1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo tổng thuật tài liệu, nghiên cứu về năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ em

45 1,9K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo Cáo Tổng Thuật Tài Liệu, Nghiên Cứu Về Năng Lực Chăm Sóc, Giáo Dục Trẻ Em
Tác giả Ts. Nguyễn Đức Mạnh, Ngô Thị Ngọc Anh
Người hướng dẫn Phó Viện Trưởng Viện Dân Số Và Phát Triển
Trường học Bộ Văn Hóa, Thể Thao Và Du Lịch
Chuyên ngành Năng Lực Chăm Sóc, Giáo Dục Trẻ Em
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 6,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan tình hình nghiên cứu về gia đình với việc chăm sóc, giáo dục trẻ em: Vấn đề chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ, đào tạo và xây dựng những con người phát triển toàn diện và có ích c

Trang 1

Bộ văn hóa-thể thao và du lịch

Vụ gia đình

báo cáo tổng kết chuyên đề nghiên cứu:

báo cáo tổng thuật tài liệu nghiên cứu

về năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ em

Thực hiện chuyên đề: TS Nguyễn Đức Mạnh

Thuộc đề tài KH&CN cấp bộ:

“đánh giá thực trạng năng lực chăm sóc, giáo dục

trẻ em của các gia đình khu vực nông thôn phía bắc”

Chủ nhiệm đề tài: ngô thị ngọc anh

7145-1

24/02/2009

Hà nội - 2008

Trang 2

Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch

Vụ Gia đình

BÁO CÁO TỔNG THUẬT TÀI LIỆU, NGHIấN CỨU

VỀ NĂNG LỰC CHĂM SểC, GIÁO DỤC TRẺ EM

Ts Nguyễn Đức Mạnh, Phú Viện trưởng Viện Dõn số và phỏt triển, Tổng cục Dõn số

Hà nội, thỏng 12 năm 2007

Trang 3

I Đặt vấn đề:

Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao trách nhiệm chăm sóc và

bảo vệ thiếu niên, nhi đồng– thế hệ tương lai của đất nước Người từng nói: "Vì

"Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà Vì vậy, chăm sóc

và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân Công tác đó phải kiên trì, bền bỉ Vì tương lai các con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi

Thấm nhuần lời dạy của Hồ Chủ tịch, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn quan tâm tới việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em để trẻ em được phát triển toàn diện Chỉ thị số 38-CT/TW ngày 30/5/1994 của Ban bí thư Trung

ương (khóa VII) đã khẳng định “Sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ

em là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, của mọi công dân và mỗi gia đình”

Chăm sóc trẻ em là đầu tư cho tương lai Để có những công dân tốt, đáp ứng được mọi nhiệm vụ của đất nước giao phó, ngay từ nhỏ trẻ phải được nuôi dưỡng từng bước trong quá trình hình thành- phát triển sức khoẻ, trí tuệ, tình cảm, hành vi Không thể xây dựng tương lai với những đứa trẻ không được đảm bảo về mặt thể lực và trí lực Trẻ em chỉ có thể phát triển tốt bắt đầu từ gia

đình Gia đình là môi trường sống đầu tiên mà đứa trẻ được tiếp xúc, là trường học đầu tiên để trẻ học “làm người” Tùy thuộc vào sự chăm sóc, bảo vệ và giáo dục của gia đình như thế nào mà trẻ em sẽ có được một trình độ phát triển (cả về thể chất lẫn tinh thần) thuận lợi hay bất lợi cho toàn bộ sự phát triển sau này Vì vậy, ngay trong lời mở đầu của Công ước Quốc tế về quyền trẻ em đã

ghi rõ: “Để phát triển đầy đủ và hài hòa nhân cách của mình, trẻ em cần được trưởng thành trong môi trường gia đình” Mặc dù gia đình có nhiều chức năng

liên quan chặt chẽ với nhau, song chức năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ

em nên người, có ích cho gia đình và xã hội vẫn là chức năng quan trọng nhất Chính vì thế, chỉ thị số 55/CT/TW ngày 28/6/2000 của Bộ Chính trị Ban chấp

hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam yêu cầu: “Đề cao vai trò trách nhiệm của gia đình và tạo điều kiện cần thiết để gia đình thực hiện trách nhiệm

đối với thế hệ trẻ, tạo môi trường lành mạnh cho sự phát triển của trẻ em Tôn trọng và bảo đảm cho trẻ em được thực hiện các quyền và bổn phận trước gia

đình và xã hội”

Tuy nhiên thực tế hiện nay cho thấy, vấn đề bảo vệ và chăm sóc trẻ em trong các gia đình còn hạn chế Do ảnh hưởng của cơn lốc kinh tế thị trường và những biến đổi xã hội sâu sắc, không ít gia đình Việt Nam đã sao nhãng chức năng chăm sóc, bảo vệ trẻ em Nhiều gia đình chưa có ý thức đầy đủ và rõ ràng

Trang 4

về trách nhiệm của mình trong việc quan tâm, chăm sóc trẻ em Nhiều bậc cha

mẹ còn thiếu kiến thức và kỹ năng về các phương pháp chăm sóc, giáo dục phù hợp với trẻ Sự thiếu hụt về kiến thức, kỹ năng của các bậc cha mẹ như vậy là một cản trở lớn cho sự phát triển của trẻ Điều này đặc biệt đáng quan tâm đối với các gia đình ở khu vực nông thôn Do trình độ học vấn của cha mẹ cũng như điều kiện vật chất của các hộ gia đình nông thôn còn hạn chế nên ít nhiều cũng ảnh hưởng đến sự đầu tư, chăm lo đầy đủ và đúng mực cho con cái

Vì lẽ đó, việc tìm hiểu và phân tích thực trạng năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ em của các gia đình, đặc biệt là các gia đình nông thôn là cần thiết và

có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoạch định chính sách chăm sóc, bảo vệ trẻ

em một cách hiệu quả, nhằm đảm bảo cho trẻ em- với tư cách là nguồn lực tương lai cho công cuộc công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, có được điều kiện và môi trường phát triển tốt nhất

II Tổng quan tình hình nghiên cứu về gia đình với việc chăm sóc, giáo dục trẻ em:

Vấn đề chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ, đào tạo và xây dựng những con người phát triển toàn diện và có ích cho xã hội là nhiệm vụ quan trọng của toàn xã hội, của các tổ chức chính trị- xã hội, các đoàn thể và đặc biệt là của mỗi gia

đình Tuy không phải là thiết chế chăm sóc, giáo dục duy nhất, nhưng gia đình

là môi trường quan trọng đầu tiên nuôi dưỡng, hình thành và giáo dục nhân cách con người thông qua việc giáo dục, truyền thụ những giá trị văn hoá truyền thống và hiện đại của thế hệ đi trước cho thế hệ sau, qua việc dạy bảo

cách “Học ăn, học nói, học gói, học mở”, cách ứng xử xã hội phù hợp với các

chuẩn mực thông thường Nếu một đứa trẻ được chăm lo đầy đủ về thể chất và tinh thần, được sinh ra và lớn lên trong một gia đình tốt, nề nếp, nhân bản thì sẽ trở thành một người nhân hậu, có ích cho xã hội và ngược lại

Đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp trồng người như vậy, gia

đình luôn là một chủ đề thu hút được sự quan tâm của nhiều cơ quan, tổ chức, của các nhà hoạt động chính trị, hoạt động xã hội và các nhà khoa học thuộc nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau, đặc biệt vai trò chăm sóc, giáo dục của gia

đình là mảng đề tài được tập trung nghiên cứu khá nhiều

ở nước ta, trong những năm qua đã có những công trình, bài viết của các nhà giáo dục, tâm lý học, triết học, xã hội học,… được công bố, đề cập khá sâu sắc đến chức năng giáo dục của gia đình đối với thế hệ trẻ dưới nhiều góc độ, cấp độ khác nhau Tổng quan lại những nghiên cứu về chủ đề này, chúng tôi thấy có một số những công trình nghiên cứu tiêu biểu theo dòng thời gian dưới

đây:

Trong khoảng thời gian từ năm 1992- 1995, đề tài “Vai trò của gia đình trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam” (Mã số KX- 07-09) thuộc chương trình khoa học công nghệ Nhà nước “Con người Việt Nam: mục tiêu và động lực phát triển kinh tế- xã hội” (Mã số KX-07), do

Trung tâm nghiên cứu khoa học về Phụ nữ (nay là Viện nghiên cứu Gia đình và Giới) chủ trì thực hiện, và GS Lê Thi làm chủ nhiệm đề tài Nội dung của công trình nghiên cứu này đề cập đến con người và vấn đề xã hội hoá; Vai trò của gia đình và sự hình thành nhân cách trẻ em; Sự phát triển của gia đình Việt

Trang 5

Nam với chức năng giáo dục con người qua các giai đoạn lịch sử của đất nước:

từ thời kì trước đổi mới cho tới thời kì tiến hành sự nghiệp đổi mới của đất nước ta; và Sự hợp tác giữa gia đình với nhà trường và các thiết chế xã hội khác trong việc giáo dục, đào tạo con người

Tập thể các tác giả khẳng định sự biến đổi nhân cách của con người gắn liền với đặc điểm của gia đình và đặc điểm của xã hội trong từng giai đoạn lịch

sử, đồng thời bước đầu nhận dạng gia đình Việt Nam trong giai đoạn đổi mới toàn diện về kinh tế, xã hội hiện nay: điều kiện sinh sống vật chất và tinh thần, việc thực hiện các chức năng của gia đình, đặc biệt là chức năng đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ; những cố gắng, những nhận thức đúng đắn của gia đình trong việc nuôi dạy con cái; những khó khăn của họ khi phải đương đầu với cuộc sống trong môi trường mới của cơ chế thị trường; sự biến đổi các quan hệ giữa các thành viên; những lúng túng, phân vân trong việc khẳng định một thang giá trị mới của văn hoá gia đình

Những phát hiện của công trình nghiên cứu cho thấy: ngày nay nhiều bậc cha mẹ đã nhận thức được vị trí, vai trò và trách nhiệm của gia đình đối với việc học tập của con cái, rèn luyện chúng về đạo đức, tư cách, tạo điều kiện cho chúng học hành, vui chơi,… Nhiều gia đình đã đặt nhiệm vụ giáo dục lên vị trí hàng đầu trong các chức năng cơ bản của gia đình Tuy nhiên, trong công việc này họ còn gặp nhiều khó khăn về tri thức và phương pháp giáo dục

Mục tiêu của giáo dục gia đình là hướng tới con người có đạo đức và con người biết làm kinh tế, dựa trên một trình độ học vấn nhất định Những sai lệch chuẩn mực, những hành vi vô đạo đức xảy ra trong xã hội đã giúp các gia đình nhận thức rõ hơn việc giáo dục con người có tài phải đi đôi với có đức Đó là sự tiếp nối đạo lý truyền thống của dân tộc trong giáo dục gia đình Chính vì thế, trong các nội dung định hướng giáo dục con cái thì giá trị đạo đức được đánh giá cao nhất, tiếp theo là tiêu chí có văn hoá cao và có nghề nghiệp chuyên môn

Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến vấn

đề giáo dục gia đình như: sự bất hoà giữa cha mẹ; sự không thống nhất trong biện pháp giáo dục giữa các thành viên gia đình; ảnh hưởng xấu của môi trường giáo dục xung quanh Ngoài ra những yếu tố khác như đời sống kinh tế gia

đình, trình độ học vấn, kiến thức của cha mẹ và các thành viên khác trong gia

đình, quỹ thời gian,… cũng ảnh hưởng nhiều đến việc giáo dục con cái của các gia đình

Năm 1994, công trình “Gia đình và vấn đề giáo dục gia đình” của Trung

tâm nghiên cứu khoa học về Phụ nữ được nhà xuất bản khoa học xã hội phát hành Các bài viết trong cuốn sách đề cao chức năng xã hội hoá của gia đình, chỉ ra được vai trò của các thành viên trong gia đình với việc giáo dục thế hệ trẻ; nêu lên những nội dung, phương pháp giáo dục trong gia đình; sự ảnh hưởng của các tôn giáo, thời đại và các môi trường giáo dục khác đến giáo dục gia đình

Năm 1996, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội đã xuất bản công trình “Gia

đình Việt Nam hiện nay” do GS Lê Thi chủ biên Đây là cuốn sách tập hợp

những bài viết về thực trạng gia đình Việt Nam trên các khía cạnh khác nhau, trong đó có khía cạnh giáo dục, xã hội hoá của gia đình TS Lê Thị Quý, trong

Trang 6

bài viết của mình, có đề cập tới giáo dục của gia đình dựa trên nền tảng của hệ tư tưởng Nho giáo là cơ sở để giáo dục pháp luật cho công dân, xây dựng kỷ cương xã hội theo quan niệm truyền thống, qua đó hình thành nên phẩm chất, nhân cách của một người công dân hữu ích Cụ thể, tác giả cho rằng giáo dục

đạo đức cho các cá nhân trong gia đình chính là cơ sở đầu tiên để tiếp thu pháp luật Tiếp theo là giáo dục về tôn ti trật tự trong gia đình và ngoài xã hội, giáo dục về trách nhiệm của các cá nhân và gia đình với luật pháp Tác giả nhấn mạnh: pháp luật về cơ bản đã hoà trộn với đạo lý, với các quy tắc sống hàng ngày để ràng buộc chặt chẽ con người và con người chỉ có thể tiếp thu nền giáo dục này từ thuở còn thơ, thông qua gia đình

Cũng trong năm 1996, công trình nghiên cứu “Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hoá” của TS Lê Ngọc Văn do nhà xuất bản Giáo dục phát

hành bao gồm 4 nội dung cơ bản: (1) Vị trí và mối quan hệ của gia đình với các tác nhân xã hội hoá; (2) Chức năng xã hội hoá của gia đình Việt Nam truyền thống; (3) Sự biến đổi chức năng xã hội hoá của gia đình; (4) Những thách đố

và những giải pháp cho gia đình Việt Nam trong việc thực hiện chức năng xã hội hoá

Theo tác giả, chức năng xã hội hoá của gia đình Việt Nam truyền thống thể hiện qua: nội dung giáo dục bao gồm giáo dục đạo đức dựa trên quan niệm của Khổng giáo và Nho giáo, giáo dục lao động- nghề nghiệp, giáo dục giới tính; phương pháp giáo dục gia đình truyền thống chủ yếu thông qua quyền uy của chủ thể giáo dục, tức là người đứng đầu gia đình, người gia trưởng trong

đơn vị gia đình, qua cách nêu gương người xưa, qua lao động và bằng lao động hàng ngày

Tuy nhiên, chức năng xã hội hoá của gia đình cũng có nhiều biến động

do sự thay đổi của nền kinh tế và hệ văn hoá- tư tưởng Sự biến đổi đó là hết sức phức tạp và mang đầy những nghịch lý Nó không hoàn toàn đi theo hướng xã hội mong muốn mà nhiều khi nó đi chệch hoặc rơi vào tình trạng khủng hoảng, mất phương hướng khiến cho tính liên tục của văn hoá gia đình đôi khi

có những khoảng trống, những sự đứt đoạn Những biểu hiện và tác nhân làm biến đổi chức năng xã hội hoá của gia đình bao gồm: sự phủ nhận giản đơn thiếu chọn lọc những hạt nhân hợp lý trong nội dung và phương pháp xã hội hoá của gia đình Việt Nam truyền thống; xu hướng quá đề cao vai trò của giáo dục xã hội thay vì giáo dục gia đình; sự không ổn định và sự dao động của các chuẩn mực trong chức năng xã hội hoá của gia đình, cụ thể là không ít gia đình

có xu hướng quay lưng lại với giáo dục gia đình truyền thống trong khi chưa xác định được nội dung và phương pháp giáo dục gia đình mới, từ đó dẫn tới sự khủng hoảng trong giáo dục gia đình Bên cạnh đó sự không ổn định về chuẩn mực của chức năng xã hội hoá gia đình còn thể hiện ở sự không thống nhất giữa các thành viên trong nội bộ gia đình về nội dung và phương pháp giáo dục con cái

Những tác động trên đây đã làm giảm sút vai trò của gia đình trong việc thực hiện chức năng xã hội hoá thời gian qua Nó tạo ra một khoảng trống, một

“sự đứt đoạn” trong quá trình chuyển tiếp chức năng xã hội hoá của gia đình

Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình hình thành nhân cách của con người Việt Nam hiện đại

Trang 7

Năm 1997, công trình “Văn hoá gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách ở trẻ em” của tác giả Võ Thị Cúc được tiếp cận từ góc độ Văn

hoá học, đã phân tích ảnh hưởng của văn hoá gia đình đến sự hình thành nhân cách của trẻ em

Năm 1998, đề tài nghiên cứu “Vai trò của gia đình trong việc giáo dục xã hội hoá trẻ em” do Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thực hiện cũng nêu lên

tầm quan trọng của gia đình trong việc giáo dục và phát triển nhân cách của trẻ

Đây là một đề tài đồ sộ, công phu, bao gồm 6 đề tài nhánh, trong đó

trước hết phải kể đến báo cáo đề tài nhánh 2 “Thực trạng công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong gia đình và cộng đồng sau 10 năm đổi mới”

do PGS.TS Lê Khanh làm chủ nhiệm Đề tài đã tiến hành điều tra 579 gia đình,

175 cán bộ của các đoàn thể phụ trách mảng công tác BV, CS và GD trẻ em Cuộc điều tra được triển khai tại huyện Chợ Đồn, huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Cạn (đại diện cho khu vực miền núi); huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ (đại diện cho khu vực trung du); huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình (đại diện cho khu vực

đồng bằng); huyện Từ Liêm và các xã Kim Giang, Hạ Đình thuộc quận Thanh Xuân, Hà Nội (đại diện cho khu vực ngoại thành) Đề tài nhằm tập trung tìm hiểu một số nét khái quát về các gia đình, đội ngũ cán bộ, các tổ chức hỗ trợ và cơ sở vật chất trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 10 năm qua; thực trạng nhận thức của các gia đình, các cán bộ chuyên trách và cán bộ đoàn thể về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; thực trạng hoạt động bảo

vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em tại gia đình và cộng đồng Sau khi tìm hiểu thực trạng đó, đề tài xem xét một số thành tích chủ yếu đã đạt được cũng như một số tồn tại cơ bản, phân tích một số nguyên nhân chính tạo nên những thành tích và tồn tại đó Trên cơ sở này, đề tài đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em tại gia đình và cộng đồng

Bên cạnh đó, báo cáo đề tài nhánh 3 “Thực trạng sức khỏe, học tập, vui chơi, giải trí của trẻ em và việc bảo vệ các quyền lợi đó của gia đình cũng như cộng đồng” do TS Vũ Hào Quang làm chủ nhiệm đề tài Đề tài được thực hiện

tại các tỉnh Nam Định, Bến Tre, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh với cỡ mẫu là

707 phiếu hỏi tại khu vực phía Bắc và 854 phiếu hỏi tại khu vực phía Nam Nội dung nghiên cứu chính của đề tài là: (1) Thực trạng học tập, vui chơi, giải trí của trẻ em trong con mắt trẻ em, thông qua việc xem xét: trẻ em đánh giá về thực trạng sức khỏe của mình; ảnh hưởng của gia đình đến lối sống của trẻ em lang thang ở Việt Nam hiện nay; trẻ em đánh giá về các hoạt động học tập, vui chơi, giải trí của mình (2) Gia đình và cộng đồng trong việc bảo vệ sức khỏe, học tập, vui chơi, giải trí của trẻ em

Đề tài “Xây dựng nội dung cần bồi dưỡng cho cha mẹ học sinh để giải quyết một số vấn đề cấp bách trong giáo dục hiện nay” (2000), mã số B 98-49-

Trang 8

69 do TS Nguyễn Thanh Bình làm chủ nhiệm có một số bài viết về giáo dục trẻ

em trong gia đình như: “Gia đình với việc phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc để giáo dục đạo đức cho học sinh”, “Những vấn đề cấp bách trong giáo dục con ở lứa tuổi THCS trong gia đình đô thị hiện nay”; “Giáo dục giới tính cho con lứa tuổi THCS” của Nguyễn Thanh Bình; “Gia đình giáo dục phòng chống tệ nạn nghiện hút cho con ở lứa tuổi học sinh THPT” của Đào Thị Oanh; “Gia đình với việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ THCS ở thành phố” của Nguyễn Tấn Quang và Nguyễn Thanh Bình, v.v… Đây là những bài

viết đánh giá cao tầm quan trọng của việc giáo dục cho con cái trong độ tuổi đi học, cũng như nêu được những nội dung cần thiết trong việc giáo dục cho con cái của gia đình

Năm 2001, PGS TS Lê Như Hoa cho ra đời công trình “Văn hoá gia

đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em” Đây là công trình

nghiên cứu cung cấp những vấn đề lý luận và thực tiễn về văn hoá gia đình và gia đình văn hoá; chỉ ra nguyên nhân quan trọng dẫn tới sự suy thoái nhân cách của trẻ em chính là do sự lệch chuẩn văn hoá gia đình; và khẳng định vai trò to lớn của văn hoá gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em qua việc đánh giá cao các yếu tố hiểu biết tâm lý nhân cách trẻ em, xây dựng gia đình thành một tập thể giáo dục và sự gương mẫu của cha mẹ trong việc giáo dục trẻ Từ đó tác giả tập trung xem xét vai trò của văn hoá gia đình trong việc giáo dục trẻ em trên các khía cạnh: giáo dục giới tính, giáo dục lao động, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục và hình thành thói quen hành vi văn minh và hành

vi đạo đức cho trẻ em, đồng thời tìm hiểu văn hoá gia đình với việc tổ chức cho trẻ em sử dụng thời gian rỗi

Năm 2000- 2001, đề tài khoa học cấp Bộ: “Vai trò của gia đình trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên” do Trung tâm nghiên cứu Khoa học

về gia đình và phụ nữ thực hiện, và TS Nguyễn Linh Khiếu làm chủ nhiệm đề tài Với cách tiếp cận xã hội học và trên cơ sở quan điểm giới, các tác giả đã tập trung khảo sát 200 đối tượng, trong đó 100 đối tượng là vị thành niên (50%)

và 100 đối tượng là cha mẹ vị thành niên (50%) Đề tài được triển khai nghiên cứu ở 2 địa điểm tại Hà Nội là phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy đại diện cho nội thành và thị trấn Sóc Sơn, huyện Sóc Sơn đại diện cho ngoại thành Thời gian thực hiện đề tài trong khoảng từ tháng 6/2000 – 6/2001 Mục đích nghiên cứu của đề tài là đánh giá thực trạng vai trò của gia đình trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên trong điều kiện đổi mới hiện nay Nhận diện những thuận lợi và khó khăn trong việc giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên trong gia đình Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy việc giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên trong gia đình Việt Nam giai đoạn hiện nay

Bên cạnh những công trình nghiên cứu dưới dạng đề tài hoặc được công

bố dưới dạng sách, một số công trình nghiên cứu là các luận án tiến sỹ có liên quan đến mảng đề tài về gia đình với việc hình thành nhân cách thế hệ trẻ cũng

được thực hiện Trong các công trình ấy, phải kể đến luận án tiến sỹ “Vai trò của gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay” của tác giả

Nghiêm Sĩ Liêm, được thực hiện vào năm 2001 Mục đích của nghiên cứu nhằm làm rõ vai trò giáo dục của gia đình đối với thế hệ trẻ, tìm hiểu những

Trang 9

yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục gia đình và thực trạng giáo dục gia đình đối với thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay Dưới góc độ nghiên cứu triết học, luận án tập trung nghiên cứu vai trò của giáo dục gia đình đối với thế hệ trẻ chủ yếu ở lứa tuổi vị thành niên chịu sự nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục của gia đình (giới hạn dưới 18 tuổi)

Kết quả nghiên cứu cho thấy: những nội dung chủ yếu của giáo dục gia

đình hiện nay bao gồm giáo dục đạo đức, giáo dục học tập và văn hoá, giáo dục lao động và rèn luyện tính tự lập, giáo dục giới tính Để chức năng giáo dục thế

hệ trẻ đạt được kết quả tốt thì vai trò của cha mẹ và các thành viên trong gia

đình như ông bà, anh chị và cả dòng họ là rất to lớn Theo tác giả, những yếu tố

ảnh hưởng đến giáo dục gia đình được chia thành hai nhóm là nhóm yếu tố lịch sử: bao gồm sự tác động, ảnh hưởng của tâm lý, tập quán gắn liền với nền sản xuất nhỏ; ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo; ảnh hưởng của hậu quả chiến tranh đến giáo dục gia đình và nhóm yếu tố thời đại: như cuộc cách mạng khoa học công nghệ, sự nghiệp đổi mới kinh tế- xã hội, nhất là sự nghiệp đổi mới giáo dục- đào tạo ở nước ta ảnh hưởng mạnh mẽ đến giáo dục gia đình với cả hai chiều: tích cực và tiêu cực, nhưng ảnh hưởng tích cực là chủ yếu

Khi xem xét thực trạng của giáo dục gia đình đối với thế hệ trẻ ở nước ta, tác giả đưa ra nhận định: Việc giáo dục đạo đức trong gia đình đối với thế hệ trẻ đã được các bậc cha mẹ đặc biệt quan tâm, song vẫn còn nhiều khó khăn trở ngại do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó có những nguyên nhân từ phía gia đình, từ phía các bậc làm cha mẹ Việc giáo dục học tập văn hoá cho trẻ em đã được chú ý hơn trong các gia đình, nhưng vẫn còn bất cập giữa các vùng, miền, giữa nam giới và nữ giới Sự quan tâm tới giáo dục lao

động và rèn luyện tính tự lập cho thế hệ trẻ mới chỉ đạt kết quả bước đầu là do mức độ quan tâm giáo dục này có sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn: các gia đình thành thị còn khá phổ biến tâm lý cho rằng con cái chỉ lo học tập, ngoài ra không tham gia vào bất cứ công việc lao động nào trong gia đình Bởi vậy, khi các em đến trường, tham gia lao động xã hội,… thường tỏ ra lúng túng, thậm chí là trốn tránh trách nhiệm ở các gia đình nông thôn thì ngược lại, trẻ em phải lao động lam lũ từ nhỏ nên ý thức tham gia lao động là rất cao Tuy nhiên, do trẻ em ở các gia đình nông thôn được sự dẫn dắt của cha mẹ chủ yếu bằng kinh nghiệm nên các em thường nhút nhát, thụ động trước cuộc sống sôi

động của kinh tế thị trường Như vậy, trẻ chưa có sự chuẩn bị đầy đủ về mọi mặt để hội nhập do vai trò xã hội hoá trong mỗi gia đình còn hạn chế Việc giáo dục giới tính cho thế hệ trẻ chưa được các gia đình quan tâm đúng mức,

điều đó thể hiện ở tỷ lệ nạo phá thai, sinh con dưới 18 tuổi còn rất cao; tình trạng lạm dụng tình dục ở trẻ em vẫn đang là mối lo lắng của toàn xã hội Nhiều bậc cha mẹ buông lỏng quản lý, chưa có sự phối kết hợp với nhà trường

và xã hội trong việc giáo dục con trẻ, không những thế, nhiều bậc cha mẹ thiếu hiểu biết về giới tính, chỉ coi đó thuộc phạm trù đạo đức Thế nên, sự chậm trễ hay né tránh vấn đề giáo dục giới tính, tình dục trong các gia đình sẽ làm cho

sự phát triển nhân cách, trí tuệ, sức khoẻ của thế hệ trẻ gặp nhiều trở ngại, khó khăn, và điều này cần phải sớm được khắc phục

Luận án tiến sỹ xã hội học “Vai trò của gia đình đối với việc giáo dục trẻ em hư ở thành phố” của tác giả Nguyễn Đức Mạnh được thực hiện vào năm

Trang 10

2002 Nghiên cứu được thực hiện tại 9 phường dân cư thuộc 6 quận của thành phố Hà Nội, bao gồm: quận Ba Đình, quận Hoàn Kiếm, quận Hai Bà Trưng, quận Đống Đa, quận Cầu Giấy, quận Thanh Xuân; với dung lượng mẫu là 420 người, trong đó 209 đối tượng khảo sát là trẻ em hư, trẻ em cá biệt và 211 đối tượng khảo sát là gia đình có trẻ em hư, cá biệt đó Đối tượng trẻ em trong mẫu khảo sát được giới hạn trong độ tuổi 11- 15, học tại các trường THCS trong thành phố Đây là những em thường xuyên biểu hiện các hành vi không theo chuẩn mực xã hội thông thường ở nhà trường, các em được nhận xét là học sinh chậm tiến, có hạnh kiểm yếu, cần được giáo dục, rèn luyện nhiều về nhận thức và các hành vi xã hội để phát triển nhân cách tốt Tại gia đình và cộng

đồng, các em có biểu hiện hư về lối sống, kém rèn luyện phẩm chất, đạo đức,

có các hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức bị khởi tố hình sự

Mục đích nghiên cứu của đề tài là thông qua việc tìm hiểu, phân tích thực trạng hoàn cảnh đời sống sinh hoạt, lao động, học tập,… của một nhóm gia đình ở thành phố và của một bộ phận trẻ em hư trong các gia đình này nhằm làm sáng tỏ các nguyên nhân dẫn đến thói hư, tật xấu ở các em; làm rõ các giá trị văn hoá truyền thống gia đình và những giá trị văn hoá xã hội mới cần được tiếp biến trong việc giáo dục trẻ em hư, trên cơ sở đó góp phần cung cấp những cơ sở khoa học cho việc đề xuất các chính sách kinh tế- xã hội, văn hoá, giáo dục có liên quan đến gia đình, tạo điều kiện cho gia đình phát huy

được vai trò của mình đối với việc giáo dục trẻ em, đặc biệt là để ngăn ngừa trẻ

em hư

Một số các công trình nghiên cứu, các luận án tiến sỹ khác có liên quan

như luận án tiến sỹ triết học “Quan niệm của Nho giáo về giáo dục con người

và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục con người ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá- hiện đại hoá” (1999) của Nguyễn Thị Nga, luận án tiến sỹ

“Một số nội dung và biện pháp giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ em trong gia

đình” (2000) của Võ Nguyên Du

Năm 2003- 2004, đề tài cấp Đại học quốc gia “Chăm sóc sức khỏe tâm thần cho trẻ em trong các gia đình Hà Nội hiện nay” do TS Mai Thị Kim

Thanh và các cộng sự thực hiện Kết quả nghiên cứu của đề tài chỉ ra rằng: trẻ

em là những người còn non nớt về thể chất và trí tuệ, một nhóm nhân khẩu đặc biệt đang trong quá trình xã hội hóa, đang hình thành nhân cách, đang học

đóng vai trò cũng như tiếp thu kiến thức, kỹ năng để tham gia hành động xã hội với tư cách một chủ thể hành động, cho nên trước các tác nhân của môi trường sống, đặc biệt là lối sống, điều kiện sống của gia đình khiến chúng rất dễ bị

ảnh hưởng, trong đó những ảnh hưởng đến sức khỏe, đặc biệt là sức khỏe tâm thần là rõ nhất Vì vậy, cha mẹ- với tư cách là những người lớn, người giáo dưỡng, người tạo nên môi trường sống tốt cho trẻ- đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc chăm sóc, định hướng và giúp đỡ trẻ

Nghiên cứu cũng cho thấy: cuộc sống đô thị và đời sống kinh tế gia đình một mặt giúp trẻ có điều kiện được chăm sóc tốt, có các cơ hội được hưởng các dịch vụ y tế khi mắc bệnh và giúp cho trẻ có các điều kiện được tham gia vào các hoạt động vui chơi giải trí, thưởng thức văn hóa- nghệ thuật nhằm đáp ứng các nhu cầu về tinh thần, nhưng mặt khác cũng dễ cuốn hút trẻ vào những hoạt

động giải trí mang tính cá nhân, làm tăng sự cô đơn, sự trầm cảm, âu lo, nghiện

Trang 11

hút và những di chứng tinh thần khác ở trẻ… Khi gia đình gặp khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ xã hội về giáo dục, y tế, văn hóa, khó khăn trong tìm kiếm việc làm, nơi ở hợp pháp, an toàn, khó khăn khi mải làm kinh tế mà không có thời gian chăm sóc trẻ thì trẻ rất khó có thể vượt qua được những sang chấn tinh thần để trở lại với cuộc sống bình thường

Kết quả cho thấy: những nhân tố tác động đến đứa trẻ gây nên những sang chấn tinh thần là khác nhau ở các nhóm gia đình ở những gia đình có mức sống nghèo và trung bình thì đó là sự nghèo khó của kinh tế gia đình,

những xúc cảm bất ổn ở trẻ em trong những gia đình nghèo di cư “bất hợp pháp”, trẻ phải tham gia lao động sớm hoặc lang thang trên các đô thị lớn kiếm

sống… Còn ở những gia đình có mức sống khá giả thì đó là sự chiều chuộng con, sự bươn chải của bố mẹ, những yêu cầu quá cao đối với khả năng của trẻ,… cùng với tình trạng quan hệ ứng xử của các bậc cha mẹ với nhau, với con cái trong gia đình, với cộng đồng trong xã hội như: ly thân, ly hôn, cãi vã, đánh chửi nhau…

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, các đề tài khoa học và các bài viết nêu trên đã phản ánh khá cơ bản và toàn diện về gia đình Việt Nam và vai trò chăm sóc, giáo dục, xã hội hoá của gia đình từ truyền thống tới hiện đại Nhiều công trình nghiên cứu giàu hàm lượng tri thức, được phản ánh một cách khá công phu, đã cung cấp cho người đọc, người nghiên cứu những cái nhìn tổng thể về vấn đề gia đình và giáo dục gia đình xưa và nay Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được về lý luận cũng như thực tiễn, hầu hết các tác giả đều thừa nhận kết quả đó mới chỉ là bước đầu, mới chỉ là phát hiện những vấn đề, còn trong những khía cạnh cụ thể cũng cần có sự đầu tư hơn nữa để nghiên cứu một cách tổng thể, khoa học

III Sự biến đổi chức năng của gia đình và vấn đề chăm sóc, giáo dục trẻ em:

Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Xã hội Việt Nam đang chuyển mạnh từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp hiện đại cùng với sự giao lưu hội nhập kinh tế quốc tế của thế kỷ 21 Gia đình với tư cách là tế bào của xã hội cũng đang có những thay đổi lớn lao do sự tác động của những biến đổi về kinh tế, văn hoá, xã hội Nhìn một cách tổng quát, gia đình Việt Nam đang trong quá trình biến

đổi và chuyển hóa về mọi phương diện, trong đó có sự biến đổi một số chức năng quan trọng của nó Điều này dẫn đến một số vấn đề phải quan tâm, trong

đó có vấn đề chăm sóc, giáo dục trẻ em trong gia đình hiện nay

1 Biến đổi chức năng sinh đẻ:

Chức năng sinh đẻ và tái sản xuất xã hội của gia đình là chức năng đặc biệt để phân biệt gia đình với các thiết chế xã hội khác Gia đình với chức năng sinh đẻ đã tạo nên tính liên tục của xã hội (duy trì và phát triển dân số), điều

Trang 12

đông đúc Nhiều cặp vợ chồng có năm, bảy hoặc mười người con là chuyện bình thường Đến nay tình hình có sự đổi khác, mức độ giảm sinh ở các cặp vợ chồng trong mỗi gia đình đã giảm rõ rệt Thống kê về mức sinh của Việt Nam trong những thập kỷ qua cho thấy rõ điều đó

Bảng 1 Mức sinh của Việt Nam trong những thập kỷ qua3

Như vậy, chức năng sinh đẻ của gia đình biến đổi theo hướng giảm mức sinh Điều này đồng nghĩa với việc giảm số con trong mỗi gia đình, và quan trọng hơn cả là nó làm thay đổi nhận thức cũng như hành vi chăm sóc, giáo dục trẻ em của các thành viên trong gia đình

Giảm mức sinh, giảm số con đối với mỗi cặp vợ chồng thực chất là tăng cường chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ em trong mỗi gia đình Trong một gia

đình có quá đông trẻ em, tất nhiên bố mẹ phải san sẻ mọi nỗ lực của mình để nuôi dạy chúng Trong điều kiện kinh tế còn kém phát triển như Việt Nam, sự san sẻ công bằng đến mấy của bố mẹ cũng chỉ là sự san sẻ những cái thiếu thốn

và hẫng hụt Biện pháp không ngoan để phát triển gia đình, tạo dựng gia đình hạnh phúc với những đứa con khỏe mạnh, thông minh, lanh lợi là chú trọng chất lượng hơn là số lượng Dành thời gian chăm sóc, giáo dục và các nguồn

đầu tư khác của gia đình cho một đến hai con là con đường tốt nhất để nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình 4

2 Biến đổi chức năng kinh tế:

Trong những năm qua, mức sống của người dân Việt Nam từng bước

được nâng cao Đây là kết quả của chính sách đổi mới của Đảng cùng với sự nỗ lực của mọi thành viên trong xã hội Nền kinh tế thị trường phát triển mạnh với

tiêu chí “biết làm giàu” là giá trị được xã hội chấp nhận và đánh giá cao Sự

“lên ngôi” của kinh tế trong thang giá trị xã hội đã tác động mạnh đến chức

năng kinh tế của gia đình, từ đó tác động đến chất lượng chăm sóc, giáo dục con cái Nhìn trong phạm vi gia đình dễ dàng nhận thấy, mức sống cải thiện

3

Trần Văn Chiến, Chức năng sinh đẻ của gia đình, trích trong cuốn “Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối

với gia đình Việt Nam hiện nay”- UBDSGĐTE, 2004, tr 129

4

Nguyễn Đức Mạnh, Một số vấn đề biến đổi chức năng của gia đình và chăm sóc giáo dục trẻ em tuổi mầm

non trong gia đình hiện nay, trích trong cuốn “Gia đình Việt Nam – Quan hệ, quyền lực và xu hướng biến đổi”,

Vũ Hào Quang chủ biên, Nxb ĐH Quốc gia , Hà Nội, 2006, tr 307

Trang 13

giúp cha mẹ có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu của con cái trong học tập, ăn mặc, Hay những vật dụng trong gia đình tiện nghi hơn, cao cấp hơn (T.V màu, video, CD,…) cũng tạo điều kiện thuận lợi trong việc chăm lo đời sống tinh thần của các thành viên trong gia đình, đặc biệt là trẻ em Đây là tác động tích cực của biến đổi chức năng kinh tế đối với chăm sóc, giáo dục trẻ em

Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực đó thì biến đổi chức năng kinh tế của gia đình cũng có những hạn chế Do quá mải mê bươn chải kiếm sống, nhiều cha mẹ không có đủ thời gian để chăm lo cho con cái Một nghiên cứu với 600

hộ gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy số thời gian cha mẹ giành cho việc học hành và giáo dục con cái như sau 5:

Từ 5 đến 15 phút/ ngày : 43,0%

Từ 1 giờ trở lên/ ngày : 22,8%

Không có thời gian ngó ngàng tới : 22,2%

Một nghiên cứu khác với với các hộ gia đình ở khu vực Bắc Bộ và Nam

Bộ cho thấy có 62,9% cha mẹ ở miền Bắc và 57,7% cha mẹ ở miền Nam dành chưa đến 30 phút/ngày cho hoạt động vui chơi giải trí cùng con cái, trong đó có tới 46,2% cha mẹ ở miền Bắc và 20,2% cha mẹ ở miền Nam chỉ dành khoảng thời gian là 15 phút/ngày cho hoạt động này6

Việc chạy theo giá trị kinh tế đã khiến nhiều gia đình không làm tốt chức năng chăm sóc, giáo dục trẻ em Đây là một hiện tượng có tính phổ biến ở những nước đã và đang phát triển, đồng thời cũng là một thách thức lớn đặt ra

đối với các gia đình ở nước ta hiện nay

3 Biến đổi chức năng giáo dục:

Chức năng giáo dục (còn gọi là chức năng xã hội hóa) của gia đình thể

hiện ở việc các thế hệ trước trong gia đình truyền lại cho thế hệ sau những giá trị, chuẩn mực văn hóa, kiến thức và kinh nghiệm trong cuộc sống Chức năng giáo dục của gia đình rất quá trọng đối với trẻ em trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, giúp trẻ em lớn lên sống hòa nhập và tuân thủ theo các quy chuẩn xã hội của gia đình và của cộng đồng, xã hội Nói cách khác, sự phát triển nhân cách và sự hòa nhập vào cuộc sống xã hội của trẻ em phần nhiều phụ thuộc vào văn hóa gia đình, sự can thiệp của các tác nhân bên ngoài dẫu có nhưng không phải là yếu tố quyết định Thực tiễn thời gian qua cho thấy, chức năng giáo dục trẻ em của gia đình đang đứng trước những thách thức mới và theo xu hướng dần bị suy giảm Nguyên nhân của sự suy giảm này trước hết xuất phát từ sự biến đổi cấu trúc gia đình

Trước đây, mô hình gia đình nhiều thế hệ rất phổ biến và được coi là đặc thù riêng của các nước á Đông, nhưng hiện nay loại gia đình nhiều thế hệ có

xu hướng chuyển dần sang gia đình hạt nhân Số liệu điều tra cơ bản về gia

đình Việt Nam cho thấy: ở khu vực miền Bắc, gia đình hạt nhân (hai thế hệ) chiếm tỷ lệ 78%; gia đình ba thế hệ chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ là 18,2%; gia đình

5

Hoàng Bá Thịnh, “Biến đổi chức năng gia đình và giáo dục trẻ em hiện nay” - Kỷ yếu hội thảo Gia đình với

việc chăm sóc- giáo dục trẻ mầm non thời kỳ CNH- HĐH đất nước -12/2003, tr 29

6

Trần Thị Hồng, “Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm lý tình cảm”, trích trong cuốn “Thực trạng và những vấn

đề đặt ra đối với gia đình Việt Nam hiện nay”- UBDSGĐTE, 2004, tr 208

Trang 14

bốn thế hệ chiếm tỷ lệ không đáng kể (0,5%), còn lại 3,3% là số hộ gia đình 1 thế hệ Xu thế gia đình hạt nhân chiếm ưu thế không chỉ xảy ra ở thành thị và

đồng bằng mà còn ở các vùng miền khác, cụ thể: gia đình hạt nhân ở khu vực thành phố chiếm 65%; khu vực đồng bằng: 81,7% và trung du - miền núi: 80,6%7

Mô hình gia đình hạt nhân độc lập về kinh tế có ý nghĩa tích cực của nó, song cũng có mặt hạn chế là không phát huy được giáo dục truyền thống trong gia đình

Trước đây, tham gia vào quá trình xã hội hóa trẻ em không chỉ có cha mẹ

mà còn có cả sự tham gia của các thành viên trong đại gia đình, thậm chí ở khu vực nông thôn là sự tham gia của đại dòng họ, bởi như đã nói, trước đây các gia

đình Việt Nam thường đông nhân khẩu (nhất là ở khu vực nông thôn) do nạn tảo hôn và sinh đẻ dày Nhiều thế hệ cùng chung sống dưới một mái nhà Cơ cấu đẳng cấp, quyền lực, thang bậc, địa vị cao thấp được phân định từ trong gia

đình đến họ hàng và trong làng xã theo một chuẩn mực nhất định, đặc biệt có

ảnh hưởng lớn đến việc giáo dục trẻ em Quá trình xã hội hóa trẻ em vì thế

được quan tâm và bị chi phối bởi những quy định khắt khe của các thiết chế văn hóa gia đình và làng xã

Xu hướng phát triển nhanh các gia đình hạt nhân và tính độc lập cá nhân cùng với những khả năng tự lập cao ở những thế hệ sau đã làm cho vai trò chăm sóc, giáo dục trẻ em của các bậc cha mẹ trong gia đình bị suy yếu Do mải mê chạy theo giá trị kinh tế nên nhiều bậc cha mẹ đã không làm tốt chức năng chăm sóc, giáo dục trẻ em Đây là một thách thức lớn đặt ra đối với những gia đình hạt nhân phổ biến như ở nước ta hiện nay Trong khi đó, ở các gia đình nhiều thế hệ thì vai trò của người lớn tuổi lúc này lại được phát huy Ông bà nội ngoại có thể chia sẻ, đỡ đần những người làm cha, làm mẹ trong việc trông nom, nuôi dưỡng các cháu từ thuở ấu thơ Khi các cháu lớn lên, ông bà quan tâm giáo dục các cháu về cách ứng xử trong gia đình và ngoài xã hội cho đến lúc các cháu, con đã trưởng thành ông bà chính là tấm gương sáng để con cháu noi theo, là người có nhiều kinh nghiệm sống và gìn giữ nhiều nhất những giá trị truyền thống tốt đẹp mà con cháu có thể học hỏi Thực tế chỉ ra rằng, những mô hình gia đình nhiều thế hệ, xét về mặt giáo dục, có tác dụng rất lớn

đối với lớp con cháu, đặc biệt là trong thời điểm nước ta đang có sự chuyển giao giữa các định hướng giá trị cũ và mới như hiện nay

Xét ở khía cạnh khác, xu hướng xã hội hoá công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em diễn ra ngày càng mạnh mẽ cũng tác động đến chức năng chăm sóc, giáo dục trẻ em của gia đình Nếu như trước đây, việc chăm sóc, giáo dục trẻ em là chức năng của gia đình và chỉ duy nhất có gia đình phải thực hiện chức năng này thì ngày nay, trước sự tác động của quá trình toàn cầu hoá, vấn

đề trẻ em đã trở thành vấn đề chung của xã hội Chính điều này đã khiến cho nhận thức của các bậc cha mẹ có sự thay đổi Họ coi việc chăm sóc, giáo dục trẻ em không còn là vấn đề riêng của gia đình mà nó phải được cộng đồng xã hội quan tâm Vì thế, họ đã chuyển một phần trách nhiệm chăm sóc, giáo dục

7

Trung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ , “Số liệu điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam và vai

trò của người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (khu vực miền Bắc)” Nxb

KHXH, 2002, tr 28

Trang 15

con cái sang cho nhà trường, cho xã hội, thậm chí có những gia đình còn phó mặc hoàn toàn cho nhà trường, cho người giúp việc Lẽ ra, trẻ em phải được chính ông bà, bố mẹ và những thành viên lớn tuổi khác trong gia đình hướng dẫn về ý thức giữ gìn vệ sinh, bảo vệ sức khỏe cá nhân, nhận thức về thẩm mỹ,

được hướng dẫn về cách thức thể hiện hành vi chuẩn mực xã hội, được rèn luyện về tính kỷ luật, về tác phong, nhận thức về vị trí, quyền lợi và bổn phận, trách nhiệm của mình đối với gia đình và xã hội Tuy nhiên, thực tế trong nhiều gia đình, trẻ em lại thiếu sự chỉ bảo, hướng dẫn, tập tành, rèn luyện từng hành

vi ứng xử dù rất đơn giản của ông bà, bố mẹ và những người lớn tuổi

Từ đó có thể thấy, sự biến đổi cấu trúc gia đình cũng như xu hướng xã hội hóa công tác chăm sóc, giáo dục trẻ em đã tác động mạnh đến chức năng chăm sóc, giáo dục trẻ em của gia đình

4 Biến đổi chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm lý tình cảm:

Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm lý tình cảm chỉ phương thức biểu hiện hoạt động sống của gia đình nhằm đáp ứng và làm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của các thành viên, đảm bảo sự phát triển của gia đình với tư cách là một tổ ấm

Đối với trẻ em, chức năng này của gia đình đảm bảo cho sự phát triển toàn diện cả về thể chất và tinh thần của trẻ, bởi trẻ em sinh ra không chỉ thuần túy cần

sự chăm lo phát triển về mặt thể chất mà còn cần cả sự lo lắng, chăm chút về mặt tình cảm và đời sống tinh thần từ phía người thân trong gia đình, đặc biệt là cha mẹ

Trải qua thời gian, chức năng tâm lý tình cảm của gia đình cũng có sự biến đổi và mang những nét đặc trưng riêng ở xã hội nông nghiệp, trong bối cảnh nhà nước và các tổ chức xã hội dựa vào thiết chế cơ sở là gia đình để tiến hành sản xuất, duy trì cuộc sống, thực hiện các nghĩa vụ giữ gìn và chuyển giao các giá trị văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác, gia đình trở thành một thiết chế xã hội đặc thù đảm nhiệm rất nhiều chức năng, trong đó nổi bật là chức năng kinh tế và chức năng tái sản xuất con người, trong khi đó, chức năng tâm

lý tình cảm bị chìm xuống, không mấy được quan tâm Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình được xây dựng dựa trên nguyên tắc quyền uy, một chiều, nghĩa là cha mẹ bảo thì con cái phải nghe, vấn đề thỏa mãn tâm lý tình cảm của các thành viên trong gia đình, đặc biệt là con cái không được tính đến

Cùng với sự phát triển của xã hội, địa vị xã hội của gia đình đã thay đổi kéo theo sự biến đổi chức năng tâm lý tình cảm của gia đình Trong quan hệ gia

đình lúc này, lợi ích của mỗi thành viên đều được tôn trọng; ý kiến, nguyện vọng của con cái được cha mẹ chú ý lắng nghe, con cái cũng có quyền đòi hỏi,

kỳ vọng tình cảm từ phía cha mẹ Cha mẹ có thể trò chuyện, tâm sự, chơi đùa với con cái, qua đó hiểu được con hơn, có thể tạo ra những hình thức sinh hoạt, giải trí làm đa dạng, phong phú đời sống tinh thần của trẻ em hơn (như đi dã ngoại, tổ chức sinh nhật, tới các nơi vui chơi, giải trí,…) Như thế, chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm lý tình cảm cho trẻ em ngày càng được đề cao

Tuy nhiên, khi nhu cầu tinh thần của con người ngày càng cao, gia đình lại có nguy cơ phải đối đầu với những thách thức mới Những thách thức đó có thể là sự thiếu hụt về thời gian quan tâm dành tình cảm cho con cái của cha mẹ,

sự hạn chế về điều kiện vật chất để chăm lo tốt hơn cho đời sống tinh thần của

Trang 16

trẻ, hoặc thậm chí là sự bất hòa, mâu thuẫn trong quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, tình trạng bạo lực gia đình,… cũng ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần của trẻ em

Thực tế có rất nhiều trẻ em trở thành nạn nhân của các cuộc cãi vã, đánh lộn, nhiếc móc của người lớn, đặc biệt là của cha mẹ khi họ có những bất hoà Một cuộc điều tra về sức khoẻ trẻ em đã đưa ra con số thống kê như sau: có tới 78,23% trẻ từ 6-15 tuổi bị cha mẹ hành hạ về thể xác, 33,9% trong số này đã phải hứng chịu những tổn thương nhất định, có 27,89% các em bị chửi mắng, 6,8% các em bị sỉ nhục 8

Kết quả cuộc nghiên cứu thăm dò dư luận trẻ em, do Viện Nghiên cứu Thanh niên tiến hành cuối năm 1998 về các hình thức xử phạt của cha mẹ đối với con cái cũng cho thấy một con số đáng ngại về tình hình bạo lực đối với trẻ

em Trong số 1240 em nhỏ được hỏi có tới 90,52% nói rằng chúng thường bị cha mẹ đánh khi có lỗi, trong đó vừa đánh vừa mắng 25,6%, đánh đau là 64,92% Cũng theo báo cáo này thì có 45% các em nói rằng mình bị phạt oan

ức, 72,08% cho rằng đã rất đau buồn khi bị xử phạt và 27,92% nói rằng các em rất tức giận bố mẹ Tỷ lệ các em tức giận bố mẹ cao nhất là ở nhóm những em bước vào tuổi vị thành niên, tức là từ 14-16 tuổi, chiếm 45,95%.9 Những tổn thương mà cha mẹ và người thân gây ra cho trẻ không chỉ tác động đến sức khỏe thể chất mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển tâm lý, tinh thần của trẻ Nếu trẻ em được sống trong gia đình êm ấm, cha mẹ luôn có biện pháp giáo dục tế nhị, phù hợp thì trẻ sẽ phát triển hài hòa, còn ngược lại trẻ sẽ rơi vào trạng thái trầm cảm, tâm thần, bất mãn, từ đó dễ bỏ nhà đi lang thang hoặc dễ dẫn đến những hành vi phạm pháp

Như vậy, mặc dù có những chuyển biến tích cực song việc đảm bảo thỏa mãn nhu cầu tâm lý tình cảm cho trẻ em hiện vẫn là thách thức đối với gia

đình, đặc biệt là các gia đình ở khu vực nông thôn, miền núi, bởi việc đáp ứng nhu cầu tâm lý, tình cảm tùy thuộc vào nhiều yếu tố như quan niệm, nhận thức, trình độ văn hóa, điều kiện kinh tế, phong tục tập quán của mỗi gia đình, mỗi vùng miền ở khu vực thành thị, nơi có đời sống vật chất cao hơn thì việc đáp ứng nhu cầu tâm lý tình cảm cho trẻ em trong gia đình đa dạng hơn, trong khi ở nông thôn thì việc đáp ứng nhu cầu tình cảm đơn giản hơn, thậm chí có nơi đời sống tinh thần của trẻ em còn chưa được sự quan tâm từ phía gia đình

IV Thực trạng năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ em của các gia đình ở khu vực nông thôn10:

1 Nhận thức của gia đình về trách nhiệm BVCSGD TE:

Số liệu trong phần này được trích chủ yếu từ kết quả điều tra của đề tài nhánh 2 “Thực trạng công tác bảo vệ,

chăm sóc và giáo dục trẻ em trong gia đình và cộng đồng sau 10 năm đổi mới” do PGS TS Lê Khanh làm chủ

nhiệm đề tài và Đề tài nhánh 3 “Thực trạng sức khỏe, học tập, vui chơi, giải trí của trẻ em và việc bảo vệ các

quyền lợi đó của gia đình cũng như cộng đồng” do TS Vũ Hào Quang làm chủ nhiệm đề tài Hai đề tài nhánh

này thuộc đề tài “Vị trí, vai trò của gia đình và cộng đồng trong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ

em” do UB DSGĐTE thực hiện năm 2001, GS TS Phạm Tất Dong làm chủ nhiệm đề tài

Trang 17

Nghiên cứu nhận thức của gia đình về trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em trước hết cần quan tâm đến nhận thức của các bậc cha mẹ về vấn đề này Thực trạng nhận thức của cha mẹ khu vực nông thôn về trách nhiệm chăm sóc, giáo dục trẻ em được xem xét theo các khía cạnh dưới đây

1.1 Nhận thức của cha mẹ về trách nhiệm pháp lý trong việc

BVCSGDTE:

Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự phát triển toàn diện của trẻ

em, bởi vậy nhiều bộ luật của Nhà nước đã được ban hành nhằm bảo vệ các quyền lợi của trẻ em, trong đó có Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (Luật BV, CS &GD TE) ban hành ngày 12/8/1991 và được Quốc hội sửa đổi thông qua ngày 15/6/2004 Có thể nói, đây là một trong những văn bản pháp luật quan trọng, có ý nghĩa to lớn trong việc đảm bảo quyền lợi của trẻ em cũng như quy định rõ vai trò và trách nhiệm của gia đình, cộng đồng và xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Chính vì thế, việc cha mẹ tiếp cận và nắm bắt những thông tin trong Luật BV, CS &GD TE là rất quan trọng

Kết quả điều tra 579 hộ gia đình nông thôn các khu vực đồng bằng (Thái Bình), miền núi (Bắc Cạn), trung du (Phú Thọ) và ngoại thành Hà Nội cho thấy: có 80,6% những người được hỏi biết Luật BVCSGDTE Việt Nam Chỉ có 19,4% chưa từng biết về luật này Và nguồn thông tin chủ yếu mà các bậc cha

mẹ tiếp cận được Luật này là qua tivi, đài (88,7%), báo chí (63,1%), cán bộ xã (39,4%) và qua bạn bè, người thân (26,8%)

Bảng 1 Hiểu biết của cha mẹ về Luật BVCSGDTE11

Phương án Ngoại thành HN Đồng bằng Miền núi Trung du Chung

điều cần thiết nhưng quan trọng hơn là phải nắm bắt được ý nghĩa, nội dung, thông tin cơ bản trong luật có liên quan tới trách nhiệm của cha mẹ đối với việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em

Luật BV, CS &GD TE năm ban hành năm 1991 (sửa đổi năm 2004) qui

định rất rõ trách nhiệm của các chủ thể là gia đình, Nhà nước, xã hội trong việc bảo đảm các quyền của trẻ em Đối với chủ thể là gia đình thì trách nhiệm này

được thể hiện ở vai trò của cha, mẹ hoặc người đỡ đầu phải hoàn thành việc thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em ngay trong gia đình của mình

Với những điều mục quy định rõ trách nhiệm của cha mẹ và gia đình trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ em thì hiểu biết của cha mẹ về những quy

định này trong Luật ra sao? Kết quả khảo sát 121 cha mẹ ở khu vực ngoại thành Hà Nội cho thấy như bảng 2 dưới đây

11

Đề tài nhánh 2, tr.72

Trang 18

Bảng 2 Hiểu biết của cha mẹ về những nội dung cơ bản trong Luật BV,

CS & GD TE (%)12

ý kiến trả lời Những nội dung cơ bản trong Luật BV, CS & GD TE

Có biết Không biếtCha mẹ là người trước tiên chịu trách nhiệm về việc chăm

sóc, nuôi dưỡng trẻ em

90,1 9,9

Cha mẹ dành điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ 93,4 6,6

Cha mẹ có trách nhiệm bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân

phẩm, danh dự của trẻ em

77,7 22,3

Cha mẹ phải thực hiện các biện pháp phòng ngừa tai nạn cho

trẻ em, tạo môi trường lành mạnh cho sự phát triển toàn diện

của trẻ

78,5 21,5

Cha mẹ có trách nhiệm tạo điều kiện, giúp đỡ trẻ em được

tiếp cận thông tin phù hợp, được phát triển sáng tạo và bày tỏ

nguyện vọng của mình

71,1 28,9

Cha mẹ phải gương mẫu về mọi mặt để trẻ em noi theo 89,3 10,7

Trong số 121 cha mẹ đã biết đến Luật BV, CS & GD TE thì có tới 90,1% cha mẹ hiểu rằng mình là đối tượng trước tiên chịu trách nhiệm về mặt pháp lý trước Nhà nước trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em Những nội dung cơ bản khác trong Luật BV, CS & GD TE cũng được cha mẹ nắm bắt rõ như: Cha

mẹ cần phải dành điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ (93,4%); Cha mẹ

có trách nhiệm bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em (77,7%); Cha mẹ phải thực hiện các biện pháp phòng ngừa tai nạn cho trẻ em, tạo môi trường lành mạnh cho sự phát triển toàn diện của trẻ (78,5%); Cha mẹ

có trách nhiệm tạo điều kiện, giúp đỡ trẻ em được tiếp cận thông tin phù hợp,

được phát triển sáng tạo và bày tỏ nguyện vọng của mình (71,1%); Cha mẹ phải gương mẫu về mọi mặt để trẻ em noi theo (89,3%)

Từ đó có thể thấy, phần lớn các bậc cha mẹ ở khu vực nông thôn đã nhận thức được trách nhiệm về mặt pháp lý của mình trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ em

1.2 Nhận thức của cha mẹ về điều kiện cần thiết để thực hiện việc chăm sóc, giáo dục trẻ em có hiệu quả:

Để thực hiện việc chăm sóc, giáo dục trẻ em có hiệu quả thì việc nhận

định các điều kiện cần thiết cho quá trình này là rất quan trọng, nó thể hiện sự quan tâm và nhu cầu chăm sóc, đầu tư cho con cái của các bậc cha mẹ

Thực tế hiện nay các gia đình nông thôn coi trình độ học vấn của cha mẹ (52,8%) và điều kiện kinh tế gia đình (50,5%) là những điều kiện cần thiết nhất cho việc chăm sóc, giáo dục con cái một cách có hiệu quả Tiếp theo là cha mẹ

đầu tư nhiều thời gian cho giáo dục cái (47,7%) và cha mẹ có phương pháp giáo dục con tốt (43,2%)

Bên cạnh đó, những yếu tố khách quan mang tính hỗ trợ bên ngoài như môi trường xã hội tốt (38,3%), sự hỗ trợ của nhà nước và các đoàn thể (30,1%),

12

Nguyễn Thị Quỳnh Hoa, Luận Văn Ths “Nhận thức của cha mẹ trong việc phòng ngừa tai nạn thương tích

cho trẻ em dưới 6 tuổi ở Hà Nội hiện nay”, Hà Nội 2006

Trang 19

truyền thống gia đình và địa phương (28,8%) và hệ thống truyền thông đại chúng (14,7%) cũng được các bậc cha mẹ đề cập tới (bảng 3)

Bảng 3 Nhận thức của gia đình về những điều kiện cần thiết để thực hiện việc chăm sóc, giáo dục trẻ em có hiệu quả 13

Cha mẹ có nhiều thời gian giáo dục con cái 47,7

Cha mẹ có phương pháp giáo dục con tốt 43,2

2 Kiến thức và kỹ năng chăm sóc, giáo dục trẻ em của các gia đình:

Như đã thấy, trong các điều kiện cần thiết cho việc chăm sóc, giáo dục trẻ em có hiệu quả, các bậc cha mẹ đã nhấn mạnh đến điều kiện về trình độ, hiểu biết, phương pháp chăm sóc, giáo dục con cái của cha mẹ, nghĩa là họ coi trọng năng lực chăm sóc, giáo dục con cái của cha mẹ Vậy trên thực tế, các bậc cha mẹ đã được trang bị đầy đủ những kiến thức, kỹ năng chăm sóc con cái? Và những kiến thức, kỹ năng đó có đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của trẻ em? Vấn đề này sẽ được tìm hiểu dưới đây

2.1 Kiến thức và kỹ năng chăm sóc sức khỏe trẻ em của các gia đình.:

Khi nói tới sức khỏe của trẻ em không thể không đề cập đến giai đoạn chăm sóc trẻ khi còn nằm trong bào thai Thực tế hiện nay, nhận thức của phụ nữ nông thôn về việc khám thai là khá tốt Trong số 203 hộ gia đình được khảo sát tại Nam Định và ngoại thành Hà Nội có tới 85,7% phụ nữ cho rằng cần thiết phải khám thai thường xuyên 8,4% cho rằng tùy theo hoàn cảnh để đi khám thai và 5,9% cho rằng việc khám thai là không cần thiết Trong số những người

13

Đề tài nhánh 2, tr 85

Trang 20

cho rằng không cần thiết phải đi khám thai thường xuyên có 3,9% cho rằng

này cho thấy vẫn còn một bộ phận tuy rất nhỏ những người mẹ có cách nhìn

thiếu khoa học hoặc mê tín về vấn đề sinh đẻ và chăm sóc trẻ em trong bào

thai

Nhìn chung, phần lớn các bậc cha mẹ đã hiểu được tầm quan trọng của

việc mang thai và khám thai Tuy nhiên, vấn đề ăn kiêng sau khi sinh con lại

không được họ đánh giá cao Chỉ có 51,7% cha mẹ được khảo sát cho rằng cần

phải ăn kiêng sau khi sinh

Quan niệm về một trẻ khỏe mạnh được các bậc cha mẹ nông thôn nhìn

nhận khá toàn diện Số liệu từ bảng 4 cho thấy rõ điều đó

Bảng 4 Quan niệm của cha mẹ về một trẻ khỏe mạnh15

Theo định nghĩa của tổ chức Y tế thế giới thì sức khoẻ không chỉ là

không có bệnh tật mà hiểu theo nghĩa toàn diện sức khoẻ bao gồm trạng thái

thoả mãn về thể chất, tinh thần và xã hội Và sống khỏe mạnh nghĩa là có được

sức khoẻ về thể chất, tâm thần, xã hội và tâm lý tình cảm

Các bậc cha mẹ ở vùng nông thôn nhìn nhận về sức khỏe của trẻ khá tốt

khi cho rằng một đứa trẻ khỏe mạnh phải có đời sống thể chất và tinh thần hài

hòa, bình thường (35,0% người trả lời) và sức khỏe đó phải đáp ứng được

những đòi hỏi của các hoạt động lao động, học tập, nhận thức (32,5%) Chỉ một

số ít cha mẹ nhận thức chưa đầy đủ khi cho rằng trẻ khỏe mạnh là phải có vóc

dáng to béo, mập mạp (16,7%) và gần như không ốm đau (15,8%)- nghĩa là chỉ

quan tâm đến sức khỏe thể chất của trẻ (bảng 4)

Từ những kiến thức về sức khỏe và việc chăm lo sức khỏe cho trẻ em như

vậy, các gia đình sẽ có những kỹ năng chăm sóc sức khỏe tương ứng cho trẻ

Kỹ năng chăm sóc sức khỏe trẻ em cũng được đo trên hai tiêu chí là chăm sóc

sức khỏe thể chất và chăm sóc sức khỏe tinh thần

2.1.1 Chăm sóc sức khỏe thể chất:

Chăm sóc sức khỏe thể chất của trẻ em trước hết thể hiện ở việc chăm

sóc trẻ về mặt dinh dưỡng, đảm bảo đầy đủ số lượng và chất lượng dinh dưỡng

cho trẻ Khảo sát 203 hộ gia đình cho thấy, trong khẩu phần ăn uống, cha mẹ

thường cho con cái ăn 3 bữa trong ngày (tỷ lệ người trả lời chiếm tới 83,3%)

Số lượng bữa ăn cho trẻ trong một ngày như vậy đã đảm bảo được đầy đủ chế

độ, bao gồm bữa sáng, bữa trưa và bữa tối Tỷ lệ cha mẹ cho con ăn nhiều bữa

Trang 21

hoặc ít bữa hơn chiếm không nhiều, cụ thể cho con ăn 2 bữa/ngày (5,4%); 4-5 bữa/ngày (4,4%) và nhiều lần trong ngày (6,9%)16

Biểu Số lượng bữa ăn của trẻ trong ngày

Về thành phần dinh dưỡng, các chất dinh dưỡng chính cần phải có trong bữa ăn của trẻ được các bậc cha mẹ chú ý nhiều nhất là thịt, trứng, cá, tôm, (95,2%), tiếp theo là đậu, đỗ, củ, quả (69,0%) và chất đường (42,7%)

Cách thức chăm sóc sức khỏe thể chất được cha mẹ cho là tốt nhất với con cái đó là cho con ăn đầy đủ chất dinh dưỡng (71,4%) Tuy nhiên cũng có những cha mẹ cho rằng con cái phải ăn thật nhiều thì mới đảm bảo sức khỏe (tỷ

lệ này chiếm 8,9%) Đây là một kỹ năng không tốt trong chăm sóc con cái vì thực tế sự thiếu hụt cũng như dư thừa các chất dinh dưỡng đều không tốt cho sức khỏe thể chất của trẻ Điều đáng nói là chỉ một số ít cha mẹ quan tâm đến việc khuyến khích con cái tham gia vào các hoạt động thể dục thể thao (7,9%)

và quan tâm theo dõi, định hướng cho trẻ trong các sinh hoạt ăn, ngủ và học tập vui chơi Cần phải khẳng định một điều rằng, việc ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng không thôi vẫn chưa thể đảm bảo cho trẻ có một sức khỏe tốt mà quan trọng là việc ăn uống phải được thực hiện một cách khoa học, theo chế độ hợp

lý, điều độ (ăn uống, ngủ nghỉ đầy đủ, đúng giờ) và kết hợp với vận động để tiêu hao năng lượng dư thừa Đó mới là kỹ năng chăm sóc sức khỏe toàn diện cho sự phát triển thể chất của trẻ

Từ đó có thể thấy, các bậc cha mẹ nông thôn hiện nay mới chỉ quan tâm

đến việc đảm bảo số lượng và chất lượng các chất dinh dưỡng nuôi cơ thể trẻ

mà chưa quan tâm nhiều đến việc thực hiện chế độ ăn uống của trẻ theo nề nếp sinh hoạt hợp lý, điều độ và khoa học

Việc chăm lo ăn uống cho trẻ được các thành viên trong gia đình tham gia, trong đó người mẹ đóng vai trò chủ đạo nhất

Bảng 5 Người thường xuyên cho trẻ ăn uống17

Người cho trẻ ăn uống Tỷ lệ %

Trang 22

Số liệu bảng 5 cho thấy vai trò của người mẹ nổi bật so với vai trò của người cha và những người khác trong gia đình trong hoạt động cho con ăn uống Cụ thể, có tới 76,4% trả lời mẹ là người thường xuyên cho trẻ ăn uống, chỉ có 4,9% trả lời là người cha Sự hỗ trợ của ông bà và anh chị trong việc cho trẻ ăn uống chiếm tỷ lệ không đáng kể (13,8% và 4,9%)

Có thể thấy, người phụ nữ luôn là người gần quan tâm, gần gũi và chăm sóc trẻ nhiều nhất Điều này một mặt xuất phát từ tình mẫu tử và hạnh phúc của bản thân người phụ nữ Mặt khác, mặc dù vị trí, vai trò của người phụ nữ hiện nay đã được nâng cao hơn rất nhiều so với trước song họ vẫn có trách nhiệm nặng nề hơn nam giới trong đời sống gia đình do phải đảm nhận thiên chức làm

vợ, làm mẹ Người phụ nữ luôn phải gắn liền với gia đình qua những công việc nội trợ, chăm sóc chồng con Từ xưa tới nay, người ta vẫn thường xem đây là trách nhiệm của phụ nữ Và người phụ nữ biết chăm lo cho gia đình, đặc biệt là chăm lo cho con cái như là một thứ giá trị được xã hội gán cho, dù muốn hay không họ vẫn phải thực hiện

Bên cạnh việc chăm sóc trẻ em về mặt dinh dưỡng, trẻ em cũng cần được chăm sóc, bảo vệ khỏi những dịch bệnh có thể xâm nhập vào cơ thể còn non yếu của trẻ Thực tế điều tra tại các khu vực đồng bằng, miền núi, trung du phía Bắc, trẻ em thường mắc hai loại bệnh là hô hấp (29,5%) và tai mũi họng (21,9%) Các bệnh như đường ruột, đau mắt, bệnh ngoài da, đau đầu, tim mạch

và bệnh mãn tính khác cũng xảy ra ở trẻ em nhưng chiếm tỷ lệ không cao ở khu vực đồng bằng các bệnh thường thấy ở trẻ em là bệnh hô hấp (50,5%) và bệnh ngoài da (50,0%) ở miền núi là bệnh mãn tính (44,5%), bệnh hô hấp (26,0%), bệnh tai mũi họng (22,0%) và bệnh tim mạch (14,0%) ở trung du trẻ

em thường mắc bệnh đường ruột (27,3%), bệnh mãn tính (26,1%) và bệnh ngoài da (22,7%)18 Chính vì thế, việc phòng bệnh và chữa bệnh cho trẻ khi đau

ốm là vô cùng quan trọng Đặc biệt, việc phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe ban

đầu cho trẻ thể hiện trình độ hiểu biết và sự quan tâm của gia đình tới sức khỏe

và sự phát triển chung của trẻ

Phần lớn cha mẹ trong 203 hộ gia đình được khảo sát đã biết đến các chương trình y tế cộng đồng liên quan đến việc chăm sóc sức khỏe trẻ em, cụ thể 83,0% biết tới chương trình y tế và sức khỏe cộng đồng; 94,0% biết tới chương trình tiêm chủng cho trẻ em; 82,2% biết tới chương trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh; 70,8% biết chương trình phòng chống tiêu chảy ở trẻ em; 85,1% biết chương trình muối iốt chống bướu cổ; 87,3% biết chương trình HIV/AIDS; 92,0% biết chương trình kế hoạch hóa gia đình; 61,0% biết chương trình chống các bệnh lao, phong

Trong các chương trình đó thì chương trình tiêm chủng phòng ngừa bệnh tật, bảo vệ sức khỏe của trẻ em được các gia đình thực hiện rất tốt, thể hiện ở việc đa số cha mẹ (93,1%) đã đưa con đi tiêm phòng đầy đủ, 4,4% thực hiện khá đầy đủ, 0,5% thực hiện chưa đầy đủ và chỉ còn 4,0% cha mẹ chưa đưa con

Ngày đăng: 14/05/2014, 08:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đề tài khoa học cấp Bộ, “Nghiên cứu nhu cầu dịch vụ gia đình Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”, UBDSGĐTE 2005, TS. Nguyễn Đức Mạnh làm chủ nhiệm đề tài, tr. 118 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu nhu cầu dịch vụ gia đình Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”
3. “Chăm sóc sức khỏe tâm thần cho trẻ em trong các gia đình Hà Nội hiện nay” đề tài Khoa học cấp Đại học quốc gia do TS Mai Thị Kim Thanh và các cộng sự thực hiện năm 2003- 2004.4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc sức khỏe tâm thần cho trẻ em trong các gia đình Hà Nội hiện nay”
5. “Gia đình và vấn đề giáo dục gia đình” của Trung tâm nghiên cứu khoa học về Phụ nữ. Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình và vấn đề giáo dục gia đình
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học xã hội
6. Lê Nh− Hoa “Văn hoá gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em”. Hà Nội, năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em
7. Lê Thi (chủ biên) “Gia đình Việt Nam hiện nay” . Nhà xuất bản Khoa học Xã hội .Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình Việt Nam hiện nay
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội .Hà Nội
8. Lê Ngọc Văn ,“Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hoá” .Nhà xuất bản Giáo dục phát hành Hà Nội,1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hoá
Tác giả: Lê Ngọc Văn
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1996
9. Lê Thị Quý, Bạo lực gia đình và ảnh hưởng của nó đến việc hình thành nhân cách của trẻ em. Tạp chí Khoa học về Phụ nữ. Số 4/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bạo lực gia đình và ảnh h−ởng của nó đến việc hình thành nhân cách của trẻ em
10. Nguyễn Thị Quỳnh Hoa, Luận Văn Ths “Nhận thức của cha mẹ trong việc phòng ngừa tai nạn th−ơng tích cho trẻ em d−ới 6 tuổi ở Hà Nội hiện nay”, Hà Nội 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức của cha mẹ trong việc phòng ngừa tai nạn th−ơng tích cho trẻ em d−ới 6 tuổi ở Hà Nội hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Quỳnh Hoa
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
11. Hồ Chí Minh. Toàn tập (1996), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Néi, tËp 9, tr 222. tr 467-468 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
12. Hoàng Bá Thịnh, “Biến đổi chức năng gia đình và giáo dục trẻ em hiện nay” - Kỷ yếu hội thảo Gia đình với việc chăm sóc- giáo dục trẻ mầm non thời kỳ CNH- HĐH đất nước -12/2003, tr. 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi chức năng gia đình và giáo dục trẻ em hiện nay
13. Khảo sát thực trạng và nhận thức về các hình thức xâm hại trẻ em tại một số địa phương của Việt Nam (Hà Nội, Bắc Giang, Phú Thọ, Thái nguyên, Quảng Bình.) Chủ nhiệm đề tài TS. Nguyễn Đức Mạnh. Hà Nội 9-2006. tr55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát thực trạng và nhận thức về các hình thức xâm hại trẻ em tại một số địa phương của Việt Nam (Hà Nội, Bắc Giang, Phú Thọ, Thái nguyên, Quảng Bình.)
Tác giả: TS. Nguyễn Đức Mạnh
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
14. Nguyễn Đức Mạnh. Một số vấn đề biến đổi chức năng của gia đình và chăm sóc giáo dục trẻ em tuổi mầm non trong gia đình hiện nay, trích trong cuốn “Gia đình Việt Nam – Quan hệ, quyền lực và xu hướng biếnđổi”, Vũ Hào Quang chủ biên, Nxb ĐH Quốc gia , Hà Nội, 2006, tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình Việt Nam – Quan hệ, quyền lực và xu hướng biến đổi
Nhà XB: Nxb ĐH Quốc gia
15. “Một số nội dung và biện pháp giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ em trong gia đình” (2000) luận án tiến sỹ của Võ Nguyên Du Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số nội dung và biện pháp giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ em trong gia đình”
19. “Xây dựng nội dung cần bồi d−ỡng cho cha mẹ học sinh để giải quyết một số vấn đề cấp bách trong giáo dục hiện nay” (2000), mã số B 98-49- 69 do TS. Nguyễn Thanh Bình làm chủ nhiệm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nội dung cần bồi d−ỡng cho cha mẹ học sinh để giải quyết một số vấn đề cấp bách trong giáo dục hiện nay
Tác giả: “Xây dựng nội dung cần bồi d−ỡng cho cha mẹ học sinh để giải quyết một số vấn đề cấp bách trong giáo dục hiện nay”
Năm: 2000
23. “Vai trò của gia đình trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên” . Trung tâm nghiên cứu Khoa học về gia đình và phụ nữ thực hiện. TS.Nguyễn Linh Khiếu làm chủ nhiệm đề tài. Hà nội -2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vai trò của gia đình trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên”
24. “Vai trò của gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay” .Luận án tiến sỹ của Nghiêm Sĩ Liêm, thực hiện năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vai trò của gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ ở n−ớc ta hiện nay”
25. “Vai trò của gia đình đối với việc giáo dục trẻ em h− ở thành phố”.Luận án tiến sỹ xã hội học của Nguyễn Đức Mạnh, thực hiện năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vai trò của gia đình đối với việc giáo dục trẻ em h− ở thành phố”
26. “Quan niệm của Nho giáo về giáo dục con người và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục con ng−ời ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá- hiện đại hoá” Luận án tiến sỹ của Nguyễn Thị Nga, thực hiện năm 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quan niệm của Nho giáo về giáo dục con ng−ời và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục con ng−ời ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá- hiện đại hoá
27. Trần Văn Chiến, Chức năng sinh đẻ của gia đình, trích trong cuốn “Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với gia đình Việt Nam hiện nay”- UBDSG§TE, 2004, tr. 129 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với gia đình Việt Nam hiện nay
Tác giả: Trần Văn Chiến
Nhà XB: UBDSG§TE
Năm: 2004
3. Chỉ thị số 55/CT/TW ngày 28/6/2000 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung −ơng Đảng cộng sản Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Mức sinh của Việt Nam trong những thập kỷ qua 3 - Báo  cáo tổng thuật tài liệu, nghiên cứu về năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ em
Bảng 1. Mức sinh của Việt Nam trong những thập kỷ qua 3 (Trang 12)
Bảng 2. Hiểu biết của cha mẹ về những nội dung cơ bản trong Luật BV, - Báo  cáo tổng thuật tài liệu, nghiên cứu về năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ em
Bảng 2. Hiểu biết của cha mẹ về những nội dung cơ bản trong Luật BV, (Trang 18)
Bảng 3. Nhận thức của gia đình về những điều kiện cần thiết để thực  hiện việc chăm sóc, giáo dục trẻ em có hiệu quả  13 - Báo  cáo tổng thuật tài liệu, nghiên cứu về năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ em
Bảng 3. Nhận thức của gia đình về những điều kiện cần thiết để thực hiện việc chăm sóc, giáo dục trẻ em có hiệu quả 13 (Trang 19)
Bảng 4. Quan niệm của cha mẹ về một trẻ khỏe mạnh 15 - Báo  cáo tổng thuật tài liệu, nghiên cứu về năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ em
Bảng 4. Quan niệm của cha mẹ về một trẻ khỏe mạnh 15 (Trang 20)
Bảng 5. Ng−ời th−ờng xuyên cho trẻ ăn uống 17 - Báo  cáo tổng thuật tài liệu, nghiên cứu về năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ em
Bảng 5. Ng−ời th−ờng xuyên cho trẻ ăn uống 17 (Trang 21)
Bảng 6. Các biện pháp mà cha mẹ đã sử dụng để chữa bệnh cho trẻ em 22 - Báo  cáo tổng thuật tài liệu, nghiên cứu về năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ em
Bảng 6. Các biện pháp mà cha mẹ đã sử dụng để chữa bệnh cho trẻ em 22 (Trang 23)
Bảng 7. Người thân trong gia đình dành thời gian để vui chơi với các em - Báo  cáo tổng thuật tài liệu, nghiên cứu về năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ em
Bảng 7. Người thân trong gia đình dành thời gian để vui chơi với các em (Trang 24)
Bảng 8. Gia đình tạo điều kiện vui chơi, giải trí cho trẻ em 24 - Báo  cáo tổng thuật tài liệu, nghiên cứu về năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ em
Bảng 8. Gia đình tạo điều kiện vui chơi, giải trí cho trẻ em 24 (Trang 25)
Bảng 10. Cha mẹ định hướng cho con cái sử dụng thời gian nhàn rỗi 27 Hoạt động trong thời gian rỗi  Tỷ lệ % - Báo  cáo tổng thuật tài liệu, nghiên cứu về năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ em
Bảng 10. Cha mẹ định hướng cho con cái sử dụng thời gian nhàn rỗi 27 Hoạt động trong thời gian rỗi Tỷ lệ % (Trang 26)
Bảng 11. Những phẩm chất tính cách mà cha mẹ th−ờng quan tâm giáo  dục cho con cái trong gia đình 28 - Báo  cáo tổng thuật tài liệu, nghiên cứu về năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ em
Bảng 11. Những phẩm chất tính cách mà cha mẹ th−ờng quan tâm giáo dục cho con cái trong gia đình 28 (Trang 28)
Bảng 12. Phương pháp giáo dục trẻ em tại gia đình 29 - Báo  cáo tổng thuật tài liệu, nghiên cứu về năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ em
Bảng 12. Phương pháp giáo dục trẻ em tại gia đình 29 (Trang 29)
Bảng 14. Nhu cầu và thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập con - Báo  cáo tổng thuật tài liệu, nghiên cứu về năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ em
Bảng 14. Nhu cầu và thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập con (Trang 34)
Bảng 14 cho thấy: mức thu nhập của gia đình tỷ lệ thuận với nhu cầu sử - Báo  cáo tổng thuật tài liệu, nghiên cứu về năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ em
Bảng 14 cho thấy: mức thu nhập của gia đình tỷ lệ thuận với nhu cầu sử (Trang 35)
Bảng 15 cho thấy tần suất gặp gỡ trao đổi giữa gia đình và nhà trường  không được thường xuyên - Báo  cáo tổng thuật tài liệu, nghiên cứu về năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ em
Bảng 15 cho thấy tần suất gặp gỡ trao đổi giữa gia đình và nhà trường không được thường xuyên (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w