1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát nghề truyền thống tỉnh bà rịa vũng tàu, đề xuất giải pháp và dự án khôi phục, phát triển phục vụ CNH, HĐH

197 468 2
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát nghề truyền thống tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, đề xuất giải pháp và dự án khôi phục, phát triển phục vụ CNH, HĐH
Trường học University of Ba Ria Vung Tau
Chuyên ngành Cultural Heritage and Development
Thể loại Research Report
Năm xuất bản 2023
Thành phố Bà Rịa Vũng Tàu
Định dạng
Số trang 197
Dung lượng 9,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các sản phẩm của các làng nghề truyền thống không những được tiêu thụ trong nước mà chủ yếu còn để xuất khẩu, đem về cho quê hương nhiều ngoại tệ, góp phần nâng cao đời sống kinh tế-văn

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RIA-VUNG TAU

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

KHAO SAT NGHE TRUYEN THONG

GIẢI PHÁP VÀ DỰ ÁN KHÔI PHỤC,

-PHAT TRIEN PHUC VU CNH - HĐH

co QUAN CHU TRi

CHI CUC HOP TAC XÃ VÀ PHÁT TRIEN NONG THON

TINH BA RIA-VUNG TAU

CHU NHIEM DE TAI

CN TRAN XUAN RUE

NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN

TS Đinh Công Tiến

ThS Nguyễn Thê Phong

ThS Phan Văn Việt

CN Nguyễn ¿ Anh Quốc

Trang 2

ỦY BAN NHÂN DÂN TINH BÀ RỊA-VỮNG TAU

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

CHỦ NHIỆM ĐÈ TÀI

TRAN XUAN RUE

KHAO SAT NGHE TRUYEN THONG

GIẢI PHÁP VÀ DỰ ÁN KHÔI PHỤC, PHAT TRIEN PHUC VU CNH — HDH

CO QUAN cHU TRi CHI CUC HOP TAC XA VA PHAT TRIEN NONG THON

TINH BA RIA-VUNG TAU

BA RIA, 2007

C429

343/đ/0

Trang 3

MỞ ĐẦU

Những năm qua tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã đạt được nhiều thành tựu, nhất là trong

lĩnh vực phát triển kinh tế Kinh tế thị trường, công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá

đã thúc đây sự phát triển vững chắc trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên, để khu vực nông thôn,

nơi chiếm phần lớn dân số và lực lượng lao động có nhiều đổi thay hơn nữa cần điều tra,

khảo sát, nghiên cứu một cách toàn diện nhằm tìm giải pháp phát triển kinh tế-xã hội, thu

hẹp khoảng cách giàu nghẻo, rút ngắn sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn

Hiện nay, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu có 44.820 hộ gia đỉnh ở nông thôn, với 23,4% hộ ở vùng sâu vùng xa là những hộ còn nghèo

Ngày 24 tháng 11 năm 2000, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số:

132/QĐ.TTg về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn Bộ

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có Thông tư hướng dẫn số 116/2006/TT-BNN

ngày 18 tháng 12 năm 2006 hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số

66/2006/NĐ-CP ngày 7-7-2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn

Chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước đã tạo điều kiện để nhiều nghề va

làng nghề cỗ truyền trên khắp mọi miền đất nước phát triển Các sản phẩm của các làng nghề truyền thống không những được tiêu thụ trong nước mà chủ yếu còn để xuất khẩu,

đem về cho quê hương nhiều ngoại tệ, góp phần nâng cao đời sống kinh tế-văn hóa-xã hội, làm thay đổi bộ mặt nông thôn

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu lần thứ IV đã chỉ rõ: “Chủ trương

phát triển các ngành dịch vụ, thương mại Tạo thương hiệu và tăng súc cạnh tranh của

các sản phẩm hàng hóa, tạo thành thị trường dịch vụ đa dạng, đáp ứng các nhu cầu của

sản xuất, đời sống và hội nhập quốc tế Đây mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông

nghiệp, nông thôn: phát triển nông nghiệp gắn với quá trình đô thị hóa nông thôn và nâng

cao dân trí”

Việc khôi phục, phát triển nghề và làng nghề truyền thống của tỉnh là một trong

những giải pháp quan trọng nhằm tạo thương hiệu và tăng sức cạnh tranh của các sản

phẩm hàng hóa, phát triển nông nghiệp gắn với quá trình đô thị hóa nông thôn và nâng

cao dân trí

Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết về tạo cơ hội việc làm và tăng thu nhập cho người dân nông thôn từ việc khôi phục và phát triển nghề, làng nghề truyền thống, thời

4

Trang 4

gian qua trên cả nước đã có 11 đề tải và dự án khoa học nghiên cứu và đưa ra những

luận cứ, giải pháp nhằm phát triển nghề và làng nghề truyền thống Đây là những đề tài cấp quốc gia và kết quả nghiên cứu cho thấy làng nghề góp phần to lớn trong việc tạo

thêm việc làm cho nông dân và dân cư nông thôn để họ có thẻ “ly nông bắt ly hương”

Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tuy mới hình thành và phát triển trên dưới 300 năm nay

nhưng vẫn có nhiều nghề và làng nghề truyền thống, trong đó có những nghề hình thành

từ buổi đầu khai hoang mở đất Tuy nhiên chưa được nghiên cứu, khảo sát và thống kê đầy đủ Để có cơ sở quy hoạch phát triển nghề và làng nghề truyền thống và tìm ra giải

pháp, xây dựng mô hình, đề xuất dự án phát triển nghề và làng nghề của tỉnh Bà Rịa-

Vũng Tàu, Hội đồng khoa học tỉnh đã giao cho Chỉ cục HTX và PTNT thực hiện để tài khoa học “Khảo sát nghệ truyên thống tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, đề xuất giải pháp và dự án

khôi phục, phát triển phục vụ CNH-HĐH",

Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển nghề và làng nghề

truyền thống của Bà Rịa-Vũng Tàu; Nghiên cứu điều kiện nhằm khai thác tiềm năng phát

triển làng nghề và đề xuất các giải pháp nhằm phát triển làng nghề, ngành nghề thủ công

truyền thống đáp ứng được nhu cầu thị trường và tạo việc làm cho người dân khu vực nông thôn,

Qua khảo sát, nghiên cứu đề tài đã xây dựng 5 mô hình thi điểm về các nghề: náu rượu, làm bánh tráng, làm bún, đan lưới và chạm khắc sò ốc Nghiên cứu 10 nghề và làng nghề: Rượu, Bún, Bánh, Tráng, Mây tre đan, Lưới, Đúc đồng, Chế tác đ“ Sò ốc, Sơn mài trên khắp 8 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và trực tiếp triển

khai mô hình thí điểm tại làng bún Long Kiên (thị xã Bà Rịa), rượu Hoà Long (thị xã Bà Rịa), dệt lưới (xã Nghĩa Thành, huyện Châu Đức), sơn mài, sò ốc (Vũng Tàu), bánh

tráng (An Ngãi, Long Điền)

Phương pháp nghiên cứu và tiếp cận của những người thực hiện đề tài là: điều tra khảo sát (thực địa và sử dụng bộ mẫu phiếu điều tra), phân tích tổng hợp, phỏng vấn đánh gia (bao gồm cả phương pháp chuyên gia) Những người thực hiện đã tổ chức 4 cuộc hội thảo khoa học nhằm trao đổi, thảo luận những vấn đề liên quan đến làng nghề với nhiều thành phần tham dự Đặc biệt, để thực hiện đề tài chúng tôi đã sử dụng phương pháp phân tích SWOT để tổng hợp và đề các chiến lược phát triển nghề và làng

Từ việc triển khai nghiên cứu nghề và làng nghề truyền thống của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tau chúng tôi đã định hướng và xác lập cơ sở để quy hoạch phát triển nghề và làng nghề trong từng địa phương và trên địa bàn toàn tỉnh, có tính đến tính đặc thù riêng của từng địa phương, các tiềm năng sẵn có, những thế mạnh của từng vùng và từng nghề

2

Trang 5

Qua nghiên cứu 10 ngành nghề cho thấy trong quá trình phát triển, nghề và làng nghề truyền thống của tỉnh có những khó khăn và hạn chế nhất định Trước hết đó là việc thiếu quy hoạch toàn điện, chưa có chính sách quản lý thống nhất và đồng bộ Nông

dân sản xuất các sản phẩm truyền thống chưa được hỗ trợ gi từ việc tiêu thụ sản phẩm,

cải tiến công nghệ cho đến việc xử lý ô nhiễm môi trường, đào tạo nhân lực Tất cả

dường như chỉ tự phát Đó là chưa nói muốn các ngành nghề thủ công truyền thông phat triển cần tìm hiểu đầy đủ tiềm năng lợi thế từng nghề tại từng địa phương để có các

chiến lược riêng cho từng nghề, làng nghề hằu mong sự phát triển bền vững

Ngoài những kiến nghị đối với các cấp ủy đảng, chính quyền, các sở ban ngành,

địa phương, trong phạm vi của một để tài nghiên cứu khoa học những người thực hiện

đã mạnh dạn đề xuất 5 mô hình và 4 dự án để các đơn vị có thắm quyền tham khảo và

chưa hài lòng vì đề tài quá rộng lại thực hiện lần đầu và kinh phí có hạn Chúng tôi hy vọng nhận được sự đóng góp chân thành của các ban ngành liên quan trong tỉnh và bạn

đọc quan tâm Chúng tôi cũng hy vọng từ bước khởi đầu này lĩnh vực nghề va lang nghề

truyền thống sẽ được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc hơn

Những người thực hiện đề tải chân thành cảm ơn Sở Khoa học và Công nghệ, Sở

Nông nghiệp & PTNT, Sở Thủy Sản, Sở Công nghiệp, Sở Kế hoạch đầu tư, Sở Tài chính, Cục thống kê tỉnh đã giúp đỡ, tạo điều kiện về kinh phi, tư liệu, ý kiến đóng góp và động viên, khuyến khích chúng tôi hoản thành đề tài này

Chủ nhiệm đề tài, TRAN XUAN RUE

Trang 6

Chương 1 - Những vấn đề về làng nghề và làng nghề ở Bà Rịa-Vũng Tàu

_ Chương 1

NHUNG VAN DE VE LANG NGHE

VA LANG NGHE O BA RIA-VUNG TAU

1.1 Vài nét về nghề và làng nghề

1.1.1 Nghề thủ công truyền thông và làng nghệ truyền thông

Theo quy định nội dung, tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề truyền thống của Thông tư 116/2006/TT-BNN ngày 18 tháng 12 năm

2006, hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-

CP ngày 7-7-2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, thì: Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền

Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bản xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau

Làng nghề được công nhận phải đạt 3 tiêu chí: có tối thiểu 30% tổng số

hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn, hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm công nhận, chấp hành tốt các chính sách, pháp luật của Nhà nước

Làng nghề truyên thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời

Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống

Đối với những làng chưa đạt tiêu chuẩn của tiêu chí công nhận làng nghề nhưng có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận thì củng được công nhận là làng nghề truyền thống

Cơ sở sản xuất ngành nghệ nông thôn là cơ sở sản xuất, cung ứng dịch

vụ của cá nhân, tô hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp trong lĩnh vực ngành nghề nông thôn, độc lập về sở hữu Lao động trong các cơ sở này có thể đã hoàn toàn tách khỏi nông nghiệp cũng có thể là lao động nông nhàn giữa các thời vụ sản xuất nông nghiệp

Trang 7

Chương 1 - Những vẫn đề về làng nghề và làng nghề 6 Ba Ria-Viing Tau

Tiềm năng phát triển

Tiềm năng phát triển của một ngành là những giá trị tiềm ẩn của ngành

nhưng chưa được khai thác hoặc chưa được sử dụng một cách tốt nhất trong

khả năng tiếp cận để phát triển ngành Những giá trị tiềm ấn này có thể gồm: thị trường tiêu thụ, nguyên liệu, lao động, công nghệ Khảo sát tiềm năng phát triên nghệ thủ công chính là việc xác định những giá trị tiém ẩn này và tìm ra những giải pháp để biến tiềm năng đó thành hiện thực

Giải pháp

Giải pháp ở đây được hiểu là tổng thể các quyết định nhằm giải quyết

một vấn đề trong thực tiễn Biện pháp được hiểu là cách thức hành động khi giải quyết một vấn đề Trong đề tải này, chúng ta phải phát hiện được những van dé dang ton tại trong quá trình phát triển các làng nghề và nghề truyền thống ở Bà Rịa-Vũng Tàu Nhận dạng, kiến giải nguyên nhân và đưa ra các giải pháp Giải pháp khả thi là giải pháp thoả mãn các ràng buộc trong môi trường quản trị Giải pháp tối ưu là giải pháp khả thi thoả mãn hàm mục tiêu (có thể là tổng chỉ phí thấp nhất)

1.1.2 Vai trò của nghệ và làng nghề truyền thống

Với việc làm và thu nhập

Tạo cơ hội việc làm trong ngành nghề kinh doanh và dịch vụ như mua

bán nguyên nhiên liệu, sản phẩm, dịch vụ vận chuyển, giải quyết việc làm tại

chỗ cho người lao động địa phương, nâng cao thu nhập

Với chuyển dịch cơ cấu

Từ việc xuất hiện các ngành nghề thủ công làm phát triển nhiều nghề và

các dịch vụ như nông nghiệp, dịch vụ mua bán, vận chuyển, thông tin đã góp phần làm chuyên dịch cơ cấu kinh tế tại địa phương theo hướng tăng ngành nghề phi nông nghiệp

Với phát triển vùng

Phát triển nghề thủ công truyền thống là động lực quan trọng trong vẫn

đề thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Nó còn

là nhân tố quan trọng giảm nghèo ở khu vực nông thôn, giải quyết tệ nạn xã hội và góp phần phát triển kinh tế xã hội tại địa phương

1.1.3 Quy luật phát triển của các ngành nghề

Trang 8

Chương 1 - Những vắn đè về làng nghề và làng nghề ở Bà Ria-Viing Tau

Nghề thủ công truyền thống đã hình thành rất sớm trong quá trình phát

triển của xã hội loài người Qua nhiều năm, nhiều thế hệ, dần dẫn có nhiều hộ

làm nghề và hình thành làng nghề Cũng chính vì điều này đã làm cho nghề trở thành nghề truyền thống của tỉnh và có mặt ở nhiều địa phương trong tỉnh Làng là đặc trưng văn hoá của người Việt Những cư dân ban đầu đi mở đất thường sống thành làng để hợp tác khai phá đất cũng như chống lại thiên tai, nhân tai Quá trình đó làm cho người cùng một làng trở thành gắn bó hơn Các làng nghề phi nông nghiệp thường hình thành muộn hơn các làng thuần nông và nó cũng mang những cách thức riêng biệt Các làng nghề ở Nam bộ

nói chung hình thành muộn hơn Những nghề này có thể do những đi dân

mang tới hoặc do sự phát triển nội tại của các làng thuần nông từ nhu cầu về công cụ, phương tiện và đời sống văn hoá Thường những người có nghé san

xuất và có thé truyền nghề cho người trong làng hoặc truyền nghề cho con

cháu trong dòng họ Rất nhiều làng nghề được hình thành do một vải dòng

họ Điều này cũng thẻ hiện tính truyền thống của làng nghề và nghề thủ công truyền thống

1.1.4 Tính truyền thống của nghề và làng nghề

Tính truyền thống của làng nghề là khái niệm dùng đề chỉ quá trình lưu truyền nghề của làng theo thời gian Nó có thể được đo bằng số năm hoặc số các thế hệ làm nghề trong làng Tính truyền thống của nghề là khái niệm dùng chỉ sự lưu truyền nghề theo thời gian và thường gắn với những cộng đồng dân cư nhất định Một làng nghẻ truyền thống chắc chắn phải dựa trên một nghề truyền thống Việt Nam có rất nhiều nghề truyền thống, nghề rèn,

nghề đúc đồng, nghề mộc, nghề mộc mỹ nghệ, nghẻ đan, nghề làm trống, nghề làm tranh, nghề làm quạt, dét coi, son mai, gốm, nghề làm bún, bánh,

nghề làm giò chả, nghề nấu rượu, nghề làm nước mắm, nghề chế tác đá Khi những người hành nghề này tập trung lại thì hình thành làng nghề Cũng

có thể một nghề được du nhập từ nơi khác tới Mỗi làng nghề thường gắn với ông tô làng nghề Có những nghề, thành hoàng của làng cũng là ông tổ làng nghề Tính truyền thống của làng nghề thê hiện ngay ở tục thờ tổ nghề và giỗ

tổ nghề Các làng nghề ở miền Bắc chiếm 2/3 làng nghề cả nước Hà Tây là tỉnh có nhiều làng nghề nhất Những làng nghề có hàng ngàn năm tuổi như Luy Lâu (Bắc Ninh), Chu Đậu (Hải Dương) Hà thành là nơi hội tụ của các làng nghề từ thời xa xưa Hơn đâu hết, đất Thăng Long xưa-Hà Nội nay là nơi tập trung đông đảo các làng nghề truyền thống Sự phát triển của làng nghề không chỉ có vai trò nâng cao mức sống mà còn đóng góp quan trọng

6

Trang 9

Chương 1 - Những van dé vé làng nghệ và lang nghé 6 Ba Ria-Viing Tau

trong đời sống, là dau Ấn truyền thống văn hoá dân tộc tại mỗi thời ky dung

nước và giữ nước Làng nghề thủ công ở Hà Nội có rất nhiều nguồn gốc khác nhau, những làng nghề có sẵn chiếm phần nhỏ trong tổng số làng nghề Đa

phần đều được di dời từ nơi khác về

Những người làng Hoè Thị (Từ Liêm) và Đa Sỹ (Hà Đông) không chỉ đưa hàng hoá ra Hà Nội bán mà họ còn kéo nhau ra thôn Tân Khai, tổng

Thuận Mỹ, huyện Thọ Xương mở lò rèn sắt, bán nhiều loại bừa nên đổi thôn

thành phố hàng Bừa Về sau không chỉ có bừa mà còn rèn nhiễu loại sản

phẩm khác nên đổi thành phố Lò Rèn Thợ Hoè Thị còn mở Lò Rèn ở phố

Sinh Từ, Kim Mã, Đê La Thành nay vẫn còn một số nhà ở phố Nguyễn Khuyến (Sinh Từ cũ), sản xuất các loại dao kéo Sinh Tài nổi tiếng Các lò rèn không chỉ đỏ lửa trong phố Sinh Từ, Lò Rèn do người Da S¥, Hoé Thi lap nên mà còn có cả ở phế Lò Sũ do tốp người thợ Đa Hội (Đông Anh) kéo đến chuyện làm các loại gươm đao, giáo mác Gần phố Lò Rèn là phố Hàng Thiếc, xưa chuyên sản xuất và bán các loại hàng thiếc như đèn dầu, âm trà

Ngày nay, sản phẩm được thay bằng các loại nhôm kính, bể nước treo ở

gần phố Hàng Thiếc có phố Hàng Đồng nguyên là đất thôn Yên Phú tổng Tiền Túc do dân làng Cầu Nôm (Mỹ Hào, Hưng Yên) đến đây mở hiệu buôn bán các loại đồ đồng Phố Hàng Quạt trước đây chuyên sản xuất và bán các loại quạt do thợ làng Vác (Canh Hoạch, Hà Tây) làm ra, nay chuyến sang sản

xuất và bán các loại bàn thờ, đồ thờ, câu đối

Cuối thế kỷ XIX, một số người dân làng Nành (Ninh Hiệp, Gia Lâm),

sang mở hiệu đóng yên ngựa giầy da, lập nên phố Hà Trung Hiện nay phó này vẫn làm và buôn bán hàng da và giả da khá nhộn nhịp Nghề làm tàn lọng

và thêu ren do thợ từ làng Quất Động (Thường Tín, Hà Tây) ra lập nghiệp ở các phố Hàng Lọng (nay là đoạn đầu đường Lê Duẫn) và Hàng Thêu (nay ở đoạn giữa phố Hàng Trống) Người thợ làng Chắm (Tứ Lộc, Hải Dương) đã

đưa nghề làm đồ da, đóng giầy, đép đến Thăng Long lập nên thôn Hài

Thượng (thợ giầy) sau đổi là phố Hàng Giầy và ngõ Hài Thượng Ông tổ nghề giầy được thờ ở đình phả Trúc Lâm nằm trên phố Bảo Khánh

Nghề làm đỗ vàng bạc, kim hoàn hiện đang tập trung ở phố Hàng Bạc chính là do thợ làng Định Công (Thanh Trì), thợ làng Đồng Sâm (Thái Bình) kéo nhau ra lập nghiệp Cuối thế kỷ XV một số làng Châu Khê (Hải Dương) cũng kéo nhau ra mở xưởng đúc tiền, làm cho phường Vàng bạc cảng trở nên nhộn nhịp Hàng Tiện là nơi buôn bán các hàng tiện gỗ như mâm bồng, ống

Trang 10

Chương 1 - Những vắn đề về làng nghệ và làng nghệ ở Bà Rịa-Vũng Tàu

hương, đài rượu khuôn oản, chân bàn do người làng Nhị Khê làm nay trở

thành các phố Hàng Hành, Tô Tịch và một đoạn Hàng Gai, và vẫn còn một vài nhà ở phố Tô Tịch làm nghề dõi gỗ Phố Hàng Khay bán các sản phẩm vẽ làng Nhót (Đông Mỹ, Thanh Trì), sản phâm khảm trai của làng Chuôn Ngọ (Phú Xuyên, Hà Tây), đồ gỗ Đồng Ky (Bắc Ninh)

Không chỉ nghề thủ công, Hà Nội còn là một trung tâm văn hoá âm thực

nổi tiếng, đồng thời là nơi sản xuất và chế biến các món ăn hấp dẫn Chả cá

Lã Vọng nổi tiếng đến mức phố Hàng Sơn có quán chả cả của gia đình họ Đoàn, trước cửa có tượng Lã Vọng ngồi câu cá nên dân quen gọi là chả cá Lã Vọng Tên phố cũng bị đổi thành phố Chả Cá Phở Hà Nội, một món ăn bình dân được tả rất thi vị trong văn Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Bằng Rồi

bánh cuốn Thanh Trì, bánh tôm Hồ Tây, bún Tứ Kỳ, bún Phú Đô, cốm Vòng,

gạo tám Mễ Trì Qua thời gian, trên các phố phường xưa nay có phố mở thêm nghề sản xuất mới như: nghề khắc bia mộ ở phố Hang Mam, nghé may

ở phố Hàng Trống, phố Khâm Thiên Về âm thực thì các phố Hàng Mành đã thành phố bún chả, Hàng Hành thành phó cà phê

1.2 Quá trình hình thành và phát triển nghề và làng nghề ớ BR-VT

1.2.1 Vài nét về làng nghệ ở Việt Nam

Việt Nam có khoảng hơn 2.000 làng nghề, các làng nghề đang đóng góp 9% GDP, thu hút 10 triệu lao động làm việc thường xuyên và 4 triệu lao động

làm theo thời vụ; chiếm 29% lực lượng lao động cả nước Tuy nhiên, hơn

80% các cơ sở sản xuất chưa có nhà xưởng kiên cố; trên 60% công việc làm thủ công bằng tay; 55% lao động làng nghề chưa qua dao tạo; 79% lao động không có chuyên môn kỹ thuật"

Chính sách đổi mới đã đem lại luồng sinh khí mới cho các ngành nghề thủ công truyền thống Việt Nam Sau thời gian ngừng trệ, ì ạch, bề tắc, trong vòng 10 năm trở lại đây, từ các nguồn ngân sách hỗ trợ của Nhà nước, kết hợp với cơ chế mở cửa của nền kinh tế thị trường và sự năng động cũng như tâm huyết với nghề của những người dân, các làng nghề thủ công không ngừng thay da đối thịt và đã tạo nên một diện mạo mới cho nông thôn Việt

Nam Theo số liệu gần đây nhất, làng nghề phân bố ở 58 tỉnh và thành phố

trong cả nước, riêng địa bàn Đồng bằng sông Hồng có khoảng 800 làng Các tỉnh có số lượng làng nghề đông bao gồm: Hà Tây có 280 làng, Thái Bình có

‘ Đề tài KC-08-09

Trang 11

Chương † - Những vẫn đề về làng nghệ và làng nghề ở Bà Rịa-Vũng Tàu

187 làng, Bắc Ninh có 59 làng, Hải Dương có 65 làng, Nam Định có 90 làng, Thanh Hoá có 127 làng Theo ước tính, trong vòng 10 năm qua làng nghề nông thôn Việt Nam đã có tốc độ tăng trưởng nhanh, trung bình khoảng 8%

năm, tính theo giá trị đầu ra Các ngành nghề chủ yếu được phát triển ở làng

nghê như sau:

Bảng phân bồ các lọai hình làng nghề các vùng nông thôn Việt Nam

đó, thu nhập từ hoạt động nghề là nguồn thu nhập đáng kế với các hộ nông

dân, ở nhiều làng nghề, hoạt động nghề không còn là nghề phụ, mà đã trở

thành nghề chính với cả gia đình hay một số lao động chính trong gia đình

Các làng nghề tái chế ở miền Bắc đã phát triển thành các cụm công nghiệp ở

nông thôn Tại đây hoạt động nông nghiệp chỉ đóng vai trò rất nhỏ trong thu nhập của người dân trong làng Một số lớn các làng nghề khác có hoạt động nghề là nghề phụ và chỉ có sự tham gia của một số thành viên trong làng Làng nghề đúc đồng Phước Kiều (Quảng Nam) là một ví dụ Đây là một làng nghề kết hợp cả hoạt động nông nghiệp và hoạt động nghề Có 40 trong tổng

số 80 hộ dân của làng làm nghề đúc đồng Trong mỗi hộ dân, thường có 1-2 thợ chính làm nghề Các lò đúc của làng thường nỗi lửa từ sáng sớm, phụ nữ

và thiếu niên trong nhà chính là các thợ phụ giúp các phần việc xung quanh

lò đúc Tới 7-8 giờ sáng, các “thợ phụ” tiếp tục công việc chính của mình như làm đồng hay tới những sản phẩm đúc thô Các “thợ phụ”, sau khi tạm

ngưng công việc đồng áng, lại tiếp tục công việc chọn lọc nguyên liệu, lựa xỉ

phế liệu để giã nhỏ và nấu lại Do sản xuất ở quy mô gia đình nên hoạt động

Trang 12

Chương 1 - Những vân đề về lang nghề và làng nghề ở Bà Rịa-Vũng Tàu

thường khá năng động trong việc thay đổi mặt hàng cho phù hợp với thị trường

-1.2.2 Nghệ và làng nghề ở Bà Rịa-Vũng Tàu

Các nghề truyền thống hàm chứa cả văn hoá vật thể và văn hoá phi vật

thể' Trước hết, các nghề truyền thống sản xuất ra những sản phẩm cụ thể phục vụ nhu cầu đời sống hằng ngày của người dân, như thoả mãn những

thói quen về 4m thực (rượu, bún, bánh tráng), thoả mãn nhu cầu biểu tượng giá trị tinh thần, tín ngưỡng (đúc chuông, khắc đá, sò Ốc, sơn mài) Chính các

sản phẩm đó là kết tỉnh của lao động sáng tạo và cũng là những biểu tượng văn hoá của cộng đồng người Việt Qua thời gian, những sản phẩm Ấy ngày một chất lượng hơn, thâm mĩ hơn là nhờ những kinh nghiệm quý báu, những kiến thức tích luỹ được từ bao đời

Mặc dù nhu cầu âm thực ngày nay đã có nhiều thay đổi nhưng những sản phẩm được làm ra vẫn là sở thích của xã hội, vẫn gắn bó với những giá trị

1 “Văn hoá hiểu theo nghĩa rộng nhát của dân tộc học, có nghĩa là một tổng thể phức hợp bao gồm các kiến thức tin ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ phong tục và tắt cả những khả năng

và thói quen mà con người đạt được với tư cách là một thành viên trong xã hội” ("Văn hoá nguyên

thay” (Primitive Culture) xuất bản năm 1871-Luân Đôn)

Văn hoá là một khái niệm rất phức tạp và có hàng trăm khái niệm khác nhau, tuy nhiên dù

khác nhau ở khía cạnh nào thì tất cả các khái niệm vẻ văn hoá đều có phần nội hàm không thể thiếu, đó là một tập hợp toàn bộ những biểu tượng thuộc đời sống tinh thần của con người với tư cách là một thành viên xã hội Như vậy, văn hoá không chỉ bao gồm những phong tục, tập quán,

tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, thói quen mà gồm cả những vật thé biểu tượng, cho các giá trị tinh thần đó Với nghĩa này, văn hoá bao gồm văn hoá vật thể và văn hoá phi vat thé

Từ điễn bách khoa toàn thư định nghĩa: văn hoá vật thể là một bộ phận của văn hoá nhân loại, thể hiện đời sống tinh thần của con người dưới hình thức vật chất, là kết quả của hoạt động sáng tạo, biến những vật và chat liệu trong thiên nhiên thành những đồ vật có giá trị sử dụng và thảm

mĩ nhằm phục vụ CuỘC sống con người Văn hoá vật thể (VHVT) quan tâm nhiều đến chát lượng

và đặc điểm của đối tượng thiên nhiên, đến hình dáng vật chất, khiến những vật thể và chất liệu

tự nhiên thông qua sáng tạo của con người biến thành những sản phẩm vật chát giúp cho cuộc

sống của con người Trong VHVT, người ta sử dụng nhiều kiểu phương tiện: tải nguyên năng

lượng, dụng cụ lao động, công nghệ sản xuất, cơ sở hạ tầng sinh sống của con người, phương tiện giao thông, truyền thông, nhà cửa, công trình xây dựng phục vụ nhu cầu ăn ở, làm việc và giải trí, các phương tiện tiêu khiển, tiêu dùng, mối quan hệ kinh tế Tóm lại, mọi loại giá trị vật

chát đều là kết quả lao động của con người

Theo đó, văn hoá phi vật thể (VHPVT) cũng là một bộ phận của văn hoá nói chung Theo nghĩa rộng, đó là toàn bộ kinh nghiệm tinh thần của nhân loại, các hoạt động trí tuệ cùng những

kết quả của chúng, bảo đảm xây dựng con người với những nhân cách, tác động dựa trên ý chí

và sáng tạo VHPVT tôn tại dưới nhiều hình thái Đó là những tục lệ, chuẩn mực, cách ứng xử

đã được hình thành trong những điều kiện xã hội mang tính lịch sử cụ thể, những giá trị và li

tưởng, đạo đức, tôn giáo thâm mĩ, xã hội, chính trị, hệ tư tưởng Theo nghĩa hẹp, VHPVT được coi là một phần của nên văn hoá, gắn với cuộc sống tâm linh của con người, thể hiện những giá trị, lí tưởng, kiến thức

10

Trang 13

Chương 1 - Những vẫn đê về làng nghệ và làng nghệ ỏ Bà Rịa-Vũng Tàu

truyền thống và làm phong phú thêm cho những giá trị ấy Đó cũng là động

lực để nghề phát triển Tính truyền thống của nghề nói chung kết hợp với văn

hoá của từng địa phương khác nhau đã làm nên những nét đặc trưng riêng của nghề, cùng một nghề nhưng mỗi địa phương có một cách riêng hoặc nguồn nguyên liệu riêng để sản xuất ra những sản phẩm riêng của địa phương đó Trước đây, khi di cư từ Hải Phòng vào Nam, người dân đã mang theo nghề làm bún thủ công truyền thống Nhưng ngày nay, hầu như hộ nào cũng đưa máy móc vào sản xuất, điều đó làm nên nét văn hoá riêng, nét đặc trưng riêng cho Làng Long Kiên

Hay như nguyên liệu để làm ra rượu Hoà Long cũng có những nét riêng

của địa phương Rượu Đề Hoà Long có thể nâu từ gạo hoặc nếp, người dân

xã Hoà Long thường chọn gạo miền Tây hoặc nếp Long Điền và men Làng

Vân để làm nguyên liệu nấu rượu Và một điều đặc biệt là dụng cụ nâu rượu

của người Hoà Long chứa đủ các yếu tố ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hoả,

Thổ Kim là nỗi đồng (hoặc nhôm) nau rượu, Mộc là cần tre dẫn rượu, Thể là

khạp sành làm lạnh rượu, Thủy là nguồn nước giếng khơi trong mát, được

nấy trên một ngọn lửa (Hỏa) vừa phải không quá to, cũng không quá nhỏ

Rượu nấu ra trong vắt, rót ra ly bọt nổi lên, nồng nản mùi của gạo, của nếp, thoang thoảng mùi hương đồng gió nội

Tính văn hoá của nghề truyền thống không chỉ dừng lại ở cách mà người

ta làm ra sản phâm như thế nào mà còn ở cách thức sử dụng những sản phẩm

đó như một thói quen, chẳng hạn như thói quen ăn bánh tráng Người dân

vùng đất An Ngãi đều nghiền ăn bánh tráng Hễ khi thấy đói bụng, miệng thèm thì lúc này nghĩ ngay đến vài ba cái bánh tráng Khi không có cơm hay thiếu cơm người ta ăn bánh tráng đã đành, nhiều khi sẵn cơm người ta vẫn để

cơm lại ăn bánh tráng Cần đổi bữa người ta ăn bánh tráng Nữa buổi, bụng

lưng lửng nhúng vài cái bánh tráng hoặc đi xa về lỡ cỡ không kịp nấu cơm

hay khách đến thình lình thì mời ăn bánh tráng Buổi tối thức khuya bụng

đói, trong nhà đã có sẵn bánh tráng Và đặc biệt, bánh tráng như là một thứ đặc sản không thê thiếu trong mỗi gia đình vào dịp năm hết tết đến bên cạnh những thức ăn như củ kiệu, đồ chua, rau sống, thịt kho Không chỉ vậy,

người dân nơi đây còn sử dụng bánh tráng làm quả để thể hiện lòng hiếu

khách Mỗi khi khách hay bà con ghé thăm hoặc đi thăm bà con ở xa, người

ta cũng tặng bằng bánh tráng Một nét văn hoá của người dân An Ngãi

Trang 14

Chương 1 - Những vẫn đề về làng nghề và làng nghề ở Bà Rịa-Vũng Tàu

Hay như nét đặc trưng của người dân Hoà Long trong những ngày lễ tết Ngày Tết, dù nghèo khó đến đâu, dù trong gia đình không ai uống được rượu, người Hoà Long bao giờ cũng mua vài lít rượu Đề Hòa Long để cúng tổ tiên, ông bà và mời khách nâng chén mừng xuân mới Những nhà khá giả, giàu có

dù sắm bia chai, bia lon, rượu ngoại, vẫn không quên trữ sẵn rượu Đề của quê

hương

Tính văn hoá của nghề truyền thống còn thể hiện qua sự hình thành và

tổ chức thành các làng nghề Chúng ta đã biết có những làng nghề có hàng ngan nam tuổi, dân trong làng làm chung | nghề và làng có những hương ước riêng Làng đã trở thành biểu tượng văn hoá đặc trưng của người Việt trong

quá trình phát triển Ngày từ thủa ban đầu (Bắc Bộ) hay sau này trên con

đường Nam tiến thì làng vẫn là nơi găn bó cư dân Việt với cộng đồng Trong sâu thăm tâm tư của người Việt thì làng rồi mới tới nước Điều đó được giải thích bằng nguồn gốc sau sa của các bộ tộc Việt trước khi hình thành Nhà nước đầu tiên

Quá trình gắn bó với làng nghề truyền thông đã hình thành những nét văn hoá riêng cho từng địa phương, đó không chỉ là thói quen trong sinh hoạt hằng ngày của mỗi người mà còn là dấu hiệu nhận biết sự khác biệt giữa mỗi lang nghé

Không như những làng nông thôn khác, làng bánh tráng An Ngãi còn có nét đặc trưng riêng qua những tiếng “lách tách” khi người ta đem bánh đi phơi Đến đây, người tỉnh ý sẽ nghe thấy những tiếng “lách tách” khi bánh khô và tự bong ra khỏi liếp phơi Những liếp phơi san sát nhau giữa những buổi trưa nắng chói chang, lâu lâu lại thấy có người ra “đảo” liếp phơi cho bánh khô đều Chính điều đó cũng tạo ra những nét đặc trưng mả những vùng quê khác không thể có được

Còn đấu hiệu để biết được nhà nảo làm bún tại Làng Long Kiên đó là tiếng heo kêu lẫn cùng tiếng máy, tiếng hơi nước xì ra ù ù Hễ đến Làng Long Kiên thì nhà nào nuôi nhiều heo thì ắt có làm bún Người dân nơi đây

đã quen với việc sáng dậy sớm làm bún và cho heo ăn Khi mọi người còn đang trong giấc ngũ say thì tiếng máy xay bột, tiếng máy ra bún đã rần rần,

có lẽ nếu không quen sẽ bị thức giấc

Tính văn hoá của nghề truyền thống còn thể hiện ở những tích về tổ nghề và tục thờ tổ nghề Những lễ hội gắn với nghề cũng được coi là đặc trưng văn hoá Vừa là phong tục vừa có thể coi là một thứ tín ngưỡng của

12

Trang 15

Chương † - Những vẫn dé về làng nghệ và làng nghề ở Bà Rịa-Vũng Tàu

những người cùng một nghề Văn hoá nghề nhiều khi còn thể hiện ngay ở

những ngôn từ được dùng phổ biến Người ta gọi là đi thỉnh chuông chứ

không ai gọi đi đặt chuông

Mặc dù đất Bà Rịa-Vũng Tàu chưa phải là cái nôi của những nghề truyền thống có tiếng, nhưng tại một vài làng người dân vẫn thờ thần có ít nhiều liên quan đến nghề nghiệp Ở Phước Tỉnh người ta đã dung Dan Ky Phong để thờ các vị hải than, người dân Phước Hải thì tôn một người có tên

la Tran Van Mau đến vùng biển thuộc ấp Hải Lạc bây giờ khai phá đất hoang

là Tiền hiền, xây dựng lăng miễu hương khói quanh năm

Tính truyền nghề và duy trì nghề cũng là một nét đặc trưng văn hoá của nghề truyền thống, đa phần những nghề truyền thống là những nghề được truyền theo phương thức gia đình, cha truyền con nối Ngày nay, quan niệm

về truyền nghề đã có nhiều thay đôi, như trong nghề làm bún tại Long Kiên, giờ đây đã truyền cho bên ngoài chứ không còn như xưa nữa Nhưng đối với nghề đúc chuông tại Long Sơn (Long Điền) thì khác, những người làm nghề chỉ là những người bà con, họ hàng thân thiết và nghề vẫn luôn giữ được nét truyền thông theo cách truyền nghề xưa

Những nét hoa văn, hoạ tiết trên những cái chuông thể hiện đặc trưng của văn hoá Việt Mặc dù xã hội đã có nhiều đổi thay nhưng những hoạ tiết

ay van luôn tổn tại và được xem là hồn của sản phẩm mà những người thợ đã dày công tạo nên Nghề đúc chuông Long Sơn còn tồn tại được cho đến ngày

nay cũng bởi do lòng yêu nghề và có lời thé tổ nghiệp Chỉ có lòng yêu nghà,

tâm huyết với nghề mới có thể sống với nghề, dù rằng nghề không còn thịnh vượng như xưa nữa

Có thể nói, nghề truyền thống và làng nghề truyền thống thể hiện sâu sắc bản sắc văn hoá của người Việt Phát triển nghề truyền thống tương đồng với việc gìn giữ bản sắc văn hoá Một dân tộc không gìn giữ được bản sắc văn hoá là một dân tộc đang suy thoái Công nghệ, kỹ thuật càng phát triển thì con người càng có xu hương trân trọng giá trị văn hoá truyền thống Mỗi người càng muốn sở hữu nhiều hơn những biểu tượng văn hoá của dân tộc mình và của dân tộc khác Trở về cội nguồn cũng là một xu hướng của tiêu dùng hiện đại Bản sắc văn hoá của dân tộc được gìn giữ sẽ góp phần thúc đây phát triển kinh tế Văn hoá với 4 chức năng: biểu tượng, xây dựng, hướng dẫn, gợi ý sẽ giúp con người thêm hứng khởi trong quá trình sáng tạo

*

Trang 16

Chương † - Những vấn đề về làng nghề và làng nghệ ở Bà Rịa-Vũng Tàu

Cũng như các địa phương khác, nghề thủ công truyền thống của Bà Rịa- Vũng Tàu cũng gồm nhiều nhóm nghề, trong đó phải kế đến các nhóm nghề chế biến thực phẩm, nhóm nghề sản xuất các sản phẩm văn hoá, mỹ nghệ; nhóm nghề đan lát, dệt lưới và một số nhóm nghề truyền thống khác Tuy nhiên, quá trình phát triển của nghề thủ công truyền thống trên địa bàn tỉnh

có nhiều thăng trầm, việc phát triển không mạnh mẽ như những địa phương khác Từ đó, các làng nghề không nhiều, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, chủ yếu là sản xuất hộ gia đình và không tập trung thành lang

Theo quy định nội dung, tiêu chí công nhận nghề truyền thông, làng

nghề, làng nghề truyền thông của Thông tu 116/2006/TT-BNN ngày 18 tháng

12 năm 2006, hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính Phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, thì hiện nay trên địa ban tinh Ba Ria-Viing Tau có các làng nghề truyền thống như: Bún Long Kiên, Rượu Hoà Long, Bánh tráng An Ngãi mà

để tài tập trung nghiên cứu

* Rượu Hoà Long

Hòa Long mảnh đất giàu truyền thống cách mạng Hoà Long còn là quê hương của một loại rượu mang tên địa danh này với hương vị đậm đà, ngây ngất ấm áp lòng người không thê nào quên Rượu Hòa Long-một loại rượu trắng, nấu thủ công, chất lượng đặc sắc-từ lâu đã nức tiếng khắp trong Nam ngoài Bắc Sản phẩm ấy được làm ra ở làng nghề nâu rượu Hòa Long cách

thị xã Bà Rịa 4km

Dân gian có câu: “Rượu Hòa Long ai đong nây uông” để nhắc nhở mọi người nhớ thứ rượu đề có nông độ cao mà ngon và nôi tiếng xưa nay, với cách uông rất “đặc trưng nét dân đã” ở Bà Rịa

Nghề nấu rượu được ra đời từ hàng trăm năm nay và cho đến giờ nó đã trở thành một nghề truyền thống của vùng dat Hoa Long Theo dong thoi gian cùng với nhiều biến cố lịch sử, rượu Hoà Long đã không ngừng phát triển Nhiều nơi trong và ngoài tỉnh đã biết tới bởi hương vị thơm ngon của thứ rượu chưng cất bằng thủ công kết hợp với nguồn nước ngầm ngọt ngào

“trời cho” ở đây Uống rượu Hoà Long người ta thấy một mùi vị thơm ngon

đặc biệt mà ít có loại rượu nào có được mùi đặc trưng như thế Theo dân

sành rượu, rượu Hòa Long chính công phải là thứ rượu “uống tới đâu biết tới đó” Rượu kề môi phải sực cay, thơm hương như nếp mới, uống vào thấy

14

Trang 17

Chương † - Những vẫn đẻ về làng nghệ và làng nghề ở Bà Rịa-Vũng Tau

nóng dần nơi cỗ họng, rồi thấm ran ra khắp người, độ mạnh mà êm, cay cay

mà ngọt lịm Nếu lỡ quá chén, bị say, cũng không bị váng đầu

Rượu Hòa Long được các hộ dân nấu rượu gọi tên là “rượu để Hòa Long”, chính điều đó đã thể hiện được giá trị truyền thống, văn hóa của nghề nấu rượu Hòa Long Danh từ “rượu đế” ra đời từ khi nhà cằm quyền thực dân độc quyền sản xuất và phân phối rượu, họ cắm không cho dân cất rượu tự do Rượu của công ty độc quyền Pháp sản xuất gọi là rượu ty (rút gọn từ công ty), rượu sản xuất không có phép nhà nước gọi là rượu lậu (ở Trung và Bắc)

Ở Nam Kỳ trước đây, để tránh bọn lính đoan (douane) lùng tìm, người nông dân ủ hèm trong các lu, vại và cũng cất rượu ngay ở bờ kênh, bờ rạch có

nhiều cỏ để (một loại cỏ lá dài, cạnh sắc hơn tranh) và sản pham làm ra cũng

giấu ngay tại chỗ, không đem vào trong nhà, đến khi cần dùng mới lấy vào

nhà Danh từ “rượu đế” ra đời từ đó và tồn tại đến ngày nay, mặc dù chính sách độc quyển rượu và thuốc phiện đã chấm dứt cùng với sự sụp đồ của chủ

nghĩa thực dân từ lâu

Muốn cất rượu ngon, ngoài nguyên liệu tốt còn đòi hỏi một số bí quyết riêng về men, cách ủ hèm, chất lượng nước Ở miền Nam có những lò rượu nỗi tiếng mà rượu Hòa Long (Bà Rịa) được sánh ngang cùng với một số lò rượu rất nổi tiếng như: rượu Gò Đen (Long An) rượu Phú Lễ (Bến Tre), rượu

Bến Gỗ (Long Thành)'

Chén rượu được dùng trong buổi lễ, trong tiệc mừng, trong cuộc tiễn

đưa, hay gặp gỡ, trong niềm vui thành công, hạnh phúc làm tăng thêm ý nghĩa giá trị, tình nồng hậu trong quan hệ giao tiếp, nhưng vì bị lạm dụng nên

sinh ra lắm điều tiêu cực, tệ hại “Rượu ngon không có bạn hiển” (thơ Yên

Đỗ) sẽ thiếu đi niềm vui

Có tính truyền thống trên 100 năm, nhiều gia đình nẫu rượu qua nhiều đời Hoà Long đã trở thành làng nghẻ truyền thống 120 gia đình nấu mỗi ngày khoảng 3.600 lít rượu cung cấp cho thị trường Danh tiếng rượu Hoà Long được lưu truyền trong dân gian không chỉ trong phạm vi tỉnh Danh tiếng này là một tiềm năng lớn cho phát triển làng nghề trong tương lai Nấu rượu không phải là nghề độc quyền của riêng cư dân vùng nào, nâu rượu có mặt ở hầu hết các vùng dân cư Tuy nhiên, nghề nấu rượu chỉ trở thành

? Theo Địa chí Bà Rịa — Vũng Tàu

Trang 18

Chương 1 - Những vấn đề về làng nghề và làng nghệ ở Bà Rịa-Vũng Tàu

truyền thống khi sản phẩm của nó thực sự nổi trội so với các vùng khác Chính danh tiếng đã tạo nên tính truyền thống cho làng nghề rượu Hoà Long

* Bán Long Kiên

Bún là một trong những sản phẩm truyền thông của Việt Nam, góp phan

làm phong phú thêm nghệ thuật ẩm thực cho người Việt Nghề làm bún là

nghề truyền thống của nhiều làng phân bố khắp từ Bắc tới Nam Nam Định

có làng bún Phong Lộc, Hà Nội có làng bún Tứ Kỳ Hầu như người Việt định

cư ở đâu là có làng bún ở đó Tương truyền rằng Ông tổ của nghề này là Hồ Nguyên Thơ, không rõ sống ở đời nào Ngày nay, người đân Mễ Trì (Thanh Xuân, Hà Nội) thờ Ông ở đình làng Vào những ngày hội làng, dân làng lại tổ chức hội thi làm bún Vật phẩm dâng cúng ở đình vào những ngày này cũng

không thể thiếu mâm bún

Theo dòng thời gian, từ bún tươi người ta đã có thê chế biến thành nhiều món ăn khác nhau, theo các hương vị và đặc điểm của từng món Ngày nay, khi ra đường ở bất cứ nơi đâu chúng ta đều có thể bắt gặp những quán đông

nghẹt khách với món ăn đặc sản từ bún Do đó, bún ngày càng được tiêu thụ

nhiều hơn và trở thành một trong những sản phẩm không thê thiếu đối với người dân Việt Nam Theo kinh nghiệm của nhiều người thì sợi bún càng tươi, dai và trong hơn thì càng ngon hơn

Góp phần tạo ra hương vị đặc biệt cho các món ăn đó có phần không nhỏ của các hộ sản xuất bún Trong đó có các hộ sản xuất bún truyền thống tại làng Long Kiên với kinh nghiệm làm nghề bún trung bình của các hộ là 20

năm, có hộ thời gian hành nghề trên 40 năm

Làng nghề được hình thành sau năm 1950, ban đầu chỉ có 5 hệ dân di cư

từ làng Thủy Nguyên-Hải Phòng vào Nam và định cư tại Bà Rịa-Vũng Tàu, tên gọi ban đầu là giáo xứ ấp Long Kiên Theo thời gian, qua cha truyền con nối, nay số hộ làng nghề gần 40 hộ Tháng 05 năm 2002, Hội nghề nghiệp sản xuất Tiểu Thủ Công Nghiệp thị xã Bà Rịa được thành lập do ông Trần Đức Thật làm chủ tịch và có 36 hộ thành viên gồm các nghề: bún, hủ tiếu, đậu hủ, bánh phở, bánh canh, xay xát, giết mỏ Hiện nay, bún chiếm 80% tỷ trọng sản phẩm trong làng, số hộ làm bún đã gần 30 hộ

Soi bun tươi Long Kiên dài, dai, trắng mịn, không dính vào nhau, các

món ăn được làm từ bún Long Kiên mang lại hương vị ngon hơn, dai hơn các

loại bún sản xuất từ nơi khác Bún Long Kiên sản xuất quanh năm, khôi

16

Trang 19

Chương 1 - Những vẫn đề về làng nghệ và làng nghệ ở Bà Rịa-Vũng Tau

lượng sản xuất bình quân một hộ là 544kg/ngày, các hộ sản xuất bún tại đây

đã cung cấp bún cho hầu hết các địa phương trong tỉnh và một số khu vực khác như huyện Long Khánh tỉnh Đồng Nai

Bà con ở đây cho biết, muốn có bún ngon, trước hết phải chọn gạo có xuất xứ từ các tỉnh Miền Tây Gạo sau khi vo, ngâm khoảng 1⁄2 ngày sau đó đem xay Sau khi xay, bột được ngâm với nước muối khoảng 2-3 ngày Thời gian ngâm càng lâu thì càng có lợi (ít nhất là 2 ngày, nhiều nhất là 3 ngày), vì khi ngâm lâu sẽ tạo độ dai và bột sẽ nở hơn Trong thời gian ngâm này phải thường xuyên chắt (lọc) hết nước chua và thay nước mới vào ngâm (khoảng 4-5 giờ chắt một lần) Sau khi ngâm rồi lọc liên tục trong 2-3 ngày người ta đem gói bột vào bao vải và dùng đá ép cho sạch nước chua Khi nước chua trong bao vải đã kiệt người ta cho bột vào máy quậy, ¡ cối quậy 70-80kg bột với 4-5 lít nước và máy sẽ cho ra sợi bún

Nhưng đối với quá trình sản xuất bằng tay, sau khi ép bột người ta gói trái bột bằng bao vải sau đó đem luộc Sau đó người ta quậy bột rồi múc cho vào ông khuôn hình trụ đường kính khoảng 150mm, đáy có đục lỗ Muốn cho bún sợi to thì sử dụng khuôn có lễ to hơn và ngược lại Bột được ép và sợi bún chui ra từ đáy khuôn, rơi xuống nổi nước sôi bên dưới Nồi nước sôi được khuấy nhẹ liên tục (nhiệt độ khoang 80°C), soi bún sống chuyển động

theo dòng xoắn của nước được cuộn tròn thành những vận bún đồng thời được luộc chín

Cách pha bột là khá quan trọng, thông thường người ta pha một nửa bột

gạo hạt tròn với một nửa bột gạo hạt dài (gạo hạt tròn thì dẽo, còn gạo hạt dải

thì khô hơn) Nếu trong quá trình làm mà bột quá dẽo sẽ ảnh hưởng đến chất

lượng của sợi bún, bằng kinh nghiệm của mình người thợ có thể chỉ cho sản

xuất nốt đợt bún đó Sau đó pha chế lại bột để đợt sau không bị ảnh hưởng

Vi thé kinh nghiệm là rất quan trọng trong nghề làm bún, thông thường trong trường hợp bột quá dếo thì người ta cho thêm bột gạo hạt dài vào và/hoặc bớt

bột gạo hạt tròn Ngược lại, nếu trường hợp bột quá khô thì thêm bột gạo hạt

tròn và bớt bột gạo hạt dài

Tính truyền thống của bún Long Kiên thể hiện ở việc nó sản xuất ra sản

phẩm phục vụ cho nhu cầu âm thực truyền thống của cư dân Việt tại vùng đất

Bà Rịa-Vũng Tàu Tuy nhiên, tính truyền thống của nghề không thể so với làng bún của Mễ Trì, Hà Nội

* Banh trang An Ngãi

Trang 20

Chương 1 - Những vấn đề về làng nghệ và làng nghề ở Bà Rịa-Vũng Tàu

Nghề bánh tráng Long Điền là nghề có tính truyền thống, vừa tổn tại lâu đời vừa sản xuất ra món ăn truyền thống thuần Việt Nguồn gốc của nghề có

lẽ xuất hiện từ rất sớm, cùng với những cư dân Việt đầu tiên đi khai phá vùng đất mới Cái tên Bánh tráng An Ngãi có lẽ cũng xuất hiện từ đó Theo những người làm nghề lâu năm và lớn tuổi trong nghề kể lại rằng làng nghề có tuổi bằng 4-5 lần tuổi của các người làm lâu năm nhất trong nghề, có nguồn gốc xuất xứ từ miền Bắc và theo dòng người di cư vào Nam từ rất lâu đời Nhiều người cũng tự hỏi nghề bánh tráng có tự bao giờ? Tương truyền rằng một người nào đó trong đoàn lưu dân gốc vùng Ngũ Quảng bỏ theo hành lý vài chục cái bánh tráng ăn cho đỡ đói lòng khi tới vùng đất mới vùng đất Bà Rịa- Vũng Tàu (theo Địa chí Bà Ria-Viing Tau năm 2005) Và cũng vì người dân sống dựa vào cây lúa, cũng chính từ nguồn nguyên liệu dồi dào này mà ban đầu chỉ một vài hộ làm (và truyền cho những người trong gia đình, truyền cho những họ hàng bà con láng giềng thân thuộc) Qua nhiều năm, nhiều thé

hệ, dần dần có nhiều hộ làm nghề và hình thành làng nghề Từ đó mà nghề bánh tráng đã trở thành nghẻ truyền thống và được lưu truyền qua nhiều thế

hệ cho tới ngày nay Tiêu biểu có bà Phạm Thị Tài, Trần Thị Ngay đã làm trên 40 năm

Qua đó cho thấy, trong số 10 nghề thuộc phạm vi của đề tài thì các làng nghề truyền thống còn tổn tại và phát triển cho đến ngày nay đều thuộc nhóm nghề chế biến thực phẩm, những nghề này đều thoả mãn nhu cầu tất yêu của người tiêu dùng Sở dĩ còn ton tại đến ngày nay là vì sản phẩm của làng gắn với truyền thống và nền văn minh lúa nước đã tồn tại hàng ngàn năm nay Ngoài những làng nghề truyền thống đã trình bày ở trên và dé tài sẽ đi sâu nghiên cứu, ở Bà Rịa-Vũng Tàu còn có những làng nghề khác có lịch sử tồn tại và phát triển lâu đời như làng bánh tét Đất Đỏ, làng cá Phước Hải, làng cá Phước Tỉnh, làng cá Tam Thắng, làng thúng Long Hải Đặc biệt,

nền “văn hoá tín ngưỡng” được thể hiện đậm nét với các lễ hội “Nghinh

Ông” của cư dân vùng ven biển như xã Phước Hải, Phước Tỉnh, Long Hải, Đình Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam Trong đó tiêu biểu nhất là lễ hội

Nghinh Ông — đình Thắng Tam được tổ chức vào ngảy 16, 17, 18 4m lich

hằng năm tôn thờ linh vật đã phù hộ giúp đỡ ngư dân trong những tháng ngày lênh đênh trên biển Lễ hội Dinh cô (Long Hải) thể hiện lòng tin, sự tín ._ ngưỡng vốn có lâu đời trong nhân dân với người con gái giàu lòng nhân ái, bị

tử nạn trong một trận bão được ngư dân Long Hải chôn cất, tôn xưng là

18

Trang 21

Chương 1 - Những vẫn đề về lâng nghề và làng nghề ở Bà Ria-Viing Tau

“Long Hải Thần Nữ”, Hàng năm, lễ hội thường mở trong 3 ngày (10, I1, 12

tháng 2 âm lịch), suốt cá ngày lẫn đêm

* Banh tét Dat Dé

Trên mâm cỗ ngày Tết cổ truyền của các gia đình người Việt, bánh

chưng, bánh tết, giò chả dường như là những món ăn không thể thiếu,

Bánh chưng, bánh tét là “linh hẳn” của món ăn ngày Tết Việt Nam, một sản vật tôn vinh thành quả lao động của nền văn minh lúa nước Bên ngoài bánh

có màu xanh của cây lá, bên trong có đủ thịt mỡ, hành, đậu xanh đều là

nông sản của người Việt làm nên Việc trưng bảy bánh chưng, bánh tét trong mâm cô ngày Tết cũng chính là một nét đẹp đặc sắc của văn hoá ấm thực Việt Nam Mỗi dịp Tết đến, ai cũng mua những chiếc bánh đặt lên bàn thờ

ông bà tổ tiên hoặc đem biếu họ hàng, bạn bè như là dip thé hién tinh cam va

sự quan tâm của mình với mọi người

Trong những ngày cuối năm, tại các vùng quê Đất Đỏ vốn có nghề nâu bánh tét cũng đã rộn ràng không khí chuẩn bị nguồn hàng phục vụ người dân địa phương, các nhà hàng, khách sạn cũng như các vùng lân cận khác

Huyện Đất Đỏ của Bà Rịa-Vũng Tàu là nơi cho ra lò những đòn bánh tét mềm, dẻo, thơm ngon nỗi tiếng khắp một vùng Có người triết lý hoá cách gói bánh tét, cho rằng trong mỗi vật dụng làm bánh của người Đất Đỏ ngon là nhờ nguồn nước, thổ nhưỡng ngọt lành Thực hư chăng biết thé nao, nhưng cũng tay nghề ấy với nếp Đất Đỏ, khi nấu ở nơi khác thì không thể ngon như

Lịch sử hình thành Phước Hải được truyền đời qua câu chuyện lý thú và hấp dẫn Chuyện kể rằng, vào khoảng năm 1725-1730, có một người tên

Trần Văn Mẫu đến vùng biển thuộc ấp Hải Lạc bây giờ khai phá đất hoang

1 Báo Bà Rịa — Ving Tau

Trang 22

Chương 1 - Những vẫn đề về làng nghệ và làng nghề 6 Ba Ria-Viing Tau

Thuở ấy đây cịn là vùng đất hoang vu, cây cối um tùm, nhiều thú dữ Hằng ngày, ơng vào rừng lấy dây mấu về đánh nhuyễn, đan thành sợi lưới, rê theo con nước lên xuống dé đánh bắt tơm, cá

Một số người dân thường ngày ra biển lấy vỏ sị về nung vơi, thấy ơng

rê được nhiều tơm cá, đời sống khá hơn, bèn bỏ nghề cùng ơng đan lưới,

đánh bắt hải sản, sinh cơ lập nghiệp Dần dần nơi đây hình thành một xĩm, gọi là xĩm Lưới Rê-ngơi lang cé nhất của nhất của xã Phước Hải và là một

trong những ngơi làng cơ của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu Sau này, cuộc sống của người dân xĩm Lưới Rê ngày càng thịnh vượng, tên xĩm được đổi thành Hải Chữ Đến thời Gia Long, Hải Chữ và Phước Điển được sáp nhập lại, gọi là Phước Hải thơn Quá trình tụ cư lập nghiệp trên vùng đất lành cùng với sự phát đạt của nghề cá đã làm cho Phước Hải ngày một trù phú:

Ngĩ lên Đất Đỏ làm cỏ cho quen

Lưới Rê đi cưới một thiên cá mơi

Khơng tin đỗ hộp ra coi

Rau răm ở dưới cả moi ở trên

Hiện nay, Phước Hải cĩ hơn 2/3 dân số sống bằng nghề đánh bắt cá, 1/3

làm nghề nơng và buơn bán Đội tàu đánh cá của Phước Hải cĩ 5.300 chiếc,

với tơng cơng suất 36.000 CV, khai thác khoảng 7.000 tấn hải sản/năm

* Làng cá Phước Tỉnh

Phước Tỉnh (huyện Long Điền) là làng cá hình thành rất sớm, nằm ở phía Đơng Cửa Lắp, thuận lợi cho ghe tàu đánh cá ra vào và đỗ nghỉ Sách Đại Nam nhất thống chí cho biết, từ thời Gia Long (1802-1820), người ta đã dựng Đàn Kỳ Phong ở Phước Tỉnh đề thờ các vị hải thần Trước năm Minh Mạng thứ 18 (1837) Phước Tỉnh cĩ tên gọi là làng Giếng Bộng Dân gian lưu truyền rằng, trong quá trình bơn tâu đánh nhau với quân Tây Sơn, Nguyễn

Aùnh đã cho đào phía Đơng Cửa Lấp một cái giếng, chu vi chừng 10 thước,

độ sâu 12 thước, nước rất ngọt Dân địa phương gọi là giếng ngự hay giếng

bộng Tài liệu của người Pháp cho biết, năm 1900, Phước Tính cĩ 1.628

người dân Cịn theo tài liệu của chính quyền Sài Gịn, năm 1970, Phước Tỉnh cĩ 11.527 người Cư dân Phước Tỉnh sống chủ yếu nhờ đánh cá và hoạt

động dịch vụ trên bờ phục vụ nghề này

Theo đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu, Phước Tỉnh là một trong những làng cá lớn nhất và giàu cĩ trong số các làng cá ở Nam bộ Cơ cấu

20

Trang 23

Chương † - Những vấn đề về làng nghề và làng nghề ở Bà Ria-Vũng Tàu

kinh tế của Phước Tỉnh là ngư nghiệp-tiểu thủ công nghiệp-thương mại dịch

vụ Trong, đó, mũi nhọn của xã là ngư nghiệp Số lượng tau thuyền hiện có 1.073 chiếc với công suất 127.570 CV, trong đó có 966 tàu thuyền đánh bắt

xa bờ Sản lượng khai thác hàng năm của Phước Tĩnh đạt khoảng 50.000 tấn hải sản các loại, trong đó có 14.000 tấn hải sản xuất khẩu có giá trị cao Thu nhập bình quân đầu người hằng năm khoảng 700 USD

* Các làng cá Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam (Tam Thắng)

Theo truyền thuyết, đầu đời vua Minh Mạng (1820), ba viên đội Phạm Văn Dinh, Lê Văn Lộc và Ngô Văn Huyền được phái đến Vũng Tàu trấn ải, lập đồn binh, dẹp yên nạn cướp biển Từ chính sách “ngụ binh ư nông”, ba ông đội này lập ra ba làng (Tam Thắng) gồm: Thang Nhat, Thang Nhi, Thang Tam Năm 1836, Tam Thang thudc tổng An Phú Thượng, huyện Phước An Ngày 1-5-1895, thực dân Pháp thành lập thành phố Cap Saint Jacques bao gom bao lang Thang Nam 1898, con đường noi lién Ba Ria véi thanh phé Cap được hoàn thành Ba năm sau đó, dân số Vũng Tau cd 5 690 người, trong đó có gần 2.000 người di cư từ miền Bắc vào, sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt thuỷ hải sản

Hiện nay, sản lượng đánh bắt thuy sản của Ving Tau đạt khoảng 68.000 tan/nam, chiém 41% tong san lượng toàn tỉnh Cũng như các làng cá lâu đời của Bà Rịa-Vũng Tàu, Tam Thắng xưa (Vũng Tàu nay) có một đặc điểm là quá trình hình thành và phát triển gắn liền với quá trình tu cu, ma trong đó chủ yếu là các quá trình di dân tự do từ các tỉnh miền Trung và Nam Trung

bộ Vì vậy, nguồn gốc dân cư hay nói đúng hơn là truyền thống văn hoá của các cộng đồng dân cư hội tụ về sinh sống ven biển Bà Rịa- -Vũng Tàu đã có tác động quan trọng trong việc hình thành các lễ hội như nét văn hoá đặc

trưng của ngư dân Bà Rịa-Vũng Tàu!

* Làng thing Long Hai

Long Hải được nhiều người biết đến không chỉ là bãi tắm đẹp của huyện Long Điền, tỉnh Bà Ria-Ving Tàu, mà nơi đây từ bao đời nay nỗi riếng nghề thủ công lam thing di bién

Thing di bién Long Hai cé mat hầu như đọc từ Phan Thiết vào đến Cà Mau Những hộ gia đình làm thúng mua tre giả ở địa phương và Đồng Nai

1 Theo TP-HNM

Trang 24

Chương 1 - Những vẫn đề về làng nghề và làng nghề ở Bà Rịa-Vũng Tàu

với giá 12-16 ngàn đồng/cây Tre mua về được chẻ đều, vót lại và đan thành miếng rồi lận tròn Sau khi đã nên hình thành dạng, thúng được quyết phân

bò và dầu chai, phơi hai nắng thì có thể sử dụng được Thúng đường kính 1,6

m phải dùng hết 5 cây tre và 5 ngày công, được bán với giá 300.000 đồng Anh Doan Van Vung, chi co sé làm thing thj tran Long Hai, cho biết: với 50 lao động, ở đây mỗi ngày cung cấp 5-10 thúng cho khách xa gần Một cái thúng khi hoàn thành yêu cầu phải đúng kích thước, nước không vào và

có thể xài được 1 năm Mức thu nhập bình quân 30-40 ngàn đồng/ngày của người làm thúng đã giúp hàng chục hộ gia đình ven biển thoát khỏi đói nghèo! "

* Nghệ đúc đồng

Ngoài những làng nghề có tiếng Bà Rịa-Vũng Tàu còn là vùng đất của những nghề truyền thống khác Trước hết phải kế đến nghề đúc chuông đồng Nghề đúc đồng với nhánh chuyên đúc chuông của người Việt cũng được hình

thành từ rất sớm, nó thoả mãn nhu cầu chế tác đồ thờ tự của cư dân Việt khi

có tín ngưỡng Những làng nghề lâu đời phải kế tới Tống Xá (Nam Định),

Trà Đồng (Thanh Hoá), Đại Bái (Bắc Ninh), Huế, Xuân Tiến (Nam Định)

Những làng nghề này đã đúc ra những quả chuông nỗi tiếng

Nói về chuông thì không thể không đề cập tới tính độc đáo và lòng trân trọng đối với tài hoa của những người thợ Có thể đó là tiếng ngân nga rộn rã của tiếng chuông nhà thờ nhắc nhở giáo dân đi lễ, cũng có thể là tiếng chuông dài trằm và sâu lắng từ một ngôi chùa như muốn chia xớt và san sẻ những khổ ải, những khắc khoải, những gian truân, những nỗi buồn của ai

đó Hay những hình ảnh hoạ tiết trên chuông cũng có thể muốn truyền đạt hay nhắn gửi, khuyên răn về đạo đức-lối sống, vẻ tôn giáo- tín ngưỡng hay điển tích ngợi ca một vị anh hùng

Nghề đúc chuông Long Sơn (Long Điền) đã trái qua bao đời, mặc dù không còn phát triển một cách thịnh vượng như xưa nhưng tính truyền thông, những nét hoa văn, hoạ tiết của nghề vẫn được duy trì Đặc trưng lớn nhất của nghề đúc chuông là kỹ thuật thủ công tỉnh xảo Nghề đúc chuông đồng sử dụng kỹ thuật đúc hiện đại và kỹ thuật đúc thủ công, nhưng phần đông vẫn dùng kỹ thuật đúc cũ Kỹ thuật làm khuôn đúc vẫn theo kinh nghiệm dân gian Người thợ có tay nghề cao làm mọi việc từ tạo mẫu, làm khuôn đúc đến

‘ Theo SGGP

22

Trang 25

Chương † - Những vấn đề về làng nghề và làng nghề ö Ba Ria-Viing Tau _ hoan thiéan san phẩm Do tiếp xúc với nghề nhiều năm hơn nữa đây là nghề

truyền thông và mang tính thủ-công nên các thợ đều có tay nghề cao

Tuy nhiên, quy mô không lớn, vị trí địa lý không thuận lợi khó mà có ảnh hưởng lớn tới một vùng dân cư rộng lớn Danh tiếng không lớn thì khó

cạnh tranh trong cơ chế thị trường Ngay như các làng đúc đồng nỗi tiếng của

xứ Bắc thì nay cũng phải kết hợp sản xuất nhiều sản phẩm khác từ đồng để

tôn tại Sự kết hợp không có gì làm mai một nghề mà trái lại nó làm cho sức

sống của làng nghề tăng lên Đa dạng hoá sản phẩm, ngoài chuông còn sản xuất lư, đồ thờ cúng là hướng đi đúng cho làng đúc chuông Long Sơn Hiện nay, chỉ còn 4 gia đình giữ được nghề là con số quá ít Có lẽ tên “làng đúc chuông Long Sơn” muốn phục hồi và phát triển phải có sự tài trợ bởi I

dự án và phải dựa trên việc đa dạng hoá sản phẩm như mục tiêu mà dự án của

huyện Long Điển đã nêu

* Chế tác đá mỹ nghệ

Chế tác đá mỹ nghệ là nghề có lịch sử hàng ngàn năm Những làng nghề

trên 1000 năm không hiếm (Làng Xuân Vũ-Ninh Bình) Những làng nghề chế tác đá ở phía Nam hình thành do quá trình đi cư của người Việt vào Nam nên có tuôi không cao Làng Non Nước (Đà Nẵng) cũng chỉ trên 100 năm và

được du nhập bởi dân Thanh-Nghệ

Nghề chế tác đá ở Tân Thành chỉ mới được hình thành những năm gần đây Nhờ lợi thế nguồn nguyên liệu và gần thị trường tiêu thụ nên nó bước đầu được phát triển bởi một số doanh nghiệp và gia đình Đa phần những người làm nghề này có nguồn gốc từ các tỉnh miền Trung và An Giang Tính truyền thống của nghề không phải trong phạm vị của tỉnh mà thể hiện ở tính chất cổ truyền của nghề sản xuất ra những sản phẩm gan voi doi sống của cư dân Việt Từ những vật dụng trong nhà cho tới đề thờ cúng, miếu, đình, văn bia cho tới những sản phẩm trang trí mỹ nghệ

* Sơn mài

Được hình thành từ rất sớm, Sơn Mài là một nghề quen thuộc và khá

gần gũi với người dân Việt Nam Theo nguồn tài liệu của JICA, cách đây hơn

2000 năm con người đã biết dùng sơn để sơn thuyền và thùng chứa hàng làm

từ gỗ hoặc tre đề tăng độ bền hoặc trang trí các công trình kiến trúc Sơn Mài

đã xuất hiện trên thế giới đã lâu nhất là tại các nước vùng Đông Nam Á như

Trang 26

Chương 1 - Những vẫn dé vé làng nghệ và làng nghệ ở Bà Ria-Viing Tau

Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Miến Điện Hiện nay các nhà khảo cỗ học còn đang tranh cãi về nguôn gôc, xuât xứ của ngành Sơn Mài cô truyền Theo sử sách nghề Sơn Mài được du nhập vào Việt Nam trong thời Nguyễn từ Trung Quốc vào, thợ thủ công được mời từ Trung Quốc sang và

đã tạo ra ki nguyên rực rỡ của nghề Thủ công mỹ nghệ Sơn Mài và chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung quốc

Tại Việt Nam những dấu vết đầu tiên về Sơn Mài đã được khai quật cách đây hang trăm năm trước công nguyên Vào thời Đỉnh (930-950) dân ta

đã biết dùng mủ cây sơn để trét thuyền, rồi lần lượt qua các triều đại Lê, Lý,

Trần còn giữ được nhiều cỗ vật Mãi đến thời Vua Trần Nhân Tông (1443-

1460) cụ Trần Lư (Hiệu Trần Thy Công) mới được tôn là bậc thầy đầu tiên

của ngành nghề này Theo JICA hiện có khoảng 31 làng nghề Sơn Mâài trên

cả nước với “độ tuổi” hình thành khác nhau

Trong lĩnh vực tranh Sơn Mài, người được giới mỹ thuật xem là “người tạo phong cách riêng cho Sơn Mài” chính là danh hoạ Trần Van Can (1910- 1994), ông cùng với hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí là một trong những người thôi hồn vào tranh Sơn Mài hiện đại với chất liệu không còn truyền thống Trong những năm đầu thế kỷ XIX, Sơn Mài chỉ được làm truyền thống, chất liệu để làm tranh Sơn Mài chủ yếu là “sơn ta” “Sơn ta” là nguyên liệu đã có từ lâu đời tại Việt Nam, chuyên dùng để sơn các đồ thờ cúng và đồ gia dụng Màu sắc rất đơn điệu chỉ gồm: Cánh gián-Then-Son-Vàng-Bạc Sau khi nghiên

cứu cải tiến nghệ thuật biểu diễn của tranh Sơn dầu, họ đã tạo ra những tác

phẩm kết hợp nghệ thuật Đông Tây với màu sắc đa dạng và nghệ thuật đa dạng hơn

Nghề Sơn Mài đã phát triển rất phong phú, đa dạng trên nhiều vùng

Việt Nam nhưng tập trung ở các tỉnh Hà Tây, Bắc Ninh, Nam Định, Bình

24

Trang 27

Chương † - Những vấn đề về lâng nghề và làng nghề ở Bà Ria-Vũng Tàu

sang làm huy hiệu và nghẻ rất phát triển Xưởng tổn tại đến năm 1975 và giải

tán Đến năm 1977 một số nghệ nhân thành lập HTX Đồng Nai chuyên sản xuất hàng Sơn Mài thủ công với số lượng hội viên lên đến hơn 70 người và

sau đó đổi thành HTX Hải Âu Trong thời kì này cùng với xu hướng chung

nghé Son Mai rat phat triển tại Vũng Tàu, tạo việc làm cho một lượng lao

động có thu nhập ổn định, sản phẩm Sơn Mài có chỗ đứng trên thị trường và được xuất khẩu qua nước ngoài, thị trường chủ yếu là các nước Đông Âu như Tiệp Khắc, Liên Xô Sản lượng phong phú về chủng lại và mẫu mã, hàng xuất khẩu với chất lượng cao như tranh Sơn Mài, bình phong, dé vat dung

hàng ngày Điểm nổi bật của Sơn Mài Vũng Tàu là tranh kham trai va kham

ốc xà cử, với nguyên liệu sẵn có và lòng say mê của các nghệ nhân đã tạo ra

những tác phẩm rất đẹp và được khách hàng ưa chuộng Tổn tại và phát triển

được chục năm, HTX Hải Âu giải thể năm 1986, một số lượng lớn thợ

chuyển sang nghề khác, một số ra riêng thành lập xưởng nhưng sau đó cũng không trụ lại được Trong khoảng thời gian đó trên địa bàn tỉnh thành lập HTX Thủ công mỹ nghệ là nơi tập hợp các nghề thủ công mỹ nghệ và làm ăn

rất thuận lợi tuy nhiên HTX cũng chỉ phát triển trong một thời gian ngắn

Hiện giờ chỉ còn một hộ của ông Thanh Thêm phát triển với quy mô nhỏ, sản xuất theo đơn đặt hàng là chính

Như vậy, tuy chỉ mới hình thành vài chục năm, được xem là quá ít so

với tuổi của nghề Son Mai truyền thống nhưng nghề Sơn Mài Bà Rịa-Vũng

Tàu có những bước phát triển đáng nhớ Hiện tại nghề mỹ nghệ Sơn Mài Vũng Tàu đang mai một dân theo thời gian và còn rất ít hộ duy trì nghề này

Thực tại chúng tôi chỉ khảo sát được một hộ còn sống còn với nghề nhưng

chỉ mang tính chất sản xuất cầm chừng Có nên chăng đây cũng là một báo

động về sự mai một của một loại hình nghệ thuật, một nghề truyền thống

đang tồn tại trên địa bàn tỉnh

* Sỏ Ốc mỹ nghệ

Nghề Thủ công mỹ nghệ xuất hiện từ xa xưa, nó gắn bó với đời sống người dân như các làm các vật dụng sinh hoạt hàng ngày với nguyên liệu sẵn

có như rỗ rá, chỗi, bàn ghế Khi đó người ta đã biết nhặt những vỏ ốc, vỏ

sò, san hô để đeo vào người làm đồ trang sức hoặc làm tù và thối, những người thợ đóng thuyền đã biết dùng vỏ xà cừ, vỏ trai để làm mắt thuyền tăng thêm vẻ oai phong cho con thuyền

Trang 28

Chương 1 - Những vấn đề về làng nghệ và làng nghệ ở Bà Rịa-Vũng Tàu

Nghề Thủ công mỹ nghệ Sò ốc hình thành từ thói quen làm đẹp của ngư dân xuất phát từ việc tận dụng những vỏ ốc có hình thủ, mảu sắc bắt mất, người ta đem về trang trí trong nhà hoặc đeo làm đỗ trang sức

Tuy nhiên, nghề chỉ mới được du nhập vào Bà Rịa-Vũng Tàu, không có

làng nghề tập trung Nó coi như một nghẻ truyền thống của người Việt được

du nhập Nó chỉ phát triển dựa trên lợi thế nguồn nguyên liệu sò ốc từ biển và thị trường khách du lịch Với những nghề này cần phải có những giải pháp phát triển cho phủ hợp với đặc điểm hình thành nghề Ý nghĩa truyền thông của nghề không chỉ riêng người Bà Rịa-Vũng Tàu mà phải xem xét nó trong mối quan hệ với truyền thống dân tộc và truyền thông vùng miễn

* Gậy đâu rồng Côn Đảo

Nói đến đặc sản Côn Đảo phải kế tới hai sản vật “danh bắt hư truyền” là gậy đầu rồng và ốc vú nàng Gậy đầu rồng được chạm khắc tỉnh xảo bằng

loại gỗ đặc biệt “chỉ có ở Côn Đảo”, vừa chắc lại rất thâm mỹ nên thường

được du khách mua vẻ đất liền làm quà tặng các bô lão Tuy nhiên, thời gian

gần đây, hai đặc sản này đã trở nên khan hiểm do hoạt động khai thác bị hạn

chê

* Mắm ruốc Long Sơn

Một hình ảnh tạo nên nét riêng của Long Sơn là những gian hàng nhỏ bán mắm ruốc nằm bình dị bên hè phố cỗ trước công tiền sảnh của Nhà Lớn Khách đến tham quan Nhà Lớn thường ghé chân vào những gian hàng này, mua vài hộp mắm về làm quà Làm mắm ruốc từ lâu trở thành nghề mang lại thu nhập khá ôn định cho 250 hộ dân Long Sơn Với chiếc ghe thúng nhỏ, người dân Long Sơn đi trủ, đi xệp trên sông Long Sơn, hoặc rạch Chà Và để đánh bắt ruốc Ruốc về rửa sạch, phơi một nắng rồi đem xay 2 lần cho nhuyễn, tiếp tục phơi nang, sau đó trộn đều với muối theo công thức 10 kg ruốc trộn với 1,7kg muối Hỗn hợp này được bỏ vô khạp ủ ròng 1 tháng thì ruốc mới ngon Mắm thành phẩm phải có vị thơm của ruốc, có độ mặn vừa phải Nếu mặn quá sẽ mất ngon, còn nếu lạt quá mắm nhanh hư Thêm vào mắm ruốc một chút tỏi đập dập, chút ớt, đường, chanh tạo vị cay cay, chua chua, mặn mà, dùng làm nước châm ăn với mang le luộc hay cuốn bánh tráng, thịt ba roi thi chang con gi bằng Hoặc mắm ruốc dùng kho dừa cũng là món ăn ngon khiến thực khách phải chép miệng

* Một số nghệ thủ công đã thất truyền

26

Trang 29

Chương † - Những vẫn đề về làng nghệ và lang nghé 6 Ba Ria-Vang Tau

Một số nghề thủ công đã từng tồn tại và phát triển tại Bà Rịa-Vũng Tàu nhưng nay đã thất truyền Nghề đệt lãnh tơ tằm ở Hắc Lăng (nay thuộc Tam Sơn-Long Đất) thịnh hành vào đầu thé kỷ 19, nay đã mai một Hay một số nghề như dong xe bd, gém nay cũng không còn Như vậy quá trình hình thành và phát triển các nghề thủ công ở mỗi vùng đất đều có những thăng trầm Một số nghề phát triển được hay không trước hết nó phải dựa trên nhụ cầu nội tại của vùng Khái niệm vùng cũng thay đổi và thường mở rộng theo thời gian do sự phát triển của phương tiện giao lưu kinh tế Vùng được mở rộng thì tính chất cạnh tranh giữa các làng nghề càng gay gắt Chí những làng nghề nào có những lợi thế mới tổn tại và phát triển Những nghề mà nhu cầu

xã hội không còn thì đương nhiên sẽ mai một (đóng xe bò) Với quan điểm

như vậy, chúng tôi sẽ lựa chon dé xuất những dự án khôi phục, phát triển một

số nghề thủ công của Bà Rịa-Vũng Tàu ở phân sau

Ngoài những nghề kể trên, Bà Ria-Vũng Tàu còn có những nghề truyền thống nổi tiếng như làm nước mắm, mắm ruốc và nghề chế biến cá khô Bà Rịa-Vũng Tàu hiện có 204 doanh nghiệp chế biến thủy sản, trong đó có 40 doanh nghiệp chế biến hàng hải sản xuất khẩu, I7 doanh nghiệp đạt tiêu

chuẩn HACCP, 8 doanh nghiệp được cấp code đủ điều kiện xuất khẩu vào thị

trường EU Công suất chế biến khoảng 20 ngàn tấn thành phẩm/năm, 16 triệu lít nước mắm/năm Tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của tỉnh 15 năm qua đạt gần 828 triệu USD Riêng năm 2005, đạt 153 triệu USD, tăng gấp 3 lần năm 2001 và chiếm ty trong 49% kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Ngành thủy sản tỉnh phấn đấu đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu thủy sản sẽ là 200 triệu USD/năm, chiếm tỷ trọng 60% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Những nghề này hiện được Sở Thủy Sản quản lý và xây dựng chiến lược phát triển Nghề làm muối cũng phát triển và có lịch sử trên 150 năm Vùng muối An Ngãi, Long Điền, Phước Hội, thị xã Bà Rịa đã nỗi tiếng từ lâu với sản phẩm vừa trắng vừa ngon

Trang 30

Chương 2 - Kết quả khảo sát, nghiên cửu làng nghề ở Bà Rịa-Vũng Tâu

KET QUA KHAO SAT, NGHIEN CUU LANG NGHE

O BA RIA-VUNG TAU

2.1 Đánh giá mơi trường phát triển nghề thủ cơng ở BR-VT

2.1.1 Mơi trường vĩ mơ

- Yếu tổ kinh tế:

Nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ốn định là điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư và phát triển các ngành nghề nĩi chung Các chính sách phát triển ngành nghề nơng thơn; khuyến khích đầu tư; xuất nhập khâu; tỉ giá hối đối

và lãi suất ngân hàng ảnh hưởng đến các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh xuất nhập khâu các mặt hàng thủ cơng mỹ nghệ Thu nhập của người dân ngày càng tăng cao nhờ tăng trưởng GDP nhanh (Œ7,5%), nên nhu cầu ăn, mặc, ở và du lịch ngày càng lớn Mặt khác, hội nhập quốc tế và khu vực mang lại những cơ hội lớn về giao thương, du lịch cho Bà Rịa-Vũng Tàu (tham khảo số liệu về phát triển kinh tế của tỉnh ở phần phục lục)

- Yếu tổ chính trị:

Việt Nam là một nước ổn định về chính trị, an ninh đảm bảo Đây là yếu

tố thuận lợi nhằm thu hút khách du lịch, hợp tác đầu tư của các nước trong việc sản xuất và phát triển nghề thủ cơng mỹ nghệ Nền chính trị ổn định là động lực thúc đây mọi thành phần kinh tế yên tâm đầu tư Các nguồn lực trong và ngồi tỉnh được đầu tư, phát huy lợi thế truyền thống, thị trường, nguơồn nguyên liệu và nhân cơng của tỉnh

- Yếu tổ xã hội-dân cư:

Xã hội cảng phát triển, con người càng cĩ nhu cầu cao về vật chất, tỉnh thần Nhu cầu du lịch, mua sắm, thưởng thức mĩn ăn ngon tạo điều kiện cho các ngành nghề thủ cơng mỹ nghệ phát triển mạnh

Dân số trẻ, sức ép về việc làm lớn và thời gian nơng nhàn ở nơng thên cao, tạo lượng lao đợng lớn cho ngành nghề nơng thơn

- Yếu tố cơng nghệ:

Cơng nghệ ngày càng phát triển, năng suất lao động ngày càng tăng, gĩp phần phát triển nguồn nguyên liệu đầu vào, tăng chất lượng, giảm giá thành

28

Trang 31

Chương 2 - Kết quả khảo sát, nghiên cứu làng nghệ ở Bà Rịa-Vũng Tàu

của sản phẩm đầu ra Công nghệ giúp cho việc xử lý nguyên liệu được bẻn,

đẹp hơn Tiến bộ của các ngành khoa học như: sinh học, hóa sinh và một số

các chế phẩm enzym đã được ứng dụng rộng rãi và tạo được nhiều kết quả

dang ké trong nhiều ngành nghé

- Yéu t6 van hod:

Nghề thủ công mỹ nghệ mang đậm nét văn hoá của từng vùng sản xuất,

thé hiện ở nguyên liệu, họa tiết, hoa văn trên sản phẩm Điều này đã thu hút

và giúp đối tượng tiêu dùng hiểu biết thêm về văn hoá của từng cộng đồng, từng địa phương Những lễ hội văn hoá của vùng thu hút khách du lịch và

dân cư tham gia, là cơ hội cho việc quảng bá sản phẩm thủ công truyền

thông

2.1.2 Môi trường ngành

Ngành theo quan điểm của marketing là tập hợp các doanh nghiệp cùng sản xuất ra những sản phẩm có thể thay thế cho nhau hoặc có hệ số co dãn chéo lẫn nhau Chuyên đề khảo sát 10 ngành thuộc 3 nhóm:

- Nhóm sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ: mỹ nghệ sò ốc; khắc đá mỹ

nghệ; đúc chuông; sơn mài; mây tre đan

- Nhóm sản xuất hàng thực phẩm truyền thống: làm bún tươi; nấu rượu; trồng nắm; làm bánh tráng

- Nhóm 3 sản xuất công cụ: lưới đánh cá hoặc lưới làm vườn

Mỗi ngành và nhóm ngành có những đặc điểm khác nhau ảnh hưởng tới hoạch động của các nhà sản xuất kinh doanh trong ngành Sự ảnh hưởng này khác nhau với các doanh nghiệp khác nhau tùy thuộc theo cầu trúc của từng doanh nghiệp Cơ hội, nguy cơ của môi trường ngành kết hợp với điểm

mạnh, yếu của từng chú thê kinh doanh mà hình thành nên chiến lược của họ

Cơ hội, nguy cơ của bất kỳ ngành nào cũng hình thành từ 5 áp lực:

A Khách hàng (người tiêu dùng cuỗi cùng và thương lái)

- Luôn tạo ra áp lực giá

- Đòi hỏi chất lượng, thời gian lưu trữ sản phẩm cao

- Đòi hỏi hệ thống phân phối tiện lợi

Tuy nhiên khách hàng ở các ngành khác nhau có những áp lực khác

nhau về giá Nếu phân tích từ hành vi tiêu dùng thì khách hàng của nhóm

Trang 32

Chương 2 - Kết quả khảo sát, nghiên cứu lang nghé 6 Ba Ria-Viing Tau

ngành sản xuất dụng cụ đánh bắt cá hay bao lưới vườn là nhóm khách hàng

có sự nhạy cảm cao về giá Sự tiêu dùng của họ không phải phục vụ cho tiêu dùng cá nhân mà phục vụ cho tiêu dùng sản xuất Khách hàng của nhóm sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ là ít nhạy cảm về giá nhất, song họ đòi hỏi sự khác biệt về chất lượng mà ở đây thể hiện bằng biểu tượng văn hoá và truyền thống của các vùng quê Những sản phẩm này nếu không hàm chứa được những giá trị đó thì coi như nó không có chất lượng và nguy cơ tàn lụi là chắc chắn Khách hàng của nhóm ngành sản xuất thực phẩm truyền thống

vừa tạo áp lực cao về giá vừa đòi hỏi chất lượng đặc thù theo khẩu vị truyền

thống Riêng bún tươi là sản phẩm đòi hỏi hệ thống phân phối phải thật tiện lợi, gắn liền với các vùng tập trung dân cư nhưng lại khó dự trữ qua ngày

A Đối thủ cạnh tranh:

Thị trường phát triển đã tạo ra nhiều đối thủ cạnh tranh trong các ngành nghề Đối với ngành nghề: bún, nắm sản phẩm mang tính đồng nhất, thời vụ (nắm), chi phí thấp, không thương hiệu, sản xuất theo hộ gia đình, nên tinh

cạnh tranh không thể hiện rõ như nghề bánh tráng, rượu, sơn mải, đúc

chuông Riêng nghề rượu, sơn mài, điêu khắc đá đối thủ cạnh tranh không chỉ trong nước mà còn ở nước ngoài Mỗi làng nghề mà nhỏ hơn là cơ sở sản

xuất nghề chỉ có thể tổn tai va phát triển dựa trên lợi thế cạnh tranh Nghiên

cứu đối thú cạnh tranh và xây dựng chiến lược cạnh tranh phù hợp sẽ quyết định thành bại của của mỗi cơ sở nghề Trừ những nghề tạo ra sản phẩm tiêu dùng nhanh, nói chung đối thủ cạnh tranh trong ngành trên phạm vì thị trường Tuỳ theo thị trường tiêu thụ của mỗi ngành nghề mà xác định đối thủ cạnh tranh cụ thé

A Đối thủ tiềm năng:

Một số ngành nghề có thê nói rất ít quan tâm tới đối thủ tiềm năng Thứ nhất nó thê hiện ở tiểm năng lợi nhuận của ngành thấp (dệt lưới, bánh tráng,

mây tre đan, bún, nắm) Nghề sản xuất rượu, điêu khắc đá, sơn mài đối thủ

tiềm năng nhiều hơn Tỷ suất lợi nhuận cao có thể sẽ là động cơ thúc đây

những người có đủ điều kiện vượt qua rào cần để xâm nhập ngành Rảo cán

quan trọng nhất đối với các nghề này là lao động có tay nghề chuyên môn Hoặc họ di chuyển từ vùng khác tới hoặc là sau quá trình học nghề tại địa phương

A San pham thay thé:

30

Trang 33

Chương 2 - Kết quả khảo sát, nghiên cứu làng nghề ở Bà Rịa-Vũng Tàu

Tuỳ vào từng ngành mà có những sản phẩm thay thế khác nhau Những sản phẩm thay thế của nghề bún, bánh tráng, là thức ăn nhanh như snack,

thức ăn đóng hộp, của nắm là sản phẩm rau quả tươi sống

Khắc đá và mây tre là các sản phẩm gia dụng hoặc mỹ thuật trang trí Sản phẩm đá có những giá trị rất riêng biệt nên áp lực về sản phẩm thay thế không cao, nhất là các loại đá dùng cho trang trí Có nhiều sản phẩm gia dụng được làm từ nhựa, sợi tông hợp là nguy cơ thay thế cho sản phẩm mây tre

đan Tuy nhiên bản sắc văn hoá của con người đã giúp cho sản phẩm mây tre đan tồn tại

4 Người cung cấp:

Nguồn nguyên liệu chủ yếu phụ thuộc vào nhà cung cấp Áp lực này ở các ngành nghề khác nhau cũng khác nhau Rượu, bánh tráng, bún là nhóm ngành có áp lực của nhà cung cấp thấp Các ngành nghề còn lại đều chịu áp lực của nhà cung cấp khá cao Sò ốc, son mai, mây tre với nguồn nguyên liệu đặc trưng cần có chính sách quy hoạch bảo vệ và phát triển nguồn nguyên

liệu

2.2 Đánh giá tiềm năng các ngành nghề tru›'ền thống tỉnh BR-VT 2.2.1 Thực trạng ngành nghề thú công

Theo Thông tư 116/2006/TT-BNN ngay 18 thang 12 năm 2006, hướng

dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính Phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, quy định nội

dung, tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống, thì trong số 10 ngành nghề thủ công truyền thống mà đề tài tập trung nghiên cứu, ngoài những nghề thuộc các làng nghề truyền thống (Bún Long Kiên, Bánh tráng An Ngãi, Rượu Hoà Long) thì còn có bốn nghề khác cũng được xem là nghề truyền thống là: Đúc chuông, Mây tre đan, Sò ốc, Sơn mài

và các nghề mới là Dệt lưới, Nắm, Khắc đá

Các ngành nghề thủ công truyền thống chủ yếu có nguồn gốc từ miền Trung và miền Bắc Chủ yếu nghề do các cư dân miền Bắc di cư vào Nam mang đến (Bún Long Kiên, Rượu, Đúc chuông, Bánh tráng), một số nghề có

nguồn gốc từ các làng nghề miền Trung du nhập (Sò ốc, Khắc đá, Dệt lưới),

còn lại các nghề được các nghệ nhân các tỉnh lân cận đến Bà Rịa-Vũng Tàu sinh kế lưu truyền

Trang 34

Chương 2 - Kết quả khảo sát, nghiên củu làng nghệ ở Bà Ria-Vũng Tàu

Hiện nay chỉ có vài ba nghề có quy mô hộ sản xuất kinh doanh và quy

mô lao động khá lớn, như: nghề Sò ốc (200 hộ với 460 lao động), Bún (300

hộ với 1120 lao động), Nấm (382 hộ với 1070 lao động) Bánh tráng (360 hộ với 1100 lao động) và Rượu (120 hộ với 155 lao động) Phần nhiều các nghề còn lại có quy mô dưới 100 lao động với vài mươi hộ gia đình, hoặc trên dưới một chục cơ sở sản xuất (quy mô nhỏ) Mây tre đan có 1 công ty TNHH

và 1 tổ hợp tác với khoảng 70 lao động; Chế tác đá có khoảng 100 lao động, đệt lưới với 22 hộ và 50 lao động, Đúc chuông có 5 hộ 10 lao động, Sơn mài chỉ còn vài hộ với dưới 10 lao động

Chỉ có hai nghề sản xuất tập trung, hoặc dưới dạng hợp tác, đó là nghề Mây tre đan (có 1 công ty TNHH, I tổ hợp tác) và Chế tác đá , còn lại các nghề hoạt động sản xuất kinh doanh phân tán, đơn lẻ và độc lập dưới dạng hộ gia đình quy mô rất nhỏ Chỉ có một vài làng, tập trung số hộ sản xuất cùng một nghề khá đông, hay có thể gọi là làng sản xuất nghề truyền thống như: Long Kiên-bún; Hoà Long-rượu, Long Điền-bánh tráng

Qua khảo sát, chúng ta có thé phác hoạ bức tranh hoạt động của các

nghề thủ công ở Bà Rịa-Vũng Tàu như sau:

- Mỹ nghệ sò ốc-sản xuất khá ỗn định, song một số dòng sản phẩm có phần chững lại;

- Đúc chuông và Mỹ nghệ sơn mài-có nguy cơ thất truyền

- Rượu Hoà Long và Mây tre đan-sản xuất cầm chừng;

- Dệt lưới đánh bắt hải sản chững lại; Dệt lưới phục vụ trồng trọt đang

phát triển, song năng lực cạnh tranh thấp do năng suất thấp, khó có thể thăng các đối thủ có kỹ thuật công nghệ cao và sản phẩm thay thế bên, nhẹ và rẻ

hơn;

- Nấm mới phát triển, song chưa bền vững, mới chỉ sản xuất nắm tươi và tiêu thụ thô, công nghiệp chế biến chưa phát triển, kỹ thuật và công nghệ bảo quản thấp

- Nghề chế tác đá có dấu hiệu phát triển,

- Bánh tráng là đang hồi sinh, nhưng còn bị giới hạn ở thị trường địa

phương và vùng phụ cận

Trên dưới 60% các nghề thiếu trầm trọng nghệ nhân và thợ cả (So ốc tạo hình, Mỹ nghệ mây tre đan, Khắc đá, Sơn mài, Đúc chuông; Nắm) Chỉ có

32

Trang 35

Chương 2 - Kết quả khảo sát, nghiên củu làng nghệ 6 Ba Ria-Viing Tau

những nghề có truyền thống cao, song đòi hỏi trình độ công nghệ và mỹ thuật

thâp mới tạm đủ lực lượng (Só ốc gắn và xâu, Đan giỏ, dệt lưới, Bún, Rượu

Hoà Long, Bánh tráng)

Trình độ tay nghề của lực lượng lao động trong các nghề thủ công trên địa bàn Bà Rịa-Vũng tàu tương đối cao Trình độ cao phải kể tới đội ngũ thợ

các nghề: Mỹ nghệ Sò ốc, Mỹ nghệ Sơn mài, Chế tác đá (thợ tỉnh ngoài) Đội

ngũ thợ có tay nghề khá cao tập trung ở các nghề: Bún, Rượu Hoà Long, Nam, Đúc chuông, Bánh tráng Thợ Mỹ nghệ mây tre đan và thợ chế tác đá người địa phương có tay nghề yếu (mặc dù có qua dao tao và hoc nghé)

Lực lượng lao động phụ, phụ trợ có thể tham gia vào các nghề thủ công

rất dồi dào (chủ yếu là lao động trên và dưới tuổi lao động) Tuy nhiên lực

lượng lao động trẻ có trình độ văn hoá cấp 3 trở lên thì phần nhiều không thiết tha với nghề truyền thống và cuộc sống ở nông thôn Tình trạng ngày cảng thiếu vắng lực lượng lao động trẻ ở nông thôn là một cảnh báo trước nguy cơ thiếu lao động trong nông nghiệp và ở nông thôn trong 5-10 năm tới Phần nhiều các nghề thủ công truyền thống ở đây phụ thuộc chủ yếu vào

nguồn nguyên liệu bên ngoài (địa phương khác và nhập khâu) như: Sò ốc tạo

hình (vỏ sò ốc cao cấp-miền Trung), Sơn mài (sơn-Camphuchia), Mây tre

đan (mây-Đồng nai, lục bình-miền Tây); dệt lưới (cước-TP Hồ Chí Minh),

Bun (gao-mién Tây), Rượu Hoà long (tắm-miền Tây, Men-Làng Vân), Nắm tươi (rơm-miễn tây), Bánh tráng (gạo-miền Tây, bột mỳ-nhập khẩu) Chính vì thế mà có đến trên 60% các nghề gặp khó khăn và khó khăn nhất định về nguồn nguyên liệu cung ứng như: Sơn mài, Rượu Hoà Long, Đúc chuông, Bánh tráng, Sò ốc tạo hình, Mây tre đan, Nam tuoi

Dai da sé san phẩm của các nghề thủ công truyền thống tại địa phương đều rơi vào tình trạng nghèo nàn chúng loại, đơn điệu và đơn giản về mỹ thuật, văn hoá Duy chỉ có nghề chế tác đá được coi là nghề có sản phẩm đa dạng, phong phú chủng loại và đáp ứng được thị hiểu về thẩm mỹ tiêu dùng

Sở di có tình trạng trên là do các nghề sản xuất theo đơn đặt hang (Sd ốc tạo

hình, Sơn mài, Mây tre đa, Khắc đá, dệt lưới, Đúc chuông), hầu như không

có thợ và bộ phận thiết kế riêng, còn lại các hộ và cơ sở sản xuất theo tính truyền thống hay theo phong trào (Sò, ốc gắn và xâu, Bún, Rượu Hoà long, Nấm tươi, Bánh trang va Nam)

Phần nhiều sản phẩm nghề thủ công của Bà Rịa-Vũng Tàu bảo đảm chất

Trang 36

Chương 2 - Kết quả khảo sát, nghiên cu làng nghệ ở Bà Rịa-Vũng Tàu

lượng khá, có uy tín với khách hàng (Sò ốc, chế tác đá, đệt lưới, Bún, Rượu Hoà Long, Nắm tươi, Đúc chuông, Bánh tráng) Tuy nhiên do chưa có nhãn hiệu, thương hiệu và hệ thống phân phối hạn chế nên khả năng thâm nhập thị trường khác còn rất hạn hẹp

Thị trường chính tiêu thụ phần lớn sản phẩm của các nghề thủ công ở đây là thị trường địa phương và các vùng phụ cận Đông Nai, Bình Dương,

TP Hồ Chí Minh Thị trường ở các tỉnh miền Tây, miền Trung và miền Bắc hầu như trống vắng sản phẩm thủ công của Bà Rịa- -Vũng Tàu Thị trường nước ngoài gần như bỏ ngỏ Chỉ có sản phẩm của hai nghề xuất khẩu sang thị trướng Á, Âu, Mỹ, chủ yếu là Đài loan Một phần do hạn chế về thông tin và

kỹ năng maketing, mặt khác do chất lượng sản phẩm chưa cao, kênh phân phối chưa rộng khặp và hợp lý

Là nghề thủ công truyền thống, song trong thời gian vừa qua các cơ sở sản xuất đã kết hợp thủ công với cơ giới hoá trong quá trình khai thác chế biến sản phẩm Do vậy năng suất lao động tăng 3-5 lần Tuy nhiên việc lạm dụng quá nhiều kỹ thuật và công nghệ hiện đại đã làm uy tín và chất lượng một số sản phẩm giảm đi rất nhiều (Sơn mài)

Hiện tại chỉ có rất ít các hộ sản xuất sản phẩm các nghề có lãi ở mức

đáng kể (tỷ suất lợi nhuận của nghề Sò ốc: 1,40, Đan giỏ: 1,33, Sơn mài ] 29), phần nhiều các hộ, cơ sở sản xuất nghề thủ công truyền thông ở đây lãi rất ít (thực chất, lấy công làm lãi) và lấy nghề phụ bù lỗ (tỷ suất lợi nhuận của

nghề Đan lưới bình quân1,07, Đúc chuông: 1,03, Bánh trang: 1,03-1,15, Bun: -1,05, Mây tre đan: lỗ, Rượu Hoà long: lỗ 500đ/1ít)

Tuy nhiên, thu nhập của người lao động tại các cơ sở sản xuất nghề thủ

công lại khá cao so với nghề làm nông vả so với thu nhập bình quân của lao động làm nghề thủ công trên cả nước Lương cao nhất thuộc về các thợ làm nghề Chế tác đá (Itriệu 2 đến 2 triệu đ/tháng), tiếp đến thợ đan giỏ (1 triệu

rưỡi) và thợ đúc chuông và làm nắm đạt mức trên dưới I triệu, còn lại đa

phần tiền lương của thợ làm nghé thủ công cũng ở mức trên 650.000đ/tháng- lao động (Sò ốc: 650.000đ/tháng-LĐ, Sơn mài: 700.000-800.000đ/tháng-LĐ, Mây tre đan 670.000đ/tháng-LĐ, Bánh tráng và Đan lưới: 600.000-700.000/đ tháng-LĐ, Thợ phụ đúc chuông: 700.000đ/tháng-LĐ

2.2.2 Khảo sút quy trình sân xuất

2.2.2.1 Quy trình sản xuất Rượu Hoà Long:

34

Trang 37

Chương 2 - Kết quả khảo sát, nghiên củu làng nghệ ở Bà Rịa- Vũng Tàu

* Quy trình sản xuất rượu

Chọn gạo Vo gạo Nấu cơm Để nguội cơm ——» Rac men

Rượu Ợ — Chưngcất £ 4©——] Comrượu Ơ ‹ U men Ừ

- Thuyết minh quy trình sản xuất rượu theo phương thức truyền thống

+ Chọn loại gạo thích hợp (tuỳ theo kinh nghiệm và mục đích nấu mà chọn ra loại gạo đề nấu) Về nguyên tắc loại gạo nào cũng có thể dùng dé nau rượu, tuy nhiên gạo dùng dé nấu rượu phải không được mốc

+ Vo sạch gạo: Đây là cách làm sạch gạo bằng cách dùng tay khỏa gạo trong nước, gạo được đựng trong rỗ hoặc giá có khe nhỏ cho nước lọt qua nhưng đảm bảo kích thước để hạt gạo, tắm không thể lot qua được Trong quá trình vo gạo cần nhặt sạch những hạt sạn, đất mà trong quá trình vo gạo chúng không thể lọt qua được Quá trình vo gạo cần thực hiện từ 2 + 3 lần để đảm bảo gạo được vo sạch Nước từ gạo vo được tận dụng để chăn nuôi Heo + Nấu chín cơm, để nguội, rắc men một lượng vừa đủ, ủ 10 ngày rồi đem chưng cắt, trong đó:

- 05 ngày đầu ủ khô

- 05 ngày tiếp theo tiếp thêm nước (nếu nấu 10 kg gạo thi tiếp vào 20 lít nước) ủ tiếp gọi là ủ ướt Ủ bằng chum, vại sành có đậy kín nắp

- Sau 10 ngày ủ (cả ủ khô và ủ ướt) cơm nhã ra, thoảng ra có mùi thơm

ngào ngạt pha lẫn vị ngọt và VỊ rượu, ::1n phẩm có thể ăn được, sản phẩm dén

đây gọi là cơm rượu

+ Chưng cất: cho cơm rượu vào nỗi nấu rượu (nồi bằng nhôm) và đun bằng củi đến sôi và rượu bắt đầu bốc hơi (nhiệt độ 80 - 85”C), hơi rượu sẽ

dần bốc hơi đi qua 01 ống dẫn (nhỏ, dài khoảng 2m, đường kính 5cm làm

bằng ống Nứa hoặc Tôn thiếc) dẫn qua chậu nước giải nhiệt để ngưng tụ hơi rượu thành rượu, rượu thành phẩm được đóng vào chai, can hoặc các thiết bị đựng rượu khác, 10 kg gạo chỉ lấy khoảng 6 lít rượu Lò đốt đắp bằng đất

- Thuyết minh quy trình nấu rượu hiện nay

Trang 38

Chương 2 - Kết quả khảo sát, nghiên cửu làng nghề ở Bà Ria-Viing Tau

+ Chọn loại gạo (tắm) thích hợp (hiện tại tới 86% các hộ nấu rượu tại Hòa Long sử dụng tắm vào nấu rượu)

+ Dùng nước vo sạch gạo (tắm)

+ Hấp chín com, dé rai toi com ra bạt, áo mưa để nguội, rắc một lượng men hợp lý (ở Hòa Long người ta sử dụng nhiều loại men, tuy nhiên men Làng Vân được cho là tốt hơn cả và số người sử dụng thường xuyên chiếm tới 30% Thông thường để nấu 10 kg tắm thì dùng 01 lạng men) , đem ủ trong 05 ngày rồi đem chưng cất, trong đó:

` 02 ngày đầu ủ khô

- Sau đó tiếp thêm nước (tiếp 20 lít nước trong trường hợp nấu 10 kg gạo) và ủ tiếp trong 03 ngày, gọi là ủ ướt

' Dụng cụ ủ cơm bằng khạp sành và sô nhựa có nắp đậy Theo kinh nghiệm của người nấu rượu Hòa Long vào những ngày có nhiệt độ xuống

thấp hơn 25°C (<=25°C) thì ủ cơm rượu bằng khạp sành tốt hơn vì khạp sảnh

dữ nhiệt tốt hơn, ngược lại khi nhiệt độ cao hơn thì dùng sô nhựa vì sô nhựa

thoát nhiệt nhanh hơn tạo môi trường thoáng hơn

+ Sau đó đưa cơm rượu vào nỗi chưng cất (nỗi chưng cất làm bằng Tôn

hoặc Nhôm)

: Đặt nỗi chưng cất lên bếp đun đến nhiệt độ sôi, hơi rượu sẽ truyền qua

ống dẫn rượu được ghép nối với bầu nối (bầu nối được thiết kế xuyên qua hỗ giải nhiệt) được giải nhiệt ngưng tụ thành rượu cho hướng chảy vào các thiết

bị đựng rượu Khoảng 10 kg gạo (hoặc tam) thu được khoảng 10 lít rượu 40°

là vừa đủ

, Ống dẫn rượu và bầu nối có đường kính khoảng 8 cm (ống dan dai khoảng 1 m, bầu nối dài khoảng 0.6 m) Số ống dẫn rượu và bầu nói cần thiết tuỳ thuộc vào quy mô sản xuất rượu

: Chất đốt bằng than đá + ga (ga lay từ hầm Biôga của phân Heo), tuy nhiên vẫn còn một số hộ nấu rượu vẫn dùng chất đốt băng củi (chiêm tới 29%) Lò đốt bằng thùng phi hoặc được xây bằng xi măng

- Với quy trình nau rượu và trang thiết bị như hiện nay thì công suất của

một lò rượu có thể lên đến hàng trăm lít /ngày

- Những nguyên nhân dẫn tới sự vượt trội về công suất của lò nấu rượu

36

Trang 39

Chương 2 - Kết quả khảo sát, nghiên cứu làng nghề ở Bá Fia-Vũng Tâu

+ Ông dẫn rượu hiện nay có khoảng cách ngắn hơn nhưng lại rộng hơn,

khả năng thu, toá nhiệt tốt hơn

+ Tắm có độ thắm thấu nhanh hơn gạo (phần ứng hóa, sinh)

+ Men rượu hiện nay có xuất xứ từ nhiều nơi được sản xuất tại các cơ sở công nghiệp có nhiều thành phần hóa học khác có tác dụng làm chất xúc tác thúc đây quá trình phản ứng lên men rượu nhanh hơn nhiều so với men rượu được làm thủ công tại Hòa Long ngày trước

- Hạn chế có thê xảy ra:

Chất lượng rượu hiện tại có thể không bằng chất lượng rượu ngày trước

do một sô nguyên nhân sau:

+ Tấm là nguyên liệu thứ cấp có chất lượng kém hơn gạo, khi đưa vào

nâu rượu có thể tạo rượu chất lượng kém

+ Men rượu hiện tại được sản xuất trên các dây truyền công nghiệp có chứa nhiều thành phần chất hóa học khác có thể không tốt cho sức khỏe người tiêu dùng

2.2.2.2 Quy trình sản xuất Bún Long Kiên:

- Quy trình sản xuất bún bằng máy:

Qui trình sản xuất bún bằng máy như sau: gạo sau khi vo, ngâm khoảng

⁄2 ngày sau đó đem xay Sau khi xay, bột được ngâm với nước muối khoảng 2-3 ngày Thời gian ngâm cảng lâu thì càng có lợi (ít nhất là 2 ngày), vì khi ngâm lâu sẽ tạo độ dai và bột sẽ nở hơn Trong thời gian ngâm này phải thường xuyên chat (loc) hét nước chua và thay nước mới vào ngâm (khoảng 4— 5 giờ chat một lần) Sau khi ngâm rồi lọc liên tục trong 2 — 3 ngày người

ta đem gói bột vào bao vải và dùng đá ép cho sạch nước chua Khi nước chua trong bao vải đã kiệt người ta cho bột vào máy quậy, Ì céi quậy 70 — 80 kg

bột với 4 — 5 lít nước và máy sẽ cho ra sợi bún

Sau khi máy cho ra sợi bún, bún được băng chuyền đưa đến vòi nước dé

Trang 40

Chương 2 - Kết quả khảo sát, nghiên củu làng nghệ ở Bà Rịa-Vũng Tâu

làm nguội, người ta sẽ rửa cho sạch bún sau đó để bún cho ráo nước rồi gói

bằng lá chuối cho vào bao nilông (cũng có thể không cần gói bằng lá chuối)

Quá trình sản xuất bún còn thu được sản phẩm phụ là nước gạo, bã gạo và bún rụng Lượng sản phẩm phụ này được dùng để nuôi heo Đôi khi sản phẩm phụ cũng có thể là bún thừa do bán không hết trong ngày cũng được để nuôi heo Kết thúc quá trình này là các chất thải từ việc sản xuất bún và chất thải từ quá trình nuôi heo

- Quy trình sản xuất bún bằng tay:

Cho vao bao «—Dé rao nước 4_ Làm nguội và rửa «—Bun«— Rong « Quay

Quy trình sản xuất bún bằng tay cũng tương tự như quy trình sản xuất bún bằng máy nhưng có một số bước máy làm thì buộc phải sử dụng bằng lao động thủ công, một điều tất yếu là năng suất lao động sẽ thấp hơn so với làm máy

Đối với quá trình sản xuất bằng máy, sau khi ép người ta quậy bột sau

đó cho bột vào máy Nhưng đối với quá trình sản xuất bằng tay, sau khi ép bột người ta gói trái bột bằng bao vải sau đó đem luộc Sau đó người ta quậy bột rồi múc cho vào ống khuôn hình trụ đường kính khoảng 150 mm, đáy cô

38

Ngày đăng: 14/05/2014, 08:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w