiện thực và phát triển" từ 11 đến 14-11-2001 tại Bắc Kinh; cuộc gặp gỡ tại Mêhicô tháng 3-2003, có đại biểu của trên 60 Đảng Cộng sản và công nhân trên thế giới tham dự

Thực tiễn công cuộc "cải cách, mở cửa" của Trung Quốc và "đổi mới" của Việt Nam là động lực to lớn và mạnh mẽ nhất đối với việc nghiên cứu lý luận về CNXH và con đường động lực đi lên CNXH ở mỗi nước Góp phần quan trọng vào quá trình nghiên cứu này là các cuộc hội thảo quốc tế Việt Nam -Trung Quốc tại Hà Nội và Bắc Kinh dành cho các chủ đề về "cái phổ biến và cái đặc thù của chủ nghĩa xã hội"; về "chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường"; về "xây dựng đảng cầm quyền" qua kinh nghiệm xây dựng "chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc" của Đảng Cộng sản Trung Quốc và kinh nghiệm công cuộc quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ

Trang 11

ở nước ta, theo tinh thần "đổi mới tư duy lý luận" việc nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và những vấn đề con đường và động lực của chủ nghĩa xã hội được đẩy mạnh, với khá nhiều công trình được công bố, nhiều cuộc hội thảo quốc gia, quốc tế được tổ chức Đáng chú ý là các chương trình khoa học cấp Nhà nước: KX.01: "những vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ", giai đoạn 1996-2000 Chương trình khoa học cấp nhà nước KX.08: "Những đặc điểm chủ yếu , những xu thế lớn của thế giới trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI"

Các cuộc hội thảo lớn:

"Chủ nghĩa Mác-Lênin và thời đại ngày nay"; "Vận dụng nghị quyết đại hội X vào nghiên cứu giáo dục lý luận chính trị ở Học viện CTQG Hồ Chí Minh"; "50 năm nghiên cứu và giảng dạy triết học ở Học viện Chính trị quốc gia

Hồ Chí Minh"

Về vai trò của triết học Mác-Lênin đối với việc xây dựng CNXH, con

đường và động lực lên CNXH ở Việt Nam, có nhiều công trình đề cập, cụ thể là:

a Trên bình diện chung, nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu về vai trò của triết học trong thời đại ngày nay, chẳng hạn: Triết học với sự nghiệp đổi mới (Phạm Thành - Lê Hữu Tầng, Hồ Văn Thông, 1990); Nửa thế kỷ nghiên cứu và giảng dạy triết học ở Việt Nam, do tập thể Viện Triết học của Viện

Khoa học xã hội Việt Nam do GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn chủ biên

(2001) Những vấn đề lý luận đặt ra từ các văn kiện Đại hội IX của Đảng,

Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia do GS.TS Nguyễn Trọng

Chuẩn - PGS.TS Đặng Hữu Toàn đồng chủ biên, 2002 Triết học với cuộc sống (2004), do TS Nguyễn Ngọc Thu, TS Bùi Bá Linh, TS Lê Thanh Sinh

đồng chủ biên Nhìn lại quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng

1986-2005 (T.1, T.2) do PGS.TS Tô Huy Rứa - GS.TS Hoàng Chí Bảo, PGS.TS Trần Khắc Việt, PGS.TS Lê Ngọc Tòng đồng chủ biên (2005) Triết học với

đổi mới và đổi mới nghiên cứu giảng dạy triết học (2007) do PGS.TS Trần

Trang 12

Một số bài viết trên các tạp chí: Nguyễn Ngọc Long, Triết học Lênin về việc nhận thức xã hội trong thế giới ngày này Tạp chí Cộng sản,

Mác-1998 Quang Cận, Con đường đi lên CNXH ở nước ta, mấy vấn đề cơ bản, Tạp chí Cộng sản, 2006 Nguyễn Duy Quý, Triết học với việc xác định bản chất của toàn cầu hoá, Tạp chí Triết học, 9/2006, Sức sống triết học Mác trong xã hội hiện đại, Nguyễn Thế Nghĩa, Tạp chí Triết học, 2007

Trong các công trình trên, các tác giả đã phân tích vai trò thế giới quan, phương pháp luận của triết học, tầm quan trọng của nó trong công cuộc đổi mới hiện nay, yêu cầu đổi mới, bổ sung phát triển triết học Mác - Lênin hiện nay

b Một số công trình đi vào tìm hiểu triết học Mác - Lênin Ví dụ:

- Tìm hiểu chủ nghĩa duy vật biện chứng (Nguyễn Duy Thông - Lê Hữu

c Một số công trình đi vào nghiên cứu những lĩnh vực cụ thể

- Lê Hữu Nghĩa, Khắc phục chủ nghĩa chủ quan duy ý chí - yếu tố quan trọng cho thành công của sự nghiệp đổi mới, Triết học, 1994

- Trần Phúc Thăng (chủ biên), Mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng chính trị trong thời kỳ phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội, 1996

- Triết học Mác - Lênin với việc nhận thức xã hội trong thế giới ngày nay Nguyễn Ngọc Long, Tạp chí Cộng snả, 1998

- Nguyễn Thế Kiệt, Vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Cộng sản, 2002

Trang 13

- Nguyễn Đức Bình, Tiếp tục một cách kiên định và sáng tạo con đường XHCN, Tạp chí Cộng sản, 2004

- Nhị Lê, Nghiên cứu lý luận gắn với tổng kết thực tiễn nhằm phát triển

Nguyễn Văn Vinh, Phát triển thế giới quan duy vật biện chứng cho sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, 2001 Vai trò định hướng xã hội

Trang 14

Lê Thị Hồng, Luận án tiến sĩ triết học, 2001 Vận dụng quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam của Nguyễn Hữu Chiến, Luận án tiến sĩ triết học, 2003

Nhìn tổng quát, những công trình, những đánh giá của các tác giả, những vấn đề nêu trên có giá trị khoa học và ý nghĩa thực tiễn nhất định Những kết quả trên, ở những phương diện khác nhau, mức độ khác nhau đều

có những đóng góp nhất định cho việc làm rõ bản chất cách mạng và khoa học, cũng như nghiên cứu và bổ sung phát triển triết học Mác - Lênin và phát huy vai trò triết học Mác - Lênin đáp ứng tốt yêu cầu xây dựng CNXH ở Việt Nam trong thời đại ngày nay Đây là những tài liệu vô cùng quý báu bổ ích cho tiến trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này

Tuy nhiên, do tính phức tạp, phong phú của vấn đề, cho đến nay, chưa có

đề tài nào đi sâu nghiên cứu, phân tích một cách hệ thống "Triết học Mác - Lênin với việc xác định con đường và động lực lên CNXH ở Việt Nam hiện nay"

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu đề tài

a Mục đích nghiên cứu

Bước đầu đánh giá vai trò triết học Mác - Lênin trong việc xác định con

đường và động lực lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thời gian qua (1986 đến nay), trên cơ sở đó, đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của triết học Mác - Lênin trong vấn đề này hiện nay

b Nội dung nghiên cứu

- Bước đầu đánh giá vai trò triết học Mác - Lênin, cơ sở lý luận của việc xác định con đường và động lực lên CNXH ở Việt Nam

- Bước đầu đánh giá thực trạng việc vận dụng, phát triển triết học Mác - Lênin đối với việc xác định con đường và động lực lên CNXH ở Việt Nam thời gian qua, và những vấn đề đặt ra hiện nay

- Đưa ra các quan điểm mang tính định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò triết học Mác - Lênin trong việc xác định con

đường và động lực lên CNXH ở Việt Nam hiện nay

Trang 15

c Phạm vi nghiên cứu

Việc nghiên cứu vai trò cũng như đánh giá thực trạng việc vận dụng, phát triển triết học Mác - Lênin đối với việc xác định con đường và động lực lên CNXH Việt Nam thời gian qua (từ 1986 đến nay) là vấn đề khoa học lớn, phức tạp và còn nhiều vấn đề đặt ra phải tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ thêm

ở đây, đòi hỏi phải có nhiều thời gian và sự nỗ lực lớn, sự phối hợp của nhiều nhà khoa học ở nhiều cơ quan lý luận cũng như nhiều địa phương trong nước

Do khuôn khổ hạn hẹp về thời gian (1 năm) và về kinh phí một đề tài cấp bộ, nên chưa cho phép triển khai nghiên cứu vấn đề này ở nhiều phương diện và trên quy mô lớn ở đây, đề tài chỉ đi sâu một số vấn đề cơ bản sau:

- Bước đầu đánh giá vai trò triết học Mác Lênin với tư cách là thế giới quan, phương pháp luận cho việc xác định con đường và động lực lên CNXH

ở Việt Nam

- Trong việc khảo sát thực trạng và những vấn đề đặt ra, cái khó đối với

đề tài là xác định vấn đề nào thuộc "con đường", vấn đề nào thuộc "động lực" lên CNXH Đây là hai vấn đề liên quan nhau, xen kẽ nhau, vì thế trong đề tài chỉ đi sâu đánh giá những nội dung chủ yếu nổi trội gắn vấn đề "con đường", hoặc gắn vấn đề "động lực"

- Trong khoa học triết học Mác - Lênin gồm những môn học: Mỹ học Mác - Lênin, Đạo đức học Mác - Lênin ở đây đề tài chủ yếu giới hạn ở CNDVBC và CNDVLS để nghiên cứu

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Đề tài vận dụng tổng hợp lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm đúng đắn của Đảng

- Đề tài còn vận dụng phương pháp nghiên cứu khoa học, chủ yếu là lịch sử và lôgíc, phân tích tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, điều tra xã hội học

(Đề tài có sử dụng phần điều tra và kết quả điều tra tập trung hai đối tượng người học: Học viên ở Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, và sinh viên một số trường đại học ở Hà Nội và một số địa phương

Trang 16

Học viện cũng như ở một số trường đại học, từ đó làm cơ sở cho việc tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy triết học Mác - Lênin hiện nay)

5 ý nghĩa và đóng góp của đề tài

Việc thực hiện đề tài đã làm rõ vai trò triết học Mác - Lênin trong việc xác định con đường và động lực lên CNXH ở Việt Nam Đồng thời đề tài chỉ

rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra cho việc vận dụng và phát triển triết học Mác - Lênin đối với việc xác định con đường và động lực lên CNXH thời gian qua và đưa ra giải pháp chủ yếu phát huy vai trò triết học Mác - Lênin trong vấn đề này hiện nay Kết quả đề tài góp phần làm cơ sở cho việc đi sâu nghiên cứu triết học Mác - Lênin, là tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà lãnh đạo quản lý, các cơ quan nghiên cứu lý luận, đồng thời phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học trên lĩnh vực triết học

ở Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh cũng như các Học viện, các trường đại học ở Việt Nam hiện nay

6 Lực lượng nghiên cứu (xem trang đầu)

7 Sản phẩm kết quả nghiên cứu

- Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài

- Báo cáo tóm tắt

- Kỷ yếu

Trang 17

Chương I triết học Mác - Lênin - cơ sở lý luận của việc xác định

con đường và động lực lên CNXH ở Việt Nam

1.1 Triết học Mác - Lênin, vai trò của nó trong đời sống xã hội

1.1.1 Chức năng thế giới quan, phương pháp luận của triết học

Trong quá trình sống, con người bắt gặp hàng loạt vấn đề cần lý giải: bản chất thế giới là gì? thế giới có tồn tại thực tế hay chỉ là ảo ảnh của con người? con người là gì? con người có vai trò như thế nào đối với thế giới? ý nghĩa cuộc sống của con người là chỗ nào? Trả lời những câu hỏi đó, sẽ hình thành ở con người những quan điểm, quan niệm về thế giới cũng như về vai trò con người trong thế giới Đó chính là thế giới quan

Như vậy, thế giới quan là hệ thống những quan niệm của con người về thế giới; về vị trí của con người trong thế giới nhằm giải đáp những vấn đề về mục đích, ý nghĩa cuộc sống của con người

Trong thế giới quan có sự thống nhất giữa tri thức và niềm tin, lý trí và

tình cảm Tri thức là sự hiểu biết của con người về thế giới, là kết quả của quá

trình nhận thức thế giới, là phản ánh của thế giới khách quan Tri thức có nhiều loại khác nhau: tri thức về tự nhiên, về xã hội và về con người Như vậy, tri thức tự nó chưa phải là thế giới quan, tri thức chỉ gia nhập vào thế giới quan

khi nó chuyển thành niềm tin của con người Chỉ khi biến thành niềm tin, tri

thức mới trở nên sâu sắc trở thành cơ sở cho hành động Niềm tin có thể tăng thêm nghị lực, củng cố ý chí quyết tâm giúp con người vượt khó khăn gian khổ, thậm chí sẵn sàng hy sinh bản thân mình cho niềm tin đó Thế giới quan

thể hiện trình độ tương đối cao của lý trí, trí tuệ của con người Song, lý trí đó không tách rời tình cảm như là một hình thức đặc biệt của sự phản ánh mối

quan hệ giữa con người với thế giới và giữa con người với nhau tình cảm củng

cố thêm lý trí, làm cho lý trí có chiều sâu và có sức mạnh Như vậy, thế giới

Trang 18

quan thể hiện tổng hợp toàn bộ hiểu biết và kinh nghiệm sống của con người

Về các kiểu, các loại hình thế giới quan, có thể chia thành 3 loại hình:

Thứ nhất, thế giới quan thần thoại là hình thức thế giới quan đặc trưng

cho người nguyên thuỷ trong giai đoạn sơ khai của lịch sử loài người Nó phản

ánh những kết quả cảm nhận ban đầu của người nguyên thuỷ về thế giới mà

trong đó các yếu tố hiện thực và tưởng tượng, cái có thật và cái hoang đường,

lý trí và tín ngưỡng, tư duy và xúc cảm, hoà quyện vào nhau

Thứ hai, thế giới quan Tôn giáo là sự phản ánh hiện thực một cách hư

ảo Nó ra đời trong điều kiện trình độ nhận thức và thực tiễn của con người còn hết sức thấp kém, khi con người bất lực trong việc giải thích các hiện tượng tự nhiên (như sấm, sét, bão, lụt, động đất ) Con người đã thần thánh hoá các lực lượng tự nhiên, gán cho chúng một bản chất siêu tự nhiên, một sức mạnh siêu thế gian ở đây, cần thấy một khía cạnh khác của tôn giáo đó là sự thể hiện nguyện vọng được giải thoát khỏi những khổ đau và vươn tới hạnh phúc của con người

Trong thế giới quan tôn giáo, niềm tin t ôn giáo đóng vai trò chủ yếu, tín ngưỡng cao hơn lý trí, cái ảo lấn át cái thực, cái thần vượt trội cái người Sau đó hệ tư tưởng tôn giáo được giai cấp thống trị lợi dụng để phục vụ cho lợi ích giai cấp mình Khi các tổ chức giáo hội ra đời, tôn giáo ngoài chức năng

hệ tư tưởng còn có chức năng mới: chức năng xã hội

Thứ ba, khác với thần thoại và tôn giáo, triết học là lý luận về thế giới quan Nó tồn tại như là hệ thống những quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và về vị trí của con người trong thế giới đó Tức là nó diễn tả những vấn

đề của thế giới quan không phải bằng những thần thoại hoặc niềm tin tôn giáo,

mà bằng một hệ thống các khái niệm, phạm trù lý luận

Chỉ có triết học mới có thể giải quyết được những vấn đề chung của thế giới quan mà không một ngành khoa học cụ thể nào có thể làm được Quan

điểm đó đều dựa trên cơ sở lý luận chung, đó là triết học

Trang 19

Như vậy mọi vấn đề thế giới quan đều nảy sinh từ đời sống con người và nhận thức mục đích và ý nghĩa cuộc sống của con người Đến lượt mình, thế giới quan đã được hình thành lại trở thành nhân tố định hướng cho con người tiếp tục quá trình nhận thức thế giới Có thể coi thế giới quan là "lăng kính", qua đó con người xem xét; nhìn nhận thế giới Thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực Vì thế trình độ phát triển của thế giới quan là một tiêu chí quan trọng và sự trưởng thành của cá nhân cũng như của một cộng đồng xã hội nhất định Triết học ra đời với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức do các khoa học đưa lại Đó là chức năng thế giới quan của triết học (tất nhiên triết học có nhiều chức năng khác nhau, nhưng trong đó chức năng thế giới quan là chức năng hàng đầu) Gọi là "hạt nhân" vì ngoài các quan điểm triết học, thế giới quan còn thể hiện ở các quan điểm chính trị, kinh tế, đạo đức, thẩm mỹ Tuy nhiên, các quan điểm đó đều dựa trên cơ sở

lý luận chung, đó là triết học Trong lịch sử, chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là cơ sở lý luận của hai thế giới quan cơ bản đối lập nhau Chính vì vậy, chúng đóng vai trò là nền tảng thế giới quan của các hệ tư tưởng đối lập và cuộc

đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong triết học biểu hiện bằng cách này hay cách khác cuộc đấu tranh giữa những giai cấp, những lực lượng xã hội đối lập nhau Cuộc đấu tranh "đảng phái" trong triết học, dĩ nhiên không phải ở đâu và khi nào cũng gắn liền với cuộc đấu tranh trên lĩnh vực chính trị - xã hội Song, như lịch sử đã chứng minh, chủ nghĩa duy tâm đã được

sử dụng làm công cụ biện hộ về lý luận cho các giai cấp thống trị và các lực lượng phản động Ngược lại, chủ nghĩa duy vật đã biểu hiện thế giới quan và góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của tầng lớp chủ nô dân chủ chống tầng lớp chủ nô quý tộc, của giai cấp tư sản chống giai cấp phong kiến, của khoa học chống tôn giáo

Cùng với chức năng thế giới quan, triết học còn có chức năng phương pháp luận Thuật ngữ phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là Methodos

Trang 20

theo nghĩa thông thường dùng để chỉ những cách thức, thủ đoạn nhất định

được chủ thể hành động sử dụng để thực hiện mục đích đã vạch ra Còn theo nghĩa chặt chẽ và khoa học, phương pháp là hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ tri thức về các quy luật khách quan để điều chỉnh hoạt động nhận thức

và thực tiễn nhằm thực hiện mục đích nhất định

Trong thực tiễn, con người có thể áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để giải quyết công việc đã định Vậy làm thế nào để xác định được phương pháp đúng đắn, khoa học? Từ đó xuất hiện nhu cầu tri thức khoa học

về phương pháp và đó cũng là lý do để khoa học về phương pháp ra đời Đó chính là phương pháp luận Vậy phương pháp luận là lý luận về phương pháp,

là khoa học về phương pháp

Phương pháp luận có nhiều cấp độ khác nhau, phương pháp luận bộ môn, phương pháp luận khoa học chung, phương pháp luận chung nhất là phương pháp luận triết học Phương pháp luận triết học, nó khái quát những quan điểm, nguyên tắc chung nhất làm xuất phát điểm cho việc xác định các phương pháp luận khoa học chung, phương pháp luận bộ môn và các phương pháp hoạt động cụ thể của nhận thức và thực tiễn Như vậy, một lý luận triết học, khi lý giải các sự vật, hiện tượng theo một quan điểm nhất định, đã đồng thời thể hiện một phương pháp xem xét nhất định, hơn nữa, còn là một quan

điểm chỉ đạo về phương pháp Do đó, một học thuyết triết học không những thể hiện ra là một thế giới quan nhất định, mà còn là một phương pháp chung nhất của sự xem xét thế giới - biện chứng hoặc siêu hình Mỗi quan điểm lý luận của triết học đồng thời là một nguyên tắc trong việc xác định phương pháp, là lý luận về phương pháp

1.1.2 Triết học Mác - Lênin là thế giới quan, phương pháp luận khoa học hoàn bị nhất

Triết học Mác - Lênin, tức chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, là một trong ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác - Lênin,

đồng thời là cơ sở lý luận và phương pháp luận chung của toàn bộ chủ nghĩa

Trang 21

Mác - Lênin Triết học Mác - Lênin kế thừa và phát triển tiếp tục những thành tựu quan trọng nhất của tư duy triết học nhân loại Nó được C.Mác và Ph.ăngghen sáng tạo ra và được V.I.Lênin phát triển một cách xuất sắc Triết học Mác - Lênin là thế giới quan, phương pháp luận khoa học hoàn bị nhất Khẳng định điều đó là do:

- Thứ nhất, chủ nghĩa duy vật mác xít là đỉnh cao của thế giới quan duy

vật, là chủ nghĩa duy vật khoa học triệt để Bản chất của nó được thể hiện ở những điểm sau:

- Giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản triết học từ quan điểm thực tiễn Trước Mác, chủ nghĩa duy vật đã trải qua quá trình phát triển lịch sử lâu dài Nó đã đạt được những thành tựu quan trọng góp phần vào việc xác lập quan niệm duy vật về thế giới, vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, chủ nghĩa duy vật trước Mác không tránh khỏi những thiếu sót, những hạn chế mang tính lịch sử của mình Đó là tính chất siêu hình, máy móc trực quan khiến cho nó không thấy

được tính năng động sáng tạo của ý thức Mặt khác, chủ nghĩa duy vật trước Mác là thứ chủ nghĩa duy vật không triệt để, duy vật một nửa, duy vật trong việc xem xét tự nhiên, nhưng vẫn duy tâm trong việc xem xét đời sống xã hội Mác nhận xét rằng, những khuyết điểm chủ yếu của chủ nghĩa duy vật cũ là thiếu quan điểm thực tiễn, do đó lý luận của nó mang tính trực quan và không thể giải quyết một cách khoa học, duy vật triệt để vấn đề cơ bản của triết học Mãi đến triết học Mác, chủ nghĩa duy vật mới trở thành triệt để, khoa học và

là công cụ sắc bén để nhận thức và cải tạo hiện thực ở đây, thực tiễn đã trở thành khâu trung gian nối liền giữa cái vật chất và cái tinh thần Phạm trù thực tiễn, do vậy có ý nghĩa thế giới quan quan trọng, góp phần làm cho quan niệm mác xít về vật chất và ý thức mang tính duy vật triệt để

- Thống nhất giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng Triết học Mác đã khắc phục sự tách rời giữa thế giới quan duy vật và phép

Trang 22

biện chứng trong lịch sử phát triển của triết học trước đó Giải thoát chủ nghĩa duy vật khỏi tính hạn chế siêu hình và phép biện chứng khỏi chủ nghĩa duy tâm, tạo nên sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng, còn phép biện chứng mác xít là phép biện chứng duy vật

- Chủ nghĩa duy vật triệt để Quan niệm duy vật về lịch sử là một cống hiến vĩ đại của Mác Chủ nghĩa duy vật lịch sử là thành tựu vĩ đại của tư tưởng khoa học Đó là một cuộc cách mạng thực sự trong học thuyết về xã hội Với quan niệm duy vật về lịch sử của Mác, loài người tiến bộ đã có một công cụ vĩ

đại trong việc nhận thức và cải tạo thế giới khách quan

- Thể hiện thế giai quan của giai cấp vô sản cách mạng, tạo nên sự thống nhất tính cách mạng và tính khoa học, thống nhất hệ tư tưởng với lý luận khoa học trong triết học Mác Triết học mác xít là thế giới quan của giai cấp công nhân - giai cấp tiến bộ và cách mạng của thời đại Lợi ích của giai cấp công nhân phù hợp với lợi ích của nhân dân lao động Cho nên, lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân lao động có thế giới quan thực sự của mình Đó là thế giới khoa học và cách mạng, là vũ khí tư tưởng trong cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động khỏi áp bức bóc lột "Triết học Mác là một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị, nó cung cấp cho loài người và nhất là giai cấp công nhân những công cụ nhận thức vĩ đại"1 ở đây,

có sự thống nhất giữa tính đảng và tính khoa học; giữa tính thực tiễn và lý luận Nhờ đó triết học Mác mang sức mạnh cải tạo thế giới bằng cách mạng Mác nói: "Các nhà triết học đã giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, vấn đề là cải tạo thế giới"

- Thứ hai, phép biện chứng duy vật là phương pháp luận chung nhất của

nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng Khẳng định điều đó là vì:

- Biện chứng và siêu hình là hai mặt đối lập trong phương pháp chung nhất của tư duy Lịch sử phát triển của triết học là lịch sử phát triển của tư duy triết học gắn liền với cuộc đấu tranh của hai phương pháp tư duy

Trang 23

- Biện chứng và siêu hình Chính cuộc đấu tranh lâu dài của hai phương pháp này đã thúc đẩy tư duy triết học phát triển và được hoàn thiện dần với thắng lợi của tư duy biện chứng duy vật Ngay từ thời cổ đại, đã xuất hiện phép biện chứng tự phát, ngây thơ Phép biện chứng này tuy đã nhìn thấy bức tranh chung của thế giới trong sự tác động qua lại, song chưa đi sâu vào những chi tiết của bức tranh đó, chưa phải chủ yếu dựa trên kết quả của nghiên cứu khoa học, vì vậy nó không tránh khỏi bị phủ định bởi phép siêu hình trong thời kỳ cận đại

Phương pháp siêu hình đã đóng một vai trò nhất định trong quá trình nhận thức thế giới tự nhiên, phương pháp đó thích ứng với trình độ sưu tập, mô tả của khoa học tự nhiên.Do đó, khi khoa học tự nhiên chuyển sang giai đoạn nghiên cứu các quá trình phát sinh, phát triển của các sự vật thì phương pháp siêu hình bộc lộ rõ những hạn chế của nó, không còn đáp ứng được những yêu cầu của nhận thức khoa học Vì vậy, nó không tránh khỏi bị phủ định bởi phép biện chứng, mà cụ thể lúc đó là phép biện chứng của triết học cổ điển Đức với

đỉnh cao là phép biện chứng Hêghen Tuy nhiên, đây là phép biện chứng duy tâm Mác và ăngghen đã cải tạo nó từ duy tâm sang duy vật và sáng tạo ra phép biện chứng duy vật - giai đoạn phát triển cao nhất của phép biện chứng

- Sự thống nhất giữa lý luận và phương pháp trong phép biện chứng duy vật Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và phương pháp Nó là hệ thống các nguyên lý, phạm trù và quy luật, nó đồng thời là lý luận nhận thức và lôgic học của chủ nghĩa Mác Nó không chỉ phản ánh đúng

đắn thế giới khách quan mà còn chỉ ra những cách thức để định hướng cho con người trong nhận thức và cải tạo thế giới Trong khi vạch ra những tính chất biện chứng chung nhất của thế giới, thông qua những phạm trù, quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển của cả tự nhiên, xã hội và tư duy, phép biện chứng duy vật rút ra những quan điểm, nguyên tắc xuất phát để chỉ

đạo việc hoạch định phương pháp cho mọi hoạt động của con người Đi sâu

Trang 24

ta sẽ càng thấy rõ sự thống nhất chặt chẽ giữa lý luận và phương pháp của phép biện chứng duy vật

- Sự thống nhất giữa tính cách mạng và tính khoa học Tính cách mạng

và tính khoa học thống nhất bởi vì phép biện chứng duy vật là học thuyết "về

sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện"1 Phép biện chứng duy vật về bản chất có tính phê phán và cách mạng Đối với phép biện chứng duy vật "không có gì là tối hậu, là tuyệt đối, là thiêng liêng cả Nó chỉ ra tính chất quá độ của mọi sự vật và trong mọi sự vật và đối với nó không có gì tồn tại ngoài quá trình không ngừng của sự tiến triển vô cùng vô tận từ thấp lên cao"2 Chính quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn bên trong sự vật, quá trình tích luỹ dần về lượng, đến một giới hạn nhất định, tất yếu dẫn đến sự tự phủ định của sự vật, làm cho sự vật phát triển lên một giai

đoạn mới, cao hơn, tiến bộ hơn về chất Với bản chất cách mạng sâu sắc và triệt để, phép biện chứng duy vật đã vạch ra biện chứng của quá trình phát triển, với nội dung và hình thức phong phú Nó là cơ sở phương pháp luận, chỉ

đạo chủ thể xác định phương pháp cách mạng khoa học và đúng đắn Như vậy, đối với mọi người cách mạng, phép biện chứng duy vật trở thành công cụ quan trọng bậc nhất không thể thiếu được của nhận thức và hành động để cải tạo hoàn cảnh và cải tạo bản thân Bất cứ hành động cách mạng nào, nếu xa rời những quan điểm và nguyên tắc của phép biện chứng duy vật, thì sớm muộn gì cũng sẽ phải trả giá cho điều đó Sự thống nhất giữa thế giới quan và phương pháp luận khoa học làm cho triết học Mác là một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị, đồng thời là "công cụ nhận thức vĩ đại"

1.1.3 Vai trò của Triết học Mác - Lênin trong đời sống x∙ hội

Với những giá trị trên, triết học Mác - Lênin nhận xét, đã trở thành

"công cụ nhận thức vĩ đại" để cải tạo thế giới bằng cách mạng Triết học Mác

đã chấm dứt tham vọng của các nhà triết học duy tâm coi triết học là "khoa

Trang 25

học của các khoa học" và trên cơ sở khái quát các thành tựu của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, triết học Mác lại trở thành thế giới quan khoa học

và phương pháp luận chung cần thiết cho sự phát triển của các khoa học Triết học Mác - Lênin có vai trò to lớn trong hoạt động nhận thức Phép biện chứng

đã tham gia vào việc làm tăng trưởng các tri thức, triết học còn tham gia vào khái quát các tri thức, làm rõ những nguyên lý chung là cơ sở của các khoa học Triết học là công cụ để tổng hợp các tri thức, là trung tâm liên ngành các khoa học (vì triết học đóng vai trò là cái chung)

Triết học Mác - Lênin với thế giới quan tiến bộ và phương pháp luận khoa học còn tham gia vào quá trình điều chỉnh giá trị của các nghiên cứu và

sự áp dụng chúng vào đời sống xã hội, đây là chức năng đạo đức, chức năng nhân văn, thẩm mỹ của triết học Chúng ta đều biết rằng khoa học còn là con dao hai lưỡi Nó có sức mạnh vô hạn tuỳ theo chỗ nó nằm trong tay ai Nó có thể mang lại hạnh phúc cho con người hoặc có thể đưa loài người đến diệt vong, ví dụ như việc ứng dụng của khoa học để làm ra bom nguyên tử Trong vấn đề này khoa học không có lỗi, lỗi chính là ở kẻ đã sử dụng các thành tựu khoa học một cách xấu xa Như vậy, nghiên cứu khoa học - một hoạt động tự giác của trí óc con người đòi hỏi phải có phương hướng, phương pháp nghiên cứu đúng đắn Thế giới quan và phương pháp luận đúng đắn sẽ giúp cho việc nghiên cứu khoa học đạt hiệu quả cao và bản thân nhà khoa học mới có thể trở thành người chiến sĩ đấu tranh phục vụ cho một xã hội tốt đẹp Ngược lại với thế giới quan và phương pháp luận sai lầm việc nghiên cứu khoa học sẽ gặp nhiều khó khăn trở ngại và bản thân nhà khoa học không thể trở thành người phục vụ nhân dân một cách tự giác và có hiệu quả cao Nếu thế giới quan của nhà khoa học chỉ có một phần duy tâm thì phần đó cũng hạn chế kết quả nghiên cứu và kết luận khoa học của họ không bao giờ triệt để như Niutơn, dù

đã phát hiện được quy luật vạn vật hấp dẫn, quy luật quán tính vẫn tin phải có cái hích ban đầu của thượng đế Và thế giới quan tôn giáo đã kìm hãm sự phát

Trang 26

khi chủ nghĩa duy vật thắng thế, khoa học tự nhiên được giải phóng về mặt thế giới quan mới dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ trong khoa học, làm nở rộ những thành tựu to lớn sau này

Tóm lại, với sự xuất hiện của triết học Mác, thế giới quan, phương pháp luận khoa học của triết học Mác định hướng cho việc nghiên cứu khoa học

Thế giới quan mác xít làm cho các nhà khoa học có niềm tin vào khả năng của con người nhận thức thế giới để cải tạo thế giới Đồng thời triết học Mác là

công cụ của việc nghiên cứu khoa học, trên bất cứ lĩnh vực nào Về điều này, Lênin đã viết: "Chúng ta cần hiểu rằng nếu không có một cơ sở triết học vững vàng thì tuyệt nhiên không có khoa học tự nhiên nào hay khoa học xã hội nào

có thể chống nổi sự lấn bước của những tư tưởng tư sản và sự phục hồi của thế giới quan tư sản muốn đương đầu được trong cuộc đấu tranh ấy và đưa nó đến thành công Các nhà khoa học phải là nhà triết học duy vật hiện đại, một đồ

đệ tự giác của chủ nghĩa duy vật mà Mác là người đại diện nghĩa là nhà bác học ấy phải là nhà duy vật biện chứng 1

Thế giới quan và phương pháp luận khoa học của triết học Mác còn có vai trò, chức năng to lớn đối với hoạt động thực tiễn của xã hội Hoạt động thực tiễn là hoạt động thường xuyên của hàng triệu người, nó quy định sự tồn tại và phát triển của xã hội và sự phát triển của khoa học Các nguyên lý, các quy luật, các phạm trù của phép biện chứng duy vật trong chỉnh thể thống nhất của nó giúp chúng ta xác định cấu trúc phức tạp của xã hội, vạch ra các mối liên hệ, những mâu thuẫn nội tại, làm sáng tỏ những khuynh hướng, khả năng phát triển của xã hội, của thời đại nhờ đó đánh giá đúng các sự kiện, các hoạt

động xã hội, đề ra mục đích, phương án biện pháp giải quyết một cách có hiệu quả nhất các nhiệm vụ thực tiễn

Triết học Mác là thế giới quan khoa học của giai cấp công nhân - giai cấp tiến bộ và cách mạng nhất, giai cấp có lợi ích phù hợp với lợi ích của nhân

Trang 27

dân lao động và với sự phát triển xã hội C.Mác viết: "cũng giống như triết học thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của mình Giai cấp vô sản thấy triết học là vũ khí tinh thần của mình" 1 Sự kết hợp lý luận của chủ nghĩa Mác với

phong trào công nhân đã tạo nên bước chuyển biến về chất của phong trào, từ trình độ tự phát lên tự giác Sự kết hợp đó cũng đã dẫn đến những thắng lợi của giai cấp vô sản, mở ra một thời đại mới trong lịch sử loài người, thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH

Chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và triết học Mác - Lênin nói riêng đã trở thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động không chỉ đối với các

Đảng cộng sản cầm quyền, đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước XHCN đã và đang xây dựng CNXH, mà còn đối với các Đảng cộng sản và công nhân trên thế giới trong cuộc đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

Nói đến tầm quan trọng hàng đầu của thế giới quan và phương pháp luận mác xít không có nghĩa là phủ nhận tầm quan trọng của các bộ phận khác của lý luận mác xít, của hệ thống các nguyên lý và luận điểm mà các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã đề ra trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận ấy Nhưng chính ngay những luận điểm và nguyên lý này cũng phải được hiểu và vận dụng phù hợp với thế giới quan và phương pháp luận mác xít, phải được nhận thức không phải tách rời hoàn cảnh của chúng mà phải được đặt vào những hoàn cảnh trong đó các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã nêu ra chúng và tìm ra cái gì là có ý nghĩa phổ biến và lâu dài, cái gì chỉ có ý nghĩa cục bộ và nhất thời Ngay cả những luận

điểm có ý nghĩa phổ biến và lâu dài cũng không được coi là giáo điều, là khuôn mẫu và đem ra vận dụng nguyên xi mà không tính gì đến điều kiện không gian và thời gian cụ thể Thế giới quan và phương pháp luận mác xít không cho phép chúng ta áp đặt một cách tiên nghiệm những nguyên lý

và luận điểm của chủ nghĩa Mác vào mọi hoàn cảnh Nó đòi hỏi chúng ta

Trang 28

trước hết phải xuất phát từ hoàn cảnh khách quan cụ thể, nghiên cứu hoàn cảnh đó để rút ra kết luận cụ thể phù hợp với hoàn cảnh đó Những nguyên

lý và luận điểm của chủ nghĩa Mác chỉ được dùng làm sợi dây chỉ đạo cho

sự nghiên cứu tìm tòi ấy mà thôi Bản thân Mác và Ăngghen đã dạy chúng

ta phải coi học thuyết của hai ông không phải là giáo điều mà là kim chỉ nam cho hành động Ngay cả khi nói về "những nguyên lý vẫn còn hoàn

toàn đúng" của Tuyên ngôn, hai ông cũng khuyên những người cộng sản phải biết tiếp thu chúng với tinh thần sáng tạo: "Chính ngay Tuyên ngôn

cũng đã giải thích rõ rằng bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, việc áp dụng những nguyên lý đó cũng phải tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử đương thời" Đối với người cộng sản, trung thành với chủ nghĩa Mác có ý nghĩa là nắm vững những nguyên lý của nó, nắm vững bản chất và tinh thần của những nguyên lý ấy để vận dụng chúng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể từng nơi từng lúc theo tinh thần phân tích cụ thể, chứng minh cụ thể

Như vậy, chủ nghĩa Mác hoàn toàn xa lạ với chủ nghĩa giáo điều, rập khuôn, công thức, máy móc Nó cổ vũ sáng tạo, đổi mới Trong những hoàn cảnh đã đổi thay, người mác xít càng phải sáng tạo và đổi mới

Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác cũng hoàn toàn xa lạ với chủ nghĩa xét lại

mà đặc trưng là tính vô nguyên tắc Sự sáng tạo mác xít được tiến hành trên cơ

sở vận dụng đúng đắn thế giới quan và phương pháp luận mác xít vào việc phân tích cụ thể tình hình cụ thể để rút ra những kết luận chính xác cho thực tiễn cách mạng Còn tính vô nguyên tắc của chủ nghĩa xét lại là sản phẩm của phép ngụy biện và chủ nghĩa chiết trung, khoác áo mác xít nhưng đòi xét lại những nguyên lý cách mạng của chủ nghĩa Mác Nếu sự phân tích mác xít của Lênin về thời đại đã dẫn đến lý luận về con đường cách mạng vô sản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa thì sự phân tích theo quan điểm xét lại của Cau-xki lại dẫn đến con đường dân chủ đại nghị để giành chính quyền Tiến trình phát triển của lịch sử đã chứng tỏ sự đúng đắn của Lênin và sai lầm của Cau-xki, đã

Trang 29

cung cấp cho ta một tiêu chuẩn khách quan để phân biệt đâu là sáng tạo cách mạng và đâu là xét lại Tiêu chuẩn đó là thực tiễn

1.1.4 Những giá trị bền vững của triết học Mác - Lênin

Nói tới giá trị của một học thuyết, trước hết, cần thấy ý nghĩa lịch sử của nó Triết học Mác - Lênin, sau khi "đã nắm bắt thời đại bằng tư tưởng", nó góp phần "giải đáp những vấn đề mà tư tưởng tiên tiến của loài người đặt ra"

Đối với Mác, triết học không chỉ là "giải thích thế giới" mà "vấn đề là cải tạo thế giới" Triết học Mác có thể thực hiện được vai trò như vậy vì đã làm cho tư tưởng triết học của nhân loại phát triển lên một trình độ mới; lịch sử triết học chuyển từ thời cổ điển sang thời kỳ hiện đại

Cái mới về chất của triết học Mác, nói một cách vắn tắt là ở chổ

"triết học của Mác là một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị, nó đã cung cấp cho loài người và nhất là cho giai cấp công nhân, những công cụ nhận thức vĩ đại"1 Sự thống nhất hữu cơ của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng đã làm cho triết học Mác thực sự là lý luận khoa học và cách mạng

Đặc biệt là "chủ nghĩa duy vật lịch sử" của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học Một lý luận khoa học hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay cho sự lộn xộn và sự tuỳ tiện, vẫn ngự trị từ trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử chính trị, lý luận đó chỉ cho ta thấy rằng,

do lực lượng sản xuất lớn lên, thì tự một hình thức tổ chức xã hội này, nảy sinh và phát triển lên như thế nào một hình thức tổ chức đời sống xã hội khác, cao hơn; chẳng hạn, chủ nghĩa Tư bản đã nảy sinh như thế nào từ chế độ Phong kiến"2

Triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đã là cơ sở thế giới quan

và phương pháp luận khoa học cho sự nghiên cứu kinh tế Đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư đã đưa lại cho ta chìa khoá để hiểu được sự phát sinh, phát triển và sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản, mà ngày nay nhiều nhà

Trang 30

khoa học không phải là người mácxít vẫn thừa nhận giá trị của nó và còn vận dụng nó trong việc nghiên cứu của mình

Đến lượt mình, học thuyết giá trị thặng dư cùng với chủ nghĩa duy vật lịch sử - hai phát hiện vĩ đại, hai cống hiến lớn nhất trong những cống hiến của Mác đã đưa sự phát triển của chủ nghĩa xã hội từ không tưởng trở thành khoa học

Song, cũng như những học thuyết tiến bộ và cách mạng khác, giá trị của triết học mácxít không chỉ ở ý nghĩa lịch sử của nó Những giá trị đó không phải "đã đi vào lịch sử" mà đã "đi cùng lịch sử", vượt qua giới hạn thời gian và không gian, mà chúng được sinh ra DVBC của triết học Mác - Lênin cổ vũ năng lực nhận thức của con người nói chung, tinh thần sáng tạo của khoa học nói riêng

Chúng ta đã biết, một luận đề nổi tiếng của Mác: "Tôi coi sự phát triển hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên" Với việc phát triển

ra quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất (QHSX) với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất (LLSX) và vận dụng vào việc xem xét phương thức sản xuất (PTSX) TBCN, học thuyết Mác cho thấy sự diệt vong của CNTB và sự ra

đời của CNXH đều là tất yếu như nhau Ngay từ thế kỷ trước, trong khi phân tích sự phát triển của PTSX TBCN Mác đã vạch ra xu hướng "thủ tiêu tư bản" thông qua chính sự phát triển đó

Trong "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản", Mác và Ăngghen đã chỉ ra tính chất năng động của sự phát triển xã hội trong thời đại tư sản "Giai cấp tư sản không thể tồn tại, nếu không luôn luôn cách mạng hoá công cụ sản xuất,

do đó cách mạng hoá những quan hệ sản xuất, nghĩa là cách mạng hoá toàn bộ những quan hệ xã hội1 Sự đảo lộn liên tiếp của sản xuất, sự rung chuyển không ngừng ấy làm cho thời đại tư sản khác với tất cả các thời đại trước" Với những hình thái mới của sản xuất tư bản, PTSX TBCN tiếp tục được phát triển, nhưng là sự phát triển theo xu hướng phủ định, nghĩa là bước quá độ để

Trang 31

sự thay đổi PTSX TBCN bằng PTSX mới có thể hiện được như một quá trình lịch sử - tự nhiên Mác viết: "Những Xí nghiệp cổ phần TBCN, cũng như những công xưởng hợp tác, đều phải coi là những hình thái quá độ từ PTSX TBCN sang PTSX tập thể"

Cũng với cách nhìn biện chứng như thế Lênin xem chủ nghĩa đế quốc như giai đoạn phát triển cao nhất của CNTB, là CNTB "mục nát" nhưng lại là

"phông chờ của CNXH"

Ngày nay xu hướng "quá độ từ PTSX TBCN sang PTSX tập thể "trong giới hạn của CNTB được bộc lộ một cách rõ rệt trong các nước TBCN phát triển Giới hạn về hệ tư tưởng khiến cho các nhà lý luận tư sản coi những tiến

bộ xã hội trong xã hội tư bản phát triển là biểu hiện "sức sống thanh xuân" của tư nhân tư bản Một số học giả tư sản phải thừa nhận là, những vấn đề của thời

đại không thể giải quyết được trong khuôn khổ CNTB hoặc ít ra là không thể giải quyết được bằng chủ nghĩa tự do tư sản; và với nền kinh tế theo chủ nghĩa

tự do thì mọi cố gắng của cộng đồng quốc tế đều không thể giải quyết được những vấn đề như sự bùng nổ dân số, mất cân bằng sinh thái, nạn thất nghiệp Giáo hoàng Giăng Pôn II, tuy cho rằng ngày nay ở các nước phương Tây sự bóc lột như Mác nói trước đây không còn, song vẫn thừa nhận sự tha hoá con người vẫn tồn tại, thậm chí còn tăng lên cả ở những nước tiên tiến Có người cho rằng có thể đạt tới tiến bộ xã hội bằng sự phát triển xã hội theo con

đường "hội tụ" hoặc con đường thứ ba nào đó Một số người khác tưởng rằng

có thể lảng tránh vấn đề hệ tư tưởng bằng tên gọi "xã hội hậu công nghiệp" hay cách tiếp cận theo các nền văn minh

Ngược lại, một số học giả phương Tây lại xem bộ mặt mới của CNTB hiện đại, đó chính là CNXH (đó là CNXH dân chủ) mà không thấy rằng quá

độ sang PTSX tập thể là một xu hướng khách quan của PTSX TBCN nhưng vẫn là một giai đoạn phát triển, giai đoạn phủ định của CNTB mà thôi CNTB

từ chỗ "vừa là nó vừa không phải là nó" đến chỗ là cái khác thay thế nó, tức là

Trang 32

bước "phủ định của phủ định" càng cho thấy tính tất yếu của cách mạng xã hội, vì không những CNTB đã không giải quyết được vấn đề do thời đại đặt ra

mà còn tạo những tiền đề cho sự phủ định nó bằng CNXH Như vậy vận dụng phép biện chứng duy vật, quan niệm duy vật lịch sử vào nghiên cứu xã hội

đương đại, kết quả là:

- Mác đã tìm ra quy luật vận động và phát triển của xã hội tư bản - quy luật giá trị thặng dư Ông chứng minh rằng quan hệ đối kháng giai cấp giữa tư

bản và vô sản là sợi chỉ đỏ xuyên suốt xã hội tư bản Không ai có thể xoá bỏ

được đối kháng này chừng nào CNTB còn tồn tại Mác chỉ ra rằng giai cấp vô sản, sinh ra và lớn lên trong lòng xã hội tư bản, là giai cấp có sứ mệnh lịch sử

xoá bỏ chế độ tư bản, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa

- Mác - Ăngghen, Lênin chỉ rõ rằng chủ nghĩa tư bản càng phát triển cao bao nhiêu càng tạo ra trong lòng nó những yếu tố của CNXH nhiều và rõ rệt bấy nhiêu

Nghiên cứu những mâu thuẫn gay gắt của CNTB, quy luật và thực trạng phát triển không đều của CNTB, tình hình kinh tế - xã hội và chính trị của đế quốc Nga, Lênin đi đến kết luận rằng: Cách mạng XHCN không thể xẩy ra trước tiên và đồng loạt ở các nước tư bản phát triển nhất mà có khả năng xẩy

ra và thành công ở một nước "Trước hết, nó thắng lợi trong một nước, hoặc trong một số nước "

Trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Một "nước Nga tiểu nông, lạc hậu" trước cách mạng, như Lênin gọi, đã vượt qua bao gian khổ, hy sinh to lớn trở thành một quốc gia XHCN hùng mạnh, một "siêu cường" chỉ trong vòng hơn nửa thế kỷ Các nước XHCN ở Đông Âu đã vượt qua tình trạng kém phát triển cũng chỉ với hơn một phần tư thế kỷ Đó là thực tế không thể phủ nhận Phong trào giải phóng dân tộc là một phong trào cách mạng làm thay đổi lớn lao cục diện chính trị - xã hội của thế giới ngày nay Nó đã được chỗ dựa vững chắc và đáng tin cậy ở sự tồn tại và lớn mạnh của hệ thống XHCN thế giới Đó cũng là thực tế không thể phủ nhận

Trang 33

Nửa đầu thế kỷ XX, nhân loại đã chịu thảm hoạ của hai cuộc chiến tranh thế giới đều do chủ nghĩa đế quốc gây ra Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nguy cơ chiến tranh thế giới với vũ khí giết người hàng loạt luôn đe doạ sự tồn tại của cả nhân loại Nhưng nền hoà bình thế giới đã được duy trì Phong trào đấu tranh cho hoà bình thế giới không ngừng lớn mạnh với lực lượng tiên phong, nòng cốt là CNXH Sự lớn mạnh của CNXH tạo nên thế cân bằng sức mạnh giữa cách mạng và phản cách mạng, giữa hoà bình chiến tranh

là nhân tố có ý nghĩa quyết định nhất để ngăn ngừa chiến tranh Thử hỏi nếu CNXH không chiến thắng chủ nghĩa phát xít trong chiến tranh thế giới lần thứ hai thì cục diện thế giới này sẽ ra sao?

Thực tiễn xây dựng CNXH đã làm nảy sinh hàng loạt vấn đề cần được soi sáng bằng lý luận mà không thể có sẵn trong di sản lý luận kinh điển mác xít

Nhưng, bước đi của lịch sử vô cùng quanh co, phức tạp Sự phát triển của CNTB trong điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ; mặt khác là sự thoái trào của CNXH ở thập niên cuối thế kỷ XX, đã khiến cho quan điểm của Mác về tính tất yếu của sự thay thế CNTB bằng CNXH và nhận định của Lênin về thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH lại trở thành vấn đề lớn lao và gay cấn của thời đại ngày nay

Như vậy, nếu đổi mới là quá trình mang tính tất yếu khách quan, dù cho

có hay không có sai lầm, thì sự khủng hoảng lại có nguyên nhân chủ quan Còn sự sụp đổ của CNXH đã diễn ra ở Liên Xô trước đây và Đông Âu chính là hậu quả của những sai lầm chủ quan trong việc giải quyết khủng hoảng

Tóm lại, để thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, đưa CNXH tiếp

tục phát triển, phải nâng cao năng lực tư duy lý luận và khắc phục chủ nghĩa chủ quan ở đây, triết học Mác - Lênin đóng vai trò vô cùng to lớn Triết học Mác - Lênin kế thừa lịch sử tư tưởng nhân loại và vẫn là triết học tiên tiến nhất của thời đại chúng ta Đương nhiên, triết học Mác - Lênin cần được bổ sung

và phát triển do chính đòi hỏi của đặc tính cách mạng và sáng tạo vốn có của

Trang 34

1.2 Triết học Mác - Lênin với tính cách là thế giới quan, phương pháp luận cho việc xác định con đường và động lực trong thời kỳ quá độ

đường đạt tới mục tiêu ấy càng thuận lợi

Công cuộc đổi mới hiện nay, mục tiêu mà chúng ta muốn đạt tới là chủ nghĩa xã hội Nhưng xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta muốn xây dựng ấy phải là một xã hội như thế nào, gồm những đặc trưng cơ bản gì

C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát hiện ra xu hướng phát triển tất yếu của

xã hội loài người và đã đi đến kết luận rằng chủ nghĩa tư bản tất yếu sẽ bị thay

thế bằng chủ nghĩa xã hội Xuất phát từ quan điểm của C.Mác trong "Phê phán Cương lĩnh Gotha", V.I.Lênin, trong tác phẩm "Nhà nước và cách mạng"

đã trình bày lại, đồng thời làm rõ hơn nội dung cốt lõi nhất, những đặc trưng cơ bản nhất của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, theo đó, trong chủ nghĩa xã hội:

1 Tư liệu sản xuất thuộc về toàn xã hội;

2 Phân phối theo lao động;

3 Không còn tình trạng người bóc lột người, mặc dầu vẫn còn tình trạng bất bình đẳng về mặt của cải mà chủ nghĩa xã hội chưa thể xoá bỏ được;

4 Nhà nước vẫn chưa tiêu vong hẳn

Trong giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa, ngoài một số đặc

trưng đã có trong chủ nghĩa xã hội nhưng được phát triển tiếp về chất, còn có thêm một số đặc trưng mới sau đây:

1 Không còn tình trạng lệ thuộc vào sự phân công lao động

Trang 35

2 Không còn sự đối lập giữa lao động trí óc và lao động chân tay

3 Lao động không chỉ còn là phương tiện sinh sống, mà bản thân nó trở thành nhu cầu bậc nhất của cuộc sống

4 Con người phát triển toàn diện

5 Lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ

6 Tất cả các nguồn của cải của xã hội tuôn ra tràn đầy

7 Làm hết năng lực, hưởng theo nhu cầu"1

Nhất quán với các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch

Hồ Chí Minh quan niệm rằng, chủ nghĩa xã hội là một học thuyết khoa học

và cách mạng của giai cấp vô sản nhằm xoá bỏ ách thống trị tư bản chủ nghĩa, thực hiện lý tưởng giải phóng giai cấp và giải phóng toàn thể xã hội loài người Chủ nghĩa xã hội còn được hiểu với tư cách là một chế độ xã hội thuộc hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa mà việc xây dựng và hoàn thiện nó như là một quá trình lịch sử lâu dài để từng bước đạt tới mục tiêu Với câu hỏi chủ nghĩa xã hội là gì, Người trả lời rất sáng tỏ: "xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội"2 Luận đề tổng quát đó được Người cụ thể hoá thêm: "Chủ nghĩa xã hội nghĩa là tất cả mọi người các dân tộc ngày càng ấm no, con

cháu chúng ta ngày càng sung sướng"3 "Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu nước mạnh"4

Đại hội Đảng X, Đảng ta nhấn mạnh: Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm

lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản

- Trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới, chúng ta đã nhận thức rõ hơn những đặc trưng chủ yếu của xã hội mà chúng ta đang xây dựng là:

1 Xem Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M, t.33, tr.112-116

2 Hồ Chí Minh, Sđd, t.10, tr.591

Trang 36

+ Xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh;

+ Do nhân dân làm chủ;

+ Có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất;

+ Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;

+ Con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm

no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện;

+ Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ

và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ;

+ Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản;

+ Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới1

Tóm lại, dưới CNXH sẽ không còn giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc

lột, chế độ người bóc lột người bị xoá bỏ; đó là điều chắc chắn Song CNXH

có những đặc điểm gì, sẽ trải qua những giai đoạn phát triển nào thì "kinh nghiệm của hàng triệu con người sẽ chỉ rõ khi họ bắt tay vào hành động"2 Nhận thức của chúng ta đối với những vấn đề cơ bản của CNXH hoàn chỉnh như quan hệ giai cấp, quan hệ thành thị nông thôn, dân chủ XHCN, văn hoá XHCN, quan hệ dân tộc cũng sẽ được cụ thể hoá trong thực tiễn xây dựng CNXH Rất có thể còn có những thay đổi quan trọng về nhận thức

Trong các vấn đề nói trên thì vấn đề nền kinh tế thị trường XHCN là vấn

đề hoàn toàn mới mẻ, gần như chưa đặt ra đối với các nhà kinh điển (kể cả với quan điểm của Lênin về NEP) Chúng tôi cho rằng lý luận về CNXH dựa trên nền kinh tế thị trường sẽ là giai đoạn phát triển mới của chủ nghĩa xã hội khoa học Thực tiễn đang đòi hỏi phải phát triển sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về CNXH, phải đưa lý luận XHCN sang giai đoạn mới, giai đoạn sau Lênin

Thậm chí lịch sử phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học có thể chia làm hai giai

Trang 37

đoạn: giai đoạn lý luận về CNXH không thừa nhận thị trường và giai đoạn lý luận về CNXH với nền kinh tế thị trường

1.2.2 Triết học Mác - Lênin với tính tất yếu lên CNXH ở Việt Nam

Phép biện chứng duy vật là tinh hoa của trí tuệ nhân loại được Mác và

Ăngghen xây dựng nên và Lênin phát triển một cách xuất sắc trên cơ sở những thành tựu cao nhất của triết học, của khoa học hiện đại và thực tiễn xã hội - lịch sử toàn nhân loại Những khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật của nó bao quát, tác động, chi phối cả giới tự nhiên, đời sống xã hội và tư duy con người ở mọi nơi, trong tất cả các giai đoạn lịch sử Chính vì vậy, triết học Mác

- Lênin đã trở thành thế giới quan, phương pháp luận, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, tiến tới xây dựng CNXH và CNCS

Sự ra đời và phát triển triết học Mác gắn liền với lịch sử phong trào công nhân, với các cuộc cách mạng vô sản mà tiêu biểu nhất là cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917 - cuộc cách mạng đã làm thức tỉnh nhân loại bị áp bức và mở ra thời đại mới - thời đại cách mạng XHCN trên phạm vi thế giới Thật vậy, ở Việt Nam, như chúng ta đã biết, năm 1858, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm nước ta Trước hành động xâm lược của kẻ thù, chế độ phong kiến mà đại biểu là triều đình nhà Nguyễn thối nát đã hèn nhát

đầu hàng, dâng nước ta cho Pháp Chế độ phong kiến Việt Nam trước đó mấy thế kỷ từng là đại biểu cho dân tộc, đến lúc này bộc lộ rõ sự mục ruỗng, bất lực và phản động Mặc dù vậy, các phong trào yêu nước với gần một trăm cuộc khởi nghĩa chống Pháp của nhân dân ta liên tiếp nổ ra khắp Bắc, Trung, Nam, nhưng đều bị kẻ thù dập tắt trong máu lửa Từ năm 1885, phong trào Cần Vương chống Pháp dưới sự lãnh đạo các sĩ phu yêu nước phát triển rầm rộ khắp cả nước và kéo dài đến cuối thế kỷ XIX, nhưng đều bị thất bại Điều đó

chỉ rõ rằng: Độc lập dân tộc không còn gắn với chế độ phong kiến nữa

Sang đầu thế kỷ XX, các trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản dồn dập dội

Trang 38

nước Việt Nam chuyển sang khuynh hướng mới, tiêu biểu là các phong trào

Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, cải cách dân chủ Sau một thời gian phát triển rầm rộ, các phong trào trên cũng nối tiếp nhau tan rã trước sự đàn áp man

rợ của đế quốc Pháp Cuộc khởi nghĩa Yên Bái (1930) thất bại cho thấy sự cáo chung của tư tưởng tư sản và sự nỗ lực của giai cấp tư sản Việt Nam trước vận

mệnh dân tộc Điều đó càng chứng tỏ ở Việt Nam, độc lập dân tộc cũng không gắn với chế độ tư bản chủ nghĩa

Trong bối cảnh đó, độc lập dân tộc càng trở nên yêu cầu cơ bản, khách quan của xã hội Việt Nam Nhưng bằng con đường nào và giai cấp nào có khả năng gánh vác sứ mệnh trọng đại đó?

Cách mạng Tháng Mười Nga "rung chuyển thế giới", đã làm cho tính chất thời đại thay đổi, giai cấp trung tâm của thời đại thay đổi, vai trò lãnh

đạo cách mạng cũng thay đổi Vì vậy, con đường để giải quyết mâu thuẫn của

xã hội, lực lượng cách mạng và phương pháp cách mạng cũng thay đổi

Tình hình đó của thế giới, bằng nhiều con đường, dội vào Việt Nam Hơn ai hết, Nguyễn ái Quốc đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa xã hội ở Người, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã "bắt gặp" chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội không chỉ là mục tiêu lựa chọn mà đã thực sự thúc

đẩy lịch sử dân tộc Việt Nam chuyển mình và phát triển

Rõ ràng, sự lựa chọn mục tiêu độc lập dân tộc gắn chặt với chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta, xét về lôgíc là một tất yếu khách quan; xét về lịch sử; là hoàn toàn phù hợp với sự vận động của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; và xét về nhu cầu, là hoàn toàn xuất phát từ điều

kiện cụ thể của một nước thuộc địa, nửa phong kiến và nguyện vọng cháy bỏng của nhân dân Việt Nam

Vượt qua những mâu thuẫn và những hạn chế trong việc giải quyết vấn

đề độc lập dân tộc theo lập trường phong kiến và tư sản chỉ có thể là con

đường gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, tức là giải quyết độc lập

Trang 39

dân tộc theo lập trường của giai cấp công nhân Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, chỉ với chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc mới đạt tới chân giá trị của

nó ở chỗ nó hướng tới phục vụ lợi ích và quyền lực của mọi người lao động, làm cho mọi thành viên của cộng đồng dân tộc trở thành người chủ thực sự có cuộc sống vật chất ngày càng đầy đủ và cuộc sống tinh thần ngày càng phong

phú Đó là văn hoá của sự phát triển bền vững của dân tộc ta trong thời đại ngày nay

Ngày nay, trong quá trình xây dựng CNXH không phải là không có những ý kiến xuyên tạc, bác bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, phủ nhận định hướng xã hội chủ nghĩa Có người cho rằng "đi vào chủ nghĩa xã hội là đi vào vết xe đổ của Liên Xô"; "đi lên chủ nghĩa xã hội là không tưởng, viển vông";

"chỉ có kinh tế thị trường chứ làm gì có kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa"; "định hướng xã hội chủ nghĩa là cái gì đó còn mù mờ", cho rằng giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa là cản trở sự phát triển, làm cho đất nước ta "lạc điệu trong tiến trình phát triển của thế giới".v.v

Thực tiễn lịch sử Việt Nam trong hơn một thế kỷ qua đã cho thấy rằng con đường kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu khách quan của dân tộc, là chân lý lớn, là động lực xuyên suốt của cách mạng Việt Nam Sự ra đời của Đảng ta năm 1930, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 với sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1954, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước năm 1975, thắng lợi của công cuộc đổi mới

từ 1986 đến nay là những mốc son chói lọi trên con đường đó, của sự lựa chọn lịch sử dân tộc

1.2.3 Triết học Mác - Lênin với tính cách là thế giới quan, phương pháp luận cho việc xác định con đường lên chủ nghĩa x∙ hội ở Việt Nam

Từ phương pháp biện chứng, Mác và Ăngghen đã phân tích sâu sắc tính mâu thuẫn trong chủ nghĩa tư bản Đó là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá

Trang 40

được xem là mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản Nó là cơ sở để nảy sinh các mâu thuẫn giữa các giai cấp và tầng lớp xã hội, nó làm cho giai cấp tư sản "tự

đào huyệt chôn mình", trở thành kể rèn vũ khí giết mình và còn tạo ra những người sử dụng vũ khí đó là giai cấp vô sản Cũng chính từ lôgíc này mà Mác

và Ăngghen đi đến kết luận: "sự diệt vong của giai cấp tư sản và sự thắng lợi của giai cấp vô sản là tất yếu như nhau"

Là người bảo vệ và tiếp tục phát triển, biện chứng duy vật, Lênin, ngay

từ trong những tác phẩm đầu tiên của mình, đã vạch trần sự xuyên tạc của các tư tưởng gia tư sản đối với quan điểm duy vật biện chứng về xã hội Chính trên cơ sở khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa khách quan và chủ quan, Lênin

đã xây dựng học thuyết về tình huống cách mạng, về điều kiện khách quan và chủ quan của một cuộc cách mạng Ngay trong cuộc cách mạng Nga lần thứ nhất, trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội Mense vít, Lênin đã chỉ ra một cách thiên tài thực chất của quan niệm biện chứng, chân thực về mặt lịch

sử đối với các quá trình xã hội Lênin nhấn mạnh, quan niệm biện chứng đòi hỏi phải nắm cả cái chung và cái riêng, cái phổ biến và cái đặc thù, phải hiểu

rõ sự khác nhau về chất của các cuộc cách mạng do những điều kiện lịch sử cụ thể quy định

Lênin đã chỉ ra rằng, cách mạng không diễn ra theo đơn đặt hàng Nó không phải là cái được sắp xếp vào những thời điểm lịch sử cụ thể nào mà nó

bị quy định bởi tổng thể những nguyên nhân bên trong và bên ngoài nó không loại trừ tính tích cực chính trị, tính chủ động lịch sử, sự sáng tạo của quần chúng cách mạng "Phép biện chứng đòi hỏi người ta phải chú ý đến tất cả các mặt của những mối quan hệ trong sự phát triển cụ thể của những mối quan hệ

đó, chứ không phải là lấy một mẩu ở chỗ này, một mẩu ở chỗ kia"(1)

Từ quan điểm như vậy, Lênin không những chỉ ra những điều kiện tất yếu của cách mạng Tháng Mười, ông còn phân tích các điều kiện lịch sử cụ thể khi nước Nga bước vào giai đoạn xây dựng xã hội mới

Ngày đăng: 14/05/2014, 09:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w