ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TRƢƠNG NHẬT LINH NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TẠI CỤC THUẾ BẮC GIANG LUẬN VĂN THẠC[.]
Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là công cụ quan trọng của Nhà nước, đảm bảo nguồn thu ngân sách và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, đồng thời thúc đẩy công bằng xã hội và cạnh tranh phát triển Hiệu quả quản lý thuế quyết định đến việc thực hiện chức năng của Nhà nước, đòi hỏi sự đổi mới và nâng cao hiệu quả phù hợp với từng thời kỳ Hệ thống thuế tại Việt Nam hiện nay bao gồm nhiều sắc thuế, trong đó thuế giá trị gia tăng (GTGT) đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn thu ngân sách Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, việc dỡ bỏ hàng rào thuế quan là cần thiết, dẫn đến việc giảm thu từ một số sắc thuế như thuế xuất khẩu và nhập khẩu, làm tăng tầm quan trọng của thuế GTGT Thuế GTGT được đánh giá cao trong các sắc thuế gián thu nhờ vào khả năng thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo hộ sản xuất trong nước, nhưng việc quản lý thuế này cũng gặp nhiều khó khăn và vướng mắc cần giải quyết.
Ngày nay, sự phát triển kinh tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của các doanh nghiệp, đặc biệt là khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh Hoạt động của các doanh nghiệp này đang có những bước tiến đáng kể.
Hai triển đột phá đã góp phần giải phóng sức lao động, tạo ra nhiều công ăn việc làm và huy động nội lực cho phát triển kinh tế xã hội Khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh là một phần quan trọng của nền kinh tế quốc dân, đóng góp đáng kể vào ngân sách hàng năm Tuy nhiên, nguồn thu này cũng rất phức tạp, đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ từ ngành Thuế.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là thành phần kinh tế linh hoạt nhưng cũng gặp nhiều hạn chế như kinh doanh trái phép, làm hàng giả và trốn thuế Hệ thống kế toán của các doanh nghiệp này thường chưa đầy đủ và thiếu trung thực, gây khó khăn cho công tác quản lý thuế GTGT Sự đa dạng và số lượng lớn cơ sở sản xuất kinh doanh làm cho việc quản lý của cơ quan Nhà nước trở nên phức tạp Hơn nữa, trình độ văn hóa và hiểu biết pháp luật của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn hạn chế, dẫn đến ý thức chấp hành luật thuế chưa cao Do đó, việc nâng cao hiệu quả quản lý thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh là rất cần thiết Nhiều bài viết đã được công bố về vấn đề này, nhưng một số công trình nghiên cứu chưa cập nhật các thay đổi mới của luật thuế và không phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội tại tỉnh Bắc Giang.
3 các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Cục Thuế Bắc Giang" làm luận văn tốt nghiệp có ý nghĩa rất thiết thực.
Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của đề tài là hệ thống hóa các vấn đề cơ bản về thuế GTGT đối với doanh nghiệp và quy trình quản lý thuế giá trị gia tăng cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Đề tài cũng đánh giá thực trạng và hiệu quả quản lý thuế GTGT tại Cục Thuế Bắc Giang trong những năm gần đây, đồng thời chỉ ra những hạn chế trong công tác quản lý Từ đó, đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế GTGT, đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước, công bằng giữa các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và tạo sự hài lòng cho người nộp thuế.
Luận văn cần tập trung vào quản lý thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh, bao gồm nghĩa vụ nộp thuế, cách kê khai và tính thuế Cần nghiên cứu thực trạng công tác quản lý thuế GTGT tại Cục thuế Bắc Giang, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế còn tồn tại Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế GTGT cho doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là hiệu quả của công tác quản lý thuế GTGT đối với khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Đề tài nghiên cứu tập trung vào các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại tỉnh Bắc Giang, được quản lý bởi Cục thuế Bắc Giang, trong giai đoạn từ năm 2015 đến 2017.
Phạm vi nghiên cứu về nội dung xét trên giác độ kết quả của công tác quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Phương pháp nghiên cứu
Để đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Cục thuế Bắc Giang, luận văn áp dụng phương pháp thu thập thông tin sơ cấp và thứ cấp, kết hợp phân tích và so sánh dữ liệu Nghiên cứu luôn tuân thủ các quy định về thuế GTGT và quản lý thuế theo Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Quản lý thuế, cùng các Thông tư và Nghị định liên quan của Nhà nước.
Luận văn phân tích hiệu quả quản lý thuế giá trị gia tăng (GTGT) thông qua các chỉ tiêu định tính và định lượng, so sánh kết quả thu được trong giai đoạn 2015-2017 Từ đó, bài viết đưa ra nhận định và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại tỉnh do Cục thuế quản lý.
Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng hiệu quả công tác quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Cục thuế Bắc Giang nhƣ thế nào?
Cục thuế Bắc Giang cần triển khai các biện pháp hiệu quả nhằm nâng cao công tác quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việc tăng cường đào tạo nhân viên, áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế, và cải thiện quy trình kiểm tra thuế sẽ giúp nâng cao hiệu quả công tác này Đồng thời, Cục cũng cần tăng cường tuyên truyền, hỗ trợ doanh nghiệp hiểu rõ nghĩa vụ thuế của mình để đảm bảo tuân thủ tốt hơn.
Cấu trúc luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình, cơ sở lý luận của công tác quản lý thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Đánh giá hiệu quả của công tác quản lý thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Cục thuế Bắc Giang
Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Cục thuế Bắc Giang
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH, CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
Tổng quan tình hình nghiên cứu hiệu quả công tác quản lý thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Do sự khác biệt về điều kiện kinh tế xã hội, thuế GTGT được áp dụng ở các quốc gia với những đặc điểm riêng Quản lý thuế GTGT tại mỗi nước cũng có những phương thức phù hợp với tình hình cụ thể Ngay trong một quốc gia, công tác quản lý thuế GTGT cũng khác nhau giữa các địa phương và các cấp, tùy thuộc vào tình hình kinh tế, chính trị, xã hội cũng như chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của từng cấp, bộ phận.
Trong thời gian qua, các công trình nghiên cứu về thuế và quản lý thuế ở Việt Nam khá phong phú đa dạng, cụ thể:
Bài viết của Minh Anh (2018) trên thoibaotaichinhvietnam.vn đã thống kê mức thuế suất GTGT của 112 quốc gia, trong đó 88 nước có thuế suất từ 12 - 25% (56 nước từ 17 - 25%), và 24 nước còn lại có mức thuế phổ biến trên 10% Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, thu từ xuất nhập khẩu giảm nhanh, dẫn đến tỷ lệ huy động vào NSNN từ thuế, phí cũng giảm theo Trên toàn cầu, nợ công gia tăng buộc các quốc gia, kể cả nước phát triển, phải cơ cấu lại nguồn thu NSNN, tập trung vào việc tăng cường thu thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt để bù đắp cho sự sụt giảm thuế thu nhập và thuế nhập khẩu.
Bài viết của tác giả Trung Kiên (2018) trên trang tapchithue.com.vn đã công bố thống kê về hiệu quả quản lý hành chính thuế tại Việt Nam Theo báo cáo, 3/6 chỉ tiêu đánh giá hệ thống thuế đều đạt điểm cao: quản lý hành chính thuế đạt 9/10 điểm, tính đầy đủ của nguồn thu ngân sách 8/10 điểm, và tính lũy tiến của hệ thống thuế 7/10 điểm Kết quả này cho thấy hiệu quả công tác quản lý thuế đang ở mức cao.
7 cao, tuy nhiên các khoản thu phí và lệ phí còn khá nhiều, đồng thời nguồn thu NSNN vẫn đang dựa nhiều vào thuế gián thu
Luận văn thạc sĩ của Trần Đại Nghĩa (2014) đã hệ thống hóa lý luận về thuế GTGT và quản lý thuế GTGT Tác giả đánh giá thực trạng quản lý thuế GTGT tại Cục thuế tỉnh Vĩnh Phúc và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác này Tuy nhiên, các giải pháp đưa ra vẫn chưa mang tính đột phá để cải thiện cơ bản công tác quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay.
Luận văn thạc sĩ của Trương Thị Hồng Nhung (2013) đã phân tích pháp luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) ở Việt Nam từ góc độ pháp lý, đưa ra kết luận về thực trạng quản lý thuế GTGT và thực tiễn áp dụng pháp luật Tác giả đã chỉ ra nguyên nhân của thực trạng này để làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế GTGT tại Việt Nam Tuy nhiên, luận văn vẫn chỉ dừng lại ở lý thuyết và chưa đề cập đến hiệu quả hoạt động quản lý thuế trên toàn quốc.
Các công trình đã làm rõ các căn cứ pháp lý và lý luận về thuế GTGT, đồng thời đề xuất biện pháp thực tiễn cho công tác quản lý thuế này Tuy nhiên, việc áp dụng chính sách và giải pháp khác nhau giữa các quốc gia và địa phương Do đó, học viên cần linh hoạt trong việc tham khảo nội dung phù hợp với đơn vị nghiên cứu, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế GTGT cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Luận văn này tập trung vào nghiên cứu khoa học về quản lý thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, được Cục thuế tỉnh Bắc Giang quản lý trong giai đoạn 2015-2017 Bài viết đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế GTGT trong bối cảnh hiện tại.
8 gắn với việc phân tích tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, tính đặc thù của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Luận văn đưa ra các chỉ tiêu định tính và định lượng cụ thể nhằm đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Cục thuế Bắc Giang Những chỉ tiêu này được xây dựng, phân tích và so sánh để làm rõ ý nghĩa và sự biến động của chúng.
Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp ngoài quốc doanh
1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, tài sản và trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật để thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Theo hình thức sở hữu tài sản, doanh nghiệp ở Việt Nam được phân thành hai loại chính: doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là loại hình doanh nghiệp không thuộc sở hữu Nhà nước, bao gồm toàn bộ vốn, tài sản và lợi nhuận thuộc về tư nhân hoặc tập thể người lao động Chủ doanh nghiệp hoặc cơ sở sản xuất kinh doanh hoàn toàn chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất và có quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau khi thực hiện nghĩa vụ thuế, mà không bị ảnh hưởng bởi các quyết định của Nhà nước hay cơ quan quản lý.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm nhiều loại hình như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã.
1.2.2 Đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở nước ta có một số đặc điểm, cụ thể như sau:
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh có đặc điểm riêng về sở hữu, phân biệt rõ ràng với doanh nghiệp Nhà nước Chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và có quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau khi hoàn thành nghĩa vụ thuế Điều này dẫn đến việc họ thường tìm cách tối đa hóa lợi nhuận, đôi khi thông qua việc trốn thuế bằng các thủ đoạn tinh vi Do đó, quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh cần được cơ quan thuế chú trọng và thực hiện một cách chuyên nghiệp.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, với số lượng lớn và sự hiện diện rộng rãi trong hầu hết các lĩnh vực và ngành nghề kinh doanh đa dạng.
Do đó cũng gây khá nhiều khó khăn trong việc quản lý đối tƣợng nộp thuế
So với doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trình độ quản lý và chuyên môn nghiệp vụ của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn hạn chế Điều này dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, với phần lớn doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ, chủ yếu nhằm mục đích kiếm lợi nhuận từ chênh lệch giá Các doanh nghiệp sản xuất thường sử dụng máy móc cũ và chưa áp dụng nhiều công nghệ mới, kết hợp với trình độ quản lý chưa cao, dẫn đến năng suất lao động thấp và chất lượng sản phẩm giảm sút.
Ý thức chấp hành pháp luật, đặc biệt là pháp luật thuế, phụ thuộc nhiều vào trình độ quản lý và chuyên môn của các doanh nghiệp Hiện nay, nhiều chủ doanh nghiệp ngoài quốc doanh có trình độ văn hóa chưa cao, dẫn đến nhận thức về pháp luật và thuế còn hạn chế Điều này thể hiện rõ qua việc nhiều doanh nghiệp không thực hiện tốt chế độ kế toán và kê khai theo quy định Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết cho công tác quản lý thuế của Nhà nước.
10 phải thật sự có hiệu quả để giải quyết các vi phạm về thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh một cách đúng đắn
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh mang lại nhiều thách thức cho công tác quản lý thuế, vì vậy cần thiết phải có các phương hướng và biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công việc của cán bộ thuế.
1.2.3 Vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở nước ta
Để phát triển kinh tế thông qua công nghiệp hóa - hiện đại hóa, cần sự tham gia của tất cả các thành phần kinh tế Việc thu hút vốn từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đóng vai trò quan trọng trong việc kích thích đầu tư và thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh có khả năng hoạt động trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế được pháp luật cho phép, góp phần quan trọng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cho người lao động Sự đa dạng về quy mô và hình thức kinh doanh của các doanh nghiệp này không chỉ thúc đẩy tính cạnh tranh mà còn nâng cao tính năng động của nền kinh tế Đồng thời, sự hiện diện song song của doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp Nhà nước giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách hiệu quả.
Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước Với số lượng đông đảo trong nhiều lĩnh vực, các doanh nghiệp này đã mang lại nguồn thu lớn, tăng nhanh trong những năm qua Điều này tạo điều kiện cho Đảng và Nhà nước đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng, cũng như các hoạt động xã hội như y tế, giáo dục và xóa đói giảm nghèo.
Xuất phát từ vai trò quan trọng của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đối với xã hội và nền kinh tế quốc dân, Đảng và Nhà nước đã chú trọng phát triển và hỗ trợ khu vực này.
Việt Nam đang nỗ lực tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phát triển mạnh mẽ, trở thành một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế quốc gia và thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế.
Cơ sở lý luận về hiệu quả quản lý thuế giá trị giá tăng
1.3.1 Giới thiệu chung về thuế giá trị gia tăng
1.3.1.1 Khái niệm, đặc điểm thuế giá trị gia tăng
Thuế giá trị gia tăng (VAT) là loại thuế áp dụng cho phần giá trị gia tăng của hàng hóa và dịch vụ trong quá trình sản xuất, lưu thông và tiêu dùng.
Thuế GTGT là một loại thuế tiêu dùng, mang những đặc điểm chung như là thuế gián thu, thuế thực, và tính lũy thoái so với thu nhập Ngoài ra, thuế GTGT còn có khả năng tạo ra nguồn thu thường xuyên và ổn định cho ngân sách nhà nước.
Thứ nhất, thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn không trùng lắp Thuế
GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh nhƣng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn
Thuế GTGT có tính trung lập kinh tế, không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế Dù sản phẩm được luân chuyển qua nhiều hay ít giai đoạn, tổng số thuế GTGT phải nộp của tất cả các giai đoạn vẫn không thay đổi.
Thứ ba, thuế GTGT có tính lãnh thổ rõ rệt Đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ trong phạm vi lãnh thổ quốc gia
1.3.1.2 Nội dung chính của thuế giá trị gia tăng
Theo Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12, cùng với các sửa đổi tại Luật số 31/2013/QH13 và các điều chỉnh bổ sung, quy định về thuế giá trị gia tăng đã được cập nhật nhằm đảm bảo tính hợp lý và hiệu quả trong việc thu thuế.
Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế số 106/2016/QH13 quy định về thuế GTGT, trong đó đối tượng chịu thuế GTGT bao gồm hàng hóa và dịch vụ phục vụ cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng tại Việt Nam Điều này cũng bao gồm hàng hóa, dịch vụ được mua từ tổ chức, cá nhân nước ngoài, ngoại trừ những đối tượng không phải chịu thuế GTGT.
Người nộp thuế GTGT tại Việt Nam bao gồm các tổ chức và cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT, cũng như các tổ chức và cá nhân nhập khẩu hàng hóa và mua dịch vụ từ nước ngoài.
Thuế suất thuế GTGT hiện hành bao gồm 0%, 5% và 10%, phản ánh chính sách điều tiết thu nhập và hướng dẫn tiêu dùng Trong bối cảnh kinh doanh chưa đồng nhất ở Việt Nam, việc áp dụng các mức thuế suất khác nhau là hợp lý Tuy nhiên, sự phức tạp của cơ chế nhiều thuế suất có thể làm tăng chi phí quản lý và chấp hành luật thuế, đồng thời gây ra sự "bóp méo" giá cả giữa các hàng hóa chịu thuế suất khác nhau.
Phương pháp khấu trừ thuế GTGT đầu vào áp dụng cho các cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn và chứng từ theo quy định của pháp luật.
- Cơ sở kinh doanh có doanh thu hàng năm từ bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ từ 1 tỷ đồng trở lên, trừ hộ, cá nhân kinh doanh;
- Cơ sở kinh doanh đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế, trừ hộ, cá nhân kinh doanh
Cách tính số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp khấu trừ:
- Số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp khấu trừ thuế bằng số thuế GTGT đầu ra trừ số thuế GTGT đầu vào đƣợc khấu trừ, trong đó:
+ Số thuế giá trị gia tăng đầu ra bằng tổng số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ bán ra ghi trên hóa đơn GTGT
Số thuế GTGT đầu vào có thể khấu trừ được tính bằng tổng số thuế GTGT ghi trên hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ và chứng từ nộp thuế GTGT cho hàng hóa nhập khẩu, với điều kiện phải tuân thủ các quy định trong các văn bản pháp luật liên quan đến thuế GTGT.
Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng
Số thuế GTGT phải nộp được tính trực tiếp bằng cách nhân GTGT với thuế suất thuế GTGT, áp dụng cho hoạt động mua bán và chế tác vàng bạc, đá quý.
Số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT bằng tỷ lệ % nhân với doanh thu áp dụng với các đối tƣợng:
Doanh nghiệp và hợp tác xã có doanh thu hàng năm dưới 1 tỷ đồng sẽ không phải áp dụng phương pháp khấu trừ thuế, trừ khi họ tự nguyện đăng ký.
- Hộ, cá nhân kinh doanh
Tổ chức và cá nhân nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nhưng có doanh thu phát sinh tại đây cần thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ Tuy nhiên, ngoại trừ các tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển và khai thác dầu khí, sẽ nộp thuế theo phương pháp khấu trừ do bên Việt Nam thực hiện khấu trừ nộp thay.
- Tổ chức kinh tế khác, trừ trường hợp đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế
Phương pháp khấu trừ thuế có nhiều yếu tố phức tạp, dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng.
Phương pháp tính thuế GTGT trực tiếp giúp doanh nghiệp giảm bớt phức tạp trong quản lý thuế, không yêu cầu thực hiện đầy đủ chế độ kế toán và hóa đơn chứng từ Điều này cho phép thuế GTGT được tính trực tiếp trên doanh thu theo tỷ lệ phần trăm quy định, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý thuế Ngược lại, phương pháp khấu trừ thuế đầu vào đòi hỏi doanh nghiệp phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật về hóa đơn và thuế suất, đồng thời yêu cầu bộ phận kế toán có chuyên môn cao và làm việc minh bạch Do đó, quản lý thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thường gặp nhiều khó khăn và phức tạp hơn so với phương pháp tính trực tiếp.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác định là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, những doanh nghiệp này thực hiện việc nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế đầu vào.
1.3.2 Những vấn đề cơ bản về quản lý thuế giá trị gia tăng
1.3.2.1 Khái niệm, đặc điểm của công tác quản lý thuế giá trị gia tăng