1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

báo cáo môn học tài chính quốc tế khủng hoảng tài chính hiện nay

38 415 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khủng Hoảng Tài Chính Hiện Nay
Tác giả Huỳnh Phước Nguyên, Nguyễn Vĩnh Cường, Phạm Đức Hạnh, Trần Hồng Nhân, Đinh Gia Nam, Lê Vũ Trọng Tài, Đặng Trần Toàn, Lưu Công Định, Dương Văn Trí, Trần Thị Hoài Nhung, Lê Thị Thùy Yến, Nguyễn Hùng Cường, Nguyễn Phương Đông
Người hướng dẫn GV: Diệu Thảo
Trường học Trường Đại Học Mở TP.HCM
Chuyên ngành Tài Chính Quốc Tế
Thể loại báo cáo
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 629,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khủng hoảng tài chính Nhóm 9 PHẦN 1 TOÀN CẢNH CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 2007 -2008 1.1- Diễn tiến của cuộc khủng hoảng Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007 – 2008 bắt nguồn từ tình trạ

Trang 1

Khủng hoảng tài chính Nhóm 9

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM

Môn học TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

Trang 3

Khủng hoảng tài chính Nhóm 9

MỤC LỤC

Phần 1 - Toàn cảnh cuộc khủng hoảng tài chính 2007 -2008

1.1- Diễn tiến của cuộc khủng hoảng

1.2- Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng

1.2.1 – Cho vay dưới chuẩn

1.2.2 – Bong bóng thị trường bất động sản

1.2.4 - Khủng hoảng niềm tin

1.2.5 – Tâm lý ỷ lại

1.2.6 – Mua bán khống

1.3- Tác động của cuộc khủng hoảng

1.4- Phản ứng của Mỹ và các quốc gia

1.4.1 – Phản ứng của chính phủ Mỹ

1.4.2 – Phản ứng của các khu vực, các quốc gia khác

Phần 2 - Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng đến Việt Nam

Trang 4

Khủng hoảng tài chính Nhóm 9

PHẦN 1 TOÀN CẢNH CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 2007 -2008

1.1- Diễn tiến của cuộc khủng hoảng

Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007 – 2008 bắt nguồn từ tình trạng bong bóng

của thị trường nhà đất ở Mỹ (tình trạng này diễn ra trong khoảng năm 2005-2006) với

những khoản vay dưới chuẩn có nguy cơ rủi ro cao và các khoản thế chấp có lãi suất

điều chỉnh Từ vài năm trước đó, giá nhà tăng cao cùng với việc được phép vay với điều

kiện rất đơn giản, nhiều khách hàng đã tranh thủ tiền của các ngân hàng đầu tư để đầu

cơ vào bất động sản với hy vọng kiếm được nhiều tiền từ các khoản mua bán chênh

lệch

hiện rõ nét nhất của một quá trình “khủng hoảng” rất lâu trước đó Điểm lại những mốc

sự kiện chính trong chuỗi này để thấy khủng hoảng đã diễn ra như thế nào:

 Tháng 6/2007: Hai quỹ phòng hộ (hedge fund - một loại quỹ có tính đại

chúng thấp và không bị quản chế quá chặt) của Bear Stearns - ngân hàng đầu tư lớn thứ

5 của Mỹ - quỵ ngã sau khi đánh cược vào các chứng khoán được đảm bảo bằng các

khoản cho vay bất động sản dưới chuẩn ở Mỹ

 Ngày 15/10/2007: Citigroup - Tập đoàn ngân hàng hàng đầu nước Mỹ - công

bố lợi nhuận Quý 3 bất ngờ giảm 57% do các khoản thua lỗ và trích lập dự phòng lên

tới 6,5 tỷ USD Giám đốc điều hành Citigroup Charles Prince từ chức vào ngày 4/11

 Ngày 11/1/2008: Bank of America - ngân hàng lớn nhất nước Mỹ về tiền gửi

và vốn hoá thị trường - đã bỏ ra 4 tỉ USD để mua lại Countrywide Financial sau khi

ngân hàng cho vay thế chấp địa ốc này thông báo phá sản do các khoản cho vay khó đòi

quá lớn

 16-17/3/2008: Bear Stearns được bán cho Ngân hàng Đầu tư Mỹ JP Morgan

Chase với giá 2 đôla một cổ phiếu

 29/4/2008: Deutsche Bank lần đầu tiên trong năm năm công bố một khoản

thua lỗ trước thuế sau khi buộc phải trích lập dự phòng 4,2 tỷ USD cho các khoản nợ

xấu và các chứng khoán được đảm bảo bởi các khoản thế thấp bất động sản

Trang 5

Khủng hoảng tài chính Nhóm 9

 11/7/2008: Chính quyền liên bang Mỹ đoạt quyền kiểm soát Ngân hàng

IndyMac Bancorp Đây là một trong những vụ đóng cửa ngân hàng lớn nhất từ trước tới

nay sau khi những người gửi tiền đã rút ra hơn 1,3 tỷ USD trong vòng 11 ngày

 31/7/2008: Deutsche Bank công bố khoản trích lập dự phòng tiếp theo là 3,6

tỷ USD, nâng tổng số tiền ngân hàng này mất lên 11 tỷ USD Deutsche Bank trở thành

một trong 10 nạn nhân lớn nhất của cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu

soát hai tập đoàn chuyên cho vay thế chấp Fannie Mae và Freddie Mac nhằm hỗ trợ thị

trường nhà đất Mỹ

 11/9/2008: Lehman Brothers tuyên bố đang nỗ lực tìm kiếm đối tác để bán lại

chính mình Cổ phiếu của ngân hàng đầu tư này tụt giảm 45%

 14/9/208: Bank of America cho biết sẽ mua Merrill Lynch với giá 29 USD/cp

cửa trở lại sau vụ khủng bố 2 toà tháp đôi tại Mỹ vào Tháng 9 năm 2001 Lehman

Brothers sụp đổ đánh dấu vụ phá sản lớn nhất tại Mỹ; Merrill Lynch bị Bank of

America Corp thâu tóm; American International Group - tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế

giới mất khả năng thanh toán do những khoản thua lỗ liên quan tới nợ cầm cố

 16/9/2008: Ngân hàng trung ương các nước trên thế giới đã đổ hàng tỉ USD

vào các thị trường tiền tệ với nỗ lực hạ nhiệt tình trạng căng thẳng và ngăn chặn sự

đóng băng của hệ thống tài chính toàn cầu Cổ phiếu AIG giảm gần một nửa Fed công

bố kế hoạch bơm 85 tỷ USD vào AIG và nắm giữ 80% cổ phần Ngân hàng Barclays

của Anh mua lại một phần tài sản tại Bắc Mỹ của Lehman với trị giá 1,75 tỷ USD

 17/9/2008: Cổ phiếu của Goldman Sachs và Morgan Stanley giảm mạnh; Tập

đoàn Lloyds TSB của Anh mua lại đối thủ HBOS; Uỷ ban Chứng khoán Mỹ kiềm chế

tình trạng bán khống

 19/9/2008: Các thị trường chứng khoán thế giới tăng vọt sau khi Mỹ công bố

kế hoạch mua lại tài sản của các tập đoàn tài chính đang gặp khó khăn, giúp làm thanh

sạch hệ thống tài chính

 20-21/9/2008: Công bố các chi tiết bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD Hai

ngân hàng Goldman Sachs và Morgan Stanley được chuyển đổi thành tập đoàn ngân

hàng đa năng, đánh dấu sự kết thúc mô hình ngân hàng đầu tư tại Phố Wall

Trang 6

Khủng hoảng tài chính Nhóm 9

 22/9/2008: Tập đoàn Nomura Holdings của Nhật trả 525 triệu USD để thâu

tóm hoạt động của Lehman tại châu Á Sau đó, Nomura cũng mua lại Lehman tại châu

Âu và Trung Đông Mitsubishi UFJ Financial đồng ý mua 20% cổ phần Morgan

Stanley

 25/9/2008: Washington Mutual Inc (WaMu), một trong những ngân hàng lớn

nhất Mỹ đã sụp đổ cũng do đã đánh cược rất lớn vào thị trường cho vay thế chấp Cơ

quan Bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ (FDIC) đã đoạt quyền kiểm soát WaMu và sau đó

bán các tài sản của ngân hàng tiết kiệm lớn nhất Mỹ cho JPMorgan Chase & Co với giá

1,9 tỷ USD Với 307 tỷ USD tổng tài sản, WaMu đã trở thành ngân hàng bị phá sản lớn

nhất trong lịch sử Mỹ

Trong khi đó tại Washington D.C., các thành viên chủ chốt trong quốc hội đã

đồng ý về những điều khoản chính trong kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD

chính Mỹ Phản ứng ngay lập tức với quyết định trên, chỉ số công nghiệp Dow Jones tụt

giảm gần 780 điểm - mức giảm trong một ngày mạnh nhất từ trước tới nay

 1/10/2008: Thượng viện Mỹ thông qua bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD (tỷ

lệ 74-25) với một số điểm đã được thay đổi, bao gồm: gia hạn đạo luật cắt giảm thuế

thu nhập cho doanh nghiệp và cá nhân (dự tính sẽ làm ngân sách thất thu 149 tỷ USD);

tăng hạn mức bảo hiểm tiền gửi tại Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Liên bang từ 100.000

USD lên 250.000 USD

 3/10/2008: Sau 3 giờ thảo luận và thuyết phục nhau, Hạ viện Mỹ đã bỏ phiếu

lần thứ hai và thông qua dự luật giải cứu với tỷ lệ phiếu 262-171 Không đầy 2 giờ sau

đó, Tổng thống Mỹ đặt bút ký để chính thức chuyển kế hoạch thành đạo luật

 8/10/2008: Trong một nỗ lực phối hợp chưa từng có tiền lệ, Cục dự trữ liên

bang Mỹ (Fed), Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và 4 ngân hàng trung ương các

nước khác đã đồng loạt cắt giảm lãi suất nhằm giảm ảnh hưởng nghiêm trọng của cuộc

khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại suy thoái năm 1930

 14/10/2008: Chính phủ Mỹ công bố dành 250 tỉ USD trong gói giải cứu 700

tỉ USD để rót vào các ngân hàng lớn, đổi lại sẽ nhận được cổ phiếu ưu đãi của các ngân

hàng này Đây là bước thay đổi lớn trong chiến lược giải cứu, vì trong kế hoạch ban đầu

Chính phủ vẫn hướng đến giải pháp mua lại nợ xấu ngân hàng, không mua cổ phần

Trang 7

Khủng hoảng tài chính Nhóm 9

 25/11/2008 : Cục Dự trữ liên bang Mỹ công bố sẽ sử dụng khoảng 800 tỷ

USD để cải thiện thị trường tín dụng cho những người mua nhà, người tiêu dùng và các

doanh nghiệp nhỏ

 11/12/2008: giới tài chính quốc tế phải xôn xao vì vụ gian lận tài chính lên tới

50 tỷ USD ở Phố Wall, mà “tác giả” lại chính là một trong những nhà giao dịch chứng

khoán huyền thoại của nước Mỹ, đồng thời là một cựu chủ tịch của sàn chứng khoán

Nasdaq - ông Bernard L Madoff

 17/02/2009 : Tổng thống Mỹ đã ký Luật tái đầu tư và phục hồi Mỹ (ARRA)

với tổng trị giá 787 tỉ USD Mục tiêu của gói kích thích kinh tế thứ 2 này là nhằm tạo

3,5 triệu việc làm, giảm nhẹ tác động bất lợi của cuộc khủng hoảng đối với người thu

nhập thấp; kích thích đầu tư và tiêu dùng để phục hồi tăng trưởng kinh tế trong 2 năm

tới 65% giá trị của gói kích thích này là đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và 35% là giảm

thuế

1.2 - Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng

Năm 2008 không ai có thể ngờ nước Mỹ- một tượng đài, một đầu tầu kinh tế thế

giới lại có thể suy sụp nhanh đến như vậy Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế thì

cuộc khủng hoảng này xảy ra bởi các nguyên nhân sâu xa sau:

1.2.1 - Cho vay dưới chuẩn

Các ngân hàng đầu tư Mỹ đã sử dụng nghiệp vụ chứng khoán hóa (securitisation) để

biến các khoản cho vay mua bất động sản thành các gói trái phiếu có gốc bất động sản

(MBS, CDO) đầy rủi ro cung cấp cho thị trường

Khi nền kinh tế đi xuống, người vay tiền mua nhà không trả được các khoản vay mua

nhà thì rủi ro tín dụng được chuyển sang các gói trái phiếu có các danh mục tín dụng

bất động sản làm tài sản đảm bảo Khủng hoảng càng gia tăng thì việc phát mại tài sản

càng tăng làm giá bất động sản càng giảm Điều này có nghĩa giá trị tài sản đảm bảo của

trái phiếu càng giảm và rủi ro tín dụng càng tăng

Vòng xoáy khủng hoảng cứ tiếp tục như vậy, làm cho giá chứng khoán sụt giảm mạnh

Các ngân hàng đầu tư mặc dù không nắm giữ toàn bộ rủi ro nhưng cũng trực tiếp hoặc

gián tiếp duy trì một số danh mục chứng khoán liên quan đến bất động sản Hậu quả là

hàng loạt ngân hàng đầu tư lần lượt báo cáo các khoản lỗ kinh doanh

1.2.2- Bong bóng thị trường bất dộng sản

Trang 8

Khủng hoảng tài chính Nhóm 9

Nguyên nhân trực tiếp và rõ ràng nhất của cuộc khủng hoảng tài chính lần này là

sự suy sụp của thị trường bất động sản Ở Mỹ, hầu hết người dân khi mua nhà là phải

vay tiền ngân hàng và trả lại lãi lẫn vốn trong một thời gian dài sau đó Do đó, có một

sự liên hệ rất chặt chẽ giữa tình hình lãi suất và tình trạng của thị trường bất động sản

Khi lãi suất thấp và dễ vay mượn thì người ta đổ xô đi mua nhà, đẩy giá nhà cửa lên

cao, khi lãi suất cao thì thị trường giậm chân, người bán nhiều hơn người mua, đẩy giá

nhà xuống thấp

Có 3 yếu tố chính đã khởi tạo nên bong bóng trong thị trường bất động sản:

- Thứ nhất, bắt đầu từ năm 2001, để giúp nền kinh tế thoát khỏi trì trệ, Cục Dự

trữ liên bang Mỹ (FED) đã liên tục hạ thấp lãi suất, dẫn đến việc các ngân hàng cũa hạ

lãi suất cho vay tiền mua bất động sản (mặc dù những loại lãi suất cho vay mua nhà do

các ngân hàng thương mại ấn định bao giờ cũng cao hơn nhiều so với lãi suất cơ bản

của FED, nhưng mức độ cao hay thấp của chúng bao giờ cũng phụ thuộc vào lãi suất cơ

bản) Vào giữa năm 2000, lãi suất chủ đạo (lãi suất cơ bản) của FED là trên 6%/năm

nhưng sau đó lãi suất này liên tục được cắt giảm, đến giữa 2003 thì chỉ còn 1%/năm

- Thứ hai, về phương diện sở hữu nhà ở, chính sách chung của chính phủ lúc

bấy giờ là khuyến khích và tạo điều kiện cho người dân nghèo và các nhóm người dân

da màu được vay tiền dễ dàng hơn từ các định chế tài chính để mua nhà ở Khoản cho

vay này phần lớn được thể hiện thông qua hai công ty được bảo trợ bởi chính phủ là

Fannie Mae và Pređie Mac Hai công ty này giúp đổ vốn vào thị trường bất động sản

bằng cách mua lại các khoản cho vay của ngân hàng thương mại, biến chúng thành các

loại chứng tứ được bảo đảm bằng các khoản vay thế chấp (mortage-backed securities –

MBS), rồi bán lại cho các nhà đầu tư ở phố Wall, đặc biết là các ngân hàng đầu tư

khổng lồ như Bear Stearns và Merrill Lynch

- Thứ ba, như đã trình bày ở trên, vì có sự biến đổi các khoản cho vay thành các

công cụ đầu tư nên thị trường tín dụng để phục vụ cho thị trường bất động sản không

còn là sân chơi duy nhất của các ngân hàng thương mại hoặc các công ty chuyên cho

vay thế chấp bất động sản nữa Nó đã trở thành một sân chơi mới cho các nhà đầu tư, có

khả năng huy động dòng vốn từ khắp nơi đổ vào, kể cả dòng vốn ngoại quốc Điểm đặc

biệt ở đây là bởi vì việc hình thành, mua bán, và bảo hiểm MBS vô cùng phức tạp nên

nó diễn ra gần như ngoài tầm kiểm soát thông thường của chính phủ Bởi vì thiếu sự

kiểm soát cần thiết nên lòng tham và tính mạo hiểm đã trở nên phổ biến ở các nhà đầu

Trang 9

Khủng hoảng tài chính Nhóm 9

tư Bên cạnh đó, vì có thể bán lại phần lớn các khoản vay để các công ty biến chúng

thành MBS, các ngân hàng thương mại đả trở nên mạo hiểm hơn trong việc cho vay, bất

chấp khả năng trả nợ của người vay

1.2.3 - Thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ

Có tiền, các công ty “thoải mái” cho khách hàng vay bằng tiền của các ngân

hàng đầu tư cung cấp thông qua việc mua lại danh mục cho vay của các công ty này

Các ngân hàng này, trên cơ sở danh mục cho vay vừa mua lại, sẽ phát hành chứng

khoán để vay tiền Danh mục cho vay được chia ra thành các mục như rủi ro ít, rủi ro

cao,… tùy định mức tín nhiệm, nhà đầu tư tha hồ lựa chọn theo sự mạo hiểm của mình

Có loại chứng khoán không cần định mức tín nhiệm, có thể thu lãi cao nhưng rủi ro

cũng lớn

Như vậy, rủi ro trong việc cho vay đã được chuyển từ bên cho vay là công ty tài

chính sang ngân hàng đầu tư Nhà đầu tư trên thế giới đổ tiền mua các chứng khoán

này, nhờ vậy, chính họ đã cung cấp một lượng vốn khổng lồ cho thị trường bất động

sản ở Mỹ tăng nóng

Theo Giáo sư kinh tế Joseph Stiglitz, người được giải thưởng Nobel kinh tế

2001: “Hệ thống tài chính của Mỹ đã không thực hiện được hai trách nhiệm chính của

mình, đó là quản lý rủi ro và phân chia vốn Cả hệ thống tài chính Mỹ đà không làm

những gì mà nó đáng ra phải làm – như tạo ra các sản phẩm để giúp người Mỹ quản lý

được những rủi ro nguy hiểm nghiêm trọng của mình, như là giữ lại được nhà khi mức

lãi suất cho vay tăng cao hoặc khi giá nhà sụt giảm mạnh”

1.2.4 - Khủng hoảng niềm tin

Theo Giáo sư Joseph Stiglitz, cuộc khủng hoảng bắt đầu từ sự sụp đổ thảm khốc

của niềm tin Các ngân hàng đánh đố lẫn nhau về mức độ cho vay cũng như tài sản

Những giao dịch phức tạp được tạo ra để loại bỏ rủi ro và che giấu những trượt giá giá

trị tài sản thực của ngân hàng Đây là một trò chơi mà khi người ta bắt đầu cảm nhận

“mùi vị” của sự thua lỗ và nhìn vào hệ thống tài chính, khi đó thua lỗ sẽ xuất hiện, cả

thị trường xuống dốc và tất cả “người chơi” đều thua lỗ

Thị trường tài chính xoay quanh trục nguyên tắc độ tin cậy, và độ tin cậy đó đã bị xói

mòn, xuống cấp Sự sụp đổ của Lehman là biểu tượng đánh dấu mức độ tin cậy xuống

một mức thấp mới và dư âm của nó sẽ còn tiếp tục

1.2.5 - Tâm lý ỷ lại

Trang 10

Khủng hoảng tài chính Nhóm 9

Các tập đoàn tài chính tận dụng hình thức đòn bẩy tài chính, khi chứng khoán

mua vào được sử dụng làm vật thế chấp để vay mua chứng khoán khác, cứ thế một

đồng đô la tài sản thật sẽ được biến hóa thành hàng trăm đồng đô la tài sản sản ảo chỉ

hiện diện trên sổ sách Chừng nào lãi suất còn ở mức thấp thì các tập đoàn tài chính này

vẫn còn báo lãi nhưng một khi lãi tiền vay cao hơn chênh lệch mua bán thì họ bắt đầu

chuỗi ngày dài lỗ nặng Trong trường hợp của Lehman, giá trị tài sản gấp 31 lần vốn

chủ sở hữu cho nên nếu giá trị tài sản chỉ cần giảm 3% thì toàn bộ vốn chủ sở hữu sẽ

mất tiêu!

Các tập đoàn tài chính này có biết rủi ro rất cao nhưng chính vì những khoản

tiền thưởng hậu hĩ cho những ai mua bán, giao dịch nhiều càng làm các giới quản lý bất

chấp trách nhiệm, liều lĩnh lao vào vòng xoáy mua bán chứng khoán Dù sao, họ vững

tin, nếu có chuyện gì, chính phủ sẽ phải cứu để toàn bộ thị trường khỏi sụp đổ và quan

trọng hơn hết, nếu phá sản, chỉ có giới đầu tư chịu còn họ đã yên tâm với khoản lương

thưởng hàng trăm triệu đô la hàng năm Chính vì tâm lý ỷ lại này mà họ không quan

tâm tới hậu quả

1.2.6 - Mua bán khống

Khi giới đầu cơ đoán chắc rằng cổ phiếu của những tập đoàn dính líu đến cho

vay dưới chuẩn sẽ sụt giảm, họ ồ ạt vay những cổ phiếu này rồi ồ ạt bán ra, tạo nên một

áp lực giảm giá lốn không gì cứu vãn nổi Sau khi giá giảm đến một mức nào đó, giới

đầu cơ sẽ mua và trả lại nơi cho vay cộng thêm một ít phí, còn bao nhiêu tiền chênh

lệch họ sẽ hưởng trọn

Thậm chí, một số nhà đầu cơ còn áp dụng cách thức mua bán khống đến 2 lần (naked

short sale) tức là không vay chứng khoán nữa mà cứ ra lệnh bán theo kiểu “đánh

xuống” vì lợi dụng khe hở, mua bán ba ngày sau mới giao cổ phiếu Thực trạng này đã

khiến Bộ trưởng Tư pháp bang New York, Andrew Cuomo phải thốt lên “Họ giống như

kẻ hôi của sau một cơn bão!”

1.3 - Tác động của cuộc khủng hoảng

1.3.1 - Tác động đến Mỹ:

Theo thống kê của chính phủ Mỹ, nền kinh tế Mỹ mất 605000 việc làm trong 8

tháng đầu năm 2008, đẩy tỉ lệ thất nghiệp lên 6.1% , đến tháng 2/2009 con số này là

7.6%, cao nhất trong vòng 17 năm trở lại đây Sự mất giá của các tài sản nhà đất cũng

sẽ đẩy tỉ lệ nợ trên tài sản sở hữu của người tiêu dùng Mỹ lên cao hơn con số 18% hiên

Trang 11

Khủng hoảng tài chính Nhóm 9 nay, bắt buộc họ phải thắt chặt hầu bao Tổng số nợ của người tiêu dùng Mỹ đã lên tới

2.500 tỉ đô la (trung bình 8.500 đô la một người), tương đương khoảng 18% giá trị tài

sản sở hữu theo đầu người Tỉ lệ tiết kiệm của người Mỹ trong vài năm qua đã xuống

chỉ số âm, tức là mỗi người Mỹ tiêu nhiều hơn thu nhập làm ra

Khoản tiền cứu trợ 700 tỉ đô la, chưa kể hàng trăm tỉ đô la chính phủ Mỹ đã chi

trong năm qua nhằm cứu nguy cho các công ty bất động sản, tài chính và ngân hàng, sẽ

là gánh nặng lớn đối với ngân sách của chính phủ Mỹ trong nhiệm kì tới

Hiện tại, chưa kể những khoản tiền cứu trợ này, thâm hụt ngân sách trong năm

2008 đã ước tính lên tới con số 482 tỉ đô, cao nhất trong lịch sử, và số tiền nợ của chính

phủ Mỹ đã lên tới con số kỉ lục trên 9.600 tỉ đô là, tương đương khoảng 60% Tổng thu

nhập Quốc dân của Mỹ

Gánh nặng ngân sách và đòi hỏi phải cấp tốc cải cách bộ máy chính quyền, phục

hồi hệ thống tài chính – ngân hàng, sẽ hạn chế chính phủ mới của Mỹ trong việc theo

đuổi các chương trình quốc nội và các cam kết quốc tế, đặc biệt là khả năng duy trì hai

cuộc chiến tranh tại Afghanistan và Iraq

ngân hàng xiết nợ do các gia đình không đủ khả năng trả nợ tiền vay mua nhà Cuộc

khủng hoảng bất động sản cũng khiến hàng trăm ngàn người mất việc làm

Một số ngân hàng Mỹ vẫn đối diện nguy cơ phá sản cho dù có gói cứu trợ tài

chính 700 tỷ USD mà chính phủ đã đưa ra Các tổ chức tài chính bị phá sản hoặc phải

sáp nhập trong cuộc khủng hoảng Mỹ: do IRIC tổng hợp

Tổng vốn góp cổ phần: $22490 tỷ đôla

Số lượng nhân viên:

26200 người

Là một trong 4 ngân hàng đầu tư lớn nhất của Hoa Kỳ

Nợ ngân hàng: 613

tỷ đôla

Nợ trái phiếu: 155 tỷ đôla

Cổ phiếu mất giá trên 90% vào ngày 15/09/2008

15/09/2008: nộp đơn phá sản theo chương 1 Luật Phá sản Mỹ

Là vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ

2 Merrill

Lynch

Tổng tài sản: 1,02 nghìn tỷ đôla

Số lượng nhân viên:

60.000 người

Thua lỗ quý IV/2007: 9,83 tỷ đô Thua lỗ ròng quý I/2008: 1,97 tỷ đôla

Bán cho ngân hàng Mỹ (BoA) với giá 50 tỷ đôla

Trang 12

Khủng hoảng tài chính Nhóm 9

Xếp thứ 32 trong danh sách Global

2000 (các công ty lớn nhất thế giới)

mất giá tài sản (2007): 16,7 tỷ đôla

3 AIG

Tổng tài sản: 1,05 nghìn tỷ đôla Tổng vốn góp ổ phần 78,09 tỷ đôla

Số lượng nhân viên:

116.000 người Xếp thứ 6 trong danh sách Global 2000 (các công ty lớn nhất thế giới)

Cổ phiếu mất giá 60% vào ngày 16/09/2008 Thua lỗ 6 tháng đầu năm 2008: 13,2 tỷ đôla

16/09/2008: Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) cấp tín dụng 80 tỷ tương đương 79,9 % cổ phần

4 Countrywide

Financial

Tổng tài sản: 211 tỷ đôla

Là tập đoàn chiếm 20% tổng thế chấp của Mỹ, tương đương 3,5 GDP

Tổ chức tiết kiệm và cho vay lớn thứ 3, đồng thời là ngân hàng có tốc độ phát triển nhanh nhất trong lịch sử nước Mỹ

Thua lỗ (2007): 2,5

tỷ đôla Mất giá tài sản (2007): 1 tỷ đôla

01/07/2008: Bán cho ngân hàng Mỹ với giá 4,1 tỷ đôla

5 Bear Stearns

Tổng tài sản: 350,4 tỷ đôla

Tổng vốn góp cổ phần: 66,7 tỷ đôla

Số lượng nhân viên:

15.500 người

Là công ty chứng khoans lớn thứ 7 thế giới

Thiệt haiij quý IV/2007: 859 triệu đôla

Mất giá tài sản (2007): 1,9 tỷ đôla

30/05/2008: Bán cho JP Morgan Chase với giá 1,1

tỷ đôla

6 IndyMac

Tổng tài sản: 32 tỷ đô

Là tổ chức cho vay và gửi tiết kiệm lớn nhất

ở Los Angeles Đồng thời là tổ chức thế chấp lớn thứ 7 ở Hoa

Kỳ

Tiền gửi khách hàng: 19 tỷ đô Chi phí 8,9 tỷ đô cho bảo hiểm tiền gửi Chi phí 541 triệu đô cho các khoản tiền gửi vượt mức bảo hiểm

11/07/2008: Tập đoàn Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang

Mỹ FDIC tiếp quản

7 Freddie Mac

Tổng tài sản: 794,4 tỷ đôla

Tổng vốn góp cổ phần: 26,7 tỷ đôla

Thua lỗ (2007): 4,6

tỷ đôla Thua llox quý II/2008: 821 triệu

07/09/2008: FED kí hợp đồng bỏ ra 1 tỷ đô hỗ trợ cho Freddie Mac, đổi lại giành quyền kiểm soát các

Trang 13

Khủng hoảng tài chính Nhóm 9

Số lượng nhân viên:

5.281 ngườich

Là công ty công lớn thứ 20 trên thế giới

là công ty tài chính lớn thứ 2 về thế chấp tại Mỹ

đôla cổ phiếu ưu đãi đặc biệt

của công ty này

8 Fannie Mae

Tổng tài sản: 882,5 tỷ đôla

Tổng vốn góp cổ phần: 44 tỷ đôla

Là tổ chức hàng đầu trong thị trường thế chấp dưới chuẩn của

Mỹ

Thua lỗ (2007): 2 tỷ đôla

Thua lỗ quý II/2008:

2,3 tỷ đôla

07/09/2008: cùng với Freddie Mac bị FED tiếp quản

Số lượng ngân viên:

7.200 người

Là tập đoàn cho vay dưới chuẩn lớn nhất của Mỹ

Cổ phiếu mất 90%

giá trị (tháng 03/2007) Giá trị thị trường giảm xuống còn 55 triệu đôla

Nộp đơn phá sản theo chương 11 Luật Phá sản

Mỹ

10 Ameri Bank Tổng tài sản: 115

triệu đôla

Tiền gửi khách hàng: 102 triệu đôla Chi phí 42 triệu đôla cho quỹ bảo hiểm tiền gửi

19/09/2008: Tập đoàn Bảo hiểm Tiền gửi Liên Bang

Mỹ FDIC tiếp quản

11 Washington

Mututal Inc

Tổng tài sản: 307 tỷ đôla

Washington Mutual là ngân hàng tiết kiệm lớn nhất Mỹ

Co với giá 1,9 tỷ đôla

12 Wachovia

Là ngân hàng lớn thứ

6 ở Mỹ Tổng tài sản: 327,9 tỷ đôla

Giá cổ phiếu của Wachovia đã sụt giảm tới 81,6%, còn 1,84 USD/ cổ phiếu Thua lỗ 9,7 tỷ đôla trong nửa đầu năm nay

30/09/2008: bị bán lại cho Citi Group với giá 2,16 tỷ đôla

13 Thornburg

Mortgage

Giá trị tài sản 36,5 tỷ USD

Thua lỗ lên tới 2,75

tỷ USD trong 3 quý đầu tiên của năm

2008

tuyên bố phá sản theo chương 11 vào ngày 1/5/2009

Trang 14

Khủng hoảng tài chính Nhóm 9

Đánh giá thiệt hại của cuộc khủng hoảng bất động sản – tài chính Quỹ Tiền tệ

Quốc tế IMF ước lượng thiệt hại đối với các tập đoàn tài chính – ngân hàng có thể lên

tới 945 tỉ đô là Con số này chưa tính đến thiệt hại trực tiếp đối với người tiêu dùng Mỹ

 Tốc độ tăng trưởng GDP

Vào quý 3/2008, nền kinh tế Mỹ bắt đầu nhận thấy rõ ràng nhất ảnh hưởng của cuộc

khủng hoảng tài chính tín dụng lên nền kinh tế vật chất Tốc độ tăng trưởng GDP của

quý 3/2008 so với quý 2/2008 giảm 0,5% Nền kinh tế Mỹ chính thức bước vào giai

đoạn suy thoái Và kết quả công bố sắp tới của quý 4/2008 cũng như 2 quý đầu năm

2009, chúng ta sẽ còn chứng kiến sự suy giảm mạnh mẽ hơn nữa của nền kinh tế lớn

nhất thế giới này Theo nhiều dự đoán, 2 quý đầu năm 2009 sẽ tiếp tục chứng kiến sự

suy giảm của nền kinh tế, tính chung cả năm 2009, dự đoán kinh tế Mỹ suy giảm

khoảng -0,8%

1.3.2 - Tác động đến các quốc gia khác

* Châu Âu:

Hầu hết các nền kinh tế lớn của Châu Âu đều có tốc độ tăng trưởng GDP âm vào

quý 3/2008, duy nhất Pháp là nước có tốc độ tăng trưởng GDP dương 0,1% Trong đó

Anh là có nước có mức sụt giảm mạnh nhất -0,6% và là quý đầu tiên trong 7 quý gần

nhất nền kinh tế này chứng kiến mức suy giảm GDP Thụy sĩ, một nền kinh tế có sức đề

kháng mạnh cũng không thể tránh khỏi sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính

và suy thoái kinh tế toàn cầu Qúy 3/2008, nền kinh tế này không tăng trưởng và là mức

thấp nhất trong vòng 10 năm qua

Trang 15

Khủng hoảng tài chính Nhóm 9

Các Ngân hàng ở Anh cũng chịu ảnh hưởng lớn nhất từ cuộc khủng hoảng tín

dụng thứ cấp cho vay nhà ở tại Mỹ và nay là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tại

Mỹ Điển hình trong số đó là Ngân hàng Northern Rock Bank bị khoản nợ xấu đến hết

tháng 7-2008 lên tới 191,6 tỷ USD Trong tháng 9-2007, tại thời điểm mới xảy ra cuộc

khủng hoảng tín dụng nhà ở tại Mỹ hơn 2 tháng, Ngân hàng TW Anh BOE đã phải bơm

27 tỷ Bảng để cứu Northern Rock Bank trong tình trạng tổn thất tín dụng ngày càng gia

tăng

thứ cấp nhà ở tại Mỹ, mà chính thị trường nhà đất của Vương quốc Anh cũng bị ảnh

hưởng và trên đà đi xuống, giá giảm, giao dịch trầm lắng Ngày 2-9-2008, Chính phủ

Anh đã phải thông qua góp giải pháp trị giá 1 tỷ Bảng Anh, tương đương 1,78 tỷ USD

nhằm cứu vãn thị trường nhà đất tại Anh đang xuống dốc

Ngày 29-9-2008, Bộ Tài chính Anh đã chính thức tuyên bố quốc hữu hóa Tập

đoàn cho vay kinh doanh bất động sản lớn nhất nước này là Bradford & Bingley Plc

nhằm bảo vệ khách hàng của tập đoàn này do thua lỗ lớn liên quan đến cuộc khủng

hoảng tín dụng thứ cấp tại Mỹ và không có khả năng trụ vững Tổng giá trị sổ sách các

khoản thế chấp và vay là 50 tỷ Bảng Anh, tương đương 91 tỷ USD Đây là ngân hàng

lớn thứ 3 tại Anh

Trang 16

Khủng hoảng tài chính Nhóm 9

Ngày 13-10-2008, 3 ngân hàng lớn nhất Anh là Royal Bank of Scotland, Lloyds

TSB và HBOS công bố tiếp nhận khoản hỗ trợ từ Chính phủ trị giá 37 tỷ Bảng, tương

đương 63 tỷ USD để đảm bảo thanh toán

Tiếp theo ngân hàng nói trên của Anh, cuối tháng 9-2008 có thêm một số ngân hàng

lớn khác tại Châu Âu như: Fortis (Bỉ và Luxemburg), Dexia (Bỉ và Pháp); đầu tháng

10-2008 là Hypo Real Estate (Đức) cũng lâm vào khủng hoảng được Chính phủ các

nước đó cứu trợ bằng biện pháp tài chính Ngày 20-10-2008, Chính phủ Hà Lan cũng

phải bơm trên 13,4 tỷ USD vào tập đoàn Ngân hàng ING Bank

Hệ thống ngân hàng, thị trường chứng khoán, và thị trường tài chính của Nga

cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng Đợt sụt giảm trên thị trường chứng khoán Nga diễn ra

trong tháng 9-2008 đã làm bốc hơi 800 tỷ USD giá trị cổ phiếu Chính quyền Nga cũng

phải bơm vào hàng chục tỷ USD để cứu vãn thị trường tài chính và hệ thống ngân hàng

nước này Cho đến ngày 7-10-2008, thị trường chứng khoán Nga đã 2 lần phải tạm

đóng cửa, chỉ số chứng khoán giảm mạnh Chỉ trong quý II và III 2008, các nhà đầu tư

nước ngoài đã rút khoảng gần 50 tỷ USD từ Nga; trong đó tính riêng tháng 8-2008 số

vốn các nhà đầu tư nước ngoài đã rút khoảng 5 tỷ USD và tháng 9-2008 rút 30 tỷ USD

Chỉ trong thời gian ngắn khoảng 3 tuần cuối tháng 9 và đầu tháng 10-2008, NHTW Nga

đã phải tung ra thị trường 170 tỷ USD để cứu các ngân hàng và công ty tài chính

Đến ngày 10-10-2008, 3 ngân hàng lớn nhất Iceland đã tuyên bố phá sản và

chuyển giao cho chính phủ quản lý

* Nhật Bản:

GDP 2007 của Nhật là 4.384 tỷ USD, tăng 0,2 % so với 4.375 tỷ USD của năm

2006 Quý 1 năm 2008 GDP Nhật tăng trưởng 0,6 % so với quý trước, tuy nhiên liên

tiếp 3 quý tiếp sau con số tăng trưởng này đã bị âm Cụ thể quý 2/2008 GDP tăng

trưởng -0,1% so với quý 1/2008, quý 3 con số này là -0,5% và quý 4/2008 dự báo tăng

trên -3,2% Nhật Bản chính thức bước vào thời kỳ suy thoái kinh tế trong năm 2008 và

năm 2009 (bắt đầu tính từ 01/04/2009 theo năm tài khóa của Nhật) các dự báo tăng

trưởng GDP của Nhật là 0% (theo Chính phủ Nhật) và -0,1 % (theo WB )

Bộ Tài chính Nhật Bản ngày 9/3 công bố nền kinh tế Nhật Bản đã bị thâm hụt tài

khoản vãng lai ở mức kỷ lục 172,8 tỷ yen (tương đương 1,8 tỷ USD) trong tháng

1/2009

* Châu Mỹ Latinh:

Trang 17

Khủng hoảng tài chính Nhóm 9

Cơn bão tài chính Mỹ như một căn bệnh dịch lan sang các hệ thống tiền tệ toàn

cầu, các nước láng giềng của Mỹ cũng không nằm ngoài vùng ảnh hưởng của cơn bão

đó Những ngày gần đây, thị trường tiền tệ lớn tại khu vực Mỹ Latinh cũng bị biến động

mạnh, thị trường chứng khoán (TTCK) tụt dốc, tiền tệ mất giá - tình hình khiến nhiều

người lo ngại Tuy nhiên các chuyên gia kinh tế đánh giá, các nước Mỹ Latinh kiên

định với các chính sách kinh tế khiến cho mức ảnh hưởng là không lớn, khả năng xảy ra

nguy cơ của khủng hoảng tiền tệ là không cao, nhưng hậu quả từ khủng hoảng tiền tệ là

không mấy khả quan, thậm chí còn ảnh hưởng đến cục diện chính trị

Thị trường tiền tệ biến động:

Vài tháng gần đây, các TTCK lớn tại khu vực Mỹ Latinh có xu hướng giảm,

TTCK Sao Paulo (Brazil), Buenos Aires (Argentina) giảm hơn 30%, giá cổ phiếu tại

các TTCK chủ đạo của Mexico và Chi-lê lần lượt giảm 20% vaì 10%

tỷ giá đồng Đô-la Tỷ giá các tiền Brazil, Chi-lê, Mexico, và Argentina so với đồng

đô-la lượt giảm 13,5 %, 6,5%, 4,64%, và 2,63%

Thị trường tiền tệ bất ổn khiến niềm tin của các nhà đầu tư giảm sút

Các loại nguyên liệu như dầu thô, khí đốt thiên nhiên, đồng, các mặt hàng nông

phẩm đều chiếm tỷ trọng lớn trong ngành xuất khẩu của Mỹ Latinh, trong hoàn cảnh

nền kinh tế thế giới hỗn loạn, nền kinh tế Mỹ lâm vào khủng hoảng, giá dầu giảm mạnh

như hiện nay lượng thu về từ xuất khẩu giảm ảnh hưởng không nhỏ đến kinh tế Mỹ

Latinh, đồng thời cũng ảnh hưởng đến tỷ giá tiền tệ của khu vực

1.4 - Phản ứng của Mỹ và các quốc gia

1.4.1 – Phản ứng của chính phủ Mỹ

Để ổn định thị trường và ngăn chặn cuộc khủng hoảng có nguy cơ lan rộng hơn

nữa, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã ngay lập tức bơm vốn cho thị trường cũng

như cam kết luôn trong tư thế sẵn sàng đáp ứng vốn nếu thị trường cần Điều đáng lo

ngại là dù hàng trăm tỷ USD đã được FED bơm vào hệ thống ngân hàng, tín dụng của

nước Mỹ song hiệu quả không nhiều, vẫn chưa giải quyết được cơn khát vốn của những

ngân hàng, tổ chức tín dụng làm ăn thua lỗ Tính tới nay (thời điểm đến tháng 3/2008)

FED đã bơm 310 tỷ USD cứu trợ khẩn cấp song vẫn còn 91 ngân hàng và tổ chức tài

Trang 18

Khủng hoảng tài chính Nhóm 9 chính xếp hàng dài xin vay Bên cạnh đó, FED cũng đang bàn thảo với Quốc hội về các

biện pháp hỗ trợ khác như tái cấp vốn và bảo lãnh các khoản nợ thế chấp thông qua Cơ

quan Nhà đất Liên bang

Ngoài ra, nhằm “phá băng” thị trường nhà đất, Chính phủ Mỹ đã đề xuất một kế

hoạch hỗ trợ thị trường nhà đất Cụ thể: những người vay thế chấp nhà có đủ ba điều

kiện: Một là, có rủi ro tín dụng có thể chấp nhận được; hai là có những khoản vay phát

sinh từ 01/01/2005 đến 31/07/2007; ba là chứng minh được rằng: họ đang sinh sống

trong nhà của mình và nếu lãi suất bị điều chỉnh cao hơn họ sẽ không có khả năng chi

trả các khoản nợ, thì những người này sẽ được áp dụng mức lãi suất cố định trong kỳ

hạn 5 năm Bộ Tài chính Mỹ và FED cũng đã ban hành các qui định mới với việc

khuyến cáo giám sát chặt chẽ hơn các công ty cho vay trong lãnh vực nhà đất, và đề ra

các tiêu chuẩn cho vay nghiêm ngặt hơn

Mặc dù Chính phủ Mỹ, FED cũng như các Ngân hàng Trung ương (NHTW)

hàng đầu trên thế giới đã có những động thái tích cực Tuy nhiên, trong bối cảnh giá

dầu leo thang (liên tiếp đạt những kỷ lục mới), đồng USD mất giá nghiêm trọng, vẫn

còn nhiều lo ngại rằng cơn bão trên thị trường tài chính toàn cầu “chỉ mới bắt đầu” và

“các điều kiện sẽ còn xấu hơn nữa”

1.4.2 – Phản ứng của các khu vực, các quốc gia khác

Để giải cứu thị trường tài chính, ngăn chặn nguy cơ tác động tiêu cực của cuộc

khủng hoảng tài chính này, chính phủ các nước trên thế giới đều sử dụng tổng hợp,

đồng bộ nhiều biện pháp khác nhau

+ Thứ nhất, sửa đổi các quy định hiện hành nhằm bảo vệ quyền lợi người

gửi tiền tại các ngân hàng, ngăn chặn nguy cơ rút tiền gửi hàng loạt của người dân

tại các tổ chức trung gian tài chính Một số chính phủ quyết định nâng mức bảo hiểm

tiền gửi của người dân và cam kết bảo đảm an toàn, chi trả đầy đủ tiền gửi tiết kiệm của

họ tại các ngân hàng và tổ chức tài chính Chính phủ Australia cam kết bảo đảm an toàn

các khoản tiền gửi tại các ngân hàng và tổ chức tín dụng trong vòng 3 năm; đồng thời

tuyên bố không giới hạn bảo hiểm tiền gửi và không giới hạn về thời hạn bảo hiểm tiền

gửi

Chính phủ Mỹ nâng mức bảo hiểm tiền gửi tối đa từ 100.000 USD lên 250.000

USD Chính phủ New Zealand cũng có hành động tương tự Đặc khu hành chính Hồng

Kông cũng dỡ bỏ mức giới hạn bảo hiểm tiền gửi hiện nay tương đương 100.000 USD

Trang 19

Khủng hoảng tài chính Nhóm 9 Chính phủ Nhật Bản đã tuyên bố không giới hạn mức bảo hiểm tiền gửi trong vòng 2

năm

+ Thứ hai, sử dụng nguồn lực tài chính mạnh mẽ để hỗ trợ thanh khoản,

cứu trợ trực tiếp cho các ngân hàng và tổ chức tài chính

Chính phủ các nước trên thế giới đều sử dụng các nguồn lực tài chính trị giá

hàng chục tỉ, thậm chí hàng trăm tỉ USD để bơm vào hệ thống ngân hàng, công ty tài

chính và thị trường tài chính thông qua các nghiệp vụ cho vay nhằm bảo đảm vấn đề

thanh khoản có tính chất khẩn cấp và tức thời; đồng thời tiến hành quốc hữu hóa, mua

lại các khoản nợ xấu, mua cổ phần chi phối và nắm quyền điều hành,

Cục Dự trữ liên bang Mỹ ( FED) tăng khoản vay kỳ hạn 28 ngày và 84 ngày lên

150 tỉ USD cho mỗi kỳ hạn, có hiệu lực từ ngày 6-10-2008 Như vậy, với số tiền 300 tỉ

USD mới bơm thêm vào thị trường tài chính, nâng tổng số tiền định kỳ rót theo chương

trình cho vay khẩn cấp mang tên “Chương trình đấu giá cho vay kỳ hạn” (TAF) của

Chính phủ Mỹ sẽ tăng lên 600 tỉ USD Trong tháng 11-2008, số tiền các ngân hàng Mỹ

được vay theo hai kỳ hạn nói trên tiếp tục được duy trì ở mức 150 tỉ USD cho mỗi kỳ

hạn Do đó tổng số tiền cho vay theo chương trình TAF đến cuối năm 2008 có khả năng

lên tới 900 tỉ USD

Chính phủ Anh tung ra 50 tỉ bảng Anh, tương đương khoảng 87 tỉ USD để cứu 8

ngân hàng của nước này có nguy cơ bị phá sản Đây là một phần trong cả gói cứu trợ

gồm ba phần với tổng trị giá lên đến xấp xỉ 550 tỉ bảng Anh, tương đương trên 870 tỉ

USD để bơm vào hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính Anh theo các kênh khác

nhau cũng được công bố trong ngày 8-10-2008

Chính phủ Nga sử dụng khoản tài chính 950 tỉ rúp, tương đương khoảng 36,4 tỉ

USD để cho các ngân hàng vay với thời hạn 5 năm; đồng thời, dùng một khoản ngân

quỹ khác trị giá 50 tỉ USD để hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng và công ty tài

chính của Nga Với dự trữ ngoại tệ khổng lồ, trị giá tới 563 tỉ USD và nguồn dự trữ dầu

mỏ, khí đốt dồi dào, Nga được đánh giá là một trong số các nền kinh tế có thể trụ vững

trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Nước Nga cũng dự kiến cho Iceland vay 5,4

tỉ USD để cứu vãn thị trường tài chính của nước này

Chính phủ Đức đã thông qua một gói cứu trợ lên tới 480 tỉ euro, tương đương

653 tỉ USD, trong đó có 108 tỉ USD được dự kiến bơm trực tiếp vào hệ thống ngân

hàng và 545 tỉ USD là tiền bảo đảm cho các khoản vay Chính phủ Pháp đưa ra khoản

Ngày đăng: 14/05/2014, 06:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Số liệu tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam đến năm 2008: - báo cáo môn học tài chính quốc tế khủng hoảng tài chính hiện nay
Bảng 1 Số liệu tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam đến năm 2008: (Trang 26)
Bảng 2: Số liệu kiều hối đến tháng 11/2008: - báo cáo môn học tài chính quốc tế khủng hoảng tài chính hiện nay
Bảng 2 Số liệu kiều hối đến tháng 11/2008: (Trang 27)
Bảng 4: Lãi suất cho vay bình quân trên thị trường các Ngân hàng. - báo cáo môn học tài chính quốc tế khủng hoảng tài chính hiện nay
Bảng 4 Lãi suất cho vay bình quân trên thị trường các Ngân hàng (Trang 30)
Bảng 3 :Lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: - báo cáo môn học tài chính quốc tế khủng hoảng tài chính hiện nay
Bảng 3 Lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: (Trang 30)
Bảng 5: Tỷ giá trong năm 2007 - 2008: - báo cáo môn học tài chính quốc tế khủng hoảng tài chính hiện nay
Bảng 5 Tỷ giá trong năm 2007 - 2008: (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w