1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài : Hôn nhân có yếu tố nước ngoài ở khu vực nam bộ hiện nay

305 2,2K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài: Hôn nhân có yếu tố nước ngoài ở khu vực Nam Bộ hiện nay
Tác giả TS. Phan Công Khanh, ThS. Lưu Hoàng Chương
Người hướng dẫn TS. Phan Công Khanh
Trường học Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quan hệ xã hội và văn hóa
Thể loại Báo cáo tổng hợp nghiên cứu
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 305
Dung lượng 1,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ – HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

=====================

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP BỘ

HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Ở KHU VỰC NAM BỘ HIỆN NAY

CƠ QUAN CHỦ TRÌ: HỌC VIỆN CT – HC KV II CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TS PHAN CÔNG KHANH THƯ KÍ ĐỀ TÀI: THS LƯU HOÀNG CHƯƠNG

7026

11/11/2008

Tp Hồ Chí Minh - tháng 8-2008

Trang 2

MỤC LỤC

Mở đầu 2

Chương 1 Khái quát bức tranh hôn nhân có yếu tố nước ngoài ở Nam bộ 11

1.1 Những diễn biến trên mặt báo 14

1.2 Những con số cụ thể 22

1.3 Nhận diện chú rễ và cô dâu 29

Chương 2 Nguyên nhân và hệ quả xã hội của hôn nhân có yếu tố nước ngoài ở Nam bộ 42

2.1 Nguyên nhân 42

2.2 Những hệ quả xã hội 71

Chương 3 Khả năng hoà nhập của cô dâu Việt ở xứ người 97

3.1 Nguyên nhân không tìm được hạnh phúc 98

3.2 Về trường hợp tìm được hạnh phúc 107

3.3 Dư luận xã hội 111

3.4 Sự quan tâm của giới nghệ thuật 114

3.5 Hoạt động của cơ quan chức năng và các tổ chức xã hội 117

Chương 4 Những vấn đề đặt ra, xu hướng vận động của hôn nhân có yếu tố nước ngoài ở Nam bộ và các giải pháp 128

4.1 Về hoạt động môi giới hôn nhân trái pháp luật 128

4.2 Những vấn đề đặt ra về pháp luật 133

4.3 Xu hướng vận động của hôn nhân có yếu tố nước ngoài ở Nam bộ 142

4.4 Giải pháp cho hôn nhân có yếu tố nước ngoài ở Nam bộ 146

Kết luận 153

Tài liệu tham khảo 157

Phụ lục 159

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hôn nhân giữa phụ nữ Việt Nam với nam công dân Đài Loan bắt đầu từ năm 1989 ở Nam bộ, bùng phát thành phong trào năm 1994 với hàng chục ngàn vụ kết hôn trong một năm Văn phòng Kinh tế và văn hoá Đài Bắc tại thành phố Hồ Chí Minh (TECO HCMC) bị chính người Đài Loan

gọi đùa là “Văn phòng môi giới hôn nhân” Từ năm 2004, phong trào dịch

chuyển sang nam công dân Hàn Quốc Hiện số cô dâu Việt ở Đài Loan đã vượt quá 100.000 ngàn, ở Hàn Quốc là trên 27.000 Cô dâu Việt dẫn đầu số cô dâu ngoại quốc ở Đài Loan, đứng hàng thứ hai ở Hàn Quốc (sau cô dâu Trung Quốc) Hầu hết các vụ kết hôn đều thông qua môi giới trái phép và đã xảy ra những thảm kịch đau lòng, những hệ quả xã hội phức tạp Từ những vùng quê nghèo khó của Nam bộ, các cô gái hiền lành, chân chất ôm giấc mộng đổi đời, chấp nhận lấy chồng nước ngoài nhưng rất nhiều trường hợp bị ngược đãi, hành hạ, buộc phải làm nô lệ tình dục, làm công cụ đẻ thuê v.v Có trường hợp bị sát hại hoặc tự sát Cô dâu Việt Nam bị xem như món hàng, bị đem trưng bày trên đường phố Hình ảnh của dân tộc bị bôi nhọ nghiêm trọng Hôn nhân đổ vỡ, số phận của nhiều cô dâu trở nên bất định, những đứa con lai gặp nhiều khó khăn, bất hạnh Nhiều giá trị thuần phong mĩ tục của hôn nhân đã bị đảo lộn

Hôn nhân có yếu tố nước ngoài có lúc trở thành vấn đề “nóng” thường xuyên trên mặt báo Ngày 21-4-2006, nhật báo Chosun Ilbo (có số lượng

phát hành lớn nhất Hàn Quốc) khởi đăng loạt kí sự 2 kì “Các cô gái Việt

Nam tới Hàn Quốc – vùng đất hi vọng” của phóng viên Chae Sung Woo

Cùng ngày, Chosun còn tung lên trang điện tử 26 tấm ảnh về sinh hoạt của các cô gái Việt Nam trong thời gian chờ kết hôn mà không hề có kĩ thuật xoá mặt người Bài báo làm dấy lên sự phẫn nộ trong công luận Việt Nam và Hàn Quốc Bà Hà Thị Khiết, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam,

Trang 4

đã bỏ cuộc họp Chính phủ để chủ trì cuộc họp tại văn phòng Hội nhằm có những phản ứng kịp thời với các cơ quan chức năng phía Hàn Quốc Ngày 22-4, một số tổ chức phi chính phủ đã tổ chức họp báo ngay trước toà soạn Chosun (trung tâm Seoul) để phản đối và yêu cầu tờ báo xin lỗi Ngày 26-

4, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã có cuộc họp khẩn với đại diện Đại sứ quán Hàn Quốc…

Chính phủ Việt Nam và các nước liên quan đã có nhiều động thái tích cực nhằm kiểm soát tình hình, giải quyết những hệ quả Tuy nhiên, “phong trào” dường như ít chịu sự tác động mà còn có xu hướng lan rộng ra các tỉnh phía Bắc như Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hoà Bình

Hôn nhân có yếu tố nước ngoài đã nảy sinh nhiều hệ quả xã hội Một mặt, nó có thể tăng cường sự liên kết và hiểu biết giữa Việt Nam và các nước khác, nhưng mặt khác, cũng có thể tạo ra những xung đột Trên tất cả là sự xâm hại nghiêm trọng đến quyền con người, xúc phạm đến danh dự và nhân phẩm của phụ nữ Việt Nam Trong lịch sử, phụ nữ Việt Nam có biết bao nhiêu truyền thống tốt đẹp Vậy mà qua những cuộc hôn nhân người Đài Loan và Hàn Quốc, họ trở thành một thứ hàng hoá, bị biến thành nô lệ, bị sát hại Nhìn xa hơn, một thế hệ những đứa bé mang trong mình hai dòng máu từ những cuộc hôn nhân bất hạnh đã đổ vỡ hoặc chưa đổ vỡ ấy sẽ thế nào?

Với tất cả tình cảm yêu mến dân tộc, yêu mến hình ảnh, phẩm chất, vẻ đẹp của phụ nữ Việt Nam và cảm thấy tinh thần dân tộc bị xúc phạm nghiêm trọng, là giảng viên Lí luận văn hoá của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, chúng tôi thực hiện đề tài:

“Hôn nhân có yếu tố nước ngoài ở khu vực Nam bộ hiện nay”

Trang 5

- Đề xuất những giải pháp xây dựng hôn nhân có yếu tố nước ngoài lành mạnh, tiến bộ, hạnh phúc

- Tiếp cận một khía cạnh của giao lưu văn hoá trong điều kiện hội nhập, bổ sung tri thức cho nội dung bài giảng về giao lưu văn hoá, toàn cầu hoá và việc giữ gìn bản sắc dân tộc

2 Tình hình nghiên cứu

Hôn nhân xuyên biên giới nói chung đã được các nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu khá nhiều Khi số vụ kết hôn với người Đài Loan tăng lên bất thường, báo chí trong và ngoài nước đã quan tâm thông tin và đưa ra lời cảnh báo Trước khi giới nghiên cứu Việt Nam vào cuộc thì các học giả nước ngoài đã lên tiếng Ngay từ năm 2000, tờ United Daily News đã đăng

tải bài viết: “Vietnamese brides “Productive”, Scholar says” (Hiện tượng

“sản xuất” các cô dâu Việt Nam, ý kiến các nhà nghiên cứu) Năm 2001,

Wang Hong-zen (Đài Loan) thực hiện công trình: “Asian cross-border

marriages and its future influence on hosting societies: the case of Vietnamese brides in Taiwan” (Hôn nhân xuyên biên giới ở Châu Á và ảnh

hưởng của nó đến định hướng xã hội: trường hợp các cô dâu Việt Nam) Các học viên cao học cũng lấy đây làm đề tài nghiên cứu: năm 2001, Thái

Nhã Ngọc bảo vệ luận văn “Sơ bộ nghiên cứu hiện tượng hôn nhân xuyên

quốc gia Đài - Việt” tại Đại học Quốc lập Thành Công (Đài Loan) Tiếp đó,

năm 2002, Trương Thư Minh đi thêm một bước sâu hơn khi nhìn nhận hôn

nhân Đài – Việt như một thị trường trong luận văn cao học “Phân tích thị

trường hôn nhân xuyên quốc gia Đài – Việt: sự vận hành môi giới đối với cô dâu Việt Nam” được bảo vệ tại Đại học Đạm Giang (Đài Loan) Nhìn

chung, các công trình đề cập đến mặt tiêu cực, nhất là tiêu cực từ môi giới hôn nhân, những thiệt thòi mà các cô gái Việt Nam phải chịu đựng

Mặt khác, người Đài Loan cũng quan tâm đến sự hội nhập văn hoá của

các cô dâu Việt Một trong những công trình đáng chú ý là báo cáo “Nghiên

cứu về sự thích ứng với xã hội của các cô dâu nước ngoài – lấy cô dâu Việt

Trang 6

Nam làm dẫn chứng” của bà Lí Bình, Tổng thư kí Hiệp hội Thanh niên nữ

Cơ đốc giáo Đài Loan

Ngày 20-9-2002, một hội thảo về hôn nhân có yếu tố nước ngoài đầu tiên ở Việt Nam được tổ chức tại Cần Thơ với sự tham gia của hội liên hiệp

phụ nữ một số tỉnh, thành phía Nam Với chủ đề “Phụ nữ Việt Nam với hôn

với người nước ngoài”, các tham luận chủ yếu báo cáo thực trạng kết hôn

với người nước ngoài và đưa ra những lời cảnh báo

Tháng 12-2002, tại Hội thảo khoa học quốc tế “Hoạt động kinh tế - văn

hoá Việt Nam – Đài Loan” (tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh), một số

nhà nghiên cứu trong và ngoài nước lại đặt vấn đề về hôn nhân Việt – Đài

Wang Hong-zen trình bày tham luận: “Hàng hoá hôn nhân quốc tế: kinh

doanh hôn nhân xuyên biên giới ở Đài Loan và Việt Nam” Như tên gọi, bài

viết nêu lên một hiện trạng: hôn nhân xuyên biên giới Đài – Việt đã nảy sinh loại hình kinh doanh hôn nhân Wen Hui Annatang và Soong Jenn Jaw

thì gắn vấn đề với toàn cầu hoá trong tham luận “Bước đầu tìm hiểu hiện

tượng cô dâu Việt Nam trong xu hướng toàn cầu hoá” Nghiên cứu thực tế

giải quyết li hôn, Trịnh Thị Hồng Loan phân tích “Một số vướng mắc trong

việc giải quyết li hôn giữa công dân Việt Nam và Đài Loan (trường hợp ở Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long)”

Từ thời điểm này trở đi, vấn đề thực sự trở thành đối tượng hấp dẫn nhiều nhà khoa học mà phạm vi, cường độ, định hướng v.v được dẫn dắt bởi những diễn biến, thảm cảnh do báo chí tường trình Hôn nhân có yếu tố nước ngoài không còn dừng lại ở những công trình riêng lẻ của cá nhân mà được nghiên cứu ở qui mô ngày càng mở rộng

Năm 2003, Trung tâm Nghiên cứu và Hỗ trợ di động (Mobility Research and Support Centre – MRSC, Hà Nội) xuất bản công trình

“Marriages of convenience: context, processes and result of cross-boder marriages between Vietnamese young women and Taiwanese men” (Hôn

nhân vụ lợi: nội dung, diễn biến và kết quả của hôn nhân xuyên biên giới

Trang 7

giữa phụ nữ trẻ Việt Nam và đàn ông Đài Loan) do Đỗ Thị Như Tâm chủ biên Vấn đề lại được xem xét từ những khía cạnh tiêu cực của nó

Cũng trong năm này, Viện Nghiên cứu khoa học pháp lí thuộc Bộ Tư

pháp nghiệm thu đề tài khoa học cấp cơ sở “Hôn nhân có yếu tố nước ngoài

tại Thành phố Hồ Chí Minh: Thực trạng, vấn đề đặt ra và phương hướng đổi mới” do Nguyễn Thu Giang (Phó giám đốc Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí

Minh) chủ nhiệm Tham gia thực hiện đề tài có các cán bộ, chuyên viên Sở

Tư Pháp, Sở Ngoại vụ, Toà án Nhân dân, Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh Vấn đề mà đề tài đặt ra thực trạng hôn nhân có yếu tố nước ngoài, những vướng mắc trong vận dụng các qui định của pháp luật đối với hôn nhân có yếu tố nước ngoài ở Thành phố Hồ Chí Minh Đề tài cũng đưa ra những kiến nghị sửa đổi, bổ sung các qui định liên quan đến lĩnh vực này

Tháng 2-2004, Vụ Gia đình thuộc Uỷ ban Dân số – Gia đình – Trẻ em phối hợp với khoa Xã hội học, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn

thực hiện đề tài khoa học “Thực trạng phụ nữ kết hôn với người Đài Loan

tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long” Phạm vi khảo sát là 6 tỉnh: Cần

Thơ, Đồng Tháp, Tiền Giang, Hậu Giang, An Giang, Vĩnh Long

Năm 2005, nhóm tác giả Phan An, Phan Quang Thịnh, Nguyễn Quới

công bố công trình “Hiện tượng phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan”, phân

tích bối cảnh kinh tế - xã hội của hôn nhân Đài – Việt, nhân thân của cô dâu Việt và chú rể Đài Loan, số phận của các cô dâu Việt ở xứ người, hệ quả của các hoạt động môi giới v.v Được thực hiện gần 2 năm với những điều tra xã hội học công phu kết hợp phỏng vấn sâu những người trong cuộc, đây là công trình có qui mô về vấn đề này được in thành sách đầu tiên ở Việt Nam

Tháng 10-2005, Xả Đại Văn Khố (Đài Loan) xuất bản công trình “Bất

yếu khiếu ngã ngoại tịch tân nương” (Xin đừng gọi tôi là cô dâu nước ngoài)

của Hạ Hiểu Quyên Tiếp đó, tháng 11-2005, Học viện Kĩ thuật Mĩ Hoà

Trang 8

(Meiho Institute of Technology - Đài Loan) tổ chức hội thảo khoa học quốc

tế “Issues on relating to cross – culture marriage families between Taiwan

and Vietnamese” (Những vấn đề của các gia đình có quan hệ hôn nhân

xuyên quốc gia Hàn – Việt)

Tháng 5-2006, Đại học Kí Nam (Đài Loan) tổ chức hội thảo khoa học

quốc tế “Thúc đẩy và phát triển quan hệ Việt Nam – Đài Loan” Tại đây, vấn đề hôn nhân Việt – Đài cũng được quan tâm với hai tham luận: “Quốc

gia và hôn nhân: yếu tố chính trị trong hôn nhân với người nước ngoài của Đài Loan là Việt Nam” (Củng Nghi Quân) và “Khí phách nam nhi của những người ngoại quốc: vì sao đàn ông Đài Loan muốn lấy vợ Việt Nam”

(Vương Hồng Nhân) Quan tâm chủ yếu của các tác giả là xung đột văn hoá, sự hội nhập của cô dâu Việt Nam Nhìn chung, giới nghiên cứu ở Đài Loan đặc biệt chú ý đến hiện tượng hôn nhân Đài – Việt Họ thường dùng

thuật ngữ “cross-culture marriage” hoặc “cross-boder marriage” để chỉ

hiện tượng hôn nhân xuyên quốc gia vốn đã xảy ra ở Đài Loan từ nhiều thập kỉ trước và làm nảy sinh nhiều hệ quả xã hội

Trong hai ngày 9 và 10-6-2006, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ

Việt Nam tổ chức Hội nghị “Vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước

ngoài” với sự tham dự của đại biểu từ 36 tỉnh, thành Theo số liệu báo cáo,

từ năm 2003 đến quí 1-2005, đã có trên 31.800 phụ nữ Việt Nam kết hôn với người Trung Quốc, Đài Loan (chiếm 77 %), Hàn Quốc… Đa số đều thông qua môi giới trái phép Phát biểu tại Hội nghị, bà Hà Thị Khiết, Chủ

tịch Hội, nhấn mạnh: “Hội Phụ nữ không cấm đoán, không định kiến với vấn

đề kết hôn với người nước ngoài nhưng có trách nhiệm hướng dẫn, giáo dục luật pháp, chính sách hôn nhân gia đình… Cán bộ hội, hội viên, phải tuyên truyền để chị em có những chọn lựa đúng, không bị ép buộc, lừa dối”1

Tháng 8-2006, Trung tâm Nghiên cứu - Tư vấn – Phát triển xã hội thuộc Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia Thành phố

1 www.vnnet.com , ngày 11-6-2006

Trang 9

Hồ Chí Minh) tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế “Hôn nhân xuyên quốc gia

trong bối cảnh toàn cầu hoá” Từ những vấn đề lí luận và phương pháp luận

trong nghiên cứu hôn nhân xuyên quốc gia, hội thảo đã phân tích vấn đề dưới nhiều góc nhìn (báo chí và dư luận, hôn nhân và di dân, hôn nhân và giáo dục v.v.), chỉ ra những hệ quả thực tế và kiến nghị giải pháp, chương trình hành động

Gần đây nhất, ngày 6-8-2008, Viện Phát triển bền vững vùng Nam bộ

tổ chức toạ đàm quốc tế “Cross – border marriage in East and Southeast

Asia – Reality, intergration and development” (Hôn nhân xuyên biên giới

vùng Đông và Đông Nam Á: Thực trạng, hội nhập và phát triển) Toạ đàm có sự tham dự của đại diện TECO HCMC, Trung tâm Văn hoá phụ nữ Việt Nam tại Hàn Quốc, Mặt trận Tổ quốc khu Ung Ninh (Nam Ninh), các đại biểu của Campuchia, Lào Toạ đàm chủ yếu phân tích những diễn biến mới trong hôn nhân xuyên quốc gia ở khu vực Kết quả của toạ đàm là Bản ghi

nhớ và kế hoạch hành động của mạng Hôn nhân xuyên biên giới vùng Đông

và Đông Nam Châu Á

Những nghiên cứu nêu trên chủ yếu hướng vào quan hệ hôn nhân Việt – Đài Hôn nhân Việt – Hàn ra đời sau và ít nhận được sự quan tâm hơn Có thể những tương đồng về nguyên nhân, đặc điểm, hệ quả xã hội v.v của nó so với hôn nhân Việt – Đài đã khiến các nhà nghiên cứu không còn hứng thú Mặt khác, các nhà khoa học khó tiếp cận nguồn số liệu từ Lãnh sự quán Hàn Quốc tại Thành phố Hồ Chí Minh Cũng có thể có lí do từ nguồn tài trợ nghiên cứu Tuy nhiên, có những thời điểm, báo chí đưa khá nhiều thông tin về thảm kịch của các cô dâu Việt tại Hàn Quốc với kết luận thống nhất: số phận cô dâu ở Hàn Quốc cũng không khác gì số phận cô dâu

ở Đài Loan

Năm 2006, tại hội thảo quốc tế “Hôn nhân xuyên quốc gia trong bối

cảnh toàn cầu hoá“ (đã dẫn), có hai tham luận đáng chú ý về quan hệ hôn

nhân Việt – Hàn: một, “Trình tự hôn nhân Hàn - Việt thông qua các tổ chức

Trang 10

môi giới hôn nhân” của Lưu Thị Tố Lan; và hai, “Hiện tượng lấy chồng Hàn Quốc ở phụ nữ Việt Nam: Thực trạng và một vài suy nghĩ” của Trần Văn

Phương Từ những khía cạnh tiêu cực giống như hôn nhân Việt – Đài, các tác giả đã đề ra một số kiến nghị Ngoài ra, theo PGS Phan An, một số công trình nghiên cứu về hôn nhân Việt – Hàn đang được thực hiện bởi PGS Nguyễn Văn Tiệp (trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, GS.TS Park, Hae Kwang (Trường Đại học Quốc gia Chonnam – Hàn Quốc ) và TS Choi Horim (Viện Korean - KISEAS) Rất nhiều tác giả tâm huyết với số phận của các cô gái Nam bộ và thường xuyên có các công trình nghiên cứu có giá trị như Nguyễn Thị Hồng Xuyến (Đại học Khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh), Trần Hồng Vân (Viện Phát triển bền vững vùng Nam bộ), Trịnh Thị Bích (Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh) v.v

Như vậy, từ năm 2000 đến nay, có rất nhiều hội thảo, hội nghị, đề tài khoa học, công trình được thực hiện trong và ngoài nước về hôn nhân có yếu tố nước ngoài ở Nam bộ Tất cả đã cùng nhận diện đặc điểm, nguyên nhân, những hệ quả xã hội của hiện trạng này và có những đề xuất quan trọng Tuy nhiên, do thời điểm nghiên cứu, phần lớn chỉ tập trung vào quan hệ hôn nhân Việt – Đài Ít có công trình chú trọng đến trường hợp Hàn Quốc cũng như kết hợp cả hai đối tượng này Những nguyên nhân cũng như hệ quả xã hội của hiện trạng chưa được xem xét một cách toàn diện

Kế thừa kết quả nghiên cứu của những người đi trước, thực hiện đề tài này, chúng tôi hi vọng đưa ra một cái nhìn khái quát về thực trạng hôn nhân có yếu tố nước ngoài ở Nam bộ, nguyên nhân, những hệ quả xã hội và đề xuất các giải pháp

3 Phạm vi nghiên cứu

Hôn nhân có yếu tố nước ngoài bao gồm quan hệ hôn nhân của công dân Việt Nam – cả nam lẫn nữ – với người nước ngoài đến từ nhiều quốc gia Tuy nhiên những bất thường của hiện tượng này chỉ diễn ra chủ yếu

Trang 11

trong quan hệ hôn nhân giữa phụ nữ Việt Nam với nam công dân Trung

Hoa (Đài Loan) và Hàn Quốc Vì vậy, về đối tượng nghiên cứu, chúng tôi

xin giới hạn ở trường hợp Đài Loan và Hàn Quốc

Quan hệ hôn nhân Việt – Đài và Việt – Hàn Quốc chủ yếu diễn ra ở Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam bộ Do đó, về không gian nghiên cứu, chúng tôi xin được giới hạn ở những địa phương này

4 Phương pháp nghiên cứu

Hôn nhân có yếu tố nước là một hiện tượng xã hội, nguyên nhân và hệ quả của nó liên quan đến nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, v.v Vì vậy, ngoài việc lựa chọn phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đề tài áp dụng các phương pháp: phân tích – tổng hợp; khảo sát thực tế, điều tra xã hội học; so sánh – đối chiếu, phỏng vấn trực tiếp, các phương pháp nghiên cứu liên ngành

5 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của đề tài được cấu

trúc thành 4 chương

Chương 1: Khái quát bức tranh hôn nhân có yếu tố nước ngoài ở Nam bộ Chương 2: Nguyên nhân và hệ quả xã hội của hôn nhân có yếu tố nước

ngoài ở Nam bộ Chương 3: Những khoảng cách còn lại hay là khả năng hoà nhập của

cô dâu Việt ở xứ người Chương 4: Những vấn đề đặt ra, xu hướng vận động của hôn nhân có

yếu tố nước ngoài ở Nam bộ và giải pháp

Trang 12

Chương 1 KHÁI QUÁT BỨC TRANH HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI Ở NAM BỘ

Để chỉ quan hệ hôn nhân giữa hai người không cùng một quốc gia (được hiểu là không cùng quốc tịch), các nhà khoa học thường dùng thuật

ngữ hôn nhân xuyên quốc gia hay hôn nhân xuyên biên giới Trong tiếng Anh, có nhiều cách để diễn đạt quan hệ này: transnational marriage,

foreign marriage, cross-culture marrriage (hay cross-cultural marriage), cross-border mariage, international marrige v.v Trong tiếng Hoa, báo chí

Đài Loan thường dùng thuật ngữ “xuyên quốc gia hôn nhân” hay “dị tộc hôn

nhân” Do những cuộc hôn nhân này thường phải thông môi giới, báo chí

còn gọi đây là matchmake marriage (hôn nhân môi giới) Trong tiếng Việt, thỉnh thoảng có cách nói “hôn nhân dị chủng”, “hôn nhân dị tộc” Gắn vấn đề với hiện tượng di cư, các nhà khoa học (Đài Loan) gọi đây là mariage

migration (di trú hôn nhân)

Ở nước ta, “hôn nhân có yếu tố nước ngoài” là một thuật ngữ pháp lí Có một khía cạnh mà pháp luật phải làm rõ: yếu tố nước ngoài là thế nào, bởi lẽ cái dân tộc và cái quốc gia, huyết thống và quốc tịch trong những

trường hợp cụ thể lại không trùng khít

Điều 862 Bộ luật Dân sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định: “Trong Bộ luật này, quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được

hiểu là quan hệ dân sự có người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia hoặc căn cứ để xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ đó phát sinh ở nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”

Điều 8 điểm 14 Luật Hôn nhân và Gia đình (năm 2000) qui định:

“Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình:

a/ Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài;

b/ Giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam;

Trang 13

c/ Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt các quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến các quan hệ đó ở nước ngoài”

Điều 9 Nghị định 68/2002/NĐ–CP ngày 10-7-2002 qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và Gia đình về quan hệ hôn nhân có

yếu tố nước ngoài xác định:1 Người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm công dân nước ngoài và người không có quốc tịch;

2 Người nước ngoài thường trú tại Việt Nam là công dân nước ngoài và người không quốc tịch cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam; 3 Công dân nước ngoài là người có quốc tịch nước ngoài, quốc tịch nước ngoài là quốc tịch của một nước không phải nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; 4 Người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài

Theo những qui định trên, quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài bao

gồm khá nhiều đối tượng, trong đó có cả hôn nhân giữa những người nước ngoài đang thường trú ở Việt Nam Trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi

giới hạn quan hệ “hôn nhân có yếu tố nước ngoài” vào quan hệ hôn nhân giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài Bên cạnh đó, trong thực tế

khảo sát của đề tài, có trường hợp phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, đã xin thôi quốc tịch Việt Nam nhưng chưa được nhập quốc tịch nước ngoài Cũng theo những qui định đã dẫn, họ là người không quốc tịch Tuy nhiên những hệ quả liên quan đến hôn nhân của họ thì Nhà nước cũng như các tổ chức xã hội Việt Nam đã và đang phải tham gia giải quyết (quan hệ giữa họ với thân nhân trong nước, con cái của họ được gởi về nước v.v.) Vì vậy, chúng tôi cũng xem đây là đối tượng khảo sát của đề tài Điều này

cũng phù hợp với Luật Quốc tịch Việt Nam Theo đó, họ là người Việt Nam

định cư ở nước ngoài Điều 2, khoản 3 của luật này qui định: người Việt

Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam đang thường trú hoặc tạm trú ở nước ngoài Và Điều 3 khoản 4 cũng ghi:

Trang 14

người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài

Hôn nhân có yếu tố nước ngoài được đánh động trước hết bởi báo chí, trong lẫn ngoài nước Vấn đề đã có lịch sử gần 20 năm Quan hệ hôn nhân giữa phụ nữ Việt Nam với người Đài Loan phát sinh từ năm 1989 Tuy nhiên, từ 1989-1993, số lượng kết hôn không nhiều, chủ yếu là một số người Việt gốc Hoa sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh Hôn nhân Việt - Đài thực sự tăng nhanh và trở thành mối quan tâm của toàn xã hội từ sau

khi Chính phủ ban hành Nghị định 184/NĐ-CP ngày 30-11-1994 quy định

về thủ tục đăng ký kết hôn, nhận con ngoài giá thú, nuôi con nuôi, nhận đỡ đầu giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài Nghị định này tạo cơ sở pháp lí cho nhu cầu kết hôn với người Đài Loan đang gia tăng theo sự gia tăng các quan hệ giao lưu kinh tế, văn hoá giữa Việt Nam và Đài Loan Khi phong trào kết hôn với người Đài Loan bùng phát ở các tỉnh miền tây Nam bộ, sự quan tâm của xã hội đối với hiện trạng này chủ yếu vì những hệ quả đau lòng của nó Khoảng năm 2004 trở đi, do nhiều lí do mà chủ yếu là để giảm thiểu rủi ro, những người đang ông Đài Loan được thay thế dần bằng những người đàn ông Hàn Quốc Trước khi trình bày những con số cụ thể, chúng tôi muốn phân tích diễn biến của hiện trạng này từ sự quan tâm của công luận

1.1 Diễn biến trên mặt báo

Vấn đề phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan được đề cập lần đầu tiên trên báo chí nước ngoài Ngày 22-9-1996, tờ The China Post (tiếng Anh) phát hành tại Đài Bắc, đăng tải số liệu được công bố từ Cục Kiểm kê dân sự Đoài Loan cho biết: từ tháng 7-1995 đến tháng 6-1996, có 5.545 người Đài Loan kết hôn với người nước ngoài, trong số này có 4.273 nam và 1.272 nữ Bản tin ghi thêm: đa số cô dâu nước ngoài đến từ Việt Nam, Inđônêsia và Thái Lan Dự báo của bản tin là các cuộc hôn nhân với người nước ngoài sẽ tăng lên trong tương lai; chỉ riêng trong tháng 7-1996, số gia

Trang 15

tăng là 30% so với cùng thời điểm năm trước đó Sau tờ The China Post, nhiều tờ báo khác ở Đài loan như China Times Express, Taipei-based, Everning Paper v.v cũng vào cuộc

Trước đó vài tháng, báo cáo của Văn phòng Kinh tế – Văn hoá Đài Bắc tại Thành phố Hồ Chí Minh (TECO HCMC) đã ghi nhận: trong 7 tháng đầu năm 1996, có 1.600 người Đài Loan đến Việt Nam lấy vợ và 2.300 trường hợp đang chờ phỏng vấn

Tại Việt Nam, báo Thanh niên số ra ngày 19-10-1996 dẫn nguồn tài liệu của TECO HCMC đưa những thông tin mang tính so sánh nhằm đánh động dư luận: khoảng hơn 3 tháng, từ 17-6-1996 đến 4-10-1996, có 1.439 hồ sơ đăng kí kết hôn giữa nam công dân Đài Loan và nữ công dân Việt Nam chờ phỏng vấn; nếu cả năm 1995, số cặp kết hôn là 1.500 thì chỉ riêng

6 tháng đầu năm 1996, con số này đã lên đến 2.301, trong đó có 196 chú rể thiểu năng trí não hoặc có dị tật khác; khoảng 90% cô dâu có hộ khẩu thường trú tại Thành phố Hồ Chí Minh

Từ năm 1998, khi hôn nhân Việt – Đài thực sự trở thành phong trào thì báo chí đưa tin khá đều đặn Nhìn chung, các báo như Thanh niên, Tuổi trẻ, Phụ nữ, Sài Gòn giải phóng, Tiền Phong, Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Vietnamnet.vn, Vnexpress.com v.v thông tin một cách dè dặt sự gia tăng bất thường của các cuộc hôn nhân Đài – Việt như một hiện tượng xã hội đáng quan tâm Đến năm 2000, hôn nhân có yếu tố nước ngoài thường xuyên trở thành điểm “nóng” trên báo chí, chủ yếu là những diễn biến liên quan đến sự gia tăng của các cô dâu, hoạt động của các tổ chức môi giới hôn nhân trái phép bị các cơ quan chức năng xử lí, quảng cáo của các công

ti môi giới hôn nhân ở nước ngoài, nạn buôn bán phụ nữ ra nước ngoài và nhất là số phận bi thảm của nhiều cô dâu cô dâu Việt Cũng thời gian này, đài BBC, đài Châu Á tự do (Radio Free Asian - RFA), tờ Việt Catholic News và nhiều tờ báo phản động ở nước ngoài tích cực đưa tin, một số

Trang 16

khoét sâu vào thảm trạng của các cô dâu, thực chất là để hướng sự công kích vào Chính phủ Việt Nam

Năm 2000, những cái chết đầu tiên của cô dâu Việt trên đất Đài Loan bắt đầu xảy ra và được báo chí nước ngoài loan tin Ban đầu, các tờ báo dấu hoặc đổi tên nạn nhân Cuối năm 2000, một phụ nữ Việt, do không chịu đựng nổi sự bạo hành của chồng, đã tự thiêu sống cùng đứa con trai 4 tuổi Tiếp đó, ngày 19-6-2001, một cô dâu dùng dao giết chết con trai 7 tháng tuổi rồi cắt mạch máu tự tử nhưng được cứu sống Trên báo chí nước ngoài

bắt đầu xuất hiện những cụm từ như “mua bán nô lệ”, “nàng Kiều thời đại”

(Vietcatholic News) Báo chí trong nước đưa ra cảnh báo mạnh mẽ hơn nhưng phong trào lấy chồng Đài Loan vẫn không giảm Các tổ chức môi giới hôn nhân trái phép hoạt động ráo riết và tinh vi hơn

Năm 2004, hôn nhân có yếu tố nước ngoài ở Nam bộ có sự chuyển biến quan trọng: những chú rể đến từ xứ sở kim chi gia tăng Từ cuối năm

2004, báo chí trong nước đã cảnh báo hiện tượng kết hôn với người Hàn Quốc Những “bi kịch” lấy chồng Hàn Quốc được thông tin trên mặt báo cũng không khác gì “kịch bản” của bi kịch lấy chồng Đài Loan Đỉnh điểm của sự việc là ngày 21-4-2006, nhật báo Chosun Ilbo, một tờ báo có số

lượng phát hành lớn ở Hàn Quốc đăng phóng sự “Các trinh nữ Việt Nam đến

Hàn Quốc – đất nước của hi vọng” của Chae Sung Woo Để có bài phóng

sự này, tác giả đã đến thăm văn phòng Công ti môi giới hôn nhân Cyclo tại Thành phố Hồ Chí Minh Bài báo miêu tả một sự thật đau lòng đối với bất cứ ai là người Việt Nam: thực chất của các cuộc hôn nhân Hàn – Việt chỉ là việc mua bán; các cô gái Việt Nam từ những vùng quê nghèo khổ coi hôn nhân như mơ ước đổi đời còn những ông chồng Hàn Quốc thì xem họ như món hàng Gương mặt của các cô gái Việt Nam được bày ra trong bức ảnh

minh hoạ, bên dưới là chú thích “Các chàng hoàng tử Hàn Quốc hãy đưa em

đi” Chọn những chi tiết nhạy cảm, nữ kí giả Hàn Quốc Ku Su Jeong đã

lược dịch bài báo và công bố trên một tờ báo Việt Nam Ngay lập tức, bài

Trang 17

báo đã làm dấy lên làn sóng bất bình trong dư luận Những nhà quản lí, hoạt động xã hội cũng lên tiếng Nỗi sỉ nhục và sự căm phẫn là nội dung chủ yếu của dư luận Tối 27-4-2006, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã gởi thư tới Bộ Gia đình và Bình đẳng giới Hàn Quốc và một số tổ

chức của nước này để phản đối bài báo Bức thư có đoạn: “Bài báo đã xúc

phạm đến danh dự, nhân phân và nhân quyền của phụ nữ Việt Nam, trực tiếp là số phụ nữ Việt Nam lấy chồng người Hàn Quốc Chúng tôi rất lấy làm tiếc sự việc này đã gây nên sự phản ứng gay gắt ở đất nước chúng tôi”2 Bức thư được đăng tải trên nhiều tờ báo trong nước và nhận được rất nhiều đồng tình

Cùng ngày, Cố Thủ tướng Võ văn Kiệt cũng gởi một lá thư ngắn đến bà Hà Thị Khiết, chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (bấy giờ) bày tỏ

nỗi đau xót trước sự việc Ông viết: “Đây không phải là lần đầu, mà đã

nhiều lần thông tin về các cô dâu Việt ở Đài Loan, Singafore, Hàn Quốc… với hoàn cảnh tương tự cũng đã được đăng tải Không đơn giản chỉ là nỗi đau về trách nhiệm mà đây còn là nỗi nhục hình ảnh phụ nữ Việt Nam dưới con mắt của người nước ngoài”3

Buổi chiều cùng ngày, bà Hà Thị Khiết đã kí công văn yêu cầu Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh nhanh chóng phối hợp với các cơ quan chức năng, báo chí tìm hiểu hoạt động của các công ti môi giới, đề xuất với cơ quan chức năng xử lí theo pháp luật đồng thời tuyên truyền lên án hoạt động của các công ti này cũng như của nhật báo Chosun, kết hợp với các cơ quan, tổ chức quốc tế can thiệp, giải quyết vụ việc

Trước phản ứng không thể ngờ của dư luận Việt Nam, ngày 26-4, Bộ Gia đình và Bình đẳng giới Hàn Quốc đã công bố những biện pháp tăng cường hỗ trợ những đứa trẻ lai và những cô dâu ngoại quốc, sau khi Tổng thống Roh Moo-hyun yêu cầu chính phủ ra kế hoạch cả gói nhằm giải

2 www.vnnet.com , ngày 28-4-2006

3 Website đã dẫn, ngày 28-4-2006

Trang 18

quyết những vấn đề mà nhóm người này gặp phải Tác giả bài báo đã có thư ngỏ để thanh minh và xin lỗi Ngày 27-4, Tuỳ viên báo chí và thông tin Đại sứ quán Hàn Quốc Ahn Tae Sung đã phải nói lời xin lỗi độc giả Việt Nam Ngày 9-5, thông qua Đại sứ quán nước ta tại Hàn Quốc, đại diện báo Chosun đã gởi thư đến Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Hà Thị Khiết để giải thích và xin lỗi

Ngay tại Hàn Quốc, dư luận cũng phản ứng dữ dội Ngày 24-4, một cuộc biểu tình do NAWAURI (Tổ chức Tôi và chúng ta) tổ chức để phản đối bài báo NAWAURI là một tổ chức phi chính phủ từng sang Việt Nam phanh phui vụ thảm sát thường dân Việt Nam do lính Hàn Quốc gây ra trong chiến tranh Tham gia biểu tình có sinh viên Việt Nam và người dân

nước sở tại Tấm biểu ngữ “Phụ nữ Việt Nam không phải là món hàng” được

trương lên trước cửûa toàn soạn báo Chosun Bà Kim Jung Woo, chánh văn phòng của NAWAURI cũng tham gia Chính bà đã đề nghị chính phủ hai nước có biện pháp thông tin cho phụ nữ Việt Nam đầy đủ hơn Theo bà, việc lập gia đình với người nước ngoài là bình thường nhưng cần giúp họ sống hạnh phúc để hình ảnh của phụ nữ Việt Nam không bị hoen ố

Tiếp theo đó, chiều ngày 25-5, khoảng 50 sinh viên, nghiên cứu sinh Việt Nam, phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc, các cá nhân người Hàn Quốc và một số tổ chức xã hội như Liên hiệp Tư vấn phụ nữ qua điện thoại, NAWAURI v.v đã diễu hành tại trung tâm Seoul đòi các công ti môi giới hôn nhân gỡ bỏ những biển quảng cáo có nội dung xúc phạm nhân phẩm phụ nữ Việt Nam

Nhiều công dân Hàn Quốc đã gởi thư điện tử đến các tờ báo Việt Nam

để xin lỗi Lương tâm họ cảm thấy “rất xấu hổ về bài báo bất lịch sự và vô

cảm” của Chosun và “Xin được lượng thứ”, “xin bỏ qua cho lỗi lầm này” 4 Báo giới Âu Mĩ cũng rất quan tâm diễn biến của tình hình Tháng 4-

2006, BBC từng đưa thông tin nghị sĩ Liao Peng-yen thuộc Đảng Liên đoàn

4 www.vietnamnet.com , ngày 3-5-2006

Trang 19

Đoàn kết Đài Loan (TSU) yêu cầu giới hữu trách về di trú của Đài Loan

kiểm tra sức khoẻ các cô dâu đến từ Việt Nam vì họ có nguy cơ nhiễm “di

chứng độc hại” từ vũ khí sinh hoá của quân đội Mĩ trong thời kì chiến tranh

Mặc dù sau đó ông Liao có đưa ra lời xin lỗi nhưng một nhóm cô dâu Việt và các nhà hoạt động vì quyền phụ nữ đã phản ứng gay gắt Ngày 5-4-2006,

họ tổ chức họp báo, lên án bình luận của ông Liao là “phân biệt chủng tộc”,

đến trụ sở của TSU để trao thư kháng nghị Nghị sĩ Liao, bấy giờ đang ở Úùc, được báo United Evening News dẫn lời đã phản đối cáo buộc; theo ông có đến 100.000 trẻ bị dị tật ở Việt Nam Phát biểu của ông Liao không chỉ xúc phạm đến cô dâu Việt Nam, phụ nữ Việt Nam mà còn ảnh hưởng đến những đứa bé mang hai dòng máu Đài – Việt khi các em đến trường Và trớ trêu thay, Wang Chun-lin, đại diện của một tổ chức vì quyền phụ nữ, qua báo The China Post dẫn số liệu của Bộ Nội vụ nước này cho biết, chỉ có 0,1

% con của những người vợ nước ngoài có vấn đề về sức khoẻ bẩm sinh so với 4,6% con của người địa phương! Trước những phản ứng trên, đảng TSU

đã ra thông cáo thừa nhận bình luận của ông Liao là “không phù hợp” và

hứa sẽ có cuộc tự kiểm Giám đốc Phân ban vì quyền phụ nữ của TSU, Chiang Yue-chin nói đảng này sẽ cảnh cáo ông Liao và yêu cầu ông xin lỗi lần nữa

Qua vụ việc, có thể thấy tranh luận về vấn đề cô dâu nước ngoài ở Đài Loan còn chạm đến vết thương chiến tranh của Việt Nam

Cũng từ bài báo trên, dư luận bắt đầu mổ xẻ hiện tượng một số quốc gia công khai quảng cáo cô dâu Việt như hàng hoá Nhiều diễn đàn được tổ chức trên mạng để thông tin và bàn luận về hôn nhân có yếu tố nước ngoài

Dư luận nhận ra rằng nếu như thời trang Hàn Quốc là mốt ở Việt Nam thì cô dâu Việt lại là “mốt” của đàn ông nông thôn Hàn Quốc Không khác gì quảng cáo sản phẩm tiêu dùng, các công ti môi giới ở Hàn Quốc, Đài Loan

ra sức “đánh bóng” cho “sản phẩm”, đề cao “chất lượng” của các cô dâu Việt, dịch vụ “hậu mãi” và cách thức “thanh toán”

Trang 20

Giới truyền thông Hàn Quốc cũng rất quan tâm đến sự phẫn nộ của dư luận Việt Nam Ngày 19-5-2006, chương trình Sevendays của Đài Truyền

hình SBS đã lên sóng phóng sự “Phẫn nộ của người Việt Nam – Tình trạng

buôn bán hôn nhân với người nước ngoài” phân tích hoạt động môi giới hôn

nhân của các chi nhánh tại Việt Nam Đoạn phim quay tại Việt Nam ghi lại

cảnh “Xem mắt 1:40” (xem mắt 1 phút 40 giây): một người đàn ông Hàn

Quốc xem mắt một lúc gần 50 cô gái trong khoảng 1 giờ Khi được hỏi có thể xem mắt bao nhiêu cô gái Việt Nam thì một nữ môi giới há miệng to

cười nham nhở trả lời: “Muốn xem bao nhiêu cô cũng được hết đó, 100 cô

cũng được nữa, miễn có tiền là được” Người này còn nói với khách Hàn

Quốc: “Trường hợp còn trinh thì hơi mắc một chút”

Như để làm giảm bớt sự công phẫn của dư luận, báo chí cũng thông tin những trường hợp cô dâu Việt Nam tìm được hạnh phúc nhưng không mấy hiệu quả

Sự sỉ nhục cô dâu Việt không chỉ diễn ra ở Đài Loan hay Hàn Quốc Tờ The Star (Malaysia) số ra ngày 19-12-2006 đưa thông tin cô dâu Việt Nam được đem rao bán ở nhiều nơi công cộng của nước này Đó là những tiệm cà phê hoặc nhà của những người môi giới ở các thị trấn nhỏ Theo bài báo, các huyện Triang và Jerantut tại bang Pahang tràn ngập các cô dâu Việt Khi được một người đàn ông lựa chọn, họ có thể làm giấy đăng kí kết hôn ngay tại chỗ Giá một cô từ 20.000 đến 30.000 RM (ringit), khoảng 5.600 – 8.400 USD; càng xinh đẹp, gợi tình thì giá càng cao Bài báo đã được nhiều tờ báo khác và hãng tin AFP đăng lại

Ngay chiều ngày 19-12, Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia đã gởi công hàm cho Bộ Ngoại giao, cảnh sát và Bộ Phụ nữ – Gia đình và Phát triển cộng đồng của nước bạn yêu cầu làm rõ sự việc đang diễn ra tại bang Pahang mà The Star đã nêu, yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền của Malaysia kịp thời có biện pháp ngăn chặn và thông báo cho phía Việt Nam Các hội phụ nữ tại đây như Tập hợp phụ nữ phát triển Malaysia, Hiệp hội

Trang 21

hành động vì quyền phụ nữ Malaysia (AWAM), Tổ chức giúp đỡ phụ nữ Malaysia (WAO) v.v cũng ra tuyên bố lên án các hình thức buôn bán phụ nữ

Tờ Liên hiệp báo, Tảo báo, báo điện tử Sinacom của Singafore ngày 20-11-2005 cũng đưa những thông tin về tình trạng các cô dâu Việt bị bóc lột tình dục, họ bị đối xử như một món hàng, bị lừa đảo bởi các công ti môi giới ở đảo quốc này

Nhưng điều đau lòng nhất chưa phải là nạn mua bán, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ Việt Nam mà chính là nạn bạo hành, ngược đãi đưa đến cái chết của những người vợ trẻ chỉ mới ngoài 20 tuổi Đó là các cô Trần Thị Hồng Thắm (7-2006), Nguyễn Thị Lan (8-2006), Lê Thị Kim Đồng (4-2007), Huỳnh Mai (8-2007), Trần Thanh Lan (1-2008)5 Người thì bị sát hại, người phải tự tử Cái chết của Huỳnh Mai (quê ở Kiên Giang) vào tháng 4-2007 làm rúng động dư luận Hàn Quốc Lá thư dài năm trang của cô để lại làm xúc động hàng triệu người Một hội mang tên Hội giải pháp

do khoảng 90 tổ chức dân sự thành lập ngày 17-6 tại Cheoan, nơi Mai đã sống, với mục đích quyên góp tiền để giúp đỡ cho gia đình Mai và tìm các giải pháp giúp đỡ cô dâu người nước ngoài tại Hàn Quốc, giúp họ có thể thích ứng một cách nhanh nhất với đời sống Hàn Quốc Ngày 19-8-2007, một buổi tưởng niệm đã được tổ chức tại nhà ga Cheonan Tham dự đặt hoa tưởng niệm cho Huỳnh Mai có ông Kim Ki Shu (Hội trưởng Trung tâm hỗ trợ người lao động nước ngoài tại Cheoan) và bà Lee Jong Min (Viện trưởng Bệnh viện EWHA, Chủ tịch Hội giải pháp) cùng nhiều người Hàn Quốc Hàng trăm cô dâu Việt Nam khác cũng đã đến dự và quyên góp tiền hỗ trợ gia đình Huỳnh Mai

Phát biểu trên báo chí, bà Trương Thị Mai, Chủ nhiệm Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội đã nói đến việc cần thiết phải sửa đổi Luật Hôn

5 Chúng tôi sẽ dẫn chi tiết ở phần sau

Trang 22

nhân và Gia đình, xúc tiến mạnh mẽ những vấn đề liên quan đến Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và các nước có liên quan

Vấn đề cũng được sự quan tâm của Liên hiệp quốc Tổ chức này kêu gọi Hàn Quốc quan tâm tới vấn đề cô dâu nước ngoài Một khuyến cáo của Hiệp hội chống phân biệt chủng tộc Liên Hiệp Quốc (CERD) đưa ra tại Hội nghị chống phân biệt chủng tộc (do Liên hiệp quốc tổ chức từ 30-7 đến 17-8-2007) đã đề cập đến các vấn đề liên quan tới phụ nữ nước ngoài kết hôn

với đàn ông Hàn Quốc Khuyến cáo nêu rõ: "Những phụ nữ này không nhận

được sự bảo vệ một cách xứng đáng trước những sự xâm hại của các trung tâm môi giới và ngay cả người chồng của mình Một bộ phận các trung tâm môi giới đòi hỏi tiền phí cao một cách quá đáng hoặc không cung cấp đầy đủ thông tin về người chồng tương lai”6

Vào những thời điểm “nhạy cảm”, các báo điện tử bằng tiếng Việt ở nước ngoài lại ra sức khai thác, thổi phồng vấn đề Chuyên mục “Đời sống người Việt khắp nơi” của Đài Châu Á tự do do Thanh Trúc phụ trách rất

tích cực đưa tin Tờ VietMissio giật những hàng tít như “Hôn nhân kiểu xã

hội chủ nghĩa hay buôn bán nô lệ kiểu mới!” Vấn đề xã hội bị nhào nặn,

bóp méo thành vấn đề chính trị Các cây bút nhân danh “những người Việt

Nam yêu nước Việt và yêu dân tộc Việt” Website vnnnews.com nhận định

“Chưa có thời nào trong lịch sử mà bi thảm như thế”7 Nhìn chung, cách làm của các website này là lấy thông tin của báo chí Việt Nam, Đài Loan và Hàn Quốc rồi hướng sự bình luận vào việc phê phán xã hội và Chính phủ Việt Nam

Điểm qua những thông tin trên báo chí, chúng tôi muốn giới thiệu những diễn biến “nóng” của hiện trạng làm rúng động dư luận trong và ngoài nước Vấn đề đã trở nên bức xúc, nó vượt quá phạm vi hôn nhân và gia đình, quan hệ giữa cá nhân và cá nhân, làm hoen ố hình ảnh dân tộc

6 Báo Tuổi trẻ, ngày thứ bảy, 25-7-2007

7 www.vnn-news.com , ngày 10-10-2007

Trang 23

1.2 Những con số cụ thể

1.2.1 Trường hợp Đài Loan

Theo số liệu của TECO HCMC, tính đến thời điểm cuối năm 2007, đã có 95.406 phụ nữ Việt Nam thuộc 36 tỉnh / thành trong cả nước kết hôn với người Đài Loan8 Các tỉnh miền Bắc (gồm Bắc Kạn, Bắc Ninh, Hà Giang, Phú Thọ, Thái Bình và Thanh Hoá), miền Trung (gồm Quảng Bình, Quảng Trị, Huế, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Phú Yên, Khánh Hoà và Ninh Thuận) và Tây Nguyên (gồm Lâm Đồng và Đắc Lắc) chiếm con số không đáng kể Phụ nữ kết hôn với người Đài Loan chủ yếu là cư dân của các tỉnh Nam bộ Con số ở các địa phương có sự biến động theo từng thời điểm cụ thể nhưng dẫn đầu là Cần Thơ, Tây Ninh, Hậu Giang, Đồng Tháp, Thành phố Hồ Chí Minh và Vĩnh Long

Bảng 1.1: Số vụ kết hôn với người Đài Loan từ 1995 – tháng 6-2007

1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001

13.743 11.358 12.202 3.697 3.226 1.729 95.406 Nguồn: TECO, HCMC

Biểu đồ 1a: Số vụ kết hôn với người Đài Loan từ 1995 – tháng 6-2007

8 Như đã nói, con số của năm 2008 đã hơn 100.000; ở đây, chúng tôi phân tích những số liệu đã được xác định ở các tỉnh, thành Nam bộ

Trang 24

Bảng 1.2: Số phụ nữ kết hôn với người Đài Loan tính đến năm 2002

1 Thành phố Hồ Chí Minh 12.194 21,81%

Trang 25

Nguồn: Phan An, Phan Quang Thịnh, Nguyễn Quới, Tlđd

Bảng 1.3: Số lượng phụ nữ các tỉnh / thành kết hôn với người Đài Loan

Trang 26

Nguồn: Tổng hợp từ thống kê của TECO (năm 2003, 2006 và 6-2007) và báo

cáo của Hội Liên hiệp Phụ nữ các tỉnh9

Ở Thành phố Hồ Chí Minh, theo khảo sát của Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ, phụ nữ lấy chồng Đài Loan chủ yếu sống ở các quận 5, 6, 8 (người Hoa chiến phần lớn), các huyện Bình Chánh và Hóc Môn, đa số thuộc những gia đình nghèo khó, bản thân không có việc làm hoặc chỉ làm nội trợ

Nếu so sánh số lao động Việt Nam làm việc tại Đài Loan, có những thời điểm, số cô dâu xấp xỉ với số lao động

Bảng 1.4: So sánh số lao động và số cô dâu Việt Nam tại Đài Loan

So sánh với số cô dâu các nước tại Đài Loan, số cô dâu Việt Nam luôn dẫn đầu, hơn gấp đôi cô dâu Indonesia, gần 5 lần cô dâu Thái Lan và Mianma cộng lại và hơn 7 lần cô dâu Philippines

Bảng 1.5: So sánh số vụ hôn nhân giữa nam giới Đài Loan

với phụ nữ một số nước Đông Nam Aù (1996-2000) Việt Nam Indonesia Thái Lan

và Mianma

Philippines Singafore

Bảng 1.6: Tỉ lệ cô dâu Việt Nam trong tổng số những vụ kết hôn với

người nước ngoài ở Đài Loan (1996-1999 và 2005)

Trang 27

Theo một nghiên cứu khác của PGS Phan An thì năm 2006, cô dâu Việt chiếm khoảng 70% cô dâu nước ngoài ở Đài Loan Trung bình cứ 80 gia đình Đài Loan thì có một cô dâu Việt

Từ năm 2005 trở đi, số cô gái đăng kí kết hôn với người Đài Loan đã giảm chỉ bằng ¼ so với những năm 2003 và 2004 Nguyên nhân chính là do phía Đài Loan có những qui định mới về đăng kí kết hôn với người nước ngoài (như hạn chế về độ tuổi, sức khoẻ, học vấn v.v.)

1.2.2 Trường hợp Hàn Quốc

Hôn nhân với người Hàn Quốc (vợ Việt – chồng Hàn) bắt đầu với số lượng rất ít từ năm 2000 (95 vụ) và tăng dần đến năm 2006 đã lên đến 13.096, khoảng 137 lần trong vòng 7 năm Đây là một mức gia tăng khủng khiếp Đến năm 2005, trong khi số vụ kết hôn với nam giới Đài Loan giảm xuống thì số vụ kết hôn với nam giới Hàn Quốc lại tăng lên

Bảng 1.7: Số vụ kết hôn với người Hàn Quốc

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Tổng cộng

95 134 476 1.403 2.462 5.822 13.096 9.812 27.343

Nguồn: Tổng hợp từ các công trình nghiên cứu, báo cáo của hội liên hiệp

phụ nữ các tỉnh và báo chí 10

Biểu đồ 1b: Số vụ kết hôn với người Hàn Quốc từ 2000-2007

10 Xem, chẳng hạn: Lưu Thị Tố An, Trình tự của hôn nhân Hàn – Việt thông qua các tổ chức môi giới hôn nhân, Kỉ yếu hội thảo quốc tế “Hôn nhân xuyên quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hoá”, Tp Hồ Chí Minh, 8-2006

Trang 28

Kết hơn với Hàn Quốc

Biểu đồ 1c: So sánh kết hôn với người Đài Loan và với người Hàn Quốc

11 Con số 33,5% này chúng tôi dựa theo

Trang 29

liên hiệp phụ nữ một số nơi ở Việt Nam do Bộ Bình đẳng giới và Gia đình Hàn Quốc tài trợ, bà Yang Seung Ju , Cục trưởng Cục Chính sách và gia

đình Hàn Quốc, đưa ra một con số ấn tượng hơn: "Năm 2006, hôn nhân quốc

tế ở Hàn Quốc chiếm 11,9% tổng số hôn nhân tại Hàn Quốc, trong đó hôn nhân với phụ nữ Việt Nam chiếm khoảng 67,9%”12

Bảng 1.8: So sánh số lượng phụ nữ một số nước kết hôn với người Hàn Quốc

2001 2002 2003 2004

Philippines 510 476 1.043 969

Nguồn: Cục Thống kê quốc gia Hàn Quốc (2005)

Bảng 1.9: Tỉ lệ cô dâu các nước ở Hàn Quốc (%)

A National Interest Analysis of U.S and East Asian Foreign Policies on Korea

Tóm lại, những con số trên cho thấy sự gia tăng bất thường của số vụ kết hôn với người nước ngoài, đến mức trở thành phong trào và dịch chuyển dần từ Thành phố Hồ Chí Minh về các tỉnh

1.3 Nhận diện chú rể và cô dâu

Trang 30

Cô dâu Việt Nam và chú rể nước ngoài là những ai, thuộc nhóm xã hội

nào? Đây là một trong những vấn đề rất có ý nghĩa trong nghiên cứu hôn

nhân có yếu tố nước ngoài ở Nam bộ hiện nay

1.3.1 Trường hợp Đài Loan

1.3.1.1 Chú rể

Theo thống kê của TECO HCMC, tỉ lệ các độ tuổi của chú rể như sau:

Từ 31-40: chiếm tỉ lệ nhiều nhất 49,34 %

Từ 20-30 và từ 40-50: xuýt xoát nhau: 20,64% và 22,53%

Từ 52-60: chỉ có 5,48%

Trên 60: không đáng kể, chỉ 1,96%

Khoảng 2 năm trở lại đây, độ tuổi bình quân có xu hướng giảm xuống,

2.344 (20.64%)

551 (4.85%)

242 (2.13%)

11.358

(19.71%)

5.850 (47.94%)

2.931 (24.02%)

774 (6.34%)

242 (1.98%)

559 (23.98%)

95 (4.08%)

24 (1.03%)

5.834 (22,53%)

1.420 (5,48%)

508 (1,96%)

25.891 (100%) Nguồn: TECO, HCMC

Học vấn của chú rể Đài Loan tương đối thấp, ít có người biết được một

ngoại ngữ Ngay cả việc sử dụng tiếng phổ thông Trung Quốc cũng khó

khăn

Bảng 1.11: Học vấn của chú rể Đài Loan

Trang 31

Mù chữ 7

(0.06%)

20 (0.16%)

3 (0.13%)

30 (0,11 %) Tiểu học (Primary school) 466

(4.10%)

607 (4.97%)

81 (3.47%)

1.134 (4,37 %) Cấp II

(Junior School)

6164 (54.27%)

5372 (44.03%)

1281 (54.95%)

12.817 (49,50 %) Cấp III

(Senior school)

4.128 (36.34%)

4941 (40.49%)

638 (27.37%)

9.707 (37,49 %)

(Trung học nghề

Vocational senior high school)

403 (3.55%)

1.040 (8.52%)

252 (10.81%)

1.695 (6,54 %) Đại học

(University)

184 (1.62%)

211 (1.73%)

73 (3.13%)

468 (1,80 %) Đào tạo chuyên sâu

(Post graduate)

6 (0.05%)

11 (0.09%)

3 (0.13%)

20 (0,07 %)

(100%)

12.202 (100%)

2.331 (100%)

25.891 (100%) Nguồn: TECO HCMC

Về nghề nghiệp và thành phần xã hội, phần lớn chú rể là người lao động thuộc tầng lớp bình dân, thu nhập thấp Theo thống kê của TECO HCMC, cho đến năm 2005, trong số 72.835 cuộc hôn nhân Việt – Đài thì có tới 59.297 chú rể sống ở nông thôn Cũng con số thống kê cũng của TECO HCMC, nghề nghiệp của chú rể kết hôn trong 2 năm 2006 và 2007 chủ yếu là nghề phổ thông, lái taxi, nhân viên các công ti nhỏ v.v 13

Bảng 1.12: Nghề nghiệp của chú rể

(0,225)

28 (0,87%)

3.137 (97,24%)

39 (1,21%)

15 (0,46%)

Trang 32

(0,00%) (0,06%) (99,94%) (0,00%) (0,00%) (100%)

Về tình trạng sức khoẻ, thống kê của TECO HCMC cho biết, đến cuối năm 1998, có khoảng 8% chú rể bị khuyết tật và 0,7% bị tâm thần14 Theo số liệu của Sở Ngoại vụ Thành phố Hồ Chí Minh, khảo sát từ Đà Nẵng trở vào Nam, từ năm 1993 đến tháng 5-1998, có 856 người nước ngoài chậm phát triển về trí tuệ kết hôn với phụ nữ Việt Nam, một tỉ lệ khá lớn trong số này có quốc tịch Đài Loan15

Trên thực tế, việc xác định tình trạng sức khoẻ của chú rể nước ngoài

thường khó chính xác Có 2 lí do: một, các chứng thư sức khoẻ không đáng tin cậy vì tình trạng móc nối, hối lộ với nơi khám; hai, các điều tra xã hội

học qua lời khai của các cô dâu không khách quan Theo phân tích của dự án Chương trình can thiệp cùng cộng đồng - CARAM Asia (6-11-2001), trong số 1.111 đàn ông Đài Loan được kiểm tra sức khoẻ, tâm thân và bệnh

da liễu vào năm 2001 tại một bệnh viện ở Thành phố Hồ Chí Minh thì có nhiều trường hợp bị bệnh lậu, giang mai và một số bệnh lây qua đường tình dục Tuy nhiên, chưa có trường hợp nào dương tính với HIV16

Dưới đây là một vài con số tham khảo theo nghiên cứu của Phan An và các cộng sự

Bảng 1.13: Tình trạng sức khoẻ của chú rể Đài Loan

14 Dẫn theo Wang Hong-zen, Tlđd

15 Trịnh Thị Bích, Báo cáo tại Hội thảo “Hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh”, tháng 10-2003

16 Theo Phan An, Phan Quang Thịnh, Nguyễn Quới, Tlđd, tr 53

Trang 33

Khuyết tật bẩm sinh 5,9%

Yếu kém toàn thân 41,2%

Nguồn: Phan An, Phan Quang Thịnh, Nguyễn Quới, Tlđd

1.3.1.2 Cô dâu Việt Nam

Về độ tuổi, cô dâu Việt Nam phần lớn khá trẻ Tuổi từ 30 trở xuống là

phổ biến Theo thống kê của TECO HCMC, trong các cuộc hôn nhân từ

2003 -2005, tuổi dưới 20 chiếm 36,44%, từ 20-30 chiếm 57,67%

Bảng 1.15: Độ tuổi của cô dâu (từ năm 2003 – 2005)

<20 20-30 31-40 41-50 >50 Tổng số

2003 4.706

(41.43%)

6.085 (53.57%)

482 (4.24%)

82 (0.72%)

3 (0.03%)

11.358 (43,86 %)

2004 4.419

(36.22%)

7.041 (57.70%)

642 (5.26%)

100 (0.82%)

0 (0.00%)

12.202 (47,12 %)

179 (7.68%)

33 (1.42%)

0 (0.00%)

2.331 (9,00 %)

1.303 (5,03%)

215 (0,83%)

3 (0,01%)

25.891 (100%)

Nguồn: TECO HCMC

Biều đồ 1d: So sánh độ tuổi giữa cô dâu Việt Nam và chú rể Đài Loan

(Số liệu từ 2003 – tháng 7-2005)

Trang 34

Bảng 1e: Độ tuổi cô dâu Việt Nam và chú rể Đài Loan (2007)

Trang 35

Học vấn của phần nhiều cô dâu là thấp Rất ít trường hợp tốt nghiệp

đại học Được đào tạo nghề cũng rất hiếm Học vấn cấp I chiếm tỉ lệ lớn:

67,71%; cấp II chiếm 26,60%, cấp III chỉ có 5,45%

Bảng 1.16: Học vấn của cô dâu Việt Nam

6 0,02 % Tiểu học (Primary school) 9632

(84.80%)

6755 (55.36%)

1146 (49.16%)

17.533 67,71 % Cấp II

(Junior School)

1355 (11.93%)

4637 (38.00%)

896 (38.44%)

6.888 26,60 % Cấp III

(Senior school)

350 (3.08%)

778 (6.38%)

285 (12.23%)

1.413 5,45 %

(Trung học nghề

Vocational senior high school)

0 (0.00%)

0 (0.00%)

0 (0.00%)

0 0,00 % Đại học

(University)

21 (0.18%)

26 (0.21%)

4 (0.17%)

51 0,19 % Đào tạo chuyên sâu

(Post graduate)

0 (0.00%)

0 (0.00%)

0 (0.00%)

0 0,00 %

(100%)

12202 (100%)

2331 (100%)

25.891

Nguồn: TECO HCMC

Biểu đồ 1f: So sánh học vấn của cô dâu Việt Nam và chú rể Đài Loan

Trang 36

0 2000

Học vấn của cơ dâu VN

Học vấn của chú rễ Đài Loan

Như vậy, cả về độ tuổi lẫn học vấn, có một độ chênh khá lớn giữa cô dâu và chú rể Cô dâu ở độ tuổi dưới 30 chiếm phần nhiều, trong khi ở chú rể, độ tuổi trên 30 lại là phần lớn Cô dâu Việt Nam có học vấn cấp I có tỉ lệ “áp đảo”, trong khi ở chú rể, trình độ cấp II và cấp III là chủ yếu

Theo thống kê của TECO HCMC, nghề nghiệp của cô dâu Việt phần lớn là nội trợ Ở nông thôn Việt Nam, nội trợ đôi khi đồng nghĩa với thất nghiệp, là không được đào tạo một nghề nào

Bảng 1.17: Nghề nghiệp cô dâu Việt Nam (2006 và 2007)

(0,12%)

18 (0,56%)

21 (0,65%)

5 (0,15%)

3.178 (98,51%)

3.226

(0,12%)

1 (0,06%)

3 (0,17%)

0 (0,00%)

1.723 (99,65%)

1.729 Nguồn: TECO HCMC

1.3.2 Trường hợp Hàn Quốc

Trang 37

Đối với trường hợp Hàn Quốc, chúng tôi không có nhiều thông tin do khó tiếp cận với nguồn tư liệu Các điều tra xã hội học tiến hành cho kếât quả tập trung vào nhóm lấy chồng Đài Loan Do đó, dựa vào một số tư liệu mà chúng tôi có được thì có thể kết luận đặc điểm của các cặp hôn nhân Việt – Hàn cũng tương tự các cặp hôn nhân Việt – Đài Dưới đây là một vài con số tham khảo

Theo một nghiên cứu của TS Byung Khun Song thuộc Đại học

Sungkyungwan, Seoul (Lao động nữ nước ngoài trong thị trường lao động

Hàn Quốc)17 thì tuổi của người chồng cao hơn tuổi của người vợ khá nhiều Lớn hơn từ 10-19 tuổi chiếm 47,7%

Bảng 1.18: Mức chênh lệch tuổi giữa cô dâu Việt Nam và chú rể Hàn Quốc

Lớn hơn từ 1- 4 tuổi 0,0%

Lớn hơn từ 5- 9 tuổi 15,3%

Lớn hơn từ 10- 19 tuổi 47,7%

Lớn hơn từ 20 tuổi trở lên 10,8%

Nguồn:

http://www.asera-aspac.net/upload_files/9/Korea%20Migrant%20Workers.pdf,

Về nghề nghiệp và thành phần xã hội, theo phản ánh của báo chí, người Hàn Quốc sang Việt Nam tìm vợ chủ yếu sống ở khu vực nông thôn Tại các làng chài hay nông trại Hàn Quốc, cứ 6 nam giới thì có 1 kết hôn với phụ nữ Việt Nam Theo tờ Korea Times, cứ 3 người Hàn Quốc làm nghề nông hoặc nghề đánh cá thì có 1 lấy vợ nước ngoài, trong đó tỉ lệ lấy vợ Việt là cao nhất; đa số đàn ông Hàn Quốc lấy vợ Việt Nam là những người sống ở nông thôn Năm 2005 có 5.822 vụ kết hôn vợ Việt – chồng Hàn thì số chú rể là nông dân và ngư dân chiếm 26,36%

17 http://www.asera-aspac.net/upload_files/9/Korea%20Migrant%20Workers.pdf, Byung Khun Song, Foreign female workers in Korean labour market

Trang 38

Một số thông tin là không đồng nhất Tuy nhiên, có thể thấy, về tuổi tác và thành phần xã hội, có sự tương đồng nhất định giữa chú rể Hàn Quốc và chú rể Đài Loan Nghề nghiệp của nam công dân Hàn Quốc tương đối ổn định hơn Đây có thể là một lí do từng khiến nhiều gia đình nghĩ rằng lấy chồng Hàn mức độ rủi ro ít hơn

Từ những con số trên, có thể rút ra một số kết luận chung về đặc điểm của các cặp hôn nhân Việt – Đài và Việt - Hàn như sau:

Thứ nhất, có sự chênh lệch khá lớn về tuổi tác, trình độ học vấn

Thứ hai, về nghề nghiệp, phần lớn chú rể là công nhân, nông dân, lao

động phổ thông; phần lớn cô dâu sống ở nông thôn, là nội trợ trong gia đình

Thứ ba, số chú rể bị khuyết tật, thiểu năng là có thật nhưng không

nhiều Trong điều kiện của hôn nhân môi giới, không tình yêu và những hệ quả phức tạp của nó, sự hiện diện của số này lại thu hút nhiều chú ý, dễ khiến dư luận xem là phổ biến Nói như nhóm nghiên cứu của Phan An, nó

“có tính nhạy cảm”

Để nhận diện rõ hơn những chú rể đến từ nước ngoài, chúng tôi muốn trình bày một góc nhìn từ những vấn đề xã hội của các quốc gia phát triển Như một hệ quả của sự phát triển, ở Hàn Quốc và Đài Loan, phụ nữ ngày càng độc lập hơn về kinh tế, tình trạng sống độc thân trở nên phổ biến, tỉ lệ

li hôn tăng, mức sinh giảm Nhiều đàn ông ở các nước này trở nên khó lấy vợ Bên cạnh đó, sự phân tầng xã hội diễn ra sâu sắc Phân tầng xã hội đưa đến phân tầng về lối sống dựa trên mức thu nhập Thứ tự của các ngành nghề, các nhóm xã hội được xác lập và ngày càng xa dần về khoảng cách Những ngành nghề có thu nhập thấp, thường là lao động chân tay, ở lĩnh vực nông nghiệp trở nên bị xem thường Theo GS Hsia Hsiao-chuan (Đại

học Shih Hsin – Đài Loan), “có một sự kì thị mạnh mẽ đối với nông thôn”,

“nam nông dân hoặc công nhân khó mà kiếm vợ”

Trang 39

Chi phí hôn nhân ở các nước này cũng không nhỏ Theo Vietnamnet, một cô dâu người Việt kể rằng khi cô đi trên phố, có người đã tiến đến và

nói: “Này, cưới một cô vợ Việt tốn 8.000 USD Có biết một cô vợ Đài thì

phải đắt giá đến thế nào không?” Báo Tuổi trẻ số ngày 7-10-2001 dẫn lời

thổ lộ của một người đàn ông Đài Loan tên Chan 36 tuổi: “Tôi làm ruộng,

thu nhập khoảng 25.000 đài tệ/ tháng Muốn lấy con gái Đài Loan phải có thu nhập cao, khoảng trên 50.000 đài tệ/tháng Vì vậy tôi không đủ điều kiện lấy vợ ở quê”

Mặt khác, ở các quốc gia có liên quan, do nhiều nguyên nhân, tỉ lệ nam nữ bị mất cân đối nghiêm trọng, nhất là khu vực nông thôn Hãy lấy ví dụ Hàn Quốc

Nguồn: Cục Thống kế quốc gia Hàn Quốc (KNSO) - 2005

Dự báo chung của Cục Thống kê quốc gia Hàn Quốc, đến năm 2010, tỉ lệ này có thể là 123 nam / 100 nữ (ở độ tuổi 24 – 30) Phụ nữ trở nên khan hiếm, để giải quyết sự mất cân đối, nam giới ít khả năng tìm vợ trong nước phải hướng sự tìm kiếm của mình ra bên ngoài, thường đó chỉ có thể là các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển hơn Hôn nhân xuyên biên giới ở Hàn Quốc chiếm 13,6% hàng năm Một con số ấn tượng khác: trong tổng số các cuộc hôn nhân có yếu tố nước ngoài trên thế giới, Hàn Quốc chiếm 72% Năm 2005, trong số 1.000 nông dân Hàn Quốc lập gia đình, có 359 người làm rể nước ngoài

Khó khăn tìm vợ trong nước, nhưng khi bước chân ra khỏi biên giới, đến một số quốc gia Đông Nam Á, tình trạng này lại được khắc phục một cách tuyệt vời ngoài mong đợi Những người vốn bị từ chối ở quê hương

Trang 40

mình lại được đối xử như ông hoàng khi đến với các công ti môi giới hôn nhân với người nước ngoài Mặt dù xã hội Hàn Quốc vẫn giữ định kiến đối với hôn nhân với người nước ngoài nhưng đây vẫn là giải pháp khả dĩ nhất cho đối tượng này Lee Eun Tae, giám đốc Văn phòng mai mối Inter Wed,

cho biết: “Những chàng trai tìm đến trung tâm mối giới của chúng tôi rất

quan tâm đến việc xã hội vẫn còn định kiến với các cuộc hôn nhân với người nước ngoài”, “Nhưng sau khi họ từ chối nhiều lần ở Hàn Quốc thì một bộ phận trong số họ phải hướng ngoại”18

Vì vậy, giải pháp tiện lợi là bỏ tiền lấy một người vợ nước ngoài Đấy là người giúp việc nhà không lương, chăm sóc cho người chồng tàn tật hoặc bố mẹ già, nguồn lao động rẻ tiền cho các cơ sở làm ăn của gia đình chồng Theo linh mục Bruno Ciceri (Trung tâm Dịch vụ quốc tế phục vụ người di dân nước ngoài ở Cao Hùng), trong các cuộc hôn nhân có yếu tố nước ngoài

ở Đài Loan, có những ông chồng ăn không ngồi rồi và xem vợ như nguồn lợi tức duy nhất của gia đình19

Trong số đàn ông nước ngoài sang Việt Nam tìm vợ, có người đã từng kết hôn, kết hôn nhiều lần Có người chung sống với vợ nhưng không có con nên bàn cách li hôn để sang Việt Nam lấy vợ mà thực chất là tìm người

đẻ thuê Và đặc điểm thứ tư mà chúng tôi muốn nêu ra là nhiều chú rể nước

ngoài không có khả năng tìm vợ trên đất nước mình, hoặc không có khả năng có con với những người vợ đồng chủng

Như vậy, có quá nhiều chênh lệch giữa chồng và vợ trong các cặp hôn nhân có yếu tố nước ngoài Sự hơn hẳn của người chồng so với vợ về độ tuổi, học vấn, thu nhập v.v là bình thường nhưng nếu khoảng cách khá lớn, lại phổ biến trong các cặp kết hôn thì là không bình thường Đây chưa hẳn là bất lợi cho người vợ nhưng trong điều kiện hôn nhân đa văn hoá, nó có thể khoét sâu thêm sự bất bình đẳng Sự chênh lệch này phản ánh sự chênh

18 Vietnammet.vn, thứ Hai, ngày 27-6-2005

19 RFA, ngày 7-10-2003

Ngày đăng: 14/05/2014, 08:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan An, Trường hợp phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan – Từ một góc nhìn; Trong kỷ yếu hội thảo Khoa học Quốc tế: Hoạt động văn hoá kinh tế giữa Việt Nam và Đài Loan – Thực trạng và triển vọng. Tp. Hồ Chí Minh, 20.12.2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường hợp phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan – Từ một góc "nhìn"; Trong kỷ yếu hội thảo Khoa học Quốc tế: "Hoạt động văn hoá kinh tế "giữa Việt Nam và Đài Loan – Thực trạng và triển vọng
2. Phan An, Phan Quang Thịnh, Nguyễn Qiới, Hiện tượng phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan; Nxb. Trẻ, TPHCM, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện tượng phụ nữ Việt Nam lấy "chồng Đài Loan
Nhà XB: Nxb. Trẻ
3. Trần Thị Kim Xuyến, Tìm hiểu thực trạng phụ nữ kết hôn với người Đài Loan tại khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long – Đề tài nghiên cứu Khoa học- Trường ĐH KHXH và NV, 8.2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thực trạng phụ nữ kết hôn với người Đài "Loan tại khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long
4. Trần Thị Kim Xuyến, Nguyên nhân của phụ nữ Đồng bằng Sông Cửu Long kết hôn với người Đài Loan. Tạp chí Xã hội học số 1.2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên nhân của phụ nữ Đồng bằng Sông Cửu Long "kết hôn với người Đài Loan
5. Phạm Đức Trọng, Hôn nhân xuyên quốc gia – Những vấn đề xã hội cần quan tâm – Hội thảo Quốc tế: Hôn nhân xuyên quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hoá. Trường ĐH KHXH và NV Tp. Hồ Chí Minh, 8.2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân xuyên quốc gia – Những vấn đề xã hội cần "quan tâm" – Hội thảo Quốc tế: "Hôn nhân xuyên quốc gia trong bối cảnh toàn "cầu hoa
7. Thái Nhã Ngọc, Sơ bộ nghiên cứu hiện tượng hôn nhân xuyên quốc gia Đài–Việt. Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc lập Thành công – Đài Loan, 2001 (Bản Trung Văn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ bộ nghiên cứu hiện tượng hôn nhân xuyên quốc gia Đài–"Việt
8. Trương Minh Thư, Phân tích thị trường hôn nhân xuyên quốc gia Đài – Việt: Sự vận hành môi giới đối với cô dâu Việt Nam. Luận văn thạc sĩ, Đại học Đam Giang – Đài Loan, 2002 (Bản Trung Văn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích thị trường hôn nhân xuyên quốc gia Đài – Việt: "Sự vận hành môi giới đối với cô dâu Việt Nam
9. Đồ Thị Như Tâm (Editor), Marriages of Convenience-Context, processes and results of cross-border marriages between Vietnamese young women and Taiwanese men. Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marriages of Convenience-Context, processes "and results of cross-border marriages between Vietnamese young women "and Taiwanese men
10. Hong-ZenWang, The Commodification of international marriages: Cross- border marriage business in Taiwan and Vietnam – International science conference: Economic, cultural activities between Vietnam and Taiwan:Present situation and prospects, Ho Chi Minh City, 12.2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Commodification of international marriages: Cross-"border marriage business in Taiwan and Vietnam – International science "conference: Economic, cultural activities between Vietnam and Taiwan: "Present situation and prospects
11. Vương Hoằng Nhân, Khí phách nam nhi của những người ngoại quốc: Vì sao đàn ông Đài Loan muốn lấy vợ Việt Nam – Hội thảo quốc tế: Thúc đẩy mối quan hệ Việt Nam và Đài Loan. Đại học Chinan Đài Loan, 5.2006. (Bản Trung Vaên) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khí phách nam nhi của những người ngoại quốc: Vì sao đàn ông Đài Loan muốn lấy vợ Việt Nam
Tác giả: Vương Hoằng Nhân
Nhà XB: Đại học Chinan Đài Loan
Năm: 2006
12. Traàn Bích Vaân, Cross-Cultural Marriages between Taiwan and Vietnam: Issues Controversues and Implications. Hội thảo Quốc tế: Hôn nhân xuyên quốc gia Đài–Việt. Học viện Khoa kỹ Mỹ Hòa – Đài Loan, 11.2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cross-Cultural Marriages between Taiwan and Vietnam: "Issues Controversues and Implications". Hội thảo Quốc tế: "Hôn nhân xuyên "quốc gia Đài–Việt
13. Cũng Nghi Quân, Quốc gia và hôn nhân: Yếu tố chính trị trong hôn nhân với người nước ngoài của Đài Loan và Việt Nam. Hội thảo quốc tế: Thúc đẩy mối quan hệ Việt Nam và Đài Loan… Đại học Chinan – Đài Loan, 5.2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc gia và hôn nhân: Yếu tố chính trị trong hôn nhân "với người nước ngoài của Đài Loan và Việt Nam
14. Hạ Hiểu Quyên, Đừng gọi tôi là cô dâu nước ngoài. Xã Đại Văn Khố – Đài Loan, 10.2005 (Bản Trung Văn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đừng gọi tôi là cô dâu nước ngoài
15. Trần Văn Phương, Hiện tượng lấy chồng Hàn Quốc ở phụ nữ Việt Nam: Thực trạng và một vài suy nghĩ. Hội thảo Quốc tế: Hôn nhân xxuyên quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa. Đại học KHXH và NV Tp.HCM, 8.2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện tượng lấy chồng Hàn Quốc ở phụ nữ Việt Nam: "Thực trạng và một vài suy nghĩ". Hội thảo Quốc tế: "Hôn nhân xxuyên quốc "gia trong bối cảnh toàn cầu hóa

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Số vụ kết hôn với người Đài Loan từ 1995 – tháng 6-2007 - Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài : Hôn nhân có yếu tố nước ngoài  ở khu vực nam bộ hiện nay
Bảng 1.1 Số vụ kết hôn với người Đài Loan từ 1995 – tháng 6-2007 (Trang 23)
Bảng 1.2: Số phụ nữ kết hôn với người Đài Loan tính đến năm 2002 - Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài : Hôn nhân có yếu tố nước ngoài  ở khu vực nam bộ hiện nay
Bảng 1.2 Số phụ nữ kết hôn với người Đài Loan tính đến năm 2002 (Trang 24)
Bảng 1.3: Số lượng phụ nữ các tỉnh / thành kết hôn với người Đài Loan - Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài : Hôn nhân có yếu tố nước ngoài  ở khu vực nam bộ hiện nay
Bảng 1.3 Số lượng phụ nữ các tỉnh / thành kết hôn với người Đài Loan (Trang 25)
Bảng 1.7: Số vụ kết hôn với người Hàn Quốc - Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài : Hôn nhân có yếu tố nước ngoài  ở khu vực nam bộ hiện nay
Bảng 1.7 Số vụ kết hôn với người Hàn Quốc (Trang 27)
Bảng 1.9: Tỉ lệ cô dâu các nước ở Hàn Quốc (%) - Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài : Hôn nhân có yếu tố nước ngoài  ở khu vực nam bộ hiện nay
Bảng 1.9 Tỉ lệ cô dâu các nước ở Hàn Quốc (%) (Trang 29)
Bảng 1.10: Độ tuổi của chú rễ Đài Loan - Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài : Hôn nhân có yếu tố nước ngoài  ở khu vực nam bộ hiện nay
Bảng 1.10 Độ tuổi của chú rễ Đài Loan (Trang 30)
Bảng 1.12: Nghề nghiệp của chú rể - Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài : Hôn nhân có yếu tố nước ngoài  ở khu vực nam bộ hiện nay
Bảng 1.12 Nghề nghiệp của chú rể (Trang 31)
Bảng 1.15: Độ tuổi của cô dâu (từ năm 2003 – 2005) - Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài : Hôn nhân có yếu tố nước ngoài  ở khu vực nam bộ hiện nay
Bảng 1.15 Độ tuổi của cô dâu (từ năm 2003 – 2005) (Trang 33)
Bảng 1e: Độ tuổi cô dâu Việt Nam và chú rể Đài Loan (2007) - Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài : Hôn nhân có yếu tố nước ngoài  ở khu vực nam bộ hiện nay
Bảng 1e Độ tuổi cô dâu Việt Nam và chú rể Đài Loan (2007) (Trang 34)
Bảng 1.16: Học vấn của cô dâu Việt Nam - Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài : Hôn nhân có yếu tố nước ngoài  ở khu vực nam bộ hiện nay
Bảng 1.16 Học vấn của cô dâu Việt Nam (Trang 35)
Bảng 1.17: Nghề nghiệp cô dâu Việt Nam (2006 và 2007) - Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài : Hôn nhân có yếu tố nước ngoài  ở khu vực nam bộ hiện nay
Bảng 1.17 Nghề nghiệp cô dâu Việt Nam (2006 và 2007) (Trang 36)
Bảng 2 .1: Thứ tự mức vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo đăng kí  (Một số đối tác đăng kí trên 1 tỉ USD – từ 1998 đến hết 2007) - Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài : Hôn nhân có yếu tố nước ngoài  ở khu vực nam bộ hiện nay
Bảng 2 1: Thứ tự mức vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo đăng kí (Một số đối tác đăng kí trên 1 tỉ USD – từ 1998 đến hết 2007) (Trang 45)
Bảng 2.3: Thứ tự một số địa phương dẫn đầu về thu hút vốn đầu tư - Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài : Hôn nhân có yếu tố nước ngoài  ở khu vực nam bộ hiện nay
Bảng 2.3 Thứ tự một số địa phương dẫn đầu về thu hút vốn đầu tư (Trang 47)
Bảng 1: Số lượng phụ nữ kết hôn theo từng năm tại Đồng Tháp - Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài : Hôn nhân có yếu tố nước ngoài  ở khu vực nam bộ hiện nay
Bảng 1 Số lượng phụ nữ kết hôn theo từng năm tại Đồng Tháp (Trang 269)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w