Tính cấp thiết của đề tài Trong kho tàng văn hóa Việt Nam, lễ hội truyền thống là di sẵn văn hóa vô cùng quý báu, được hình thành gắn liên với quá trình phát triển tộc người, góp phần l
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TỔNG QUAN KHOA HỌC
ĐỀ TÀI CAP BO NAM 2004-2005
LỄ HOI TRUYEN THONG COA NGUU! THAI
O TAY BẤC NƯỨC TA HIỆN NAY
CO QUAN CHU TRI: HỌC VIỆN CHÍNH TRÍ KHU VỰC 1
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: PGS, TS ĐỖ ĐĨNH HÃNG THƯ KÝ ĐỀ TÀI: ThS VŨ TRƯỜNG GIANG
/
HÀ NỘI-2005
6044
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA ĐỂ TÀI
CHỦ NHIỆM BE TAI
1 PGS, TS Dé Dinh Hãng - Học viện Chính trị khu vực Ï
THỨ KÝ ĐỂ TÀI
2 ThS Vũ Trường Giang - Học viện Chính trị khu vực Ï
CÁO THÀNH VIÊN THAM GIA BE TÀI
3 ThS Phạm Hải Triều - Học viện Chính trị khu vực I
4 ThS Lưu Khương Hoa - Học viện Chính trị khu vực Ï
5 ThS Giang Thị Huyền - Học viện Chính trị khu vực I
6 TS Nguyễn Ngọc Hà - Học viện Chính trị khu vực Ì
7 TS Đoàn Minh Huấn - Học viện Chính trị khu vực Ï
8 ThS Đậu Tuấn Nam - Học viện Chính trị khu vực I
9 ThS Trịnh Thị Thúy - Học viện Chính trị khu vuc I
10 CN Đỗ Thanh Hiền - Học viện Chink tri khu vuc I
11 ThS Vũ Hải Vân - Học viện An ninh nhân dân
12 Ngô Thị Hải Yến - So Van hda thong tin tinh Son La
13 Nông Minh Giang - Ban Tuyên giáo Tỉnh uý Điện Biên
13 TS Trần Hữu S%m - Sở Văn hóa thong tin tinh Lao Cai
Trang 3MỤC LỤC
-Chương 1: Người Thái và không gian văn hóa của người Thái ở Tây
I Diéu kién tu nhién ving Tay Bac cccccccseecssecsssecseeesseee kh khu eớ 5
II Người Thái ở Tay Bắc - 2 ST 10
III Những đặc trưng và tính trội của văn hóa Thái ở Tay Bắc 29 Chương 2: Thực trạng lễ hội truyền thống của người Thái ở Tây
1 Lễ hội và phân loại lễ hội S2 ST vn S122 11x Extx re 32
II Những lễ hội truyền thống chủ yếu của người Thái ở Tay Bắc 36
II Lễ hội truyền thống của người Thái Tay Bắc trong giai đoạn hiện nay 93 Chương 3: Một số giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị trong lệ
I Phương hướng chung - HH HH kh ghe 104
II Một số giải pháp nhằm bảo tốn và phát huy các giá trị trong lễ hội
Tài liệu tham khao " "¬ esa e esas 122
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong kho tàng văn hóa Việt Nam, lễ hội truyền thống là di sẵn văn
hóa vô cùng quý báu, được hình thành gắn liên với quá trình phát triển tộc người, góp phần làm nên bản sắc tộc người, bản sắc dân tộc
Trải qua những thăng trầm của lịch sử, lễ hội đã, đang và còn có sức
sống mãnh liệt, tác động không nhỏ đến đời sống tộc người Có thể nói, lễ hội
là nơi hội tụ và giới thiệu văn hóa truyền thống của tộc người, thể hiện niềm
tin và khát vọng của con người gớp phần làm nên sự phong phú và đa đạng
bức tranh văn hóa đa tộc người ở nước ta
Lễ hội là nơi hội tụ và bảo tồn văn hóa truyền thống của tộc người, thể
hiện niềm tin và khát vọng của con người góp phần làm nên sự phong phú và
đa dạng bức tranh văn hóa đa tộc người ở nước ta Diện mạo văn hóa của một vùng, một dân tộc thường được biểu hiện một cách tập trung nhất, sinh động nhất ở các lễ hội, nơi mà tất cả những hoạt động lễ nghi, phong tục, những
sinh hoạt văn hóa cộng đồng được bộc lộ toàn diện, đầy đủ Việc khai thác,
phát triển các giá trị văn hóa trong lễ hội các dân tộc có ý nghĩa làm phong phú nền văn hóa Việt Nam và là cơ sở để giữ vững sự bình đẳng và phát huy
đa dạng văn hóa của các đân tộc Chính vì vậy, việc nghiên cứu lễ hội các dân tộc ở Việt Nam nói chung và lễ hội truyền thống các dân tộc thiểu số nói riêng
đang là vấn đề đặt ra không chỉ trong nhận thức về tầm quan trọng của di sản
văn hóa tộc người, mà còn là đòi hỏi cấp bách trước xu thế toàn câu hóa và yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay
Trong một thời gian dài, ở nước ta, lễ hội có nhiều bước thăng trầm do tác động của nhiều yếu tố: chiến tranh, những khó khăn về kinh tế - xã hội Từ thập
kỷ 90 của thế kỷ XX, lễ hội có xu hướng phục hồi mang tính tự nhiên, hơn nữa lại
diễn ra trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hoá nên có không ít các vấn
đề khoa học và thực tiễn đang đặt ra đòi hỏi phải được nghiên cứu, giải mã
Vùng Tây Bắc nước ta là một khu vực lịch sử - đân tộc học có nhiều tộc người thiểu số cùng sinh sống, trong đó có tộc người Thái Trải suốt
Trang 5trường kỳ lịch sử cùng tên tại và phát triển với các dân tộc trong vùng, người
Thái đã tạo dựng nên một nền văn hoá với những di sản văn hóa hết sức đặc
sắc, trong đó có lễ hội truyền thống Trong thời gian qua, lễ hội truyền thống
của các dân tộc thiểu số trong đó có lễ hội truyền thống của người Thái ở Tây Bắc đã được bảo tồn, khôi phục và hoạt động với hiệu quả tích cực, nhưng cũng đang đứng trước nhiều vấn để bức xức phải giải quyết Vì vậy, nghiên cứu lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số ở Tay Bắc nói chung, lễ hội truyền thống của người Thái nói riêng đang là vấn để có ý nghĩa lý luận và
thực tiễn sâu sắc như Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của
Dang đã chỉ rõ: “Báo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc, các giá trị văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ, chữ viết và thuần phong mỹ tục của các dân tộc; tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa Tiếp thu tỉnh hoa và góp phân làm phong phú thêm nền văn hóa của nhân loạt”©)
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Từ trước đến nay, việc nghiên cứu lễ hội, lễ hội truyền thống các dân tộc thiểu số nói chung và lễ hội truyền thống của người Thái nói riêng đã được giới nghiên cứu quan tâm Đã có một số công trình nghiên cứu được xuất bản thành sách và nhiều bài viết vẻ lễ hội được công bố trên các tạp chí Dân tộc học, Văn
hóa dân gian, Văn hóa nghệ thuật Trong đó, có một số công trình đáng chú ý như: “Mùa xuân và phong tục Việt Nam” của Trần Quốc Vượng, Lê Văn Hảo,
Dương Tất Từ (1976) đẻ cập tới các lễ hội mùa xuân theo từng vùng như đồng bằng, miền núi phía Bắc, Tây Nguyên ; “Hội hè định đám” của Toan Ánh
(1989) trình bày về hội hè và các nghi thức trong cộng đồng làng xã trước Cách
‘mang thang Tám 1945; “Việt Nam phong tục” của Phan Kế Bính (1990) ghi chép
về phong tục truyền thống của người Việt, đặc biệt là hệ thống lễ trong gia đình
và làng xã; “LỄ hội cầu mùa của các dân tộc ở Việt Nam” do Phan Hữu Dật chủ biên (1993) trình bày những nghỉ lễ chủ yếu trong chu trình sản xuất nông
nghiệp của các dân tộc theo vùng Tây Bắc, Việt Bắc, Tây Nguyên ; “Lễ hội cầu
“Dang Cong san Viet Nam: “Văn kiện Đại hôi đại biểu toàn quốc lần thứ IX”, NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2001, tr 38.
Trang 6mưa của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam” của Vũ Thị Hoa (1997) trình bày những nét cơ bản về lễ hội cầu mưa của cư dân nông nghiệp trồng lúa vùng thung
lũng; “Lễ hội cé truyén Lao Ca?” do Trân Hữu Sơn chủ biên (1999) trình bày một số lễ hội cổ truyền tiêu biểu của các dân tộc ở một tỉnh thuộc miền núi phía Bắc; “Kho tàng lễ hội Việt Nam” của Tạp chí Văn hóa nghệ thuật (2000) trình
bày khái quát về những lễ hội cổ truyền tiêu biểu của các dân tộc ở nước ta; để tài khoa học cấp bộ “Lễ hội truyền thống của các dân tộc Tày, Nùng ở Việt Bắc nước ta trong giai đoạn hiện nay” do PGS TS Đỗ Đình Hãng làm chủ nhiệm
(2001) đã phân tích thực trạng, khái quát những đặc điểm chủ yếu và đề xuất một
số giải pháp bảo tồn, phát huy lễ hội truyền thống các dân tộc Tày, Nùng; “Lễ hội cổ truyền của các dân tộc thiểu số ở miễn Bắc Việt Nam” của Hoàng Lương (2002) trình bày các lễ hội tiêu biểu của các dân tộc thiểu số ở miền Bắc theo trình tự các mùa trong năm; “Bảo tồn lễ hội dân gian các dân tộc thiểu số trong
giai đoạn hiện nay” là Kỷ yếu khoa học của hội thảo cùng tên do Vụ văn hóa dân tộc - Bộ Văn hóa thông tin tổ chức (2005) đã trình bày những nét chung về lễ hội
và một số lễ hội truyền thống tiêu biểu của các dân tộc thiểu số theo các vùng lãnh thổ, đồng thời để xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của lễ hội trong giai đoạn hiện nay Công trình “¡ch lễ hội ” của Lê Trung
Vũ và Nguyễn Hồng Duong (1997) trình bày khái quát vẻ lịch của những lễ hội
cổ truyền tiêu biểu trong toàn quốc theo trình tự thời gian
Công trình “7# điển lễ hội Việt Nam” của Bùi Thiết (1993) trình bày
những khái niệm cơ bản vẻ lễ hội cổ truyền Các công trình nghiên cứu về lễ hội như: “Lễ hội truyền thống và hiện đại” của Thu Linh và Đặng Văn Lung (1987);
“LỄ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đạt” do Đình Gia Khánh và Lễ Hữu Tầng chủ biên (1994); “Lễ hội cổ truyền” do Lê Trung Vũ chủ biên (1992);
“Lễ hội truyền thống của các dân tộc Việt Nam khu vực phía Bắc” của Hoàng
Lương (2002) đã tập trung trình bày lý luận về lễ hội; phân tích vai trò, ý nghĩa của lễ hội trong đời sống từ truyền thống đến hiện đại, trong đó tập trung chủ yếu
là ở người Việt và ý nghĩa của nó trong đời sống cư dân nông nghiệp, đồng thời đưa ra bức tranh về lễ hội và sự phục hưng của nó trong thời kỳ đổi mới '
Trang 7Tuy nhiên, việc nghiên cứu về lễ hội truyền thống của các dân tộc
thiểu số ở vùng Tây Bắc nước ta nói chung, lễ hội truyền thống của người Thái nói riêng chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống và đúng mức, cần được
bổ sung nghiên cứu
3 Mục tiêu của đề tài
- Thực trạng lễ hội truyền thống của người Thái ở Tây Bác
- Một số giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa thông qua lễ hội truyền thống của người Thái ở Tây Bắc nước ta hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận chủ yếu được vận dụng trong công trình nghiên cứu
này là phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Trên cơ sở đó đề tài sử dụng các phương pháp so sánh lịch sử, phương
pháp thống kê và điều tra xã hội học; phương pháp khảo sát, điển đã đân tộc học (quan sát, phỏng vấn, sưu tầm tư liệu, thẩm định.v.v )
5 Bố cục của đề tài
Ngoài mục Mở đâu, Kết luận và Tài liệu tham khảo nội dung đề tài
được thể hiện trong bản Tổng quan khoa học bố cục thành 3 chương:
Chương ï: Người Thái và không gian văn hoá của người Thái ở Tay Bắc
Trang 8Chương 1
NGƯỜI THÁI VÀ KHÔNG GIAN VĂN HOÁ CỦA NGƯỜI THÁI Ở TÂY BẮC NƯỚC TA
1 BIỂU KIỆN TỰ NHIÊN VŨNG TÂY BẮC
Tay Bắc là một tên gọi theo phương vị, lấy thủ đô Hà Nội làm điểm chuẩn Khu vực Tây Bắc bao gồm 4 tỉnh là Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên” Diện tích tự nhiên là 37.784 km”, chiếm 11, 42% diện tích cả nước; đân số theo tổng điều tra ngày 1 - 4 - 1999 là 2.392.601 người”, Phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc); Phía Tây và Tay Nam giáp 2 tinh
Luông Pha Băng và Phong Xa Lỳ (Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào), phía
Đông Bắc giáp các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ; phía Nam giáp tỉnh Thanh Hoá Theo một số nhà địa lý học thì vùng Tây Bắc còn bao gồm cả
một số huyện của hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái vì “ranh giới giữa vùng Tây
Bắc và Việt Bắc được vạch theo thung lũng sông Hồng nhưng về mặt hành
chính và kinh tế - xã hội thì tỉnh Lào Cai có 4 huyện, tỉnh Yên Bái có hai
huyện nằm ở tả ngạn sông đó”),
Vùng Tây Bắc có địa hình rất phức tạp, được cấu tạo bởi những dãy
núi trung bình và cao, chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, trong đó dãy Hoàng Liên Sơn dài 180 km, rộng 30 km, cao từ 1.500 mét trở lên, các đỉnh cao nhất như Phăng xi phăng cao 3.142 m, Yam Phình 3.096 m, Pu Luông 2.983 m Dãy Hoàng Liên Sơn được người Thái gọi là “Khau phạ” (Sừng
trời), là bức tường thành phía đông và vùng Tây Bắc
Nghị quyết số 22/2003/QH LI ngày 26/11/2003 của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam quyết nghị: Chia tỉnh Lai Châu thành tỉnh Lai Châu và tỉnh Điện Biên: Tỉnh Lai Châu bao gồm
diện tích và dân số của các huyện Phong Thổ, huyện Tam Đường, huyện Mường Tè, huyện Sìn Hồ, xã Phú Đao, xã Chân Nưa xã Nậm Hàng, bản Thành Chữ thuộc xã Xá Tổng của huyện Mường Lay;
phường Lê Lợi của thị xã Lai Châu; huyện Than Uyên của tỉnh Lào Cai; Tỉnh Điện Biên bao gồm điện tích và đân số của thành phố Điện Biên Phủ, thị xã Lai Châu (trừ phường Lê Lợi), huyện Mường Nhé,
huyện Điện Biên huyện Điện Biên Đông, huyện Tuần Giáo, huyện Tủa Chùa, huyện Mường Lay (trừ
x4 Pa Dao, x4 Chan Nua, xa Nam Hàng, bản Thành Chữ thuộc xã Xá Tổng)
*' Riêng dân số hai tỉnh Lai Châu và Điện Biên tính đến ngày 26 - 11 - 2003
1A Bá Thảo: “Việt Nam lãnh thổ và các vàng địa lý", Nxb Thế giới, Hà Nội, 1998, ưr 351
Trang 9Phía nam của khu Tây Bắc là dãy núi đá vôi hình cánh cung chạy từ
biên giới Việt - Lào tới tận suối Rút (tỉnh Hòa Bình) và lượn lên đến Bắc Yên (tỉnh Sơn La) Từ Phong Thổ (Lai Châu) đến miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hóa là một cao nguyên đá vôi có chiều dài khoảng 400 km, rộng khoảng 10 -
25 km va cao tir 600 - 800 m
Do ảnh hưởng của các hoạt động kiến tạo địa chất nên đặc điểm nổi bật nhất của địa hình vùng Tây Bắc là địa hình cao, đốc, bị chia cắt đữ dội trên
nền địa chất rất phức tạp Chính vì vậy việc mở mang, xây dựng các con
đường giao thông gặp không ít trở ngại, giao lưu với bên ngoài gặp rất nhiều
khó khăn
2 Đặc điểm về khí hậu
Vùng Tây Bắc nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, nhưng do đặc điểm địa hình ở độ cao từ 800 - 3000 m nên khí hậu ngả sang á nhiệt đới và một số nơi như Sìn Hồ (tỉnh Lai Châu) có cả khí hậu ôn đới Do vậy, Tây Bắc
là vùng có nhiều tiểu vùng khí hậu Nhưng nhìn chung vùng Tây Bắc có khí hậu nhiệt đới với hai mùa rõ rệt Mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10: nóng ẩm, mưa nhiều, lượng mưa trung bình là 1700 - 2000 mm, tập trung vào các tháng
5, 6, 7, 8 có độ ẩm trung bình từ 82 - 90%, Mùa đông, từ tháng 11 đến tháng 3
năm sau: lạnh, khô, hanh, ít mưa, nhiệt độ trung bình cả năm từ 20 - 22°C
Do địa hình chia cắt mạnh, khí hậu đa dạng, đã hình thành các tiểu
vùng sinh thái khác nhau Đó là điều kiện thuận lợi để phát triển lâm nghiệp
và các loại hình sản xuất kinh doanh nông - lâm - thuỷ sản v.v
3 Hệ thống sông ngòi
Vùng Tây Bắc có nhiều sông suối, bình quân 1 km có khoảng 2,5 km
sông suối, với 3 con sông lớn là sông Hồng, sông Đà và sông Mã Sông Hồng
được tổ tiên người Thái gợi là “Nặm Tao” Dòng Nặm Tao chiếm một vị trí quan trọng trong lịch sử thiên đi của người Thái đen vào Tây Bắc Theo các nhà dân tộc học thì “đồng sông là con đường mà theo đó tổ tiên người Thái thiên đi vào Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV Từ đồng Nặm Tao, người Thái tat qua bên phải, chiếm lấy đất Nghĩa Lộ làm bàn đạp để rồi tiến mãi đến.
Trang 10tận Điện Biên Phủ Giữa hai điểm đó con sông Đà phát nguyên từ phía Bắc
kẻ một đường chéo Tay Bắc - Đông Nam, đi qua đất Hòa Bình rồi hợp lưu với đồng Nặm Tao ở Việt Trì để làm nên sông Cái - sông Hồng của châu thổ phì
nhiêu Sát với biên giới Lào là đòng sông Mã chảy từ Điện Biên xuống đến
phía Tây tỉnh Sơn La thì quặt sang đất Lào và trở về miền Tây Thanh Hóa để
xuôi ra biển Vậy nên đất Tây Bắc còn được đồng bào gọi là đất “ba con
sông”, tạo nên ba đải “nước màu: trắng, xanh, đỏ” Bởi vì sông Mã lắm thác ghênh nên nhiều sóng bạc đầu, sông Da (Nam Té) chảy giữa các triển núi đá
granit, sâu thẳm, xanh đen một màu Còn dòng Nặm Tao mang nặng phù sa thì được người Kinh gọi là sông Hồng Ba con sông tự nhiên nhưng trở thành
biểu tượng riêng của vùng đất Chúng lại có ba màu của nắng, của cây và của
đất Chúng biến thành những tín hiệu văn hóa vùng mà người dân bản địa lấy
đó làm tự hào, để phân biệt với người vùng “muối” (Kinh), người vùng sông
Lô, song Chay (Tay, Ning)
Hệ thống sông ngòi ở Tây Bắc là nguồn tài nguyên phong phú và đồi
đào so với các khu vực khác trong cả nước Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình lớn nhất Đông Nam Á có công suất thiết kế 1.920 MW với đường dây 500 KV
cung cấp một lượng điện lớn cho đất nước Theo kế hoạch thuỷ điện Sơn La
cũng sẽ được xây dựng từ cuối năm 2005 và hoàn thành vào năm 2010 với công suất 2.400 MW, nhằm có nguồn điện mới phục vụ trong nước và xuất
khẩu, đồng thời có thể điều hoà nước cho thuỷ điện Hoà Bình và giải quyết vấn đề lũ lụt của vùng đồng bằng sông Hồng
4 Tài nguyên khoáng sản
Đến nay vùng trung du và miền núi được đánh giá là vùng lãnh thổ
giàu tài nguyên khoáng sản và năng lượng vào bậc nhất Việt Nam Riêng vùng
Tay Bắc có nguồn khoáng sản tương đối đồi đào, điển hình như ở Hoà Bình có các loại khoáng sản kim loại như vàng, sắt, đồng, chì, kẽm, bôxit; khoáng sản
phi kim loại như photphorit trữ lượng khoảng 250.000 tấn, cao lanh trữ lượng
“ To Ngoc Thanh: “Viing van héda Tay Bac”, in trong: “Các vùng văn hóa Việt Nam”, Định Gia Khánh -
Cù Huy Cạn (chủ biên) Nxb Văn học, Hà Nội, 1995, tr 107 - 108
Trang 11khoảng 500.000 tấn, đất sét chất lượng tốt, đá ốp lát có nhiều mầu sắc đẹp và
có độ bền cao, nguồn nước khoáng Kim Bôi có trữ lượng rất lớn với khoảng
300 triệu lí/năm đạt chất lượng tốt
Sơn La có tài nguyên khoáng sản cũng khá phong phú và đa dạng,
trong đó có mỏ than Suối Bàng với trữ lượng khoảng 2,5 triệu tấn, mỏ sắt Pi Toong với trữ lượng khoảng 50.000 tấn, mỏ niken - đồng Mường Khoa với trữ
lượng khoảng 40.000 tấn đồng và 119.000 tấn niken
Lai Châu có nguồn tài nguyên khoáng sản như: chì, đồng, vàng,
than Dac biệt, mỏ đất hiếm ở huyện Phong Thổ với trữ lượng khoảng 9 triệu tấn; Điện Biên có mỏ than mỡ Na Sang với trữ lượng khoảng 156.000 tấn; mỏ
cao lanh Huổi Pha với trữ lượng khoảng 51.000 tấn
Đặc biệt, các tỉnh khu vực Tay Bắc có trữ lượng đá vôi rất đồi dào, ước
tính hàng trăm triệu tấn, phục vụ tốt cho công nghiệp sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng
5 Tài nguyên đất
Đất đồi núi có khoảng 1.037,0 nghìn ha chiếm khoảng 29,1% diện tích
tự nhiên toàn vùng Nhóm đất này phần lớn nằm ở độ cao trên 1000 m so với
mặt nước biển, độ đốc trén 25°, bị rửa trôi mạnh và có độ chua cao Trong số
1.037,0 nghìn ha đất đồi núi, phần chưa sử dụng còn rất lớn, nhất là ở các tỉnh
Sơn La, Điện Biên và Lai Châu
Xen kẽ giữa những dãy núi cao là bình nguyên rộng và bằng phẳng, đây chính là điều kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi đại gia súc của vùng Tay Bắc Song do chưa có quy hoạch không gian cho phát triển kinh tế - xã hội, nên chăn nuôi đại gia súc theo kiểu công nghiệp, quy mô lớn còn ít, chủ yếu là chăn nuôi bò sữa, lợn, dé phan tán và có quy mô nhỏ
Tây Bắc có 4 thung lũng tạo nên 4 cánh đồng trồng lúa lớn của khu _ vực: nhất Thanh (mường Thanh nay thuộc huyện Điện Biên và thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên), nhì Lò (mường Lò nay thuộc thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh
Yên Bái), tam Tấc (mường Tấc nay thuộc huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La), tứ
Than (mường Than nay thuộc huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu).
Trang 12Sự đa dạng của địa hình, đất đai và khí hậu đã tạo nên ở khu vực Tây
Bắc có 3 dạng sinh thái tộc người điển hình Dạng sinh thái tộc người thung lũng phân bố ở các thung lũng là nơi sinh sống chủ yếu các tộc người Thái, Mường, Lào, Lự Dạng sinh thái tộc người rẻo cao mà đại diện tiêu biểu là tộc người Hmông sinh sống trên các dãy núi cao khoảng trên 1000 m Dạng sinh thái tộc người rẻo giữa phân bố ở vùng núi trung bình khoảng từ 600 đến
800 - 900m, phù hợp với môi trường sống của các tộc người nói ngôn ngữ Môn - Khơ me
Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng diện tích rừng ngày càng thu hẹp
là đo người đân phá rừng lấy gỗ và do tập quán canh tác lạc hậu, phá rừng, đốt nương làm rẫy, nên không chỉ riêng Tây Bắc mà nói chung rừng của cả nước
đã và đang bị tàn phá nặng nề
Cùng với sự báo động về hiện tượng rừng bị thu hẹp, là sự suy giảm tới
mức báo động của các loại lâm sản và động vật quý hiếm làm mất cân bằng sinh thái, môi trường bị tàn phá nghiêm trọng đã gây ra hiện tượng lũ lụt, xói mon đất, sạt lở, lũ quết vào mùa mưa Do vậy, chúng ta không thể coi rừng ở Tay Bắc là tài nguyên để khai thác; mà trái lại rừng cần được tái tạo và bảo vệ,
đặc biệt là rừng đầu nguồn nhằm đảm bảo nước cho hai nhà máy thủy điện Hòa Bình, Sơn La và bảo vệ cho sự an toàn của cả khu vực đồng bằng sông:
- Hồng rộng lớn
7 Mạng lưới giao thông
Mạng lưới giao thông ở vùng Tây Bắc gồm 3 loại: đường bộ, đường sông và đường hàng không.
Trang 13Hiện nay có thể nói hệ thống giao thông đường bộ của vùng có đường quốc lộ 6 khởi đầu từ thị xã Hà Đông (tỉnh Hà Tây) qua Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên là con đường huyết mạch của khu vực
- Lai Châu: đến nay toàn tỉnh còn trên 50% chưa có đường ôtô xuống
trung tâm cụm xã
- Sơn La: có 5.118 km đường ôtô, mật độ trung bình là 0,36 km/km},
trong đó mới có 278 km đường rải nhựa Có trên 400 km đường sông suối
trong đó có 120 km tàu thuyền trọng tải dưới 1000 tấn đi lại được
- Hoà Bình: là tỉnh có mạng lưới giao thông khá nhất vùng, có trên
90% số xã có đường ôtô đến xã Đường sông có tuyến đường hồ sông, Đà từ Hoà Bình đi Sơn La
Đường hàng không của khu vực Tây Bắc có hai cảng hàng không là
Nà Sản (tỉnh Sơn La) và Điện Biên (tỉnh Điện Biên), nhưng chỉ phục vụ tuyến bay từ hai địa điểm trên với Hà Nội và mới chỉ có máy bay chở khách loại nhỏ cất, hạ cánh được Hiện nay tỉnh Điện Biên đang xây dựng đề án nâng cấp xây bay Điện Biên thành sân bay quốc tế để phục vụ an ninh, quốc phòng và phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa khu vực Tây Bắc; đồng thời phục vụ tuyến đu lịch quốc tế về văn hóa Thái: Xíp xoong păn na (Trung Quốc) - Tây Bắc (Việt
Nam) - Lào - Thái Lan
II NGƯỜI THÁI TÂY BẮC
Theo số liệu thống kê ngày 1/4/1999, ở Việt Nam có 1.328.725 người
Thái, cư trú chủ yếu ở các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Lào Cai, Yên
Bái, Thanh Hóa, Nghệ An và một số ít ở các tỉnh Đắc Lác, Lam Đồng”), trong
đó ở hai tỉnh Lai Châu (gồm Lai Châu, Điện Biên ngày nay) và Sơn La người Thái là cư dân chiếm đa số (xem bảng)
Lai Châu (cũ) 587.582 206.001 35,05
°* Xem lại chú thích | trang 7
°' Đa số người Thái của tỉnh Lào Cai cư trú ở huyện Than Uyên (mường Than xưa) Năm 2003 huyện Than Uyên được điều chỉnh chuyển vé tỉnh Lai Châu (mới)
'®Người Thái ở các tỉnh miền núi phía Bắc di cư vào hai tỉnh Đắc Lắc và Lam Đồng sớm nhất từ năm 1954
và hiện nay vẫn còn tiếp diễn
Trang 14
Tổ tiên người Thái xa xưa bất nguồn từ các nhóm Bách ViệtU, trong khối ngôn ngữ tiền Thái, sinh sống ở vùng Quảng Tây, Quảng Đông, Quý
Châu và Đông Bắc Việt Nam Họ là những người tiếp thu được việc thuần dưỡng lúa từ tổ tiên người Tạng - Miến, thông qua tổ tiên người Môn - Khơ
me Nhờ sáng tạo ra hệ thống thuỷ lợi khá phát triển và nhờ những điều kiện khí hậu và đất đai thuận lợi, người Thái cổ cùng một số tộc người khác đã đưa cây lúa thành cây lương thực chính và sáng tạo nên một nền văn minh lúa
nước độc đáo
Đến thiên niên kỷ thet I trước công nguyên, đo bị sức ép của người Hán
cổ, một bộ phận người Thái cổ thiên di nhiều đợt theo nhiều hướng đọc theo
các con sông lớn xuống vùng Đông Nam Á lục địa Cùng lúc đó, họ gặp phải cuộc thiên di của những nhóm tổ tiên các tộc người ngôn ngữ Tạng - Miến từ
mién Trung A va Tay Nam Trung Quốc tràn vẻ Đến đây các nhóm Thái
* Nhiều tác giả: “Tìm hiểu văn hóa cổ truyền của người Thái Mai Cháu”, UBND huyện Mai Châu, Sở Văn hóa thông tin Hà Sơn Bình, 1988, tr 27 - 36; xem thêm: Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên): “Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thát”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977 và Câm Trọng: “Người T hái ở Tây Bắc Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978
Trang 15ngành phía Tây cộng cư với tổ tiên các tộc người ngôn ngữ Môn - Khơ me đã
làm chủ miền này từ trước Tuy ở một thế yếu kém hơn, đến những thế ký đầu
sau Công nguyên, tổ tiên người Thái cũng đã lập được một loạt các tiểu quốc ở
thượng lưu sông Mêkông, ở vùng thượng Đông Dương tới vùng giáp ranh tỉnh Vân Nam, vùng thượng Lào và Tay Bắc Việt Nam Trong giai đoạn nay, Tay Bac
nói chung và Điện Biên Phủ nói riêng “là đường chuyển tải văn hóa từ Ấn Độ qua
Việt Nam với những ảnh hưởng của đạo Bà La Môn và Phật giáo Ngược lại,
cũng qua đây các cư dân bản địa ở Đông Dương đã chuyển sang Ấn Độ và Tây
Nam Trung Quốc những thành tựu văn hóa truyền thống của mình”®),
Cuộc thiên di lớn thứ hai của tổ tiên người Thái diễn ra bắt đầu vào
cuối thiên niên kỷ I sau Công nguyên cùng sự lớn mạnh của nhà nước Nam Chiếu, Đại Lý và phát triển kéo dài suốt những thế kỷ XII - XI - XIV, kết thúc vào thế kỷ XV, nhờ sự suy yếu của những nhà nước Môn - Kho me tai Đông Dương và sự suy yếu hay thất bại trước quân Mông - Nguyên của những nhà nước Tạng - Miến Kết quả là một loạt quốc gia Thái được thiết lập ở Tây Đông Dương, thay thế các quốc gia Môn - Khơ me ở vùng Lào, Thái Lan
Sau khi làm chủ miền thượng lưu sông Đà, người Thái trắng tràn xuống Quỳnh Nhai;, Mường Tấc (huyện Phù Yên - tính Sơn La), sau tiến lên Mường Tè, Phong Thổ (tỉnh Lai Châu) và một bộ phận xuống Đà Bắc, Mai Châu (tỉnh Hoà Bình) và đến cả miền núi Thanh Hoá nữa Người Thái den vào Việt Nam đông đảo khoảng thế kỷ XI, XI Suốt hai thế kỷ, các chúa đất dòng họ Lo Căm phân nhau ra làm chúa các mường lớn như Mường Lò (huyện Văn Chấn - tỉnh Yên Bái); Mường La (huyện Mường La) Mường Muối (huyện Thuận Châu), Mường Mụa (huyện Mai Sơn), Mường Vạt (huyện Yên Châu) đều thuộc tỉnh Sơn La; Mường Than (huyện Than Uyên - tỉnh Lai
Châu); Mường Quài (huyện Tuần Giáo), Mường Thanh (thị xã Điện Biên Phủ)
đều thuộc tỉnh Điện Biên Cũng từ đó người Thái đen tản dần sang Lào, vào
miền núi Thanh Hóa và Nghệ An
(Đăng Nghiêm Vạn - Định Xuân Lâm: “Điện Biên trong lịch sử", Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1979, tr 17
Trang 16Chiếm lĩnh Tây Bắc, các lãnh chúa Thái thần phục triều đình phong
kiến Trung ương (Lý, Trần, Lê sơ ) và được phép thiết lập các lãnh địa cát cứ
của mình Mỗi vùng thường có một mường trung tâm và các mường phụ thuộc
do một lãnh chúa lớn, là bồi thần trực tiếp của triều đình trung ương đứng đầu
Đến đời Lý Thánh Tông, ảnh hưởng của nhà Lý đối với vùng này đã rất lớn:
“năm 1067, vào tháng 2 mùa xuân, Ngưu Hống (có thể phiên âm từ Ngu Háu
(Ran Hồ mang - biểu tượng của người Thái đen) và Ai Lao đều vào triều cống
Lễ vật gồm có vàng, bạc, trầm hương, sừng tê, ngà voi ”),
Cộng đồng người Thái ở Việt Nam có sự phân chia thành hai ngành
Thái trắng (Tay khao) và Thái đen (Tay đăm) rất độc đáo mà không thấy có ở
các nhóm Tai khác của miền Nam Trung Quốc và Đông Nam Á Do vậy, việc xác định bản chất của sự phân chia thành các ngành Thái trắng, Thái đen trong xã hội Thái cổ đại là rất cần thiết, lý thú nhưng cũng rất phức tạp Đã có
nhiều nhà nghiên cứu ở trong và ngoài nước đề cập tới vấn đề này và đó là vấn
đề khoa học tiếp tục đặt ra Tác giả Maurice Durand khi nghiên cứu về người Thái ở Phong Thổ (Lai Châu) cho rằng: “Sự khác nhau của phụ nữ Thái đen và Thái trắng thực chất là giá trị của cách ăn mặc”®, Hai tác giả Hoàng Nam và
Lê Ngọc Thắng cũng có ý kiến tương tự” Hai tác giả Trần Quốc Vượng và Câm Trọng cho rằng có một bộ phận cư dân Thái cổ ở Việt Nam và giả thiết
sự tranh chấp Hùng Vương - An Dương Vương trong lịch sử Việt Nam là sự tranh chấp của những người Tày - Thái cổ, giữa Thái trắng (Tày khao) và Thái đen (Tày đăm), sự thống nhất Âu Lạc và ra đời nhà nước Cổ Loa là sự hợp
nhất hai khối Âu - Tày dam va Lac - Tay khao™ Tac gia Le S¥ Gido cho rang
sự phân chia Thái trắng, Thái đen, về mặt bản chất là dấu tích của cơ cấu
lưỡng hợp của các bộ lạc Thái cổ trên địa bàn Bắc Bộ Việt Nam Do vậy, từ -
thời tiền giai cấp đã có một bộ phận cư đân Thái (bản địa) sinh sống trên
*® Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, tr 247
!?' Maurice Durand: “Notes sur les paytai de Phong tho” Bullentin de la societe des Indochinoises Tome
XXVIIL, N° 2 Saigon 1952, page 204 Din lại theo Le Ngọc Tháng: “Trang phục Thái với những chức năng xã hột”, Tạp chí Đàn tộc học, số 4 - 1988, tr 54
™ Hoang Nam - Lé Ngoc Tháng: “Nhà sản Thái”, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1984, tr 54
'®Trần Quốc Vượng - Cảm Trọng: “Thái đen Thái trắng và sự phân bố cư dan Tay - Thai cd 6 Viét Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 5 + 6 năm 1987, tr 35 - 40
Trang 17vùng lãnh thổ này cùng với tổ tiên các tộc Việt - Mường, Môn - Khơ met), Ý
kiến khác cho rằng “việc có hai ngành Thái trắng và Thái đen ở dân tộc Thái
-là sự phân chia một nửa của cha và một nửa của mẹ”),
Theo một số nhà nghiên cứu, hai ngành Thái trắng và Thái đen có 5
nhóm địa phương Riêng ở khu vực Tây Bắc có 4 nhóm là:
~ “Nhóm 1: Thái đen 1 cư trú ở các huyện thuộc tinh Son La, Lai Chau, Điện Biên, Yên Bái (huyện Văn Chấn, thị xã Nghĩa Lộ)
Nhóm 2: Thái đen 2 cư trú ở huyện Yên Châu (Sơn La)
Nhóm 3: Thái trắng 1 cứ trú ở các huyện Mường La, Quỳnh Nhai (tỉnh
Sơn La), Mường Tè, Phong Thổ (tỉnh Lai Châu), Mường Lay (nay là-huyện
Mường Chà, tỉnh Điện Biên)
Nhóm 4: Thái trắng 2 cư trú ở các huyện Phù Yên, Mộc Châu (tỉnh Son La), Mai Chau, Da Bac (tinh Hda Binh)’
Hiện nay, nhiều người đang chú ý tới quan điểm cho rằng sự hình thành các nhóm Thái ở Việt Nam chia làm ba lớp sau:
-6 Việt Nam có người Thái từ thời cổ đại Họ là cư dan ban dia va tu
cư ở các thung lũng ven sông, suối như sông Thao, sông Đà, sông Lô, sông Chảy, sông Mã từ lâu đời Họ chính là chủ nhân của nên văn hóa lúa nước phát triển từ sớm Chính họ là lớp cư dân đã cùng các tộc người khác từ thuở
đó khai phá, dựng xây nên nền văn hóa Việt Nam điển hình là nền văn minh
- Lớp thứ hai là lớp một số nhóm Thái trắng (Lai Châu) và những
nhóm tương tự từ Vân Nam (Trung Quốc) thêm vào những năm đầu công nguyên Nhóm này không phổ biến mà tụ lại chỉ một số nơi ở Tây Bắc như
Mường Lay (nay là huyện Mường Chà), Phong Thổ, Than Uyên (Lai Châu),
+? Lê Sỹ Giáo: “Về bản chất và tên gọi của Thái trắng, Thái đen ở Việt Nam”, Tạp chí Dân tộc học, số 3 -
Trang 18- Lớp thứ ba là lớp cư dân Thái đen theo tù trưởng Lạng Chượng vào Việt Nam khoảng thế kỷ XHI Lớp này đã bổ sung vào các nhón Thái bản địa
ở Tay Bắc và làm phong phú thêm bức tranh phân bố tộc người ở đây,
2 Hoạt động kinh tế truyền thống
* Canh tác ruộng nước
- Từ lâu, ruộng nước đã trở thành đối tượng lao động chủ yếu của cư dân Thái Tay Bắc Người Thái có hai cách phân loại ruộng: phân theo sự tác động của con người đối với tự nhiên và phân theo chế độ xã hội Riêng về cách phân loại theo sự tác động của con người đối với tự nhiên có những loại hình sau:
- Theo địa hình:
Người Thái gọi loại ruộng ở thung lũng bằng phẳng là “na tông”, ruộng hẹp men theo sườn núi hoặc sườn đốc là “na hon”
- Theo nguồn nước:
Ruộng nước mưa (chờ mưa): thường phân bố trên những vùng cao chỉ
đủ nước cấy một vụ Do phụ thuộc vào nguồn nước “của trời” nên thời vụ bao
giờ cũng chậm và năng suất thấp, bấp bênh
Ruộng nước ngâm thường tập trung trong các vùng thung lũng - vùng
cư trú chủ yếu của người Thái Đặc điểm của loại ruộng này là con người có thể chủ động được nguồn nước tưới, không phải chờ trời mưa Do chủ động nguồn nước nên người nông dân có thể chủ động được cả thời vụ và các khâu
kỹ thuật khác và năng suất lúa cao
-_ Hệ thống thuỷ lợi (phai, mương, lốc, cọn)
Phai là con đập chấn ngang các dòng suối hoặc sông nhỏ được xây
dựng từ nguồn nguyên liệu sẵn có như đất đá, gỗ tre Người ta thường chọn
°"Hoàng Lương: “Một số suy nghĩ về qúa trình tộc người của các nhóm Thái Việt Nam”, Tạp chi Dan tộc học, số 3- 1997, tr 50
Trang 19đấp phai ở những chỗ thuận tiện nhất để có thể đắp đập (do mưa nước dâng cao và tạo được lượng nước chảy vào ruộng tối đa) Tầm quan trọng của phai
trong canh tác nông nghiệp được người Thái so sánh với vai trò của người cha trong gia đình
Mương là các đường nhỏ dẫn nước, thường có ba loại: Mương chìm (mương đào), mương nổi (mương đắp) và mương nửa chìm nửa nổi (vừa đào vừa dap) Cé thé một hệ thống mương bao hàm cả ba dạng, bởi vì để dẫn nước
vào đồng thường phải đi qua các địa hình khác nhau Phai - mương là hệ thống
chính, giản đơn hơn Sau này do nhu cầu tưới tiêu phức tạp hơn đã xuất hiện thêm lái - lịm (kẻ phụ và các đường ống dẫn nước) và hợp thành hệ thống
mương - phai - lái - lim ,
Khi các phần đất mà việc dẫn thuỷ nhập điền đễ dàng đã được khai phá hết, người ta phải tìm đến các mảnh khác, thường là các mảnh đất dọc núi Cấu tạo tự nhiên của các mảnh đất này thường bằng phẳng lại gần các đồng chảy nên
có thể sử dụng các cọn nước để biến thành những mảnh ruộng được tưới tiêu chủ
động Thường thì độ chênh lệch giữa dòng chảy và mặt ruộng trong trường hợp này là 2-3 mét và cũng có khi độ chênh lệch này lên tới 4-6 mét Lúc đó người ta làm các cọn nước cỡ lớn, to, bên và đẹp như một tác phẩm nghệ thuật
Hệ thống thuỷ lợi theo phương pháp thủ công này đã đạt trình độ cao
và trở thành một trong những hệ thống thuỷ lợi điển hình của khu vực Đông Nam Á “Chính hệ thống thuỷ lợi kiểu Thái - Tày đã được dịch chuyển xuống đồng bằng Bắc Bộ khi con người khai khẩn vùng đất rộng lớn này Từ phai - mương của vùng thung lũng, hệ thống thuỷ lợi của vùng đồng bằng Bác Bộ đã khai triển thành hệ thống đập - kênh - mương”9),
Theo truyền thuyết của người Thái, họ có tới 330 giống lúa đưới ruộng (mí xam họi xam xíp xính khẩu nấu na) Trong hàng trăm giống lúa, lúa nếp gồm hai loại chủ yếu: Nếp “tan” phải cấy trên các loại ruộng có nước, có
La Sỹ Giáo: “Các đặc điểm của nông nghiệp truyền thống của người Thái Việt Nam”, Tạp chí Dân tộc học, số 1 - 1992, tr 40
Trang 20nhiều mùn; Nếp “nhoi” với hàng chục loại để thích nghỉ với từng loài ruộng Ngoài ra, người Thái còn có nhiều giống lúa tẻ phong phú
- Các biện pháp kỹ thuật cổ truyền
Có nước, phân chưa đủ, việc làm ruộng nước còn phải bỏ sức lao động
để tiến hành những khâu liên hoàn khác Những khâu liên hoàn đó tiến hành
từ lúc ruộng có nước đến khi thu hoạch thóc về nhà Theo kinh nghiệm cổ
truyền của người Thái, các khâu liên hoàn đó được tập trung vào hai giai đoạn
trước khi cấy và sau khi cấy
* Nương rẫy
Trong cuộc sống của người Thái nương có nhiều tác dụng Nương cùng với ruộng nước giải quyết nhu cầu về lương thực, ngoài ra nương còn là nơi cung cấp thức ăn có chất bột như các loại cây có củ: khoai sọ, khoai lang; những cây có chất dầu: vừng, lạc; trồng rau và đặc biệt là trồng bông, chàm, đay để giải quyết nhu cầu mặc Như vậy nương đã cho phép người ta mở rộng việc trồng trọt với việc xen canh nhiều loại cây trồng rất tốt Đây là một lợi thế của việc làmg nương cổ truyền Chính nhờ lợi thế này mà đại bộ phận họ
đã định canh, định cư, với việc làm ruộng và thực hiện luân canh trên nương
nhằm tăng thêm sản phẩm nông nghiệp Một lý do khác khiến đồng bào
không bỏ việc làm nương vì xưa lớp quý tộc Thái với bộ máy thống trị của nó
thực hiện quyền bóc lột nhân đân lao động trên nên tảng ruộng nước chứ
không đưa trực tiếp trên những mảnh nương Như vậy, pháp lý xưa đã thừa
nhận nương là “đất tự do” của người sản xuất Đây là một yếu tố xã hội đã góp phần đẩy một bộ phận người lao động tách hẳn ruộng để làm nương, hoặc chỉ
làm một phần ruộng còn chủ yếu làm nương Những cư dân chuyên sinh sống bằng nương đã mất hoàn toàn ưu thế định canh, định cư của người làm ruộng
nước Thực tế ấy, người Thái đã coi việc bỏ ruộng để làm nương là sự miễn
cưỡng Ngược lại, nếu có ruộng để định canh, định cư và có nương để làm
nguồn thu nhập bù đấp chỗ thiếu của ruộng đã trở thành cuộc sống lý tưởng
của người nông dân Thái Người Thái có câu: “nương nhìn vượt tầm mắt cũng không bằng một thửa ruộng” (hay lựa ta bán to na hâu nưng)
Trang 21Nương của người Thái có nhiều loại: nương dốc, nương bằng, nương
bông Nhưng phổ.biến hơn cả là loại nương dùng cuốc và gậy chọc lỗ Lối canh tác này, ngày xưa còn gọi là “đao canh, hoả chủng” (canh tác bằng dao,
đốt bằng lửa rồi trồng) Có một số loại nương như:
- Nương lúa thường trồng xen vừng, lạc, khoai sọ, bầu bí, rau
- Nương ngô trồng xen bầu bí
- Nương trồng bông, trồng chàm
- Nương sắn
Sản phẩm thu được từ nương, ngoài chi đùng cho nhu cầu hàng ngày,
còn đem bán Tuy nhiên khi đem bán, có loại là sản phẩm thừa (như sắn, bầu
bí, rau ), có loại chỉ mang tính chao đổi để có tiền chi dùng cho việc khác
(như gạo, ngô )
* Làm vườn
Người Thái không có truyền thống làm vườn Trong khuôn viên người
ta chỉ trồng một số cây ăn quả lâu năm như mít, bưởi, xoài, cam và trồng cau
ăn trầu Tầng dưới của tán cây này để cổ mọc hoang Hơn nữa, tập quán chăn nuôi gia súc, gia cầm thả rông cũng đã hạn chế, nghề làm vườn và mảnh vườn phát triển Các loại rau xanh, cây cho củ quả thực phẩm thường được
trồng trên nương Thành thử, nương rẫy trong trường hợp này không chỉ đơn
thuần là mảnh đất trồng cây lương thực và hoa màu mà nó đã mang dáng dấp
của một mảnh vườn trong tương lai
Một nguyên nhân quan trọng khiến cho nghề làm vườn của người Thái chậm phát triển: sinh tụ trong vùng khí hậu vành đai nhiệt đới, gió mùa, lại xen tính chất đa dạng của khí hậu rừng núi, cây cối phát triển rất tốt, xanh tươi quanh năm với hệ sinh thái phổ tạp đã cung cấp cho con người nguồn thức ăn phong phú, đa dang thông qua hái lượm, tước đoạt tự nhiên
* Chăn nuôi
Trong mỗi gia đình Thái đều nuôi gia súc, gia cầm Trâu để kéo, cày
và giết thịt cúng trong các dịp xên nương, xên bản; ngựa để thổ và cưỡi, chó
giữ nhà, đi săn; bò, lợn, vịt, gà để ăn thịt, cúng tế, tiếp khách; phục vụ
Trang 22những bữa mời bà con trong bản tới giúp những công viêc lớn như dựng nhà, làm ruộng, nương Khi cần thiết có thể đem trao đổi, biến thành sản phẩm hàng hoá Phương thức chăn nuôi của hầu hết các gia đình thường thể hiện tính chất nửa chăm sóc, nửa tự nhiên rõ rệt Đàn gia súc được nuôi theo tập quan tha rong đã xuất hiện những giống thích nghi với lối sống hoang đã kết hợp với sự chăm sóc của con người
Ở vùng Thái, trong tín ngưỡng truyền thống của họ, con trâu là vật hiến
tế trong các xên mường, xên bản và cũng là vật hiến tế cho ông bà, cha mẹ lúc qua đời Con trâu cũng là tặng vật quí giá, là của hồi môn của bố mẹ cho con cái khi lấy chồng, lấy vợ Số lượng trâu cũng là môt trong những tiêu chuẩn để đánh giá khả năng kinh tế của gia đình, để phân định giàu nghèo Con trâu gắn bó lâu
đời với con người, với ruộng lúa nên đã trở thành con vật gần gũi nhất, trở thành
một thứ tài sản đặc biệt của người Thái và các cư dân canh tác lúa nước vùng
thung lũng Nuôi trâu cũng theo lối thả rông Để nhận ra trân của mình, các chủ của trâu thường đeo vào cổ nó chiếc mõ để theo hướng tiếng mố lốc cốc phát ra
để tìm trâu Thường cứ sau vụ cày bừa, trâu được thả vào rừng và sinh sống gần như hoang dại Có nhiều gia đình không biết ở trong rừng có cụ thể bao nhiêu
con trâu Họ chỉ giữ lại một số trâu để cày kéo hoặc bán khi cần thiết
3 Thiết chế bản - mường
* Bản
Trong hệ thống xã hội cổ truyền của người Thái, bản là cơ sở của Mường Nó là nơi cư trú của các gia đình phụ hệ thường từ 2 - 3 nóc nhà trở
lên Cơ sở để hình thành các bản là quan hệ láng giểng, là việc xác định quyền
chiếm dụng đối với đất đai Từ cộng đồng dựa trên quan hệ huyết thống chuyển sang cộng đồng thẻo nguyên tắc dân cư của các bản Thái lúc đầu rất
nhỏ bé về mặt quy mô Nhưng cùng với quá trình tăng dân số và xáo trộn cư dân, phạm vi bản mường ngày càng mở rộng Các bản trung bình thường có từ
15 - 20 nóc nhà nhưng cũng có những bản lớn lên tới hàng trăm nóc nhà Các bản có ranh giới, khu vực ruộng đất riêng Trên khu vực đất đai thiên nhiên ấy,
các gia đình đều có quyền khai thác, trồng trọt để đảm bảo cuộc sống gia
Trang 23đình Nhà cửa trong bản bố trí theo lối mật tập nhưng cũng có đôi nơi bố trí theo kiểu đường phố Tên gọi của bản thường gắn với một sự kiện lịch sử nào
đó, người đến lập bản đầu tiên, có khi tên một khúc suối, một cánh đồng, một loại cây Mỗi bản thường có một nơi nơi thờ cúng riêng, có chung bến nước, bãi thả trâu, bãi tha ma và hệ thống thuỷ lợi Các gia đình trong bản đều có
nghĩa vụ đắp mương phai, bảo vệ, gìn giữ trị an cho bản
Bản là đơn vị cư trú của các gia đình có quan hệ thân tộc chằng chịt
Nhưng bản không đóng vai trò tổ chức có tính chất huyết thống mặc đù ở trong đó cộng đông thân tộc có tính chất huyết thống vẫn còn được bảo lưu trên các mặt phong tục tập quan Bản đã trở thành tổ chức tập hợp của các gia
đình có chung một vùng đất, thiên nhiên, để sử dụng vào việc phục vụ cho
cuộc sống Đối với rừng rú, khe suối thì mọi người đều được quyền khai thác làm nương, làm ruộng, lấy gỗ, săn thú Tâng lớp quan lại, chức dịch
không có quyền chiếm hữu các khu rừng có sẵn vật quý, tổ ong riêng cho mình Đất đai thiên nhiên của bản chia làm hai khu vực: đất đai thiên nhiên do gia đình sử dụng gồm ruộng, nương, không ai có quyển xâm phạm Ở phạm vì mương, quyền sử dụng càng rộng lớn hơn Tuy nhiên, các gia đình khi không còn sử dụng, đất đai thiên nhiên chỉ có quyền cho nhau chứ không được mua bán cho người ngoài bản Hoặc nếu không còn sử dụng thì đất đai đó trở thành chung của bản Đối với vùng thiên nhiên, kể cả ngoài bản các gia đình có quyền sở hữu tổ ong, cây ăn quả, cây lấy gỗ Luật tục quy định, người nào thấy vật đó đầu tiên sẽ có quyển sở hữu Người ta đánh dấu sở hữu bằng dấu
nhân (X) vào cây đó Bản còn có khu rừng cấm như rừng măng, rừng đầu
nguồn nước, rừng bãi tha ma; bản có những “vững cấm” đánh cá
* Mường
Ở vùng Tây Bắc, “châu mường” là một lãnh địa tập hợp từ bốn
“mường nhỏ” trở lên Những “mường nhỏ” này có một tên Thái cố định và rất thông dụng là “mường phìa” “Mường phìa” xuất hiện đầu tiên được gọi là
“lộng”, đó là một bản khá lớn có từ ba, bốn chục nóc nhà trở lên
* Cảm Trọng: “Người Thái ở Tây Bác Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978, tr 327 - 337
Trang 24Mỗi một “châu mường” có một “mường phìa” sở tại gọi là “mường
phìa trong châu” và các “mường phìa ngoài” Ly sở của “mường phìa” gọi là
“mường” hay “chiếng”, ly sở của “mường phìa trong châu” đồng thời là của
toàn châu mường
“Mường” hay “chiếng” là trung tâm nên mọi thành viên trong
“mường” đều có nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ nó Theo tập quán hàng năm đất mường sẽ tổ chức lễ cúng linh hồn và vận mệnh của “mường” gọi là “cúng
mường” (xên mường)
“Mường phìa trong” và “mường phìa ngoài” là đơn vị hành chính ngang cấp Song “mường phìa trong” được đứng ở vị trí trung tâm Các “mường phìa ngoài” là “mường” xoay quanh “mường phìa” trung tâm “Mường phìa” lớn thường có đơn vị trực thuộc gọi là “lộng”, “lộng” nhỏ thì gọi là “quen” Ở một số
“châu mường” của người Thái đen, dưới “mường phìa” và dưới “lộng”, “quen” còn có các đơn vị gọi là “xống” Các châu mường của người Thái trắng không có đơn vị “xéng”, dưới “mường phìa” là các bản
“Mường phìa trong” có bốn “xống” xếp theo thứ tự 1, 2, 3, 4 (Vi du: 1
xống pằn, 2 xống poọng, 3 xống ho luông, 4 xống ho lam) “Mường phìa ngoài” thường chỉ có ba xống xếp theo thứ tự 1, 2, 3 là: xống pằn, xổng poong, xống ho luông
“Mường lộng”, “mường quen” chỉ có hai xống hay một xống Bốn xống của “mường phìa trong” người Thái gọi là “bốn xống giữa mường”
Cùng với “mường phìa trong”, “bốn xổng giữa mường” là đơn vị hành chính trung tâm của toàn “châu mường” Mỗi một xống thường có năm, sáu bản đến hơn chục bản phân bố trong một vùng thung lũng
Người đứng đầu châu mường gọi là Chẩu mường Chấu mường là người đại điện cho quyền lực của một dòng họ quý tộc trong mường, điều khiển và quyết định mọi hoạt động của châu mường
Người đứng đầu “mường phìa” gọi là “phìa” hay còn gọi là “phìa mường” “Phìa” ở “mường trong” gọi là “phìa trong mường”, “phìa” ở
“mường ngoài” thì gọi là “phìa mường ngoài” Để giám sát đối với “phìa
Trang 25mường ngoài”, chẩu mường thường phân công cho “bô lão trong mường” của
đơn vị “mường phìa trong” làm “Lam” kiểm tra, đôn đốc việc thực hiên các
nhiệm vụ do chẩu mường đề ra
Người đứng đầu “lộng”, “quen” gọi là tạo Như vậy, trong một châu mường, quý tộc được quyền giữ ba chức vụ cấp trên đơn vị bản là các chức:
chẩu mường, phìa, tạo lộng, tạo quen
Dưới các chức “ông”, “quan” phụ trách xống, có trưởng bản Nếu quý tộc đứng đâu bản thì gọi là tạo bản, lúc đó tạo bản không đưới quyền “ông”, “quan”
mà trực thuộc thẳng phìa, giúp việc cho trưởng bản (tạo bản) có chá bản
Sơ đồ tổ chức châu mường của người Thái đen ở Tây Bac" -
Trong quá khứ, lịch sử gia đình của người Thái là gia đình lớn Các
thành viên có thể thuộc nhiều thế hệ khác nhau, bao gồm vợ chồng người gia
trưởng, cha mẹ, con cái và đôi khi cả cháu chất của họ Ở một vài gia đình
thành phần phức tạp hơn do mở rộng về chiều ngang, bao gồm những anh chị
em đã trưởng thành, có vợ, có chồng, thậm chí đã có một vài đứa con nhưng
“®Ở các châu mường của người Thái trắng không có đơn vị “xông”, dưới “mường phìa” là các bản
Trang 26chưa có đủ điều kiện kinh tế để tách hộ nên vẫn sống chung với nhau đưới một mái nhà Cá biệt có những gia đình còn mở rộng hơn nữa, bao gồm cả anh chị
em của bố mẹ do ốm yếu, tàn tật, không có vợ (chồng) hoặc con cái, hoặc con cái của anh chị em bị mồ côi không nơi nương tựa
Hiện thời, ở người Thái, những gia đình gồm nhiều thế hệ vẫn chiếm một tỉ lệ đáng kể Tuy nhiên, hầu hết những gia đình này chỉ gồm vợ chồng
người gia trưởng cùng bố mẹ và con cái của họ Ở đây khuynh hướng chuyển sang gia đình hạt nhân ngày càng bộc lộ rõ nét và chiếm ưu thế rõ rệt
Xuất phát từ quan niệm về duy trì ndi giống, phát triển dòng họ, người
ta cho rằng “Giàu con hơn giàu của”, đông con là niềm hạnh phúc lớn lao của
mọi gia đình nếu chẳng may tuyệt tự, chẳng những mang tội bất hiếu mà đến khi già yếu cũng không biết nương tựa vào ai Trung bình mỗi cặp vợ chồng
có từ 4 đến 5 đứa con, không ít cặp có 7 - 8 con, cá biệt có những cặp có hàng chục con Những gia đình không có con hoặc không có con trai thường nhận con nuôi Con nuôi là người trong họ, thường là con các anh em trai, đôi khi là
em trai của mình Con nuôi có quyền lợi và trách nhiệm như con đẻ Hiện nay tâm lý “có nếp có tẻ”, ít ra cũng có “thằng cu” vẫn chỉ phối đại bộ phận cư
dân Thái trong vùng Người ta cần con trai để thừa kế tài sản, nối dõi tông đường cũng như lo hương khối trên bàn thờ “đẳm” Vì vậy, nhiều người không
muốn đông con mà vẫn phải chịu cảnh con đàn nheo nhóc bởi lẽ chỉ mình con một bề, toàn là gái!
Gia đình Thái là gia đình phụ quyền Gia trưởng là người cha có quyền
quyết định mọi việc trong nhà, kể từ tổ chức sản xuất, phân công lao động hàng ngày cho đến dựng vợ gả chồng cho con cái Gia trưởng cũng là người thay mặt gia đình trong các giao tiếp xã hội, tham gia các hoạt động của bản mường Trong những hộ có những thế hệ cùng chung sống khi người cha đã già yếu không đủ sức quán xuyến, điều hành mọi công việc nữa thì gia trưởng
có thể là người con trai lớn tuổi nhất
Trong gia đình Thái mọi người giữ bổn phận của mình và sống hoà
thuận với nhau Vợ chồng cùng nhau làm lụng và nuôi dạy con cái Người
Trang 27chồng đảm đương mọi công việc nặng nhọc ngoài đồng và khi cần thiết cũng
có thể tham gia nội trợ, chăm sóc con cái Người vợ chăm lo việc nội trợ,
đồng áng, nuôi dạy con cái và dệt vải đảm bảo nhu cầu mặc của gia đình
Mặc đù không phải bao giờ hôn nhân cũng được xây dung trên cơ sở của tình yêu nhưng quan hệ vợ chồng rất bẻn chặt, rất hiếm có cặp ly dị Vợ chồng
thương yêu, quan tâm, chăm sóc nhau Khi vợ hoặc chồng chết, người ta có
thể tái giá
Ở người Thái, cha mẹ có nghĩa vụ nuôi con khôn lớn và dựng vợ gả
chồng cho chúng Họ chỉ có thể “yên tâm nhắm mắt” khi đã “lo cửa nhà” cho
đứa con cuối cùng Họ thương yêu con cái hết mực, hiếm có trường hợp mắng chửi và hầu như không bao giờ đánh đập con cái Người ta cho rằng đánh con
là tội lỗi Song bố mẹ cũng có quyển rất lớn trong việc định đoạt hạnh phúc của con cái, con cái được tự do yêu đương, lựa chọn bạn đời nhưng nếu không được sự đồng ý của bố mẹ đôi bên thì cũng khó đi đến hôn nhân Còn con cái
có trách nhiệm phụng dưỡng cha mẹ già lúc mãn chiều xế bóng Nếu như các con đã có vợ, chồng hết thì bố mẹ có thể đến ở với bất kỳ con nào mà họ thích chứ không cứ là con trưởng Khi cha mẹ qua đời, các con cùng nhau lo ma chay chu đáo và trong đám ma phải làm thịt trâu cúng bố mẹ mới được làng
bản thừa nhận là người con có hiếu!
Nhìn chung, quan hệ mẹ chồng nàng dâu rất tốt đẹp Các bậc cha mẹ
thường quý con dâu như con đẻ, mẹ chồng có thể là bà đỡ và trực tiếp chăm sóc con dâu trong thời gian ở cit Nhưng theo tập quán thì bố chồng và con dâu lại có sự cách biệt nghiêm ngặt Các nàng dâu Thái không được ngồi ăn
cơm cùng mâm với bố chồng, anh chồng, chị em gái vợ không được ngồi mâm với anh em rể
Những thành viên lớn tuổi thuộc các thế hệ trên như ông bà, bố mẹ rất được kính trọng Buồng ngủ của họ ở sát bên phải gian bàn thờ, chỗ được coi
là tôn quý nhất trong ngôi nhà Đối diện với gian buồng này là một bếp nhỏ
được dùng để nấu nướng thức ăn thờ cúng, sưởi ấm cho người già và khách
đàn ông trong mùa đông Mặc dù đã nhường quyền gia trưởng cho con trai lớn
Trang 28nhưng các ông bố, bà mẹ vẫn có vai trò rất lớn trong việc quyết định những công việc hệ trọng của gia đình :
Bị chi phối bởi tính chất phụ quyền, trong gia đình Thái tư tưởng trọng
nam khinh nữ khá rõ rệt Những thành viên nữ chỉ được đi lại, sinh hoạt ở nửa
nhà trong (tính từ phía cầu thang chính lên xuống), còn ở bàn thờ là nơi chỉ
các thành viên nam mới được phép lui tới Các cô dâu cũng không được đi ngang qua bàn thờ của gia đình Tuy nhiên địa vị của phụ nữ trong gia đình không hẳn kém cỏi Trong nhiều trường hợp tiếng nói của phụ nữ, nhất là các
bà mẹ cũng có ý nghĩa khá quan trọng
Nói đến gia đình Thái, không thể không nhắc tới các chàng rể .Trước
đây tục ở rể khá phổ biến, có tính chất bắt buộc và thường kéo đài, ít ra cũng vài năm Giống như con dâu về nhà chồng, con rể ở nhà vợ phải lo “gánh vác
giang sơn” nhà vợ, đảm nhận những công việc khó khăn nhất, nặng nhọc nhất, những gia đình không có con trai thường lấy rể làm trai Trong trường hợp này con rể được thừa kế tài sản nhà vợ và có trách nhiệm nuôi dưỡng, thờ cúng bố
hệ dòng họ Sở đi như vậy vì đây là quan hệ quan trọng nhất, quyết định nhất trong cuộc sống của cư dân Thái trong vùng Sở đi như vậy vì những mối quan
hệ họ hàng được ước định bởi truyền thống của nếp sống gia đình phụ hệ và
của những người anh em và đàn con cháu họ Nhóm những gia đình có họ
Trang 29hàng thân thuộc mà địa bàn cư trú thường là kế cận nhau tạo thành một đơn vị những gia đình thân thuộc trong bản cùng mang tên một tộc danh (họ) Mỗi
bản thường có 1 - 2 họ lớn được coi là họ gốc
Xung quanh họ này lại có nhiều họ khác có mối quan hệ “khe mộng” (thông gia) với họ lớn Người Thái gọi những gia đình thân tộc này một tên
chung là “đảm” (người Thái ở Thanh Hóa, Nghệ An gọi là “quài xê”) Hạt
nhân của nó là những thành viên nam giới, cháu đến đời thứ 5 hay 7 (dam quy định 7 đời, quài xê chỉ 5 đời) của một ông tổ sinh ra họ Gắn bó chặt chẽ với những người này là nàng dâu, vợ của họ Những thành viên gái cùng thế hệ với các thành viên nam không thuộc về tập thể đó, tạm thời chỉ được chấp
“Dam” hay “Quai xé” phi hợp với một hình thức tổ chức xã hội mà dân tộc học gọi là tông tộc hay đòng họ Hiểu được đặc trưng của nhóm này là cần thiết bởi nếu không biết được những đặt điểm cơ bản cũng như cách hoạt động của chúng thì ta không thể hiểu được những đặc trưng cơ bản của nếp
sống gia đình Người Thái muốn biết có cùng một tông tộc hay không chỉ cần
căn cứ vào việc kiêng ky hay thờ cúng một giống vật (động vật hoặc thực vật) nào đó Đó là đấu hiệu tô tem của dòng họ Chẳng hạn: Họ Quàng kiêng giết thịt Hổ, họ Hoàng kiêng không ăn thịt chim Cuốc, chim Yểng, họ Lò kiêng không ăn thịt chim “Tang lo”
Do cư trú gần nhau, các thành viên trong đòng họ có nhiệm vụ giúp đỡ nhau trong lúc gặp khó khăn, đói kém, hoạn nạn Sự giúp đỡ này được xem là
lẽ đương nhiên; Gia đình nào có việc hiếu, hi, lam nhà Cả họ đều tập trung làm giúp Các dòng họ không có ngày giỗ tổ chung của dòng họ, chỉ cúng tổ
tiên xa xôi của dòng họ mà thôi Mỗi một “đẩm” có người đứng đầu gọi là
“cốc đảm” (Thái đen) hoặc “ải cốc” (Thái trắng) là người lãnh đạo mọi mặt
đời sống của các thành viên trong đảm Địa vị trưởng họ được thừa kế theo luật tục, theo nguyên tắc trưởng họ phải là con trai trưởng của ngành trưởng
Gia đình trưởng họ là gia đình có uy tín nhất trong tông tộc Chỉ khi gia đình
đó không có con trai, chức trưởng họ mới chuyển sang gia đình khác Cũng
Trang 30cần lưu ý là người Thái ở vùng Tay Bắc chức vụ này được trao truyền không phải từ người cha cho con trai cả mà là từ anh trai cho em trai Chỉ khi nào
người em trai chết thì chức vụ này lại trao cho người con trai trưởng của người anh cả Song, trật tự kế thừa chức vụ trưởng “đảm” rõ ràng đi ngược lại với nguyên tắc kế thừa trong gia đình: bởi vì sau khi người đứng đầu gia đình mất
đi, chỉ người con trai cả mới được thừa kế từ người cha thanh gươm thiêng
liêng của dòng họ và chõ ninh xôi của gia đình
Trưởng họ là người chủ trì nghỉ lễ tổ sáng lập ra dong ho, trong nom
nhà thờ họ, triệu tập hội nghị tông tộc, giải quyết mọi xích mích giữa các thành viên trong họ cũng như các công việc về các mặt kinh tế - xã hội trong dòng họ, chủ trì các công việc có liên quan tới cưới xin, ly hôn, phạt vạ
Biểu hiện chung nhất về mối quan hệ tỉnh thần trong đồng họ là ý thức vẻ ông tổ chung Nó thể hiện ở chỗ mỗi tông tộc có một cuốn gia phả được trao cho trưởng họ gìn giữ Trong gia phủ ghi đầy đủ tên tuổi, con cái các thành viên trong
tông tộc qua các đời Ngoài ra, mỗi tông tộc đều có một nghỉ lễ tôn giáo chung
Đây là nghỉ lễ tôn giáo chính, là sinh hoạt tỉnh thân không thể thiếu được để củng
cố thêm các mối quan hệ bên trong cũng như tỉnh thần đoàn kết của dòng họ
Trước Cách mang tháng Tám năm 1945, hình thức sở hữu ruộng đất toàn tông tộc thể hiện khá đậm nét Ruộng đất của từng tông tộc được ghi lại rõ ràng ở trong số đất của chính quyền phong kiến do người chủ họ đứng tên Trên những thửa ruộng được đòng họ chia cho, chủ của nó chỉ có quyền sử dụng chứ không
có quyền sử hữu, có quyền cầm cố chứ không có quyền bán Sau khi đã chia cho
các gia đình, trưởng họ mang số ruộng còn lại giao cho những người ngoài dòng
họ không có đất để canh tác Những người này phải nộp tô lao địch, phải đi phu,
đi lính thay cho những người trong tông tộc Với những gia đình trong tông tộc
đã mang ruộng của tông tộc chia cho đi cầm cố thì không có quyền đòi chia nữa,
và chỉ khi nào trong tông tộc không có ai có nhu cầu cầm cố thì mới được giao
cho người ngoài Thời gian cầm ruộng là vô hạn, lúc nào có tiền thì chuộc lại, không những người mang đi cầm cố mới có quyền chuộc lại mà bất kỳ người nào
trong tông tộc với người cầm cố cũng có quyền chuộc lại
Trang 31Ngoài việc giúp đỡ nhau về vật chất cũng như tỉnh thần khi một gia đình nào đó trong tông tộc gặp khó khăn, một phần đã đề cập ở trên, về mặt
hôn nhân, vai trò của tông tộc cũng thể hiện khá rõ Trước hết, tuân thủ nguyên tắc ngoại hôn, các thành viên trong tông tộc tuyệt đối không được lấy
nhau Người vi phạm luật tục bị trừng phạt nặng, ngoài việc bồi thường cho
bản làm lễ cúng thần linh còn bị khai trừ ra khỏi cộng đồng
Việc dựng vợ gả chồng cho con cái là công việc của từng gia đình nhưng đều phải báo cáo trong trưởng họ, để tránh lấy “nhầm” người trong tông tộc Thông thường, tộc trưởng cùng với anh em trai về phía mẹ có vai trò
quyết định nhất trong việc cưới xin Hầu hết các đôi trai gái lấy nhau chỉ cần hai bên gia đình và hai tông tộc đồng ý, với những nghỉ lễ cưới xin truyền
‘thong Ho có thể bỏ qua mọi thủ tục pháp lý như đăng ký kết hôn với chính quyền địa phương Con cái sinh ra có thể không cần khai sinh và chỉ khi nào
đứa trẻ đã lớn, đi học thì mới làm thủ tục khai sinh Cũng như vậy, khi ly hôn, hai vợ chồng chỉ cần hai bên gia đình và họ hàng “làm chứng”, họ không cần tới sự can thiệp của Toà án
4 Chế độ ruộng đất truyền thống
Ở vùng Thái Tây Bắc, trước cách mạng tháng Tám chế độ sở hữu
ruộng đất trở thành một trong những vấn đề tiên quyết quy định nhiều quan hệ
và các mối quan hệ xã hội
Trong hầu hết các châu mường tôn tại hai loại ruộng: ruộng mới vỡ hoang (na tÔ ở những nơi xa, hẻo lánh Những mảnh ruộng này sớm muộn sẽ
bị trở thành ruộng công (ruộng toàn mường)
Ruộng toàn mường (na hàng mường) chiếm hầu hết điện tích ruộng
các châu mường Tuy không phải là ruộng tư nhưng chỉ khi nào chủ ruộng
không có nhu cầu và giao lại cho mường thì nó mới được chuyển giao cho
người khác Chủ ruộng toàn quyền sử dụng các sản phẩm thu hoạch trên các
thửa ruộng đó và họ phải đóng góp các khoản theo “luật mường” quy định
Việc phân bổ ruộng của mường nằm trong tay bộ máy thống trị phong
kiến Thái ở các châu mường Các gia đình nhận ruộng theo đơn vị cư trú (bản)
Trang 32và chỉ trong phạm vi bản Nhiều lao động được nhận nhiều ruộng, ít lao động được nhận ít ruộng (lao động được hiểu theo xuất phu phen, tạp dịch)
Trên cơ sở ruộng toàn mường, quý tộc phong kiến Thái chia ruộng cho hai đối tượng chính: quý tộc, chức dịch và thường dân
- Ruộng của quý tộc, chức dịch:
Ruộng hàng mường (nà hàng mường), mọi người dân có nghĩa vụ lao động trên loại ruộng này thông qua lao dịch hàng năm Người dân Thái quan niệm việc lao động trên loại ruộng này của họ tức là đi làm việc mường
Ruộng cuông (nà cuông) là loại ruộng của tầng lớp thống trị Thái, mà người lao động trên đó là tầng lớp nông nô (cuông) hoặc tù binh
Nà bớt tạo là loại ruộng các tạo lợi dụng quyền hành của mình để lấy
ruộng cuông đem chia cho con cháu họ hàng (không phải chức dịch)
Ruộng do tạo mường cấp cho chức dịch (na bớt): có chức dịch được nhận ruộng, mất chức dịch mất luôn ruộng
- Ruộng đất của nông dân Thái gồm:
Ruộng đất của nông nô lệ thuộc vào quý tộc Thái, họ phải lao động trên ruộng của quý tộc, phìa tạo Thái
Ruộng gánh vác (na hấp hé) chiếm đa số diện tích trong mường Nhận ruộng này người nông dân Thái phải có nghĩa vụ gánh vác việc mường
III NHUNG BAC TRUNG VA TINH TROI CUA VAN HOA THAI Ứ TÂY BẮC
Khi người Thái chiếm lĩnh Tay Bắc, văn hóa Thái đã hòa trộn với văn
hóa các tộc người khác, khiến cho văn hóa Thái (đặc biệt là Thái đen) khác biệt
hẳn với văn hóa của những người đồng tộc có chung một cội nguồn như người
Tày ở phía Đông và người Lào ở phía Tây Chính quá trình hỗn dung và tiếp biến
văn hóa đó đã tạo nên sắc thái riêng cho vùng văn hóa Tây Bắc, mà trong đó văn hóa Thái giữ vị trí chủ thể Văn hóa của người Thái có 4 đặc trưng cơ bản:
Thứ nhất, hệ sinh thái nhân văn - văn hóa Thái - một loại hình văn hóa thung lũng
Thứ hai, Hệ thống kỹ thuật trong sản xuất và sinh hoạt cuộc sống-văn hoá Thái-một loại hình hệ thống kỹ thuật của nên nông nghiệp phức hợp xoay
Trang 33quanh trục trồng cây lúa ở cánh đồng lòng chảo hoặc sườn đốc ở giai đoạn
tiền công nghiệp
Thứ ba, hệ thống thiết chế xã hội gồm gia đình và xã hội - văn hóa Thái
- một loại hình cơ cấu gia đình hạt nhân còn bảo lưu nhiều tàn dư tổ chức cộng
đồng người theo dòng mẹ - dòng cha; xã hội tổ chức theo cơ cấu bản - mường
- Thứ tư, hệ thống tư tưởng và tri thức - người Thái có chữ viết sớm nhưng văn hóa bác học còn chưa phát triển thật rõ nét, trong khi văn hóa
foklore phát triển sâu, rộng")
Tính trội của văn hóa Thái ở Tây Bắc được thể hiện trên một vài lĩnh
vuc sau:
Thứ nhất, về ngôn ngữ: Tiếng Thái ngày nay đã trở thành thứ tiếng nói chung, phổ biến ở tất cả các tộc người ở Tay Bác Mạc dù họ vẫn có thể dùng ngôn ngữ mẹ đẻ khi giao tiếp với những người đồng tộc (người Hmông, Dao, Khơ
mú ) Nhưng khi những người khác tộc tiếp xúc với nhau, họ thường sử dung tiếng Thái làm công cụ Cá biệt có những tộc người hiện nay đã quên mất phần lớn
tiếng mẹ đẻ, phải dùng tiếng Thái làm ngôn ngữ giao tiếp chính cả ở ngoài xã hội
cũng như trong gia đình Thậm chí, khi thực hiện các nghỉ lễ tín ngưỡng, khi hát
các làn điệu dân ca của dân tộc mình, họ cũng phải dùng tiếng Thái
Thứ hai, về xã hội: Có thể thấy nhiều tác động của người Thái đối với các tộc người khác, nhưng có lẽ rõ nét nhất là vấn đề dòng họ và tính lệ thuộc của các tộc người khác vào thiết chế bản mường của người Thái Rất nhiều tộc người ở Tây Bắc hiện nay mang tên họ của người Thái Người Xinh mun thì hầu như 100% mang họ Thái, chủ yếu là họ Vị và họ Lò
Các tộc người không phải Thái ở Tây Bắc không có đơn vị hành chính cấp trên bản Họ hoàn toàn lệ thuộc vào xã hội Thái, chịu sự “che chở” của
các lãnh chúa Thái, trở thành “cuông”, “nhốc” cho chúng
Thứ ba, Sự ảnh hưởng của các giá trị văn hóa của người Thái đặc biệt
là trên lĩnh vực văn hóa vật chất Nhiều ngôi nhà sàn của các nhóm cư dân
"Xem thêm Cảm Trọng: “Văn hóa dân tộc Thái và sự biển đổi văn hóa Thái hiện nay”, tr 382, In trong:
“Văn hóa các dân tộc Tây Bắc thực trạng và những vấn dé đặt ra”, GS - TS Trân Văn Bính (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004
Trang 34Môn - Khơ me được làm theo kiểu của ngôi nhà sàn Thái Trong trường hợp
này, nếu bộ phận cư dân Môn - Khơ me nào sống gần với người Thái đen thì ngôi nhà có đồ án theo kiểu mai rùa của người Thái đen; nếu sống gần người Thái trắng thì kết cấu mái nhà theo dạng nhà 4 mái (2 mái chính, 2 mái phụ -
2 chái) của người Thái trắng),
- Về trang phục, hiện nay đa số các tộc người đều học được kinh
nghiệm từ nghề dệt cổ truyền của người Thái “Xưa kia vì không biết đệt, nhiều dân tộc phải mang sản phẩm của mình đổi lấy vải, quần áo, chăn đệm
của người Thái Ngày nay, phụ nữ các dân tộc ở Tây Bắc mặc nữ phục Thái là phổ biến Khăn piêu và váy áo phụ nữ Thái trở thành mô típ trang phục của
phụ nữ nhiều dan toc 6 Tay Bac
Thứ tư, văn hóa tình thần: về chữ viết, ở Tây Bắc chỉ có người Thái là
tộc người có chữ viết, chính vì vậy mà các tác phẩm mang tính sử thi, văn học lớn của người Thái được lưu truyền cho tới ngày nay: “Qum tố mướng” (Kể chuyện bản mường), “Táy pú xớc” (Chuyện chỉnh chiến của người Thái),
“Xống chụ xôn xao” (Tiễn đặn người yêu) Do vậy, văn học Thai, dan ca Thái, lễ hội Thái đã chiếm lĩnh đời sống văn nghệ ở Tây Bắc, đã trở thành kho tàng văn học chung của nhiều dân tộc
“Xoè” là đặc sản nghệ thuật múa Thái và trở thành biểu tượng văn hóa vùng Tây Bắc Xoè Thái ở Tay Bắc gắn liền với tục ăn tết, các nghỉ lễ có tính
chất tập quán của tộc người Ngày nay không những người Thái xoè mà một
số dân tộc khác cũng xoè vào các địp lễ hội, đón khách quý Các tập tục,
nghi lễ, nghi thức trong đời sống hàng ngày của các dân tộc khác cũng chịu
nhiều tác động từ người Thái
°° Xem thêm Trần Bình: “Tập quán hoạt động kinh tế của một số dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam”, Nxb Văn
hóa dân tộc, Hà Nội, 2001, tr 18 - 21 và Lê Sỹ Giáo: “Đặc điểm của sự phân bố các cư dân Tai (hệ
ngôn ngữ Thái) ở miền Bac Viét Nam”, Tap chi Nghiên cứu Đông Nam Á, số 3 - 1999, tr 49
®'12 Ngọc Thắng: “Trang phục Thái trong những mỗi quan hệ văn hóa”, Tạp chí Dân tộc học số 2 -
1987, tr 65 - 71
Trang 35Chương 2
THỰC TRẠNG LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG
CỦA NGƯỜI THÁI Ở TÂY BẮC NƯỚC TA
I LỄ HỘI VÀ PHÂN LOẠI LỄ Hội
1 Lễ hội
Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian phổ biến có ở hầu
hết các dân tộc ở Việt Nam Lễ hội được ra đời từ rất sớm và đã tồn tại, phát triển qua nhiều thời đại Cho đến nay, mặc dù tên gọi và cách diễn đạt tuy có
khác nhau, nhưng đa số các ý kiến đều thống nhất ở nội dung khái niệm: “Lễ
hội là một hình thức sinh hoạt tổng hợp bao gồm các mặt tỉnh thần và vật chất, tôn giáo tín ngưỡng và văn hóa nghệ thuật, linh thiêng và đời thường là một
sinh hoạt có sức hút một số lượng lớn những hiện tượng của đời sống xã hội”©),
Như vậy, có thể nói, lễ hội được cấu thành bởi hai yếu tố là “lễ” (mặt tỉnh thần, tôn giáo, tín ngưỡng, linh thiêng) và “hội” (mặt vật chất, văn hóa nghệ thuật, đời thường) Lễ và hội tuy là hai yếu tố độc lập, tách rời nhau nhưng thực ra là hai mặt của một vấn đề Sự tồn tại của hai yếu tố ấy trong lễ
hội chính là sự thống nhất giữa các mặt của một vấn để để chúng - những lễ hội mới có thể tồn tại và phát triển được Lễ và hội hòa quyện xoắn xuýt với nhau để cùng nhau biểu thị một giá trị nào đó của cộng đồng Trong lễ cũng
có hội và trong hội cũng có lẽ Tuy thuộc hai lĩnh vực khác nhau trong đời
sống của con người (đạo thuộc về thế giới tâm linh và đời thuộc về cuộc sống thực), nhưng cả hai lĩnh vực đó luôn gắn kết, hòa quyện vào nhau không thể ˆ_ bổ đi một yếu tố nào mà không làm mất đi bản thân nó Lễ và hội đều có đặc
trung chung: sinh hoạt tỉnh thần tập thể của cộng đồng người Một số ý kiến cho rằng nên gọi là “hội lễ”, bởi theo họ, trong thực tế ngày nay đã có nhiều ngày hội mà trong đó yếu tố vui chơi giải trí nổi bật so với yếu tố tâm linh Cũng theo những ý kiến này, việc để “hội lễ” là nhằm nhấn mạnh ý nghĩa tích
® Nguyễn Duy Quý: “Bài phát biểu khai mạc hội thảo”, in trong: “LỄ hội truyền thống trong đời sống xã
hội hiện đại” (GS Định Gia Khánh và GS Lê Hữu Tầng chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
1994, 15
Trang 36cực của các cuộc vui chơi, sinh hoạt tập thể, giảm bớt các tiêu cực mà sự thực
hành lễ đã gây ra
Một số ý kiến cho rằng, nên gọi là “lễ hội”, bởi trình tự tiến hành một cuộc lễ hội là “lễ” rồi mới đến “hội” (thậm chí họ còn dẫn chứng một số lễ hội chỉ có tế lễ mà không có hội) Mặt khác, việc gọi lễ hội là muốn đề cao không
khí linh thiêng mà ngoài lễ hội không có một cuộc sinh hoạt cộng đồng nào có
thể có được
Ý kiến khác cho rằng, ngày nay, khi mà khoa học kỹ thuật đã phát
triển thì “lễ” chẳng có lý do gì để tồn tại, nên chỉ cần gọi là “hội”, mọi người
có thể hiểu ngay đó là một cuộc sinh hoạt tập trung của một cộng đồng Thực
ra, ý kiến này cũng nhằm giảm bớt tính tiêu cực mà thực hành lễ đã gây ra
Theo chúng tôi, nên gọi lễ hội truyền thống nói chung và lễ hội truyền thống các dân tộc vùng Tây Bắc nói riêng là “lễ hội” chứ không gọi là “hội
lễ” Bởi, cốt lõi của các lễ hội truyền thống chính là việc thực hành các nghi lễ thờ cúng (mặc đù như đã nói ở trên, lễ hội là một thể thống nhất, không thể
chia tách) Lễ là phần mang đậm nét tín ngưỡng, phần sâu lắng nhất của con
người (thế giới tâm linh), là phần đạo Còn hội là phần tập hợp vui chơi giải
trí, là đời sống văn hóa thường ngày, phần đời của mỗi con người, mỗi cộng đồng Hội tuy gắn liền với lễ, song lại chịu sự quy định nhất định của lễ Có lễ mới có hội Cũng cần phải nói thêm rằng, việc gọi “lễ hội” là hoàn toàn không
có ý để cao phần lễ (hay giải thích, biện hộ cho các tiêu cực phát sinh trong
hành lễ), xem nhẹ phần hội Vì nếu chỉ có những nghi thức lễ thuần túy thì sự biểu hiện giá trị của cuộc lễ đối với các thành viên tham dự sẽ bị đừng lại ở
một ranh giới hiệu quả nhất định Vì chính hội là bước hoàn tất sự khách thể
hóa, trần tục hóa của lễ “Lễ là tổng thể nghỉ thức thể chế hóa trật tự, gắn liền với sự tích và quyền năng của thần, diễn đạt mối quan hệ Người/Thần Hội
là đời thường, diễn ra bên ngoài thần điện, xung quanh thần điện hay mở rộng đến toàn bộ lãnh thổ cộng đồng đến từng gia đình, diễn ra trong thời gian lễ
tiến hành sau đó Hội có trước lễ vì đời thường có trước đời thiêng Không
nhất thiết có hội là có lễ và ngược lại Nhưng một khi lễ và hội đã kết hợp
Trang 37thành lễ hội thì giữa lễ và hội có mối quan hệ nhất định tuy khác biệt mà vẫn
là cơ bản Hội cơ bản là đời, lễ vẫn cơ bản là thiêng”U), Với tinh thần ấy, cả
phần lễ và phân hội, cả đạo và đời đều “là một cuộc vui lớn của cộng đồng
nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí, tín ngưỡng, thi thố tài năng, biểu dương sức mạnh, tái hiện cuộc sống trong trường kỳ lịch sử Nó là một loại hình tổng hợp bao gồm nhiều yếu tố văn hóa luôn luôn tương tác lẫn nhau”),
2 Phân loại lễ hội
Cho đến nay, việc phân loại lễ hội ở nước ta còn có nhiều ý kiến khác
nhau tuỳ thuộc vào các chuyên ngành khoa học khác nhau như sử học, dân tộc học, văn hóa học, xã hội học, tôn giáo học Do vậy, việc phân loại lễ hội rất cần thiết trong qúa trình tìm hiểu và nghiên cứu lễ hội Theo một số nhà
nghiên cứu, lễ hội truyền thống có hai loại chính như sau®:
* LỄ hội liên quan đến tín ngưỡng cầu mùa:
Đây là loại lễ hội phổ biến ở tất cả các dân tộc Tuy ở mỗi địa phương, mỗi dân tộc có những nghỉ thức, nghi lễ khác nhau nhưng đều cùng chung
một nội dung cầu mùa Những nội dung đó được thể hiện một cách sinh động
+ Lễ thức cầu đảo: cầu mưa, cầu tạnh, mưa thuận gió hòa, sóng yên
biển lặng (rước, cúng tứ pháp, lễ cầu mưa ở các dân tộc, thờ cá Ông )
+ Lễ thức biểu đương, dâng cúng các thành phẩm nông nghiệp (rước
lợn, xôi, lễ cơm mới)
+ Lễ rước thờ cúng hồn lúa (còn phể biến ở nhiều dân tộc)
“Nguyễn Duy Hinh: “Đôi điều suy nghĩ lý luận về lễ hột”, rong: “LỄ hội truyền thông trong đời sống xã hội hiện
dai” (GS Đình Gia Khánh và GS Lễ Hữu Tảng chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994, tr 228 - 229
'*'Lê Văn Kỳ: “Mối quan hệ giữ truyền thuyết người Việt và hội lễ về các anh hùng”, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, 1997, tr 38
'* Hoàng Lương: “Lễ hội truyền thống của các dân tộc Việt Nam khu vực phía Bắc”, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, tr 25 - 28
Trang 38+ Lễ hội trình nghề (liên quan đến tổ sư nghề như nghề đệt, nghề đúc đồng, nghề chạm bạc, nghề mộc )
+ Lễ hội thi tài và các trò bách hí (thi nấu cơm, thi bat dé, bat vit, vat
VÕ, CỜ người )
+ Lễ thức tín ngưỡng phồn thực nhằm biểu dương, kết hợp âm dương
cho con người và sự vật sinh sôi phát triển (rước nõ nường, hội cướp kén, thi bắt chạch trong chum, hội chơi hang, hội tung còn )
+ Lễ thức hát giao duyên (hát xoan, hát quan họ, hát giặm )
* Lễ hội liên quan đến việc tưởng niệm công lao các vị danh nhân văn
hóa, anh hùng lịch sử và chư vị Thánh, chư vị Phật
Loại lễ hội này đều thờ cúng, diễn tích liên quan đến các vị nhiên thần
và nhân thần đã có công khai sơn phá thạch, xây dựng, gìn giữ, bảo vệ xóm
làng, đất nước và chư vị Thánh, chư vị Phật có công khai minh, giúp dân diét
ác trừ tà, bảo vệ cái thiện Điều đáng lưu ý là ở vùng dân tộc thiểu số và ,
miền núi chủ yếu thờ cúng các nhiên thần, còn ở đồng bằng chủ yếu thờ cúng
các nhân thần
+ Các lễ thức thờ cúng thể địa, thần rừng, thần sông nước (ở miền núi),
thờ thần cây đa, bến nước như Sơn Thần, Giang Thần, Đông Hải Đại Vương (ở miền xuôi)
+ Lễ rước các vị danh nhân văn hóa, anh hùng lịch sử như Tản Viên Sơn Thánh, Vua Hùng, Thánh Gióng
+ Lễ hội thờ và diễn lại tích liên quan đến các vị anh hùng có công với
nước như Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung
Qua các lễ thức trên đây đã thể hiện rõ đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của nhân dân các dân tộc ở nước ta Đồng thời, qua những nghi lễ tưởng niệm long trọng và trang nghiêm đó cũng đã bộc lộ những khát vọng, những mong
muốn tốt lành và thông qua đó củng cố khối đoàn kết cộng đồng của các dân
tộc Cho đù trong qúa trình tồn tại và phát triển, các lễ hội đó không tránh
khỏi sự đan xen, nhưng nhìn chung các lễ hội ở nước ta vẫn giữ được những giá trị truyền thống, đậm đà bản sắc dân tộc
Trang 39Tuy nghi thức, nghỉ lễ của hai loại lễ hội trên đây diễn ra có thể khác
nhau ở từng nơi, từng dân tộc, nhưng dù ở góc độ nào, nội dung chính của các
lễ hội đó vẫn mang ý nghĩa cầu mùa, người an vật thịnh, uống nước nhớ nguồn
Đó là nội dung cơ bản nhất của lễ hội các dân tộc Đó chính là khát vọng, là đạo
lý, là ước mong ngàn đời của nhân dân ta Với ước mong đó, lễ hội mãi mãi vẫn
là nơi gửi gắm niềm tin và hy vọng của con người, nhất là khi cuộc sống gặp
nhiều khó khăn, trình độ khoa học kỹ thuật còn thấp và sự lệ thuộc vào ưu đãi của thiên nhiên còn lớn trong đời sống con người Trong một chừng mực nhất
định, lễ hội vẫn là chỗ dựa tỉnh thần và là sức mạnh để nhân dân ta vươn tới cái
Chân, Thiện, Mỹ
II NHỮN LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG GHỦ YẾU CỦA NGƯỜI THÁI Ứ TÂY BẮC
1 Xên mường, Xên bản
Bản mường là một thể thống nhất có nhiều linh hồn và một linh hồn
chủ Linh hồn “bản mường” gồm tất cả các linh hồn của mọi thành viên trong một đơn vị cư trú “bản” hay “mường” Hồn chủ là hồn của người được “bản
mường” chọn áo để cúng Người Thái gọi đó là “chấu xửa” (chủ áo hay chủ
hồn) Theo quan niệm của người Thái, mường cũng phải có cột Cột mường
gọi “lắc mương” “Cột mường” hay người đứng đầu mường là tượng trưng cho
Theo khảo sát của GS Đặng Nghiêm Vạn, ở vùng Sơn La, mỗi khi
chúa đất mới lên cầm quyền, có tục lệ dựng cột mường (lắc mường) Cột
mường, phần nhô lên mặt đất thực ra chỉ là phần cơ bản của chiếc nhà sàn
tượng trưng cho toàn mường, được dựng lên ở giữa chiểng, nơi trung tâm một
mường, ỡ một chỗ linh thiêng nhất Cả chiếc nhà sàn lấp ở dưới đất Mái nhà sàn được quan niệm là phên che toàn bộ mường, được gọi là pha nguôm
muong (phên úp mường) Nên nhà ở phía dưới là phên đỡ mường được gọi là
pha hồng mương Toàn bộ chiếc nhà sàn tượng trưng này được nối vào chiếc
móc gọi là móc mương treo ở nhà Me Bầu trên trời bằng một sợi dây đó Nếu mà hồn chúa vì một lẽ gì đó giật mình, hoảng sợ hoặc do một cái nhìn ác ý, một lời
hăm doa, chửi rủa, đù thầm kín (vì hồn vẫn bị động chạm), móc mường không
Trang 40vững, dây mường rung, cột mường sẽ lung lay, chúa đất sẽ ốm đau, quyền uy chúa sẽ ngả nghiêng và toàn đân trong mường cũng bị nạn không yên, nếu không mùa màng thất thiệt, bệnh tật hoành hành thì cũng giặc giã, loạn lạc
GS Đặng Nghiêm Vạn cho rằng: việc đựng cột mường - xưa kia là cột
đá của thời cự thạch, sau này là cột đồng, gần đây là cột gỗ - là một hiện
tượng văn hóa phổ biến ở các nước Đông Nam Á lục địa“ Tuy nhiên, cũng có
ý kiến khác cho rằng cổ xưa hơn cả lại là cột gỗ, chứ không phải cột đá hay cột đồng?),
Để tượng trưng cho cái “minh, nén” của mường, người Thái thường chọn một quả núi ở đầu hoặc ở trước mặt của mường trung tâm làm cái gọi là
“pom minh mướng” hoặc “pom nén mướng” Hồn chủ mường tượng trưng cho
hồn mường tồn tại trong “pom minh mướng” Bởi vậy khi người đứng đầu
mường chết, cái vò đựng tro và xương còn sót sau khi thiêu, được bí mật đem
chôn ở chỗ đó Sỡ đĩ phải bí mật vì sợ kẻ địch tìm được sẽ đem hoà thuốc súng
bắn lại quý tộc thống trị của mường hoặc đem làm điều lăng nhục
Như vậy từ khái niệm cho rằng, người sống bởi nhiều linh hồn, trong
đó có một linh hồn chủ được gọi là linh hồn của người và vật mà phát triển ra thành khái niệm linh hồn của một nhà, của một “bản”, rồi cả một “mường”
(trong đó kể cả châu mường) Nhiều nhà hợp thành “bản” trong đó có một linh
hồn chủ là “chấu xửa” Cũng tương tự như người cha sinh ra đàn con, cháu, người có công lập “bản” đầu tiên phải là “người cha” của bản “Hồn chủ” với
ý nghĩa là người đứng đầu bản đã ra đời Với châu mường cũng vậy, hồn chủ
đương nhiên được cụ thể hoá thành hồn của người đứng đầu “mường” thuộc mot dong quý tộc gốc của một địa phương nhất định lấy người đầu mường làm
chủ hồn, gọi là “tạo chấu xửa”
Thành phân của “phi bản, phi mường” không phải chỉ có hồn và
“minh, nén” mà nó còn bao gồm cả “thế giới của linh hồn bất biến” Khi các
®? Đặng Nghiêm Vạn: “Dán tộc Văn hóa Tôn Giáo”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001, tr 476 - 478
®! Phan Hữu Dật: “Cáy chủ đồng trong thần thoại Mường và tôiem cây trong tín ngưỡng của một số dân tộc ở nước ta”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 4 - 2005, tr 42