Đề tài "Đánh giá thực trạng năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ em của các gia đình khu vực nông thôn phía Bắc" nhằm tìm hiểu thực trạng kiến thức, kỹ năng trong việc bảo vệ, chăm sóc và gi
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Tính cấp thiết của đề tài: 4
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5
3 Mục đích, mục tiêu nghiên cứu 8
4 Nội dung nghiên cứu 8
5 Đối tượng, khách thể nghiên cứu; thời gian và địa bàn nghiên cứu: 9
6 Phạm vi nghiên cứu 9
7 Phương pháp nghiên cứu: 9
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: 11
PHẦN NỘI DUNG 12
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 12
I Các khái niệm liên quan 12
1 Trẻ em 12
2 Bảo vệ trẻ em 12
3 Chăm sóc trẻ em 13
4 Giáo dục 13
5 Các lực lượng tham gia chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em 13
6 Gia đình 15
II Quan điểm của Đảng và các chính sách của Nhà nước liên quan đến bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong gia đình 16
1 Quan điểm của Đảng và các chính sách của Nhà nước liên quan đến bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 16
2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về nâng cao năng lực cho các bậc cha mẹ trong việc chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em 17
3 Hệ thống văn bản chính sách liên quan đến bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 18
4 Nhận xét về hệ thống văn bản chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 19
III Các yếu tố ảnh hưởng tới kiến thức, kỹ năng của các gia đình trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 19
CHƯƠNG II KẾT QUẢ KHẢO SÁT TÌNH HÌNH BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM TRONG GIA ĐÌNH TẠI ĐỊA BÀN 23
I Thông tin chung về người trả lời 23
1 Tuổi 23
2 Giới tính 23
3 Dân tộc, tôn giáo người trả lời 24
4 Học vấn 24
5 Nghề nghiệp 25
6 Tình trạng hôn nhân 25
7 Số thế hệ và số thành viên trong gia đình 26
8 Điều kiện sống của các gia đình 26
II Thực trạng công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong gia đình: 31
Trang 31 Vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ 31
1.1 Về bảo vệ trẻ em 31
1.2 Về chăm sóc trẻ em 34
1.3 Về giáo dục trẻ em 35
2 Thực trạng kiến thức và kỹ năng của các bậc cha mẹ về bảo vệ trẻ em trong gia đình 37
2.1 Kiến thức, kỹ năng của cha mẹ về an toàn khi sử dụng điện 37
2.2 Kiến thức, kỹ năng về bảo vệ trẻ tránh bị đuối nước 41
2.3 Kiến thức, kỹ năng bảo vệ trẻ tránh bị ngộ độc 44
2.4 Kiến thức, kỹ năng bảo vệ trẻ tránh tai nạn giao thông đường bộ 47
2.5 Kiến thức, kỹ năng bảo vệ trẻ tránh bị tổn thương tinh thần 49
2.6 Kiến thức, kỹ năng cha mẹ dưới 6 tuổi về phòng tránh bỏng cho trẻ em: 53
2.7 Kiến thức, kỹ năng bảo vệ trẻ không bị ngã gây thương tích 55
2.8 Kiến thức, kỹ năng phòng tránh hóc nghẹn cho trẻ: 58
2.9 Phần kiến thức và kỹ năng của cha mẹ có con từ 6 đến 16 tuổi về bảo vệ trẻ tránh sa vào tệ nạn xã hội 60
3 Thực trạng kiến thức và kỹ năng của các bậc cha mẹ về chăm sóc trẻ em trong gia đình 64
3.1 Kiến thức: 64
3.2 Kỹ năng: 73
4 Thực trạng công tác giáo dục trẻ em trong gia đình 78
4.1 Kiến thức và kỹ năng chung của cha mẹ về giáo dục trẻ em: 78
4.2 Kỹ năng và nội dung giáo dục trẻ em trong các gia đình khu vực nông thôn phía Bắc 87
5 Việc tiếp cận thông tin của các bậc cha mẹ trong bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em 94
5.1 Việc tiếp cận thông tin của cha mẹ trong bảo vệ trẻ em 94
5.2 Việc tiếp cận thông tin của cha mẹ về chăm sóc trẻ em 102
5.3 Việc tiếp cận thông tin của cha mẹ về giáo dục trẻ em 109
III Nhu cầu của các bậc cha mẹ trong việc nâng cao năng lực về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 116
1 Nhu cầu bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kỹ năng 116
2 Nhu cầu được cải thiện các điều kiện sống 125
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 128
I Những phát hiện chính: 128
II Kết luận: 131
III Khuyến nghị: 132
1 Với Nhà nước 132
2 Với cơ quan quản lý nhà nước về gia đình: 133
3 Với các cơ quan giáo dục xã hội: 133
4 Với các gia đình: 134
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHÁO 135
Trang 4I Tỉnh Hà Tây 138
1 Huyện Quốc Oai 138
2 Xã Đồng Quang 139
3 Xã Sài Sơn 140
II Tỉnh Hòa Bình 141
1 Huyện Yên Thủy 142
2 Xã Yên Lạc 142
3 Xã Hữu Lợi 144
III Tỉnh Thái Bình 146
1 Huyện Kiến Xương 146
2 Xã Thanh Tân 147
3 Xã Bình Nguyên 148
PHỤ LỤC 2 : MÔ HÌNH NÂNG CAO NĂNG LỰC CHĂM SÓC, GIÁO DỤC VÀ BẢO VỆ TRẺ EM CỦA CÁC GIA ĐÌNH KHU VỰC NÔNG THÔN PHÍA BẮC 151
1 Cơ sở đề xuất mô hình .151
2 Mô hình can thiệp, cung cấp nâng cao kiến thức, kỹ năng bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em tại gia đình 152
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Gia đình là tế bào của xã hội, nơi con người sinh ra và lớn lên, nơi thế
hệ trẻ được chăm lo cả về thể chất, trí tuệ, đạo đức và nhân cách để hội nhập vào cuộc sống cộng đồng xã hội Tuy không phải là thiết chế duy nhất có vai trò bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, nhưng môi trường gia đình bao giờ cũng là môi trường quan trọng nhất Bởi bản chất của việc bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em xuất phát từ tình thương yêu không tính toán, từ trách nhiệm gìn giữ nòi giống, duy trì và phát triển truyền thống văn hoá gia đình
có thể khẳng định gia đình giữ vị trí trung tâm Điều đó xuất phát từ những đặc trưng của giáo dục gia đình
Cùng với quá trình phát triển của đời sống xã hội, chức năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của gia đình cũng dần biến đổi Sự biến đổi này mang trong mình cả yếu tố tích cực và tiêu cực Chất lượng sống được nâng cao cả về mặt vật chất và tinh thần giúp cho trẻ em trong gia đình hiện nay được chăm sóc tốt hơn, có cơ hội phát triển về thể lực và trí lực hơn so với thế
hệ trước Tuy nhiên, sự phát triển của nền kinh tế đi kèm với những đòi hỏi ngày một cao của công việc, sự hối hả của nhịp sống công nghiệp đôi khi lại khiến các bậc cha mẹ không có đủ thời gian để bảo vệ, chăm sóc và giáo dục con mình Sự lơ là, thiếu kiến thức, kỹ năng của cha mẹ và môi trường xã hội đầy biến động đã dẫn tới những ảnh hưởng tiêu cực tới trẻ em như tình trạng tai nạn thương tích, hiện tượng “ngồi nhầm lớp” hay trẻ em vi phạm pháp luật xuất hiện nhiều trong thời gian gần đây
Nền kinh tế tri thức đang hình thành trên thế giới cùng với xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, đặt ra nhiệm vụ mới, không chỉ cho hệ thống thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em mà cho cả gia đình trách nhiệm giáo dục hình thành con người mới năng động, sáng tạo, tự chủ, có khả năng thích ứng nhanh, có đủ năng lực hội nhập đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao của nền kinh tế tri thức nói chung, của giai đoạn công nghiệp
Trang 6hoá, hiện đại hoá đất nước nói riêng Vì vậy, việc nâng cao kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em cho gia đình để góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ có thể đáp ứng tốt trong nền kinh tế tri thức là một vấn đề cấp bách trong giai đoạn hiện nay
Khu vực nông thôn phía Bắc là những địa phương có đặc thù nghề nghiệp là sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá cũng đang diễn ra mạnh mẽ làm biến đổi tính chất nền sản xuất cũng như đời sống văn hoá xã hội, phong tục tập quán của người dân Tuy nhiên, đây cũng là khu vực có lịch sử văn hoá lâu đời – xuất thân từ cái nôi văn hoá vùng đồng bằng sông Hồng do vậy những kiến thức dân gian
có ảnh hưởng nhiều tới việc chăm sóc và giáo dục trẻ em Và tại một số vùng, một số địa phương, việc tiếp cận những kiến thức và kỹ năng mới trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em còn hạn chế Điều này dẫn tới việc các gia đình gặp khó khăn trong việc tiếp nhận nội dung và phương pháp phù hợp trong chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em
Đề tài "Đánh giá thực trạng năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ em của các gia đình khu vực nông thôn phía Bắc" nhằm tìm hiểu thực trạng kiến
thức, kỹ năng trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của các gia đình tại khu vực này, đồng thời tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng tới kiến thức, kỹ năng của các gia đình, từ đó xác định các nhu cầu đối với việc được nâng cao kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục của cha mẹ để đề xuất giải pháp nâng cao kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em cho các gia đình thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Ở nước ngoài:
Hầu hết các nước, dù là ở vùng địa lý, văn hoá khác nhau nhưng đều thống nhất chung một quan điểm rằng môi trường tốt nhất để bảo vệ, chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em là gia đình Trên thế giới, rất nhiều công trình nghiên cứu, ấn phẩm đã được xuất bản với nội dung cung cấp những kiến thức, kỹ năng cho các bậc cha mẹ làm tốt việc chăm sóc, bảo vệ, giáo dục trẻ
em Năm 1989, nhà xuất bản Doubleday – Anh xuất bản cuốn “Vì sao cha mẹ tốt mà con lại hư” – “Why good parents have bad kids” của tác giả E Kent Hayes đã đề cập tới việc để có một người con khoẻ mạnh, có ích và thành đạt thì cha mẹ cần phải có kiến thức, kỹ năng như biết lắng nghe, động viên và kiên nhẫn Cuốn sách này đã được NXB Phụ nữ dịch ra tiếng Việt và xuất bản vào năm 2002
Trang 7Tiến sỹ Y Khoa Edward Hallowell cũng đã nghiên cứu về những đặc điểm tâm lý trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ để từ đó hướng dẫn các bậc cha
mẹ có cách thức thích hợp chăm sóc, giáo dục con em mình Nghiên cứu của ông đã được xuất bản thành sách với tựa đề “When you worry about the child you love” – “Khi bạn lo lắng về đứa con yêu của mình” (NXB Phụ nữ, Hà Nội, 2003)
Ở Trung Quốc, quốc gia có nhiều đặc trưng văn hoá truyền thống tương đồng với Việt Nam, cho dù vẫn còn quan niệm việc nuôi dạy con cái là trách nhiệm của người mẹ, nhưng làm thế nào để người mẹ có đủ khả năng nuôi dạy con trong một thế giới với thông tin đa chiều như hiện nay cũng đã được chuyên gia tâm lý giáo dục Lưu Tiểu Hà nghiên cứu sâu trong cuốn sách
“Hãy làm một người mẹ thông minh”( NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2002)
Song song với các công trình nghiên cứu, rất nhiều hội nghị, diễn đàn quốc tế đã được tổ chức để thảo luận với nội dung nâng cao hơn nữa sự đầu tư của các chính phủ đối với việc chăm sóc, giáo dục trẻ em Một trong những nội dung được đề cập tới khi nghiên cứu việc chăm sóc, giáo dục trẻ em là vai trò quan trọng của gia đình trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ em Điều này đã được xác định trong văn bản của 2 diễn đàn quốc tế gần đây nhất về lĩnh vực gia đình Đó là: Tuyên bố Hà nội (tại diễn đàn Gia đình các nước khu vực Đông Á, Hà nội, từ ngày 28 đến 30 tháng 04 năm 2004) và diễn đàn "Gia đình trong giai đoạn chuyển giao (Diễn ra tại Canberra, Australia, từ 1 đến 2 tháng
12 năm 2005) Tại hai diễn đàn này, các nước tham gia thuộc các châu lục đã
khẳng định: "gia đình là đơn vị cơ bản của xã hội, có vị trí và vai trò rất quan trọng trong việc nuôi dưỡng, hình thành nhân cách của mỗi người"
2.2 Ở Việt Nam:
Trong một vài năm gần đây đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu
có liên quan đến vấn đề năng lực của gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Tiêu biểu là một số công trình nghiên cứu sau:
Đề tài “Vị trí, vai trò của gia đình trong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em” do GS.TS Phạm Tất Dong làm chủ nhiệm Đề tài tiến hành trong 02 năm từ 1999-2000 và trên các tỉnh thuộc 3 khu vực Bắc, Trung, Nam Kết quả nghiên cứu đã khái quát được thực trạng việc chăm sóc sức khoẻ cho trẻ em về ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng, về tiêm chủng, nhận thức đúng về trách nhiệm của gia đình phải chăm sóc sức khoẻ cho trẻ em Đồng thời một vấn đề quan trọng cũng đã được các tác giả đề cập đến đó là sự quan tâm của gia đình đối với các hoạt động học tập, vui chơi, giải trí Tuy
Trang 8nhiên, đề tài chưa đi sâu nghiên cứu về vai trò của gia đình trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ em, nhất là việc đề xuất các mô hình hoạt động nâng cao kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của gia đình
Đề tài “Thực trạng công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong gia đình và cộng đồng sau 10 năm đổi mới” do PGS.TS Lê Khanh làm chủ nhiệm Đề tài tiến hành điều tra 579 gia đình, 175 cán bộ và triển khai tại Bắc Kạn, Phú Thọ, Thái Bình, Hà Nội, ngoài ra còn sử dụng một số số liệu nghiên cứu tại các địa bàn như Bến Tre, TP Hồ Chí Minh Đề tài đã đánh giá được thực trạng nhận thức của gia đình, cán bộ về công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; về hoạt động bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em tại gia đình và cộng đồng như chăm sóc về sức khoẻ cho trẻ về sự quan tâm, tham gia vào giáo dục học tập và vui chơi của trẻ, phương pháp giáo dục trẻ, nhân tố tác động đến khả năng chăm sóc, giáo dục trẻ của gia đình Tuy nhiên, đề tài chưa đưa ra được giải pháp cụ thể nào giúp gia đình làm tốt việc chăm sóc, giáo dục cho trẻ
Đề tài “Những nhân tố mới bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em trong gia đình và cộng đồng” do TS Lê Trung Trấn và nhóm nghiên cứu thực hiện trong tháng 9/2000 đã đưa ra kết luận là gia đình và cộng đồng có vị trí, ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với trẻ em, đặc biệt đối với việc hình thành và phát triển nhân cách của con người Vì vậy, chất lượng chăm sóc, bảo vệ, giáo dục trẻ em tuỳ thuộc vào nhận thức, điều kiện, kỹ năng, khả năng thực hiện của gia đình và cộng đồng Tuy nhiên vấn đề làm thế nào để nâng cao chất lượng của việc chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em chưa được đề cập đến đầy
đủ
Đề tài “Gia đình, trẻ em và sự kế thừa các giá trị truyền thống” do PGS.TS Đặng Cảnh Khanh và nhóm nghiên cứu tiến hành năm 2003, với 800 mẫu gia đình được điều tra tại Hà Nội, Huế, Hà Tây để tìm hiểu mức độ quan tâm của gia đình đối với việc chăm sóc, giáo dục cho con cái và giáo dục các giá trị gia đình truyền thống cho con cái trong các gia đình hiện nay
Năm 2005, Dự án tư vấn kỹ thuật “Hỗ trợ phát triển trẻ thơ trong các gia đình nghèo ở Việt Nam” do Viện Khoa học Dân số, Gia đình và Trẻ em,
Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thực hiện Dự án tiến hành trên quy mô lớn ở 40 tỉnh thành trong cả nước Kết quả nghiên cứu đã đưa ra khuyến nghị cần cung cấp các dịch vụ phát triển trẻ thơ đến các gia đình, tập trung vào trẻ
em từ 0-3 tuổi và trẻ em ở các vùng khó khăn, hỗ trợ cho các gia đình nghèo, các chính sách thực hiện cho trẻ em trong các gia đình nghèo và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để các em có thể tiếp cận các dịch vụ chăm sóc
Trang 9giáo dục mầm non miễn phí Tuy nhiên, dự án chủ yếu mới chỉ tìm hiểu về thực trạng tình hình chăm sóc và giáo dục trẻ thơ, và có hỗ trợ cho các gia đình nghèo, khuyến nghị miễn phí học cho các cháu Vấn đề tìm hiểu về năng lực, các kỹ năng chăm sóc, giáo dục con cái của các bậc cha mẹ vẫn còn chưa được nghiên cứu sâu
Nhìn chung, các dự án, đề tài đã tiến hành nghiên cứu mới chỉ dừng lại
ở các khía cạnh khác nhau về vai trò, vị trí, biện pháp của gia đình trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ em Chưa có dự án, đề tài nào nghiên cứu chuyên biệt,
đi sâu tìm hiểu vấn đề năng lực của gia đình trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ
em Thêm nữa, cho tới nay, chưa có một mô hình nào được xây dựng nhằm cung cấp và nâng cao kiến thức, kỹ năng cho các gia đình, giúp các gia đình thực hiện tốt hơn chức năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
3 Mục đích, mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của các gia đình tại một số tỉnh thuộc khu vực nông thôn phía Bắc nhằm xây dựng mô hình củng cố và nâng cao kiến thức, kỹ năng cho các gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
3.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của các gia đình Tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng kiến thức và kỹ năng chăm sóc, giáo dục trẻ em của các gia đình
- Xác định nhu cầu của các gia đình đối với nâng cao kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em
- Đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng mô hình can thiệp nâng cao kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của các gia đình trên cơ
sở các nhu cầu thực tế
4 Nội dung nghiên cứu
- Thực trạng kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của cha mẹ, ông bà
- Thực trạng kiến thức và kỹ năng của cha mẹ, ông bà trong các gia đình đối với việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
- Nhu cầu, nguyện vọng của cha mẹ về việc bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em
- Đề xuất một số giải pháp triển khai xây dựng mô hình
Trang 10- Xây dựng nội dung của mô hình can thiệp nâng cao kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em cho cha mẹ
5 Đối tượng, khách thể nghiên cứu; thời gian và địa bàn nghiên cứu:
* Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng kiến thức, kỹ năng chăm sóc, giáo
dục trẻ em của các gia đình khu vực nông thôn phía Bắc
* Địa bàn nghiên cứu:
Do điều kiện thời gian và khả năng kinh phí có hạn nên đề tài tập trung nghiên cứu tại 3 tỉnh: Hà Tây, Thái Bình và Hoà Bình Mỗi tỉnh chọn 1 huyện, mỗi huyện chọn 2 xã để khảo sát nghiên cứu
- Tại Hà Tây: xã Sài Sơn và xã Đồng Quang, huyện Quốc Oai
- Tại Hòa Bình: xã Yên Lạc và xã Hữu Lợi, huyện Yên Thủy
- Tại Thái Bình: xã Thanh Tân và xã Bình Nguyên, huyện Kiến Xương
* Thời gian nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 7 năm 2007 đến tháng 6 năm 2008
6 Phạm vi nghiên cứu
Kiến thức và kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một vấn
đề có phạm vi rộng Trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu làm rõ thực trạng kiến thức và kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em của các gia đình cũng như xác định các yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng này theo các chỉ báo đã được xây dựng Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp can thiệp nhằm củng cố và nâng cao kiến thức và kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong các gia đình
7 Phương pháp nghiên cứu:
7.1.Phương pháp phân tích tài liệu:
- Tổng hợp và phân tích hệ thống các quan điểm, chính sách về giáo dục gia đình; kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của các gia đình ở trên thế giới và Việt Nam
- Tổng hợp và phân tích hệ thống các công trình nghiên cứu, các kết quả điều tra khảo sát, các báo cáo tổng hợp về tình hình kinh tế xã hội chung của địa bàn nghiên cứu Tổng quan các kết quả nghiên cứu khoa học đã được thực hiện có liên quan đến đề tài để đánh giá được những thành tựu, hạn chế của đề tài và vấn đề nghiên cứu đặt ra
Trang 117.2 Phương pháp điều tra xã hội học
số liệu bằng 600 bảng hỏi tại 3 tỉnh Mẫu nghiên cứu cụ thể là:
Tại 1 xã: 100 người, trong đó:
- 50 cha/ mẹ có con dưới 6 tuổi
- 50 cha/ mẹ có con trong độ tuổi từ 6 đến dưới 16 tuổi
b Phỏng vấn sâu
Nhằm nghiên cứu sâu hơn các chủ đề về thực trạng kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của các bậc cha mẹ mà trong bảng hỏi không có điều kiện đi sâu làm rõ Đồng thời nghiên cứu tâm lý và kiến thức,
kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của một số cá nhân cha mẹ có tính
đại diện và điển hình Tại 1 xã tham gia nghiên cứu, đề tài tiến hành 9 phỏng
vấn sâu: 2 cha/ mẹ có trẻ em thuộc 2 nhóm tuổi như trên; 2 đối tượng ông và bà; 3 giáo viên theo 3 cấp học tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông; 1 cán bộ Y tế và 1 công an xã
c Thảo luận nhóm
Phương pháp này được sử dụng nhằm hỗ trợ cho phương pháp điều tra bằng bảng hỏi được tiêu chuẩn hóa, để tìm hiểu sâu hơn những vấn đề nghiên cứu về kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của các bậc cha
mẹ mà trong phiếu điều tra bằng bảng hỏi chưa có điều kiện đi sâu) Tại 1 xã, chúng tôi tiến hành 1 thảo luận nhóm cha mẹ có con dưới 16 tuổi, 1 thảo luận nhóm ông, bà và 1 thảo luận nhóm dành cho nhóm cán bộ chính quyền đoàn thể
Các tư liệu định tính thu được qua các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được tổng hợp, phân tích
Trang 128 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
8.1 Về lý luận
- Hệ thống hoá các quan điểm về vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong gia đình; các lực lượng tham gia vào quá trình này Đặc biệt tập trung nghiên cứu sâu các quan điểm của Đảng và hệ thống các văn bản chính sách của Nhà nước Việt Nam liên quan đến bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em
- Góp phần làm rõ hệ thống khái niệm: bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trong điều kiện xã hội công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nông thôn khu vực đồng bằng sông Hồng hiện nay
Trang 13PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I Các khái niệm liên quan
1 Trẻ em
Khái niệm trẻ em đã được đề cập trong Tuyên bố Giơnevơ (1924) và Tuyên bố của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em (1959), Tuyên bố thế giới về quyền con người (1968), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị
(1966) và nhiều công ước quốc tế khác Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người Đó là những người chưa trưởng thành, còn non nớt về thể chất và trí tuệ, dễ bị tổn thương, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể
cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời Về vị thế xã hội, trẻ em là một nhóm thành viên xã hội ngày càng có khả năng hội nhập xã hội với tư cách là những chủ thể tích cực, có ý thức, nhưng cũng là đối tượng cần được gia đình và xã hội quan tâm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục Theo điều 1 của Công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em, "Trẻ em có
nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp Luật pháp áp dụng với trẻ em đó
có quy định tuổi thành niên sớm hơn"
Tại Việt Nam, khái niệm trẻ em cũng được đề cập tại nhiều văn bản pháp quy như: Luật Phổ cập giáo dục, Bộ luật hình sự, Bộ luật lao động, Bộ luật dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Tuỳ thuộc vào từng luật và căn cứ vào quyền lợi và nghĩa vụ tốt nhất của trẻ em mà các văn bản này xác định độ tuổi đối với trẻ em có sự khác
biệt Quy định trẻ em là "công dân Việt Nam dưới 16 tuổi" sẽ tạo điều kiện
để tập trung hơn cho những đối tượng thuộc nhóm tuổi nhỏ Tuy nhiên, trong thực tiễn hoạt động, lứa tuổi 16 - 18 vẫn cần được coi là trẻ em Vì đây là lứa tuổi thuộc nhóm vị thành niên mà công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em cần đặc biệt quan tâm
2 Bảo vệ trẻ em
Bảo vệ trẻ em trước hết là bảo đảm cho trẻ em được thực hiện các quyền của mình và phòng ngừa để trẻ em không bị thiệt thòi, không bị người khác vi phạm các quyền đã được pháp luật quy định Đồng thời bảo vệ trẻ em
là những hoạt động nhằm ngăn ngừa, không để trẻ em bị rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: bao gồm phòng ngừa để trẻ em không bị khuyết tật, mồ côi, bị xâm hại tình dục, bị trở thành tội phạm vị thành niên, nghiện ma tuý, phải lang thang kiếm sống
Trang 14Khi trẻ em vì một lý do nào đó đã rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn thì phải giúp các em thoát ra khỏi hoàn cảnh đó, trở về cuộc sống bình thường (tái hoà nhập cộng đồng) hoặc ngăn ngừa không để tình hình xấu hớn
3 Chăm sóc trẻ em
Chăm sóc trẻ em là các hoạt động nhằm nhận biết và đáp ứng nhu cầu
về vật chất và tinh thần để đảm bảo sự phát triển hài hoà nhân cách của trẻ em (nhu cầu về ăn, mặc, học hành, vui chơi giải trí, nhu cầu được thương yêu, chăm sóc của gia đình, xã hội, nhu cầu được tôn trọng ) Các hoạt động chăm sóc trẻ em chủ yếu gồm: chăm sóc về sức khoẻ, dinh dưỡng, về giáo dục, về đời sống văn hoá thể thao - vui chơi giải trí Để thực hiện việc chăm sóc, cần thường xuyên quan tâm tìm hiểu nhu cầu của trẻ em, đưa trẻ vào những hoạt động xã hội phù hợp, năng động và vui vẻ, đáp ứng nhu cầu phát triển theo từng lứa tuổi
4 Giáo dục
Giáo dục (theo nghĩa rộng) là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục, nhằm hình thành nhân cách cho họ
Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là quá trình hình thành cho người được giáo dục lý tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho họ các hoạt động và giao lưu
5 Các lực lượng tham gia chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em
- Nhà trường: Nhà trường là một thiết chế chăm sóc, bảo vệ và giáo dục chuyên biệt, có những đặc trưng như:
Mang tính ý thức (tự giác) và có mục đích rõ ràng; được tổ chức và diễn ra theo kế hoạch đào tạo xác định
Nội dung chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trong nhà trường được chọn lọc một cách khoa học, cơ bản và sắp xếp có hệ thống Đó là những giá trị văn hoá của nhân loại và của dân tộc được thể hiện dưới dạng hệ thống các tri thức về tự nhiên, xã hội và con người; hệ thống các kỹ năng, kỹ xảo; hệ thống các thái độ và niềm tin Nội dung được truyền thụ và lĩnh hội bằng hệ thống phương pháp và phương tiện mang tính khoa học Mặc dù, hoạt động chủ đạo trong nhà trường cũng phụ thuộc vào từng cấp học nhưng trong ba nội dung: chăm sóc, bảo vệ và giáo dục thì nội dung giáo dục mang tính chủ đạo
Hoạt động chăm sóc, bảo vệ và giáo dục của nhà trường do giáo viên
và các cán bộ quản lý nhà trường tổ chức và thực hiện Trẻ em (học sinh) là
Trang 15chủ thể của hoạt động giáo dục, trong quan hệ hợp tác thầy - trò Hoạt động của hai loại chủ thể này quy định lẫn nhau trong quá trình đi đến mục tiêu xác định
- Gia đình: Chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em là một trong những chức năng cơ bản của gia đình Đặc biệt, do sự phát triển của xã hội, nhất là của văn hoá và văn minh nhân loại thì chức năng này đang trở thành một trong những chức năng chủ yếu của gia đình Đó là sự tác động thường xuyên
và có mục đích của những con người, nhất là người lớn trong gia đình và toàn
bộ nếp sống của gia đình đến đứa trẻ Tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát triển của trẻ mà các nội dung: chăm sóc, bảo vệ và giáo dục có tính vượt trội hơn các 2 nội dung còn lại
Tri thức, kỹ năng do gia đình cung cấp cho trẻ em không phải là những
lý thuyết trừu tượng, mà gắn liền với thực tiễn cuộc sống, những kinh nghiệm đời thường Tính chất đúng đắn của nội dung này phụ thuộc vào trình độ và năng lực của cha mẹ và người lớn trong gia đình, đặc điểm đời sống gia đình
và khả năng sư phạm của những thành viên đó Môi trường gia đình là phương tiện đặc thù của giáo dục gia đình trong suốt cuộc đời mỗi người Văn hoá gia đình với nhiều yếu tố phong phú, sâu sắc tác động tự nhiên đến quá trình xã hội hoá cá nhân một cách hiệu quả
- Xã hội: Hoạt động bảo vệ, chăm sóc và giáo dục xã hội là các hoạt động của các thiết chế và môi trường ngoài nhà trường, nhằm vào đối tượng
là toàn thể xã hội, trong đó có thế hệ trẻ trong và ngoài nhà trường Chăm sóc, bảo vệ và giáo dục xã hội bao gồm:
Hoạt động của các cơ quan có chức năng chung cho toàn xã hội: các cơ quan thông tin tuyên truyền, văn hoá, nghệ thuật, bao gồm các trường tuyên huấn, các phương tiện thông tin đại chúng (truyền thanh, truyền hình và các phương tiện nghe nhìn), câu lạc bộ văn hoá - thể thao
Hoạt động của các tổ chức xã hội, các trường Đảng, trường Đoàn, trường của các đoàn thể, như Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Nông dân, Công đoàn
Hoạt động của Hội khuyến học, Hội cha mẹ học sinh, Ban Chăm sóc và bảo vệ trẻ em, Hội đồng giáo dục các cấp, các tổ chức xã hội và đoàn thể phục vụ cho nhà trường, qua các hoạt động ngoài nhà trường, các hoạt động tham quan, cắm trại
- Mối quan hệ giữa các lực lượng: Mục đích của gia đình và xã hội (bao gồm cả nhà trường) là thống nhất với nhau Song mục tiêu chăm sóc, bảo vệ
và giáo dục của gia đình rất linh hoạt và thay đổi theo thời gian, phụ thuộc
Trang 16vào sự biến đổi và phát triển của trẻ, vào sự vận động và phát triển của xã hội xung quanh, vào chính cuộc sống của gia đình và những định hướng giá trị của gia đình
Mặc dù không có một chương trình, kế hoạch nhất định được soạn thảo thành văn bản như ở nhà trường, nhưng chăm sóc, bảo vệ và giáo dục gia đình
có nội dung hết sức phong phú, kéo dài mãi trong cuộc sống của trẻ
Trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì ba lực lượng trên đều tham gia và nhằm tới một mục đích chung đó là xây dựng một lực lượng lao động hội tụ đầy đủ các yếu tố đức và tài, đủ năng lực đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội
6 Gia đình
Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về gia đình tuỳ thuộc vào từng giai đoạn lịch sử; tuỳ thuộc từng góc độ nghiên cứu, xem xét; tuỳ thuộc hướng tiếp cận
“Gia đình là đơn vị cơ bản của xã hội và là môi trường tự nhiên cho sự
phát triển và hạnh phúc của mọi thành viên, nhất là trẻ em” (Liên hiệp quốc: Tuyên bố về tiến bộ xã hội trong phát triển của Liên hiệp quốc)
“Gia đình là một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc được nuôi dưỡng tuy không có quan hệ máu
mủ Các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hoá, tình cảm ) Giữa họ có những ràng buộc có tính pháp lý được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ, đồng thời có những quy định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành
viên gia đình” (Nghiên cứu xã hội học NXB Chính trị quốc gia 1996 tr 190)
“Gia đình là thiết chế xã hội dựa trên cơ sở kết hợp những thành viên khác giới, thông qua hôn nhân, để thực hiện các chức năng sinh học, kinh tế,
văn hoá, xã hội, tín ngưỡng , là đơn vị kinh tế và tế bào của xã hội” (Hội
đồng biên soạn từ điển quốc gia Từ điển bách khoa Việt Nam NXB Bách khoa Hà Nội 2002)
“Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống, hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân
và gia đình”; “là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi
trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc” (Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lời nói đầu và Khoản 10 Điều 8)
Trang 17Mặc dù diễn đạt có khác nhau tuỳ thuộc ở góc độ tiếp cận, song xem xét một cách chung nhất, nội hàm của khái niệm gia đình bao gồm các yếu tố:
là một đơn vị xã hội hình thành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng để thực hiện các chức năng sinh học, kinh tế, văn hoá, xã hội, tín ngưỡng ; các thành viên quan hệ với nhau trên cơ sở những định ước, quy định rõ ràng về sự được phép, sự cấm đoán; có mối liên hệ với nhau về tình cảm, quyền lợi, trách nhiệm và có những ràng buộc có tính pháp lý được Nhà nước thừa nhận, bảo vệ (khi xã hội có nhà nước)
Những đặc trưng cơ bản của gia đình: Là một đơn vị xã hội đặc biệt được hình thành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng; Thực hiện các chức năng sinh học, kinh tế, văn hoá, xã hội, tín ngưỡng ; Các thành viên quan hệ với nhau trên cơ sở những định ước, quy định rõ ràng về sự được phép, sự cấm đoán; Các thành viên có mối liên hệ với nhau về tình cảm, quyền lợi, trách nhiệm; Các thành viên có những ràng buộc
có tính pháp lý được Nhà nước thừa nhận, bảo vệ
Với những đặc trưng cơ bản như vậy, rõ ràng gia đình có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với bản thân mỗi con người mà còn đối với
cả quốc gia và toàn xã hội
Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, gia đình thực hiện nhiều chức năng như: sinh đẻ, phát triển kinh tế… Và chức năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là chức năng quan trọng của gia đình Trong các thành viên, yếu tố thuộc gia đình thì các bậc cha mẹ là những thành viên có vai trò quyết định đối với sự phát triển của trẻ Vì không ai hiểu con bằng bố
mẹ (trừ những trường hợp gia đình không có bố mẹ)
II Quan điểm của Đảng và các chính sách của Nhà nước liên quan đến bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong gia đình
1 Quan điểm của Đảng và các chính sách của Nhà nước liên quan đến bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, dưới chế độ dân chủ nhân dân, truyền thống đó càng được nhân dân ta gìn giữ và phát huy Nhà nước đã kịp thời thể chế hoá các quan điểm, chủ trương của Đảng thành các chính sách cụ thể, xây dựng và ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, phục vụ quốc kế dân sinh Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ: "vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người", công tác bảo vệ, chăm sóc và
Trang 18giáo dục trẻ em đã được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm Nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng và văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước liên quan đến lĩnh vực trẻ em đã được ban hành nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích của phụ nữ và trẻ em
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam nhằm đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, kịp thời điều chỉnh mọi quan hệ xã hội phát sinh, đồng thời từng bước làm hài hoà với pháp luật quốc tế, phù hợp với xu thế hội nhập khu vực và quốc tế Đó là cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Các văn bản chính sách đó đều thể hiện các quan điểm như sau:
a) Trẻ em là nguồn hạnh phúc của gia đình, là lớp công dân đặc biệt, là nguồn nhân lực tương lai, là lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng
b) Dành ưu tiên cho trẻ em, đặt vấn đề trẻ em lên trước, không để vấn
đề trẻ em ra sau các quyết sách
c) Tôn trọng và thực hiện đầy đủ các quyền cơ bản và nhu cầu của trẻ
em, bảo đảm cho trẻ em phát triển hài hoà về nhân cách, đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
d) Sự phát triển và tiến bộ của trẻ em là một trong những yếu tố bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội nhanh, hiệu quả và bền vững
e) Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hôi, trước tiên là của mỗi gia đình và cộng đồng
g) Thực hiện công bằng xã hội, không phân biệt đối xử trong bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em
h) Bảo đảm tính khoa học và nghệ thuật trong bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về nâng cao năng lực cho các bậc cha mẹ trong chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em
Chỉ thị số 49 - CT/TW ngày 21 tháng 02 năm 2005 về “xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Ban Bí thư trung ương khóa IX yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng, đoàn thể các cấp thực hiện tốt nhiệm vụ sau: " Tăng cường công tác giáo dục đời sống gia đình Cung cấp tới từng gia đình các kiến thức, kỹ năng sống, như: kỹ năng làm cha mẹ, kỹ năng ứng xử giữa các thành viên trong gia đình với nhau và với cộng đồng Trong giáo dục, phải kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam gắn với xây dựng những giá trị tiên tiến của gia đình trong xã hội phát triển." (Nguồn: Chỉ thị số 49 - CT/TW ngày 21 tháng 02
Trang 19năm 2005 về xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trang 4)
Quyết định 201/2001/QĐ-TTg ngày 28 tháng 12 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010
đã nêu rõ Mục tiêu phát triển giáo dục đến năm 2010 là: " nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, tạo cơ sở để trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ; mở rộng hệ thống nhà trẻ trên mọi địa bàn dân cư, đặc biệt ở nông thôn và những vùng khó khăn; tăng cường các hoạt động phổ biến kiến thức và tư vấn nuôi dạy trẻ cho các gia đình" Mục tiêu cụ thể là
“Phát triển chương trình phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các gia đình thông qua sách hướng dẫn, các phương tiện truyền thanh, truyền hình và các
tổ chức, đoàn thể xã hội Phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ đồng thời góp phần giảm thiệt thòi cho số trẻ còn lại chưa được đến trường” Đối tượng chủ yếu của chiến lược là “vùng nông thôn, vùng núi phía Bắc, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long”
3 Hệ thống văn bản chính sách liên quan đến bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
• Chỉ thị số 03/2000/CT - TTg ngày 24/01/2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh các hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí cho trẻ
em
• Chỉ thị số 55 - CT /TW ngày 28/6/2000 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng ở cơ sở đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
• Quyết định số 23/2001/QĐ – TTg ngày 26/02/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010
• Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em số 25/2004/QHH 11 được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15/6/2004
• Nghị định số 36/2005/N Đ – CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
• Và rất nhiều văn bản khác do Thủ tướng Chính phủ, Uỷ ban Dân
số Gia đình và Trẻ em, Bộ Tài chính, Bộ Y tế ban hành quy định những vấn
đề chi tiết cụ thể liên quan đến bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Trang 204 Nhận xét về hệ thống văn bản chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Như phần trên đã trình bày, Đảng và Chính phủ Việt Nam rất quan tâm đến vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Hệ thống văn bản pháp luật khá đầy đủ, luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã quy định rõ ràng quyền và trách nhiệm của các lực lượng, đặc biệt là gia đình trong việc bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Tuy nhiên, hệ thống văn bản chính sách của Đảng và Nhà nước ta liên quan đến vấn đề nâng cao năng lực (kiến thức và kỹ năng) cho các bậc cha mẹ trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, cụ thể là hoạt động phổ biến, tuyên truyền kiến thức cho các bậc cha mẹ đã có nhưng chưa đầy đủ và trong thực tế cuộc sống, việc thực thi các văn bản chính sách đó cũng chưa triệt để và hiệu quả
Một điều đáng buồn là vấn đề giáo dục gia đình, nâng cao kỹ năng làm cha làm mẹ ai cũng quan tâm nhưng chưa Bộ, ngành nào triển khai hoạt động
có hiệu quả, các hoạt động chồng chéo nhau vào theo các mảng nội dung trong lĩnh vực thuộc mình quản lý chứ chưa có tác động nào mang tính hệ thống, tổng quát Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên cũng xuất phát từ sự thiếu hụt của hệ thống chính sách và sự buông lỏng quản lý của Chính phủ và chính quyền các cấp
III Các yếu tố ảnh hưởng tới kiến thức, kỹ năng của các gia đình trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
* Các yếu tố chủ quan của chủ thể giáo dục – cha mẹ:
- Kiến thức và kỹ năng của mỗi người dựa trên cơ sở tư chất - là những đặc điểm riêng của cá nhân về giải phẫu sinh lý bẩm sinh của bộ não, của hệ thống thần kinh, của cơ quan phân tích, tạo nên sự khác biệt giữa con người với nhau Tư chất là một trong những điều kiện hình thành kiến thức và kỹ năng, nhưng tư chất không quy định trước sự phát triển của các kiến thức và
kỹ năng
- Đặc điểm thể chất của các bậc cha mẹ – lực lượng có ảnh hưởng lớn nhất tới trẻ em: Chúng ta xác định nhóm đối tượng tác động là các bậc cha mẹ, như vậy, dù đó là đứa con đầu hay đứa con thứ hai thì đa phần các bậc cha mẹ cũng trong độ tuổi từ 25 đến 55 Nhóm dân số từ 25 - 55 thuộc nhóm người trưởng thành, với những đặc trưng tâm lý - xã hội nhất định Họ đã tham gia vào lực lượng lao động, có trình độ nhận thức, kinh nghiệm cuộc sống và vị trí xã hội nhất định Những yếu tố này tác động đến kiến thức và kỹ năng bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ngay tại giai đoạn đầu của quá trình hình thành tư cách, đạo đức của một con người
Trang 21- Trình độ văn hoá của các thành viên trong gia đình: Trình độ văn hoá của các thành viên trong gia đình có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là tiền đề cho công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ của các thành viên Khi các thành viên trong gia đình có trình độ văn hoá cao thì họ có điều kiện để tiếp cận và ứng dụng tri thức hiện đại khoa học liên quan đến bảo vệ, chăm sóc và giáo dục cho con trẻ Điều đó cũng phần nào thể hiện sự khác biệt giữa hoạt động
có mục đích và hoạt động theo bản năng
* Các yếu tố thuộc môi trường gia đình:
- Văn hoá gia đình là một dạng văn hoá cộng đồng đặc thù, một môi trường văn hoá đặc thù Khái niệm văn hoá gia đình có nội hàm rộng lớn, trong đó nổi lên các quan hệ đạo lý, chuẩn mực, khuôn phép trong sinh hoạt, ứng xử, các quan hệ về tình cảm, việc chăm sóc giáo dục con cái, các tập quán về thờ phụng tổ tiên mà mỗi thành viên trong gia đình chấp nhận, tuân theo và có nghĩa vụ thực hiện
Những đặc trưng của văn hoá gia đình ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức, thái độ, hành vi của các bậc cha mẹ trong giáo dục đạo đức con trẻ Điều này còn có thể gọi là tác động "luân hồi" từ thế hệ này sang thế hệ khác
Theo số liệu báo cáo năm 2001 của Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ
em, tình trạng trẻ em hư, vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng ở nước ta, đặc biệt ở các thành phố lớn, đang là nỗi lo của mỗi gia đình và toàn xã hội Trong số trẻ em làm trái pháp luật, 30% ở trong các gia đình có bố mẹ nghiện ma tuý, ham mê cờ bạc; 21% trong gia đình làm ăn phi pháp; 8% có anh chị có tiền án, tiền sự; 10,2% mồ côi cả cha lẫn mẹ; 32% mồ côi bố hoặc mẹ; 7,3% có bố mẹ ly hôn Những số liệu trên cho chúng ta thấy: môi trường gia đình đã tác động ảnh hưởng rất lớn đến kiến thức và kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục con trẻ tại gia đình, mà kết quả của năng lực yếu kém đó là hành vi vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội của những đứa trẻ
* Các yếu tố thuộc môi trường xã hội:
- Chính sách và chương trình của Nhà nước
Gia đình là tế bào của xã hội Nhà nước quản lý gia đình bằng hệ thống luật pháp và chính sách Vì vậy, các chính sách và chương trình của Nhà nước tác động rất lớn đến năng lực làm cha mẹ ở các gia đình Ở đây, chúng ta phải xác định rõ sự phân cấp trách nhiệm và quyền lợi giữa gia đình - chính quyền
- cộng đồng Bản thân các bậc cha mẹ là chủ thể của quá trình tự trau dồi năng lực làm cha làm mẹ và cũng là đối tượng thụ hưởng các tác động từ phía chính quyền và cộng đồng Chính quyền là chủ thể quản lý, điều phối các tác động bên ngoài đến năng lực làm cha làm mẹ Các chính sách và chương trình
Trang 22của Nhà nước có tính chất định hướng, tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ các bậc cha mẹ nâng cao kiến thức và kỹ năng
Qua nghiên cứu các văn kiện của Đảng và pháp luật hiện hành của Việt Nam về gia đình, về các quan điểm chỉ đạo đối với vấn đề xây dựng và phát triển gia đình có thể thấy rằng, xét về tổng thể, chúng ta đã có một khuôn khổ
về chủ trương, chính sách và pháp luật tương đối đồng bộ và thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển gia đình Vai trò, vị trí của gia đình trong các lĩnh vực của đời sống xã hội ngày càng được nâng cao Tuy nhiên, trên thực tế việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách và pháp luật còn chưa được thực hiện hoặc thực hiện chưa đồng bộ, hiệu quả
- Văn hoá truyền thống dân tộc: Việt Nam là đất nước thuộc khu vực Đông Nam á, chịu ảnh hưởng rất lớn văn hoá của phương Đông và Nho giáo Sự tác động này bắt đầu ngay từ việc xác định nội dung bảo vệ, chăm sóc và giáo dục con trẻ, đến phương pháp và hình thức thực hiện Bản thân các thành viên trong gia đình đã từng được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục theo những quy định, chuẩn mực với các hình thức đó thì đến khi họ trở thành cha mẹ cũng sẽ
có xu hướng lặp lại một cách khuôn mẫu như vậy
- Phương tiện truyền thông và khả năng tiếp cận phương tiện truyền thông cao
là một điều kiện thuận lợi để các thành viên trong gia đình thu nhận kiến thức, trao đổi và học hỏi các kinh nghiệm trong và ngoài nước để nâng cao kiến thức và kỹ năng Đặc biệt, trong thời đại bùng nổ thông tin, “thế giới số” như hiện nay
- Sự tác động của của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá: Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá và hội nhập quốc tế tạo ra nhiều cơ hội và điều kiện, đồng thời cũng đặt gia đình trước nhiều khó khăn, thách thức trong việc thực hiện chức năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục con em mình
Khi đời sống xã hội hoà nhập với thế giới, hệ thống giá trị xã hội cũng như định hướng giá trị trong từng con người cũng thay đổi Những giá trị đạo đức có ý nghĩa quan trọng trước kia thì ngày nay đã ít nhiều thay đổi Bản thân nội hàm từng khái niệm đạo đức cũng thay đổi và vị trí thang bậc của hệ thống giá trị đạo đức cũng thay đổi
Mặt trái của cơ chế thị trường và lối sống thực dụng đã tác động mạnh đến các điều kiện để các thành viên trong gia đình thực hiện chức năng bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục con trẻ của mình Ngày càng có nhiều bậc cha mẹ không có đủ thời gian dành cho bữa cơm gia đình Ngôi nhà chỉ là nơi để ngủ Việc kiểm soát hành vi của con cái cũng giảm sút trong khi môi trường xã hội xung quanh trẻ em có nhiều cám dỗ, tiềm ẩn nguy cơ làm hư hỏng trẻ em
Trang 23Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, trong điều kiện cơ chế kinh tế thị trường, không chỉ có các bậc cha mẹ nghèo mải lo kiếm tiền sinh kế, mà ngay cả các bậc cha mẹ khá giả cũng ỷ vào đồng tiền để thay thế sự quan tâm của mình đối với con cái trong việc chăm sóc sức khoẻ, học tập và tu dưỡng đạo đức của con trẻ
Sự phân tầng xã hội và phân hoá giàu nghèo dưới tác động của nền kinh tế thị trường sẽ dẫn đến những biến đổi rất đa dạng của gia đình, làm nảy sinh nhiều vấn đề mới liên quan đến việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em Trong khi một số nhóm trẻ em có được những điều kiện vật chất và tinh thần tốt từ phía gia đình để phát triển thì những nhóm trẻ em khác lại rơi vào hoàn cảnh khó khăn và thiệt thòi như thiếu sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục của gia đình
Xu hướng sống hiện đại đang lan truyền khắp thế giới, bắt đầu từ một
số nước công nghiệp phát triển ở phương Tây, trong hoàn cảnh xã hội mà Peter F Brucker - một nhà khoa học quản lý Đức gọi là "thời đại bão táp" (Peter F Brucker, 1993, Quản lý trong thời đại bão táp, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội) Các quan điểm cực đoan của nó đã tuyên truyền, cổ vũ rất nhiệt tình cho những kiểu gia đình "gia đình mô- đun", "gia đình thử nghiệm", đang làm xói mòn hình ảnh về những giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống Một
số phụ nữ không muốn chấp nhận kiểu gia đình truyền thống Họ muốn có con nhưng không muốn lập gia đình, không chịu trách nhiệm với gia đình Điều đó đã dẫn đến hiện tượng trẻ em sinh ngoài giá thú tăng lên và hình thành một kiểu gia đình không đầy đủ (thiếu cha) Với tình trạng muốn thoát
ly kiểu gia đình truyền thống như trên, nguy cơ phá vỡ cấu trúc gia đình, khủng hoảng gia đình đã xuất hiện, làm đảo lộn các giá trị xã hội và trật tự kỷ cương đạo lý trong các tế bào xã hội Điều đó không chỉ làm cho các giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình bị xói mòn mà tác dụng giáo dục của gia đình đối với trẻ em cũng không còn nguyên vẹn ý nghĩa Và điều này ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức, kiến thức và kỹ năng làm cha làm mẹ của các gia đình
Trang 24CHƯƠNG II KẾT QUẢ KHẢO SÁT TÌNH HÌNH BẢO VỆ,
CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM TRONG GIA ĐÌNH
TẠI ĐỊA BÀN
I Thông tin chung về người trả lời
Phần viết này cung cấp một số đặc điểm cơ bản về nhân khẩu - xã hội
của người trả lời bảng hỏi, gồm: tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp,
tôn giáo, dân tộc, tình trạng hôn nhân Đồng thời, phần viết cũng đề cập đến
một số đặc điểm kinh tế – xã hội của gia đình mà họ đang sinh sống: số thế
hệ, tình hình kinh tế gia đình, điều kiện sống (nhà ở, nhà vệ sinh, nguồn nước
sinh hoạt hàng ngày, đồ dùng trong gia đình)
1 Tuổi
Trong số 600 đại diện cha/ mẹ tham gia trả lời bảng hỏi, có 288 người
có con ở nhóm tuổi dưới 6 tuổi và 310 người có con ở nhóm 6-16 tuổi
Tính trung bình, tuổi của cha mẹ có con dưới 6 tuổi là 31,5 tuổi Người
cao tuổi nhất là 48 tuổi, thấp nhất là 21 tuổi Bảng 1 còn cho thấy, có 50%
tuổi của cha mẹ có con dưới 6 tuổi trên 31 tuổi và 50% cha mẹ có con dưới 6
tuổi dưới 31 tuổi
Bảng 1 Độ tuổi của người trả lời
Cha mẹ có con Tuổi trung bình Tuổi trung vị Tuổi lớn nhất Tuổi nhỏ
Ở nhóm cha mẹ có con từ 6 đến 16 tuổi, người cao tuổi nhất là 66 tuổi,
thấp tuổi nhất là 27 tuổi, tuổi trung bình là 39 tuổi (bảng 1) Trong ba địa bàn
khảo sát, tỉnh Hà Tây và tỉnh Hòa Bình có độ tuổi trung bình của người trả lời
xấp xỉ nhau (34 tuổi), độ tuổi này của người trả lời ở Thái Bình cao hơn (37
tuổi)
2 Giới tính
Để đảm bảo sự cân bằng giới trong phân tích thông tin, cuộc nghiên
cứu này đã chú trọng đến sự tham gia của nữ giới và nam giới vào trả lời bảng
hỏi Kết quả là, có 46% nam và 54% nữ tham gia vào cuộc nghiên cứu Tỷ lệ
chênh lệch giữa nam và nữ tham gia trả lời là 8% Xét tương quan giới tính
theo tỉnh thành nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ giới tính người trả lời ở Hòa Bình
tương đối đồng đều nhưng ở Thái Bình và Hà Tây có sự chênh lệch về tỷ lệ
Trang 25giới tính, đặc biệt là Hà Tây (Nam 41%; Nữ 59%) Theo báo cáo của địa phương, hai xã này giáp với Hà Nội nên nam giới thường đi ra Hà Nội làm ăn
và không ở nhà Sự chênh lệch ngẫu nhiên giữa tỷ lệ nam và nữ tham gia trả lời hay nói cách khác, sự vắng mặt của nam giới cũng là một trong những chỉ báo để đánh giá vai trò của cha mẹ trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thuộc địa bàn khảo sát
B¶ng 2: T−¬ng quan tØnh ng−êi tr¶ lêi víi giíi tÝnh (%)
3 Dân tộc, tôn giáo người trả lời
Phần lớn cha mẹ tham gia nghiên cứu này là dân tộc Kinh (76,3%) Ngoài ra, có 23,3% dân tộc Mường, 0,3% dân tộc Nùng Trong đó, Hà Tây và Thái Bình có 100% người trả lời là dân tộc Kinh, số dân tộc ít người thuộc Hòa Bình (Bảng 3)
Bảng 3: Tương quan giữa dân tộc người trả lời với địa bàn nghiên cứu
4 Học vấn
Phần lớn cha mẹ trong mẫu nghiên cứu có trình độ học vấn từ trung học
cơ sở trở lên (94%) Trình độ học vấn thấp nhất của cha mẹ là tiểu học nhưng cũng chỉ có 6% (xem bảng 4) Trong số 3 địa bàn điều tra, Hoà Bình là nơi có
tỷ lệ người có học vấn ở trình độ tiểu học cao nhất (14,9%) Ngược lại, Hà Tây là nơi có tỷ lệ người có trình độ học vấn ở cấp trung cấp/ cao đẳng cao nhất (22% so với 5% và 3%)
Trang 26Bảng 4: Trình độ học vấn của người trả lời phân theo địa bàn nghiên cứu
5 Nghề nghiệp
Nghề nghiệp chính của người trả lời chủ yếu là nông, lâm nghiệp (67,2%), trong đó, cao nhất là Thái Bình 84,8%, thấp nhất là Hà Tây (45%) Xét tương quan nghề nghiệp theo giới tính, kết quả cho thấy, trong số những người có nghề nghiệp chính là nông, lâm nghiệp thì tỷ lệ nữ là cao hơn (chiếm 58,2%)
Xét theo nhóm cha mẹ tham gia trả lời, ta thấy nhóm cha mẹ có con từ
6 đến 16 tuổi có nghề nghiệp chính là nông, lâm, ngư nghiệp là 57,2%, cao hơn nhóm cha mẹ có con dưới 6 tuổi 14,4% Song nhóm cha mẹ có con dưới
6 tuổi lại làm nghề lao động tự do cao hơn Cụ thể, trong số 66 người cho rằng nghề nghiệp của họ là lao động tự do thì cha mẹ có con dưới 6 tuổi chiếm 54 người (81,8%)
6 Tình trạng hôn nhân
Phân tích mẫu điều tra cho thấy, 99% người trả lời hiện có vợ có chồng, số còn lại là người đã ly hôn 0,3%, không có chồng có con 0,3%, chồng chết 0,3% (xem bảng 5)
Bảng 5: Tình trạng hôn nhân người trả lời (%)
Trang 27Xét tình trạng hôn nhân của cha mẹ theo độ tuổi của con, số mẹ đơn
thân và góa thuộc nhóm có con dưới 6 tuổi Đây là vấn đề cần quan tâm trong xây dựng chương trình giáo dục gia đình với nhóm này
7 Số thế hệ và số thành viên trong gia đình
Gia đình có 2 thế hệ là loại gia đình chủ yếu trong mẫu nghiên cứu (54%) Tỷ
lệ gia đình 3 thế hệ cũng tương đối cao (39,3%), đặc biệt có tới 6% hiện đang sống trong gia đình 4 thế hệ (xem biểu đồ 1)
Biểu đồ 1: Số thế hệ trong gia đình (%)
Bảng 6 : Số thành viên trong gia đình người trả lời theo địa bàn (%)
Địa bàn nghiên cứu Số trung bình Số trung vị Số ít nhất Số nhiều nhất
b) Về điều kiện vệ sinh
Kết quả phân tích mẫu nghiên cứu cho biết, chỉ có 62,3% người trả lời
Trang 28và khép kín.) Số có nhà vệ sinh thô sơ là 35,3%, đặc biệt có 2% gia đình
không có nhà vệ sinh Trong số 3 địa bàn nghiên cứu, tỉnh Hoà Bình có tỷ lệ
người trả lời hiện đang sử dụng nhà vệ sinh thô sơ cao nhất (53,5% so với
29% và 23,2%) Thái Bình là nơi có tỷ lệ người trả lời sử dụng nhà vệ sinh tự
hoại (khép kín và không khép kín) cao hơn (43,5% so với 36% và 9,9%) (xem
bảng 7)
Bảng 7: Tình trạng nhà vệ sinh của người trả lời (%)
c) Nguồn nước các gia đình hiện đang sử dụng
Nguồn nước đa số gia đình hiện nay đang sử dụng là nước giếng
(83,3%), nước mưa (9,3%), số còn lại là nước nguồn, nước máy, đặc biệt có
10/600 (chiếm 1,7%) gia đình sử dụng nước ao, sông, suối, trong đó Hòa
Bình là 4/10 và Thái Bình là 6/10 gia đình
Bảng 8: Nguồn nước gia đình dùng chính (%)
Kết quả phân tích cho thấy, khoảng cách trung bình từ gia đình người
trả lời đến trung tâm y tế xã là 1.268,6m Trong đó người ở gần trung tâm y tế
nhất là 20m, người ở xa trung tâm nhất là 5.000m Kết quả phân tích số liệu
còn cho thấy có 50% gia đình sống cách trung tâm y tế từ 1000m trở xuống và
50% sống cách trung tâm y tế từ 1000m trở lên
Trang 29Bảng 9: Khoảng cách từ nhà người trả lời đến trung tâm y tế xã
Nhận xét về mức độ thuận tiện giao thông khi tiếp cận dịch vụ y tế, có
62% cho rằng đường từ nhà họ đến trạm y tế phương tiện giao thông đi lại
bình thường, có 32,7% cho rằng đường từ nhà họ đến trung tâm y tế đường
giao thông đi lại thuận tiện hoặc họ sống gần trung tâm nên có thể đi bộ sang
được Tuy nhiên, hiện vẫn còn 32/600 gia đình (chiếm 5,3%) gặp khó khăn
khi đến trung tâm y tế do giao thông không thuận tiện Trong đó, tập trung
chủ yếu ở Hòa Bình (30/32 gia đình), Thái Bình (2/32 gia đình)
Bảng 10: Đánh giá sự thuận lợi giữa đường từ nhà đến trạm y tế (%)
Đánh giá về điều kiện
đi lại đến trạm y tế xã
Hà Tây Hòa Bình Thái Bình Chung
Không thuận lơi ,0 14,9 1,0 5,3
e) Khả năng tiếp cận về dịch vụ giáo dục
Khoảng cách từ nhà đến các loại trường học như mẫu giáo, trường tiểu
học hay phổ thông cơ sở đa phần không gây khó khăn cho con em của họ khi
đến trường Tuy nhiên, vẫn còn một tỷ lệ đáng kể các gia đình ở Hòa Bình và
Thái Bình hiện gặp khó khăn khi tiếp cận dịch vụ này Lý do gặp khó khăn là
khoảng cách từ nhà họ đến các loại trường kể trên còn xa, giao thông đi lại
không thuận tiện Tỷ lệ này cao nhất ở Hòa Bình 48/54 gặp khó khăn khi đến
mẫu giáo, 62/74 gặp khó khăn khi đến trường tiểu học và 60/70 gặp khó khăn
khi đến trường phổ thông cơ sở
f) Về điều kiện kinh tế gia đình
Tìm hiểu về điều kiện kinh tế gia đình người trả lời hiện nay, nhóm
nghiên cứu đưa ra hai cách tiếp cận
Cách tiếp cận thứ nhất, lấy chuẩn nghèo của quốc gia được Bộ Lao
Trang 30áp vào mức thu nhập bình quân đầu người của gia đình Kết quả theo cách
tiếp cận này thu được (xem bảng 11), có 43,1% gia đình có thu nhập bình
quân theo đầu hiện nay thấp hơn chuẩn nghèo ở nông thôn
(200,000đ/tháng/người) Số gia đình có mức thu nhập tương đương 200,000đ
tháng/người là 30,4% và gia đình mức thu nhập cao hơn
200,000đ/tháng/người là 26,4% Từ kết quả này cho thấy, tương ứng với
43,1% gia đình người trả lời có thu nhập thấp hơn 200,000đ/ tháng/người là
số gia đình có mức sống thấp hơn mức sống chuẩn nghèo quốc gia
Bảng 11: Đánh giá kinh tế gia đình theo phương thức 1 (%)
Phương án Hà Tây Hòa Bình Thái Bình Chung
Thu nhập nhấp hơn 200,000đ 24,2 55,4 49,5 43.1
Thu nhập bằng 200,000đ 33,3 32,7 25,3 30,4
Từ bảng 11 cho thấy, tỷ lệ gia đình có thu nhập bình quân đầu người
thấp hơn 200,000đ/tháng cao hơn nhiều so với tỷ lệ hộ nghèo chung hiện nay
của cả nước, trong đó tập trung cao nhất là Hòa Bình, tiếp đến là Thái Bình
Do vậy, để có thêm cơ sở nhận diện điều kiện kinh tế gia đình người trả lời
chúng tôi đã sử dụng thêm cách tiếp cận thứ hai
Cách tiếp cận thứ hai, để các gia đình tự đánh giá và lấy chuẩn so sánh
là những gia đình xung quanh
Kết quả thu được (xem bảng 12), tỷ lệ cho rằng kinh tế của gia đình
người trả lời thuộc diện kém hơn trung bình và nghèo chỉ có 15,4% Mức kinh
tế gia đình thuộc diện trung bình so với bà con hàng xóm chiếm tỷ lệ cao nhất
(61%)
Bảng 12: Đánh giá kinh tế gia đình theo phương thức 2 (%)
Tự đánh giá về điều kiện kinh tế gia đình Hà Tây Hòa Bình Thái Bình Chung
Từ hai cách tiếp cận cho ta thấy sự khác nhau tương đối về điều kiện
kinh tế gia đình người trả lời Song việc tự đánh giá kinh tế gia đình so với
Trang 31hàng xúm ớt mang tớnh suy rộng hay khỏi quỏt, bởi trong một xúm nghốo, gia
đỡnh nào ớt nghốo hơn cú thể được coi là khỏ giả và ngược lại trong một xúm
khỏ giả, gia đỡnh cú mức sống kộm hơn được coi là nghốo Do vậy, số liệu
này chỉ cú ý nghĩa tham khảo Kết hợp từ hai nguồn thụng tin trờn ta cú thể
nhận xột, cũn một bộ phận lớn cỏc gia đỡnh tại địa bàn nghiờn cứu cú mức
sống thấp
Vỡ vậy, để bảo vệ, chăm súc, giỏo dục trẻ em được tốt thỡ cần phải cú
những chớnh sỏch phự hợp nhằm nõng cao mức sống của những gia đỡnh
nghốo Việc đề ra cỏc giải phỏp nõng cao kiến thức, kỹ năng cho cỏc bậc cha
mẹ về bảo vệ, chăm súc, giỏo dục trẻ em cũng cần phải lưu ý đến điều kiện
kinh tế của cỏc gia đỡnh
g) Về đồ dựng sinh hoạt trong gia đỡnh
Tỡm hiểu về đồ dựng sinh hoạt trong gia đỡnh người trả lời hiện nay,
nhúm nghiờn cứu đó liệt kờ cỏc loại đồ dựng trong gia đỡnh để người trả lời
đỏnh dấu vào những loại đồ dung gia đỡnh họ cú Ngoài ra, phần này cũn thờm
mục tài sản khỏc đề người trả lời bổ sung những tài sản đắt tiền cú trong gia
đỡnh Trong quỏ trỡnh phõn tớch thụng tin, chỳng tụi chia loại đồ dựng trong
gia đỡnh thành hai nhúm Nhúm thứ nhất gồm những loại đồ dựng sinh hoạt
hiện cú trong cỏc gia đỡnh đạt tỷ lệ chung từ 50% trở lờn Nhúm thứ hai, gồm
cỏc loại đồ dựng hiện cú tỷ lệ chung chưa đạt 50% (xem bảng 13)
Bảng 13: Đồ dùng hiện có trong gia đình người trả lời (%)
Trang 32Từ bảng 13, cho ta thấy, nhóm tài sản thứ nhất gồm các loại sau: vô tuyến truyền hình 89,3%, xe đạp 96,7%; xe máy 71,7%, quạt điện 76,3%, nồi cơm điện 71,7%, đầu video, VCD, DVD 56,3% Tỷ lệ lựa chọn cho thấy các loại tài sản trên là những loại tài sản cơ bản nhất và gần như phổ biến với các gia đình nông thôn Trong các loại tài sản kể trên, tỷ lệ cao các gia đình có tivi
là dấu hiệu đáng mừng Việc các gia đình có tivi không chỉ là nguồn giải trí quan trọng cho gia đình mà còn là cầu nối giữa các nhà truyền thông-giáo dục với người dân về những vấn đề luật pháp, văn hóa, xã hội cần phổ biến
Nhóm tài sản thứ hai gồm những loại như: bếp ga, bình nóng lạnh, máy giặt, điện thoại cố định, điện thoại di động, điều hoà nhiệt độ, lò vi sóng, tủ lạnh, máy vi tính không có mạng, máy vi tính có mạng, những đồ dùng này ít xuất hiện nhất trong gia đình nông thôn Trong số 3 địa bàn nghiên cứu, Hoà Bình là nơi có tỷ lệ gia đình có các đồ dùng hiện đại thấp nhất Cụ thể, tỷ lệ gia đình có tủ lạnh ở Hà Tây là 27%, Thái Bình là 15,2%, Hoà Bình là 11,9%
Mặt khác cũng phải thừa nhận rằng, những loại tài sản rất ở nhóm thứ hai là loại có giá trị cao và thường là mang tính xa xỉ Việc một bộ phận gia đình nông thôn sử dụng những loại tài sản này không chỉ phản ánh mức sống của người dân đang dần được cải thiện
II Thực trạng công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong gia đình:
1 Vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ
Nhằm tìm hiểu thực trạng đánh giá của các bậc cha mẹ về vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Phần này viết này chia thành 3 mục chính:
Một là đánh giá của người trả lời về vai trò của gia đình, nhà trường và
xã hội trong việc bảo vệ trẻ em
Hai là đánh giá của người trả lời về vai trò của gia đình, nhà trường và
xã hội trong việc chăm sóc trẻ em
Ba là đánh giá của người trả lời về vai trò của gia đình, nhà trường và
xã hội trong việc giáo dục trẻ em
1.1 Về bảo vệ trẻ em
Đánh giá về vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc bảo vệ trẻ em, kết quả phân tích mẫu điều tra cho biết, phần lớn người trả lời đánh giá cao vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc bảo vệ trẻ em như bảo vệ trẻ tránh bị lạm dụng tình dục, bảo vệ trẻ tránh bị sa vào tệ nạn xã hội Đặc biệt có tới 96,5% người trả lời đánh giá cao tầm quan trọng của gia
Trang 33đình, nhà trường xã hội trong việc bảo vệ trẻ em tránh bị tai nạn giao thông (xem biểu đồ 2)
BiÓu 2: §¸nh gi¸ vÒ vai trß cña G§, NT vµ XH trong
Phßng tr¸nh trÎ bÞ sa vµo tÖ
n¹n x· héi
Phßng tr¸nh trÎ bÞ l¹m dông t×nh dôc
Tìm hiểu đánh giá của người trả lời về vai trò của gia đình, nhà trường
và xã hội, kết quả cho thấy cả hai nhóm cha mẹ đều đánh giá gia đình là nơi cần thực hiện tốt nhất chức năng bảo vệ trẻ em Cụ thể, ở nhóm dưới 6 tuổi có đến 99,3% cho rằng gia đình rất quan trọng trong việc phòng tránh trẻ bị bỏng, hóc, ngộ độc, nhưng chỉ có 91,7% cha mẹ ở nhóm này đánh giá cao vai trò của nhà trường và xã hội Cũng vấn đề này, ở nhóm cha mẹ có con từ 6 đến 16 tuổi có 98,1% đánh giá gia đình có vai trò quan trọng, song chỉ có 89,5% và 87,5% đánh giá cao vai trò của nhà trường và xã hội Tương tự như vậy, ở các nội dung khác đều cho thấy tỷ lệ người trả lời đánh giá cao vai trò của gia đình thường cao hơn vai trò của nhà trường và xã hội (Xem bảng 14)
Trang 34Bảng 14: Đánh giá vai trò của GĐ, NT và XH trong việc BVTE (%)
Cha mÑ cã con d−íi 6 tuæi
Cha mÑ cã con tõ 6 - 16 tuæi
§¸nh gi¸ cña ng−êi tr¶ lêi
Nhận xét về vai trò của gia đình, nhà trường, và xã hội trong bảo vệ trẻ
em, người cao tuổi ở xã Sài Sơn, Thạch Thất, Hà Tây cho rằng: “Bảo vệ, trẻ
em đâu phải riêng ai, đó là trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội, vì vậy thật khó để nhận xét ai quan trọng hơn ai Nhưng nếu phải lựa chọn gia đình hoặc nhà trường hoặc xã hội thì tôi chọn gia đình Vì, con người ta sinh
ra, trưởng thành và mất đi đều ở gia đình Gia đình đã trở thành cái gì đó thiêng liêng trong mỗi người Mỗi chúng ta đều có những kỷ niệm tuổi thơ gắn bó với gia đình, được sống trong tình yêu thương, sự che chở của gia đình Nhiều cha mẹ chỉ biết cho tiền con nhưng lại không biết con tiêu tiền vào mục đích gì Ở khu tôi sống không ít cháu đã nói dối xin tiền để đi học thêm, đóng góp cái này cái kia nhưng kỳ thực là chơi điện tử Thời gian gần đây, báo chí đăng nhiều tin về cảnh trẻ em bị lạm dụng tình dục, bị sa vào tệ nạn xã hội cũng chính là gia đình chưa quan tâm đúng mực đến các cháu”
(PVS sâu người cao tuổi ở xã Sài Sơn, Thạch Thất, Hà Tây)
Một ý kiến khác thì cho rằng, “Để bảo vệ trẻ em được tốt thì chắc chắn phải có sự tham gia đồng lọat của cả gia đình, nhà trường và toàn xã hội, nhưng trước hết là trách nhiệm của gia đình và nhà trường Tôi nghĩ giữa nhà trường và gia đình không thể đánh giá ai quan trọng hơn ai Như anh đã biết, bệnh học đường như cận thị, cong vẹo cột sống đang làm đau đầu các nhà giáo dục Để bảo vệ các cháu không bị mắc các bệnh này, ngoài việc nhà trường phải cải tiến bàn ghế phù hợp với lứa tuổi của các em, thiết bị ánh sáng phù hợp thì cũng cần phải có sự hợp tác của gia đình Nếu ở nhà cha mẹ không uốn nắn các cháu ngồi học đúng tư thế, hay nhắc nhở cháu có khoảng cách từ chỗ ngồi đến màn hình ti vi, máy tính là bao nhiêu thì mọi sự nỗ lực
Trang 35của nhà trường cũng không thể đạt hiệu quả cao Do vậy, với trẻ nhỏ phải có
sự hợp tác chặt chẽ của gia đình và nhà trường trong việc bảo vệ trẻ em.”
(PVS sâu giáo viên mầm non, Bình Nguyên, Kiến Xương, Thái Bình)
Từ ý kiến người trả lời phỏng vấn sâu với kết quả phân tích định lượng (bảng 14), cho thấy có sự tương đồng về thông tin của người trả lời khi lựa chọn gia đình có vai trò quan trọng nhất, tiếp đến là nhà trường và cuối cùng
là xã hội Điều này cũng có nghĩa, các bậc cha mẹ đều đánh giá cao vai trò của gia đình trong việc bảo vệ trẻ em hiện nay Chính vì vậy, để phát huy vai trò của gia đình trong việc bảo vệ trẻ em, nhà nước cần tăng cường công tác giáo dục tuyên truyền nhằm cung cấp những kiến thức, kỹ năng để các gia đình có được những biện pháp tốt nhất trong bảo vệ trẻ
đủ thì sự quan tâm đó cũng không giải quyết được việc gì, có ai bắt buộc điều này đâu Chính vì vậy, tôi nói gia đình quan trọng là lẽ đó” (PVS cha có con
6 - 16 tuổi, 46 tuổi, Kinh doanh, Sài Sơn, Hà Tây)
Đồng quan điểm với ý kiến trên, một phụ nữ ở Hoà Bình nhận xét, “Tôi thấy nhà nước ta dạo này quan tâm đến trẻ em lắm, thường xuyên thông tin trên báo đài, phân phát các tài liệu hướng dẫn các gia đình các bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em Nhưng anh hỏi ai quan trọng hơn thì phải là gia đình rồi, nhà trường và xã hội chỉ trợ giúp phần nào thôi” (PVS mẹ có con dưới 6
tuổi, 35 tuổi, Yên Lạc, Hòa Bình)
Tìm hiểu ý kiến của người trả lời đánh giá về vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội về các vấn đề như: Chăm sóc chế độ dinh dưỡng; theo dõi chiều cao, cân nặng, phát hiện sớm một số bệnh thường gặp ở trẻ và cuối cùng là phát hiện dị tật ở trẻ Kết quả phân tích mẫu nghiên cứu cho thấy, cả hai nhóm cha mẹ đều đánh giá cao vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc chăm sóc trẻ em (xem biểu 3)
Trang 36Biểu 3: Tỷ lệ % cha mẹ đánh giá gia đình, nhà
trường và xã hội có vai trò quan trọng trong việc
chăm sóc trẻ em
75.6 77
71.8 80.1
em Cũn ở nhúm cha mẹ cú con từ 6 đến 16 tuổi lại đỏnh giỏ xó hội mới là yếu tố quan trọng thứ hai sau gia đỡnh (xem bảng 15) Sự khỏc biệt đụi chỳt này cú lẽ xuất phỏt từ yếu tố xó hội của trẻ Do đặc thự của nhúm trẻ dưới 6 tuổi, ngoài thời gian trẻ ở nhà thỡ thời gian cũn lại chủ yếu trẻ ở trường Nhưng ở nhúm từ 6 đến 16 tuổi thỡ khỏc, ngoài thời gian ở nhà và ở trường trẻ cũn thời gian giao tiếp xó hội
Bảng 15: Đỏnh giỏ vai trũ của gia đỡnh, nhà trường trong việc chăm súc
trẻ em (%)
Cha mẹ cú con < 6 tuổi Cha mẹ cú con từ 6 - 16 tuổi Một số trường hợp
GĐ NT XH GĐ NT XH
việc giỏo dục trẻ em “Ngày nay trẻ em được quan tõm hơn trước, cỏc em được đi học Một số gia đỡnh nghốo cũn được nhà trường miễn giảm học phớ
Trang 37Ngoài ra, các tổ chức đoàn thể địa phương cũng quan tâm đến các em như xây dựng các quỹ khuyến học nhằm giúp đỡ các em có hoàn cảnh gia đình khó khăn không phải bỏ học sớm Còn các gia đình thì đua nhau chọn trường, chọn lớp, chọn thầy chỉ mong cho con có được nơi học tốt nhất Không ít gia đình ở địa phương tôi còn mời thầy cô về nhà giảng thêm” (PVS cha, có con
từ 6-16 tuổi, Xã Thanh Tâm, Kiến Xương, Thái Bình)
Nếu như ở phần bảo vệ và chăm sóc người trả lời luôn đánh giá cao vai trò của gia đình thì ở phần giáo dục vai trò của nhà trường đã có một số nội dung được đề cao Song, nội dung mà các bậc cha mẹ đánh giá nhà trường có vai trò quan trọng còn phụ thuộc vào nhóm tuổi của con cái họ Đơn cử, nhóm cha mẹ có con từ 6 đến 16 tuổi đánh giá vai trò của nhà trường là quan trọng nhất trong việc giáo dục tri thức cho trẻ, nhưng nhóm cha mẹ có con dưới 6 tuổi lại đề cao vai trò của gia đình Hoặc, nhóm cha mẹ có con dưới 6 tuổi cho rằng nhà trường là quan trọng hơn trong việc giáo dục đạo đức, văn hóa, lối sống cho trẻ em, còn nhóm cha mẹ có con từ 6 đến 16 tuổi lại coi đó là trách nhiệm của gia đình (xem bảng 16) Ngoài ra, giáo dục giới tính, hướng nghiệp nhóm cha mẹ có con dưới 6 tuổi cũng cho rằng nhà trường quan trọng hơn, còn nhóm cha mẹ có con từ 6 đến 16 tuổi lại cho rằng đó là trách nhiệm của gia đình nên gia đình phải là quan trọng
Bảng 16: Đánh giá vai trò của GĐ, NTvà XH trong GDTE (%)
Trang 38Tóm lại
Qua phân tích kết quả định lượng và định tính thu thập từ địa bàn khảo sát cho thấy, người trả lời đánh giá cao vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Điều này phản ánh qua các nội dung chúng tôi đưa ra để lấy ý kiến người trả lời đều thu được tỷ lệ đồng thuận rất cao Tuy nhiên, khi tìm hiểu sâu hơn về ý kiến của người trả lời cho thấy, có sự khác biệt tương đối giữa vị trí vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Cụ thể ở phần bảo vệ, hầu hết người trả lời đều đánh giá gia đình có vai trò quan trọng nhất, tiếp đến là nhà trường và sau cùng là xã hội Phần chăm sóc, gia đình vẫn được coi là quan trọng nhất nhưng đã có sự khác biệt về vị trí thứ bậc giữa nhà trường và xã hội Đơn cử, nhóm cha mẹ có con dưới 6 tuổi đánh giá nhà trường có vị trí thứ hai trong việc chăm sóc trẻ em, nhưng nhóm cha mẹ
có con từ 6 đến 16 tuổi lại đánh giá xã hội mới là yếu tố quan trọng thứ hai sau gia đình Tiếp đến là phần giáo dục, vị trí đứng đầu của gia đình đã được thay thế bằng nhà trường ở một số nội dung như giáo dục tri thức, giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục giới tính, song sự thay đổi vị trí này còn phụ thuộc vào độ tuổi của trẻ em
Từ những phát hiện này cho thấy, mặc dù người trả lời đều đánh giá cao vai trò của gia đình, nhà trường trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, nhưng chúng ta cũng cần phải chú ý đến những nội dung cụ thể để xác định vị trí ưu tiên trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Do vậy, khi xây dựng các chính sách bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, các nhà quản lý cần chia nhỏ vấn đề và xác định mức độ ưu tiên cho gia đình hay nhà trường hay xã hội, tránh sự đầu tư dàn trải gây lãng phí và hiệu quả thấp
2 Thực trạng kiến thức và kỹ năng của các bậc cha mẹ về bảo vệ trẻ em trong gia đình
2.1 Kiến thức, kỹ năng của cha mẹ về an toàn khi sử dụng điện
a) Kiến thức
Để đánh giá kiến thức phòng tránh tai nạn khi sử dụng điện cho trẻ em của cha mẹ, nhóm nghiên cứu đã đưa ra một số cách thức thông dụng về sử dụng điện an toàn và lấy ý kiến của các cha mẹ Kết quả nghiên cứu cho thấy,
đa số cha mẹ có kiến thức tốt về sử dụng điện trong phòng tránh tai nạn cho trẻ em Bằng chứng là có 93,7% cha mẹ đồng ý “phải đặt ổ cắm điện, phích điện an toàn”; 80,6% đồng ý “Tắt các đồ dùng điện không cần thiết” Với những cách thức sử dụng điện không an toàn, tỷ lệ cha mẹ không đồng ý rất cao: để dây điện hở khi sử dụng (95,7%), dùng điện để bẫy chuột (95,7%),
Trang 39cho trẻ chơi dao, kéo và vật dẫn điện (95,3%), cho trẻ sờ thử vào dây có điện
(95%) (Xem bảng 17) Kết quả nghiên cứu định tính cũng cho thấy, phần lớn
các cha mẹ được hỏi cho biết, để tránh trẻ em bị điện giật, gia đình đã chôn
các bảng điện vào tường, tránh xa tầm với của trẻ Với những ổ điện trong
tầm với của trẻ, gia đình cũng có phương án bảo vệ “Nhà tôi ổ điện nơi cháu
có thể với tới đều được dán băng dính” (TLN cha mẹ, Hà Tây)
Bảng 17: Ý kiến các cha mẹ về phương án BVTE không bị điện giật (%)
Một số phương án về sử dụng điện an toàn Đồng ý Đồng ý
một phần
Không đồng ý N
Không có sự khác biệt đáng kể về kiến thức sử dụng điện an toàn giữa
hai nhóm cha mẹ có con dưói 6 tuổi và có con từ 6-16 tuổi
Có sự khác biệt trong ý kiến của người cha và người mẹ về một số
phương án bảo vệ trẻ em không bị điện giật Người cha có tỷ lệ đồng ý với
những phương án gây nguy hiểm cho trẻ nhiều hơn người mẹ Cụ thể, có
4,3% người cha đồng ý “cho trẻ chơi dao kéo và vật dẫn điện” Tỷ lệ này ở
người mẹ là 1,2% (xem bảng 18)
Bảng 18: Tỷ lệ đồng ý với các phương án BVTE khỏi điện giật
phân theo giới tính (%)
Các biện pháp Nam Nữ
Nói với trẻ có thể sờ tay vào dây diện hở nếu đã đi giầy, dép
hoặc đứng trên vật cách điện
5,8 1,9
Cha mẹ có trình độ học vấn càng cao có tỷ lệ không đồng ý với những
phương án gây nguy hiểm càng lớn ở trình độ tiểu học, có 88,9% cha mẹ
không đồng ý với phương án “để dây diện hở” Tỷ lệ này giảm xuống ở các
Trang 40nhóm cha mẹ có trình độ học vấn cao hơn, trung học cơ sở (96,3%), trung học
phổ thông (95,5%), trung cấp trở lên (96,9%)
Bảng 19: Tỷ lệ không đồng ý với các phương án BVTE khỏi giật điện
Nói với trẻ có thể sờ tay vào dây diện hở
nếu đã đi giầy, dép hoặc đứng trên vật
cách điện
Nghiên cứu định tính cũng cho kết quả tương tự với nghiên cứu định
lượng: cha mẹ có ý thức cao trong việc bảo vệ trẻ em khỏi tai nạn điện ý kiến
của người cao tuổi trong gia đình về việc vì sao phải bảo vệ trẻ em trong gia
đình phần nào minh chứng cho nhận định này “Chúng tôi là nhà nông, có
nhiều nguy cơ mà trẻ em dễ rơi vào tình cảnh nguy hiểm như điện giật, dao,
thuốc trừ sâu, mà trẻ em thì lại rất hay nghịch Chúng không ý thức được sự
nguy hiểm đối với việc nghịch đó Người lớn thì lơ đãng, chủ quan, không
hiểu được tâm lý trẻ em.” (TLN ông bà, xã Hữu Lợi, Hòa Bình)
Mặc dù kiến thức của đa số cha mẹ về vấn đề này tương đối tốt song
nếu chỉ nhìn vào kiến thức của các cha mẹ thì chưa đủ mà chúng ta cần phải
đánh giá được cả kỹ năng sơ cứu khi có người bị điện giật, như vậy mới có
thể hạn chế thấp nhất những rủi ro
b) Kỹ năng sơ cứu khi trẻ bị điện giật
Nhóm nghiên cứu lựa chọn một số phương án xử lý thường áp dụng đã
được hướng dẫn trên tài liệu truyền thông để đo kỹ năng của cha mẹ Kết quả
phân tích thông tin cho biết, một tỷ lệ khá cao đã trả lời đúng các phương án
sơ cứu khi có người bị điện giật Điển hình là các biện pháp: “Bằng mọi cách
ngắt nguồn điện“ (81%); “ Sơ cứu bằng cách xoa bóp lồng ngực” (86%) Tuy
nhiên, vẫn còn một tỷ lệ tương đối lớn (40%) đồng ý với phương án xử lý
không an toàn “Bằng mọi cách tách nạn nhân ra kể cả nguồn điện chưa bị
ngắt” (xem bảng 20) Trên thực tế, việc tách nạn nhân ra khỏi dòng điện khi
nguồn đi chưa bị ngắt có thể gây nguy hiểm cho người cứu bởi điện có thể
truyền từ nạn nhân sang người cứu và người cứu cũng sẽ bị điện giật