Bộ văn hóa-thể thao và du lịch Vụ gia đình báo cáo tổng kết chuyên đề nghiên cứu: xác định nhu cầu của các gia đình đối với việc nâng cao kiến thức, kỹ năng trong bảo vệ, chăm sóc và g
Trang 1Bộ văn hóa-thể thao và du lịch
Vụ gia đình
báo cáo tổng kết chuyên đề nghiên cứu:
xác định nhu cầu của các gia đình đối với việc nâng cao kiến thức, kỹ năng trong bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Thực hiện chuyên đề: ThS đặng Vũ cảnh linh
Thuộc đề tài KH&CN cấp bộ:
“đánh giá thực trạng năng lực chăm sóc, giáo dục
trẻ em của các gia đình khu vực nông thôn phía bắc”
Chủ nhiệm đề tài: ngô thị ngọc anh
7145-2
24/02/2009
Hà nội - 2008
Trang 2Th.s §Æng Vò C¶nh Linh
Hµ néi, th¸ng 2 n¨m 2008
Trang 3Mục lục
Thực trạng nhu cầu của gia đình về việc nâng cao kiến thức, kỹ năng trong chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em
9
Trang 4Công tác Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục Trẻ em từ lâu đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, coi đó là nhiệm vụ chiến lược quan trọng hàng đầu nhằm phát triển nguồn nhân lực kế cận, đáp ứng những yêu cầu và đòi hỏi của quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Đầu tư cho công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là hướng đầu tư cơ bản và thiết thực, đầu tư cho tương lai Nó cũng đồng nghĩa với việc đảm bảo những quyền lợi cơ bản của trẻ em, tạo điều kiện và cơ sở tốt nhất để các em được học tập, sinh hoạt và vui chơi giải trí trong môi trường sống lành mạnh từ gia đình cho đến xã hội
Những năm gần đây, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ngày càng được Đảng, nhà nước, các ban, bộ, ngành, các tổ chức đoàn thể và xã hội quan tâm và ngày càng được quy chuẩn hóa thông qua các văn bản pháp luật Chỉ thị 38-CT/TW ngày 20-5-1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VII)
về thực hiện Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Công ước quốc tế về quyền trẻ em và Chương trình Hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 1991-
2000 đã đạt được nhiều kết quả tốt Chúng ta cũng đã xây dựng và triển khai những mô hình xã hội hoá công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em tạị nhiều địa phương cơ sở và rút ra được những bài học kinh nghiệm tốt cho công tác quan trọng này Tổng hợp những kinh nghiệm của công tác chăm sóc giáo dục trẻ em trong nhiều năm qua, ngày 01 /6 /2004, Bộ trưởng, chủ nhiệm Uỷ ban
Dân số gia đình và trẻ em đã ra quyết định về việc ban hành bản “Hướng dẫn tiêu chuẩn xã phường phù hợp với trẻ em” với 24 tiêu chí cụ thể nhằm hướng tới
việc thực hiện cam kết của Nhà nước ta với Liên Hiệp Quốc về thực hiện xây dựng “Một thế giới phù hợp với trẻ em”
Trang 5Với hàng loạt chính sách được ban hành và triển khai trong thực tiễn, có thể thấy cho đến nay qua các số liệu thống kê, tình hình sức khỏe, học tập, đời sống văn hóa tinh thần của trẻ em nói chung đã có nhiều cải thiện Tỷ lệ tử vong
ở trẻ em dưới 5 tuổi và trẻ sơ sinh đã giảm đáng kể trong hai thập kỷ qua Với tỷ
lệ tiêm chủng luôn đạt ở mức cao, Việt Nam đã thanh toán được bệnh bại liệt vào năm 2000 cũng như bệnh uốn ván ở bà mẹ và trẻ sơ sinh vào năm 2005 Kể từ năm 1990 đến nay, tỷ lệ mắc bệnh sởi đã giảm 95% Còn trường hợp thiếu Vitamin A đã trở nên rất hi hữu
Bên cạnh đó quá trình đổi mới hệ thống giáo dục và đào tạo ở nước ta, trẻ
em cũng đã và đang được hưởng một nền giáo dục tốt hơn so với các thế hệ trước
đây Khoảng 97% trẻ em trong độ tuổi được học tiểu học Nhiều địa phương cũng đã hoàn thành chỉ tiêu 100% trẻ em được phổ cập giáo dục trung học cơ sở Chính phủ và ngành giáo dục cũng đã có nhiều biện pháp mạnh trong việc hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân, đổi mới chương trình, phương pháp giáo dục, tăng cường các hình thức hỗ trợ, tạo điều kiện học tập cho tất cả trẻ em Việt Nam đối với mọi cấp học và ngành nghề đào tạo
Tuy nhiên bên cạnh những thành quả đạt được, trên thực tế so với những chỉ tiêu của trẻ em thế giới, nước ta vẫn bị tụt hậu trong một số lĩnh vực chính liên quan tới trẻ em Theo báo cáo của UNICEF năm 2006, vẫn còn nhiều trẻ em tại các vùng miền khác nhau chưa được tiếp cận đầy đủ với nước sạch và các phương tiện vệ sinh môi trường phù hợp Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em còn quá cao (25% trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng) do các tập quán chăm sóc và nuôi dưỡng kém Chỉ có 19% trẻ sơ sinh được hoàn toàn bú sữa mẹ trong 4 tháng
đầu Một vấn đề cần cố gắng hơn là tạo điều kiện cho trẻ em được tiếp nhận giáo dục khi các em còn nhỏ tuổi (chỉ có chưa đến 47% trẻ em từ 3 - 5 tuổi được đi nhà trẻ) Ngoài những vấn đề tồn tại nêu trên, trẻ em Việt Nam còn phải đối mặt với những thách thức mới như điều tra về tai nạn thương tích ở Việt Nam cho thấy gần 75% trường hợp tử vong ở trẻ em trên một tuổi là do thương tích, qua
đó đưa ra một cách nhìn nhận mới về tử vong về bệnh tật ở trẻ em
Cùng với những thành tựu thu được từ công cuộc đổi mới, cơ chế thị trường hiện nay với những diễn biến phức tạp ở mặt trái của nó, đã và đang tồn
Trang 6tại những tác động tiêu cực đến các nhóm xã hội và trong đó trẻ em trở thành đối tượng nhạy cảm nhất, dễ bị tác động nhất Thực tế sự gia tăng tỷ lệ ly hôn, tình trạng xung đột gia đình, bạo lực gia đình, sự thiếu quan tâm của các bậc cha mẹ
đến con cái, những khó khăn về kinh tế gia đình, những thay đổi về giá trị, lối sống; trong đó có thái độ coi trọng đồng tiền, lối sống vị kỷ, thực dụng đang trở nên khá phổ biến ở nhiều gia đình Những điều này đã trở thành nguyên nhân chính khiến cho còn nhiều trẻ em không được sống trong vòng tay yêu thương của gia đình Thay vào đó, các em phải bỏ học, phải lang thang kiếm sống, phải lao động trong điều kiện độc hại và nguy hiểm Cũng có không ít trẻ em đã trở thành nạn nhân của nạn buôn bán trẻ em, lạm dụng tình dục trẻ em; thậm chí bị
đẩy vào con đường tiêm nhiễm các tệ nạn xã hội: mại dâm, ma tuý và vi phạm pháp luật Đối với hầu hết những trường hợp này, các em hầu như không được
đảm bảo những quyền cơ bản của mình như quyền được học tập, được chăm sóc,
được nuôi dưỡng và bảo vệ Theo ước tính của UNICEF, hiện nay có khoảng 2,6 triệu trẻ em Việt Nam đang ở trong diện đáng quan tâm này
Đối với riêng vấn đề bảo vệ trẻ em đã và đang trở thành một trong những vấn đề thời sự nóng hổi, thu hút khá nhiều sự quan tâm của công luận Theo thống kê không đầy đủ, trong năm 2007 đã có hàng ngàn vụ việc liên quan đến bạo hành, ngược đãi trẻ em được phát hiện, trong đó có những vụ việc đặc biệt nghiêm trọng như trường hợp em Bình bị vợ chồng chủ quán ở quận Thanh Xuân
đánh đập, hành hạ như một nô lệ suốt một thời gian dài mà không có bất kỳ sự can thiệp nào Trường hợp cô bảo mẫu Kim Hoa dùng biện pháp đánh đập và các hình phạt gây thương tích với các trẻ em mẫu giáo được gia đình gửi tại đây vừa qua cũng gây nên khá nhiều bất bình trong dư luận Ngay cả trong các mối quan
hệ gia đình ruột thịt, cũng có rất nhiều trường hợp như bố mẹ có hành vi như
đánh, trói, nhốt, bỏ đói, làm nhục, gây tổn thương về thể chất và tinh thần cho các em Một số trường hợp trẻ em đã tử vong sau những hình thức bạo hành như vậy Theo số liệu điều tra của Lê Thị Quý - Đặng Vũ Cảnh Linh tại Thái Bình, Phú Thọ và Hà Nội cho thấy có 63.5% các gia đình cho rằng hiện tượng cha mẹ
Trang 7đánh đập con cái còn là khá phổ biến Tỷ lệ này cao hơn so với các hình thức bạo hành gia đình khác 1
Vấn đề nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em cũng nổi lên với khá nhiều bức xúc, đặc biệt trong bối cảnh mà cha mẹ ngày nay ngày càng bận rộn,
ít dành thời gian quan tâm đến con cái và gia đình Thực tế cho thấy nuôi dưỡng
và chăm sóc trẻ em không phải là một vấn đề đơn giản, nó đòi hỏi ở việc xử lý những kiến thức, kỹ năng một cách khoa học, đồng thời là tinh thần trách nhiệm cao đối với từng công việc cụ thể Nhiều trường hợp được phản ánh qua báo chí thời gian gần đây, do bố mẹ thiếu hiểu biết về những kỹ năng chăm sóc đã dẫn
đến những hậu quả đáng tiếc với trẻ em và gia đình, gây thương tật, thậm chí tử vong ở trẻ
Bên cạnh đó, giáo dục trẻ em trong gia đình ngày nay cũng đứng trước hàng loạt những khó khăn và thách thức lớn Cha mẹ ngày nay trở nên khó đối thoại với con cái Một mặt do thời gian bận rộn của công việc kiếm sống đã tạo
ra khoảng cách ngày càng xa hơn giữa các thế hệ Mặt khác với những tác động mặt trái từ nền kinh tế thị trường, sự du nhập của lối sống và văn hóa phương Tây, sự bùng nổ của mạng internet khiến cho gia đình khó kiểm soát trẻ em hơn
Hệ quả của những thiếu hụt về giáo dục trong gia đình là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự gia tăng hàng loạt của những hành vi lệch chuẩn ở trẻ em và vị thành niên như hiện tượng ăn chơi, đua đòi, quan hệ tình dục trước hôn nhân, tiêm nhiễm tệ nạn xã hội và vi phạm pháp luật Nghiêm trọng hơn trong thời gian gần
đây có khá nhiều vụ việc liên quan đến trẻ em lựa chọn hành vi tự tử để chối bỏ những áp lực trong cuộc sống mà các em gặp phải
Từ thực tế cho thấy, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đang có nhiều khó khăn và sẽ không thể đem lại hiệu quả cao trong thực tiễn nếu thiếu đi những giải pháp đồng bộ, sự phối hợp chặt chẽ của các ban ngành đoàn thể, gia
đình và cộng đồng Trong đó, vai trò của gia đình là đặc biệt quan trọng Gia
đình là cái nôi nuôi dưỡng, chia xẻ tình cảm với mỗi con người, đồng thời cũng
là môi trường xã hội hóa đầu tiên và quan trọng nhất Nhiều nghiên cứu cho thấy, việc nghiên cứu, tìm hiểu, xác định đúng những nhu cầu của gia đình trong
1 Lê Thị Quý - Đặng Vũ Cảnh Linh (2007) Bạo lực gia đình - một sự sai lệch giá trị, trang 136
Trang 8việc được cung cấp kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một chìa khóa quan trọng của giải pháp truyền thông hướng vào gia đình góp phần cải thiện tình hình thực tế và nâng cao chất lượng của hoạt động bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong thời gian tới
1 Một số khái niệm cơ bản sử dụng trong chuyên đề
1.1 Khái niệm Gia đình
Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa về gia đình, song chủ yếu gia đình vẫn được nhiều nhà khoa học xác định đó là một nhóm xã hội dựa trên các mối quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống Gia đình có thể được hiểu như một tiểu xã hội với các mối liên hệ cấu trúc, chức năng toàn vẹn được xác định thông qua hoạt động của các thành viên trong gia đình và các mối quan hệ, tương tác cụ thể
Những chức năng cơ bản của gia đình là chức năng kinh tế ( sản xuất, phân phối, tiêu dùng), chức năng tái sản xuất con người, chức năng nuôi dưỡng, chăm sóc, tình cảm, chức năng xã hội hóa, giáo dục Bên cạnh đó, gia đình cũng được công nhận là một thiết chế xã hội với một hệ thống khá đầy đủ của tập hợp các khuôn mẫu, chuẩn mực, giá trị, các quy ước chung hướng tới thỏa mãn nhu cầu của cá nhân, gia đình và xã hội Với tư cách là một thiết chế bền vững trong lịch
sử loài người, gia đình đóng vai trò thực hiện chức năng duy trì và kiểm soát quan trọng đối với mọi hành vi và hoạt động của con người
Trong chuyên đề này, khái niệm gia đình được sử dụng để xác định mối quan hệ giữa cha mẹ, ông bà đối với con cái là trẻ em trong gia đình Các mối liên hệ về chức năng trong gia đình cũng được tập trung chủ yếu vào các hoạt
động bảo vệ, chăm sóc ( Chức năng nuôi dưỡng, chăm sóc, tình cảm) và giáo dục (chức năng xã hội hóa) đối với trẻ em
1.2 Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong gia đình
Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là các hoạt động nhằm duy trì chức năng cơ bản của gia đình đối trong việc đảm bảo những quyền lợi cơ bản và thiết thực nhất của trẻ em, tạo môi trường tốt để các em phát triển toàn diện từ tâm sinh lý, thể chất, sức khỏe cho đến trí tuệ, học vấn Điều 16, Luật Bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em quy định : “Cha mẹ hoặc người đỡ đầu là người trước tiờn chịu trỏch nhiệm về việc bảo vệ, chăm súc, nuụi dạy trẻ em, dành điều kiện
Trang 9tốt nhất cho sự phỏt triển của trẻ em Cha mẹ, cỏc thành viờn lớn tuổi khỏc trong gia đỡnh, người đỡ đầu phải làm gương tốt về mọi mặt cho trẻ em noi theo, khi gặp khú khăn tự mỡnh khụng giải quyết được, cú thể yờu cầu cơ quan hoặc tổ
Như vậy, việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em theo quy định của pháp luật được hiểu là trách nhiệm, nghĩa vụ của cha mẹ và những người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ em trong gia đình phải luôn duy trì và thực hiện Tuy nhiên thực tế cho thấy các hoạt động bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là khá nhiều và phức tạp, không có những quy định cụ thể về không gian, mức độ, tính chất và phạm
vi của các hoạt động này Về cơ bản có thể xác định hoạt động này qua một số tiêu chí sau :
Bảo vệ trẻ em là hoạt động trực tiếp gắn với việc thực hiện quyền trẻ em Gia đình có trách nhiệm trong việc bảo vệ sức khỏe, thể chất, tinh thần, tính mạng của các em, ngăn chặn các nguy cơ xâm hại đến trẻ em như đánh đập, bạo hành với trẻ em, bóc lột sức lao động trẻ em, lợi dụng trẻ em trong các hoạt động kinh tế, trục lợi, ngăn chặn tình trạng xâm hại tình dục trẻ em, buôn bán trẻ em, ngăn chặn các nguy cơ để trẻ em tiêm nhiễm thói hư, tập xấu, va vấp tệ nạn xã hội
Chăm sóc trẻ em là hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc về sức khỏe thể chất
và sức khỏe tinh thần cho các em, đảm bảo cho các em có cuộc sống khỏe mạnh
về vật chất và lành mạnh về tinh thần, phát triển một cách đầy đủ và toàn diện theo đúng các chỉ số quốc gia và quốc tế về trẻ em
Giáo dục trẻ em trong gia đình là hoạt động cung cấp tri thức khoa học, cách ứng xử và kỹ năng trong cuộc sống, quan hệ với mọi người, giá trị đạo đức, văn hóa xã hội, để trẻ em khi trưởng thành có đầy đủ kiến thức và phẩm chất để hội nhập với xã hội
1.3 - Nhu cầu của gia đình trong việc nâng cao kiến thức kỹ năng bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
1 http://laws.dongnai.gov.vn/1991_to_2000/1991/199108/199108160001/lawdocument_view
Trang 10- Khái niệm Nhu cầu: là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người
về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người cần có nhu cầu khác nhau.1
Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao Về mặt quản lý, kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc kiểm soát được cá nhân (trong trường hợp này, nhận thức có sự chi phối nhất định: nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự thỏa mãn nhu cầu.)
Nhu cầu của gia đình trong việc nâng cao kiến thức kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một nhu cầu được cung cấp thông tin, xuất phát từ thực tiễn và hướng tới việc thực hiện tốt những chức năng cơ bản của gia đình đối với trẻ em, đặc biệt là ở vị trí của cha mẹ và những người đang chịu trách nhiệm nuôi dưỡng các em Thực tế cho thấy, khi gia đình và xã hội càng biến đổi nhanh thì sự tác động tiêu cực tới trẻ em và công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em ngày càng nảy sinh những vấn đề khó khăn và phức tạp hơn Điều này càng làm tăng lên nhu cầu của gia đình trong việc cập nhật kiến thức, kỹ năng để có thể ứng xử với các tình huống, trẻ em, đồng thời có thể kiểm soát và điều chỉnh các hoạt này theo hướng tích cực và phù hợp với các chuẩn mực xã hội
2 Thực trạng nhu cầu của gia đình trong việc nâng cao kiến thức kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Sau ngày 01 /6 /2004, Bộ trưởng, chủ nhiệm Uỷ ban dân số gia đình và trẻ
em đã ra quyết định về việc ban hành văn bản “Hướng dẫn tiêu chuẩn xã phường phù hợp với trẻ em” với 28 chỉ tiêu được áp dụng đối với xã, phường, thị trấn
trong cả nước Đây là một văn bản pháp quy quan trọng, cụ thể hoá những cam kết của Việt Nam với Liên Hiệp Quốc và là cơ sở để đánh giá kết quả công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của xã, phường, thị trấn (cấp xã phường), quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố và cấp Trung ương Sau
ba năm thực hiện quyết định của Bộ trưởng, vừa qua Cục Trẻ em - Bộ Lao động - Thương Binh - Xã hội và Viện Nghiên cứu Truyền thống và Phát triển phối hợp
tổ chức nghiên cứu đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu này tại hai địa bàn tỉnh
1 http://vi.wikipedia.org/
Trang 11Hà Nam và Nghệ An Kết quả nghiên cứu cho thấy công tác bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em đã thu được những kết quả và những bài học kinh nghiệm nhất
động của các ban, ngành địa phương, đoàn thể, cộng đồng như đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, ban văn hóa thông tin tuyên truyền Trong đó phải kể tới là các lớp tập huấn về vấn đề bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em của Hội phụ nữ, Trung tâm y tế cơ sở
Thông qua mô hình huy động người dân tham gia sinh hoạt các câu lạc bộ như: câu lạc bộ không sinh con thứ ba, câu lạc bộ gia đình văn hóa, nuôi con khỏe dậy con ngoan,…những bậc cha mẹ cũng phần nào đó nắm được những kiến thức và kỹ năng cơ bản về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Hoạt động thông tin tuyên truyền ở các cấp cơ sở diễn ra thường xuyên có nội dung cụ thể, thiết thực phục vụ cho công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em
Tuy nhiên, nếu so sánh hai địa bàn thẩm định thì Hà Nam là tỉnh thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền tốt hơn Trong khi đó thì Nghệ An tiến hành công tác này còn rất là hạn chế, mức độ người dân được tiếp xúc với các loại thông tin ở mức độ rất thấp Lý giải cho thực tế này là nhận thức chung của một
số người dân tại cộng đồng còn hạn chế trong đó bao hàm cả nhận thức về kiến thức và kỹ năng bảo vệ,chăm sóc và giáo dục trẻ em Mặt khác công tác tuyên truyền tại địa phương Nghệ An cũng còn chưa thực sâu rộng, chưa thật sự tác
động tới người dân Hơn nữa hoạt động bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em tại
một số nơi vẫn còn có quan niệm hết sức đơn giản ví như “hoạt động chăm sóc giáo dục và bảo vệ trẻ em là cho các con ăn học đầy đủ, cố gắng dành cho con
điều kiện tốt nhất để cho chúng được học hành bằng bạn thôi”(PVS nữ, Hưng
Nguyên, Nghệ An.)
Trang 12Bên cạnh những hoạt động từ các cấp hội, đoàn thể của địa phương, còn tồn tại một số vấn đề trong tiêu chí này Nhìn chung, đối tượng tham gia các câu lạc bộ chủ yếu vẫn là phụ nữ và chỉ có một phần nhỏ là nam giới Do đó nhiều gia đình trong đó có một số gia đình trẻ chưa có điều kiện tiếp xúc với thông tin
về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em Như trường hợp của bí thư đoàn xã An Lão, huyện Bình Lục, Hà Nam Anh cho rằng mình chủ yếu mới chỉ tiếp xúc thông tin qua sách báo do trong quá trình công tác được tiếp cận Với đối tượng
là các bậc cha mẹ trẻ ở địa phương thì phần nhiều việc chăm sóc là do “một tay” người phụ nữ đảm nhiệm Các kiến thức chủ yếu là do cha mẹ truyền lại hoặc do kinh nghiệm Câu nói “con hư tại mẹ, cháu hư tại bà” xem ra vẫn còn tồn tại trong cộng đồng với vấn đề nuôi dạy con cái, đặc biệt là chăm sóc và giáo dục trẻ em
Điểm cần nhấn mạnh ở đây là các tiêu chuẩn cụ thể thế nào là nắm được các kỹ năng thì lại không rõ ràng Do vậy kỹ năng chăm sóc ,giáo dục trẻ em mới chỉ thể hiện ở một số điều Trên thực tế, có cả trường hợp gia đình cấm đoán hoạt động truy cập Internet của con trẻ, coi đây là hành vi “mắc lỗi lầm nghiêm trọng” Có cả trường hợp thầy cô giáo khi biết học sinh vào quán Internet thì đã buộc học sinh viết bản kiểm điểm và liên hệ về gia đình, vì việc làm này dẫn tới tâm lý rụt rè thậm chí còn có tâm lý “rất sợ Internet” của một số em học sinh trên địa bàn thẩm định
Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra một số trường hợp điển hình về việc thiếu hiểu biết của các bậc phụ huynh trong kỹ năng chăm sóc con trẻ Một số gia
đình luôn nghĩ rằng trẻ em đang ở độ tuổi đi học thì phải dành toàn thời gian cho việc học hành nên dẫn tới hành động cấm đoán các em vui chơi giải trí
Về phía trẻ em đang bước vào độ tuổi dậy thì trên thực tế các em chủ yếu
là tự tìm hiểu thông tin qua sách báo, các phương tiện truyền thông mà chưa có
được sự chỉ bảo từ phía gia đình ở mức độ cần thiết Trường hợp của một số em học sinh tại trường cấp II An Lão cho thấy, kiến thức về giới tính được các em trao đổi với nhau, đọc sách về vấn đề giới tính, sức khoẻ sinh sản vẫn còn rất hạn chế Điều đó cho thấy sự truyền dạy của các bậc phụ huynh là khá giới hạn
Trang 13Ngược lại với hầu hết các vị phụ huynh trong mẫu phỏng vấn sâu cho biết mặc dù được tuyên truyền và tập huấn song đối với họ kiến thức và kỹ năng học
được trong vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em còn khá chung chung và trừu tượng Mặt khác thời gian tham gia các khóa học và sinh hoạt câu lạc bộ lại
là khá ít, vì vậy đa số phụ huynh phải tự mình tìm hiểu qua các kênh thông tin khác và vận dụng linh hoạt trong các tình huống thực tế Điều này cũng lý giải tại sao lại có những hiểu biết sai và việc áp dụng kiến thức kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em chưa đem lại hiệu quả cao
Để xác định nhu cầu của gia đình trong việc được cung cấp và nâng cao kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, chúng tôi xin đi vào phân tích một số nội dung và chỉ báo cụ thể sau :
Nhu cầu được nâng cao kiến thức về pháp luật :
Hiểu biết, cư xử và hành động theo đúng các quy định của pháp luật là một trong những tiêu chí quan trọng đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh của mọi cá nhân và gia đình Trong vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, hiểu biết đúng về pháp luật không chỉ giúp cha mẹ thực hiện tốt nghĩa vụ và trách nhiệm của mình, đảm bảo quyền lợi của trẻ em, ngăn chặn các nguy cơ xâm hại trẻ em, mà bên cạnh đó những kiến thức pháp luật còn trở thành nền tảng tri thức
để cha mẹ truyền thụ, giáo dục lại trẻ em trong gia đình, góp phần phòng ngừa các hành vi sai lệch ở các em
Có thể thấy những văn bản pháp luật hiện nay liên quan đến công tác bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là khá nhiều, thể hiện quyết tâm của Đảng và nhà nước trong việc hướng tới xây dựng một xã hội đảm bảo quyền trẻ em và vì trẻ em Mặc dù vậy, thực tế cho thấy cũng như nhiều nội dung khác, với những khó khăn chủ quan và khách quan tác động, việc đưa luật vào cuộc sống ở nước
ta còn chưa đem lại hiệu quả cao và nhận thức pháp luật nói chung của các nhóm xã hội còn thấp
Theo kết quả điều tra của Lê Thị Quý - Đặng Vũ Cảnh Linh năm 2005 tại Phú Thọ, Thái Bình và Hà Nội, với danh mục 11 văn bản pháp luật liên quan đến trẻ em và gia đình có tỷ lệ người dân đã được đọc trực tiếp là không cao xếp theo thứ tự bao gồm Luật Hôn nhân gia đình (44.5%), Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo
Trang 14dục trẻ em (27.7%), Luật giáo dục (19.7%) và Công ước Quốc tế về quyền trẻ
em (15.5%) Các văn bản khác có tỷ lệ người trực tiếp đọc chiếm tỷ lệ dưới 10%
Riêng là Pháp lệnh Dân số 2003 lại mới chỉ có 7.9 % người đọc
Cũng trong nghiên cứu này ở mức độ người dân được nghe nói đến có hai
văn bản được lựa chọn nhiều nhất là : Luật Bảo vệ, Chăm sóc, Giáo dục trẻ em
(73.4%), Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em ( 72.1%) Ngoài ra là 60 % người
trả lời là các văn bản : Luật Giáo dục (68.7%), Công ước chống phân biệt đối xử
với phụ nữ (67.4%), Chương trình Hành động vì trẻ em đến 2010 (64.8%), Chiến
lược Quốc gia về chăm sóc sức khoẻ sinh sản 2000 đến 2010 (63.5%), Chương
trình Quốc gia vì Tiến bộ phụ nữ (63.1%) và Luật Hôn nhân gia đình (61.5%)
Các văn bản còn lại cũng có trên 50 % người trả lời được nghe nói đến
Bảng 1 : Hiểu biết các văn bản pháp luật liên quan đến gia đình ( %) 1
Các loại văn bản Đã đọc Được nghe Đã biết
Tìm hiểu sâu hơn về nhận thức của gia đình đối các văn bản pháp luật liên
quan đến bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, kết quả điều tra trong công trình
Gia đình học của Đặng Cảnh Khanh - Lê Thị Quý cho thấy, trình độ nhận thức
về pháp luật cũng như các chủ trương chính sách của các gia đình còn khá nhiều
hạn chế Chỉ có khoảng một nửa số gia đình được hỏi nói rằng họ đã biết khá rõ
1 Lê Thị Quý - Đặng Vũ Cảnh Linh, sđd, trang 128
Trang 15về Luật Hôn nhân và gia đình Số người biết không đầy đủ chiếm tới 47,4%, hoàn toàn không biết gì là 2,5% Đối với Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em con số người tự nhận mình có hiểu biết đầy đủ là 40,5% và tỷ lệ này giảm hơn đối với Công ước quốc tế về quyền trẻ em (27.1%) và Chương trình hành
động quốc gia về quyền trẻ em (21.8%)
Với những số liệu này, các tác giả đã bày tỏ sự lo ngại của mình : “ Sự thiếu hiểu biết luật pháp của các gia đình, đặc biệt là trong các lĩnh vực dân số
và chăm sóc giáo dục trẻ em đã là một sự trở ngại không nhỏ đối với công tác quản lý gia đình Chính gia đình phải chịu trách nhiệm đối với việc làm xuất hiện những hiện tượng trẻ em không được chăm sóc giáo dục đầy đủ, trẻ em lang thang, trẻ em bị lạm dụng, bị bóc lột sức lao động, phải đi làm thuê kiếm sống, không được đến trường, bị đánh đập, thậm chí bóc lột tình dục, sa vào các tệ nạn xã hội như nghiện hút, làm mại dâm , có thể nói sự thiếu hiểu biết về luật không chỉ là nguyên nhân khiến gia đình không nhận thức được trách nhiệm của minh đối với con trẻ mà còn là trở ngại cho việc can thiệp của chính quyền, cộng
đồng đối với đối với gia đình, buộc gia đình phải tuân thủ trách nhiệm của mình” 1
Một cuộc khảo sát gần đây của Viện Nghiên cứu Truyền thống và Phát triển phối hợp với Viện Nghiên cứu Thanh niên trên 600 thanh niên chuẩn bị kết hôn ở Hà Nội về nhận thức đối với Luật Hôn nhân và gia đình, kết quả khảo sát cho thấy có rất ít thanh niên có sự tìm hiểu về Luật hôn nhân và gia đình dù họ
được hiểu là những người sắp trở thành chủ gia đình Điều đáng chú ý là chỉ có 4.5% thanh niên có nghiên cứu cẩn thận Luật hôn nhân và gia đình và 95.5% còn lại là không tìm hiểu kỹ về lĩnh vực này Đa số các bạn trẻ chỉ được tiếp cận qua ti vi, đài báo (50.2%) Chỉ có 6.6% thanh niên đã từng đọc toàn bộ luật, 20%
là xem lướt qua một vài phần nội dung của luật Trong vấn đề này ở nhà trường cũng chưa được phổ biến nhiều, vì thế cho nên chỉ có 20.3% là được nghe nói
đến vấn đề luật trong nhà trường
1 Đặng CảnhKhanh - Lê Thị Quý (2007) Gia đình học, nhà xuất bản lý luận chính trị, Hà Nội
Trang 16Bảng 2: Tỷ lệ tiếp cận Luật hôn nhân và gia đình của thanh niên chuẩn bị kết hôn1
Tỷ lệ (%) Các chỉ báo
Có Không
Cũng trong công trình nghiên cứu này, tỷ lệ thanh niên chuẩn bị kết hôn
đ−ợc tiếp cận trực tiếp (đọc) với các văn bản pháp luật khác liên quan đến gia
đình và vấn đề bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em trong gia đình còn thấp hơn Chỉ có khoản 1/3 thanh niên đ−ợc đọc Luật Giáo dục và Luật Bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em (Xem bảng 3)
Bảng 3 : Tỷ lệ thanh niên chuẩn bị kết hôn tiếp cận các văn bản, nghị định liên
quan đến Luật HN&GĐ qua các kênh thông tin (%)
1 Đặng Vũ Cảnh Linh và cộng sự (2006) - Báo cáo đề tài Khảo sát thực trạng nhận thức về Luật Hôn nhân và gia
đình của thanh niên chuẩn bị kết hôn ở Hà Nội, ủyban Dân sô Gia đình và Trẻ em Hà Nội