1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các giải pháp để xây dựng mô hình nâng cao kiến thức, kỹ năng bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em tại gia đình

30 982 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Giải Pháp Để Xây Dựng Mô Hình Nâng Cao Kiến Thức, Kỹ Năng Bảo Vệ, Chăm Sóc Và Giáo Dục Trẻ Em Tại Gia Đình
Người hướng dẫn ThS. Hoa Hữu Võn
Trường học Học viện Báo chí Và Tuyên truyền
Chuyên ngành Giáo dục trẻ em, Gia đình
Thể loại Báo cáo chuyên đề
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 515,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, các trung tâm bảo trợ, trung tâm nuôi dạy trẻ mồ côi sẽ chủ động thực hiện công tác bảo trợ cho các em thông qua hình thức nuôi ngoại trú, chương trình đỡ đầu, vận động các gia

Trang 1

Bộ văn hóa-thể thao và du lịch

Vụ gia đình

báo cáo tổng kết chuyên đề nghiên cứu:

đề xuất các giải pháp để xây dựng mô hình nâng cao kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc

và giáo dục trẻ em tại gia đình

Thực hiện chuyên đề: ThS Hoa hữu vân

Thuộc đề tài KH&CN cấp bộ:

“đánh giá thực trạng năng lực chăm sóc, giáo dục

trẻ em của các gia đình khu vực nông thôn phía bắc”

Chủ nhiệm đề tài: ngô thị ngọc anh

7145-4

24/02/2009

Hà nội - 2008

Trang 2

Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch

Vụ Gia đình

Chuyờn đề:

ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ XÂY DỰNG

Mễ HèNH NÂNG CAO KIẾN THỨC, KỸ NĂNG

BẢO VỆ, CHĂM SểC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM

TẠI GIA ĐèNH

Hà Nội, thỏng 2 năm 2008

Trang 3

Đặt vấn đề:

Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã dành tình cảm và sự quan tâm đặc biệt cho trẻ em Tình thương yêu đó bắt nguồn từ tầm nhìn xa, trông rộng

của một vĩ nhân, “Vì lợi ích trăm năm” của nước nhà, từ một chiến lược con

người đúng đắn Người đã dày công vun trồng thế hệ mầm non của đất nước

vì “Ngày nay các cháu là nhi đồng Ngày sau các cháu là người chủ của nước nhà, của thế giới” Tư tưởng này giờ đây vẫn còn giữ nguyên giá trị của nó và hoàn toàn phù hợp với tư tưởng của thời đại: “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”

Sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một sự nghiệp lớn lao

và quan trọng của đất nước Nó đòi hỏi sự chỉ đạo của Đảng, sự quan tâm của Nhà nước, sự nỗ lực và kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội; trong đó có thể nói gia đình là yếu tố then chốt Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy

rằng: “Chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân” và trước hết, gia đình (tức ông bà, cha mẹ, anh chị) phải làm tốt công

Trang 4

2 Trẻ em

2.1 Khái niệm

Thuật ngữ trẻ em dùng để chỉ một giai đoạn phát triển của con người từ lúc lọt lòng đến tuổi 18 - theo luật Lao động Việt Nam; còn theo luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của nước ta thì trẻ em là người dưới 16 tuổi

2.2 Thực trạng trẻ em tại Việt Nam

Trẻ em Việt Nam chiếm 36% dân số và có thể nói, hiện nay, chúng ta đang có triển vọng rất lớn trong việc đạt các mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ

về chăm sóc sức khỏe và giáo dục trẻ em

Theo các kết quả điều tra của UNICEF, tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi và trẻ sơ sinh đã giảm đáng kể trong hai thập kỷ qua Với tỷ lệ tiêm chủng luôn đạt ở mức cao, Việt Nam đã thanh toán được bệnh bại liệt vào năm 2000 cũng như bệnh uốn ván ở bà mẹ và trẻ sơ sinh vào năm 2005 Kể từ năm 1990 đến nay, tỷ lệ mắc bệnh sởi đã giảm 95% Các trường hợp thiếu Vitamin A đã trở nên rất hi hữu

Giờ đây, trẻ em Việt Nam cũng được hưởng một nền giáo dục tốt hơn Khoảng 97% trẻ em trong độ tuổi được học tiểu học, và Chính phủ cam kết tăng cường cơ hội giáo dục cho tất cả trẻ em Việt Nam

Song, bên cạnh những thành quả đạt được, Việt Nam vẫn bị tụt hậu trong một số lĩnh vực chính liên quan tới trẻ em Vẫn còn nhiều trẻ em chưa được tiếp cận đầy đủ với nước sạch và các phương tiện vệ sinh môi trường phù hợp (51,5% dân số chưa được tiếp cận với nước sạch; 74,7% chưa có nhà

vệ sinh phù hợp) Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em còn quá cao (25% trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng) Những yếu tố chính góp phần dẫn đến tình trạng dinh dưỡng kém ở trẻ em bao gồm: các tập quán chăm sóc và nuôi dưỡng kém; chỉ có 19% trẻ sơ sinh được hoàn toàn bú sữa mẹ trong 4 tháng đầu Một vấn đề Việt Nam cần cố gắng hơn là tạo điều kiện cho trẻ em được

Trang 5

tiếp nhận giáo dục khi các em còn nhỏ tuổi (chỉ có chưa đến 47% trẻ em từ 3 -

5 tuổi được đi nhà trẻ)

Ngoài những vấn đề tồn tại nêu trên, trẻ em Việt Nam còn đối mặt với những thách thức mới Điều tra về tai nạn thương tích ở Việt Nam cho thấy gần 75% trường hợp tử vong ở trẻ em trên một tuổi là do thương tích Nguyên nhân tử vong chủ yếu là chết đuối và tai nạn giao thông

Bên cạnh đó, việc tự do hóa về kinh tế đã làm thay đổi xã hội Việt Nam, gây ra sức ép chưa từng thấy lên các gia đình, trong đó có trẻ em Do vậy, các vấn đề xã hội như: vô gia cư, sử dụng ma túy, bóc lột về kinh tế và tình dục, buôn bán và bạo lực đang gia tăng Ước tính có hơn 2,6 triệu trẻ em cần bảo vệ đặc biệt tại Việt Nam, trong đó có trẻ em khuyết tật, trẻ em mồ côi

và trẻ em sống trong cảnh nghèo khó

Thanh, thiếu niên Việt Nam chiếm gần 25% dân số, và điều này đồng nghĩa với nhu cầu ngày càng tăng về giáo dục nâng cao, việc làm, cơ hội tham gia và vui chơi giải trí cũng như được bảo vệ tránh khỏi rơi vào tình trạng lạm dụng ma túy, vi phạm pháp luật và HIV/AIDS

Mặc dù Việt Nam có tỷ lệ nhiễm HIV ở người lớn tương đối thấp (0,53%), song dịch bệnh đã nhanh chóng chuyển hướng và xâm nhập vào những người dân bình thường Hơn một nửa số trường hợp nhiễm HIV ở Việt Nam nằm trong độ tuổi 20 - 29, và cứ 10 người lại có một người dưới 19 tuổi

bị nhiễm Trẻ em cũng ngày càng có nguy cơ bị nhiễm HIV và bị ảnh hưởng bởi AIDS dưới nhiều hình thức Ước tính có khoảng 300.000 trẻ em bị ảnh hưởng bởi AIDS ở Việt Nam

Sự phát triển của đất nước đã mang lại cơ hội to lớn cho nhiều người, song nó cũng làm sâu sắc thêm những sự chênh lệch giữa con người với con người Sự chênh lệch về kinh tế - xã hội đặc biệt nghiêm trọng trong các dân tộc thiểu số Giữa các vùng miền, tỷ lệ tử vong bà mẹ ở vùng núi phía Bắc, nơi sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số, cao gấp bốn lần so với miền xuôi

Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh dao động từ 7,9 đến 62,6 trên 1000 ca sinh sống,

Trang 6

trong đó cao nhất là ở các vùng núi xa xôi hẻo lánh Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi ở một số vùng dân tộc thiểu số vào khoảng 35 - 45%, trong khi tỷ lệ trung bình của cả nước là 25% Tỷ lệ đồng bào các dân tộc thiểu số được tiếp cận với các dịch vụ cơ bản như vệ sinh môi trường, nước sạch và giáo dục thấp hơn nhiều so với tỷ lệ trung bình quốc gia Những chênh lệch

về giới ở các dân tộc thiểu số thường rõ rệt hơn, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục

PHẦN II: MỘT SỐ MÔ HÌNH BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO

DỤC TRẺ EM TẠI CỘNG ĐỒNG

1 Một số mô hình tiêu biểu ở cơ sở

1.1 Mô hình "Cộng đồng phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em" tại Yên Bái

Đây là mô hình mới được xây dựng và bắt đầu đi vào hoạt động tại phường Nguyễn Phúc, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái từ năm 2006 nhưng

đã đạt những hiệu quả rõ nét, góp phần ngăn ngừa mạnh mẽ và hiệu quả tình trạng xâm hại tình dục trẻ em Với sự quan tâm, vào cuộc của các cấp, các ngành, chính quyền địa phương và nhân dân, công tác tuyên truyền về những nội dung phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em đã được đẩy mạnh Qua đó, nhận thức của các gia đình, các em thanh thiếu niên về cách phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em đã được nâng lên Bên cạnh đó, hiệu quả xã hội mà mô hình đem lại cũng rất lớn bởi sự quan tâm, chăm sóc, bảo vệ của cha mẹ đối với các em đã được tăng lên rõ rệt và ngày càng chu đáo hơn Bởi vậy, sự nhân rộng mô hình này tới các địa phương trong cả nước là vô cùng cần thiết

Tuy nhiên, để đảm bảo việc thực thi một cách có hiệu quả đòi hỏi phải

có sự đầu tư kinh phí hợp lý từ các cấp, các ngành chức năng, cùng với sự tham gia đóng góp của các tổ chức và cá nhân trong xã hội

1.2 Mô hình chăm sóc trẻ em tại cộng đồng

Trang 7

Đây là mô hình chăm sóc, nâng đỡ những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ mồ côi hiện sống thiếu thốn cả về vật chất và tinh thần trong cộng đồng Theo đó, các trung tâm bảo trợ, trung tâm nuôi dạy trẻ mồ côi sẽ chủ động thực hiện công tác bảo trợ cho các em thông qua hình thức nuôi ngoại trú, chương trình đỡ đầu, vận động các gia đình người nước ngoài hoặc trong nước nhận đỡ đầu trẻ mồ côi…

Có thể nói, mô hình này là hướng đi đúng đắn trong công tác bảo trợ trẻ

mồ côi bởi nó vừa tạo điều kiện cho các em được đi học, đi làm, hòa nhập với cộng đồng, vừa ít tốn kém cho ngân sách Nhà nước nhưng lại đạt hiệu quả cao về mặt an sinh xã hội

Nhiều địa phương đã thực hiện triển khai mô hình chăm sóc trẻ em tại cộng đồng từ rất sớm như Quảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng và đã thu được kết quả khả quan Từ kinh nghiệm thực tế, các địa phương đã có những kiến nghị như nên điều chỉnh mức trợ cấp để làm sao các em được hưởng mức trợ cấp cộng đồng bằng hoặc cao hơn mức nuôi dưỡng ở trung tâm thì sẽ giảm tải rất nhiều việc nuôi dưỡng tập trung và đồng thời góp phần đảm bảo cuộc sống cho các em Tại một số nơi, phong trào xã hội hoá, huy động nguồn lực tại cộng đồng đã được phát động nhằm góp phần xây dựng và đưa mô hình đi vào hoạt động có hiệu quả

Bên cạnh đó, trong quá trình triển khai mô hình này, Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) cũng đã có những hỗ trợ đáng kể như: chia sẻ kinh nghiệm quốc tế, cử chuyên gia vào Việt Nam hỗ trợ kỹ thuật để soạn thảo ra những hướng dẫn cụ thể trong việc thực hiện các mô hình và cách thức chăm sóc; hỗ trợ và đẩy mạnh hơn vấn đề đào tạo mạng lưới cán bộ xã hội; hỗ trợ việc tham quan, tìm hiểu, nghiên cứu các kinh nghiệm quốc tế để điều chỉnh

và áp dụng tại Việt Nam

1.3 Mô hình điểm vui chơi tại Xuân Phương, Hoài Đức, Hà Tây

Trang 8

Mô hình này phục vụ cho tất cả mọi người, ưu tiên cho trẻ em dưới 16 tuổi Mô hình sẽ bao gồm: khu vui chơi, khu thể thao, khu sinh hoạt văn hoá văn nghệ, khu vườn hoa cây cảnh Đối tượng hưởng lợi của mô hình khu vui chơi thể thao, sinh hoạt văn hóa sẽ tham gia đóng góp công lao động, trồng cây xanh, giữ gìn và phát triển điểm vui chơi xanh - sạch - đẹp

Có thể nói, lợi ích mà mô hình điểm vui chơi này mang lại là rất lớn

Mô hình có các câu lạc bộ sinh hoạt sẽ góp phần quản lý, giáo dục trẻ em ngoài gia đình và nhà trường; tạo phong trào sinh hoạt văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao thông qua việc tổ chức các trò chơi dân gian mang đậm nét truyền thống của từng làng xã Đây cũng là một môi trường tốt để phát triển

và bồi dưỡng năng khiếu cho các em Ngoài ra, mô hình này cũng góp phần giảm lệ tỷ lệ trẻ em hư, trẻ em vi phạm pháp luật; tăng cường rèn luyện thể chất tạo nét sinh hoạt văn hoá lành mạnh; giảm khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn; giảm ô nhiễm môi trường; giảm độ xói mòn đất tại điểm vui chơi…

Tuy nhiên, hạn chế của mô hình này nằm ở chỗ: nguồn kinh phí đầu tư, việc huy động thêm công lao động, đóng góp tiền của nhân dân là tương đối lớn nhưng nguồn thu lại rất nhỏ bé, không đủ đáp ứng yêu cầu Bởi vậy, để phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế và đem mô hình này nhân rộng tại nhiều địa phương rất cần có sự quan tâm hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong và

ngoài nước

1.4 Một số mô hình do Hội Phụ nữ các tỉnh/thành phố chủ trì

Tại nhiều miền quê nghèo trong cả nước như xã Hải Sơn (Hải Hậu, Nam Định), những mô hình do Hội Phụ nữ chủ trì như: “Ngày hội hạnh phúc”; “Câu lạc bộ Dân số - Gia đình” đã góp phần to lớn trong việc thay đổi nhận thức của người phụ nữ trên nhiều lĩnh vực của đời sống, trong đó có nhận thức về chăm sóc, bảo vệ và giáo dục con em

Trang 9

+ Mô hình “Ngày hội hạnh phúc” đã thực sự làm cho phụ nữ tự nguyện đến với Hội nhiều hơn Chị em được tư vấn về cách chăm sóc sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ bà mẹ trẻ em, KHHGĐ, các kiến thức nuôi con theo khoa học, kiến thức về sức khoẻ sinh sản Do đó kiến thức của chị em phụ nữ được nâng lên rõ rệt

+ Mô hình “Câu lạc bộ Dân số - Gia đình” được xây dựng với một đích nâng cao nhận thức cho các thành viên về Dân số, Gia đình và trẻ em, tuyên truyền, vận động phụ nữ không sinh con thứ ba, duy trì mô hình gia đình ít con, khoẻ mạnh, được chăm sóc, bảo vệ và giáo dục tốt, để chị em có điều kiện phát triển kinh tế tăng thêm thu nhập, cải thiện cuộc sống gia đình Các thành viên tham gia câu lạc bộ phải thực hiện cam kết: gia đình không sinh con thứ ba; gia đình không có con em mắc các tệ nạn xã hội

Câu lạc bộ được sinh hoạt định kỳ vào ngày 15 hoặc 16 hàng tháng với nhiều nội dung phong phú được lồng ghép trong mỗi kỳ sinh hoạt như: Làm thế nào để xây dựng một gia đình hạnh phúc; Hướng dẫn thực gia đình 4 chuẩn mực “No ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”; Tuyên truyền và tư vấn chăm chăm sóc sức khoẻ sinh sản, DS/KHHGĐ, lợi ích của việc thực hiện KHHGĐ - không sinh con thứ 3; Hướng dẫn 10 lời khuyên dinh dưỡng hợp lý; Hướng dẫn nuôi dạy con tốt…

1.5 Các mô hình khác

+ Mô hình “Phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ em”, “Phục hồi chức năng và giáo dục hòa nhập cộng đồng cho trẻ em khuyết tật” ở xã Sa Loong, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum … Thông qua các hoạt động của mô hình này, việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được thực hiện một cách toàn diện

+ Các mô hình phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ em như: mô

hình “Cộng đồng an toàn” tiêu chuẩn quốc tế do Bộ Y tế triển khai tại xã Xuân Đỉnh, Từ Liêm; hay mô hình “Ngôi nhà an toàn” của ngành Dân số

Trang 10

Tham gia vào mô hình, người dân, trẻ em được hướng dẫn từ những việc nhỏ nhất để phòng tránh tai nạn thương tích

+ Mô hình câu lạc bộ “Quyền trẻ em” trong trường học ở Hồng Lĩnh,

Hà Tĩnh Câu lạc bộ nhằm tập hợp trẻ em, nhất là trẻ em có nguy cơ vi phạm pháp luật, để giáo dục nhân cách, bồi dưỡng tâm hồn trẻ thơ Tại đây, các em cũng có dịp được bày tỏ tâm tư nguyện vọng để các cấp, các ngành thấy rõ hơn trách nhiệm của mình với trẻ

2 Một số mô hình do các tổ chức nước ngoài hỗ trợ

Trong thời gian vừa qua, các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ nước ngoài đã có không ít hoạt động thiết thực vì trẻ em Việt Nam, trong đó

có việc xây dựng các mô hình hiệu quả, tích cực, góp phần giúp đẩy mạnh các hoạt động bảo vệ, chăm sóc và bảo vệ trẻ em trong cộng đồng Điển hình như:

Tổ chức cứu trợ trẻ em Thụy Điển với mô hình “Môi trường học tập bạn hữu”; Quỹ Nhi đồng thế giới với các mô hình: “Tình bạn hữu trẻ em”, “Bệnh viện bạn hữu trẻ em”, “Ngôi nhà an toàn với trẻ em”, “Trường học an toàn với trẻ em” và “Cộng đồng an toàn với trẻ em”; tổ chức Plan với mô hình “Phát triển cộng đồng lấy trẻ em làm trung tâm”, “CLB Tiếng nói Ong Xanh”; Quỹ nhi đồng Thụy Điển với mô hình “Quận thân thiện với trẻ em” triển khai tại thành phố Hồ Chí Minh…

2.1 Mô hình “Môi trường học tập bạn hữu” do Tổ chức cứu trợ trẻ

em Thụy Điển khởi xướng:

Mô hình “Môi trường học tập bạn hữu” được xây dựng với mục tiêu tăng cường sự đối thoại giữa trẻ em với người lớn, gắn kết mối quan hệ giữa học sinh, giáo viên, nhà trường và chính quyền địa phương…

+ Thành công:

Sau thời gian thực hiện thí điểm tại một số trường tiểu học tại thành phố Hồ Chí Minh, mô hình giáo dục mới theo chủ trương cải cách của Bộ

Trang 11

Giáo dục & Đào tạo này đã chứng minh tính ưu việt trong việc nâng cao chất lượng dạy và học của các trường

- Trong nội dung của mô hình, các em học sinh thường xuyên được vui chơi, tham gia các phong trào giải trí lành mạnh cũng như các cuộc hội thảo

mà nhà trường tổ chức Các hoạt động vui chơi được thể hiện dưới nhiều hình thức như: chợ thôn quê, vui chơi thể thao cùng nhiều hoạt động giải trí khác…

- Ngoài ra, các em còn được khuyến khích tự sáng tạo các vật dụng liên quan, chủ động chơi theo phong cách và mong muốn riêng của mình Những lúc như vậy, người lớn, thầy cô chỉ đóng vai trò hướng dẫn - vòng ngoài chứ không trực tiếp “cầm tay chỉ việc” cho các em Cách làm này đã tạo cho trẻ sự thoải mái, yên tâm để phát huy được tất cả các khả năng sáng tạo cũng như ý tưởng của mình

- Một trong những bí quyết đem lại hiệu quả cao của mô hình trong chất lượng học tập và đời sống tinh thần của các em là việc tăng cường các cuộc đối thoại giữa học sinh với học sinh, học sinh với thầy cô, có cả sự tham gia của nhiều phụ huynh và chính quyền địa phương sở tại, dưới hình thức hội thảo, bố trí cho từng nhóm hội ý riêng để tránh áp đặt, mất đi tính trung thực Nhờ đó, các em nhỏ đã tự tin, mạnh dạn nói lên tất cả khúc mắc cũng như mong muốn của mình trong học tập, về cách cư xử của bố mẹ, thầy cô

- Ngoài những cuộc hội thảo định kỳ hàng tháng, trong những ngày học bình thường, các em được phép vẽ màu trên giấy để thể nghiệm năng lực bằng mong muốn, ý tưởng bất chợt của mình, sau đó được dán lên tường lớp học Với những em không thích vẽ, có thể viết lên những điều mình không hài lòng về bạn bè, gia đình, cách rầy la nặng lời của cô giáo mỗi khi không làm xong bài tập… Nhờ sự “khuyến khích” này, các em đã không phải giữ trong lòng mình những ấm ức, sự bực dọc có thể gây ảnh hưởng xấu đến học tập

- Kinh phí không phải là điều cần nhất trong khi thực hiện mô hình học tập bạn hữu mà là phương pháp thực hiện và sự kiên trì, nhẫn nại

Trang 12

+ Hạn chế:

Mô hình này mới chỉ được thí điểm cho nên vẫn bộc lộ một số hạn chế như: tình trạng “quá tải” tại các lớp học (khoảng 50 học sinh) nên còn ảnh hưởng đến hiệu quả và mục tiêu mà mô hình đề ra; cách học này chưa phù hợp với trẻ em khuyết tật và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn…

2.2 Unicef với các mô hình phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ em:

UNICEF đã và đang hỗ trợ triển khai sáng kiến “Bệnh viện bạn hữu trẻ em”; xây dựng các mô hình “Ngôi nhà an toàn với trẻ em”, “Trường học an toàn với trẻ em” và “Cộng đồng an toàn với trẻ em” Hiện các mô hình phòng chống tai nạn thương tích này đã được hỗ trợ xây dựng và triển khai thực hiện tại sáu tỉnh (72 xã) Các hoạt động bao gồm: truyền thông thay đổi hành vi, phát triển kỹ năng và cải thiện môi trường nhằm mục tiêu xây dựng ngôi nhà

an toàn cho trẻ em, ngôi trường an toàn cho trẻ em và cộng đồng an toàn cho trẻ em

+ Ưu điểm:

- Tiếp cận bền vững là một thế mạnh của các hoạt động này Đây là cách mà nhiều quốc gia khác đã làm từ cách đây hàng chục năm Unicef đang phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thông tin đại chúng và Chính phủ xây dựng một kế hoạch truyền thông toàn diện nhằm vào rất nhiều đối tượng như: các bậc cha mẹ, các cán bộ ra quyết định, trẻ em, lứa tuổi vị thành niên và một vài dân tộc thiểu số nhằm nâng cao nhận thức của người dân và vận động sự tham

gia của toàn xã hội

- Giúp xác định các công cụ bảo vệ an toàn cho trẻ em có hiệu quả, chi phí và kêu gọi đưa các công cụ này vào luật mới về an toàn

- Đoàn Thanh niên được hỗ trợ tổ chức các hoạt động hè cho trẻ em và lứa tuổi vị thành niên, khắc phục tình trạng các bậc cha mẹ chưa quan tâm giám sát đầy đủ đối với con em mình ở một số vùng triển khai dự án, trẻ em

Trang 13

còn được học bơi và các kỹ năng cứu hộ - một trong những cách thức ngăn ngừa chết đuối hiệu quả nhất

- Chính quyền các cấp được hỗ trợ về năng lực thiết kế, lập kế hoạch và triển khai các hoạt động phục vụ cho việc phòng ngừa thương tích ở trẻ em

2.3 Mô hình “Tình bạn hữu trẻ em” của Unicef

Tuy Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng kể trên con đường tiến tới đảm bảo khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cho mọi người dân, song vẫn tồn tại những sự chênh lệch giữa các vùng thành thị và nông thôn Trên thực tế, sự khác biệt giữa 12 tỉnh giàu nhất và 12 tỉnh nghèo nhất thường rất rõ rệt, những tỉnh nghèo nhất ở Việt Nam phải đối mặt với rất nhiều yếu tố cản trở như: khả năng tiếp cận với các nguồn lực và dịch vụ hạn chế, cơ sở hạ tầng nghèo nàn và thường xuyên bị thiên tai… Mô hình “Tỉnh bạn hữu trẻ em” của Unicef ra đời với mục tiêu góp phần hỗ trợ những nhóm dân cư dễ bị tổn thương như: người nghèo, trẻ em và lứa tuổi vị thành niên, phụ nữ, đồng bào dân tộc thiểu số và những người dân di cư

+ Ưu điểm:

- Thông qua mô hình này, Unicef sẽ phối hợp với Chính quyền Trung Ương đóng góp vào việc xây dựng các kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội ở cấp địa phương để đảm bảo các kế hoạch này quan tâm hỗ trợ cho những trẻ

em nghèo và dễ bị tổn thương

- Mô hình cũng hỗ trợ thiết lập các dịch vụ tổng hợp về sức khỏe và dinh dưỡng, giáo dục, nước sạch và vệ sinh môi trường, bảo vệ và phòng ngừa thương tích ở trẻ em

- Chính quyền cấp tỉnh và các cấp dưới được hỗ trợ xây dựng năng lực, lập kế hoạch và ngân sách, thiết lập và quản lý các dịch vụ xã hội có chất lượng, thực hiện công tác theo dõi, đánh giá các hoạt động

- Góp phần nâng cao nhận thức và đổi mới ý thức, tư duy về các vấn đề

trẻ em và phụ nữ cho các cán bộ lãnh đạo và cán bộ chính quyền địa phương,

Trang 14

cộng đồng cũng như các gia đình, đồng thời tích cực khuyến khích sự tham gia của các thành viên trong cộng đồng, kể cả trẻ em, trong việc lập kế hoạch

mô hình này đã tạo điều kiện cho trẻ em tham gia vào các hoạt động truyền thông Đặc biệt, đối tượng trẻ em mà mô hình “CLB Tiếng nói Ong Xanh” hướng tới là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ mồ côi, trẻ em phải lao động sớm Các em đều xuất thân từ gia đình nghèo, phần lớn đã phải bươn chải sớm với cuộc sống, làm đủ nghề khác nhau như: bán báo, bán đồ lưu niệm cho khách du lịch, bán than, giúp việc gia đình, nhặt giấy, nhặt phế liệu, đánh giày, phụ việc xây dựng, quét sơn…

- Khi tham gia CLB, các em có điều kiện được nói lên những suy nghĩ của mình, được đón nhận, cảm thông và chia sẻ, góp tiếng nói của trẻ thiệt thòi trên các phương tiện truyền thông đại chúng, có cơ hội phát biểu ý kiến với cộng đồng xã hội về những vấn đề mà các em quan tâm, có liên quan đến Quyền trẻ em…

Trang 15

- Các em còn được học nhiều buổi tập huấn nghiệp vụ, kỹ năng về các vấn đề liên quan đến trẻ em, giúp các em làm quen với kiến thức báo chí và

kỹ năng sống cũng như các vấn đề về quyền và luật chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em

- Các em còn được tạo điều kiện đi giao lưu, tiếp cận thực tế cuộc sống, chia sẻ kinh nghiệm với bạn bè ở các tỉnh lân cận như: Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên… Nhiều em ở CLB Phóng viên nhỏ được tạo cơ hội tham quan tại nước ngoài và được tham gia chia sẻ kinh nghiệm tuyên truyền của Việt Nam với bạn bè quốc tế

- Viết báo là một việc làm thêm phù hợp và thiết thực đối với các em

- Góp phần giáo dục và phát triển tính thiện, tính trung thực cho trẻ em, đặc biệt là trẻ em thiệt thòi

Hạn chế:

- Số lượng thành viên trong CLB còn ít

- Kinh phí còn hạn chế nên nhuận bút cho các em là chưa cao

- Riêng với “CLB Tiếng nói Ong Xanh”: thành viên CLB đều là những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em mồ côi, trẻ em phải lao động sớm nên việc tập hợp sinh hoạt được các em gặp nhiều trở ngại Trình độ học vấn của các em là không đồng đều nên việc tham gia viết báo gặp nhiều khó khăn

Đây là một mô hình đặc thù nên việc nhân rộng còn vấp phải nhiều vướng mắc, nếu không tiến hành khảo sát cẩn thận, chi tiết, không có sự phối hợp đồng bộ, không có sự tham gia của trẻ em ngay từ đầu thì sẽ rất dễ thất bại

3 Các mô hình điển hình trong cộng đồng

3.1 Mô hình “Xã phường phù hợp với trẻ em”

Ngày 1/6/2004, Bộ trưởng, Chủ nhiệm UB Dân số, Gia đình & Trẻ em trước đây đã ký Quyết định số 03/2004/QĐ/DS-GĐ&TE về xây dựng mô

Ngày đăng: 14/05/2014, 08:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2. Sơ đồ mô hình Ban chỉ đạo: - Các giải pháp để xây dựng mô hình nâng cao kiến thức, kỹ năng bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em tại gia đình
2. Sơ đồ mô hình Ban chỉ đạo: (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w