1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hóa một số dân tộc thiểu số ở việt bắc

609 1,6K 14
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu Bảo Tồn Và Phát Triển Ngôn Ngữ, Văn Hóa Một Số Dân Tộc Thiểu Số Ở Việt Bắc
Tác giả Nguyễn Văn Lộc
Trường học Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam
Chuyên ngành Nghiên cứu Bảo Tồn Và Phát Triển Ngôn Ngữ, Văn Hóa Một Số Dân Tộc Thiểu Số Ở Việt Bắc
Thể loại Báo cáo tổng hợp
Năm xuất bản 2006
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 609
Dung lượng 5,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến bảo tồn và phát triển văn hoá, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Bắc nhưng do những điều kiện nhất định, vấn đề văn hoá, ng

Trang 1

Bộ khoa học và công nghệ

Báo cáo tổng hợp Đề tài độc lập cấp Nhà nước

Nghiên cứu bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hoá một

số dân tộc thiểu số

ở việt bắc mã số: ĐTĐL-2004/27

Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Nguyễn Văn Lộc

6318

16/3/2007

TháI nguyên - 2006

Trang 2

Mục Lục Phần Mở đầu

2 Mục đích và ý nghĩa của việc nghiên cứu 13

Phần I

Cơ sở lý luận của việc bảo tồn và phát triển văn hoá,

ngôn ngữ một số dân tộc thiểu số ở Việt Bắc

25

Chương 1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin và của Đảng, Nhà nước ta

về bảo tồn, phát triển văn hoá, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số

1.5 ý nghĩa của nhiệm vụ giữ gìn và phát triển VH, NN các DTTS ở Việt Bắc 60

Chương 2 Những lý thuyết và khái niệm về bảo tồn và phát triển văn

hoá, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số

65

2.1 Một số quan điểm, lý thuyết về bảo tồn và phát triển VH,NN các DTTS 65

Chương 3 Kinh nghiệm của các nước trên thế giới về bảo tồn và phát

triển văn hoá, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số

Trang 3

Phần 2

Đánh giá thực trạng văn hoá, ngôn ngữ, của một số DTTS

vùng Việt Bắc trong điều kiện hiện nay và công tác bảo

Chương 4: Khái quát về vùng tộc người thiểu số Việt Bắc và đặc điểm ngôn

421

Chương 6: Đánh giá thực trạng công tác bảo tồn và phát triển văn hoá,

Trang 4

văn hoá và phương hướng bảo tồn, phát triển Ngôn ngữ, văn hoá các DTTS 476

8.1 Tác động của kinh tế thị trường, của toàn cầu hóa đối với văn hóa 470 8.2 Văn hóa các dân tộc thiểu số trong bối cảnh kinh tế thị trường và giao lưu, hội nhập quốc tế – những xu thế phát triển

9.4 Đẩy mạnh hoạt động sưu tầm, nghiên cứu bảo tồn 516

Phần 4

Một số giải pháp và kiến nghị nhằm bảo tồn và phát triển

các giá trị văn hoá, ngôn ngữ của một số DTTS ở Việt Bắc 523

Chương 10 Các giải pháp bảo tồn và phát triển các giá trị văn hoá,

Chương 11 Các kiến nghị về chính sách phát triển văn hoá, ngôn ngữ

Trang 5

Phần Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Vùng Việt Bắc nằm ở khu vực cửa ngõ phía Bắc giáp biên giới Việt-Trung, nối tiếp miền núi phía Bắc với khu vực đồng bằng Bắc bộ và vùng biển Đông Trong quá khứ xa xưa cũng như hiện nay, đây là địa bàn có vị trí chiến lược về kinh tế, chính trị, quốc phòng và an ninh Việt Bắc nằm trải rộng trên một khu vực bao gồm các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Kạn, với diện tích tự nhiên khoảng 36.887 ki lô mét vuông Dân

số toàn vùng trên 4 triệu người Trong đó có hàng chục tộc người nói nhóm ngôn ngữ Việt-Mường (họ Nam á), Tày –Thái (họ Thái- Ka Đai), Mông- Dao (họ Mông – Dao), Lô Lô (họ Tạng- Miến)… sinh sống từ lâu đời Sự cư trú đan xen của nhiều dân tộc trên địa bàn đã tạo nên sự phong phú và đa dạng cho văn hoá vùng Việt Bắc

Trong quá trình chuyển đổi xã hội từ xã hội cổ truyền sang đương đại văn hoá, ngôn ngữ truyền thống các tộc người thiểu số nói chung và các tộc người thiểu số vùng Việt Bắc nói riêng đã có sự thay đổi Đặc biệt, khoảng vài chục năm trở lại đây, tác động chuyển đổi kinh tế, xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá càng làm cho sự biến đổi ấy diễn ra mạnh mẽ và sâu sắc Bên cạnh những mặt tích cực như thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo,

mở rộng mạng lưới phúc lợi xã hội, cải thiện đáng kể cơ sở hạ tầng, thúc đẩy sự trao đổi hàng hoá trong vùng phát triển,… quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng tạo ra những ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo lưu những giá trị văn hoá, ngôn ngữ truyền thống của các tộc người

Hiện nay, quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn vùng Việt Bắc là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự bùng nổ di dân, ô nhiễm môi trường,

sự lỏng lẻo trong quan hệ cộng đồng…Quá trình chuyển đối cơ cấu lao động nghề nghiệp nhanh chóng cũng khiến xã hội phải đối mặt với vấn đề gia tăng tỉ

lệ thất nghiệp, nhịp sống gia đình bị đảo lộn Môi trường khu vực sinh sống bị

Trang 6

ô nhiễm phần nào khiến chất lượng cuộc sống của con người bị giảm sút Mặc

dù dịch vụ an sinh xã hội (y tế, giáo dục, bảo hiểm…) so với trước đây đã có nhiều cải thiện song chất lượng và hiệu quả dịch vụ vẫn còn thấp Khi nguồn ngân sách bao cấp của Nhà nước ngày càng cắt giảm mạnh, mức chi tiêu của gia đình bắt buộc phải tăng để bù đắp cho các chi phí, khiến việc bảo đảm một

sự tiếp nhận công bằng và chất lượng dịch vụ tốt của con người có thể gặp nhiều khó khăn…

Cùng với sự suy giảm văn hoá, ngôn ngữ truyền thống, cuộc sống của người dân chắc chắn sẽ khó ổn định Quá trình xã hội hoá cá nhân thuộc các thế hệ bị hạn chế Tất cả những điều đó làm cho động lực phát triển kinh tế, xã hội yếu đi, mục tiêu phát triển xã hội trở nên khó bền vững

Văn hoá, ngôn ngữ truyền thống của các dân tộc thiểu số vùng Việt Bắc

đang bị suy giảm mạnh biểu hiện trên các khía cạnh: hoạt động sinh hoạt văn hoá, ngôn ngữ truyền thống ngày càng trở nên mai một; sự tiếp nối văn hoá, ngôn ngữ truyền thống giữa các thế hệ bị gián đoạn, thiếu hụt Thế hệ trẻ ngày càng có xu hướng ít hiểu biết về văn hoá, ngôn ngữ truyền thống; môi trường (điều kiện kinh tế, xã hội) cho việc duy trì sinh hoạt văn hoá truyền thống thay

đổi khiến cơ hội trao truyền văn hoá, ngôn ngữ truyền thống bị thiếu hụt; văn hoá, ngôn ngữ truyền thống mất dần và bị thay thế bởi văn hoá, ngôn ngữ mới, thuộc truyền thống văn hoá khác…

Như chúng ta đều biết, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đường phát triển tất yếu của nước ta Tuy nhiên, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn vùng miền núi, nơi có các tộc người thiểu số sinh sống cũng tạo ra những tác động tiêu cực nhất định cho sự vận hành của văn hoá, ngôn ngữ truyền thống Do đó, bảo tồn và phát triển văn hoá, ngôn ngữ phải tính đến chiến lược lâu dài, đồng bộ và mang tính hệ thống tránh hiện tượng vừa làm vừa khắc phục một cách phiến diện, manh mún Muốn làm được điều này, việc bảo tồn và phát triển văn hoá, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số cần phải có những cơ sở lý luận mang tính khoa học, gắn chặt chẽ với hoạt động thực tiễn Trong

Trang 7

giai đoạn hiện nay, yêu cầu này trở nên hết sức cấp thiết bởi những biến chuyển kinh tế, xã hội diễn ra với quy mô và tốc độ ngày càng lớn

Văn hoá, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số vùng Việt Bắc nói riêng và nước

ta nói chung là bộ phận cấu thành nên nền văn hoá, ngôn ngữ đất nước Bảo tồn

và phát triển văn hoá, ngôn ngữ Việt Nam chính là bảo tồn và phát triển ngôn ngữ của cộng đồng 54 dân tộc anh em Vì vậy, nếu văn hoá, ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số bị mai một thì văn hoá, ngôn ngữ của quốc gia sẽ không thể bảo tồn và phát triển một cách vững chắc Nó không chỉ làm mất đi tính phong phú, đa dạng trong văn hoá, ngôn ngữ chung mà còn ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển bền vững của đất nước

Đảng, Nhà nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới hiện nay coi văn hoá là mục tiêu và động lực cho phát triển Phát triển kinh tế, xã hội không thể tách rời khỏi mục tiêu bảo tồn và phát triển văn hoá Bài học về sự mất cân đối trong phát triển ở các nước trên thế giới trong thế kỷ trước, (coi trọng tăng trưởng kinh tế mà không chú ý đúng mức tới bảo tồn và phát triển văn hoá, bảo

vệ môi trường nên đã phải trả giá đắt) đã cho chúng ta thấy rằng đây là nhiệm

vụ hết sức quan trọng

Văn hoá truyền thống của các tộc người thiểu số vùng Việt Bắc hàm chứa những giá trị mang tính lịch sử và nhân loại Giá trị truyền thống của nó biểu hiện ở sự tồn tại một cách tương đối độc lập với khoa học, công nghệ, kinh tế (ví dụ như tôn giáo, tín ngưỡng) Có những truyền thống tưởng như lỗi thời nhưng nếu biết cải tiến nâng cao sẽ bộc lộ những mặt tích cực mới, hữu ích (ví

dụ tri thức bản địa, tri thức dân gian về các lĩnh vực) Bên cạnh tác dụng thoả mãn một số nhu cầu tâm lý, khát vọng của con người (kinh nghiệm về quá khứ hay đoán định tương lai) các giá trị truyền thống cũng chứa đựng những giá trị nhân loại (kết tinh giá trị chân-thiện-mỹ trong một giai đoạn lịch sử dân tộc)

Nó làm nên những giá trị đạo đức, làm cơ sở cho đoàn kết xã hội, tính nhân văn- những nội dung mà bất cứ xã hội nào cũng cần đến Do đó, cần phải bảo

vệ và gìn giữ những giá trị văn hoá, ngôn ngữ truyền thống của tộc người thiểu

số

Trang 8

Vùng tộc người thiểu số Việt Bắc là khu vực có vị trí chiến lược trong sự phát triển của đất nước Bởi vậy, ổn định phát triển ở khu vực này sẽ mang lại

sự phát triển ổn định, bền vững cho đất nước Mặc dù từ trước đến nay, Đảng

và Nhà nước ta rất quan tâm đến bảo tồn và phát triển văn hoá, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Bắc nhưng do những điều kiện nhất định, vấn đề văn hoá, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số vẫn chưa được giải quyết một cách toàn diện và

đầy đủ Một trong những nguyên nhân là chúng ta thiếu những nghiên cứu khoa học đầy đủ có thể làm cơ sở cho việc xây dựng những biện pháp bảo tồn

và phát triển văn hoá ngôn ngữ các dân tộc thiểu số hiệu quả và phù hợp với

điều kiện thực tiễn

Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về các dân tộc thiểu

số cũng như về vùng Việt Bắc Có thể kể tên các nhà nghiên cứu nước ngoài nổi tiếng như: H Maspero, P.K Benedict, N N Cheboxarov, P.I Marelina, D.V Deopic, N.N Niculin, A.G Haudricourt, W Solheim, C Gorman, Xavina, Bonifasier,…hay các học giả trong nước như: Lã Văn Lô, Bế Viết Đẳng, Đặng Nghiêm Vạn, Nguyễn Khắc Tụng, Nguyễn Nam Tiến, Khổng Diễn, Phạm Quang Hoan, Nguyễn Văn Huy, Hoàng Nam, Võ Quang Nhơn, Trần Hữu Sơn, Hùng Đình Quý, Hoàng Văn Ma, Trần Trí Dõi, Nguyễn Hữu Hoành, Lương Bèn, Hoàng Hoa Toàn, Phạm Hồng Quang… đã trực tiếp tham gia nghiên cứu

và cho ra đời nhiều công trình có giá trị Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này vẫn chủ yếu tập trung vào những lĩnh vực nghiên cứu mang tính chuyên biệt Đa phần các công trình về lĩnh vực văn hoá, ngôn ngữ của các tộc người thiểu số là nghiên cứu về dân tộc học, văn hoá học hoặc ngôn ngữ học Bên cạnh nội dung tìm hiểu về văn hoá, ngôn ngữ nói chung các công trình nghiên cứu đã cố gắng xác định bản sắc văn hoá tộc người thông qua những giá trị văn hoá, ngôn ngữ của họ Thực trạng nghiên cứu đổi mới trong ngành dân tộc học những năm gần đây cho thấy việc xác định giá trị hay bản sắc văn hoá tộc người như thế là không dễ dàng Do quan niệm văn hoá của mỗi tộc người là một đơn vị văn hoá nên trong một thời gian dài, các nhà nghiên cứu đã không nhận thấy sự biến đổi văn hoá đang diễn ra ngày càng

Trang 9

mạnh mẽ ở các tộc người Và thực tế phản ánh rằng đối tượng nghiên cứu của các nhà dân tộc học truyền thống đã bộc lộ không ít mặt hạn chế

Với xu hướng nghiên cứu tính dân tộc- một quan điểm nghiên cứu mới

trong dân tộc học hiện đại, giới khoa học đang ngày càng chú trọng hơn đến quyền lựa chọn các cách biểu đạt văn hoá của cộng đồng- một con đường để hình thành bản sắc văn hoá Đây là một quan điểm biện chứng, bởi nó nhìn nhận văn hoá như là một yếu tố luôn biến đổi và mang tính lịch sử Theo nhận thức ấy, việc nghiên cứu bảo tồn văn hoá, ngôn ngữ tộc người, đặc biệt là di sản văn hoá phi vật thể theo hướng đi của ngành nhân học, dân tộc học đang có

sự thay đổi Bảo tồn và phát huy loại hình di sản văn hoá phi vật thể của cộng

đồng nông thôn có xu hướng gắn với mục tiêu phát triển cộng đồng về mặt văn hoá

Những nghiên cứu bảo tồn văn hoá, ngôn ngữ hiện nay rất cần tiến hành theo hướng nghiên cứu triển khai/ứng dụng Theo đó, có sự kết hợp chặt chẽ nghiên cứu từng dân tộc và nghiên cứu theo vùng, nghiên cứu cư dân nông thôn

và đô thị, nghiên cứu đời sống các dân tộc ít người gắn liền với nghiên cứu đời sống người Việt ở miền núi; nghiên cứu quá trình phân tầng văn hoá, ngôn ngữ giữa các nhóm xã hội trong tộc người; nghiên cứu bảo tồn văn hoá, ngôn ngữ truyền thống gắn với giáo dục, đào tạo; nghiên cứu phát triển cộng đồng về mặt văn hoá hay nghiên cứu mối quan hệ giữa bảo tồn, phát triển văn hoá với bảo tồn, phát triển ngôn ngữ là một xu hướng nghiên cứu có thể cho thấy diện mạo biến đổi văn hoá, ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số một cách rõ nét Nhưng,

đáng tiếc là, các công trình thuộc loại nghiên cứu này còn quá ít

Để phần nào khắc phục những mặt hạn chế trong lĩnh vực nghiên cứu bảo tồn và phát triển văn hoá ngôn ngữ các dân tộc thiểu số trong giai đoạn

hiện nay, đề tài “Nghiên cứu bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hoá một số dân tộc thiểu số vùng Việt Bắc” đã ra đời Đây là một công trình thuộc đề tài

cấp Nhà nước do Trường Đại học Sư phạm -ĐH Thái Nguyên chủ trì (PGS.TS Nguyễn Văn Lộc làm chủ nhiệm đề tài), tiến hành trong hơn 2 năm, tại địa bàn 6 tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Thái Nguyên và Bắc

Trang 10

Cạn Trên cơ sở tiến hành thu thập thông tin về thực trạng văn hoá, ngôn ngữ của một số dân tộc ít người ở Việt Bắc, các tác giả đã có thể rút ra được những kết luận khoa học bước đầu làm cơ sở cho công tác bảo tồn, phát triển văn hoá ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở miền núi phía bắc nói chung và vùng Việt Bắc nói riêng Phần báo cáo trình bày dưới đây chính là những nội dung cơ bản của kết quả nghiên cứu mà đề tài đã thực hiện

Báo cáo gồm các nội dung chính như sau:

Phần Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

2 Mục đích và ý nghĩa của việc nghiên cứu

3 Phương pháp nghiên cứu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5 Nguồn tư liệu

6 Tổ chức lực lượng nghiên cứu

7 Quá trình triển khai nghiên cứu

8 Sản phẩm khoa học của đề tài

Phần I: Cơ sở lý luận của việc bảo tồn và phát triển văn

hoá, ngôn ngữ một số dân tộc thiểu số ở Việt Bắc

Chương 1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin và của Đảng, Nhà nước ta về bảo tồn, phát triển văn hoá, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số

1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về bảo tồn và phát triển văn hoá, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số

1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn đề dân tộc

1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số

1.4 Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về bảo tồn và phát triển ngôn ngữ dân tộc thiểu số

1.5 ý nghĩa của nhiệm vụ giữ gìn và phát triển văn hoá, ngôn ngữ các dân tộc thiểu

số Việt Bắc

Chương 2 Những lý thuyết và khái niệm về bảo tồn và phát triển văn hoá, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số

Trang 11

2.1 Một số quan điểm, lý thuyết về bảo tồn và phát triển văn hoá, ngôn ngữ các dân

tộc thiểu số

2 2 Những khái niệm then chốt

Chương 3 Kinh nghiệm của các nước trên thế giới về bảo tồn và phát triển văn hoá, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số

3.1 Kinh nghiệm bảo tồn và phát triển văn hoá, ngôn ngữ của Liên bang Nga

3.2 Kinh nghiệm bảo tồn và phát triển ngôn ngữ ở Trung Quốc, các nước Đông Nam

á, châu Âu và Ôtxtơrâylia

Phần 2 Đánh giá thực trạng văn hoá, ngôn ngữ, của một số DTTS

vùng Việt Bắc trong điều kiện hiện nay và công tác bảo tồn,phát triển tại các địa phương

Chương 4: Khái quát về vùng tộc người thiểu số Việt Bắc và đặc điểm về ngôn

ngữ, văn hoá

4.1 Điều kiện tự nhiên vùng Việt Bắc

4.2 Điều kiện kinh tế- xã hội

5.1 Thực trạng văn hoá các dân tộc thiểu số ở Việt Bắc

5.2 Thực trạng sử dụng ngôn ngữ của một số dân tộc thiểu số vùng Việt Bắc

5.3 Mối quan hệ giữa bảo tồn, phát triển văn hoá với bảo tồn, phát triển ngôn ngữ của một số dân tộc thiểu số vùng Việt Bắc

Chương 6: Đánh giá thực trạng công tác bảo tồn và phát triển văn

hoá, ngôn ngữ của một số DTTS tại Việt Bắc

6.1 Những ưu điểm

6.2 Những mặt hạn chế

6.3 Nguyên nhân

Chương 7: Đánh giá thực trạng giáo dục bảo tồn và phát triển văn

hoá, ngôn ngữ của một số DTTS vùng Việt Bắc

Trang 12

7.1 Môi trường giáo dục ở vùng các dân tộc thiểu số Việt Bắc

7.2 Giáo dục nhà trường với nhiệm vụ và trách nhiệm bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số ở Việt Bắc

Phần 3: phương hướng và điều kiện bảo tồn và phát triển văn

hoá ngôn ngữ các dân tộc thiểu số

Chương 8: Các nhân tố tác động, ảnh hưởng đến sự phát triển của ngôn ngữ, văn hoá và phương hướng bảo tồn, phát triển Ngôn ngữ, văn hoá các DTTS

8.1 Tác động của kinh tế thị trường, của toàn cầu hóa đối với văn hóa và ngôn ngữ

8.2 Văn hóa các dân tộc thiểu số trong bối cảnh kinh tế thị trường và giao lưu, hội nhập quốc tế - những xu thế phát triển

8.3 Phương hướng bảo tồn và phát triển văn hoá, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số trong

10 năm tới

Chương 9: Điều kiện để bảo tồn và phát triển các giá trị văn hoá,

ngôn ngữ một số DTTS ở Việt Bắc

Phần 4: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm bảo tồn và phát triển

các giá trị văn hoá, ngôn ngữ của một số DTTS ở Việt Bắc

Chương 10 Các giải pháp bảo tồn và phát triển các giá trị văn hoá,

ngôn ngữ của một số DTTS ở Việt Bắc

- Giải pháp về kinh tế, xã hội

- Giải pháp về giáo dục

- Giải pháp về tổ chức thiết chế

- Các giải pháp khác

Chương 11 Các kiến nghị về chính sách phát triển văn hoá, ngôn ngữ

các DTTS miền núi phía Bắc

Phần Kết luận chung

Trang 13

2 Mục đích ý nghĩa của công trình nghiên cứu

Mục đích của đề tài “Nghiên cứu bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hoá một số dân tộc thiểu số ở Việt Bắc” là:

- Nghiên cứu và làm sáng tỏ thực trạng bảo tồn và phát triển văn hoá, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số vùng Việt Bắc Chỉ ra một số nguyên nhân (tác động của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá và kinh tế thị trường…)

và xu hướng biến đổi văn hoá, ngôn ngữ của các tộc người thiểu số hiện nay

- Từ đó, xác định các giá trị văn hoá, ngôn ngữ của một số dân tộc thiểu số cần bảo tồn và phát triển trong thời gian tới

- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đạt được, đề tài đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển văn hoá, ngôn ngữ của một số dân tộc thiểu số vùng Việt Bắc nói riêng, vùng miền núi phía Bắc nước ta nói chung thông qua con đường giáo dục và đào tạo; kiến nghị các chính sách nhằm phát triển ngôn ngữ, văn hoá các dân tộc thiểu số này một cách có hệ thống và đồng bộ, góp phần vào việc xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

3 Phương pháp nghiên cứu

Với mục đích nghiên cứu trên, đề tài sử dụng các phương pháp sau để tiến hành thu thập thông tin cần thiết:

- Phương pháp quan sát điền dã: Phần lớn các quan sát trên thực địa

được ghi chép mô tả bằng văn bản Tất cả những ghi chép sẽ được phân tích lại sau khi hoàn tất mọi công việc trên thực địa Quá trình phân tích được xác định trên cơ sở những câu hỏi nghiên cứu về các bối cảnh có đặc điểm khác nhau và hướng tìm hiểu chính về nội dung, bản chất đối tượng

Trong nghiên cứu này, vai trò của nhà nghiên cứu được biểu hiện trên cấp độ quan sát, chủ yếu là tham gia với tư cách một người quan sát Phương pháp quan sát và tham gia tạo cơ hội để tập hợp tài liêụ chi tiết và phong phú trên cơ sở của sự quan sát khung cảnh tự nhiên Hơn nữa, nó cũng giúp nắm bắt

được cách giải thích tình thế bằng ngôn ngữ riêng của người tham gia để hiểu

được khái niệm dùng trong cuộc sống hàng ngày Từ đây có thể xây dựng được

Trang 14

một cách giải thích về tình thế xã hội trên cơ sở của nhiều cách giải thích khác nhau mà mình đã thu thập được từ người cấp tin

- Phương pháp phỏng vấn cá nhân là hình thức phỏng vấn được sử dụng

nhằm giúp tìm hiểu sâu sắc hơn về lối sống của các tộc người Trong nghiên cứu phương pháp phỏng vấn cá nhân được áp dụng chủ yếu với các đối tượng là người dân tộc, cán bộ các ban ngành địa phương

- Phương pháp phỏng vấn cá nhân được kết hợp với phương pháp thảo luận nhóm để khai thác thông tin mà phương pháp trên chưa thể cung cấp một cách đầy đủ

- Gần giống với phương pháp phỏng vấn mở, hồi cố là một phương pháp

được thực hiện nhằm tìm hiểu một số sự kiện xảy ra trong quá khứ mà vì lý do khách quan không thể chứng kiến nó Phương pháp này được sử dụng nhằm khôi phục lại toàn bộ sự kiện từ trí nhớ của người dân một cách trung thực nhất qua đó tìm hiểu những ý nghĩa của bối cảnh biến đổi văn hoá, ngôn ngữ truyền thống trong các tình huống xã hội cụ thể

- Phương pháp điều tra xã hội học: với cách thu thập thông tin bằng

bảng hỏi cấu trúc đóng, kết hợp kiểu câu hỏi nửa đóng (gồm thông tin định tính, định lượng), thông tin điều tra tập trung vào các mẫu đại diện gồm 4 tộc người chủ yếu (Tày, Nùng, Sán Chay, Mông) với các nhóm xã hội khác nhau

- Phương pháp thống kê và phân tích tư liệu nghiên cứu được sử dụng

trước và sau khi tiến hành nghiên cứu Tư liệu thu thập trên cơ sở điều tra xã hội học ngôn ngữ sẽ được tập hợp và thống kê để phân tích Trong trường hợp như vậy, số liệu thống kê sẽ là cơ sở để đánh giá hay nêu lên một nhận xét nào

đó Cùng với số liệu, sự phân tích - tổng hợp dựa trên những kết quả nghiên cứu trước đây cũng như sự liên hệ lô gic của vấn đề là cơ sở cho những điều tra xã hội học ngôn ngữ được nhận diện, được liên hệ để từ đó khái quát vấn đề Trong thực tế nghiên cứu, nếu không có sự phân tích - tổng hợp này, rất nhiều

số liệu thu được sau khi nghiên cứu điều tra và thống kê sẽ không thể hiện những nội dung chúng ta đang khảo sát

Trang 15

- Phương pháp phân tích chuyên gia: Đây là một phương pháp đòi hỏi

khi giải quyết vấn đề, chúng ta phải thâm nhập vào những nội dung của nó Việc nhấn mạnh phương pháp này chính là đề cao trình độ chuyên gia của người điều tra văn hoá và xã hội học ngôn ngữ, là sự đánh giá cao những người

đã có kinh nghiệm phân tích số liệu về vấn đề và là sự đòi hỏi người nghiên cứu phải có một quá trình tích luỹ nhận thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu về giáo dục, văn hoá, ngôn ngữ vùng dân tộc thiểu số Trong một chừng mực nhất định, phương pháp phân tích chuyên gia đòi hỏi người khái quát vấn đề phải có mức độ nghiên cứu vấn đề đủ sâu để tránh sự đánh giá thiếu khách quan

- Phương pháp của ngôn ngữ học -nhân học Nếu như việc tiếp cận vấn

đề theo lối quy nạp quy định phương pháp tư duy và những phương pháp cụ thể

vừa miêu tả ở trên, quy định các thao tác làm việc thì phương pháp của ngôn ngữ học- nhân học chỉ đạo tư tưởng giải quyết vấn đề trong chuyên luận này Vấn đề sử dụng ngôn ngữ cũng như giáo dục ngôn ngữ thực chất là một hoạt

động xã hội gắn liền với bản chất ngôn ngữ Vì thế, chúng tôi lựa chọn phương pháp của ngôn ngữ học-nhân học là để theo đó, “ngôn ngữ học - nhân học trước sau đều không thoát li bản sắc con người, …giúp ích cho việc tìm hiểu về mối quan hệ ba bên giữa thế giới quan, loại hình ngữ pháp và ngữ nghĩa, tìm hiểu về ảnh hưởng của ngôn ngữ đối với quá trình xã hội hoá và quan hệ giữa người và người, và qua đó tìm hiểu về mối tương tác giữa ngôn ngữ và cộng

đồng nói năng” (Cao Văn Tuấn, 2001, 2)

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Phương pháp này đặc biệt hữu ích

trong trường hợp nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá; phân tích

đặc điểm môi trường (tự nhiên, xã hội) vùng Việt Bắc…

Ngoài ra, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành Tâm

lí học, Giáo dục học, Thống kê toán học, các số liệu được xử lí trên phần mềm SPSS

Trang 16

Lược đồ khung nghiên cứu

Các DTTS Việt Bắc

Sự tiếp biến Văn hoá, ngôn ngữ

+ Giá trị, chuẩn mực văn hoá, ngôn ngữ biến đổi

+ Giá trị, chuẩn mực văn hoá mới hình thành + Chức năng văn hoá, ngôn ngữ thay

đổi

Các yếu tố can thiệp

+ Xu hướng hội nhập, toàn cầu hoá

+ Xu hướng công nghiệp hoá, đô thị hoá

+ Xu hướng hiện đại hoá

+ Cơ chế kinh tế thị trường + Chính sách nhà nước + Biến đổi môi trường …

Bảo tồn và phát triển văn hoá, ngôn ngữ các DTTS

+ Pháp luật, chính sách nhà nước + Hoạt động sưu tầm, nghiên cứu + Giáo dục trong nhà trường + Phương tiện thông tin đại chúng + Xây dựng văn hoá cơ sở

+ Tổ chức, cộng đồng và cá nhân

Trang 17

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

- Đề tài nghiên cứu tập trung vào 4 tộc người chủ yếu ở Việt Bắc là người

Mông, Tày, Nùng và Sán Chay Cụ thể là: nhóm dân tộc Tày ở Cao Bằng và

Bắc Cạn; nhóm dân tộc Nùng ở Lạng Sơn và Thái Nguyên; nhóm dân tộc Mông ở Hà Giang, Tuyên Quang; nhóm dân tộc Sán Chay ở Thái Nguyên và Tuyên Quang, nhóm dân tộc Sán Chay còn có tên gọi: Cao Lan –Sán Chí

- Các hoạt động sinh hoạt văn hoá, ngôn ngữ của 4 tộc người nói trên tại

địa bàn vùng Việt Bắc

Phạm vi nghiên cứu:

Trong nghiên cứu, các nội dung được đề tài giới hạn tập trung làm rõ gồm có:

- Môi trường (điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội) diễn ra các hoạt động

văn hoá, ngôn ngữ truyền thống của 4 tộc người

- Các nhóm tộc người (Mông, Tày, Nùng, Sán Chay) và những quan hệ của họ liên quan đến việc bảo tồn và phát triển văn hoá, ngôn ngữ truyền

thống ở đây, đối tượng tham gia tương tác không chỉ quan hệ với người khác trong những tình huống bình thường mà họ còn thiết lập mối quan hệ thường xuyên với những tổ chức và thể chế xã hội Họ trở thành những người tham gia như thành viên gia đình, thành viên của dòng họ, của làng bản

- Hành động và hoạt động sinh hoạt văn hoá, ngôn ngữ truyền thống

Đây là một khía cạnh quan trọng đề tài phải nghiên cứu, tìm hiểu Các hành vi trao đổi văn hoá, ngôn ngữ này được hiểu chính xác trong bối cảnh của nó như sinh hoạt nghi lễ, sản xuất, giao lưu văn hoá, giải trí…

- Hành vi (ngôn từ, hoạt động ) của các đối tượng trong và ngoài thời

điểm tiến hành nghiên cứu Những mẫu khảo sát được miêu tả cũng như giải

thích trong môi trường xã hội của họ (tại môi trường cộng đồng) Việc nghiên cứu hành vi tập trung chủ yếu vào ý nghĩa xã hội của các hành vi trong tình

Trang 18

huống cụ thể Lẽ dĩ nhiên, nhìn chung, chúng tôi sẽ không muốn phụ thuộc vào

ý kiến của chỉ một cá nhân Thay vào đó nếu càng có nhiều người ở các cách tiếp cận khác nhau cung cấp thông tin thì càng có nhiều lĩnh hội về một vấn đề cần hiểu biết Tất nhiên, những gì mà các cá nhân khác nhau nói có thể mâu thuẫn, nhưng phải cố “lọc” ra khuôn mẫu “thống trị” trong khi không bỏ qua những khía cạnh khác thường, để rút ra một cái nhìn tổng quát về toàn bộ bản chất của hiện tượng đề cập Hành vi ngôn từ chúng tôi khảo sát qua hai cách chính: Một là nghe nội dung đàm thoại và ghi nó theo những dạng trình bày ngôn ngữ (các câu hỏi, trả lời như phỏng vấn cá nhân, thảo luận nhóm); hai là quan sát cuộc đàm thoại như là quan hệ xã hội qua lại và ghi nhớ (ví dụ thông tin ai nói với ai, ai hỏi ai, ai trả lời câu hỏi của ai hay ai đồng ý với ai) Phần lớn việc tìm hiểu ngôn từ được thông qua “phiên dịch” của người cấp tin và chuyên gia ngôn ngữ

- Thái độ tâm lý của cá nhân và cộng đồng xảy ra vào lúc trước, đang và

sau khi tiến hành thu thập thông tin điều tra Qua những phản ứng tâm lý của

họ, ta có thể hiểu hơn ý nghĩa của bối cảnh đang quan sát

- Lịch sử của đối tượng vốn là nội dung mà các nhà dân tộc học và sử

học thường tìm kiếm để phát hiện ra bản chất của đối tượng nghiên cứu mà họ

điều tra thông qua những người cung cấp tin tức lịch sử ở nhiều trường hợp, lịch sử di cư của các dân tộc thiểu số vùng Việt Bắc chỉ còn để lại trong trí nhớ của những người già Các câu chuyện được kể về tổ tiên xa xưa từ quê hương

cũ, về thời kì đầu đến Việt Nam ra sao, về những người định cư đầu tiên lựa chọn vùng đất mới để sinh sống như thế nào và về các nghi thưc tang ma cổ xưa Đó thường chỉ là những mảnh của lịch sử còn tồn tại, nhưng chúng được lưu giữ vì chúng phản ánh thái độ đối với các sự kiện quan trọng hoặc niềm tin của nhóm cư dân Những câu chuyện này không chỉ là những câu chuyện cũ

mà là những nguồn tư liệu để thấu hiểu thực sự về bản chất đời sống của các tộc người địa phương, cũng như bản thân đời sống văn hoá, ngôn ngữ cộng

đồng Sự thực có thể không còn, nhưng ý nghĩa biểu tượng của những câu

Trang 19

chuyện còn tồn tại và gợi cho chúng ta nhiều suy nghĩ về nguồn gốc dân tộc và các vấn đề xung quanh nó

- Các đối tượng vật thể “xung quanh” hoạt động bảo tồn văn hoá, ngôn

ngữ truyền thống Con người và mối tương quan-liên hệ người không phải là tư liệu duy nhất trong một hiện trường nghiên cứu Ngoài nó còn có các đối tượng vô tri vô giác khác Việc quan sát sinh hoạt văn hoá, ngôn ngữ cần nhiều cơ hội

để xem xét các loại đối tượng Ví dụ, đồ đạc sinh hoạt trong gia đình, thiết chế tôn giáo cộng đồng…

- Các kênh, phương tiện tiếp nhận và trao đổi văn hoá, ngôn ngữ:

phương tiện truyền thông đại chúng, chợ và trường học

- Về đối tượng nhóm tộc người và địa bàn cư trú, chúng tôi thấy có mấy

điểm cần lưu ý Thứ nhất, nhóm tộc người phải phản ánh một cách rõ ràng về

đối tượng, nghĩa là bộc lộ được một cách nguyên vẹn nhất những đặc điểm

“nguyên gốc” vốn có Thứ hai, các hoạt động sinh hoạt văn hoá, ngôn ngữ của nhóm này có khả năng cung cấp thêm những thông tin mới về thực trạng biến

đổi của văn hoá, ngôn ngữ truyền thống và có thể so sánh với những hình thức tương tự ở các tộc người, địa phương khác Và cuối cùng, nó có thể cho phép nhà nghiên cứu tiếp cận và quan sát được Trên cơ sở tham khảo những đặc

điểm như tình hình bảo tồn văn hoá, ngôn ngữ truyền thống, môi trường địa lý,

điều kiện kinh tế, xã hội, và đặc điểm văn hoá của địa phương, chúng tôi thấy một số nhóm cộng đồng người Mông, Tày, Nùng, Sán Chay ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Cạn và Thái Nguyên thoả mãn

được yêu cầu này Chính vì thế chúng tôi đã chọn cộng đồng ở các địa phương nói trên làm điểm nghiên cứu cho đề tài Như vậy, cùng với việc giới hạn phạm

vi nghiên cứu ở vấn đề bảo tồn và phát triển văn hoá, ngôn ngữ, phạm vi tìm

hiểu của đề tài sẽ chủ yếu nhằm vào 4 nhóm tộc người ở 6 tỉnh Lạng Sơn, Cao

Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Cạn và Thái Nguyên

Về phạm vi văn hoá, đề tài giới hạn các nội dung văn hoá phi vật thể, gồm các phong tục tập quán, lễ hội, loại hình nghệ thuật tiêu biểu và lối sống trong hoạt động sinh hoạt, văn hoá

Trang 20

Tóm lại, phạm vi nghiên cứu của đề tài là tương đối rộng và mang nhiều

đặc điểm phức tạp Như đã trình bày, việc xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu bảo tồn và phát triển văn hoá, ngôn ngữ một số dân tộc thiểu số Việt Bắc liên quan đến nhiều nội dung mà để giải thích được chúng, ta phải sử dụng nhiều định nghĩa khái niệm và lý thuyết khác nhau Về điều này, những

lý thuyết nghiên cứu bảo tồn văn hoá, ngôn ngữ chiếm vị trí rất quan trọng Những khái niệm và lý thuyết được chúng tôi tham khảo và sử dụng có liên quan đến nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước

5 Nguồn tư liệu

Đối với đề tài này, tư liệu là yếu tố then chốt để đảm bảo có được một kết quả nghiên cứu tốt Chúng được khai thác từ 3 nguồn chính là: tư liệu văn bản đã công bố, tư liệu hồi cố; tư liệu điền dã quan sát, phỏng vấn cá nhân và tư liệu điều tra xã hội học

a/ Nguồn tư liệu văn bản bao gồm các tài liệu nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước liên quan đến những lĩnh vực của đề tài:

- Công trình nghiên cứu về các dân tộc thiểu số vùng Việt Bắc (chủ yếu

về nhóm dân tộc Tày, Nùng, Sán Chay, Mông sinh sống trên địa bàn),

- Tài liệu nghiên cứu về vùng Việt Bắc;

- Các tư liệu đề cập về vấn đề bảo tồn và phát triển ngôn ngữ các dân tộc thiểu số trong và ngoài nước;

- Các công trình, chương trình, dự án sưu tầm bảo tồn và phát triển văn hoá, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số vùng Việt Bắc

- Tài liệu giáo dục văn hoá, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số

- Các văn bản pháp hiến pháp, nghị quyết, chỉ thị… của Đảng và Nhà nước liên quan đến vấn đề dân tộc, vấn đề bảo tồn và phát triển văn hoá, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số

b/ Bên cạnh đó chúng tôi cũng tham khảo nguồn tư liệu hồi cố là những ghi chép dựa vào trí nhớ của người cung cấp tin nhằm phục dựng lại toàn bộ các hoạt động có liên quan về sinh hoạt văn hoá, ngôn ngữ truyền thống diễn ra

Trang 21

trong quá khứ Ngoài ra, còn có tư liệu điền dã dân tộc học từ trước đó gồm những ghi chép về các phong tục tập quán, hệ thống bảng từ vựng liên quan

đến nội dung đề tài trong những cuộc trao đổi giữa nhà nghiên cứu với người dân địa phương

c/ Các tư liệu ghi chép từ nhiều chuyến điền dã, nhiều cuộc phỏng vấn

được tiến hành trong hơn hai năm nghiên cứu của đề tài

d/ Các tư liệu điều tra xã hội học cùng các tài liệu thống kê và xử lý

6 Tổ chức lực lượng nghiên cứu

Theo quyết định số 2589/QĐ - BKHCN ngày 30/12/2003 của Bộ trưởng

Bộ Khoa học và Công nghệ, đề tài độc lập cấp Nhà nước "Nghiên cứu bảo tồn

và phát triển ngôn ngữ, văn hoá một số dân tộc thiểu số ở Việt Bắc" (Mã số:

ĐTĐL - 2004/27) đã được giao cho Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên, chủ nhiệm đề tài là PGS-TS Nguyễn Văn Lộc thực hiện Để triển khai hoạt động nghiên cứu, chủ nhiệm đề tài đã tổ chức lực lượng nghiên cứu gồm có:

Thư ký đề tài: PGS.TS Phạm Hồng Quang - Trường Đại học Sư phạm

thuộc Đại học Thái Nguyên

Những người tham gia: PGS.TS Nguyễn Văn Khải, PGS.TS Phạm Việt

Đức, PGS.TS Phạm Mạnh Hùng, ThS Phạm Thị My, CVC Nguyễn Thế Xương, ThS Nguyễn Vinh Quang, ThS Hoàng Văn Long - Trường Đại học Sư

phạm thuộc Đại học Thái Nguyên

Các nhà nghiên cứu, cộng tác viên địa phương:

- TS Hoàng Văn An - Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Lạng Sơn

- TS Phạm Ngọc Thưởng - Trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn

- ThS Mạc Văn Nheo - Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Cao Bằng

- Bà Hoàng Thị Hỵ - Sở Văn hoá thông tin tỉnh Bắc Kạn

- TS Nguyễn Việt Thanh - Sở văn hoá thông tin tỉnh Tuyên Quang

- Bà Nguyễn Thị Toán - Sở văn hoá thông tin tỉnh Hà Giang

Trang 22

(Ngoài ra, gần 40 cộng tác viên ở các Viện nghiên cứu, Trường Đại học

đã tham gia trong hơn 2 năm nghiên cứu tại trường và các địa phương)

Để triển khai các nội dung nghiên cứu, đề tài đã được phân thành 03 đề tài nhánh:

a/ Nhánh 1: Những vấn đề lý luận về phát triển văn hoá, ngôn ngữ các

+ Xây dựng đề cương chi tiết của đề tài

+ Giải quyết những vấn đề phương pháp chung của đề tài và làm sáng tỏ những khái niệm công cụ liên quan đến đề tài

+ Xây dựng các bộ phiếu điều tra khảo sát

+ Tổ chức khảo sát điền dã và hội thảo khoa học tại các tỉnh

- Năm 2005:

+ Tiếp tục tổ chức khảo sát điền dã và hội thảo khoa học tại các tỉnh + Hoàn thiện các chuyên đề sâu và các đề tài nhánh

+ Xử lý, phân tích số liệu về thực trạng văn hoá, ngôn ngữ một số dân tộc thiểu số ở Việt Bắc

- Năm 2006:

+ Hội thảo về định hướng và giải pháp bảo tồn, phát triển ngôn ngữ, văn hoá một số dân tộc thiểu số ở Việt Bắc

+ Hoàn thiện các sản phẩm nghiên cứu, in ấn các tài liệu, xuất bản các

ấn phẩm, hoàn thiện báo cáo tổng kết và chuẩn bị nghiệm thu đề tài

8 Sản phẩm khoa học của đề tài

Sách xuất bản, giáo trình, chuyên luận:

Trang 23

+ Chuyên luận “Thực trạng sử dụng ngôn ngữ của một số dân tộc thiểu số

và những vấn đề đặt ra cho giáo dục ngôn ngữ trong nhà trường ở Việt Bắc”

NXB Giáo dục, 2006

+ Chuyên luận “Đặc điểm văn hoá các dân tộc thiểu số vùng Việt Bắc và

những vấn đề đặt ra cho giáo dục nhà trường” Bản thảo NXB Đại học sư

phạm, 2006

+ Công trình “Văn hoá học”- Giáo trình Đại học sư phạm, 2004

+ Sách “Giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên sư phạm” NXB

Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003

+ Chuyên đề tự chọn: “Bảo tồn ngôn ngữ, văn hoá các dân tộc thiểu số

qua các môn khoa học xã hội và nhân văn”, ĐHSP, 2006

+ Chuyên đề tự chọn: “Các biện pháp giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc

cho sinh viên sư phạm trường Đại học và Cao đẳng sư phạm”, ĐHSP, 2006 Bài báo khoa học và các sản phẩm khoa học khác:

1 Một số biện pháp giáo dục bản

sắc văn hoá dân tộc cho sinh

viên thông qua dạy học môn

giáo dục học ở Trường

ĐHSP-ĐHTN

Luận văn Thạc sĩ 2004

2 Giao thoa ngôn ngữ và việc dạy

học từ tiếng Việt cho học sinh

người dân tộc Tày

Luận văn Thạc sĩ 2004

3 Hệ thống nhân vật trong truyện

cố tích về người mồ côi của dân

tộc Sán Chay ở Tuyên Quang

Công trình dự thi sinh viên NCKH, giải Ba

Trang 24

mộ tố tác phẩm văn chương về

đề tài miền núi

6 Vấn đề giáo dục bản sắc văn

hoá dân tộc cho sinh viên,

Tạp chí Giáo dục, 10/2004

7 Định hướng giá trị văn hoá và

nhu cầu hưởng thụ văn hoá của

sinh viên hiện nay

Tạp chí Giáo dục 6/2002

8 Thực trạng ngôn ngữ văn hoá

các DTTS ở Việt Bắc

Tạp chí KHCN Đại học Thái Nguyên

2/2006

9 Mức độ nhận thức của sinh viên

Tày- Nùng trường Đại học Sư

phạm - đại học Tự nhiên về lễ

hội truyền thống dân tộc

Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên

2005

10 05 tập kỉ yếu hội thảo khoa học

tại các tỉnh Hà Giang, Tuyên

Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn,

Lạng Sơn, Thái Nguyên

Kỉ yếu hội thảo 2004,2005,2006

11 Phim tư liệu, đĩa CD về các hoạt

động văn hoá tiêu biểu của

Trang 25

Phần I

Cơ sở lý luận của việc bảo tồn và phát triển

văn hoá, ngôn ngữ một số dân tộc thiểu số ở Việt Bắc

Chương 1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác lênin và Đảng, nhà nước tavề bảo tồn, phát triển văn hoá, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số

1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về vấn đề dân tộc

Dân tộc cũng như giai cấp và quốc tế là vấn đề được C Mác và Ph

Ănghen dành cho một vị trí rất quan trọng trong học thuyết của mình Trong

tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, hai ông đã nêu rõ về sự hình thành dân tộc: từ tổ

chức bộ lạc lên nhà nước, từ tổ chức có tính địa phương lên dân tộc Quan điểm này đối lập với quan điểm của các giai cấp bóc lột, của nhà nước tư sản Đứng trên lập trường của giai cấp vô sản, C Mác và Ph Anghen đã kiên quyết chống lại đường lối dân tộc của giai cấp tư sản

Trong nhiều tác phẩm quan trọng, V.I Lênin đã phát triển học thuyết của Mác về vấn đề dân tộc Trong tác phẩm "Về quyền dân tộc tự quyết" vấn

đề dân tộc đã được tóm tắt ở luận điểm: "Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự quyết, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại" Trong cương lĩnh về vấn đề dân tộc của V.I Lênin, bình đẳng dân tộc là một nguyên tắc cực kỳ quan trọng Sự bình đẳng này là hoàn toàn: bình đẳng toàn diện giữa

các dân tộc về kinh tế, chính trị, văn hoá Trong Lênin toàn tập (NXB Tiến bộ,

M, 1980), V.I Lênin khẳng định: "Người nào không thừa nhận và không bảo

vệ quyền bình đẳng giữa các dân tộc và bình đẳng giữa các ngôn ngữ, không

đấu tranh chống mọi áp bức hay mọi bất bình đẳng dân tộc, người đó không phải là người macxit, thậm chí cũng không phải là người dân chủ nữa" V.I Lênin còn nhấn mạnh: "Giải phóng dân tộc thuộc địa không những làm cho quần chúng lao động các dân tộc được bình đẳng thực sự, mà cả việc phát triển ngôn ngữ và văn hoá của họ"

Trang 26

Quyền tự quyết là nguyên tắc quan trọng trong cương lĩnh của V.I Lênin

về vấn đề dân tộc Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, quan điểm này đã đi vào cuộc sống của các dân tộc Liên Xô Sau này, chính sách dân tộc ở Liên Xô càng xa rời nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc -

đây là một trong những nguyên nhân cơ bản của sự thất bại khi giải quyết vấn

đề dân tộc và là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của nhà nước Xô Viết

1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn đề dân tộc

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn coi việc giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một nhiệm vụ có tính chiến lược của cách mạng Vệt Nam Đảng ta đã vận dụng sáng tạo những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, đề ra và thực hiện một loạt chính sách dân tộc và chính sách xây dựng miền núi về các mặt, đặc biệt là trong cách mạng tư tưởng và văn hoá Chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với các dân tộc là thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc, nhằm giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến lên trên con đường chủ nghĩa xã hội Tinh thần cơ bản ấy được thể hiện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế và văn hoá giáo dục

Chính sách dân tộc là hệ thống các quan điểm chính trị của một giai cấp,

đại diện là chính đảng và nhà nước của nó, để giải quyết mối quan hệ giữa các dân tộc Chính sách nhất quán của Đảng là đoàn kết các dân tộc trên nguyên tắc bình đẳng, tương trợ, cùng nhau xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc,

đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp của các dân tộc Chính sách đó

được bổ sung, phát triển phù hợp với từng giai đoạn cách mạng của nước ta và

đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Quyền bình đẳng dân tộc ở nước ta đã

được hiến pháp thừa nhận

Ngày nay, khi nhìn nhận vấn đề dân tộc một cách đúng đắn, trả lại vị trí của nó trong đời sống chính trị của quốc gia còn là sự thể hiện quyền con người, thể hiện chủ nghĩa nhân văn trong một nền móng chính trị, trong sự tồn vong và phát triển của đất nước Khi đã xác định vị trí trọng yếu của vấn đề dân

Trang 27

tộc trong thời đại chúng ta và ở nước ta thì xuất phát điểm của việc đề ra một

đường lối chính sách dân tộc không thể chỉ căn cứ vào số dân nhiều hay ít, cư trú trên một địa bàn rộng hay hẹp, và những địa bàn cư trú đó co nhiều tài nguyên khoáng sản hay không, vị trí địa lý có tầm chiến lược thế nào, có là

"phên dậu" của nền an ninh toàn xứ sở hay không, mà phải xuất phát từ quyền tồn tại của mỗi dân tộc và mối quan hệ giữa các thực thể đang tồn tại và phát triển bên nhau Kế thừa những truyền thống tốt đẹp của cha ông, trong hơn 70 năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có những quyết sách đúng đắn về vấn đề dân tộc; do đó tập hợp đoàn kết được các dân tộc, giành thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ và thắng lợi bước đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước đã động viên và tập hợp được các dân tộc đa số và thiểu số đứng lên làm cách mạng tháng Tám thành công, tiến hành kháng chiến bảo vệ Tổ quốc thắng lợi và đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và đổi mới XHCN Những thành tựu nổi bật là quyền tham chính của các dân tộc thiểu số, sự nghiệp phát triển giáo dục-đào tạo và tăng cường đoàn kết dân tộc Tinh hoa văn hoá các dân tộc thiểu số được chú ý khai thác và phát huy Về kinh tế, những năm gần đây, một

số vùng dân tộc thiểu số, chủ yếu là vùng thấp, một số mặt của sản xuất đã có những bước phát triển khá Nền kinh tế đang từng bước chuyển từ tự cấp tự túc sang phát triển kinh tế hàng hoá Đời sống các dân tộc cơ bản ổn định, một bộ phận cải thiện, xuất hiện nhiều hộ khá và giầu Bộ mặt nông thôn nhiều vùng dân tộc có sự đổi mới

Chúng ta đã và đang có các tổ chức thực hiện chính sách dân tộc sau

đây: Ban dân tộc Trung ương Đảng thành lập năm 1955, có chức năng tham mưu tổng hợp cho Trung ương Đảng về công tác dân tộc thiểu số Hội đồng

dân tộc do Quốc hội bầu ra, với nhiệm vụ nghiên cứu và kiến nghị với Quốc

hội, Hội đồng nhà nước những vấn đề dân tộc, giúp Quốc hội và Hội đồng nhà

nước giám sát việc thi hành chính sách dân tộc Uỷ ban Dân tộc và Miền núi

Trang 28

(nay là Uỷ ban dân tộc) là cơ quan thuộc Chính phủ, có trách nhiệm thực hiện

chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, nhằm tăng cường đoàn kết các dân tộc theo nguyên tắc bình đẳng, tương trợ, tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số cùng nhân dân toàn quốc tiến nhanh về mọi mặt lên chủ nghĩa xã hội Chính sách dân tộc của Nhà nước do Quốc hội quyết định Thực hiện chính sách sách dân tộc là nhiệm vụ của Chính phủ

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh về việc thực hiện chính sách

dân tộc của Đảng: “Trong chính sách đó có hai điều quan trọng nhất: đoàn kết

dân tộc và nâng cao đời sống của đồng bào”(1) Đối với miền núi, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên những truyền thống tốt đẹp và sự đóng góp của đồng bào

các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp chung Người nói: “Đồng bào miền núi có

truyền thống cần cù và dũng cảm Trong thời kỳ cách mạng và kháng chiến,

đồng bào miền núi đã có những công trạng vẻ vang và oanh liệt Ngày nay, trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh để thực hiện hoà bình thống nhất Tổ quốc, đồng bào miền núi đang cố gắng góp phần xứng đáng của mình”(2)

Do đường lối, chính sách dân tộc đúng đắn, nên các dân tộc đã đoàn kết xung quanh Đảng, Bác Hồ và đã đưa lại những thắng lợi lớn lao trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội Ngay từ những văn kiện đầu tiên, khi vạch ra đường lối cách mạng ở Đông Dương, những người xác lập ra đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay đã chú trọng đến vấn đề dân tộc Trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ, trong chiến tranh vệ quốc, việc vận

động quần chúng trong đồng bào các dân tộc thiểu số đã có những kết quả to lớn, việc thực hiện chính sách dân tộc của đảng ở hầu hết các địa phương đã

đem lại cho người dân lòng tin ở cách mạng, ở chế độ mới đang xây dựng Khi giành được chính quyền, hiến pháp đầu tiên của nhà nước dân chủ nhân dân

( 1 ),( 2 ) Hồ Chủ tịch -Bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ miền núi ngày 1/9/1962

Trang 29

cũng thể hiện rõ sự bảo đảm cho các dân tộc quyền làm chủ, quyền bình đẳng

về mọi mặt và quyền được tương trợ để cùng phát triển

Ngay từ bản Luận cương chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 đã đề cập đến vấn đề dân tộc Trong quá trình bảo vệ và xây dựng

đất nước, chính sách dân tộc luôn được chú trọng để đáp ứng với tình hình và nhiệm vụ cách mạng nước ta Điểm lại những Nghị quyết Đại hội Đảng từ Đại hội Đảng lần thứ nhất đến nay chúng ta thấy chính sách dân tộc của Đảng vẫn tiếp tục đường lối trên, và ngày càng được cụ thể hoá đối với vấn đề dân tộc

Nói chung, điểm trọng yếu và xuyên suốt trong đường lối dân tộc của Đảng là:

Đoàn kết, bình đẳng và tương trợ để các dân tộc thiểu số tiến kịp trình độ

chung với dân tộc đa số, tạo điều kiện cho các dân tộc cùng làm chủ đất nước Ngay từ năm 1960, Đảng và Nhà nước ta xuất phát từ nhận thức sự chênh lệch khá nhiều giữa các vùng dân tộc, đã đề ra Nghị quyết Đại hội đảng lần thứ 3, coi việc khắc phục những chênh lệch trong sự phát triển kinh tế - xã hội của các vùng, các dân tộc là mục tiêu cơ bản quan trọng của chính sách dân tộc

Nghị quyết Đại hội IV ghi: “Thực hiện triệt để quyền bình đẳng về mọi mặt

giữa các dân tộc, tạo những điều kiện cần thiết để xoá bỏ tận gốc sự chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hoá giữa các dân tộc ít người và dân tộc đông người, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp, làm cho tất cả các dân tộc có cuộc sống ấm no, văn minh và hạnh phúc, đoàn kết giúp

đỡ nhau tiến bộ, cùng làm chủ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”

Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng lần thứ V có nêu và giải quyết đúng

đắn vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ có tính chiến lược của cách

mạng Việt Nam: “Đảng phải lãnh đạo thực hiện tốt nghị quyêt từ đại hội Đảng

lần thứ IV về chính sách dân tộc, đồng thời tiếp tục nghiên cứu để giải quyết kịp thời những vấn đề mới về công tác dân tộc của Đảng Phải tăng cường hơn nữa khối đoàn kết dân tộc trên nguyên tắc bình đẳng, tương trợ và cùng làm chủ tập thể”

Trang 30

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, dưới ánh sáng của đường lối đổi mới, đã nêu ra chính sách dân tộc trong tình hình mới, nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chiến lược của cả nước Trong lĩnh vực này, Đại hội đã định hướng các vấn đề: về vị trí chính sách dân tộc, về mục đích và nội dung mới và việc thực hiện chính sách đó trên các mặt kinh tế, xã hội; về mối quan hệ giữa

sự phát triển của từng dân tộc và cả cộng đồng các dân tộc, về cơ sở khoa học của việc nghiên cứu, tổ chức thực hiện chính sách dân tộc và về tăng cường giáo dục chính sách dân tộc trong toàn Đảng, toàn dân Văn kiện Đại hội VI nhấn mạnh vị trí chiến lược của vấn đề dân tộc khi khẳng định chính sách dân tộc : “luôn luôn là một bộ phận trọng yếu trong chính sách xã hội” và đặt ra vấn đề thực hiện chính sách này trong “Những phương hướng cơ bản của chính sách kinh tế, xã hội”

Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương tại Đại hội Đảng lần

thứ VI tiếp tục khẳng định: “Trong việc phát triển kinh tế, xã hội ở những nơi

có đông đồng bào các dân tộc thiểu số, cần thể hiện đầy đủ chính sách dân tộc, phát triển mối quan hệ tốt đẹp gắn bó giữa các dân tộc trên tinh thần đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau, cùng làm chủ tập thể; kết hợp phát triển kinh tế

và phát triển xã hội, đẩy mạnh sản xuất và chăm lo đời sống con người, kể cả những người từ nơi khác đến và dân ở đó Sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự củng cố, phát triển của cộng đồng các dân tộc trên đất nước

ta Sự tăng cường tính cộng đồng, tính thống nhất là một quá trình hợp quy luật, nhưng tính cộng đồng, tính thống nhất không mâu thuẫn, không bài trừ tính đa dạng, tính độc đáo trong bản sắc của mỗi dân tộc Tình cảm dân tộc, tâm lý dân tộc sẽ còn tồn tại lâu dài và là một lĩnh vực nhạy cảm Trong khi xử

lý các mối quan hệ dân tộc, phải có thái độ thận trọng đối với những gì liên quan đến lợi ích của mỗi dân tộc, tình cảm dân tộc của mỗi người Chống

Trang 31

những thái độ, hành động biểu thị tư tưởng “dân tộc lớn” và những biểu hiện của tư tưởng dân tộc hẹp hòi”(3)

Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương tại Đại hội Đảng lần thứ VII một lần nữa thể hiện sự nhất quán trong đường lối của Đảng đối với

vấn đề dân tộc: “… Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một

xã hội: …Có một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc…Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ…Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt nam Tôn trọng lợi ích truyền thống văn hoá, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị và chia rẽ dân tộc Các chính sách kinh tế-xã hội phải phù hợp với đặc thù của từng vùng và các tộc, nhất là các dân tộc thiểu số…Đoàn kết bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, cùng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta” (4)

Đường lối, chính sách dân tộc của Đảng đã được thể chế hoá bằng Hiến pháp và các chính sách cụ thể từng mặt của Chính phủ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 đã xác nhận vị trí, quyền lợi, nhiệm

vụ các dân tộc anh em cùng sống trên đất nước Việt Nam, nguyên tắc cơ bản

về quan hệ giữa các dân tộc và mục tiêu đưa dân tộc thiểu số tiến lên Điều 5

của Hiến pháp ghi rõ: "Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà

nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam, bình

đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ Nhà nước bảo vệ, tăng cường và củng cố khối

đoàn kết toàn dân, ngăn cấm mọi hành vi miệt thị chia rẽ dân tộc Các dân tộc

Trang 32

có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình”

Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 một lần

nữa khẳng định: "Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước

thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam…Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc…Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình…Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của

đồng bào dân tộc thiểu số… Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hoá Việt Nam: dân tộc, hiện đại, nhân văn; kế thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu những tinh hoá văn hoá nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo của nhân dân Nhà nước thực hiện chính sách ưu tiên bảo đảm phát triển giáo dục ở miền núi, các vùng dân tộc thiểu số và các vùng đặc biệt khó khăn…Nhà nước ưu tiên thực hiện chương trình chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào miền núi và dân tộc thiểu số"(5)

Nghị quyết số 03/NQ-TƯ ngày 16/7/1998 của Ban chấp hành Trung

ương Đảng (khoá 8) về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến

đậm đà bản sắc dân tộc, cũng đã khẳng định sự nhất quán trong chính sách dân

tộc của Đảng và Nhà nước ta thể hiển trên lĩnh vực văn hoá "Nền văn hoá Việt

Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Hơn 50 dân tộc trên đất nước ta đều có giá trị và sắc thái văn hoá riêng Các giá trị và sắc thái đó bổ sung cho nhau, làm phong phú nền văn hoá Việt

5 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 Nxb Sự thật - Nxb Pháp lý Hn

1992 Tr 14, 25-26, 40-41, 55-57

Trang 33

nam và củng cố thóng nhất dân tộc là cơ sở để giữ vững sự bình đẳng và phát huy tính đa dạng văn hoá của các dân tộc anh em"(6)

Gần đây nhất, trong Nghị quyết số 23 Hội nghị Trung ương lần thứ 7 ban chấp hành trung ương khoá IX (ngày 12/3/2003) về công tác dân tộc trong thời kỳ mới, tiếp tục thể hiện sự nhất quán trong đường lối chỉ đạo của Đảng ta

về vấn đề dân tộc: "Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ

bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc…"(7)

Ngoài ra còn có những văn bản quan trọng có liên quan đến miền núi và vùng dân tộc đã được ban hành Nghị quyết Bộ Chính trị số 22-NQ/TW, ngày

27-11-1989 - Về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội

miền núi đã xác định: “Một là, phát triển kinh tế - xã hội miền núi là một bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển kinh tế quốc dân…Hai là, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển kinh tế, văn hoá miền núi là sự nghiệp chung của nhân dân cả nước, trước hết là sự nghiệp của nhân dân các dân tộc miền núi và đồng bào miền xuôi lên định cư ở miền núi Khi thác và xây dựng miền núi là vì lợi ích trực tiếp của nhân dân miền núi, đồng thời vì lợi ích chung của cả nước…Bốn là, phải phát triển miền núi toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, trong đó trọng tâm là phát triển kinh tế- xã hội gắn với thực hiện tốt chính sách dân tộc của đảng Quan tâm đúng mức

đến việc giải quyết các vấn đề xã hội, cải thiện đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân”

Trang 34

Thông báo số 13-TB-TW, ngày 3/6/1976, về Một số ý kiến của Ban bí

thư Trung ương Đảng về công tác dân tộc: "Chính sách dân tộc là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Quan điểm của Đảng về vấn đề dân tộc rất

rõ ràng và trước sau như một Các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước,

có liên quan đến các dân tộc trên đất nước Việt Nam đều thể hiện rõ ràng chủ trương bình đẳng giữa các dân tộc, đoàn kết giữa các dân tộc, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, các dân tộc thiểu số tiến kịp đa số, góp phần vào sự nghiệp cách mạng chung của cả nước"

Tóm lại, các quan điểm của Đảng về vấn đề dân tộc trong các Nghị quyết Đại hội Đảng; Nghị quyết Bộ Chính trị số 22 ngày 27/11/1989, và được thể chế hoá trong Hiến pháp 1992 - bộ luật gốc của Nhà nước ta, thể hiện những quan điểm lớn sau:

Như vậy, chúng ta có một đường lối, chính sách dân tộc dân tộc đã được hoạch định, nhìn chung là phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn của nước ta Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước là định hướng cho công cuộc nâng cao đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội của các dân tộc Đảng và Nhà nước không ngừng giáo dục ý thức dân tộc, ý thức quốc gia, quyền lợi và nghĩa vụ gắn liền với cuộc sống hàng ngày của các dân tộc, gắn liền với quê hương đất nước Những định hướng đúng đắn trên đây đã giúp cho các địa phương thực hiện chính sách dân tộc, phát triển kinh tế xã hội có những bước tiến bộ nhất

định

Trang 35

1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số

a Quan điểm về văn hoá, bảo tồn và phát triển văn hoá

Văn hoá là một lĩnh vực rộng lớn, bao gồm toàn bộ các quan hệ của con người, do con người tạo ra và trở thành sản phẩm thúc đẩy các hoạt động của con người Văn hoá tuy là sản phẩm của con người nhưng chúng có liên hệ với toàn bộ phát triển không chỉ cho con người mà còn có ý nghĩa phát triển cả tự nhiên và xã hội Khái niệm văn hoá ẩn tàng những ý nghĩa triết học sâu xa

Đất nước ta tự hào có một nền văn hoá trải qua hàng ngàn năm, song hành cùng lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Nền văn hoá kết tinh tâm hồn, trí tuệ, tài năng và đạo lý làm người của nhân dân ta, là sức mạnh tinh thần của dân tộc ta Nó từng góp phần đánh bại các thế lực xâm lược hùng mạnh gấp bội, và không chịu khuất phục, hoà tan vào bất cứ một nền văn hoá ngoại bang nào

Thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác-Lênin, tinh hoa văn hoá thế giới và các giá trị văn hoá dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận rõ ý nghĩa lớn lao

và vị trí đặc biệt quan trọng của văn hoá Người chỉ rõ văn hoá là toàn bộ những sáng tạo và phát minh về ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về

ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng: “Văn hoá là sự tổng hợp của mọi

phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” (8) Dựa trên cơ sở triết học Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta đã xây dựng nền văn hoá mới Nền văn hoá này vừa tiếp thu các giá trị văn hoá truyền thống, vừa xây dựng các giá trị mới trên cơ sở các định hướng của các mô thức văn hoá mới Nền văn hoá mới lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí

8 Hồ Chí Minh: Về văn hoá, Bảo tàng Hồ Chí Minh xuất bản, HN 1997, tr 9

Trang 36

Minh làm nền tảng Theo con đường Hồ Chí Minh đã chọn, nền văn hoá mới ở

nước ta đã phát triển cùng với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam

Về sự nhất quán trong đường lối chỉ đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hoá, chúng ta có thể điểm lại những nguyên tắc, những phương châm được ghi

chính thức trên các văn bản của Đảng và Nhà nước ta Đề cương văn hoá 1943

ra đời trong bối cảnh đất nước sục sôi khí thế đất nước chuẩn bị Cách mạng tháng Tám (1945) Nó có giá trị như một tuyên ngôn của Đảng về văn hoá văn nghệ Đề cương đã khẳng định vai trò cực kỳ quan trọng của văn hoá trong sự nghiệp phát triển đất nước, coi đó vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng, đồng thời chỉ ra sự cần thiết phải tiến hành cuộc cách mạng trong lĩnh vực văn hoá Bản đề cương nêu ba nguyên tắc chỉ đạo đường lối văn hoá nước

ta là: Dân tộc, Khoa học, Đại chúng Đó là ba nguyên tắc cơ bản, thể hiện đặc

trưng và tính chất của một nền văn hoá văn nghệ chân chính

Năm 1948, trong Báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam của

đồng chí Trường Chinh đọc tại Đại hội Văn hoá toàn quốc lần thứ hai nêu: Văn

hoá dân chủ mới Việt Nam phải gồm đủ ba tính chất: dân tộc, khoa học và đại chúng Năm 1951, tại Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, báo cáo về Cách mạng Việt Nam của đồng chí Trường Chinh chủ trương xây dựng văn hoá dân

chủ nhân dân trên ba nguyên tắc dân tộc, khoa học, đại chúng Tham luận của

đồng chí Tố Hữu nêu cao xây dựng nền văn nghệ nhân dân

Năm 1957, tại Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ hai, trong thư của

Trung ương gửi Đại hội và báo cáo Phấn đấu cho một nền văn nghệ dân tộc,

phong phú, dưới ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội của đồng

chí Trường Chinh thay mặt Trung ương gửi Đại hội, phương châm nêu lên là:

“Văn nghệ có tính dân tộc, khoa học, đại chúng, hay nói một cách khác, có

tính chất dân tộc, hiện thực và nhân dân” Lần đầu tiên Trung ương Đảng nêu

nội dung xã hội chủ nghĩa “xây dựng một nền văn hoá có nội dung xã hội chủ

nghĩa và mang tính chất dân tộc”

Trang 37

Năm 1960, Nghị quyết của Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ III của

Đảng đã nêu rõ: “Phát triển nền văn nghệ mới với nội dung xã hội chủ nghĩa

và tính dân tộc, có tính Đảng và tính nhân dân sâu sắc” Năm 1968, trong thư

của Trung ương Đảng gửi Đại hội văn nghệ Toàn quốc lần thứ tư có đoạn:

“Văn nghệ ta phải có nội dung xã hội chủ nghĩa trong sáng và đậm đà tính

chất dân tộc”

Năm 1982, Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ V cũng nêu rõ:

Tiếp tục phương hướng của Đại hội Đảng lần thứ IV: “Xây dựng nền văn hoá

mới với nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc, có tính Đảng và tính nhân dân sâu sắc”

Năm 1986, Báo cáo chính trị tại đại hội Đảng lần thứ VI: “Văn học nghệ

thuật phải không ngừng nâng cao tính Đảng, tính nhân dân” Năm 1991, tại

Đại hội Đảng lần thứ VII, Cương lĩnh đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ

nghĩa xã hội ghi rõ: nước ta xây dựng một nền văn hoá mới, một “nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, “tạo ra một đời sống tinh thần cao đẹp, phong phú và đa dạng, có nội dung nhân đạo, dân chủ, tiến bộ”

Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam (1992) ghi rõ: “Nhà nước và xã

hội bảo tồn, phát triển nền văn hoá Việt Nam: dân tộc, hiện đại, nhân văn”

Nhất quán với định hướng từ Đề cương văn hoá Việt Nam 1943, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII về xây dựng

và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc đã khẳng

định 5 quan điểm cơ bản trong phương hướng và nhiệm vụ xây dựng và phát

triển văn hoá Đó là: Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu

vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh

đạo trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng Văn hoá là một mặt trận,

Trang 38

xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng

Quá trình vận hành của nền văn hoá nói chung và nhận thức về bản sắc dân tộc trong văn hoá nói riêng đặt ra nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn cần

giải quyết, trong đó có mối quan hệ giữa hai cặp phạm trù: “Giữ gìn và phát

huy” với “Kế thừa và phát triển” di sản văn hoá của dân tộc Trải qua hàng

ngàn năm lịch sử, các thế hệ người Việt Nam đã chung sức bảo vệ, giữ gìn những giá trị tài sản văn hoá của các dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam Chính những vốn liếng về văn hoá đó với bản sắc riêng của mình là tài sản vô cùng quý báu để xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Tài sản văn hoá là một thứ của quý, nhưng nếu coi

nó như một sự hoài cổ thì những giá trị văn hoá không còn sức mạnh trong đời sống đương đại Nếu truyền thống không được tiếp thêm sức sống mới, thêm hơi thở của thời đại thì ý nghĩa của truyền thống không còn, tạo nên sự đứt mạch của truyền thống Vì thế, việc phát huy tác dụng của những giá trị văn hoá trong tình hình hiện nay là rất quan trọng nhằm huy động sức mạnh của giá trị văn hoá truyền thống vào công cuộc xây dựng xã hội mới

Văn hoá là một dòng chảy không ngừng Bản sắc dân tộc trong văn hoá cũng không đứng yên mãi mãi Chính vì thế phải kế thừa có chọn lọc di sản văn hoá, truyền thống dân tộc để bảo vệ và phát huy nó trong điều kiện mới -

đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, nghĩa là làm cho bản sắc văn hoá dân tộc trong văn hoá mang tính thời đại Để giữ gìn - phát huy, kế thừa - phát triển bản sắc văn hoá dân tộc thì nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là

công tác giáo dục Như Bác Hồ đã dạy: Tinh thần yêu nước cũng như các của

quý có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy Nhưng cũng có khi được cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm Bổn phận của ta là làm sao cho những cái kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày Nghĩa

là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức lãnh đạo cho tinh thần yêu nước

Trang 39

của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến

Môi trường giáo dục đầu tiên của con người là gia đình Những hành

động, việc làm mẫu mực của ông bà cha mẹ là những bài học đầu tiên cho việc hình thành nhân cách của trẻ thơ Sau giáo dục gia đình là giáo dục nhà trường,

đây là môi trường rất quan trọng định hình tư chất, nhân cách con người Việc giáo dục một cách toàn diện và có chất lượng những kiến thức về sử học, về truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, về văn hoá học, về mỹ học góp phần hình thành tài - đức cho lớp trẻ Các phương tiện thông tin đại chúng cũng là công cụ quan trọng trong việc giáo dục cộng đồng Chúng ta đang phải trả giá cho việc coi nhẹ hoặc chưa quan tâm đúng đến việc giáo dục trong nhà trường những hiểu biết về lịch sử, văn hoá dân tộc Giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trước hết là giữ gìn tâm hồn Việt Nam, phải làm cho bản sắc dân tộc của văn hoá thấm được trong mọi tâm hồn sáng tạo Đồng thời trong xu thế toàn cầu hoá như hiện nay, cần phải giải quyết một cách nhạy bén theo truyền thống Việt Nam mối quan hệ giữ: giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc và tiếp thu tinh hoá văn hoá nhân loại

b Quan điểm bảo tồn và phát triển văn hoá, ngôn ngữ các dân tộc thiểu

số

Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết về đường lối văn hoá Việt Nam nói chung và đối với các dân tộc thiểu số nói riêng Mặc dù các văn bản chỉ thị, nghị quyết đó ra đời trong từng thời kỳ khác nhau, nhưng quan điểm của Đảng, Nhà nước về vấn đề dân tộc rất rõ ràng, trước sau như một Đương nhiên qua mỗi thời kỳ cách mạng, Đảng và Nhà nước lại có những tư duy mới, nhận thức mới sâu sắc hơn

về dân tộc, hướng cho các dân tộc đi tới: xây dựng từng bước nền văn hoá mới

có nội dung xã hội chủ nghĩa, có tính dân tộc và tính nhân dân, xây dựng và bồi dưỡng con người mới xã hội chủ nghĩa Việc thực hiện đường lối, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước đối với cấc dân tộc thiểu số luôn gắn liền

Trang 40

với những nhiệm vụ cách mạng chung của từng thời kỳ và điều kiện cụ thể của từng địa phương

Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước xét cho cùng là nhằm giải quyết và khắc phục sự chênh lệch về kinh tế – văn hoá giữa dân tộc đa số và dân tộc thiểu số, giữa các dân tộc ít người với nhau, giữa miền núi và miền xuôi Nếu xét dưới góc độ dân tộc học, các vấn đề về kinh tế cũng thuộc phạm trù văn hoá Như chúng ta đã biết, định nghĩa chung về văn hoá, đó là những sản phẩm do con người tạo ra trong quá trình sinh sống của mình Nghĩa là văn

hoá là cách hoặc lối (ways) ứng xử của người với tự nhiên, xã hội và với chính

bản thân con người Mối quan hệ này tác dụng tương hỗ lẫn nhau và đem lại

kết quả là sự ra đời của các hành vi, yếu tố văn hoá của các dân tộc, các cá nhân Cách ứng xử của các dân tộc với tự nhiên, xã hội không hoàn toàn giống nhau mà tuỳ thuộc vào những đặc điểm của tự nhiên, xã hội Do đó cách ứng

xử của từng dân tộc, từng vùng cụ thể, đã sinh ra những hành vi, những yếu tố văn hoá riêng mà ta thường gọi là bản sắc văn hoá dân tộc Cách ứng xử khác nhau đó, đã tạo ra sự đa dạng văn hoá của các dân tộc, các vùng miền Mỗi dân tộc, dù nhỏ và lạc hậu đến đâu đều có văn hoá của mình Bởi vậy, phải hiểu sâu sắc những đặc điểm kinh tế, văn hoá truyền thống của từng vùng, từng dân tộc

Từ thực tế này chúng ta mới có thể đề ra được những chính sách hiệu quả

Vấn đề bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống của các dân tộc được

đặt ra trên nhiều bình diện Trước hết, nó được coi như một định hướng trong

đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trên lĩnh vực văn hoá Nó được nhắc lại nhiều lần trong và trong chừng mực nào đó đã được thể hiện trong một

số chủ trương và hành động cụ thể Gần đây nhất, đó là Nghị quyết Hội nghị

lần thứ 5 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII về xây dựng và phát

triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc đã khẳng định

năm quan điểm cơ bản trong phương hướng và nhiệm vụ xây dựng và phát triển

văn hoá Trong đó quan điểm thứ ba là: Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá

thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Ngày đăng: 14/05/2014, 09:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Ban dân tộc tỉnh Thái Nguyên (2004), Thành phần các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên (tính đến 31-12-2003), Báo cáo tổng hợp, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban dân tộc tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Ban dân tộc tỉnh Thái Nguyên
Năm: 2004
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2001), Nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường phổ thông dân tộc nội trú, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 199tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 2001
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo . . . (2004), Chính sách, chiến l−ợc sử dụng và dạy – học tiếng dân tộc , tiếng Việt cho các dân tộc thiểu số, Kỷ yếu Hội nghị quốc gia, 107 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2004
6. Bianco J.L (1987), Chính sách quốc gia về ngôn ngữ, Australian Guverment Publishing service, Canberra (Bản dịch của Viện Ngôn ngữ học) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bianco J.L" (1987), Chính sách quốc gia về ngôn ngữ, Australian Guverment Publishing service, Canberra (Bản dịch của "Viện Ngôn ngữ học
Tác giả: Bianco J.L
Năm: 1987
7. Bùi Thị Ngọc Diệp (1999), Nhìn lại sự phát triển của dự án Giáo dục lớp ghép và song ngữ, Nghiên cứu giáo duc, số chuyên đề, tr2-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùi Thị Ngọc Diệp
Tác giả: Bùi Thị Ngọc Diệp
Năm: 1999
9. Bế Viết Đẳng…(1995), 50 năm các dân tộc thiểu số Việt Nam (1945-1995), Nxb Khoa học xã hội, 296tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bế Viết Đẳng
Tác giả: Bế Viết Đẳng…
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1995
10. C− Hòa Vần…(1994), Dân tộc Mông ở Việt Nam, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C− Hòa Vần
Tác giả: C− Hòa Vần…
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 1994
16. Ch−ơng trình cấp nhà n−ớc “ Chính sách của nhà n−ớc CHXHCN Việt Nam trong lĩnh vực ngôn ngữ” (1998), Một số vấn đề về chính sách ngôn ngữ ở các quốc gia khu vực Đông Nam á, Hà Nội, 115tr. A4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về chính sách ngôn ngữ ở các quốc gia khu vực Đông Nam á
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1998
17. Ch−ơng trình Thái học Việt Nam (1988), Văn hoá và lịch sử ng−ời Thái ở Việt Nam, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 696 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ch−ơng trình Thái học Việt Nam
Tác giả: Ch−ơng trình Thái học Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 1988
18. Ch−ơng trình Thái học Việt Nam (2002), Văn hoá và lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Thái Việt Nam, Nxb Văn hoá Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 902 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ch−ơng trình Thái học Việt Nam
Tác giả: Ch−ơng trình Thái học Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hoá Văn hoá Thông tin
Năm: 2002
19. Chu Văn Tuấn (2000), Nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhân học ngôn ngữ (Nhân loại ngôn ngữ học Luận đề nghiên cứu), Nhà xuất bản Đại học Ngôn ngữ Văn hoá Bắc Kinh. Người dịch: Vi Trường Phúc và Nguyễn Thu Phương, Hiệu đính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chu Văn Tuấn" (2000), Nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhân học ngôn ngữ (Nhân loại ngôn ngữ học Luận đề nghiên cứu), Nhà xuất bản Đại học Ngôn ngữ Văn hoá Bắc Kinh." Người dịch": Vi Trường Phúc và Nguyễn Thu Phương
Tác giả: Chu Văn Tuấn
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Ngôn ngữ Văn hoá Bắc Kinh." Người dịch": Vi Trường Phúc và Nguyễn Thu Phương
Năm: 2000
21. Cục thống kê Tuyên Quang (1998), Số liệu thống kê kinh tế - xã hội năm 1995 – 1997, Nxb Thống kê, 236 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục thống kê Tuyên Quang
Tác giả: Cục thống kê Tuyên Quang
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 1998
22. Cung Văn L−ợc (1992), Chữ Nôm Tày qua so sánh với chữ Hán và chữ Nôm Việt, Luận án PTS Khoa học Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cung Văn L−ợc
Tác giả: Cung Văn L−ợc
Năm: 1992
26. Đào Thị Quyên (2005), Tình hình sử dụng ngôn ngữ của ngời dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn, KLTNĐH ngành Ngôn ngữ, Đại học KH Xã hội và Nhân văn, Hà Nội. 74 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào Thị Quyên
Tác giả: Đào Thị Quyên
Năm: 2005
27. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội đại biểu lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 352 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng cộng sản Việt Nam
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
28. Đại học Quốc gia Hà Nội (1996), Văn hoá học đại cương và cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 627tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
35. Đinh Lê T− (chủ biên), Trần Thanh Pôn, Nguyễn Khắc Cảnh, Đinh L− Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đinh Lê T− "(chủ biên)
37. Grant Evans (2001), Bức khảm văn hoá châu á tiếp cận Nhân học, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 530 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Grant Evans
Tác giả: Grant Evans
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 2001
39. Hồ Chí Minh, ..., Bàn về văn hoá văn nghệ, NXB Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về văn hoá văn nghệ
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Sự thật
40. Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2000), Môn lý luận dân tộc và chính sách dân tộc, Đề tài giáo trình hệ cử nhân chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Tác giả: Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 6B  Phong tục tập quán  ng−ời Nùng - Nghiên cứu bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hóa một số dân tộc thiểu số ở việt bắc
Bảng 6 B Phong tục tập quán ng−ời Nùng (Trang 325)
Bảng 6C  Phong tục tập quán  ng−ời Mông - Nghiên cứu bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hóa một số dân tộc thiểu số ở việt bắc
Bảng 6 C Phong tục tập quán ng−ời Mông (Trang 327)
Bảng 6D  Phong tục tập quán  ng−ời Sán Chay - Nghiên cứu bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hóa một số dân tộc thiểu số ở việt bắc
Bảng 6 D Phong tục tập quán ng−ời Sán Chay (Trang 329)
Bảng       :Lễ Mừng thọ - Nghiên cứu bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hóa một số dân tộc thiểu số ở việt bắc
ng :Lễ Mừng thọ (Trang 331)
Bảng       :Có con mới đ−ợc về nhà chồng - Nghiên cứu bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hóa một số dân tộc thiểu số ở việt bắc
ng :Có con mới đ−ợc về nhà chồng (Trang 331)
Bảng       : Cây nêu - Nghiên cứu bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hóa một số dân tộc thiểu số ở việt bắc
ng : Cây nêu (Trang 333)
Bảng       : Hội chợ tình - Nghiên cứu bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hóa một số dân tộc thiểu số ở việt bắc
ng : Hội chợ tình (Trang 336)
Bảng        : Múa khèn - Nghiên cứu bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hóa một số dân tộc thiểu số ở việt bắc
ng : Múa khèn (Trang 338)
Bảng        : Kèn lá, kèn môi - Nghiên cứu bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hóa một số dân tộc thiểu số ở việt bắc
ng : Kèn lá, kèn môi (Trang 340)
Bảng        : Khăn đội đầu - Nghiên cứu bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hóa một số dân tộc thiểu số ở việt bắc
ng : Khăn đội đầu (Trang 341)
Bảng       : Bói toán, mê tín dị đoan - Nghiên cứu bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hóa một số dân tộc thiểu số ở việt bắc
ng : Bói toán, mê tín dị đoan (Trang 342)
Bảng 9d:  So sánh cách diễn đạt trong tiếng mẹ để khi học tiếng Việt - Nghiên cứu bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hóa một số dân tộc thiểu số ở việt bắc
Bảng 9d So sánh cách diễn đạt trong tiếng mẹ để khi học tiếng Việt (Trang 403)
Bảng 9g :  Nên có nhiều hoạt động sử dụng tiếng thiểu số trên đài phát thanh - Nghiên cứu bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hóa một số dân tộc thiểu số ở việt bắc
Bảng 9g Nên có nhiều hoạt động sử dụng tiếng thiểu số trên đài phát thanh (Trang 405)
Bảng        : Nên dành thời gian học tiếng dtộc ở tr−ờng - Nghiên cứu bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hóa một số dân tộc thiểu số ở việt bắc
ng : Nên dành thời gian học tiếng dtộc ở tr−ờng (Trang 413)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w