1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng năng lực , chăm sóc và giáo dục trẻ em của cha mẹ, ông bad trong các gia đình nông thôn hiện nay

22 818 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 455,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để góp phần tìm ra những giải pháp trong việc xây dựng mô hình nâng cao năng lực của các gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, chúng ta cần tìm hiểu thực trạng kiến th

Trang 1

Bộ văn hóa-thể thao và du lịch

Vụ gia đình

báo cáo tổng kết chuyên đề nghiên cứu:

thực trạng kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc

và giáo dục trẻ em của cha mẹ, ông bà

trong các gia đình nông thôn hiện nay

Thực hiện chuyên đề: lê đỗ ngọc

Thuộc đề tài KH&CN cấp bộ:

“đánh giá thực trạng năng lực chăm sóc, giáo dục

trẻ em của các gia đình khu vực nông thôn phía bắc”

Chủ nhiệm đề tài: ngô thị ngọc anh

7145-3

24/02/2009

Hà nội - 2008

Trang 2

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VỤ GIA ĐÌNH

Chuyên đề:

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, KỸ NĂNG

BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM CỦA

CHA MẸ, ÔNG BÀ TRONG CÁC GIA ĐÌNH

NÔNG THÔN HIỆN NAY

Lê Đỗ Ngọc

Hà Nội, tháng 2 năm 2008

Trang 3

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, KỸ NĂNG BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM CỦA CHA MẸ, ÔNG BÀ TRONG GIA ĐÌNH

NÔNG THÔN

I Đặt vấn đề:

Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một quá trình liên tục, đòi hỏi những kiến thức và kỹ năng chuyên biệt, phù hợp với tính chất của môi trường gia đình cũng như biến đổi theo từng giai đoạn phát triển của trẻ Hoạt động này phụ thuộc vào năng lực của cha mẹ đặc biệt là kiến thức, kỹ năng, bên cạnh đó là yếu tố tình cảm, trách nhiệm và kinh nghiệm của cha mẹ Nếu như trước đây, việc chăm sóc và giáo dục trẻ phụ thuộc nhiều vào yếu tố kinh nghiệm, phong tục tập quán thì nay, hoạt động này còn chịu sự chi phối của nhiều yếu tố như hoàn cảnh sống, trình độ học vấn của cha mẹ, môi trường xã hội Do vậy, cụm từ “học làm cha mẹ” không còn là một điều mới mẻ trong mỗi gia đình Đây là một quá trình tự giác nhưng cũng đòi hỏi sự tác động từ phía xã hội trong việc tạo điều kiện cho việc nâng cao kiến thức, kỹ năng của các gia đình Bởi chính những giá trị mà gia đình cung cấp cho trẻ sẽ quyết định phần lớn tới nhân cách cũng như sự gia nhập, đóng góp của trẻ sau này vào xã hội

Để góp phần tìm ra những giải pháp trong việc xây dựng mô hình nâng cao năng lực của các gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, chúng ta cần tìm hiểu thực trạng kiến thức, kỹ năng của các gia đình đối với hoạt động này cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến nó

II Thực trạng kiến thức của các gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

1 Hiểu biết về luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của các gia đình:

Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự phát triển toàn diện của trẻ

em, bởi vậy nhiều bộ luật của Nhà nước đã được ban hành nhằm bảo vệ các quyền lợi của trẻ em, trong đó có Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (Luật BV, CS &GD TE) ban hành ngày 12/8/1991 và được Quốc hội sửa đổi

Trang 4

thông qua ngày 15/6/2004 Có thể nói, đây là một trong những văn bản pháp luật quan trọng, có ý nghĩa to lớn trong việc đảm bảo quyền lợi của trẻ em cũng như quy định rõ vai trò và trách nhiệm của gia đình, cộng đồng và xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Chính vì thế, việc cha mẹ tiếp cận và nắm bắt những thông tin trong Luật BV, CS &GD TE là rất quan trọng

Qua các số liệu của các điều tra, khảo sát, đề tài nghiên cứu, có thể thấy

đa số các bậc cha mẹ đều đã biết đến luật Bảo vệ, Chăm sóc và giáo dục trẻ

em Tuy nhiên, đa số, họ chỉ hiểu và quan tâm tới những điều luật cụ thể, liên quan tới cuộc sống gia đình còn hiểu sâu, hiểu đúng luật thì còn là một thách thức

Trong khảo sát nhằm thực hiện đề tài “Gia đình và cộng đồng với sự nghiệp bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em” được Uỷ ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em Việt Nam tiến hành năm 2000, số liệu thu được từ nhóm gia đình cho thấy có 80.6% số người được hỏi biết tới Luật BV, CS và GDTE Nhưng 38.2% chỉ mới biết luật này cách đây 2 – 3 năm, 16.4% biết cách đây 4 – 5 năm; 18.2% biết cách đây 6 – 9 năm; 14.9% biết cách đây 1 năm và 5.1% số người được hỏi vẫn trả lời không biết về sự có mặt của luật này

Luật BV, CS &GD TE năm ban hành năm 1991 (sửa đổi năm 2004) qui định rất rõ trách nhiệm của các chủ thể là gia đình, Nhà nước, xã hội trong việc bảo đảm các quyền của trẻ em Đối với chủ thể là gia đình thì trách nhiệm này được thể hiện ở vai trò của cha, mẹ hoặc người đỡ đầu phải hoàn thành việc thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em ngay trong gia đình của mình

Bên cạnh biết đến Luật, việc nắm rõ những quy định trách nhiệm của cha mẹ và gia đình trong việc chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em cũng cần được tìm hiểu bởi điều này sẽ giúp cha mẹ biết và thực hành những trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đúng theo luật Kết quả khảo sát 121 cha mẹ ở khu vực ngoại thành Hà Nội cho thấy trong số 121 cha mẹ đã biết đến Luật

BV, CS & GD TE thì có tới 90,1% cha mẹ hiểu rằng mình là đối tượng trước

Trang 5

tiên chịu trách nhiệm về mặt pháp lý trước Nhà nước trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em Những nội dung cơ bản khác trong Luật BV, CS & GD

TE cũng được cha mẹ nắm bắt rõ như: Cha mẹ cần phải dành điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ (93,4%); Cha mẹ có trách nhiệm bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em (77,7%); Cha mẹ phải thực hiện các biện pháp phòng ngừa tai nạn cho trẻ em, tạo môi trường lành mạnh cho sự phát triển toàn diện của trẻ (78,5%); Cha mẹ có trách nhiệm tạo điều kiện, giúp đỡ trẻ em được tiếp cận thông tin phù hợp, được phát triển sáng tạo

và bày tỏ nguyện vọng của mình (71,1%); Cha mẹ phải gương mẫu về mọi mặt để trẻ em noi theo (89,3%)

Cũng nhằm để tìm hiểu về nhận thức của gia đình đối với các văn bản pháp luật liên quan đến bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, hai tác giả Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý cho thấy trình độ nhận thức về pháp luật cũng như các chủ trương chính sách của các gia đình còn nhiều hạn chế Chỉ có một khoảng 50% số gia đình được hỏi nói rằng họ đã biết khá rõ về luật Hôn nhân và gia đình Số người biết không đầy đủ chiếm tới 47.4%, hoàn toàn không biết gì là 2.5% Đối với luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì, chỉ có 40.5% số người có hiểu biết đầy đủ về luật này, 27.1% với Công ước quốc tế về quyền trẻ em và 21.8& với Chương trình hành động quốc gia về quyền trẻ em

Tuy nhiên, từ việc hiểu luật đến việc áp dụng luật vào đời sống vẫn là một khoảng cách dù Nhà nước đã áp dụng nhiều biện pháp nhằm thu hẹp dần khoảng cách này Một trong những cản trở là trình độ dân trí cũng như hiểu biết và thực hành luật pháp của người dân còn thấp Bên cạnh đó là rào cản của những quan niệm như “Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”,

“Cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư” hiện nay đã ảnh hưởng tới thực trạng bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em Hiện tượng trẻ

bị ngược đãi trong gia đình hoặc bị người khác ngược đãi nhưng cha mẹ không biết hoặc lại đồng tình với những hành động đó vẫn xảy ra (vụ bảo mẫu Quảng Thị Kim Hoa hành hạ các em ở nơi trông trẻ của mình, có cha mẹ

Trang 6

gửi trẻ đã đồng tình với việc đánh trẻ vì trẻ không chịu ăn!) Đây là những biểu hiện của việc thiếu hiểu biết về luật pháp trong lĩnh vực bảo vệ, chăm

sóc và giáo dục trẻ em

Sự thiếu hiểu biết này là một trong những nguyên nhân dẫn tới hiện tưởng trẻ em không được chăm sóc đầy đủ, trẻ em lang thang, bị lạm dụng, bị bóc lột sức lao động, bóc lột tình dục hoặc sa vào các tệ nạn xã hội như nghiện hút, mại dâm Sự thiếu hiểu biết của các gia đình cũng chính là nguyên nhân gây trở ngại cho việc can thiệp của chính quyền, cộng đồng đối với gia đình, buộc gia đình phải thực hiện trách nhiệm của mình

2 Kiến thức và kỹ năng chăm sóc, giáo dục trẻ em của các gia đình:

2.1 Kiến thức và kỹ năng chăm sóc sức khỏe trẻ em của các gia đình:

Theo quan điểm khoa học hiện nay, việc chăm sóc sức khoẻ trẻ em cần được tiến hành ngay từ khi trẻ còn nằm trong bụng mẹ Do vậy, việc theo dõi

và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ khi mang thai có yếu tố quyết định tới sự phát triển của trẻ sau này Qua các cuộc điều tra khảo sát cho thấy, tỷ lệ các bà mẹ

đi khám thai hiện nay khá cao và đây cũng là những tín hiệu đáng mừng, thể hiện sự quan tâm tới việc chăm sóc sức khoẻ trẻ em trong các gia đình

Quan niệm về sự khoẻ mạnh đối với trẻ em cũng là một chỉ báo đánh giá kiến thức của gia đình với việc chăm sóc trẻ Theo một nghiên cứu về quan niệm về trẻ khoẻ mạnh thì 35% cha mẹ cho rằng trẻ có đời sống thể chất

và tinh thần bình thường; 16.7% chọn có đời sống thể chất và tinh thần bình thường; 32.5% chọn có sức khoẻ đáp ứng đòi hỏi của hoạt động lao động học tập, nhận thức; 15.8% gần như không ốm đau

Việc chăm sóc sức khỏe thể chất cho trẻ em được thể hiện ở khía cạnh dinh dưỡng, đảm bảo đầy đủ số lượng và chất lượng dinh dưỡng cho trẻ Qua khảo sát tại 203 hộ gia đình thuộc đề tài "Thực trạng sức khỏe, học tập, vui chơi, giải trí của trẻ em và việc bảo vệ các quyền lợi đó của gia đình cũng như cộng đồng do Ts Vũ Hào Quang làm chủ nhiệm cho thấy đa số các gia đình thường đảm bảo cho trẻ ăn 3 bữa một ngày (chiếm tỷ lệ 83,3%) Tỷ lệ cha mẹ cho con ăn nhiều hoặc ít bữa ăn hơn chiếm không nhiều Về thành phần dinh

Trang 7

dưỡng, trẻ thường được chú ý cho ăn nhiều thịt, trứng, tôm cá vốn là những thực phẩm giàu protein và canxin cần thiết cho sự tăng trưởng của trẻ (95,2%); tiếp theo là đậu, đỗ, củ, quả (69,0%) và chất đường là 42,7%

Trong hội nghị tổng kết đánh giá các hoạt động dinh dưỡng năm 2007

do Bộ Y tế và Viện Dinh dưỡng quốc gia tổ chức vào đầu năm nay, có báo

cáo cho thấy “tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi trên cả nước suy dinh dưỡng đã giảm

từ 23,4% (năm 2006) xuống còn 21,2%.” Nói cách khác, cứ 5 trẻ em ở nước

ta thì có 1 em suy dinh dưỡng, và đó là một vấn đề y tế công cộng rất lớn

Thật ra, con số 1/5 có lẽ còn thấp so với thực tế Theo báo cáo của UNICEF (Quĩ nhi đồng của Liên hiệp quốc), trên thế giới ngày nay có khoảng 146 triệu trẻ em dưới 5 tuổi được xem là thiếu cân (underweight, một chỉ tiêu chính của định nghĩa “suy dinh dưỡng”), phần lớn tập trung ở châu Á, châu Phi và châu

Mĩ Latin Trong số này có khoảng 2 triệu em từ Việt Nam Theo thống kê,

số trẻ em dưới 5 tuổi ở nước ta hiện nay khoảng 5,65 triệu (chiếm 6.71% dân

số toàn quốc), cho nên con số 2 triệu em thiếu cân cũng có nghĩa là cứ 3 em thì có 1 em thiếu cân

Thật vậy, trong một nghiên cứu về tình trạng suy dinh dưỡng trong cộng đồng ở Đồng Nai, các nhà nghiên cứu ước tính trong số trẻ em dưới 5 tuổi, có đến 31% ở trong tình trạng suy dinh dưỡng [1] Do đó, có thể nói rằng, dù tỉ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em có xu hướng giảm, nhưng vẫn còn khoảng 1 phần 3 trẻ em mà cơ thể ở trong tình trạng kém phát triển Con số này đặt nước ta vào số 36 nước trên thế giới có tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng cao nhất thế giới

Ngoài các nguyên nhân sinh học và lâm sàng, đứng trên quan điểm của

y tế cộng đồng, nguyên nhân chính của suy dinh dưỡng như tên gọi rất chính xác là thiếu ăn Thiếu ăn là do nghèo và hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn Trong khi nền kinh tế nước ta phát triển nhanh, một bộ phận dân

số nhất là những người sống trong vùng nông thôn hay vùng xa vẫn chưa

Trang 8

đủ ăn (và chưa đủ mặc) Theo kết quả nghiên cứu ở Đồng Nai vừa đề cập trên, phần lớn (76%) trẻ em suy dinh dưỡng là những em có cha mẹ là nông dân hay làm thuê Gia đình càng có nhiều con, tỉ lệ suy dinh dưỡng càng cao

Ngược lại tại các thành phố lớn, trẻ em đang có xu hướng mắc bệnh béo phì bởi trẻ em Việt Nam tại các khu vực thành thị, thiếu các hoạt động về thể lực Còn tại khu vực ngoại thành và nông thôn, thì khẩu phần ăn không cung cấp đủ năng lượng cần thiết hàng ngày cho trẻ

Đó là kết quả nghiên cứu từ Viện Dinh Dưỡng Quốc Gia Việt Nam với

sự phối hợp của công ty Nestlé Việt Nam, trong 6 tháng đầu năm 2007 Viện Dinh dưỡng quốc gia đã tiến hành nghiên cúu tình trạng dinh dưỡng và họat động thể lực, cùng các yếu tố liên quan tới sự tăng trưởng của trẻ em trên 1.669 học sinh tiểu học, trong lứa tuổi từ 6 đến 11 tuổi, thuộc 2 thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh

Nghiên cứu này dựa vào thành phần trẻ em ở 2 khu vực thành thị và khu vực nông thôn – ngoại thành Tại khu vực thành thị, đa số các trẻ em dành thời gian rảnh rỗi cho các họat động trong nhà như xem tivi, chơi game, đọc sách…, nhưng có rất ít trẻ có các họat động về thể lực Dựa trên khảo sát thì có đến gần 100% trẻ nội thành mê tivi, games…

Nghiên cứu này còn cho thấy trẻ nội thành có những thói quen ăn uống không hợp lý (fast food, bánh snack, uống nước ngọt có gas…), đã gây ra tình trạng trẻ béo phì đang có xu hướng ngày một tăng cao tại khu vực thành thị, nhất là trẻ em nam

Một trong những yếu tố dẫn đến béo phì ở trẻ nội thành là từ lượng đường được tiêu thụ rất cao, nhưng không đem lại một phần năng lượng hữu ích nào Trong đó, hiện trẻ nội thành ở thành phố Hồ Chí Minh, có tỷ lệ thừa cân - béo phì cao gấp nhiều lần so với trẻ ở Hà Nội

Qua các chỉ số của cuộc nghiên cứu cũng cho thấy, trẻ nội thành có chiều cao cũng như chỉ số trọng lượng đều hơn từ gấp đôi đến gấp 3 lần trẻ

Trang 9

ngoại thành Trong khi đó, tại khu vực ngoại thành hay các vùng nông thôn,

tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng vẫn là một thách thức lớn cần phải được cải thiện Hàm lượng dinh dưỡng đưa vào cơ thể trẻ ngọai thành ít hơn hẳn so với trẻ nội thành

Nghiên cứu đã đưa ra chế độ về ăn uống cũng như họat động thể lực dành cho trẻ như sau: trẻ cần ít nhất 60 phút/ngày, để tham gia vào các họat động thể lực từ mức độ trung bình đến nặng (bơi lội, bóng rổ, bóng bàn ) Hạn chế tối đa việc chơi games, xem tivi (chỉ xem từ 30 phút đến 1 giờ/ngày)…

Về khẩu phần ăn, cần cung cấp năng lượng theo chuẩn từng ngày, để trẻ có thể tăng trưởng tốt Qua nghiên cứu, trẻ ngoại thành có lượng tiêu thụ các loại đậu, hạt cao gấp 3 lần lượng đậu, hạt trẻ nội thành tiêu thụ Các loại đậu, hạt này do có hàm lượng Vitamin B cao nên giúp cho việc chuyển hóa năng lượng tốt, tránh dẫn đến béo phì

Như vậy, có thể thấy rằng việc chăm sóc sức khỏe cho trẻ em Việt Nam trong các gia đình còn có nhiều điểm bất hợp lý Tại các gia đình có điều kiện, chế độ ăn của trẻ quá nhiều chất đạm, ít chất xơ hay việc lạm dụng đồ ăn nhanh, ăn sẵn cộng với việc ít vận động đã dẫn tới tình trạng béo phì Trong khi đó, trong các gia đình nông thôn hay gia đình nghèo, gánh nặng kinh tế dẫn tới việc thiếu thốn điều kiện lo lắng bữa ăn đầy đủ cho trẻ

Theo đề tài nghiên cứu do Ts Vũ Hào Quang tiến hành nói trên, cách thức chăm sóc sức khỏe thể chất được cha mẹ cho là tốt nhất với con cái là cho con ăn đầy đủ chất dinh dưỡng (71,4%) Tuy nhiên, vẫn có những người quan niệm rằng cần cho con cái ăn thật nhiều thì mới đảm bảo sức khỏe (8,9%) Chỉ có một số ít cha mẹ quan tâm đến việc khuyến khích con cái tham gia vào hoạt động thể dục thể thao (7,9%) và quan tâm, theo dõi định hướng cho trẻ trong các sinh hoạt ăn, ngủ và học tập vui chơi trong khi đó kỹ năng chăm sóc sức khỏe toàn diện cho trẻ phải là sự kết hợp toàn diện giữa việc đảm bảo chế độ dinh dưỡng và rèn luyện sức khỏe

Trang 10

Phần lớn cha mẹ trong 203 hộ gia đình được khảo sát đã biết đến các chương trình y tế cộng đồng liên quan đến việc chăm sóc sức khỏe trẻ em, cụ thể 83,0% biết tới chương trình y tế và sức khỏe cộng đồng; 94,0% biết tới chương trình tiêm chủng cho trẻ em; 82,2% biết tới chương trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh; 70,8% biết chương trình phòng chống tiêu chảy ở trẻ em; 85,1% biết chương trình muối iốt chống bướu cổ; 87,3% biết chương trình HIV/AIDS; 92,0% biết chương trình kế hoạch hóa gia đình; 61,0% biết chương trình chống các bệnh lao, phong

Trong các chương trình đó thì chương trình tiêm chủng phòng ngừa bệnh tật, bảo vệ sức khỏe của trẻ em được các gia đình thực hiện rất tốt, thể hiện ở việc đa số cha mẹ (93,1%) đã đưa con đi tiêm phòng đầy đủ, 4,4% thực hiện khá đầy đủ, 0,5% thực hiện chưa đầy đủ và chỉ còn 4,0% cha mẹ chưa đưa con đi tiêm chủng1

Những số liệu trên thể hiện các gia đình đã có ý thức cao trong việc chủ động phòng ngừa những bệnh dễ gặp phải ở trẻ, đảm bảo sức khỏe ổn định, lâu dài cho trẻ

Cùng với việc đề cao ý thức phòng ngừa bệnh tật cho trẻ em, các bậc cha mẹ cũng thể hiện trách nhiệm cao trong việc chăm sóc, chữa trị cho con cái khi con cái bị ốm đau, bệnh tật Kết quả thu được từ thực tế cho thấy: đại

đa số các bậc cha mẹ (96,9%) đã có biện pháp chữa trị kịp thời cho trẻ em khi trẻ mắc bệnh Tuy nhiên, vẫn còn một số ít gia đình (3,1%) không chữa trị khi con họ mắc bệnh mà để tự khỏi2 Tuy tỷ lệ các gia đình này chiếm không nhiều song nó cũng thể hiện sự chủ quan của gia đình trong việc bảo vệ sức khỏe của trẻ

Biện pháp chủ yếu mà phần lớn cha mẹ lựa chọn đó là đưa con tới các

cơ sở y tế của nhà nước để chữa trị (78,0% đến bệnh viện tuyến huyện, tỉnh, thành phố; 68,6% đến trạm xá xã, phường) Chỉ có 19,2% cha mẹ trả lời đã đưa con đến dịch vụ y tế tư nhân và 5,7% đến nhà thầy lang để chữa trị Điều

1

§Ò tµi nh¸nh 3, tr 77

Trang 11

này phản ánh rõ ưu thế của các cơ sở y tế nhà nước so với các cơ sở y tế tư nhân

Khoảng 43,7% cha mẹ đã tự chữa trị bệnh cho trẻ em tại gia đình Khi trẻ mắc các bệnh thông thường (như đau đầu, hắt hơi, sổ mũi, viêm họng,…)

và ở mức độ nhẹ thì cha mẹ thường dùng các bài thuốc dân gian hoặc tự mua thuốc về chăm sóc cho trẻ ngay tại gia đình

Ngoài ra, vẫn còn khoảng 2,1% số người được hỏi dùng biện pháp cúng

lễ khi con họ mắc bệnh Đây chủ yếu là những cha mẹ có trình độ học vấn thấp nên nhận thức về việc chăm sóc trẻ khi ốm đau còn hạn chế, họ vẫn còn tin vào những điều mê tín, dị đoan

Nhìn chung, việc chăm sóc sức khỏe thể chất của trẻ em được các gia đình nông thôn thực hiện khá tốt thông qua việc chăm sóc về mặt dinh dưỡng cũng như quan tâm phòng ngừa, chữa trị bệnh tật cho trẻ Tuy nhiên, bên cạnh

đó cũng có một số hạn chế đó là các bậc cha mẹ nông thôn hiện nay mới chỉ quan tâm đến việc đảm bảo các chất dinh dưỡng cho trẻ mà chưa quan tâm nhiều đến việc thực hiện chế độ ăn uống của trẻ theo nề nếp sinh hoạt hợp lý, điều độ và khoa học Mặt khác, vai trò chăm sóc trẻ của người mẹ nổi bật hơn

so với vai trò của các thành viên khác trong gia đình Trên thực tế việc chăm sóc trẻ em đòi hỏi sự quan tâm và chia sẻ trách nhiệm của mọi thành viên trong gia đình

2.1.2 Chăm sóc sức khỏe tinh thần:

Như đã nói, sức khỏe không chỉ đơn thuần là khỏe về thể chất mà còn khỏe về tinh thần Thông thường sức khỏe về thể chất dễ dàng nhìn thấy được, trong khi sức khỏe về tinh thần không dễ nhận ra hoặc ít được lưu ý Chính vì thế, chăm sóc sức khỏe tinh thần của trẻ em cũng là vấn đề cần được gia đình đặc biệt quan tâm

Hầu hết các bậc cha mẹ nông thôn hiện nay chưa quan tâm nhiều đến đời sống tinh thần của trẻ em, cụ thể họ dành quá ít thời gian để vui chơi với trẻ Khi được hỏi ”Người thân trong gia đình dành thời gian trong một ngày

Ngày đăng: 14/05/2014, 08:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w