Để nghiên cứu kỹ hơn về hoạt động của một ngân hàng trong môi trường cạnh tranh cao và đang là vấn đề thời sự hiện nay thì nhóm 4 nhóm 8G chọn ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong để
Trang 1Tiểu luận Hoạt động ngân hàng trong môi trường cạnh tranh tại ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
Phần I GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG T HƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TIÊN PHONG 5
1 Gi ới thiệu chung 5
2 Sản phẩm dịch vụ chính của TienPhongBank 6
a Khách hàng cá nhân 6
b Khách hàng doanh nghiệ p 6
c Thị trường vốn 6
Phần II CẤU T RÚC T HỊ T RƯỜNG CỦA NGÀNH NGÂN HÀN G 7
1 Các loại thị trường 7
a Cạnh tranh hoàn hảo 7
b Độc quyền 7
c Cạnh tranh có tính độc quyền 8
d Độc quyền nhóm 8
2 Cấu trúc thị trường 9
a Đặc điểm về thị trường 9
b Đặc tính về sản phẩm dịch vụ tài chính – ngân hàng 12
c Đặc tính cạnh tranh của ngành ngân hàng 14
1 Nhu cầu về dịch vụ ngân hàng 16
a Tổng quan chung về tăng trưởng kinh tế 16
b Vốn đầu tư trực tiế p vào sản xuất kinh doanh 17
c Xuất nhập khẩu 17
d Thu nhập bình quân 17
e Cầu dịch vụ ngân hàng và khoảng cách dịch vụ hiện nay 17
2 Khả năng cung ứng dịch vụ ngân hàng hiện nay 18
Phần IV P HÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CỦA TIENPHONGBANK 21
1 Kế t quả hoạt động của TienPhongBank 21
Trang 32 Dự báo doanh thu 06 tháng cuối năm 2011 21
3 Đánh giá hoạt động của TienPhongBank trong năm 2010 23
a Những hoạt động nổi bật của TienPhongBank 23
b Những tồn tại cơ bản 24
4 Mục tiêu và chiến lược thực hiện của TienPhongBank 25
a Mục tiêu trong hoạt động 25
b Mục tiêu trong kinh doanh 25
c Phát triển mạng lưới 26
d Chiến lược định giá 26
Phần V KẾT LUẬN 27
PHỤ LỤC T ÀI LIỆU T HAM KHẢO 28
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường và hội nhập như hiện nay, sự cạnh tranh của một số ngành đang trở nên rất gay gắt, một trong các ngành ấy là ngân hàng Thời gian gần đây, không ít ý kiến cho rằng số lượng ngân hàng tại Việt Nam là quá nhiều, “ra đến ngõ là gặp ngân hàng” Điều đó càng khẳng định tính gay gắt trong cạnh tranh giữa các ngân hàng Do đó có ý kiến cho rằng các ngân hàng muốn thành công hơn trong việc đạt được và cải thiện các mục tiêu kinh tế của mình thì cần biết rõ thị trường hoặc cấu trúc ngành và các lực đẩy cạnh tranh, cũng như ứng dụng các chiến lược cạnh tranh phù hợp vào hoạt động của mình
Để nghiên cứu kỹ hơn về hoạt động của một ngân hàng trong môi trường cạnh tranh cao
và đang là vấn đề thời sự hiện nay thì nhóm 4 (nhóm 8G) chọn ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong để làm rõ vấn đề
Với đề tài này, nhóm 4 cũng kỳ vọng nhấn mạnh hơn hiệu quả của Kinh tế Quản lý là cơ bản và cần thiết cho các doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp sản xuất hay các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ
Trong quá trình phân tích sẽ không tránh khỏi các thiếu sót, nên nhóm 4 rất mong nhận được đóng góp của các thành viên lớp học và đặc biệt là ý kiến chuyên môn của Giảng viên, Tiến Sĩ Đào Thị Bích Thủy để để tài được hoàn thiện hơn
Trang 5Phần I GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TIÊN PHONG
1 Giới thiệu chung
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong (TienPhongBank) được thành lập vào tháng 05/2008 bởi Công ty cổ phần FPT, Công ty thông tin di động VM S (M obiFone) và Tổng Công ty
Cổ phần Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (Vinare), TienPhon gBank được kế thừa các thế mạnh
về công nghệ thông tin, công nghệ viễn thông di động, tiềm lực tài chính và vị thế của các cổ đông lớn này mang lại TienPhon gBank xác định phát huy các ưu thế này để xây dựng cho mình một nền tảng bền vững và mang đến cho khách hàng cuộc sống tài chính đơn giản và hiệu quả hơn
FPT là cổ đông lớn nhất với 16.90% cổ phần, đóng vai trò quan trong việc hỗ trợ công nghệ
và kinh nghiệm khai thác các giải pháp công nghệ thông tin tron g hoạt động của Ngân hàng Các khách hàng của TienPhon gBank cũng được hưởng lợi khi sử dụng các sản phẩm, dịch vụ khác của FPT như viễn thông, máy tính, điện thoại di động, chứng khoán, đầu tư…nhờ các gói dịch vụ trọn gói của TienPhon gBank phối hợp với FPT
Tổng Công ty Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (Vinare) là cổ đông lớn của TienPhon gBank với số vốn góp 10% Vinare góp phần quan trọng cho TienPhongBank về tiềm lực tài chính, hệ thống đối tác rộng khắp và kinh nghiệm, chuyên môn sâu trong lĩnh vực quản trị tài chính
Công ty Thông tin di động VM S (M obiFone) cũng là cổ đông lớn của TienPhon gBank với số vốn góp 4.76% VM S (M obiFone) đóng vai trò chiến lược trong việc hỗ trợ các giải pháp về việc
sử dụng các dịch vụ ngân hàng thông qua kênh điện thoại di động (M obile Banking) với chất lượng dịch vụ cao M obile Banking là một yếu tố không thể thiếu của một ngân hàng hiện đại nhằm phục vụ các khách hàng một cách nhanh chóng và thuận tiện Các khách hàng của
M obiFone cũng sẽ được hưởng lợi khi có thêm sự lựa chọn trong việc sử dụng dịch vụ ngân hàng thông qua mạng di động chất lượng cao mà họ gắn bó
Trang 62 S ản phẩm dịch vụ chính của TienPhongBank
a Khách hàng cá nhân
TienPhongBank cung cấp các dịch vụ cho khách hàng cá nhân một cách toàn diện, bao gồm dịch vụ tài khoản, tiết kiệm, cho vay, kiều hối,… với khả năng sử dụng linh hoạt, thích hợp với các nhu cầu và điều kiện khác nhau của từng khách hàng
b Khách hàng doanh nghiệp
Các khách hàng doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ, và kinh doanh cá thể được cung cấp những dịch vụ dành riêng cho nhu cầu đặc thù của từng loại hình, với những gói dịch vụ nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp như thu/chi tiền hộ, thực hiện giao dịch tại văn phòng khách hàng, giao dịch qua internet với bất kỳ thời gian nào
c Thị trường vốn
Nhắm tới sự phát triển vững chắc cho ngân hàng thông qua việc đầu tư vào giao dịch ngoại hối, tiền tệ, chứng khoán và các sản phẩm phái sinh
Trang 7Phần II CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CỦA NGÀNH NGÂN HÀNG
1 Các loại thị trường
a Cạnh tranh hoàn hảo
– Có nhiều người bán và n gười mua nhỏ, không ai trong số họ đủ lớn để có thể bằng hành động của mình ảnh hưởng đến giá thị trường
– Sản phẩm đồng nhất, có nghĩa là sản phẩm của nhưn g người bán được coi là hoàn toàn giống nhau va có thể thay thế tuyệt đối
– Việc gia nhập thị trường là tự do, như thể không doanh nghiệp nào muốn cạnh tranh với các doanh nghiệp đang tồn tại
– Thông tin đầy đủ hay mọi thành viên có sự hiểu biết hoàn hảo về các cơ hội của thị trường
– Tính di động hoàn hảo của tất cả các yếu tố sản xuất
Trang 8Độc quyền tối đa hóa lợi nhuận
– Trong độc quyền nhóm, có một số ít các hãng lớn trong ngành Tuy nhiên, sản phẩm hoặc
có sự đồng nhất hoặc có sự khác biệt hóa
Trang 9– Có sự phụ thuộc lẫn nhau cao: Quyết định của một hãng có ảnh hưởng tới quyết định của các hãng khác và ngược lại
– M ỗi hãng nắm một số quyền lực thị trường
– Có rào cản đáng kể cho việc gia nhập ngành
2 Cấu trúc thị trường
a Đặc điểm về thị trường
Quy mô và năng lực tài chính
Thị trường ngân hàng có sự phân hóa rõ nét giữa các khối ngân hàng: Hiện có khoảng 80 ngân hàng đang hoạt động tại Việt Nam bao gồm 5 ngân hàng thươn g mại quốc doanh, 39 ngân hàng thương mại cổ phần, 33 chi nhánh ngân hàng nước ngoài và 5 ngân hàng liên doanh Giữa các nhóm ngân hàng này có sự phân hóa rõ nét v ề quy mô, thị phần, đối tượng khách hàng cũng như chiến lược phát triển
Quy mô tài sản và vốn chủ sở hữu của các ngân hàng Việt Nam trong những năm qua đã có
sự tăng trưởng mạnh tuy nhiên còn thấp hơn nhiều so với mức trung bình trong khu vực Khối ngân hàng Thương mại Quốc doanh có quy mô vượt trội, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng chậm hơn
so với khối ngân hàng Thươn g mại Cổ phần
Biểu đồ tăng trưởng tổng tài sản năm 2007 (ĐVT: 1000 tỷ VND)
Biểu đồ tăng trưởng vốn điều lệ năm 2007 (ĐVT: 1000 tỷ VND)
Trang 10Sự tăng trưởng nhanh về quy mô vốn giúp các Ngân hàng cải thiện đáng kể năng lực tài chính Hệ số an toàn vốn (CAR) trung bình của các ngân hàng Thương mại Quốc doanh tăng từ 7% trong năm 2006 lên 9% trong năm 2007, tỷ lệ này của các ngân hàng Thương mại Cổ phần bình quân trên 12% Trong những năm tới xu hướng tăng vốn của các Ngân hàng sẽ tiếp tục diễn
ra đặc biệt là đối với khối ngân hàng Thương mại Quốc doanh
Thị phần hoạt động
Thị phần giữa các khối ngân hàng có sự chuyển dịnh mạnh từ khối ngân hàng Thương mại Quốc doanh sang khối ngân hàng Thươn g mại Cổ phần trong những năm gần đây, đặc biệt là hai năm 2006 và 2007
Bảng thị phần cho vay giai đoạn 2000 – 2007
Bảng thị phần huy động giai đoạn 2000 – 2007
Khối ngân hàng Thương mại Quốc doanh: hiện vẫn đang chiếm thị phần chi phối trên các
mảng hoạt động chính Tuy nhiên thị phần của khối này đang có xu hướng thu hẹp do sự cạnh tranh mạnh mẽ từ khối ngân hàng Thương mại Cổ phần và ngân hàng nước ngoài Trong 2 năm
2006 - 2007, thị phần của khối này giảm mạnh là do các ngân hàng Thương mại Quốc doanh không tập trung nhiều vào tăng trưởng hoạt động mà tập trung vào việc tăng cường năng lực tài chính cũng như quản lý chất lượng tín dụng để chuẩn bị cho quá trình cổ phần hóa
Khối ngân hàng Thương mại Cổ phần: thị phần tăng nhanh đặc biệt trong năm 2006 và
2007 cho thấy sự phát triển nhanh chóng và sức cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ của khối này trên thị trường
Khối ngân hàng nước ngoài và liên doanh: đây là khối có sự tăng trưởng nhanh và khá
đều đặn về số lượng ngân hàng Thị phần hoạt động của khối này khá ổn định nguyên nhân là do
Trang 11phải chịu quy định hạn chế đối với việc huy động vốn bằng đồng VND từ khách hàng cá nhân, khả năng mở rộng thị phần bị hạn chế
Mạng lưới hoạt động
Hệ thống mạng lưới của các ngân hàng Thương mại Quốc doanh đã được phát triển từ lâu và bao phủ khắp trên cả nước Đặc biệt là hệ thống chi nhánh của Ngân hàng Nôn g nghiệp và phát triển nông thôn có mặt đến từng xã trên các địa bàn Cùng với thương hiệu lớn, hệ thống mạng lưới của các ngân hàng Thương mại Quốc doanh đã giúp các ngân hàng này duy trì thị phần chi phối trên các mảng hoạt động chính như huy động vốn và tín dụng trong thời gian qua
Bảng so sánh số lượng chi nhánh của một số ngân hàng năm 2007
Các ngân hàng Thương mại Cổ phần đang nỗ lực trong việc mở rộng mạng lưới, đặc biệt là các ngân hàng đứng đầu như ACB, STB, TCB,… Tốc độ phát triển mạng lưới của các ngân hàng này rất nhanh và có trọng điểm M ạng lưới của các ngân hàng Thương mại Cổ phần tập trung chủ yếu tại các thành phố lớn, các khu đô thị có mức sống cao do đó các chi nhánh này thường có hiệu quả tốt ngay từ khi đi vào hoạt động
Có sự phụ thuộc lẫn nhau cao
Ngân hàng được xem là lĩnh vực kinh doanh mang lại lợi nhuận cao, nhưng cũng hết sức nhạy cảm Sự sụp đổ của một ngân hàng thương mại có thể dẫn đến phản ứng dây chuyền kéo theo sự sụp đổ của cả hệ thống ngân hàng và tác động mạnh đến sự ổn định của nền kinh tế
Đặc điểm dễ nhận thấy rằng nguồn vốn hoạt động chủ yếu của các ngân hàng thương mại Việt Nam là nặng về huy động vốn từ trong dân cư Nếu để phá sản một ngân hàng, người dân gửi tiền vào ngân hàng đó sẽ phải gánh chịu hậu quả, kèm theo nhiều vấn đề xã hội phức tạp Ngoài ra, nền kinh tế cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng với các hệ quả dây chuyền, thậm chí “sinh mệnh” các ngân hàng khác cũng có nguy cơ bị đe dọa nếu dân chúng mất lòng tin, đồng loạt đi rút tiền Do đó, Ngân hàng Nhà nước phải gánh trọng trách là “người cho vay cuối cùng” nhằm mục đích quản lý, duy trì sự bình ổn của hệ thống ngân hàng và sự bình ổn của cả nền kinh tế
Trang 12Ngoài ra, trong thời gian gần đây có hiện tượng một số ngân hàng quyết định lãi suất huy động vốn cao bất thường, điều này khiến các ngân hàng khác cũng phải nâng lãi suất huy động vốn để giữ khách hàng và đảm bảo nguồn vốn của chính mình
Có rào cản đáng kể cho việc gia nhập ngành
Yêu cầu về vốn hiện nay đối với các ngân hàng tương đối lớn Theo quy định của ngân hàng Nhà nước thì vốn điều lệ tối thiểu của các ngân hàng thương mại tính đến 31/12/2010 là 3000 tỷ đồng Đây là con số không nhỏ và là rào cản gia nhập ngành ngân hàng
Việc tạm ngưn g cấp phép thành lập ngân hàng mới của Chính phủ từ tháng 08/2008 là một rào cản lớn N goài các quy định về vốn điều lệ, quãng thời gian phải liên tục có lãi, các ngân hàng mới thành lập còn bị giám sát chặt bởi ngân hàng Nhà nước Tuy nhiên, điều đó sẽ không thể ngăn cản những doanh nghiệp đủ điều kiện tham gia vào ngành ngân hàng một khi Chính phủ cho phép thành lập ngân hàng trở lại
Rào cản gia nhập còn được thể hiện qua các phân khúc thị trường và thị trường mục tiêu của ngân hàng M ột khi các ngân hàng hiện tại đã xây dựng được cho mình một thương hiệu bền vững, với những sản phẩm, dịch vụ tài chính hiệu quả và khác biệt, cộng với một cơ sở khách hàng đông đảo và trung thành thì chi phí chuyển đổi để lôi kéo khách hàng của ngân hàng mới thành lập sẽ cực kỳ cao, do đó họ bắt buộc phải cân nhắc thật kỹ trước khi quyết định có gia nhập thị trường ngân hàng hay không
M ột rào cản khác nữa là hệ thống phân phối của các ngân hàng Các ngân hàng mới sẽ gặp khó khăn trong việc tìm địa điểm để đặt văn phòng hay các phòng giao dịch, bởi các vị trí thuận tiện đã bị các ngân hàng đang hoạt động dành mất Điều này khiến cho chi phí chuyển đổi càng cao và cũng là một trong các lợi thế cạnh tranh của các ngân hàng hoạt động lâu năm với các ngân hàng mới
b Đặc tính về sản phẩm dịch vụ tài chính – ngân hàng
Giá, tính đa dạng loại hình sản phẩm dịch vụ, độ an toàn tài chính
Giá trị sản phẩm dịch vụ ngân hàng được thực hiện thông qua sự thỏa thuận của ngân hàng
và khách hàng, nhưng dưới sự hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ Việc định giá cho sản phẩm của ngân hàng tùy thuộc vào khả năng nắm bắt quy luật biến động giá cả của tiền
tệ Tuy vậy, trong lĩnh vực ngân hàng, thời gian để thực hiện chu trình sản phẩm của ngân hàng thường không ngắn Do đó, rủi ro sẽ rất cao (tỷ lệ thuận với thời gian thực hiện nghiệp vụ) khi giá cả biến động đột ngột, ngân hàng không thể kịp thời điều chỉnh, nhất là đối với các nghiệp
vụ kinh doanh tiền tệ hay cho vay với giá cả hoặc lãi suất ấn định ngay từ thời điểm thực hiện nghiệp vụ
Trang 13Hầu hết các sản phẩm dịch vụ tài chính ngân hàng đều có tính năng tương tự như nhau Trong thời gian tới, khi cạnh tranh ngày càng tăng và điều kiện sản phẩm mang tính tương đồng
và dễ bắt chước, do vậy các ngân hàng cung cấp dịch vụ cần phải có được sự tinh tế trong nhận biết nhu cầu để mang lại tiện ích dù nhỏ nhưng rất thiết thực, ví dụ như p hát huy lợi thế của thẻ liên kết để phát hiện nhu cầu mới về dịch vụ thẻ cũng như các dịch vụ liên quan khác để tạo điều kiện khác biệt hóa sản phẩm
Hiện nay, sản phẩm dịch vụ tài chính của các ngân hàng trong nước còn mang tính truyền thống, nghèo nàn về chủng loại, chất lượng dịch vụ thấp, tính tiện ích chưa cao, chưa định hướng theo nhu cầu khách hàng; Các ngân hàng cần phải có sự phát triển đồng bộ từ sản phẩm tiện ích và qua đó đưa ra mức phí hợp lý, tránh để tình trạng khách hàng coi thường dịch vụ cung cấp
S ự thuận tiện về địa điểm, điều kiện giao dịch, tính năng tiện ích của sản phẩm
Tiện ích của sản phẩm dịch vụ ngân hàng cung ứng cho khách hàng cao, thì giá trị sản phẩm dịch vụ của ngân hàng lớn, thỏa mãn tối đa nhu cầu khách hàng Tuy nhiên, mỗi khách hàng xem xét đánh giá giá trị sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng rất khác nhau, tùy thuộc mức độ thỏa mãn nhu cầu theo đặc điểm riêng của khách hàng, mức độ nhanh chóng, chính xác, dễ dàng khi giao dịch; mức phí nghiệp vụ tùy theo sự chấp nhận của mỗi khách hàng, v.v…
Do cải cách căn bản các kênh phân phối theo chiều sâu bên cạnh việc vẫn tiếp tục mở rộng
“vùng phủ sóng” các chi nhánh của các ngân hàng Thương mại đã tạo được sự thuận tiện cho khách hàng đến giao dịch tại ngân hàng
Tuy nhiên, hiện nay hệ thống kênh phân phối của ngân hàng chưa đa dạng, hiệu quả thấp, phương thức giao dịch và cung cấp các dịch vụ chủ yếu vẫn là giao dịch trực tiếp tại quầy, các hình thức giao dịch từ xa dựa trên nền tảng công nghệ thông tin chưa phổ biến Dịch vụ ngân hàng điện tử chưa được triển khai rộng rãi, lượng khách hàng sử dụng còn ít, nhiều ngân hàng mới chỉ hoạt động ở mức độ thử nghiệm, giao dịch thanh toán thương mại điện tử còn hạn chế, chưa ứng dụng được hình thức thanh toán qua điện thoại di động sử dụng tài khoản ngân hàng; Gắn liền việc cung ứng tín dụng với việc đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, phát triển mạnh mẽ các sản phẩm bảo lãnh, thanh toán quốc tế, thanh toán trong nước, chuyển kiều hối, thẻ ghi nợ nội địa cùng các dịch vụ ngân hàng điện tử trên cơ sở nền tảng công nghệ lõi, đáp ứng cao nhất cao nhất nhu cầu của thị trường và của khách hàng, bứt phá để hội nhập sâu rộng vào nền kinh
tế toàn cầu
Yếu tố con người về sự thỏa mãn, hài lòng của khách hàng về sản phẩm, kỹ năng,
trình độ, thái độ phục vụ của nhân viên
Trang 14M ột đặc tính đặc thù của hoạt động ngân hàng là tình trạng tài chính của một ngân hàng phụ thuộc vào niềm tin của khách hàng gửi tiền vào giá trị tài sản của ngân hàng đó Giá trị sử dụng, của sản phẩm dịch vụ ngân hàng mang tính lợi ích cho khách hàng, đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, thực hiện thanh toán, chuyển tiền tài trợ thuê mua,v.v…, tạo thuận lợi cho khách hàng hoạt động kinh doanh có lãi
Để phát triển và thành công trên thị trường tài chính Việt Nam khi có nhiều ngân hàng nước ngoài góp mặt thì điều quan trọng nhất là phải tạo được lòng tin đối với khách hàng bằng chất lượng dịch vụ M ặt khác, ngân hàng cần tiếp cận gần hơn với người tiêu dùng thông qua mạng lưới hoạt động Có như vậy, người dân trên mọi miền đất nước mới có cơ hội sử dụng những sản phẩm, dịch vụ tiện ích mà ngân hàng đem lại
Khả năng phát triển bền vững, kết quả hoạt động kinh doanh, quản lý rủi ro, công nghệ thông tin, chất lượng điều hành, những đóng góp cho thị trường tài chính ngân hàng trong nước
là những tiêu chí hoạt động mà các tổ chức tín dụng nước ngoài quan tâm Đây cũng là một trong những thách thức đối với NHTM trong nước
Khách hàng rất quan tâm đến giá trị và tính hấp dẫn của quà tặng khi gửi tiền tiết kiệm Bên cạnh đó, lãi suất (hay còn gọi là giá) của sản phẩm hợp lý cũng là một yếu tố khiến khách hàng quan tâm
Do sản phẩm dịch vụ tài chính ngân hàng quá tương đồng nên có sự cạnh tranh về giá gay gắt, trong đó hầu hết các ngân hàng đều miễn giảm phí phí dịch vụ và tạo thêm nhiều tiện ích cho khách hàng Ngoài ra, phong cách phục vụ tận tình, thân thiện và mang tính chuyên nghiệp của nhân viên ngân hàng sẽ góp phần tăng trưởng số lượng khách hàng và doanh số sản phẩm dịch vụ ngày một nhiều hơn
c Đặc tính cạnh tranh của ngành ngân hàng
Tiền gửi khách hàng thiếu ổn định và thường trong ngắn hạn
Gần 80% nguồn huy động của ngân hàng là từ tiền gửi khách hàng bao gồm khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp Chiếm 20% trong tiền gửi khách hàng là nhóm tiền huy động
từ dân, nhóm này không có tính ổn định cao do độ co giãn về cầu gửi tiền của họ rất lớn M ột người gửi tiền hưởng lãi hoàn toàn có thể rút tiền từ ngân hàng này và gửi vào một ngân hàng khác khi có chênh lệch lãi suất tiền gửi thậm chí là rất thấp
Khối doanh nghiệp (80% huy động khách hàng) có tính ổn định hơn son g tiền huy động từ doanh nghiệp thường là tiền mặt dư t hừa trong ngắn hạn Điều này gây khó khăn không ít trong việc dự báo và cân bằng thanh khoản của các ngân hàng thươn g mại