Uỷ ban dân số, gia đình và trẻ em - Bộ quốc phòng học viện quân y báo cáo kết quả đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ Đánh giá nhu cầu của cộng đồng và khả năng đáp ứng của Trung tâm T
Trang 1Uỷ ban dân số, gia đình và trẻ em - Bộ quốc phòng
học viện quân y
báo cáo kết quả
đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ
Đánh giá nhu cầu của cộng đồng và khả năng
đáp ứng của Trung tâm T− vấn Dịch vụ Dân số,
Trang 2Uỷ ban dân số, gia đình và trẻ em - Bộ quốc phòng
học viện quân y
báo cáo kết quả
đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ
Đánh giá nhu cầu của cộng đồng và
khả năng đáp ứng của Trung tâm Tư vấn Dịch vụ Dân
số, Gia Đình và Trẻ em cấp tỉnh/thành phố
Cơ quan quản lý: Uỷ ban DS,GĐ&TE
Cơ quan chủ trì: Học viện Quân y
Chủ nhiệm đề tài: TS Hoàng Văn Lương
Đồng chủ nhiệm: PGS.TS Phạm Bá Nhất
Thư ký đề tài: ThS Nguyễn Văn Ba
Những người thực hiện chính
ThS Nguyễn Văn Dự ThS Lê Quốc Tuấn
Hà Nội, 2005
Trang 3Những chữ viết tắt
BV&CSTE Bảo vệ và chăm sóc trẻ em
DS-KHHGĐ Dân số kế hoạch hoá gia đình
Trang 4Mục lục
Trang
1.1 Tỡnh hỡnh thực hiện chớnh sỏch DS-KHHGĐ ở Việt Nam 4 1.2 Một số khỏi niệm và tiếp cận lý luận về dõn số, gia đỡnh và trẻ em 8 1.3 Sự phỏt triển hệ thống dịch vụ KHHGĐ ở Việt Nam 12
1.3.1- Kờnh cung ứng dịch vụ KHHGĐ lõm sàng 12
1.3.2 - Kờnh phõn phối dựa vào cộng đồng (CBD) 13
1.3.3 - Kờnh tiếp thị xó hội phương tiện trỏnh thai 14 1.4 Tỡnh hỡnh nghiờn cứu trong nước về dịch vụ dõn số, gia đỡnh và
trẻ em
15
Chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 21
2.6 Hạn chế của đề tài và biện pháp khắc phục 25
2.8 Tổ chức thực hiện và lực lượng tham gia 26
Chương 3 kết quả nghiên cứu và bàn luận 28 3.1 Đặc trưng cá nhân của các đối tượng nghiên cứu 28 3.2 Đánh giá nhu cầu cộng đồng về tư vấn và dịch vụ dân số, gia đình
Trang 53.4.2 Mét sè chøc n¨ng, nhiÖm vô, quyÒn h¹n cña trung t©m cßn
ch−a phï hîp vµ cßn chång chÐo víi mét sè ngµnh kh¸c, nhÊt lµ
Trang 6Công tác DS-KHHGĐ sau hơn 12 năm thực hiện Nghị quyết Trung
ương lần thứ 4 khoá VII về Chính sách Dân số và Kế hoạch hoá gia đình
đã đạt những thành tựu quan trọng trong việc kiềm chế và kiểm soát tốc
độ tăng dân số quá nhanh ở nước ta Tổ chức bộ máy làm công tác KHHGĐ từng bước kiện toàn từ trung ương đến địa phương để thực hiện chức năng quản lý nhà nước và phối hợp với các bộ, ngành, đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội thực hiện chương trình DS-KHHGĐ Ngày 22/3/2005,
DS-Bộ Chính trị đã có nghị quyết số 47 NQ/TW về việc Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách DS-KHHGĐ nhằm tăng cường sự chỉ đạo của Đảng
và Nhà nước đối với công tác DS-KHHGĐ, triển khai mạnh và đồng bộ các giải pháp thực hiện công tác dân số cả về khống chế quy mô và nâng cao chất lượng dân số
Công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em (BV&CSTE) được quan tâm và
đẩy mạnh, sau hơn 10 năm thực hiện Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã đạt những kết quả đáng khích lệ Từ năm 2001 đến nay, Chương trình hành động Quốc gia vì trẻ em đã có những chuyển hướng quan trọng
đến bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em tàn tật
Về tổ chức làm công tác dân số, gia đình và trẻ em (DS, GĐ&TE) cấp tỉnh/ thành phố, thông tư số 32/TTLT ngày 6/6/2001 liên bộ giữa Ban
tổ chức Cán bộ Chính phủ với Uỷ ban Quốc gia DS-KHHGĐ và Uỷ ban BV&CSTE Việt Nam hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức Uỷ ban DS,GĐ&TE ở địa phương, theo đó, Uỷ ban DS, GĐ&TE cấp tỉnh được thành lập hai đơn vị sự nghiệp là : Quỹ Bảo trợ trẻ em và Trung
Trang 7tâm tư vấn – Dịch vụ DS,GĐ &TE Trung tâm có nhiệm vụ tư vấn và thực hiện một số dịch vụ về DS,GĐ&TE, sản xuất các sản phẩm truyền thông
Từ cuối năm 2001 đến nay, thực hiện thông tư liên tịch số 32/TTLT nói trên, nhiều tỉnh/thành phố đã thành lập Trung tâm tư vấn – dịch vụ DS, GĐ & TE và đã đi vào hoạt động Một số tỉnh đã triển khai sớm, chủ động
bố trí cán bộ, chuẩn bị cơ sở vật chất, trang thiết bị và triển khai hoạt động
đạt một số kết quả bước đầu cả về tư vấn và dịch vụ chuyên môn về DS, GĐ & TE
Sau khi Uỷ Ban Dân số, Gia đình và Trẻ em được thành lập ở Trung
ương, hệ thống DS, GĐ & TE từ Trung ương đến cơ sở được tăng cường và củng cố thêm một bước, tác động đến việc kiện toàn Uỷ ban Dân số, Gia
đình và Trẻ em ở các địa phương, trong đó có các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Uỷ ban DS, GĐ & TE cấp tỉnh/ thành phố Theo báo cáo của các tỉnh năm 2002 – 2003, kết quả hoạt động của Trung tâm tư vấn – dịch vụ
DS, GĐ & TE đã đạt được kết quả bước đầu đáng khích lệ, đáp ứng một phần nhu cầu tư vấn và dịch vụ về DS, GĐ & TE của cộng đồng
Tuy nhiên, mô hình tổ chức và hoạt động của Trung tâm này ở các
địa phương chưa thống nhất, việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị còn nhiều hạn chế Chức năng nhiệm vụ tư vấn và cung cấp dịch
vụ về lĩnh vực DS,GĐ&TE chưa được hướng dẫn, quy định rõ ràng; kỹ năng thực hiện và triển khai các hoạt động tư vấn và cung cấp dịch vụ về lĩnh vực DS,GĐ&TE còn quá mới mẻ, chưa được hướng dẫn và thiếu kinh nghiệm triển khai về vấn đề này Đến năm 2004 – 2005, trong khuôn khổ các chương trình phối hợp giữa Uỷ ban DS,GĐ&TE Trung ương với các
bộ, ngành, đoàn thể ở Trung ương, vấn đề cung cấp dịch vụ gia đình đối với ngành DS,GĐ&TE mới được đặt ra để định hướng cho các khảo sát
đánh giá và triển khai thí điểm mô hình tại một số tỉnh như Hưng Yên Hiện nay vẫn chưa có một nghiên cứu đánh giá đầy đủ về nhu cầu của cộng đồng và khả năng hoạt động cung cấp các nội dung tư vấn và dịch vụ
Trang 8của Trung tâm, vì vậy thiếu những căn cứ lý luận và thực tiễn để đề xuất chích sách, chủ trương trong việc xây dựng và phát triển Trung tâm nhằm góp phần thực hiện tốt hơn công tác DS,GĐ&TE trong giai đoạn mới
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: "Đánh giá nhu cầu của cộng đồng và khả năng đáp ứng của
Trung tâm Tư vấn dịch vụ dân số, gia đình và trẻ em cấp tỉnh/thành phố" nhằm các mục tiêu sau đây:
1- Đánh giá nhu cầu về tư vấn và dịch vụ dân số, gia đình và trẻ
em của cộng đồng
2- Đánh giá thực trạng hoạt động và khả năng đáp ứng của Trung tâm Tư vấn dịch vụ dân số, gia đình và trẻ em cấp tỉnh/ thành phố
3- Đề xuất giải pháp tăng cường năng lực và chất lượng hoạt
động của Trung Tâm tư vấn dịch vụ dân số, gia đình và trẻ em ở địa phương
Trang 9Chương 1 tæng quan tµi liÖu 1.1 Tình hình thực hiện chính sách DS, GĐ và TE ở Việt Nam:
Do sớm nhận thức được vị trí và tầm quan trọng của công tác dân số và
kế hoạch hoá gia đình (DS-KHHGĐ) đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước và nâng cao đời sống nhân dân, ngay từ những năm đầu của thập kỷ
60 Đảng và Nhà nước ta đã đề ra chủ trương, chính sách DS-KHHGĐ Sau 31 năm thực hiện công tác này, chúng ta đã đạt được những kết quả nhất định nhưng vẫn còn rất thấp so với yêu cầu, chưa kiểm soát được tốc độ gia tăng dân số quá nhanh Năm 1992, tỷ lệ sinh vẫn còn cao tới 30,04%0, dân số Việt nam đã lên đến 70 triệu người, tỷ lệ phát triển dân số hàng năm vẫn trên 2%, bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có gần 4 con Nếu vẫn duy trì tốc
độ này thì cứ khoảng 30 năm một lần dân số Việt Nam sẽ tăng gấp đôi
Nhận thức rõ "sự gia tăng dân số quá nhanh là một trong những
nguyên nhân quan trọng cản trở tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, gây khó khăn lớn cho việc cải thiện đời sống, hạn chế điều kiện phát triển về mặt trí tuệ, văn hoá và thể lực của giống nòi", "nếu xu hướng này cứ tiếp tục diễn ra thì trong một tương lai không xa đất nước ta sẽ đứng trước những khó khăn rất lớn, thậm chí những nguy cơ về nhiều mặt", và "làm tốt công tác kế hoạch hoá gia đình, thực hiện gia đình ít con, giảm nhanh tỷ lệ phát triển dân số, tiến tới ổn định quy mô dân số là vấn đề rất quan trọng và bức xúc đối với nước ta", ngày 14 tháng 01 năm 1993, Hội nghị lần thứ 4 ban chấp hành
Trung ương Đảng khoá VII đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/HNTW về chính sách DS-KHHGĐ (sau đây gọi tắt là NQTW4 khoá VII) với quyết tâm giải quyết cơ bản về vấn đề quy mô dân số ở nước ta
Do quán triệt và thực hiện có hiệu quả các quan điểm của Đảng coi giải pháp cơ bản để thực hiện công tác DS-KHHGĐ là vận động, tuyên truyền và
Trang 10giáo dục, gắn liền với đưa dịch vụ KHHGĐ đến tận người dân, có chính sách mang lại lợi ích trực tiếp cho người chấp nhận gia đình ít con
Nghị quyết Trung ương 4 khoá VII về chính sách DS-KHHGĐ là văn bản đầu tiên đề cập một cách đầy đủ và toàn diện, có tầm nhìn xa của Đảng ta
về vấn đề DS-KHHGĐ của đất nước Nội dung của Nghị quyết được trình bày một cách khoa học, ngắn gọn, rõ ràng, tạo thuận lợi rất lớn cho việc tổ chức thực hiện, đưa Nghị quyết vào cuộc sống
Sau hơn 12 năm thực hiện NQTW4 khoá VII, công tác truyền thông, vận động, giáo dục và cung cấp dịch vụ sức khoẻ sinh sản kế hoạch hoá gia đình (SKSS/KHHGĐ) đã đạt được những kết quả rất quan trọng
Công tác thông tin, giáo dục tuyên truyền: Được xác định là một trong các giải pháp cơ bản của công tác DS-KHHGĐ và đã được xây dựng thành chiến lược, định hướng một cách toàn diện mục tiêu và các giải pháp thực hiện
Các kênh truyền thông được sử dụng đa dạng (thông tin đại chúng, tuyên truyền, vận động trực tiếp, văn nghệ dân gian) Công tác truyền thông dân số qua các phương tiện thông tin đại chúng được tăng cường Việc tuyên truyền trực tiếp của đội ngũ cộng tác viên dân số và đội ngũ tuyên truyền viên của các ngành đoàn thể, tổ chức xã hội được đẩy mạnh Với phương châm
"đến từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng", đội ngũ cộng tác viên, tuyên truyền viên đã đưa thông tin DS-KHHGĐ đến tận mỗi gia đình và người dân Các sản phẩm truyền thông đã được sản xuất và cung cấp cho đối tượng với số lượng lớn, nội dung phong phú, hình thức đa dạng, chất lượng được nâng cao Tuy chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu nhưng bình quân mỗi hộ gia đình đã có ít nhất một sản phẩm truyền thông về DS-KHHGĐ
Trang 11Công tác giáo dục dân số đã được đưa vào trong hệ thống các trường phổ thông, trường đại học và trung học chuyên nghiệp trong các môn học về đạo đức công dân, sinh học, địa lý, tâm lý giáo dục
Đại bộ phận các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội đã tích cực tham gia vào công tác DS-KHHGĐ và coi đó là một trong những nhiệm vụ của mình Các mô hình truyền thông dân số được xây dựng và triển khai dựa trên thế mạnh của mỗi ngành, đoàn thể và đảm bảo tiếp cận phù hợp với từng nhóm đối tượng như: Phụ nữ không sinh con thứ ba và giúp nhau làm kinh tế, các chức sắc tôn giáo tham gia công tác DS-KHHGĐ, nam nông dân thực hiện KHHGĐ, câu lạc bộ gia đình trẻ và câu lạc bộ tiền hôn nhân Các mô hình này đã tác động đến sự chuyển đổi nhận thức của đối tượng, làm thay đổi hành vi và chấp nhận sử dụng các biện pháp tránh thai (BPTT) và thực hiện quy mô gia đình ít con
Các hoạt động truyền thông được tiến hành đồng bộ từ Trung ương đến tận thôn, xóm, bản làng và được đầu tư ngân sách ngày càng tăng cả về nguồn lực và tỷ trọng kinh phí trong Chương trình quốc gia
Tuy nhiên, công tác thông tin - giáo dục - tuyên truyền về dân số chưa
đi vào chiều sâu Sản phẩm truyền thông chưa phù hợp với đặc thù của từng vùng lãnh thổ và đồng bào các dân tộc ít người, với các đối tượng có trình độ thấp; chưa đáp ứng đủ nhu cầu thông tin đối với các vùng sâu, vùng xa; chưa chú ý thích đáng tới xây dựng và củng cố các mô hình truyền thông ở tuyến
cơ sở Việc phân phối và cung cấp tài liệu chưa được kịp thời và đầy đủ
Hoạt động truyền thông mới chỉ tập trung vào các cặp vợ chồng trong
độ tuổi sinh đẻ, chưa quan tâm thích đáng tới vị thành niên, nam giới, các dân tốc ít người và các nhóm tôn giáo
Công tác tư vấn về SKSS/KHHGĐ còn yếu, chưa cung cấp đầy đủ kiến thức,kỹ năng cũng như phương tiện cần thiết cho người cung cấp dịch vụ
Trang 12Mặt khác, thông tin - giáo dục - tuyên truyền mới chỉ tập trung vào KHHGĐ, do đó các vấn đề về dân số và phát triển, về giới và bình đẳng giới mới chỉ được đề cập đến một cách hạn chế
Về dịch vụ Kế hoạch hoá gia đình: Hệ thống dịch vụ KHHGĐ ngày càng được củng cố và phát triển, các mô hình cung cấp dịch vụ linh hoạt được triển khai để đưa dịch vụ KHHGĐ đến từng gia đình và người sử dụng
Đã xây dựng và nâng cấp thêm nhiều cơ sở dịch vụ KHHGĐ tại các tuyến xã, huyện và tỉnh; đào tạo thực hành về kỹ thuật đình sản, đặt vòng tránh thai, tiêm thuốc tránh thai và bảng kiểm viên thuốc tránh thai Đến nay
đã có 93% số huyện làm được kỹ thuật đình sản và 68,7% số xã thực hiện được kỹ thuật đặt được vòng tránh thai và hút thai sớm
Thực hiện mục tiêu đưa dịch vụ KHHGĐ đến tận người dân, bên cạnh việc tổ chức cung cấp dịch vụ KHHGĐ tại các cơ sở y tế, chương trình DS-KHHGĐ đã xây dựng và thử nghiệm "mô hình động" nhằm đưa phương tiện tránh thai (PTTT) và dịch vụ KHHGĐ đến tận người sử dụng như tiếp thị xã hội PTTT, phân phối PTTT dựa vào cộng đồng, đội dịch vụ KHHGĐ lưu động, chiến dich tăng cường đưa dịch vụ SKSS/KHHGĐ đến vùng khó khăn Cùng với hệ thống cung cấp dịch vụ KHHGĐ của Nhà nước, các hệ thống dich vụ KHHGĐ của các đoàn thể, tư nhân cũng được tạo điều kiện và được khuyến khích tham gia cung cấp dịch vụ KHHGĐ cho các đối tượng có nhu cầu
Thay cho chương trình "một biện pháp" (đặt vòng), chủ trương đa dạng hoá các BPTT được triển khai nhanh chóng đáp ứng nhu cầu của người dân Cùng với việc làm tốt công tác tuyên truyền vận động, đẩy mạnh xây dựng cơ
sở vật chất, cung cấp trang thiết bị Y tế và đào tạo cán bộ kỹ thụât KHHGĐ cho các cơ sở y tế Nhà nước, mở rộng và đa dạng hoá các kênh cung cấp dịch
vụ KHHGĐ, đáp ứng yêu cầu cung cấp dịch vụ đa dạng, an toàn, thuận tiện
đã tạo điều kiện tăng nhanh số người áp dụng BPTT
Trang 13Tuy nhiên, ở một số nơi thuộc khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa dịch vụ KHHGĐ chưa đáp ứng được yêu cầu thuận tiện, kịp thời, an toàn và
đa dạng; chất lượng dịch vụ KHHGĐ chưa cao; chưa có mô hình cung cấp dịch vụ KHHGĐ có hiệu quả đối với khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo và các vùng có nhiều người di cư từ nông thôn tới; tiếp thị xã hội các PTTT vẫn còn nhiều khó khăn trở ngại Công tác tư vấn còn yếu, dịch vụ tư vấn chưa được chú ý đúng mức, tỷ lệ nạo phá thai còn cao, đặc biệt là thời kỳ trước năm 2000
1.2 Một số khái niệm và tiếp cận lý luận về dân số, gia đình và trẻ em:
Dân số: Theo nghĩa đơn giản, dân số là số lượng người sống tại một
địa phương, một vùng lãnh thổ, một quốc gia nhất định trong một thời gian xác định
Trong dân số học, dân số được hiểu là: Một tập hợp người sinh sống
trong một địa phương, vùng lãnh thổ hay một quốc gia Tập hợp người đó thể hiện về mặt số lượng, về cơ cấu: tuổi, giới tính, nghề nghiệp, dân tộc, tôn giáo.v.v ; về mặt phân bổ số lượng và chất lượng tập hợp người đó bao gồm những cá thể người thường xuyên biến động tạo nên những biến động về dân
số nói chung
Dân số và nền sản xuất xã hội:
Nền sản xuất xã hội bao gồm hai mặt gắn bó hữu cơ với nhau: Sản xuất vật chất và "tái sản xuất con người" Sản xuất của cải vật chất (các tư liệu sinh hoạt, lương thực, thực phẩm ) và tái sản xuất bản thân con người đều nhằm đảm bảo sự sinh tồn của loài người Hai quá trình sản xuất trên có liên quan mật thiết và tác động lẫn nhau trong sự thống nhất biện chứng
Sản xuất vật chất quyết định trực tiếp đến sự sống và là cơ sở của tái sản xuất con người Ngược lại tái sản xuất ra con người là tiền đề của tái sản xuất vật chất, không có con người thì không có bất kỳ hình thức sản xuất nào
Trang 14Có tái sản xuất con người mới có sự thay thế, đổi mới hoặc tăng cường lực lượng lao động Sự phát triển dân số hợp lý cả về số lượng và chất lượng sẽ thúc đẩy sự phát triển của sản xuất vật chất đáp ứng yêu cầu của xã hội và nhu cầu tiêu dùng của con người
Xã hội loài người là một thực thể bao gồm hai kiểu sản xuất này và chính hai kiểu sản xuất này lại là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội Hai kiểu sản xuất trên bao giờ cũng phải ở thế cân bằng thì xã hội mới phát triển và do đó cần điều chỉnh thống nhất để đảm bảo được sự cân bằng, phù hợp Nếu tốc độ tái sản xuất con người nhanh hơn tốc độ sản xuất vật chất sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng thậm chí dẫn đến sự diệt vong của xã hội loài người
Gia đình: Là tập hợp những người có quan hệ hôn nhân và huyết thống
sống cùng trong một nhà
Quy mô gia đình: Là số người có quan hệ ruột thịt sống với nhau và có
quỹ thu chi chung Xét theo số con của mỗi cặp vợ chồng, có quy mô gia đình nhỏ, ít con (1 đến 2 con) quy mô gia đình nhiều con, quy mô gia đình lớn (3 con trở lên) Có hai loại gia đình: Gia đình truyền thống (có nhiều thế hệ cùng chung sống) và gia đình hạt nhân (có 2 thế hệ)
Kế hoạch hoá gia đình: Là việc điều chỉnh số con sinh ra trong nội bộ
gia đình (nghĩa hẹp) Thông qua những quyết định tự nguyện của cặp vợ chồng trong việc lựa chọn quy mô gia đình (chủ yếu là số con) và các khả năng thực hiện các quyết định ấy Ở một số nước KHHGĐ hoặc chương trình KHHGĐ được hiểu là các biện pháp nhằm hạn chế sinh đẻ KHHGĐ hiểu theo nghĩa rộng còn bao hàm cả sự nỗ lực của các cặp vợ chồng để có con KHHGĐ là sự lựa chọn có ý thức của các cặp vợ chồng nhằm điều chỉnh số con, thời điểm sinh con và khoảng cách sinh con sao cho phù hợp với điều kiện sống và hoàn cảnh KHHGĐ không chỉ bao hàm các BPTT mà còn bao gồm cả sự giúp đỡ các cặp vợ chồng để có thai và sinh con
Trang 15Biện pháp kế hoạch hoá gia đình:
Là những sự thực hành nhằm giúp cho các cá nhân hay các cặp vợ chồng đạt được mục đích: Tránh được những trường hợp có thai không mong muốn; Chủ động điều hoà khoảng cách giữa các lần sinh và chủ động thời điểm sinh con, số con mong muốn phù hợp với bản thân"
Sức khoẻ sinh sản:
Là tình trạng thoải mái hoàn toàn về mặt thể chất, tinh thần, xã hội và không chỉ là không có bệnh tật trong mọi vấn đề liên quan đến hệ thống sinh sản và các chức năng, các quá trình của nó - Như vậy, SKSS có nghĩa là mọi người có được một cuộc sống tình dục an toàn và thoải mái, mọi người có khả năng và có quyền để quyết định sinh đẻ khi nào và như thế nào
Sức khoẻ sinh sản là một vấn đề mới được chính thức đề cập từ sau Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển năm 1994 họp tại Cairo - Ai Cập SKSS bao gồm 10 nội dung (lĩnh vực) chủ yếu sau đây:
1Kế hoạch hoá gia đình; 2 Sinh đẻ và làm mẹ an toàn; 3 Sức khoẻ
vị thành niên; 4 Phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục, bao gồm HIV/AIDS; 5 Phòng chống nhiễm khuẩn đường sinh sản; 6 Giáo dục giới tính và tình dục học; 7 Giảm và an toàn trong nạo, phá thai; 8 Phòng và điều trị vô sinh; 9 Phòng và điều trị các bệnh ung thư vú và bộ máy sinh sản; Tuyên truyền giáo dục về SKSS
Tư vấn về kế hoạch hoá gia đình:
Tư vấn KHHGĐ là quá trình giúp cho đối tượng (khách hàng) nhận được thông tin chính xác, rõ ràng để tự quyết định lựa chọn sử dụng biện pháp KHHGĐ được thường xuyên, an toàn và phù hợp với hoàn cảnh riêng của từng đối tượng
Đây là một hình thức truyền thông mà nguồn phát là cán bộ tư vấn, người nhận là cá nhân, là một cặp vợ chồng hoặc một nhóm người có cùng
Trang 16hoàn cảnh tương tự Những đối tượng này muốn hiểu biết về một vấn đề nào
đó về KHHGĐ hoặc muốn mắt thấy, tai nghe, trực tiếp trao đổi, thảo luận tâm
sự với cán bộ tư vấn Họ muốn nhận được những lời khuyên đúng đắn, sự chỉ bảo chân thật và thích hợp với hoàn cảnh của họ để áp dụng
Mục tiêu của công tác tư vấn không phải xuất phát từ nhu cầu của người cán bộ tư vấn, mà xuất phát từ nhu cầu của khách hàng (người nhận)
Vì vậy, tư vấn là một loại truyền thông đặc biệt với một nhóm đối tượng có nhu cầu cụ thể, cần được khuyên bảo, góp ý, giải thích, vận động để khách hàng được thoải mái và tự nguyện thực hiện
Công tác tư vấn KHHGĐ khác với tư vấn trị bệnh Nó cũng khác với lời khuyên của nhân viên y tế về công tác chăm sóc, điều trị bệnh nhân Trong việc này người góp ý kiến thường yêu cầu bệnh nhân phải chấp hành Ngược lại, công tác tư vấn KHHGĐ có mục tiêu chuyên biệt đó là giúp cho khách hàng đề ra các quyết định tự nguyện, đã được suy tính kỹ càng về vấn đề sinh sản Họ được hài lòng với những biện pháp đã lựa chọn
Nội dung tư vấn KHHGĐ:
Tư vấn KHHGĐ là dạng truyền thông trực tiếp rất có hiệu quả Người
tư vấn thường là điểm tiếp xúc đầu tiên giữa khách hàng với chương trình KHHGĐ, là một nhiệm vụ quan trọng của những người cung cấp dịch vụ này
Tư vấn dịch vụ KHHGĐ có những nội dung sau:
* Cung cấp những thông tin đầy đủ và chính xác về dịch vụ KHHGĐ
* Tìm hiểu sự băn khoăn, lo lắng của đối tượng về sự lựa chọn các biện pháp KHHGĐ
* Thảo luận và đưa ra lời khuyên khách quan, trung thực phù hợp với đối tượng
* Xây dựng cho đối tượng có thái độ tích cực đối với chương trình KHHGĐ để họ thấy trách nhiệm đối với gia đình và xã hội
Trang 17Để thực hiện tốt và hiệu quả công tác tư vấn đòi hỏi những những điều kiện cần thiết, những tiêu chuẩn của người cán bộ làm công tác tư vấn, đồng thời cần có những phương pháp tư vấn vê DS-KHHGĐ
1.3 Sự phát triển hệ thống dịch vụ KHHGĐ ở Việt Nam
Nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ 4 khoá VII về chính sách KHHGĐ đã nêu rõ: "Củng cố và phát triển mạng lưới dịch vụ KHHGĐ thông qua hệ thống y tế của Nhà nước, song song với việc tăng cường vai trò của cộng đồng để đưa dịch vụ đến từng gia đình và người sử dụng, bán rộng rãi
DS-các phương tiện, dụng cụ KHHGĐ Khuyến khích DS-các tổ chức, tập thể và tư
nhân làm dịch vụ KHHGĐ" - Trên cơ sở đó, chiến lược DS-KHHGĐ đến năm
2000 đã xác định hệ thống dịch vụ KHHGĐ gồm 3 kênh cung ứng chủ yếu sau đây:
1.3.1- Kênh cung ứng dịch vụ KHHGĐ lâm sàng:
Lâm sàng (chữ Hán nghĩa là giường bệnh), với cách tiếp cận đó khái
niệm kênh cung cấp dịch vụ lâm sàng là: Hệ thống các cơ sở dịch vụ KHHGĐ trong Ngành Y tế từ Trung ương đến địa phương thực hiện các kỹ thuật Y tế
về KHHGĐ tại các cơ sở y tế (bao gồm những cơ sở Y tế tư nhân, Y tế ngoài công lập) nhằm cung cấp các biện pháp KHHGĐ cho đối tượng sử dụng
Ở Việt Nam, mặc dù chương trình DS-KHHGĐ đã trải qua 4 thời kỳ do các cơ quan khác nhau của Chính phủ đảm nhận nhưng kênh cung ứng dịch
vụ KHHGĐ thuộc Ngành Y tế luôn giữ vai trò chủ đạo trong việc tăng nhanh
tỷ lệ chấp nhận sử dụng BPTT
Hoạt động dịch vụ KHHGĐ nước ta thời kỳ đầu dựa vào các đội dịch
vụ lưu động thuộc Trạm Sinh đẻ có kế hoạch tỉnh và các Đội đặt vòng lưu động huyện, thực hiện tại các trạm y tế xã, phòng khám đa khoa khu vực và khoa sản của các bệnh viện đa khoa
Trang 18Trong hệ thống dịch vụ KHHGĐ của ngành y tế, các nghiên cứu về nhu cầu, khả năng đáp ứng và các số liệu thống kê thực hiện BPTT phân theo nguồn cung cấp đều xác nhận trạm y tế xã là một địa chỉ đặc biệt quan trọng
Từ năm 1992, Bộ Y tế đã cho phép triển khai đặt vòng, hút điều hoà kinh nguyệt (hút thai sớm) tại trạm y tế xã
1.3.2 - Kênh phân phối dựa vào cộng đồng (CBD):
Phân phối dựa vào cộng đồng là một chiến lược dựa vào các thành viên không phải là nhân viên y tế, được đào tạo về cung cấp các dịch vụ KHHGĐ tới tay từng thành viên của cộng đồng
Những dịch vụ này tiến hành cung cấp thông tin và các biện pháp tránh thai tạm thời, thường là bao cao su và thuốc viên tránh thai Các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu cũng có thể áp dụng thông qua phân phối dựa vào cộng đồng như: Cung cấp thuốc uống chống mất nước hoặc viên thuốc điều trị sốt rét Kênh phân phối dựa vào cộng đồng xuất hiện bởi chính những hạn chế của mô hình cung ứng dịch vụ KHHGĐ lâm sàng của ngành y tế, bao gồm:
- Sự cung ứng chủ yếu theo "mô hình tĩnh", khách hàng phải đến nhận phương tiện tránh thai và dịch vụ tại các cơ sở y tế
- Quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng là mối quan hệ thầy thuốc và bệnh nhân Vì vậy, bên cạnh những hiệu quả và tính hợp lý đã xuất hiện "những cản trở y học đối với sự chấp nhận KHHGĐ" dựa trên những chống chỉ định có khi đã lỗi thời vẫn được áp dụng một cách máy móc dẫn đến khi sử dụng một biện pháp tránh thai còn nhiều thủ tục như thăm khám và những xét nghiệm bắt buộc, làm cho khách hàng KHHGĐ trở thành những bệnh nhân thật sự Vì vậy, đã hình thành kênh phân phối dựa vào cộng đồng:
Tổ chức Y tế thế giới cho rằng phân phối dựa vào cộng đồng thích hợp với nhiều nước đang phát triển, vì ở đây các nguồn lực (nhân lực và vật lực)
Trang 19còn hạn chế trong khi nhu cầu lớn nhất về số người sử dụng BPTT cần cung cấp lại sống ở những vùng nông thôn xa xôi hoặc những khu nhà ổ chuột tại các đô thị, không có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ KHHGĐ lâm sàng ở những cơ sở y tế
Trong chương trình cung cấp các biện pháp tránh thai cho những người nghèo có thu nhập thấp ở nhiêù nước đang phát triển, đặc biệt là ở những nước đã thành công chương trình KHHGĐ, phân phối dựa vào cộng đồng giữ một vai trò rất quan trọng Hội đồng Dân số thế giới đã phân tích và đánh giá cao kết quả triển khai kênh phân phối này ở một số nước khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
1.3.3 - Kênh tiếp thị xã hội phương tiện tránh thai:
Tiếp thị xã hội (TTXH) phương tiện tránh thai là phương pháp phân phối KHHGĐ dựa trên mạng lưới thương mại thị trường, cung cấp PTTT có trợ giá một phần nhằm chuyển hướng từ phân phối miễn phí tới phương thức phân phối PTTT mà người sử dụng tự chi trả kinh phí thực hiện KHHGĐ Khi
giảm dần trợ giá, TTXH trở thành một bộ phận của thị trường PTTT
Trên thực tế của hoạt động dịch vụ KHHGĐ đã xuất hiện một khoảng trống giữa hai phương thức: Cấp miễn phí các PTTT, bao cấp chi phí cho dịch
vụ KHHGĐ và phương thức tự mua giá cao trên thị trường tự do Khoảng trống đó bao gồm một số lượng lớn khách hàng (họ không muốn nhận PTTT cấp phát miễn phí của Nhà nước cung cấp vì không thuận tiện, e ngại không muốn nhận từ tay những người quen biết hoặc vì những lý do tâm lý khác Nhưng họ lại băn khoăn khi phải mua PTTT thường xuyên với giá cao ở thị trường tự do) Tiếp thị xã hội PTTT nhằm đáp ứng nhu cầu của những khách hàng nói trên, hy vọng lấp dần khoảng trống giữa 2 kênh cung ứng PTTT cấp miễn phí và thị trường tự do
Tiếp thị xã hội PTTT thực chất là bán trợ giá một số loại sản phẩm
Trang 20KHHGĐ Mục tiêu cuối cùng của tiếp thị xã hội PTTT là góp phần đẩy nhanh
xu thế xã hội hoá làm cho người sử dụng chia sẻ kinh phí với cộng đồng, với
nhà nước trong chương trình KHHGĐ
1.4 Tình hình nghiên cứu trong nước về dịch vụ dân số, gia đình và trẻ
(PS-Năm 1995-1996, Bộ Y tế và Uỷ ban Quốc gia DS-KHHGĐ đã khảo sát
và triển khai mô hình thử nghiệm về hành nghề tư nhân PS-KHHGĐ tại 6 huyện của 3 tỉnh/TP là: Hà Nội, Cao Bằng và Đồng Nai Năm 1997 khảo sát được mở rộng ra 8 tỉnh/TP là: Hà Nội, Cao Bằng, Thanh Hoá, Đồng Nai, Đà Nẵng, Hưng Yên, Hải Dương và Lâm Đồng Năm 2000, khảo sát được tiếp tục tại 8 tỉnh nói trên nhằm đánh giá kết quả triển khai mô hình thử nghiệm
Kết quả nghiên cứu của Lê Đức Chính (1998) và Phạm Bá Nhất, Đào Văn Dũng (2000) cho thấy những thông tin về khách hàng chấp nhận, sử dụng dịch vụ KHHGĐ như sau:
Về tuổi của khách hàng:
Chủ yếu khách hàng có độ tuổi từ 25-39 tuổi, chiếm tỷ lệ 72,6% của tổng số và phân bổ đồng đều giữa các tỉnh/TP Số ít là 15-24 tuổi có tỷ lệ 7,5%, rất ít là 45-49 tuổi có tỷ lệ 3,3% Khách hàng nhóm tuổi 40-44 chiếm tỷ
lệ thấp 16,3%
Trang 21Các tỉnh/TP Hà Nội, Cao Bằng, Đà Nẵng, Hưng Yên và Lâm Đồng khách hàng chủ yếu là nhóm đối tượng 25-34 tuổi Riêng Thanh Hoá và Hải Dương chủ yếu là đối tượng 35-44 tuổi
Học vấn và nghề nghiệp của khách hàng:
Khách hàng có trình độ Phổ thông cơ sở và Phổ thông trung học chiếm 62,7% Các tỉnh Đồng Nai và Lâm Đồng có trình độ tiểu học cao hơn các tỉnh khác và TP Hà Nội có trình độ học vấn cao hơn có ý nghĩa thống kê so với các tỉnh khác
Nghề nghiệp của khách hàng rất đa dạng và phân bố khá đều giữa nông dân, cán bộ công nhân viên và nghề tự do (30,4 - 31,8 - 40,1%) Nông dân chiếm tỷ lệ cao ở Cao Bằng 56,2%, Hải Dương 59,45% và Lâm Đồng 48,1% Cán bộ công nhân viên ở Hà Nội 40,7% và Hưng Yên 56,5% Khách hàng làm nghề tự do ở Hải Dương và Lâm Đồng khá thấp với tỷ lệ 11,6 - 14,8%
Mức sống và số lần đến Y tế tư nhân:
Tổng số 369 khách hàng đến cơ sở Y tế tư nhân đã trả lời, được thống
kê và phân loại theo mức sống và lần khám Trong đó khách hàng đến sử dụng dịch vụ tư nhân có 4,4% là người nghèo, khách hàng có mức sống trung bình là 20,4% và mức sống khá giả là 75,2% Số lần khám bình quân/năm của khách hàng là 1,75 lần; Số người khám 2-3 lần và trên 3 lần/năm chủ yếu là người ó mức sống trung bình và khá giả
Trong số 369 khách hàng có 47,7% đến 1 lần, 49,0% đến 2-3 lần và 3,2% đến trên 3 lần Đến 1 lần cao nhất là Thanh Hoá (58,3%), đến 2 lần cao nhất tại Đà Nẵng, đến trên 3 lần cao nhất tại Hà Nội
So sánh số lần đến cơ sở Y tế tư nhân và Y tế Nhà nước:
Trong 364 khách hành đến cơ sở tư nhân, tổng số có 422 lần đến với cơ
sở Y tế tư nhân và 313 lần đến với cơ sở Y tế với Nhà nước
Trang 22Khách hàng đông nhất là những người ở gần cơ sở tư nhân < 2km (60,1%) tuy nhiên vẫn có 24,7% nhà cách cơ sở Y tế tư nhân 3-5km và 15,2%
do nhà cách cơ sở Y tế tư nhân trên 5km
Vấn đề khách hàng ngoài địa bàn của chủ cơ sở Y tế tư nhân:
Trong 326.853 lượt người được dịch vụ, có 1.636 lần (chiếm 3.25%) khách hàng ngoài địa bàn đến sử dụng dịch vụ tư nhân, chủ yếu là tìm đến với các bác sỹ mà họ đã biết về uy tín tay nghề hoặc được người thân giới thiệu
Trong 303 cơ cở Y tế tư nhân có báo cáo, có 52,4% ở thành phố, thị trấn 17,4% và 30,0% ở nông thôn
Về lý do chọn lựa cơ sở Y tế tư nhân:
Trong số 420 người có trả lời phỏng vấn có 2.585 ý kiến về 9 lý do chọn lựa, trong đó lý do được chăm sóc tư vấn tận tình, chu đáo và chất lượng tốt là lý do quan trọng nhận được 39,7% đối tượng trả lời; lý do kín đáo của
cơ sở dịch vụ PS-KHHGĐ là lý do để 13,6% đối tượng chọn lựa; tiếp theo là các lý do không phải chờ đợi, do kỹ thuật và giá chấp nhận được 12,1-12,9%
Lý do khách hàng được chăm sóc tận tình cao tới 39,7%
Vấn đề dự báo nhu cầu khách hàng đến với cơ sở tư nhân:
Khách hàng đã đến với cơ sở tư nhân phần lớn đều hài lòng nên khi hỏi lần sau nếu có nhu cầu sẽ đến đâu để khám chữa, tỷ lệ trả lời đến với tư nhân rất cao 81,4%; trong khi đó ý kiến đến với cơ sở Y tế Nhà nước chỉ có 18,6% Các tỉnh/TP Hà Nội, Cao Bằng, Thanh Hoá, Hải Dương và Lâm Đồng có tỷ lệ
dự báo sẽ đến cơ sở Y tế tư nhân cao, các tỉnh khác có tỷ lệ dự báo thấp 65,2% - 78,0% (song vẫn cao hơn tỷ lệ đến với cơ sở y tế Nhà nước 22,6-34,8%)
- Về dịch vụ gia đình:
Trang 23+ Nghiên cứu về nhu cầu cung cấp dịch vụ gia đình của Nguyễn Minh Tâm và cộng sự cho thấy nhu cầu về dịch vụ gia đình khá phong phú, đa dạng:
Đối với hướng dẫn chăm sóc, rèn luyện sức khoẻ có 38-55,2% cho là cần thiết, nhất là chế độ nghỉ ngơi thư giãn 55,2%; nhu cầu dịch vụ chăm sóc sức khoẻ gia đình 41,1%
Có 27,47% ý kiến trả lời là cần thiết dịch vụ tư vấn về tâm sinh lý các lứa tuổi trong gia đình, nhất là đối với vị thành niên/thanh niên 32,1%; đối với người già 37,3% Đặc biệt là nhu cầu tư vấn và dịch vụ chăm sóc sức khoẻ người già với 40-47% ý kiến cho là cần thiết
Nhu cầu cao về tư vấn về an toàn tình dục và phòng chống tệ nạn xã hội chiếm tỷ lệ 35,5-47,7%, trong đó tư vấn về KHHGĐ 42,3%; phòng chống
và phát hiện HIV/AIDS 34,7%; phát hiện thủ đoạn buôn bán phụ nữ, trẻ em 46,7%; tư vấn tìm kiếm và giải cứu phụ nữ, trẻ em bị ép buộc dụ dỗ là nạn nhân 47,7%
Đối với trẻ em và vị thành niên nhu cầu tư vấn hướng dẫn chăm sóc trẻ
em, phát triển trí tuệ của trẻ em 53-54%; chăm sóc và hướng nghiệp cho thanh niên học sinh 44,4-48%
Đối với phát triển kinh tế gia đình, nhu cầu tư vấn hướng dẫn trồng trọt, chăn nuôi 35,2%; kinh doanh nhỏ gia đình 47,7%; giới thiệu việc làm và thông tin thương mại 49,1%
Tác giả đã sơ bộ kết luận là: Nhu cầu về dịch vụ gia đình là một trong những loại dịch vụ mới ở Việt Nam; mức độ nhu cầu và nội dung cung cấp dịch vụ gia đình đa dạng và rất khác nhau giữa từng vùng, trình độ kinh tế, mức sống và những nhóm gia đình Hai loại nhu cầu về dịch vụ tư vấn gia đình và dịch vụ bảo vệ sức khoẻ, an toàn cho các thành viên gia đình
Trang 24+ Theo Nguyễn Đức Mạnh và cộng sự trong nghiên cứu về nhu cầu dịch vụ gia đình Việt Nam trong thời kỳ đổi mới cho thấy:
Nhu cầu tư vấn về sản xuất kinh doanh: Có 62,2% có nhu cầu tư vấn vay vốn để phát triển sản xuất; nhu cầu cung cấp thông tin giá cả thị trường 51,0%; nhu cầu tư vấn về tiêu thụ sản phẩm 59,4%; tư vấn pháp luật về kinh
tế 30,3%; tư vấn về dịch vụ nhà ở và việc làm từ 57-64,3%
Vấn đề tư vấn sử dụng dịch vụ Y tế, chăm sóc sức khoẻ: Nhu cầu khám sức khoẻ định kỳ 42,3%; nhu cầu tiêm chủng phòng các bệnh nguy hiểm 35,3%; nhu cầu tư vấn và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho người già, phụ nữ, trẻ em và người tàn tật chiếm 60,2%
Cũng theo Nguyễn Đức Mạnh, khả năng đáp ứng các nhu cầu về tư vấn phát triển kinh tế, tư vấn chăm sóc sức khoẻ tại nhà hiện nay đều chưa đáp ứng nhu cầu cho cả khu vực thành thị và nông thôn
- Về dịch vụ tư vấn đối với trẻ em:
Theo báo cáo đánh giá của Trung tâm tư vấn và Dịch vụ Truyền thông của Uỷ ban DS,GĐ&TE sau 1 năm hoạt động mô hình thí điểm đường dây tư vấn, hỗ trợ trẻ em tại Hà Nội cho thấy:
Trong 12 tháng, đã có 14.583 cuộc gọi trợ giúp qua đường dây nóng, bình quân 40 cuộc gọi/ngày; Có 10.000 tranh vẽ của trẻ em dự cuộc thi "Sáng tác Logo đường dây tư vấn và hỗ trợ trẻ em"
Đã có các cuộc gọi từ 59/64 tỉnh/TP gọi yêu cầu tư vấn và hỗ trợ với 14.583 cuộc gọi (trong đó có 7.340 cuộc gọi tư vấn hỗ trợ và 50 cuộc gọi trực tiếp, khẩn cấp)
Tỷ lệ cuộc gọi của các em gái chiếm 63,51%; nam giới chiếm 30,79%
và 5,7% không nêu rõ, không xác định giới tính
Nhu cầu tư vấn phân theo nhóm tuổi cho thấy có 18% nhóm ≤ 10 tuổi; 32,13 nhóm 10-14 tuổi và nhóm trên 18 tuổi là 15,5%
Trang 25Phân tích theo vấn đề quan tâm và đề nghị hỗ trợ, cao nhất là hỏi thông tin 28,17%; nhu cầu về tư vấn sức khoẻ tâm lý 11,46%; nhu cầu tư vấn về bạo lực gia đình 13,5% bên cạnh đó có nhu cầu tư vấn về bạo lực, xâm hại tình dục, vô gia cư, các nhu cầu cơ bản khác và ảnh hưởng của HIV/AIDS
*
* * Nhìn chung, các nghiên cứu trong nước về dịch vụ DS-KHHGĐ có mật
độ và tần suất cao hơn so với các nghiên cứu về dịch vụ tư vấn trong lĩnh vực gia đình và trẻ em - Đây là vấn đề cần được quan tâm trong quá trình xây dựng và phát triển của Trung tâm
Trang 26Chương 2
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1 Địa bàn và phạm vi nghiên cứu:
Căn cứ vào mục tiêu của đề tài, chúng tôi đã lựa chọn địa bàn nghiên cứu tại 21 tỉnh, thành phố
Các địa điểm nghiên cứu trực tiếp :
7 tỉnh/thành phố đã thành lập Trung tâm và triển khai hoạt động, đại diện cho 3 vùng Bắc – trung – Nam gồm:
- Miền Bắc 3 tỉnh : Hải Phòng, Thái Bình và Ninh Bình
- Miền Trung 2 tỉnh: Đà Nẵng và Quảng Trị
- Miền Nam 2 tỉnh: Bình Dương và Cần Thơ
Các địa điểm nghiên cứu gián tiếp qua thư:
14 tỉnh/ thành phố là:
- Miền Bắc: Quảng Ninh, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Nam Định
- Miền Trung: Kon Tum, Hà Tĩnh, Khánh Hoà, Thanh Hoá
- Miền Nam: Bến Tre, Long An, An Giang, Trà Vinh, Đồng Nai, Vĩnh Long
2.2 Đối tượng nghiên cứu:
Các nhóm đối tượng nghiên cứu được lựa chọn như sau:
2.2.1 Cán bộ quản lý Trung tâm và Uỷ ban DS,GĐ&TE các tỉnh
Trang 27+ Các tỉnh nghiên cứu gián tiếp : 14 tỉnh x 7 người/ tỉnh, tổng số 98 đối tượng
+ Thực tế đã điều tra : 147 người
- Thành phần : là lãnh đạo Uỷ ban DS,GĐ&TE các tỉnh và cán bộ từ trưởng phó phòng trở lên; Giám đốc, Phó giám đốc Trung tâm tư vấn dịch
2.2.3 Đối tượng chưa được tư vấn và sử dụng dịch vụ tại Trung tâm:
- Chọn mẫu: Theo phương pháp ngẫu nhiên:
- Cỡ mẫu: 200 người x 7 tỉnh = 1400 người
- Thực tế đã điều tra: 1439 người
2.2.4 Đối tượng khách hàng đ∙ được tư vấn và sử dụng dịch vụ tại
Trung tâm:
- Chọn mẫu: Theo phương pháp ngẫu nhiên:
- Cỡ mẫu: 80 người x 7 tỉnh = 560 người
- Thực tế đã điều tra: 608 người
2.3 Vật liệu nghiên cứu:
+ Hồ sơ có liên quan đến nhiệm vụ tư vấn dịch vụ ở các Trung tâm Tư vấn dịch vụ DS,GĐ&TE của các tỉnh điều tra trực tiếp và gián tiếp từ
Trang 28+ Thống kê báo cáo của các trung tâm (theo mẫu)
+ Bộ phiếu hỏi dùng để phỏng vấn các đối tượng đã và chưa nhận tư vấn dịch vụ tại Trung tâm
+ Bộ phiếu hỏi cán bộ quản lý Trung tâm và Uỷ ban DS,GĐ&TE các tỉnh nghiên cứu
+ Bộ phiếu hỏi các nhân viên của Trung tâm Tư vấn dịch vụ DS,GĐ&TE tại tỉnh
+ Phiếu để thảo luận nhóm với các đối tượng là nhân viên Trung tâm
2.4 Phương pháp nghiên cứu:
2.4.1 Phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích kết hợp nghiên cứu
định tính và định lượng
Tiến hành xây dựng bộ câu hỏi cho các nhóm đối tượng, điều tra thử
và hoàn thiện bảng câu hỏi Các câu hỏi đơn giản, dễ hiểu, dễ trả lời và không ẩn ý để thông tin có độ nhạy cao
Phỏng vấn đối tượng qua phiếu hỏi được chuẩn bị sẵn
+ Bộ phiếu hỏi nhân viên trung tâm DS,GĐ&TE tại tỉnh
- Tập huấn điều tra viên để sử dụng thành thạo bộ công cụ
2.4.2 Thảo luận nhóm với các đối tượng có liên quan
- Tiến hành 7 cuộc thảo luận nhóm tại 7 tỉnh điều tra gián tiếp
Trang 29- Thành phần: Các cán bộ nhân viên Trung tâm Tư vấn dịch vụ DS,GĐ&TE
- Nội dung: Xác định nhu cầu về tư vấn và dịch vụ trong cộng đồng về lĩnh vực DS,GD&TE hiện nay; thực trạng hoạt động của trung tâm, các nội dung thực hiện hiệu quả và chưa hiệu quả Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực và chất lượng hoạt động
2.4.3 Phương pháp thu thập phân tích thông tin sơ cấp và số liệu thứ cấp:
- Nghiên cứu, tổng hợp, phân tích số liệu từ các báo cáo tổng kết hoạt
động của các Trung tâm Tư vấn dịch vụ DS-GD-TE tại các tỉnh nghiên cứu trực tiếp và gián tiếp; các bảng tổng hợp theo mẫu phiếu điều tra
- Nội dung phân tích, tổng hợp: thực trạng về con người, về cơ sở vật chất, trang thiết bị và hoạt động của Trung tâm Tư vấn dịch vụ DS,GĐ&TE
- Biện pháp tiến hành: số liệu được tổng hợp theo bảng thu thập số liệu đã
Điều tra viên và chuyên gia đi thực địa để quan sát Cụ thể
- Quan sát mô tả cơ sở vật chất, trang thiết bị tại Trung tâm điều tra trực tiếp
- Quan sát mô tả thực trạng hoạt động của Trung tâm Tư vấn dịch vụ DS,GD&TE
Trang 302.4.6 Xử lý số liệu
- Số liệu được làm sạch và nhập vào máy, xử lý phân tích bằng chương trình SPSS 10.0 for window
- Sử dụng các thuật toán Thống kê Y Sinh học thông thường
2.5 Phạm vi, nội dung điều tra
- Điều tra nhu cầu tư vấn và cung cấp dịch vụ DS,GD&TE của cộng đồng
- Sự ra đời và bối cảnh ra đời của Trung tâm Tư vấn dịch vụ DS,GD&TE
- Thực trạng, vai trò và hiệu quả hoạt động của Trung tâm Tư vấn dịch vụ DS,GD&TE
- Những bất cập trong quá trình hoạt động của Trung tâm Tư vấn dịch vụ DS,GD&TE
2.6 Vấn đề đạo đức nghiên cứu
- Đối tượng tham gia nghiên cứu đều được giải thích về mục đích yêu cầu của cuộc nghiên cứu
- Chỉ tiến hành nghiên cứu với các đối tượng tự nguyện tham gia phỏng vấn
- Các thông tin về đối tượng được đảm bảo giữ kín và chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu
2.7 Hạn chế của đề tài và biện pháp khắc phục
Để khống chế sai số trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành các biện pháp sau:
- Các phương án trả lời đều được mã hoá trước
- Bộ công cụ đã được thử nghiệm, hoàn chỉnh trước khi tiến hành nghiên cứu
Trang 31- Điều tra viên và giám sát viên được tập huấn kỹ trước khi tiến hành nghiên cứu Các phiếu phỏng vấn của điều tra viên được giám sát, kiểm tra những thông tin chưa rõ trước khi chuyển phiếu về Trung ương
- Trước khi nhập số liệu, các phiếu được làm sạch, loại bỏ những phiếu có thông tin không đạt yêu cầu
2.8 Tổ chức thực hiện và lực lượng tham gia
2.8.1 Tổ chức thực hiện
- Sau khi có quyết định triển khai đề tài, Ban chủ nhiệm đề tài đã làm việc
và phối hợp với Uỷ Ban DS,GD&TE7 tỉnh nghiên cứu trực tiếp là Hải Phòng, Thái Bình và Ninh Bình, Đà Nẵng, Quảng Trị, Bình Dương, Cần Thơ; và 14 tỉnh nghiên cứu gián tiếp để chọn địa điểm nghiên cứu, giám sát viên và điều tra viên
- Lập kế hoạch tổ chức thực hiện: tập huấn cho điều tra viên, giám sát viên và tiến hành điều tra tại thực địa
- Kiểm tra, làm sạch số liệu, nhập số liệu vào máy tính, xử lý phân tích số liệu
- Viết báo cáo, xin ý kiến đóng góp, hoàn thiện báo cáo
2.8.2 Lực lượng tham gia
- Giám sát viên:
+ Giám sát viên là các cán bộ của Uỷ ban DS,GD&TE và các cán bộ thuộc Học viện Quân Y Nội dung, kế hoạch điều tra khảo sát tại 7 tỉnh nghiên cứu trực tiếp đã được thống nhất trước và thông báo cho địa phương, yêu cầu những hỗ trợ cần thiết trong quá trình điều tra
+ Giám sát viên trực tiếp tổ chức các cuộc thảo luận nhóm, giám sát quá trình điều tra và kiểm tra các số liệu thu thập, số liệu điều tra từ các điều tra viên
- Điều tra viên:
Trang 32+ Điều tra viên là các cán bộ Trung tâm T− vấn dịch vụ DS,GD&TE các tỉnh điều tra trực tiếp
+ Điều tra viên đ−ợc tập huấn kỹ về mục đích yêu cầu của đề tài, nhiệm
vụ, yêu cầu đối với điều tra viên, nội dung các phiếu hỏi, cách hỏi đối t−ợng và cách ghi thông tin vào phiếu
+ Trong quá trình điều tra đ−ợc giám sát chặt chẽ của các giám sát viên,
điều tra viên kịp thời bổ sung những thông tin cần thiết đảm bảo thu thập thông tin đầy đủ chính xác
2.9 Thời gian nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu, thu thập số liệu đ−ợc tiến hành từ tháng 9 năm 2004 đến tháng 02 năm 2005
- Xử lý số liệu và viết báo cáo kết quả từ tháng 4 đến tháng 6 năm
2005
Trang 33Chương 2 kết quả nghiên cứu và bàn luận
3.1 đặc trưng cá nhân của các đối tượng nghiên cứu:
3.1.1 Đối tượng là cán bộ quản lý DS,GD&TE
Đặc điểm cán bộ quản lý DS,GĐ&TE các tỉnh nghiên cứu được trình
Kết quả ở Bảng 1 cho thấy:
+ Trong số 147 cán bộ được điều tra, có 94 người là nữ (chiếm
63,9%) Độ tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là từ 40 đến 49 tuổi (50,3%) Có
34,7% số cán bộ có tuổi đời từ 50 trở lên
+ Trình độ học vấn chủ yếu là đại học (76,9) và sau đại học (14,9)
Chỉ có 8,2% cán bộ quản lý có trình độ trung cấp
+ Đa số cán bộ có trình độ quản lý là trung cấp (83%) và cao cấp
(15,6%)
Trang 34+ Có 1/3 (33,3%) số cán bộ có thời gian làm công tác quản lý từ 10
đến 15 năm Chỉ có 15,6% có thời gian quản lý dưới 5 năm
+ Chỉ có 28,6% số cán bộ quản lý có thời gian làm công tác
DS,GD&TE dưới 10 năm Số còn lại đều có thời gian làm công tác này từ
10 đến 20 năm 49,7% và trên 20 năm là 21,7%
3.1.2 Đối tượng chưa nhận tư vấn dịch vụ tại Trung tâm
Bảng 2 Đặc điểm đối tượng chưa nhận tư vấn dịch vụ
Kết quả ở bảng 2 cho thấy:
+ Với 1.439 đối tượng chưa nhận tư vấn dịch vụ tại trung tâm, có
842 người là nữ (chiếm 58,5%) Độ tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là từ 30 đến
39 tuổi (44,3%) Có 7,4% số khách hàng có tuổi đời từ 40 trở lên
Trang 35+ Dân tộc kinh chiếm tỷ lệ rất cao tới91,2% Trình độ học vấn thấp,
chủ yếu là tiểu học (32,5%), trung học cơ sở (28,1%) và trung học phổ
3.1.3 Đối t−ợng đã nhận t− vấn dịch vụ tại Trung tâm
Bảng 3 Đặc điểm đối t−ợng đ∙ nhận t− vấn dịch vụ tại Trung tâm
Trang 36+ Với 608 đối tượng đã nhận tư vấn dịch vụ tại trung tâm, có 515
người là nữ (chiếm 84,7%) Độ tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là từ 30 đến 39
tuổi (34,7%) Có 9,4% số khách hàng có tuổi đời từ 40 trở lên
+ Dân tộc kinh là đa số (97,1%) Trình độ học vấn thấp, chủ yếu là
tiểu học (32,5%), trung học cơ sở (28,1%) và trung học phổ thông
TT(n=608)
Khách hàng chưa nhận TV,
DV tại TT (n=1.439) Nhu cầu tư vấn
- Qua phỏng vấn các đối tượng đã tư vấn dịch vụ tại 7 trung tâm nghiên
cứu trực tiếp, kết quả cho thấy 31,2% khách hàng có nhu cầu rất cao được
cung cấp tư vấn dịch vụ về DS,GĐ&TE Các khách hàng này là những người
đã nhận được tư vấn và dịch vụ tại các Trung tâm theo hình thức thực hiện trực
Trang 37tiếp tại trung tâm hoặc do các cán bộ của Trung tâm tiến hành tại cộng đồng
Chỉ có 7,6% cho rằng có rất ít nhu cầu muốn được tư vấn dịch vụ
- Các đối tượng khách hàng chưa nhận tư vấn hoặc dịch vụ tại các Trung tâm cho thấy kết quả cũng tương tự Có 21,3% cho rằng rất cần, 16,9%
cho rằng ít có nhu cầu tư vấn và dịch vụ về các lĩch vực DS,GĐ& TE
Kết quả trên đây chứng tỏ nhu cầu cần thiết của cộng đồng muốn được
tư vấn về các lĩnh vực DS,GD&TE
Bảng 5 ý kiến đánh giá của Cán bộ quản lý Uỷ ban DS,GĐ&TE và
Trung tâm về nhu cầu cần được tư vấn dịch vụ của cộng đồng
Cán bộ quản lý Uỷ ban và Trung tâm (n=147)
Nhân viên Trung tâm (n=47) Nhu cầu tư vấn
- Không có cán bộ quản lý nào cho rằng cồng đồng ít có nhu cầu về tư
vấn dịch vụ về DS, GĐ&TE; Có 31,2% cán bộ quản lý UB và Trung tâm khi
được hỏi đều cho biết nhu cầu tư vấn dịch vụ các lĩnh vực DS, GĐ&TE trong
cộng đồng là rất cao; 51,1 % cho rằng nhu cầu này cao
- Có 40,4% nhân viên Trung tâm khi được hỏi đều cho biết nhu cầu tư
vấn dịch vụ các lĩnh vực DS, GĐ&TE trong cộng đồng là rất cao (có thể là do
trực tiếp làm việc tại trung tâm, được chứng kiến và ghi nhận nhu cầu của đối
tượng); có 51,6 % cho rằng nhu cầu này cao Chỉ có 8,5% nhận thấy chỉ nhu
Trang 38cầu này ở mức độ trung bình Cũng như với cán bộ quản lý, không có ai cho rằng nhu cầu này ít
Tuy đây là ý kiến đánh giá gián tiếp qua nhân viên, nhưng điều này có ý nghĩa rất lớn, vì các cán bộ này trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, chính vì vậy
họ có đánh giá tương đối chính xác
Trong cuộc thảo luận nhóm tiến hành ở Trung tâm Tư vấn dịch vụ DS,GĐ&TE thành phố Đà Nẵng, chị Đỗ Thị Kin L, cán bộ tư vấn của Trung tâm cho biết:
“Hiện nay nhu cầu tư vấn về các lĩnh vực DS,GĐ&TE trong cộng đồng
là rất lớn, nguyên nhân của tình trạng này là do nhu cầu cần thiết của người dân về nâng cao hiểu biết, tiếp cận các thông tin được nhiều để có thể thực hiện tốt hơn việc chăm sóc sức khoẻ, bảo vệ hạnh phúc gia đình và thực hiện
đúng về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân ”
Trong cuộc thảo luận nhóm tiến hành ở Cần Thơ, chị Trần Thị Thanh
H, cán bộ Trung tâm cho biết:
“ cộng đồng có nhu cầu rất lớn về tư vấn các lĩnh vực DS,GĐ&TE,
đặc biệt là khu vực cán bộ công nhân viên chức, lao động nghèo ở thành thị
Lý do chính là họ rất thiếu thông tin, thiếu thời gian, muốn tiếp cận với các thông tin chính thống về lĩnh vực sức khoẻ sinh sản và kế hạch hoá gia đình
Đối tượng rất quan tâm đến chăm sóc sức khoẻ, các phương pháp giáo dục con cái, phòng ngừa các tệ nạn xã hội, xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, hạnh phúc ”
Khi được hỏi đánh giá về nhu cầu tư vấn trong cộng đồng hiện nay về lĩnh vực DSGĐ&TE, anh Dương Minh N, cán bộ Trung tâm tư vấn dịch vụ DSGĐ&TE tỉnh Bình Dương nhận xét rằng:
“ Xã hội càng phát triển, nhu cầu tư vấn nói chung càng tăng Riêng đối với lĩnh vực DSGĐ&TE hiện nay, nhu cầu tư vấn và dịch vụ của cộng đồng càng tăng rõ rệt Đặc biệt là các hiểu biết về giới tính, các biện pháp tránh
Trang 39thai, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS, giáo dục con cái,
giải toả các bức xúc là nhu cầu cần thiết của nhân dân hiện nay”
Bảng 6 Các nhu cầu tư vấn về DS, GĐ&TE (n =2.047)
Kết quả ở bảng 6 cho thấy nhu cầu tư vấn về các lĩnh vực DS,
SKSS/KHHGĐ là rất lớn Có 1.381/2.047 (67,5%) người được hỏi cho biết có
nhu cầu tư vấn về các biện pháp tránh thai Điều này cho thấy, mặc dù hiện
nay chúng ta đã thông qua các phương tiện thông tin đại chúng giáo dục cho
cộng đồng về các biện pháp tránh thai, nhưng thực tế vẫn có nhiều người cần
tư vấn Các lĩnh vực cần được tư vấn nhiều là sức khoẻ sinh sản (35,1%), sức
khoẻ vị thành niên (41,9%), các bệnh lây truyền qua đường tình dục (45,2%)
Nhu cầu tư vấn về gia đình và trẻ em chiếm 29,7%, trong đó tư vấn tâm
lý giáo dục trẻ em là 11,3%, tư vấn về pháp luật và các vấn đề gia đình và trẻ
em có từ 7.5 – 7,9%
Trong cuộc thảo luận nhóm tiến hành ở Trung tâm tư vấn dịch vụ
DS,GĐ&TE Thái Bình, chị Lê Thị H, cán bộ tư vấn của Trung tâm cho biết:
Trang 40“ Hiện nay nhu cầu về tư vấn bao trùm lên nhiều lĩnh vực Đặc biệt là
các phương pháp phòng tránh thai, bệnh lây truyền qua đường tình dục, sức
khoẻ sinh sản vị thành niên ngoài ra còn có nhu cầu rất lớn về việc tư vấn
trước khi sinh con và tư vấn tiền hôn nhân Đây là một nội dung nếu làm tốt sẽ
có tác dụng lớn trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc gia
đình ”
Bảng 7 Các nhu cầu dịch vụ DS, GĐ&TE (n =2.047)
Nhận xét về nhu cầu và nội dung một số dịch vụ SKSS/KHHGĐ tại
trung tâm cho thấy:
- Có 5 loại dịch vụ SKSS/KHHGĐ được chấp nhận sử dụng cao tại
Trung tâm là xét nghiệm chẩn đoán viêm gan B (35,82%); siêu âm chẩn đoán
thai và các nội dung SKSS (18,2%); cung cấp thuốc viên uống tránh thai
15,7%; đặt, tháo dụng cụ tử cung 12,1%; điều trị bệnh phụ khoa thông thường
13,2%