1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và những giải pháp đảm bảo sản xuất và đời sống cho các hộ nông dân không có đất hoặc thiếu đất ở đồng bằng sông cửu long

343 676 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và những giải pháp đảm bảo sản xuất và đời sống cho các hộ nông dân không có đất hoặc thiếu đất ở đồng bằng sông Cửu Long
Trường học University of Cần Thơ
Chuyên ngành Agricultural Economics and Rural Development
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 343
Dung lượng 12,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường Đại học Kinh tế quốc dân chủ trì phối hợp với Hội Nông dân Việt nam đã tổ chức thực hiện để tài nghiên cứu: "Thực trạng và những giải pháp bảo đảm sản xuất và đời sống cho các hộ

Trang 2

MUC LUC

Một số khái niệm được sử dụng thống nhất trong Dự án

Mở đầu

PHAN |:

Những vấn đề cơ bản về đất đai, lao động, việc làm và đời sống

của nông dân trong nên kinh tế hàng hoá và sự biểu hiện ở

I Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của ĐBSCL,

II Những vấn để có tính quy luật về sự vận động của đất đai,

lao động trong nền kinh tế hàng hoá và sự biểu hiện của nó ở

ĐBSCL

II Kinh nghiệm của một số nước châu A trong việc giải quyết

vấn đề đất đai và đời sống cho nông đân

PHAN II:

Thực trạng san xuất và đời sống của các hộ nông dân không có

đất hoặc thiếu đất ở ĐBSCL

1 Khái quát tình hình hộ nông dân không có đất hoặc thiếu đất

II Thực trạng sản xuất và đời sống của hộ nông dân không có

đất hoặc thiếu đất

HI Những nguyên nhân dẫn đến một bộ phận hộ nông dân

không có đất hoặc thiếu đất

IV Những giải pháp của địa phương đang và sẽ thực hiện để

bảo đảm sản xuất và đời sống cho hộ nông đân không có đất hoặc

PHAN III:

Những giải pháp bảo đảm sản xuất va đời sống cho các hộ

nông dân không có đất hoặc thiếu đất ở ĐBSCL

I Căn cứ khoa học để xây dựng các giải pháp bảo đảm sản

xuất và đời sống cho các hộ nông dân không có đất hoặc thiếu đất

II.Các quan điểm chủ yếu giải quyết sản xuất và đời sống cho

các hộ nông dân không có đất hoặc thiếu đất

HI Những giải pháp cơ:bản nhằm bảo đảm sản xuất và đời

sống cho các hộ nông dân không có đất hoặc thiếu đất

Kết luận

Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục số liệu điều tra

Trang 3

MOT SỐ KHÁI NIỆM ĐƯỢC SỬ DỤNG THỐNG NHẤT TRONG DỰ ÁN

1-Hộ nông nghiệp là hộ có nguồn thu nhập chính trong năm từ ; nông

2-Hộ nông dân không có đất là những hộ nông nghiệp không có bất kỳ loại đất nào hoặc chỉ có đất ở theo Luật đất đai năm 1993 quy định tại điều 52 và 54: Dự án thống nhất lấy mức đất ở chung cho các tỉnh ở ĐBSCL là 300m2/ hộ Trường hợp những hộ có đất ở (gồm đất ở, ao, vườn) vượt quá 300m2 hoặc

không có đất ở nhưng có ruộng để sản xuất nông nghiệp, bất luận là bao nhiêu đều không thuộc phạm trù “hộ nông dân không có đất

3-Hộ nông dân thiếu đất là hộ nông dân có diện tích đất nông nghiệp dưới mức bình quân của vùng

Trong cuộc điểu tra thống kê nông thôn và nông nghiệp do Tổng cục Thống kê tiến hành năm 1994,căn cứ vào thực tế chung của cả nước có phân tổ

hộ ít đất thành 3 nhóm là: hộ có dưới 0,2 ha; hộ có từ 0,2 đến dưới 0,5 ha; hộ có

từ 0,5 đến dưới I ha

Trong Dự án này chúng tôi quy định hộ thiếu đất là những hộ nông dân có quy mô đất nông nghiệp dưới 0.2 ha/hộ Thực chất đối với vùng ĐBSCL đây là những hộ quá ít đất Thuộc nhóm này là những hộ mà ngoài đất ở theo quy, định của Luật đất đai còn có các loại đất sau đây (tổng các loại đất đó dưới 0.2 ha/hộ; Hoặc có ao, vườn, ruộng; Hoặc có ruộng nhưng không có ao vườn; Hoặc có ao hoặc vườn nhưng không có ruộng Sở dĩ chúng tôi lấy mốc dưới 0.2 ha/ hộ vì: Nó

phù hợp với cách phân tổ đã được tiến hành năm 1994 đã nêu trên: Để có căn cứ

phân tích sự biến động về loại hộ này từ 1994 đến nay; Với mức ruộng đất dưới 2000m2/ hộ có nghĩa là khoảng 400m2/ người thì sản xuất không đủ thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của hộ Mức diện tích đó sẽ không đủ việc làm cho hộ đù mọi khâu công việc làm bảng thủ công

4-Hộ nông dân nhiều đất là hộ có quy mỏ ruộng đất vượt hạn điền Song trong Dự án này xuất phát từ tình hình thực tế chúng tôi quy định:hộ nhiều đất là những hộ có quy mô đất nông nghiệp cao nhất của địa bàn điều tra Theo phương pháp điều tra của Dự án, mỗi ấp điều tra 5 hộ có diện tích đất nông nghiệp nhiều

từ thứ nhất tới hộ thứ 5 của ấp đó Vì vậy, quy mô đất nông nghiệp bình quân I

hộ nhiều đất có sự khác nhau giữa các ấp và giữa các huyện, tỉnh

5 Cầm cố ruộng đất là việc đem ruộng đất giao cho hộ khác sử dụng để

nhận một số tiền hoặc một tài sản có giá Số tiền nhận được hoặc tài sản có giá

đó thường thấp hơn giá bán của mảnh đất tại thời điểm cầm cố Đôi bên sẽ thoả thuận với nhau về thời hạn cầm cố bằng văn bản hoặc bằng miệng Trong thời hạn cầm cố chủ đất mất quyền sử dụng ruộng đất của mình nhưng được quyền sử dụng số tiền mà người nhận cẩm cố giao cho và không phải trả lãi Hết hạn cầm

cố chủ đất cũ mang tiền hoặc tài sản có giá đến chuộc lại Nếu chủ cũ không có khả năng chuộc lại thì bị mất ruộng đất

6 Ruộng đất bị chủ cũ đòi lại là ruộng đất của những hộ mà trước đây đã được pháp luật công nhận quyền sở dụng mảnh đất đó Song do sự điều chỉnh của chính quyền địa phương khi các hộ vào hợp tác xã, tập đoàn sản xuất, hoặc thực

Trang 4

MO BAU

1 Khai quat chung:

Thực hiện công văn số 6553/KTN ngày 20/12/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc: Nghiên cứu một bộ phận nông dân không có đất, thiếu đất sản xuất ở ĐBSCL Trường Đại học Kinh tế quốc dân chủ trì phối hợp với Hội Nông dân Việt nam đã tổ chức thực hiện để tài nghiên cứu: "Thực trạng và

những giải pháp bảo đảm sản xuất và đời sống cho các hộ nông dân không có

đất hoặc thiếu đất ở ĐBSCL” Đây là một đề tài ứng dụng có giá trị thực tiễn nhằm giúp Đảng và Nhà nước đưa ra những chủ trương và giải pháp có căn cứ

khoa học, phù hợp với tình hình thực tế để tiếp tục thúc đẩy sản xuất nông

nghiệp và nông thôn phát triển mà đang được sự quan tâm của Trung ương, địa phương và nông dân Nhận thức tầm quan trọng và tính cấp bách của để tài lãnh đạo Trường Đại học Kinh tế quốc dân, G§.T§ Lương Xuân Quỳ, Hiệu

trưởng đã chỉ đạo, tổ chức lực lượng của Hội đồng Khoa học Nhà trường phối hợp với lãnh đạo Hội Nông dân Việt Nam Đồng chí Nguyễn Đức Triều, Uỷ

viên TW Đảng, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam đã cử các cán bộ lãnh đạo của Hội cùng các chuyền gia tham gia nghiên cứu Sau khi Dự án được phê duyệt, đã thành lập Ban chủ nhiệm để điều hành toàn bộ công việc Các đồng chí trong ban thường trực chỉ đạo gồm:

GS.PTS Nguyễn Đình Hương, Phó Hiệu trưởng ĐH KTQD, Chủ nhiệm, PGS.TS Lê Du Phong, Viện trưởng Viện NCKT & PT, DH KTQD, PCN GS.PTS Nguyễn Thế Nhã, Chủ nhiệm Khoa NN & PTNT, ĐH KTQD, PCN

Ông Lê Văn Nhẫn, Phó Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam, PCN

PGS.PIS Mai Ngọc Cường, Trưởng phòng QLNC Khoa học, ĐH KTQD - Uy viên kiêm thư ký Dự án

Ngoài các đồng chí thường trực trên, nhiều nhà khoa học và quản lý khác trong Ban chủ nhiệm đã tích cực triển khai nhiệm vụ nghiên cứu

Trường Đại học KTQD và Hội Nông dân Việt nam đã cử các cán bộ, giáo viên chủ chốt trực tiếp đi điều tra, phỏng vấn cùng với gần 150 cán bộ

chuyên môn các cấp của 12 tỉnh ĐBSCL Các đồng chí Bí thư, chủ tịch 12 tỉnh

ĐBSCL từ đã chỉ đạo các Sở, Ban, Ngành và các cán bộ địa phương ở các

huyện, xã có kế hoạch phối hợp và tham gia nghiên cứu đề tài

Đề tài tiếp cận đến các hộ nông dân, các đồng chí quản lý các cấp để điều tra, thu thập thông tin tư liệu từ 5760 hộ trong 144 ấp và 2500 cán bộ

quản lý và lão nông tri điền của 12 tính.

Trang 5

Thông qua các số liệu điều tra, phỏng vấn, Trường Đại học Kinh tế quốc

dân phối hợp với Hội Nông dân Việt Nam tổ chức hai cuộc Hội thảo lớn ỏ Cần

Thơ (ngày 15-16/9/1998) và Hà Nội (ngày 26/10/1998); Hai cuộc hội thảo đã thu hút hơn 450 lượt các cán bộ quản lý trung ương, địa phương và các nhà

nghiên cứu, các nhà khoa học, trong đó có nhiều đồng chí Uỷ viên Trung ương

Đảng, Bí thư, Chủ tịch các tỉnh và giám đốc các sở, ban, ngành ở 12 tỉnh

ĐBSCL, đã trao đổi và di đến thống nhất những vấn đề cơ bản về đánh giá thực

trạng, nguyên nhân, các quan điểm và giải pháp bảo đảm sản xuất và đời sống cho các hộ nông dân không có đất và thiếu đất sản xuất ở ĐBSCL cũng như

những vấn đề đặt ra để chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát triển nông

Hội đồng khoa học trường Đại học Kinh tế quốc dân đã tổ chức nghe và góp ý việc đánh giá thực trạng và các giải pháp liên quan đến vấn đề giải quyết đất đai, việc làm và đời sống của nông dân của từng tỉnh mà các đoàn đi

khảo sát từng tỉnh đã thu thập, tổng hợp và kiến nghị

Đề tài: "Thực trang và những giải pháp bảo đảm sản xuất và đời sống

cho các hộ nông dân không có đất hoặc thiếu đất ở ĐBSCL” là một vấn dé

khó, phức tạp nhưng rất quan trọng nhằm góp phần bảo đảm sản xuất và đời

sống nông đân, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển Tuy trong khoảng

thời gian ngắn, khẩn trương để tài đã huy động gần 600 nhà khoa học, quản lý

tham gia nghiên cứu, đóng góp ý kiến bằng các bài viết, trao đổi thảo luận Ngoài các tài liệu, tư liệu nghiên cứu của mình, đề tài đã kế thừa, chất lọc các kết quả nghiên cứu gần đây của Hội Nông dân Việt Nam, Ban Kinh tế Trung ương và đoàn khảo sát của Chính phủ ở 12 tỉnh ĐBSCL về tình hình nông dân

không có đất hoặc thiếu đất ở ĐBSCL tháng 6/1998

Qua nhiều lần trao đổi thảo luận rộng rãi các nội đung cơ bản của để tài

từ thực trạng, nguyên nhân nông dân không có đất hoặc thiếu đất ở ĐBSCL đã được sáng tỏ Các giải pháp giải quyết vấn để sản xuất và đời sống nông dân

liên quan đến vấn đề đất đai, việc làm và các chính sách của Nhà nước, trước

mắt và lâu dài đã được để cập Nhiều vấn dé đã được địa phương ủng hộ, nhưng cũng còn nhiều vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu giải quyết nhất là vấn đề vốn, tìm việc làm và đẩy nhanh quá trình CNH ở nông thôn

Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hội Nông dân Việt nam và Ban Chủ nhiệm Dự án nghiên cứu để tài này hết sức cảm ơn sự đóng góp quý báu cau các đồng chí lãnh đạo các tỉnh ĐBSCL, các Ban ngành Trung ương và địa phương, các trường, các viện cùng các nhà khoa học đã trực tiếp tham gia

nghiên cứu đề tài.

Trang 6

2 SU CAN THIET CUA DU AN

Đồng bằng Sông Cửu long (ĐBSCL) với diện tích tự nhiên là 39.569 km” dân số 16.618.000 người (1997), là vựa lúa lớn nhất của nước, gồm 12

tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tra Vinh, Can Thơ, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau Diện tích đất trồng lúa của ĐBSCL xấp xỉ 50% diện tích trồng lúa của cả nước ĐBSCL không chỉ là vùng lúa sản xuất hàng hoá mà còn là vùng trồng cây ăn quả và nuôi trồng thuỷ sản có giá trị xuất khẩu lớn Riêng xuất khẩu gạo hàng năm, từ

1989-1996 ĐBSCL đã dem lại một lượng kim ngạch là 3382,2 triệu USD Nhờ

sản xuất hàng hoá tăng đời sống nhân dân trong toàn vùng nói chung đã được cải thiện và nâng lên so với trước

Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông

thôn theo hướng sản xuất hàng hoá, tăng cơ cấu công nghiệp và dịch vụ ở nông

thôn dẫn đến một bộ phận nông dân không có đất hoặc thiếu đất sản xuất nông

nghiệp Sự chuyển đổi cơ cấu thành phần, cơ cấu ngành, sự tập trung ruộng đất

theo hướng sản xuất hàng hoá đi cùng với quá trình đô thị hoá, hình thành các khu công nghiệp tập trung đang tạo ra sự chuyển biến về đất đai, lao động ở ĐBSCL Sự chuyển biến này đã nảy sinh tính hai mặt tích cực và tiêu cực ở nông thôn, một bộ phận nông dân ở ĐBSCL hiện nay không có đất hoặc thiếu đất sản xuất nông nghiệp đang gặp khó khăn về đời sống Chung quanh vấn đề này, trong xã hội ta từ cấp lãnh đạo, quản lý đến quần chúng nông dân còn nhiều băn khoăn vì chưa có đủ nguồn thông tin chính xác và đang có ý kiến

khác nhau kể cả quan điểm và giải pháp

Trước tình hình đó đã có nhiều đề tài, dự án điều tra khảo sát về tình

trạng nông dân không có đất hoặc thiếu đất sản xuất nông nghiệp ở các tỉnh ĐBSCL Hội nông dân Việt Nam đã hoàn thành điều tra nghiên cứu một bộ

phận nông dân không đất, thiếu đất ở 4 tỉnh An Giang, Tiền Giang, Tra Vinh, Sóc Trăng, Ban kinh tế TW đã khảo sát nghiên cứu một số mặt liên quan đến ruộng đất và đời sống đối với nông dân và ở một số tỉnh ĐBSCL

Các dự án, đề tài trên bước đầu đã tập trung làm sáng tỏ được phần nào

nguyên nhân không có đất hoặc thiếu đất trong phạm vi hẹp Còn sự biến động của đất đai và lao động hiện nay và trong tương lai như tác động của quá

trình CNH, HĐH, mở rộng hợp tác đầu tư nước ngoài, phát triển kết cấu kinh

Trang 7

tế hạ tầng chưa được đề cập tới một cách toàn diện Dò vậy, các dự án đã có chưa thể cung cấp đầy đủ thông tin và luận cứ khoa học cho việc đưa ra những giải pháp khả thi đảm bảo sản xuất và đời sống cho nông dân không có đất hoặc thiếu đất sản xuất nông nghiệp của vùng ĐBSCL Do vậy, việc nghiên cứu, điều tra với phạm vi rộng để đánh giá đúng thực trạng, tìm ra những nguyên nhân căn bản và sâu xa tình trạng các hộ nông dân không có đất hoặc

thiếu đất ở ĐBSCL hiện nay nhằntìm ra những giải pháp hữu hiệu, có khả năng thực thi, giúp Đảng và Chính phủ có những quyết sách kịp thời giải quyết

công ăn, việc làm, cải thiện đời sống cho bộ phận nông dân này là một đòi hỏi cấp thiết

3 MỤC TIÊU CỦA DỰ ÁN

3.1 Mục tiêu chung:

Đánh giá đúng thực chất sự vận động của quá trình chuyển đổi cơ cấu

kinh tế hiện nay và những năm tới dẫn đến một bộ phận nông dân không có đất hoặc thiếu đất sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL và kiến nghị cách tháo gỡ để

Chính phủ có chủ trương, giải pháp phù hợp với thực tế thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và nông thôn phát triển

3.2 Mục tiêu cụ thể:

~- Nghiên cứu những vấn đề chung về sự vận động của ruộng đất và lao động trong nền kinh tế hàng hoá và biểu hiện của nó ở ĐBSCL, kinh nghiệm các nước giải quyết sản xuất và đời sống cho nông dân không có đất hoặc

thiếu đất sản xuất

- Điều tra, phân tích thực trạng biến động ruộng đất, tình hình sản xuất

và đời sống của các hộ nông dân không đất, thiếu đất sản xuất, nguyên nhân

của tình trạng nông dân không có đất hoặc thiếu đất sản xuất và các biện pháp

mà các tỉnh ĐBSCL đã thực hiện nhằm đảm bảo sản xuất và đời sống cho các

hộ nông dân không có đất hoặc thiếu đất sản xuất ở ĐBSCL

- Đề xuất các quan điểm và giải pháp đảm bảo sản xuất và đời sống cho các hộ nông dân không có đất hoặc thiếu đất ở ĐBSCL

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, ĐIỀU TRA, THỰC HIỆN DỰ ÁN

4.1 Tổ chức điều tra, khảo sát thực địa ở 12 tỉnh ĐBSCL để đánh giá chính xác thực trạng tình hình hộ nông dân không có đất, thiếu đất và đời sống

của họ hiện nay Áp dụng phương pháp điều tra, phân tích thống kê; điều tra

xã hội học phỏng vấn, chuyên gia

Trang 8

4.2 Tổ chức Hội thảo và lấy ý kiến chuyên gia để xác định và quán triệt mục tiêu, yêu cầu, hệ thống biểu mẫu, trao đổi các thông tin, quan điểm từ các

để tài đã nghiên cứu ở các cơ quan, địa phương để hình thành các quan điểm

mới

4.3 Áp dụng phương pháp toán học và sử dụng công cụ vi tính để xử lý

phân tích, so sánh các dữ liệu điều tra và dự báo xu hướng vận động của tình hình bằng cách tổng hợp, so sánh, dự báo số liệu và phương pháp chuyên gia

4.4 Kế thừa các tài liệu đã có của các cuộc điều tra về đất đai ĐBSCL của Hội Nông dân Việt Nam, Ban Kinh tế TW và của các cuộc điều tra khác của TW và địa phương

4.5 Áp dụng phương pháp phân tích hệ thống vấn đề trong mối tương

quan mật thiết với nhau để tổng hợp các quan điểm và giải pháp trên cơ sở các

thông tin đã điều tra và các ý kiến chuyên gia từ các cấp khác nhau

5 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA DỰ ÁN:

5.1 Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng và để xuất những giải pháp đảm bảo sản xuất và đời sống cho các hộ nông dân không có đất

hoặc thiếu đất sản xuất ở ĐBSCL

5.2 Đối tượng điều tra: Hộ nông dân không có đất hoặc thiếu đất sản xuất nông nghiệp của ĐBSC Những đối tượng này được điều tra khảo sát vẻ

số lượng hoặc % hộ nông dân không có hoặc thiếu đất sản xuất nông nghiệp:

Nguyên nhân của các hộ nông dân không có hoặc thiếu đất sản xuất, Tình hình

sản xuất và đời sống của những hộ không có đất hoặc thiếu đất Tâm tư nguyện vọng của các hộ này

Điều tra một số hộ nông dân nhiều đất để đối chiếu so sánh: Nguyên

nhân có nhiều đất; Tình hình sản xuất: sử dụng đất đai, lao động; Xu hướng của tình hình này

Tiến hành phóng vấn các đồng chí lãnh đạo Tỉnh, Huyện, Xã, một số hộ nông dân là các lão nông trị điển về đánh giá thực trạng, quan điểm, giải pháp đảm bảo sản xuất và đời sống cho các hộ nông dân không có đất hoặc thiếu đất

ở ĐBSCL.

Trang 9

Lam rõ các giải pháp mà các địa phương đã tiến hành để đảm bảo sản

xuất và đời sống cho các hộ nông dan không có đất hoặc thiếu đất

— %3 Phạm vi diéu tra nghiên cứu:

Tiến hành điều tra nghiên cứu những nội dung trên ở 12 tỉnh Mỗi tỉnh chọn 2 huyện, mỗi huyện chọn 2 xã, mỗi xã chọn 3 ấp, như vậy mỗi tỉnh điều tra 12 ấp, mỗi ấp điều tra 40 hộ (20 hộ không đất, 15 hộ thiếu đất, 5 hộ nhiều

đất nông nghiệp)

Tổng số hộ điều tra của một tỉnh là 480 hộ Trong đó có 240 hộ không

có đất, 180 hộ thiếu đất và 60 hộ có nhiều đất nông nghiệp (ruộng và vườn)

Tổng số hộ điều tra toàn vùng là 5.760 hộ Trong đó: 2.880 hộ không có

đất (50%); 2.160 hộ thiếu đất (37,5%) và 720 hộ nông dân nhiều đất (12,5%)

Phong vấn 2500 cán bộ lãnh đạo và nông dân địa phương.Trong đó:Cấp

tỉnh gồm bí thư, chủ tịch, phó chủ tịch phụ trách nông nghiệp, giám đốc và phó giám đốc sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, chủ tịch, phó chủ tịch Hội nông dân, thanh niên, phụ nữ Cấp huyện gồm bí thư, chủ tịch, phó chủ tịch phụ trách nông nghiệp, trưởng và phó phòng nông nghiệp, chủ tịch, phó chủ tịch hội nông dân, thanh niên, phụ nữ huyện Cấp xã là: chủ tịch, phó chủ

tịch xã, hội nông dân, thanh niên, phụ nữ xã, và trưởng ấp Tổng số phỏng vấn

cấp tỉnh là 120 người, cấp huyện là 240 người, cấp xã là 440 người, nông dân

là 1720 người

5.4 Phương pháp chọn địa bàn điều tra:

Đây là cuộc điều tra trọng điểm nên địa bàn điều tra và hộ điều tra được

chọn vào những địa phương trọng điểm có nhiều hộ nông dân không có đất và thiếu đất nông nghiệp Phương pháp chọn là tham khảo ý kiến lãnh đạo chính

quyền và các đoàn thể ở địa phương, đối chiếu với mục tiêu cuộc điều tra để

xác định Vì vậy, Dự án cùng Ban chỉ đạo điều tra của tỉnh trực tiếp chọn các huyện và phối hợp với UBND huyện chọn các xã và ấp

Du án áp dụng phương pháp chọn cả khối để chọn các hộ điều tra Với

những ấp có số hộ được chọn ít hơn số hộ hiện có trên địa bàn về từng đối tượng, thì chọn tập trung vào một vùng của ấp Ví dụ: ấp B có 70 hộ nông dân

không đất, nhưng chỉ chọn 40 hộ điều tra, thì cách chọn là chọn lần lượt từ

Trang 10

đầu ấp đến đủ số lượng 40 hộ sao cho các hộ đó gần nhau để tiện cho điều tra

Viên và cán bộ dẫn đường Những ấp có xen kế hộ người Khơme và người Kinh thì ưu tiên chọn hộ người Khơme để điều tra

Đối với những ấp có số hộ điều tra nhiều hơn số hộ hiện có thì chọn hết

số hộ hiện có, phần hộ thiếu được chuyển sang đối tượng khác Ví dụ: ấp C

được chọn 40 hộ nông dân không đất nhưng kiểm kê toàn ấp chỉ có 30 hộ

thuộc loại này, thì điều tra viên chọn hết 30 hộ đó, còn 10 hộ thiếu chuyển sang các hộ nông dân thiếu đất

Như vậy, những hộ không đất và hộ thiếu đất nông nghiệp có thể thay đổi cho nhau trong cùng một ấp

Hộ nhiều đất nông nghiệp: mỗi ấp chọn 5 hộ và cách chọn là chọn từ hộ

có nhiều diện tích ruộng và vườn nhất, sau đó giảm dần đến hộ có nhiều đất thứ 2, thứ 3 cho đến thứ 5 là được

6 Nội dung Dự án

Ngoài lời nói đầu, kết luận, hệ thống số liệu tổng hợp điều tra của 12

tỉnh và từng tỉnh, hệ thống những tài liệu tham khảo, Dự án còn gồm 3 phần

Phần I: Những vấn đề cơ bản về đất đai, lao động, việc làm và đời

sống của nông dân trong nên kinh tế hàng hoá và sự biểu hiện ở ĐBSCL

Phần HH: Thực tạng sản xuất và đời sống của các hộ nông dân

không có đất hoặc thiếu đất sản xuất ở ĐBSCL

Phần II: Những giải pháp bảo đảm sadn xuất và đời sống cho các hộ nông dân không có đất hoặc thiếu đất sản xuất ở ĐBSCL

Trang 11

PHAN I

NHUNG VAN Dé CO BAN VE DAT PAI, LAO DONG, VIEC LAM VA DOT SONG CUR NONG DAN TRONG NEN KINH Té HANG HOA

VÌ SỰ BIỂU HIỆN Ở Ð8SCL

1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA ĐBSCL

ĐBSCL nằm ở cực Nam nước ta, kéo dài từ 112 đến khoảng 8 30' vĩ

độ Bác Toàn vùng nằm trong vòng đai nhiệt đới ẩm điển hình, có khí hậu

nóng ẩm quanh năm Diện tích tự nhiên là 39569 km”, chiếm khoảng 12%

diện tích cả nước Theo số liệu thống kê năm 1997 dân số ở đây là 16.618.000 người chiếm 22% dân số cả nước, mật độ dân số trung bình là 420người/km” ĐBSCL gồm các tỉnh: Long an, Tiền Giang Bến tre, Vĩnh Long, Trà Vinh Cần Thơ, Kiên giang, An giang, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà mau Đây là vùng trọng điểm lương thực và thực phẩm của nước ta

1 Vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, khí hậu

Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long có một lịch sử hình thành khá phức tạp Đây là vùng châu thổ thành tạo nằm ở cửa sông MêKông một

con sông dài vào loại hàng đầu thế giới (4200km), chảy qua nhiều nước rồi mới đến Việt nam, Xa xưa đây là một địa hào lớn tổn tại từ sau nguyên đại

bổ sinh Địa hào này chịu một vận động sụt lớn từ từ làm cho biển tiến vào biến thành một vịnh biển lớn rộng trên lãnh thổ của Nam bộ và Đông nam

Campuchia Nhờ có sự tiếp tế phù sa sông với khối lượng lớn lấp dần vịnh biển và đọng lại ở cửa sông đã để lại sau nó nhiều vùng trũng như khu vực

Đồng Tháp Mười hay khu vực tứ giác Long xuyên, ĐBSCL bao gồm bộ

phận châu thổ chính là phần thượng châu thổ, hạ châu thổ và dải đồng bằng

phù cận bán đảo Cà Mau Phần thượng châu thổ là dải phù sa rất phì nhiêu, phần lớn bề mặt gần những vùng trũng rộng lớn như ở Đồng Tháo Mười và

tứ giác Long xuyên Phần hạ châu thổ từ nơi hai con sông Tiền và sông Hậu phân nhánh tiếp giáp với biển Đồng bằng hạ châu thổ thường xuyên

chịu tác động của thuỷ triểu và sóng biển Phần lớn ở đây đồng bằng được

tạo thành bởi những đảo nhỏ mà dân thường gọi là "cù lao" Ví dụ Cù lao Dài (Vĩnh long), Cù lao Dung, Cù lao Tròn, Củ lao Nai (Sóc Tráng) Tỉnh Bến tre là do hai Cù lao Bảo và Cù lao Minh hợp lại

Trang 12

Bán đảo Cà Mau là đồng bằng phù sa ở rìa, không phải trực tiếp do

hai sông Tiền và sông Hậu bổi tụ mà do tác động của dòng phù sa ven hồ

Ở đây một bộ phận khá lớn còn nằm trong tình trạng đồng lầy như khu vực

U Minh, bộ phận khác không cao hơn mặt biển bao nhiêu Dọc theo bờ biển nơi còn bị xói lở, nơi khác tiếp tục tiến ra biển như khu vực mũi Cà Mau ĐBSCL có một vị trí địa lý hết sức quan trọng Nằm ở Tây Nam Nam

Bộ, phần cuối của bán đảo Đông dương, liền kể với vùng kinh tế trọng

điểm phía Nam, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh nên ĐBSCL có mối quan hệ kinh tế - xã hội hai chiều rất đa dạng Nhờ có đường biên giáp

Campuchia, là phần nốt tiếp của Đông Nam bộ theo chiều dài của đất nước,

các tỉnh duyên hải của Tây Nam bộ giáp biển, có đường giao thông hàng

không và hàng hải quốc tế giữa Đông Á và Nam Á, Thái Bình Dương và

Ấn Độ Dương, ĐBSCL có điểu kiện giao lưu và mở rộng quan hệ hợp tác

kinh tế với các nền kinh tế năng động trong khu vực để phát triển kinh tế

ĐBSCL có cửa sông Mêkông, một con sông chảy qua nhiều nước: Trung quốc, Lào, Myanma, Thái lan, Cămpuchia và Việt nam Đây là con đường

giao thông thuỷ nội địa ở Đông Nam Á rất quan trọng và là cửa ngõ ra biển Đông của nhiều nước

Xét về mặt địa hình, so với đồng bằng sông Hồng, ĐBSCL về cơ

bản tương đối bằng phẳng Tuy vậy giữa các vùng có sự chênh lệch cao

thấp không đồng đều Độ chênh lệch ấy khoảng 3m Độ cao trung bình của đồng bằng châu thổ sông Cửu long từ 1 - 2m trên mực nước biển, nghĩa là

cao hơn về phái biên giới Việt Nam - Campuchia và thấp dần vẻ phía biển Đông với độ dốc nhỏ, khoảng lcm/1km Dọc theo sông Tiển, sông Hậu còn có những sống đất hơi cao do phù sa bồi đấp qua những lần nước lũ

Đặc điểm của loại phù sa lắng đọng là hạt to nên dễ thoát thuỷ Riêng các sống đất khá cao ở phía thượng lưu vùng Châu Đốc cao tới 4 m, thấp dần

về phía biển là 1,5m ở Long Xuyên Mặt sống đất thoai thoải từ phía sông

vào vùng đất bên trong Ở những vùng gần biển như Tiền Giang, Vinh Long các sống đất cao không còn thấy rõ Tuy vậy, suốt dọc đuyên hải từ Cần Giuộc, Gò công đến Bạc Liêu lại có nhiều những dải đất hẹp, hơi cao

nằm kể nhau Đồng Tháp Mười là vùng đất rộng, trũng mênh mông, chiều dài từ Đông sang Tây là 120 km, chiều rộng từ Bắc xuống Nam là 70 km

Diện tích vùng đồng Tháp mười trên 7.000 km” gắn với địa phận 3 tỉnh

Trang 13

Long an, Đồng tháp, và Tiên giang Ở phía Nam sông Hậu, khu tứ giác từ

-_ thị trấn Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch giá, Hà Tiên đến vùng Phụng Hiệp, vùng U Minh cũng là những vùng đất trũng, thấp và nó được kiến tạo từ những đảo rộng lớn như dão Châu đốc, Kiên giang, Trấn đi và đảo Long xuyên

Nhìn chung về cấu trúc địa hình đất đai ở ĐBSCL thì những sống đất

ven sông và đất vùng duyên hải cao ráo, do sự bồi đắp phù sa mạnh mẽ

của sông Cửu long đổ về sông Tiền, sông Hậu ở Nam bộ với một mạng lưới

kênh rạch và cửa sông Hệ thống cửa tiểu, cửa đại, cửa Ba lai, cửa Hàm

lương, cửa Cổ chiêu, cửa Cung hầu, cửa Định An, cửa Ba thắc, cửa Trấn di tiếp giáp giữa sông và biển sình lầy có rừng ngập mặn tạo thành vùng kinh

tế hỗn hợp nông lâm ngư nghiệp rất hiếm có Quá trình bồi tụ tự nhiên còn

tạo trên bề mặt đồng bằng châu thổ nhiều vùng đất thấp, trũng rộng lớn,

liên kể với các vùng đất ngập nước là đảo thoai thoải Một vùng đất rộng

lớn thuận lợi cho con người cư trú và trồng trọt

Về thổ nhưỡng, đây là vùng đất phù sa mới, có 3 nhóm đất chính Nhóm đất phù sa ngọt khoảng trên 1,8 triệu ha chiếm 23% diện tích

tự nhiên Đây là nơi đất tốt nằm ở vùng sông Tiền, sông Hậu rất thuận lợi cho nông nghiệp trồng lúa nước

Nhóm đất phù sa nhiều phèn khoảng 1,8 triệu ha chiếm 47% điện tích tự nhiên, phân bổ ở Đồng Tháp mười, Tứ giác Long xuyên và tây Hậu

giang Đặc trưng loại đất này có hàm lương độc tố cao, có tính chất hoá lý

vếu Do vậy, loại đất này dễ nứt nẻ nhanh khi khô hạn, trong đó có khoảng 0.5 triệu ha đất phèn mặn canh tác gặp nhiều khó khăn

Nhóm đất phù sa nhiều mặn, chạy thành một dải chủ yếu ở ven biển

từ Long An, Tiền Giang Gò công Bến tre, Trà Vĩnh, Sóc trăng, Bạc liệu và

Cà mau Đất nhiễm mặn ở các cửa sông là do thuỷ triều lên cao đi sâu vào đồng bằng, chủ yếu là vào mùa khô Việc thuần hoà phần đất mặn này còn

rất khó khăn Riêng Cà Mau và bạc Liêu chỉ có thể bổ sung được khoảng 50% diện tích để trồng lúa, cây án quả và chăn nuôi tôm nước ngọt Phân

đất còn lại chủ yếu là đất mặn sú vẹt, muốn sản xuất nông ngiiệp phải có vốn đầu tư đáng kể

Nói tóm lại, về thổ nhưỡng ĐBSCL có diện tích đất nông nghiệp lớn nhất ở nước ta, nhưng ở đây không phải loại đất nào cũng thuận lợi cho sản

Trang 14

xuất nông nghiệp Muốn có một khối lượng hàng hoá nông nghiép 6

ĐBSCL còn phải tiếp tục đầu tư thuần phục các vùng chua mặn

Về khí hậu: khí hậu vùng ĐBSCL mang tính chất nhiệt đới ẩm, cận

xích đạo, nhiệt độ cao, ít chênh lệch trong năm Khí hậu chia thành 2 mùa: mùa khô và mùa mưa, ít có bão Lượng mưa trung bình là 1580 mm nhưng phân bổ không đều theo lãnh thổ, ở Cà Mau là 2400mm, ở Rạch Giá là

2040 mm, ở Cần Thơ là 1520mm, ở Gò Công 1a 1.000mm

Về sông ngòi: ĐBSCL được phủ lên một mạng lưới sông rạch, kênh đào dày đặc Tổng lượng nước ngọt của hệ thống sông Cửu long là 5 tỷ mì,

trong đó sông Tiển chiếm 79%, sông Hậu 21% Lượng nước phân bổ

không đều theo mùa mưa, bắt đầu từ tháng 7-8, kết thúc vào tháng 11-12

đễ gây ngập lụt; mùa khô, nguồn nước giảm dần Nước được sử dụng vào tưới tiêu, tẩy mặn, rửa chua Lượng nước ngầm có trữ lượng lớn 84 triệu

m/ngày Hiện mới khai thác sử dụng | triệu m /ngay Do dac diém dia

hình vùng ĐBSCL, sóng triểu tác động sâu vào đất liền Chu kỳ của thuỷ triểu cũng ảnh hưởng rất lớn tới lưu thông đường thuỷ, cũng như hoạt động

sinh hoạt hàng ngày của người dân trong vùng

Biển: Toàn vùng có 736 km bờ biển với nhiều cửa sông và vịnh Đó

là điều kiện thuận lợi để khai thác hải sản, chăn nuôi hải sản Trên biển có

những đảo như Thổ chu, Phú quốc chứa đựng nhiều tiểm năng kinh tế Ven

bờ biển là rừng ngập mặn, chủ yếu là tràm, dừa, khoảng 150.000 ha là môi

trường sinh thái tự nhiên có ý nghĩa lớn về phương diện kinh tế

Về khoáng sản: Đây là vùng nghèo tài nguyên khoáng sản so với các vùng trong nước Ở Hà Tiên, Kiên lương có đá để sản xuất xỉ mang, tri

lượng khoảng 145 triệu tấn Ở vùng Bảy núi, trữ lượng đá ganít là 450 triệu

m” Ở dọc các sông Vàm cỏ, Mê Kông trữ lượng cát sỏi khoảng 10 triệu

mì Vùng Ư Minh, Mộc hoá than bùn có trữ lượng khoảng 370 triệu tấn, trữ lượng dự báo khoảng 1000 triệu tấn Đó là nguồn nguyên liệu chủ yếu sử dụng làm phân bón

Đầu khí: Có triển vọng trong khu vực thêm lục địa tiếp giáp biển

đông và vịnh Thái Lan, gồm các bể trầm tích Cửu long dự bảo khoảng 2 tỷ

tấn; bể trầm tích Thổ chu - Mã lai dự báo khoảng vài trăm triệu tấn dầu qui đổi Trong những năm gần đây, vùng ĐBSCL đã phát hiện ra một số loại

khoáng sản mới, tuy qui mô và trữ lượng nhỏ như quặng emetfít ở dọc ven

biển, mô líp ở núi Sam (An giang) v.v

Trang 15

Từ điều kiện tự nhiên của ving DBSCL cho thay, tiém nang va thé mạnh của vùng đất này là kinh tế nông nghiệp Trước mắt, việc khai thác

và phát huy tiểm năng ấy gặp không ít trở ngại do điều kiện tự nhiên Việc

đầu tư tiền vốn, kỹ thuật, việc mở mang hệ thống thuỷ lợi đang là thách

thức lớn mà ta chưa dé dang dap ứng được Sau đó, nông nghiệp cũng

không tự thân phát triển được và trở thành nền nông sản hàng hoá nếu

không có sự tác động của công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến để làm gia tăng giá trị của hàng hoá nông sản

Do vậy, cần có sự đánh giá đúng mức về tiềm năng kinh tế của vùng ĐBSCL, đặc biệt là tiềm năng vẻ nông nghiệp để xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội theo vùng và chiến lược phát triển nông nghiệp có tính

kha thi và hiệu quả, đáp ứng những mục tiêu phát triển kinh tế trước mắt và

lâu dài, thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển

Để có một nền nông nghiệp đa dạng, mang tính thương phẩm cao,

chiến lược phát triển nông nghiệp phải chú ý tới các vấn đề sau:

Tạo ra cân bằng tương đối giữa cây trồng lương thực và cây xuất khẩu Tạo ra một cân bằng giữa trồng trọt và chăn nuôi

Tạo ra một tỷ lệ thích đáng giữa việc khai thác nông nghiệp trên đất

lién véi việc nuôi trồng đánh bắt thuỷ, hải sản

Được như vậy, ta sẽ tạo ra cơ cấu kinh tế nông nghiệp với hoạt động

đa đạng, có hiệu quả và góp phần tạo chuyển biến về phân công lao động ngay trong nông nghiệp Đồng thời, chính nông nghiệp cũng tạo tiền để cho các ngành công nghiệp, dịch vụ trên địa bàn phát triển Đó cũng chính

là bài toán về chuyển dịch kinh tế theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông thôn đang cần lời giải và đáp số với các nhà nghiên cứu,

2 Cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng, dân số và lao động

So với các vùng nông thôn trong cả nước, ở ĐBSCL, người dân sớm

tiếp cận với sự phát triển của kinh tế hàng hoá Điều đó cũng tạo cho nông dân ở vùng này bắt nhịp nhanh hơn khi đất nước chuyển sang kinh tế thị

trường Tuy nhiên, đến nay, trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở

vùng này đang gặp nhiều khó khăn vì cơ sở vật chất kỹ thuật còn thấp kém

a Về cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng, giao thông, thuỷ lợi:

Trong những năm gần đây, đầu tư của nhà nước, tập thể tư nhân đã góp phần tích cực tăng thêm cơ sở vật chất kỹ thuật trong nông nghiệp Điện khí hoá nông thôn đã có những chuyển biến tích cực Hệ thống điện

Trang 16

cung cấp cho vùng ĐBSCL đã hoà vào mạng lưới điện quốc gia Tuy nhiên, „ tính đến năm 1994, cũng mới dược 67,3% xã; 42,8% ấp và 25% hộ gia đình có điện Riêng số hộ gia đình sử dụng điện như vậy là thấp so với các

vùng nông thôn khác (Đông Nam bộ 45,1%; cả nước 53,2%)

Từ xa xưa ĐBSCL đã có hệ thống kênh rạch chằng chịt Tuy vậy, điều dễ nhận thấy ở đây vẫn thiếu những công trình chống lũ dữ, chống

man do sự xâm nhập của thuỷ triểu Xét về điều kiện nhiệt độ, ánh sáng

vùng này có thể gieo trồng quanh năm Song hệ số sử dụng đất hiện nay

vẫn còn thấp, mới đạt khoảng 1,45 lần Muốn tăng hệ số sử đụng đất cần làm tốt công tác thuỷ lợi, cung cấp nước tưới về mùa khô Hằng năm do lũ

lụt làm mất hàng chục ha Chỉ tính riêng tỉnh Long An năm 1997 mất gần 10.000 ha mía (trên 50% diện tích trồng mía); vụ mùa 1996 -1997 mất gần

8.000 ha do lũ về sớm Hệ thống sông, kênh, rạch ở ĐBSCL nhiều năm không được nạo vét, khai thông luồng lạch cùng với tình trạng thiếu bến,

thiếu cảng nên giao thông thuỷ còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng kịp yêu

cầu đặt ra trong phát triển kinh tế

Vì vậy, để mở rộng sản xuất và bảo đảm được thành quả lao động

cần có đầu tư lớn về thuỷ lợi cho vùng này, cần có sự đầu tư lớn nhằm bảo

vệ và cải tạo một số vùng đất đai thuộc ĐBSCL

Ở ĐBSCL, cấu trúc và chất lượng đường bộ, đường thuỷ thấp và

thiếu đồng bộ Những tuyến giao thông đường bộ trọng yếu, nhiều cầu đã

hư hồng, tải trọng thấp Tỷ lệ đường nhựa và đường bộ trong tổng số chiều

dài đường bộ ở ĐBSCL mới đạt 5,2%, thấp nhất so với 7 vùng trong nước (bình quân cả nước 8,5%)

Thực tế cho thấy, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật ở ĐBSCL, phát triển không đều và còn nhiều yếu kém, chưa đủ sức đấp ứng vai trò

thúc đẩy sự chuyển biến kinh tế nông thôn Nếu so với tình hình chung

trong cả nước, thì cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật ở đây còn nhiều yếu tố bất cập rất lớn trong phát triển kinh tế tương ứng với vị thế ĐBSCL,

vùng đất có vị trí kinh tế quan trọng, ẩn chứa những tiểm năng kinh tế nhất định Đặc biệt trong phát triển nông nghiệp, tình trạng lũ lụt, phèn mặn ở ĐBSCL đòi hỏi phải có hệ thống thuỷ lợi có khả năng cải tạo được tự nhiên

mới đảm bảo cho nông nghiệp phát triển theo hướng đa canh, thâm canh để nâng cao số lượng, chất lượng nông phẩm.

Trang 17

Tỷ lệ tăng đân số tự nhiên và cơ học những năm qua đều cao Trong

18 năm qua (1976 - 1991), dân số ở ĐBSCL tăng thêm 5,2 triệu người Sự

gia tăng dân số sẽ góp phần cung cấp thường xuyên nguồn nhân lực trong

phát triển kinh tế Tuy vậy, khi nền kinh tế trình độ còn thấp kém, kinh tế

nông nghiệp là chủ yếu, công nghiệp và dịch vụ chưa phát triển thì sự gia tăng dân số sẽ gây sức ép với nền kinh tế Tình trạng dân số tăng, nhưng đất đai canh tác có giới hạn nên vấn đề việc làm và đời sống với người dân

ở nông thôn đang thu hút sự quan tâm của xã hội

Ở ĐBSCL dân cư phân bố không đều, sự chẻnh lệch thể hiện giữa

các tỉnh khá rõ nét Năm 1995, mật độ đân số bình quân cả vùng là 406 người/km” trong khi ấy ở phía Đông thì dân số tập trung quá đông, Tiền Giang 708 người/km”, Vĩnh long 714 người/km ở phía Tây dân số lại thưa hơn, Ca mau, Bạc liêu 229 người/km” Chính sự phân bố không đều về dân

cư cũng gây ra hiện tượng thừa thiếu lao động giữa các địa phương trong vùng

Con người là yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội, nhưng

học vấn của dân cư ở đây thấp và ngày càng tụt hậu so với các vùng đô thị

3 Cơ cấu kinh tế

Như đã nói trên, trọng tâm hoạt động kinh tế của ĐBSCL là sản xuất nông nghiệp Giá trị sản lượng nòng nghiệp tính theo giá cố định năm

1994, thì năm 1995 đạt 31.247,6 tỷ đồng, năm 1996 đạt 33.280,8 tỷ đồng,

năm 1997 đạt 35.156,7 tỷ đồng Như vậy, nếu so với năm 1995, tốc độ tăng của nông nghiệp năm 1996 là 6,5%, năm 1997 là 12,5% Trong nông nghiệp, sản xuất lương thực chiếm tỷ trọng lớn so với các vùng trong nước Năm 1997, sản lượng lương thực quy thóc đạt 14.098.100 tấn (cả nước là 30.561.300 tấn) Ngoài trồng cây lương thực, các địa phương vùng ĐBSCL còn trồng các loại cây công nghiệp, thực phẩm khác Năm 1997, sản lượng mía cây đạt 4.352.000 tấn, sản lượng lạc 27.500 tấn, sản lượng đậu tượng 18.700 tấn, sản lượng đay 9,100 tấn, thuốc lá 1.200 tấn v.v

Trang 18

Vẻ chăn nuôi, số lượng đàn gia cầm năm 1997 là 36.452.700 con

Trong nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản, năm 1995 giá trị sản lượng (theo

giá cố định năm 1994) dat 8.850,8 ty déng, năm 1997 đạt 8.558,3 tỷ đồng

So với năm 1995, tốc độ phát triển tổng giá trị sản lượng thuỷ sản năm

1996 tăng 6,6%; năm 1997 tăng 6,7%

Về sản xuất lâm nghiệp, nếu tính theo giá cố định năm 1994, giá trị sản xuất lâm nghiệp năm 1995 đạt 751,6 tỷ đồng, năm 1996 đạt 730,6 tỷ

đồng, năm 1997 đạt 690,8 tỷ đồng Tốc độ phát triển ngành lâm nghiệp có

xu hướng giảm, do đất rừng đang có xu hướng bị thu hẹp bởi việc đốt rừng tràm, phá rừng đước ngập mặn để nuôi tôm Gần đây, ngành lâm nghiệp đang có những cố gắng khôi phục lại rừng tràm trên các vùng đất ngập mặn, mở rộng diện tích rừng ngập mặn ven biển, đồng thời phát động nhân

dân trồng cây phân tần ở các địa phương

Theo số liệu thống kê năm 1995, ở ĐBSCL, có 82.094 cơ sở công

nghiệp, trong đó các cơ sở do trung ương quản lý là 13, địa phương quản lý

là 82.081 Trong các cơ sở công nghiệp do địa phương quản lý, kinh tế

quốc doanh chiếm 140 cơ sở, kinh tế ngoài quốc doanh chiém 81.941 co

sở Những cơ sở công nghiệp địa phương nhỏ bé, hình thức phổ biến là tổ

chức dưới dạng tự nhiên, hợp tác xã sản xuất tiểu thủ công nghiệp, trang bị

kỹ thuật trong sản xuất hạn chế, sản phẩm chủ yếu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng các địa phương

Năm 1994, công nghiệp thực phẩm chiếm 53%, công nghiệp chế biến lương thực là 12%, công nghiệp vật liệu xây dựng 12%, chế biến gỗ 6,23% còn lại là những ngành công nghiệp khác Trong công nghiệp có 295.000 lao động, chiếm 3,4% số người lao động trong độ tuổi cả vùng

Giá trị sản lượng công nghiệp (theo giá cố định năm 1989) ở

ĐBSCL năm 1994 đạt 2.935,8 tỷ đồng, năm 1995 đạt 3.207,7 tỷ đồng

Trong đó, giá trị sản lượng công nghiệp trung ương năm 1995 chiếm 271.2

tỷ đồng, sản lượng công nghiệp địa phương chiếm 2.936,6 tỷ đồng Với

công nghiệp địa phương, kinh tế ngoài quốc doanh vẫn chiếm một tý trọng

lớn, năm 1995 là 1.621,4 tỷ đồng Khu công nghiệp lớn nhất và trung tâm

của vùng là Cần thơ, ngoài ra còn có các khu công nghiệp quy mô nhỏ như

Hà tiên, Kiên lương, Mỹ tho, Long xuyên, Bạc liêu, Tân an, đức hoà

Ngành xây dựng còn kém phát triển, bởi tốc độ công nghiệp hoá và

đô thị hoá thấp Năm 1994, ngành xây dựng mới thu hút 1,5% lao động xã hội và tạo ra 3,74%GDP của vùng

Trang 19

Hoạt động kinh tế dịch vụ bước đầu có chuyển biến đáp ứng nhu

cầu sản xuất đời sống, góp phần mở rộng giao lưu hợp tác kinh tế giữa các

địa phương trong vùng và giữa các vùng trong nước Những năm qua, khu vực kinh tế dịch vụ có tốc độ tăng trưởng nhanh, đạt 12,1% Kinh tế dịch

vụ chiếm khoảng 32% GDP của vùng Năm 1994, tổng mức lưu chuyển

hàng hoá bán lẻ chiếm 22,8% so với cả nước, xuất khẩu chiếm 11,8% so với cả nước Khối lượng vận chuyển hàng hoá và hành khách đều tăng Năm 1994, khối lượng hàng hoá vận chuyển đạt khoảng 10 triệu tấn, hành khách đạt 3 triệu người Kinh tế dịch vụ góp phần quan trọng thúc đẩy

nông nghiệp phát triển và tác động đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá thông qua cung ứng, tiêu thụ, luân chuyển hàng hoá đáp ứng kịp thời cho sản xuất và tiêu dùng, đảm bảo

đầu ra và thu hút nhiều việc làm ở nông thôn Đây là ngành dễ thu hút các

thành phần kinh tế tham gia, có khả năng tạo GDP cho nền kinh tế nhanh

có khả năng tác động tạo đa dạng hoá ngành nghẻ ở nông thôn, thu hút lao động thừa trong nông nghiệp

Ngành du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn Hoạt động còn đơn điệu, khả năng thu hút khách còn hạn chế Số lượng khách đến tham quan du lịch ở vùng ĐBSCL năm 1994 không trên Ì triệu người trong đó khách quốc tế là 10,5 vạn người Các tỉnh An giang, Trà vinh là

nơi du lịch phát triển hơn so với các địa phương khác

Trong những năm qua, việc thu hút đầu tư của nước ngoài đã có 112

dự án đầu tư, tổng số vốn đăng ký 673,5 triệu USD, trong đó vốn pháp định

366,1 triệu USD Nhìn chung, số dự án đầu tư của nước ngoài vào vùng này

chiếm khoảng 4% số dự án đầu tư vào Nam bộ nói chung Số xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã triển khai hoạt động còn ít Nông nghiệp chưa trở

thành lĩnh vực được nước ngoài chú trọng đầu tư Tỷ lệ góp vốn của các địa phương còn thấp nên gặp phải không ít bất lợi trong hợp tác đầu tư

Nhìn chưng từ 1990- 1994, vùng ĐBSCL mức tăng GDP bình quân hàng năm là 8,3% cơ cấu kinh tế có sự thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp Năm 1994 cơ cấu kinh

tế vùng (theo giá trị sản xuất, giá thực tế), nông nghiệp chiếm 69,24% GDP, công nghiệp 10,75% GDP, dịch vụ 20,01% GDP Tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP có giảm, nhưng giá trị tuyệt đối vẫn tăng Tuy có chuyển biến như vậy, cơ cấu kinh tế trên vẫn phản ánh hiện trạng kinh tế với nông nghiệp là cơ bản, công nghiệp, dịch vụ chiếm tỷ trọng nhỏ, xu hướng tăng

Trang 20

chậm Nhiều vùng nông thôn sản xuất còn mang nặng tính thuần nông,

kinh tế tự cấp, tự túc còn chiếm tỷ trọng khá lớn trong nền kinh tế Sản xuất

ở nông thôn phân tán theo quy mô hộ gia đình, với lao động thủ công là

phổ biến Do vậy, phần lớn cư dân và lao động vẫn tập trung ở khu vực

công nghiệp nông thôn Lao động thừa ở nông thôn tràn ra thành thị làm

gay gắt thêm tình trạng thừa lao động ở đô thị Quy mô nhân khẩu quá lớn,

tạo ra yêu cầu đáp ứng các vấn đề xã hội lớn Trong khi đó tình trạng thiếu

việc làm gia tăng, giá nhân công thấp, thu nhập không đáp ứng nhu cầu của

ch tiêu tạo ra lớp nông dân nghèo rất lớn ở nông thôn

4 Tap quán sản xuất và đời sống

Những người Việt đầu tiên đến khai phá ĐBSCL vào đầu thế kỷ XVII, họ đi từ các vùng đất cao ở Đông Nam bộ theo các kênh rạch tự nhiên tiến vào các khu vực đất mới Hết đời này sang đời khác, những kênh

đào nhân tạo được bổ sung, diện tích đất khai phá được mở rộng Cuối thế

ký XVIH, đầu thế kỷ XIX những kênh đào lớn do Nhà nước bắt đầu xây

dựng Công cuộc khai hoang với qui mô lớn biến vùng đất hoang vu thành ruộng vườn Kênh đào đến đâu, làng mạc thôn xóm mở ra đến dấy Sự

chinh phục một đồng bằng rộng lớn và phức tạp ở ĐBSCL đã phải tiến

hành từng bước cùng với sự tăng nguồn lực của dân nhập cư từ xứ Quảng vào Những người di cư đến mở mang đất đai, đào kênh khơi ngòi tạo ra những vùng đất mới Người thì sản xuất nông nghiệp, ngoài trồng lúa còn

trồng đậu, ngô, khoai, dưa, mía v.v , người thì nuôi trồng đánh bắt thuy

sản, người thì làm nghề tiểu thủ công truyền thống Trong vòng khoảng

300 năm từ thế kỷ XVII dân tộc ta đã tiến hành mở mang khai khán vùng

đất phía Nam Đây là một quá trình gian khổ Đây là vùng đất hoang sơ, rải rác có người Khme, người Chăm cư trú sinh sống ở đó Cùng quá trình khai

phá đất đai, làng xã và các thôn ấp đã hình thành Vùng Tây Nam bộ khi đó

là nơi đất rộng, người thưa, nhờ lao động sáng tạo con người không chỉ chinh phục thiên nhiên mà chính phục xã hội Sự gặp gỡ hội tụ của lưu dân

từ đải đất miền Trung chuyển tới đã tạo thành kiểu quần cư, thuộc vào địa hình để làm ăn Điều kiện tự nhiên, xã hội đã tác động và ảnh hưởng lớn

đến tập quán sản xuất và cách sống của người dân ĐBSCL trong lịch sử

Làng xã mọc lên từng cụm, nhà cửa chạy dọc theo bờ sông, bờ rạch quanh co Luồng dân di cư từ miền Trung vào ĐBSCL vì mục đích kinh tế

Mơ ước của người khẩn hoang là tạo lập nhà cửa, ruộng vườn trên miền đất mới Họ sớm thích ứng với nền văn minh lúa nước, biết lấy trồng trọt làm

Trang 21

nguồn sống chủ yếu, biết tận dụng nguồn thực phẩm cá tôm mà thiên nhiên

ban tặng cho con người để sinh sống Tập quán sản xuất và đời sống có thể

thấy được qua một số biểu hiện chủ yếu sau:

- Kỹ thuật canh tác là vấn đề cốt lõi với con người trong hoạt động

khẩn hoang Ở vùng ĐBSCL, khi canh tác những nơi đất đai phì nhiêu, con

người không cần cày bừa mà chỉ cần dọn sạch cỏ và cấy lúa xuống Nghề

làm vườn cũng sớm xuất hiện Nó được coi là sáng tạo lớn nhất của người dân Nam bộ với việc trồng cau, đừa, cây ăn trái Kỹ thuật đào mương nhỏ chạy song song, nước chảy thông nhau, đất đai đào lên đắp thành bờ cao Trên đất ấy con người trồng cây Do vậy, khi nước từ sông rạch vào, mùa

nắng không phải tưới lại có thêm nguồn lợi tôm cá Qua mùa nước, phù sa lắng đọng được đào lên đắp vào gốc cây

Chính cuộc sống gắn bó với nông nghiệp khiến người dân vùng này luôn gần gũi với thiên nhiên, hoà nhập và thích nghi với thiên nhiên tạo nên nếp sống truyền thống giản dị, chất phác, ưa đơn giản, ghét cầu kỳ xa

hoa Sống trong điều kiện ấy, nó hun đúc lên truyền thống cộng đồng, tỉnh thần đoàn kết tương trợ giúp đỡ nhau trong cuộc sống hàng ngày cũng như

khi khó khăn hoạn nạn

- Sản xuất nông nghiệp trên cơ sở kinh tế tiêu nông với điều kiện lao động dựa vào công cụ thô sơ đòi hỏi con người phải lao động vất vả, đặc

biệt trong điều kiện thiên nhiên nắng lắm, mưa nhiều, hạn hán lũ lụt đã

tạo cho con người có sức bền bỉ chịu đựng gian khổ Đặc trưng của nông

nghiệp trồng lúa là tính ổn định của quy trình sản xuất nên con người ngày

càng dày dạn kinh nghiệm thông thạo thời tiết, mùa màng

Cũng do đặc điểm của nền nông nghiệp truyền thống lấy kinh tế

tiểu nông mang nặng tính tự cấp, tự túc làm đơn vị cơ sở, người sản xuất không quen hạch toán kinh tế Với người nông dân, hầu như mọi tư liệu vật

chất phục vụ sản xuất đều có sẵn trong tay và đặc biệt họ không tính tới

công sức mình bỏ ra Sự lo toan của con người chủ yếu chỉ tập trung vào

chu trình sinh trưởng của cây lúa trong thời gian một vụ Từ đấy đã hình

thành một tập tính kém hạch toán, không quen lường tính xa Bên cạnh đó,

sự thành bại của nông nghiệp hoàn toàn bị phụ thuộc vào thiên nhiên nên

dễ tạo ra tâm lý cầu may và "ăn xổi” Đó cũng là cách làm ăn tuỳ tiện, tấn mạn, lãng phí về thời gian, thiếu kỷ luật chặt chẽ

Trang 22

- Xa xưa châu thổ ĐBSCL là vùng đất mới, khi đó đất rộng, kênh

rạch tôm cá nhiều , không gian sinh tồn của con người lớn Trong tiểm thức

con người luôn suy nghĩ rằng năm sau mùa màng, cá tôm sẽ dồi dào hơn

năm trước, khi đó, cuộc sống con người sẽ thuận lợi hơn, dẻ dàng hơn Do

vậy, con người nhiều khi trở nên thụ động trong cuộc sống và sinh hoạt

hôm nay không lo đến ngày mai, thiếu ý thức phòng xa trong cuộc sống và

ít chú ý tiết kiệm trong tiêu dùng Nhà cửa, phương tiện ăn ở cũng đơn sơ theo lối sống ăn ở của người nông dân ĐBSCL, l

- Cư dân từ miền Trung vào sinh sống ở vùng đất mới qua vài thế hệ, lớp con cháu dần thích ứng với môi trường sống mới và tự khẳng định rằng muốn vươn lên thì cuộc sống con người phải đa dạng Do vậy, họ dễ thay đổi nơi cư ngụ, gặp địa phương làm ăn không khá thì dễ ra đi, thậm chí chấp nhận sống lưu động; nhanh thay đổi ngành nghẻ, thích làm cật lực

cho xong việc rồi nghỉ, lo việc khác, bằng không thì vui chơi Thêm vào

đó, việc sớm tiếp cận với sự phát triển của kinh tế hàng hoá cũng ảnh

hưởng ít nhiều đến tâm lý ngươi nông dân, tạo cho họ thói quaen đề chấp nhận với sự thay đổi thành phần xã hội Khi có tiền vốn họ làm ông chủ, mướn công nhân, khi phá sản lại trở về với số phận của người làm công Như vậy, trong nếp sống và làm.ăn của người Nam bộ thì việc đổi địa

phương, đổi nghề bươn trải với cuộc sống thường xuyên xẩy ra

Khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới kinh tế, làn gió đổi mới

đã thấm sâu vào làng xã ĐBSCL Trong điều kiện phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường nó đòi hỏi cách nghĩ, cách sống, cách làm ăn của con người, nhanh nhạy để thích ứng với cơ chế mới khi hộ nông dân đã trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, khi cơ cấu kinh tế nông thôn có sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Việc đẩy mạnh phát triển sản xuất hàng hoá là mục tiêu chung của xã hội nhằm đạt tăng trưởng kinh tế cao Do vậy, có những yếu tố thuộc tập quán sản xuất và đời sống đã hình thành và tồn tại qua bao bước thăng trầm của

lịch sử cần được con người nhận thức để phát huy cái mạnh, khắc phục cái yếu cho phù hợp với hoạt động của chính mình trong cơ chế mới Vì khi luật pháp đã khuyến khích mọi người được tự do làm giàu trong khuôn khổ luật pháp thì định hướng giá trị nhân cách của con người sẽ có những thay

đổi và diễn ra theo chiều hướng: Từ con người chịu đựng gian khổ, ít đòi

hỏi đến đòi hỏi mức tiêu dùng ngày càng cao; Từ con người ít biết tính toán hiệu quả kinh tế đến tính toán hiệu quả kinh tế trong mọi việc; Từ con

Trang 23

người kém năng động tháo vát trong sản xuất kinh doanh đến chấp nhận

- cạnh tranh, giám phiêu lưu mạo hiểm; Từ con người định hướng vào những giá trị tập thể xã hội là chính đến hướng vào lợi ích cá nhân và gia đình là chính; Từ con người thích bình quân cào bằng đến chấp nhận có sự phân hoá giàu nghèo

Nhìn vào các giá trị trên, ta thấy được đặc điểm nhân cách con

người trong cơ chế thị trường, thấy được động lực thúc đẩy con người trong các lĩnh vực đời sống xã hội: Đối chiếu với tập quán sản xuất đã hình thành

ở nông thôn ĐBSCL trong lịch sử, có những yếu tố phù hợp nhưng cũng có những yếu tố trở nên bất cập trong điều kiện đời sống kinh tế xã hội ngày nay Cơ chế kinh tế mới đòi hỏi tất cả mọi người phải tự điều chỉnh để thích nghi, thích ứng Đó là điều kiện cho sự phát triển và của chính mỗi COn người

Thực tế cho thấy, khi bước vào nền sản xuất hàng hoá, tập quán sản xuất và đời sống của nông dân ĐBSCL đã có những thay đổi Do tác động của cơ chế mới cùng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bên cạnh những

hộ nông dân thuần nông đã xuất hiện những hộ nông dân sản xuất nông nghiệp kiêm dịch vụ Một số hộ nông dân đã thoát ly nghề nông để sống bằng nghề dịch vụ và thương mại Những năm qua trong cơ chế thị trường, dưới tác động của quy luật giá trị, tình hình phân hoá giàu nghèo đã diễn ra

và có những biểu hiện khá rõ nét ở ĐBSCL, Một số hộ có kinh nghiệm làm

ăn, có vốn trong đầu tư kinh doanh trở nên giàu có Cũng trong hoàn cảnh

ấy, một bộ phận hộ nông dân do thiếu kinh nghiệm làm ăn, thiếu vốn cùng các nguyên nhân khách quan, chủ quan khác đã bị mất đất sản xuất nông nghiệp đi làm thuê Các hộ nông dân không đất và thiếu đất không có việc làm ổn định đang gặp nhiều khó khăn trong đời sống

Công cuộc đổi mới kinh tế đang làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội ở

nông thôn, no đủ hơn, giàu có hơn Nhưng sự phân hoá giàu nghèo cũng dang nẩy sinh những vấn đề kinh tế xã hội ở nông thôn ĐBSCL Điều đó

đồi hỏi phải sớm có những chủ trương giải pháp trước mắt và lâu dài nhằm

6n định kinh tế chính trị xã hột ở nông thôn trên con đường CNH, HĐH

Trang 24

Il NHUNG VAN DE CO TINH QUY LUAT VE SU VAN

DONG CUA DAT DAI, LAO DONG TRONG NEN KINH TE HANG

HOA VA SU BIEU HIEN CUA NO 6 DBSCL

Đất gắn bó với sự tồn tại va phát triển của con người không chỉ theo nghĩa đất là cần thiết cho sự tổn tại và phát triển của con người mà về

phương diện kinh tế, đất tạo ra của cải vật chất, nó có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Từ thế kỷ 17, nhà kinh tế học cổ điển người Anh là Wiliam Petty đã

từng nói “lao động là cha, đất là mẹ của mọi của cải” Như vậy, không thể

có của cải nếu thiếu lao động hoặc thiếu đất đai Vì vậy trong quá trình

hoạt động kinh tế, tạo ra của cải, ngay từ khi thoát khỏi loài vượn để tổ chức hoạt động sản xuất, con người đã kết hợp lao động của mình với đất

đai, khai thác đất đai tạo ra của cải vật chất

Là sản phẩm tự nhiên, đất đai vận động do các qui luật tự nhiên chỉ phối Song đất đai với tư cách là yếu tố cần thiết của quá trình kinh tế vì vậy nó chịu sự tác động cuả các qui luật kinh tế Tổng hợp các qui luật này,

chúng tôi thấy những vấn đề có tính qui luật của đất đai và lao động trong nên kinh tế hàng hoá nói chung và biểu hiện ở ĐBSCL nói riêng như sau:

1 Quy luật đất đai có hạn và mầu mỡ tự nhiên của đất đai giảm sút

Quy luật đất đai có hạn và mầu mỡ đất đai giảm sút vừa chịu sự chỉ

phối của những nhân tố tự nhiên, vừa chịu sự chi phối của các nhân tố kinh

tế Trước kia, người ta cứ tưởng đất là nguồn tài nguyên vô hạn Song thực

tiễn phát triển làm cho con người dần dần nhận thức được rằng đất đai là có

hạn Thêm vào đó với tốc độ gia tăng dân số tự nhiên cao, làm cho con người ngày càng sinh sôi, còn đất đai thì không có sự gia tăng, hoặc gia táng không đáng kể nhờ tác động của khai hoang, thì đến khi đó, người ta mới nhận thấy thực tế đất đai là nguồn tài nguyên khan hiếm

Dưới sự tác động của hiện tượng tự nhiên cũng như khai thác tài

nguyên của đất phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của con người , thì mầu

mỡ tự nhiên của đất ngày càng giảm sút Sự xói mòn của tự nhiên làm cho

đất đai bị bạc màu Mưa bão, lụt lội làm cho nhiều vùng đất bị sụt lở và khô cần Đặc biệt là sự khai thác của con người ngày càng làm cho màu

Trang 25

là tư hữu của địa chủ, đã làm tách biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng đất

Quyền tư hữu ruộng đất của địa chủ giả định là : địa chủ là người có quyền

sở hữu ruộng đất, song họ không trực tiếp canh tác mà cho thuê để thu địa

tô Người thuê ruộng là nông dân (trong xã hội phong kiến) hoặc nhà tư

bản (trong chủ nghĩa tư bản) là người trực tiếp sử dụng, khai thác ruộng đất

và phải trả địa tô cho địa chủ theo hợp đồng thuê ruộng Lý luận địa tô của

Mác đã chỉ ra quyền của địa chủ thu được địa tô tuyệt đối và địa tô chênh lệch I Còn địa tô chênh lệch 2, địa tô do thâm canh mà có, thì trong thời

hạn hợp đồng thuê ruộng phần sản phẩm thặng dư siêu ngạch này thuộc về

người thuê ruộng Song hết thời hạn hợp đồng, nếu tác động thâm canh vẫn còn, chủ ruộng đất sẽ cộng vào, nâng địa tô lên Lúc đó, nó trở thành địa

tô chênh lệch 1 Chính bí mật đó là cơ sở của việc tranh chấp vẻ thời hạn hợp đồng thuê ruộng Địa chủ muốn cho thuê ruộng với thời hạn ngắn, còn người đi thuê ruộng lại muốn thời hạn hợp đồng thuê ruộng đài Trong cuộc tranh chấp này, thường thì địa chủ chiến thắng Và như vậy, trong thời hạn thuê ruộng, người đi thuê muốn tìm mọi cách khai thác hết tác dụng của thâm canh và độ màu mỡ đất đai Đó là nguyên nhân cơ bản làm cho

độ màu mỡ tự nhiên của đất đai giảm sút

Một nhân tố khác làm cho độ màu mỡ tự nhiên của đất đai giảm sút

là nhân tố phát triển của khoa học kỹ thuật Thực tế sự phát triển của tiến

bộ khoa học kỹ thuật có tác dụng hai mặt Mặt tích cực của nó là áp dụng những tiến bộ vào sản xuất làm tăng năng suất cây trồng Song mặt khác, chính những tiến bộ khoa học áp dụng vào canh tác lại làm biến đổi chất đất, làm mất đi màu mỡ thiên nhiên ban phú, công năng của đất mang nặng tính chất nhân tạo Trong trường hợp đó, nêu do một nguyên nhân nào đó, con người không có điều kiện áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất hoặc

có đưa vào nhưng với mức độ kém hơn trước, thì năng suất cây trồng sẽ giảm sút Như vậy, những yếu tố qui định tính qui luật giảm sút màu mỡ đất đai phụ thuộc cả vào tự nhiên kinh tế và kỹ thuật Đứng trên góc độ kinh tế, con người có thể hạn chế xu hướng này thông qua điều tiết quan

hệ về hợp đồng thuê ruộng Rõ ràng nếu thời hạn thuê ruộng dài, người sử

dụng đất đai sẽ yên tâm đầu tư thâm canh và sử dụng đất đai hợp lý Điều

đó tạo khả năng bảo vệ độ phì của màu mỡ đất đai

Cũng không bỏ qua khả năng con người có thể áp dụng tiến bộ khoa

học kỹ thuật một cách thích hợp, vừa làm tăng năng suất cây trồng, vừa bảo

vệ độ phì của đất Đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực này là

Trang 26

việc áp dụng những tiến bộ sinh học, công nghệ sạch vào sản xuất nông

nghiệp Do vậy vấn đề lựa chọn công nghệ sản xuất, giống cây trồng và các loại phân bón vừa có tác dụng tăng năng suất cây trồng, vừa bảo vệ được

môi trường tự nhiên và độ màu mỡ của đất đai là vấn để cực kỳ quan trọng

Tình trạng giảm sút mầu mỡ tự nhiên của đất đai ở ĐBSCL nói riêng,

ở nước ta nói chung là rất rõ ràng Chúng tôi chưa ó số liệu về đánh giá độ

phì nhiêu tự nhiên của đất song có thể thấy một thực tế là độ phì nhiêu tự nhiên ngày nay đã giảm sút rất nhiều so với ba bốn chục năm về trước Nếu như ba bốn chục năm trước đây, năng suất cây trồng nhờ vào phù sa tự

nhiên thì nay phải nhờ vào phân hoá học và thuốc trừ sâu Ngày nay, trong sản xuất nông nghiệp nếu không nhờ vào phân hoá học và thuốc trừ sâu thì

không thể có năng suất cây trồng cao Ngay Đồng Tháp Mười, được mệnh

danh là " mảnh đất trời phú”, "làm chơi ăn thật” trước đây thì ngày nay, nếu không có phân hoá học và thuốc trừ sâu thì không chỉ cây lúa, mà cả xoài và các cây ăn trái khác cũng không cho con người sản phẩm Chính vì vậy, lượng phân bón, thuốc trừ sâu chúng ta phải nhập khẩu ngày càng tăng

lên (Xem biểu 1)

Biển1: Số lượng phân bón qui đạm và thuốc trừ sâu

nhập khẩu từ 1980 - 1995

Nguén: Nién gidm théng ké1981 trang 128 va năm 1997, trang 278

2 Xu hướng đất nông nghiệp bình quân đầu người giảm trong

thời kỳ công nghiệp hoá

Tính qui luật về giảm sút diện tích đất nông nghiệp bình quân cho

người nông dân đã được các nhà kinh tế học cổ điển như T.R Malthus, D

Ricardo phát hiện ra Đặc biệt là T.R Malthus đã trình bày khá ảm đạm tính quy luật này trong lý thuyết nhân khẩu Theo ông, do quy luật tự nhiên nên dân số tăng nhanh theo cấp số nhân, cứ hai mươi lăm năm thì tang lên gấp đôi Có thể biểu diễn theo dãy số: 1, 2, 4, 8, 16, 32, Trong khi đó của cải, do mầu mỡ đất đai giảm sút, năng suất đầu tư bất tương xứng, nên tăng chậm theo cấp số cộng, là 1, 2, 3, 4, 5, Chính vì vậy, nạn

Trang 27

khan hiếm lương thực, thực phẩm diễn ra là tất yếu, con người phải chấp nhận cảnh đói rét, bần cùng

: “Để khác phục xu hướng nay thi cùng với khuyến khích phát triển kinh tế thị trường, áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào canh tác còn cần

phải hạn chế sinh đẻ, và kể cả bệnh tật, chiến tranh cũng góp phần làm giảm dân số

Thực ra, Malthus không chỉ phạm sai lầm khi muốn dùng chiến tranh, bệnh tật, chiến tranh để giảm tốc độ tang dan số, mà thời đại của ông

chưa cho phép ông nhận thức được xu hướng qui luật dân số hiện đại Theo qui luật này, người ta chia quá trình phát triển dân số thành các thời

kỳ theo mô hình sau đây

Thời kỳ công nghiệp hoá nhờ sự phát triển khoa học kỹ thuật nên y

tế phát triển mạnh, tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh giảm, vì vậy tốc độ tăng nhân

khẩu nhanh Các nước ở thời kỳ công nghiệp hoá đều có tốc độ gia tăng

dân số cao.Quy luật nhân khẩu của Malthus thích ứng với thời kỳ này

Đến thời kỳ hậu công nghiệp lại diễn ra một xu hướng khác Thời

kỳ này nền kinh tế các nước có bước tiến mạnh mẽ, đời sống vật chất cao, cùng với tiến bộ y học đảm bảo cho tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh ngày càng giảm thấp Trong bối cảnh đó, các bậc cha mẹ chỉ muốn sinh 1 - 2 con để còn có thời gian tham gia các hoạt động xã hội Chính vì vậy tốc độ tăng

Trang 28

dân số rất chậm Nhiều nước phát triển hiện nay, tốc độ tăng dân số xấp xỉ bằng không Chẳng hạn nước CHLB Đức hiện nay, mô hình dân số là 4 - 2

-1 tức là 4 ông bà nội ngoại - 2 bố mẹ và l con

Tình trạng trên diễn ra ở nước ta nói chung và ĐBSCL nói riêng Qua

số liệu của 2 cuộc tổng điều tra dân số 1979 và 1989 của các tỉnh ĐBSCL

chúng ta thấy rõ điều này (xem biểu 2)

Biểu 2: Tốc độ tăng dân số thời kỳ 1979 - 1989

Tỉnh Dân số (người) Tốc độ Mật độ dân số So mật độ

tăng dân (người/km”) dân số

1979

1979 1989 hàng năm 1979 1989 (%) Long An 949.200 1.120.204 1.74 218 258 118.3 Đồng Tháp | 1.173.486 | 1.337.491 1,38 346 408 117,9

An Giang 1.474.719 | 1.773.666 1,94 422 518 122/7 Tiền Giang 1.257.967 | 1.483.256 1,73 529 634 119.8 Bén Tre 1.033.879 | 1.214.329 1,69 465 541 116,3 Ciru long 1.496.093 | 1.808.919 2,00 388 469 120,9 Hau Giang 2.226.313 | 2.680.703 1,96 363 435 119,8 Kién Giang 985.491 1.197.911 2,06 155 192 123,9 Minh Hai 1.213.050 | 1.555.342 2,62 158 200 126,6 ĐBSCL 11.810.277 | 14.171.900 1,84

Cả nước 52.741.766 | 64.375.762 2,10 159 195

Trang 29

Qua tài liệu ở bảng 3 chúng ta thấy, tốc độ tăng đân số trong 1Ö năm của ĐBSCL là 19,99%, tốc độ tăng trung bình hàng năm là 1,84% Đồng

thời tính trong vòng 10 năm gần đây diện tích đất tự nhiên bình quân đầu người đã giảm gần 20%

3 Các yếu tố của sản xuất như vốn, lao động và đất đai đều trở thành hàng hoá trong điều kiện kinh tế thị trường

Lịch sử phát triển đã chứng tỏ loài người trải qua hai kiểu tổ chức

kinh tế xã hội là kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá Kinh tế tự nhiên hay

là kinh tế tự cung tự cấp đó là kiểu tổ chức sản xuất mà sản phẩm tạo ra cho bản thân người sản xuất tiêu dùng Đặc trưng của kiểu tổ chức sản

xuất này là khép kín trong phạm vi một gia đình, một bộ lạc và rộng nhất

là một công xã như các công xã Ấn độ trước đây Trong kinh tế tự nhiên, nông nghiệp giữ vị trí thống trị, sản xuất phân tán trong từng gia đình, dựa trên kỹ thuật thủ công, kinh nghiệm lưu truyền từ đời này sang đời khác

Kinh tế tự nhiên xuất hiện cùng với sự xuất hiện của loài người, tồn tại và thống trị trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, ngay trong xã hội tư bản chủ nghĩa và cho tới ngày nay một bộ phận kinh tế tự nhiên vẫn còn tồn tại mặc đầu không còn giữ vị trí thống trị

Do những hạn chế của kinh tế tự nhiên, trong quá trình phát triển của

sản xuất xã hội, xuất hiện một kiểu tổ chức kinh tế xã hội khác dần dần

thay thế nó đó là là kinh tế hàng hoá Đây là kiểu tổ chức kinh tế xã hội mà

sản phẩm sản xuất ra để bán, để trao đổi trên thị trường

Kinh tế hàng hoá phát triển qua hai giai đoạn kinh tế hàng hoá giản

đơn và kinh tế thị trường Kinh tế hàng hoá giản đơn là kinh tế hàng hoá của những người nông dân, thợ thủ công cá thể tiến hành trên cơ sở sức lao động và tư liệu sản xuất của bản thân người sản xuất Trong quá trình phát triển, kinh tế hàng hoá giản đơn tất yếu chuyển thành kinh té thị trường

Khác với kinh tế hàng hóa giản đơn, kinh tế thị trường phát triển ở một phạm vi và trình độ cao hơn Nếu như kinh tế hàng hoá giản đơn chỉ

trao đổi trên thị trường những sản phẩm tiêu dùng, chủ yếu là lương thực,

thực phẩm và các hàng thủ công mỹ nghệ do nông dân và thợ thủ công sản xuất ra, thì trong điều kiện kinh tế thị trường, mọi yếu tố đầu vào và đầu ra

của quá trình sản xuất đều trở thành hàng hoá, trao đổi trên thị trường Lịch

sử phát triển kinh tế thị trường đã chỉ ra là, đầu tiên, những sản phẩm mang

ra thị trường trao đổi chỉ là những hàng tiêu dùng thông thường Sau đó, đất

đai, sức lao động, tiền tệ cũng trở thành hàng hoá Trong kinh tế thị trường

Trang 30

đã hình thành lên hai loại thị trường là thị trường đầu ra, hay thị trường sản

phẩm tiêu dùng, dịch vụ, trên đó người ta mua bán những hàng tiêu dùng

và dịch vụ, và thị trường đầu vào hay thị trường yếu tố sản xuất, trên đó

người ta mua bán các yếu tố của sản xuất như lao động đất đai, tư bản Hai

loại thị trường này hoạt động nhịp nhàng sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế

phát triển bình thuường, không vấp phải tình trạng khủng hoảng Trong điều kiện mất cân đối giữa các loại thị trường này, sự cân bằng của nền

kinh tế sẽ bị vi phạm, tình trạng khủng hoảng tất yếu diễn ra

Như vậy, trong điều kiện kinh tế thị trường, không chỉ có sản phẩm,

mà các yếu tố giản đơn của quá trình sản xuất, trong đó có đất dai tro thành

hàng hoá, thành đối tượng mua bán Việc hình thành thị trường đất đai là tất yếu và cần thiết để đảm bảo cho sự phát triển cân bằng giữa các thị

trường Tuy nhiên do đất đai khan hiếm và có đặc thù nêng nên các Nhà

nước đều có những luật pháp riêng để quản lý nó

Ở nước ta, nói chung và ĐBSCL, nói riêng, Luật pháp không cho phép mua bán ruộng đất Tuy nhiên Luật đất đai quy định người được giao

quyển sử dụng ruộng đất có quyển chuyển nhượng, thế chấp ruộng

đất.Chính điều đó đã tạo ra hai xu hướng chuyển nhượng ruộng đất trong

nông thôn ở ĐBSCL là chuyển nhượng hợp pháp và chuyển nhượng bất hợp

pháp, hay hình thành "Thị trường ngảm” vé đất đai Tình trạng chuyển nhượng bất hợp pháp, hay "thị trường ngầm" về đất đai gây ra tình trạng khó khăn trong quản lý thống nhất về đất đai, là điều cần được xử lý

Chúng tôi cho rằng, trong nền kinh tế thị trường, đất đai cần được

quan niệm lại cho đúng với vị trí của nó Phải coi đất đai là một yếu tố của quá trình sản xuất, nên phải sử dụng đất đai tiết kiệm, có hiệu quả tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá gắn với việc bảo vệ môi trường tự nhiên và theo luật định Chính vì vậy, việc quy định các quyền của người sử dụng đất đai trong Luật đất đai cần được tiếp tục bổ sung, hoàn thiện phù hợp với tiến

trình phát triển kinh tế xã hội, tạo điều kiện để các quy luật của kinh tế thị

trường phát triển trên cơ sở quản lý vĩ mô của Nhà nước

4 Tập trung ruộng đất ngày càng tăng lên theo yêu cầu phát triển của sản xuất hàng hoá

Hiện nay, trong các sách báo nước ta đang dùng khái niệm tích tụ, tập trung ruộng đất Chúng tôi cho rằng dùng khái niệm tích tụ là không phù hợp

Thực ra, khái niệm tích tụ và tập trung được C.Mác phân biệt rất rõ

trong bộ Tư bản, khi nói tới sự lớn lên của qui mô tư bản C.Mác chỉ rõ,

Trang 31

tích tụ tư bản là sự tăng lên của tư bản cá biệt bằng cách biến một phần giá trị thặng dư thành tư bản Cồn tập trung tư bản là việc tăng qui mô tư bản

cá biệt, bằng cách hợp nhất các tư bản đã có trong xã hội Vì vậy, tích tụ tư

bản vừa làm tăng qui mô tư bản cá biệt, vừa tăng thêm tư bản xã hội Còn tập trung tư bản chỉ tăng thêm tư bản cá biệt mà không tăng thêm tư bản xã hội Đối với đất đai nên dùng khái niệm tập trung ruộng đất vì người ta chỉ

có thể sáp nhập hoặc hợp nhất nhiều mảnh đất của những người chủ khác

nhau vào một chủ sở hữu khác hoặc hình thành lên một chủ sở hữu mới với qui mô lớn hơn Chính vì vậy, chúng tôi cho rằng dùng thuật ngữ /đp trung

ruộng đất là thích hợp

Theo chúng tôi, đập frung ruộng đất là việc sáp nhập hoặc hợp

nhất ruộng đất của những chủ sở hữu khác nhau vào một chủ sở hữu

hoặc hình thành lên một chủ sở hữu mới có qui mô ruộng đất lớn hơn

Hiểu theo nghĩa này, tập trung ruộng đất diễn ra theo hai con đường Một là hợp nhất ruộng đất của các chủ sở hữu cá biệt nhỏ hơn thành một chủ sở hữu cá biệt khác lớn hơn Con đường này được thực hiện thông

qua hợp tác xã như ở nước ta trước đây

Con đường thứ hai là sát nhập ruộng đất của các chủ sở hữu nhỏ cá

biệt cho một chủ sở hữu cá biệt khác để tạo ra qui mô lớn hơn Con đường này diễn ra thông qua biện pháp tước đoạt, hoặc chuyển nhượng mua bán ruộng đất

Con đường thứ hai diễn ra mạnh mẽ ở các nước tư bản, trong giai đoạn đầu tích lũy nguyên thuỷ tư bản, điển hình là ở nước Anh Chúng ta

sẽ làm sáng tỏ thêm về con đường này

Các nhà kinh tế học đã tổng kết sở đi ở thế kỷ 18, nước Anh có thể thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, trở thành cường quốc công nghiệp hàng đầu thế giới là nhờ có chiến lược phát triển đúng đắn, kết hợp được cả phát triển công nghiệp, nông nghiệp và ngoại thương, từ đó tạo tiền

đề cho quá trình công nghiệp hoá thắng lợi

Đối với lĩnh vực nông nghiệp, ở thế kỷ 18, nước Anh đã chuyển mạnh nền nông nghiệp sang kinh doanh theo phương thức TBCN Đặc trưng con đường phát triển TBCN trong nông nghiệp ở nước Anh là bảo lưu độc quyền ruộng đất của địa chủ Địa chủ có ruộng đất cho các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp thuê Đồng thời, việc thủ tiêu các quan hệ ruộng đất theo kiểu phong kiến được gắn với việc tước đoạt ruộng đất của nông

dân, chuyển họ thành công nhân làm thuê trong nông nghiệp

Trang 32

Việc tước đoạt ruộng đất của nông dân vào tay địa chủ được sự hỗ trợ của bộ máy quyền lực lại càng diễn ra mạnh mẽ Chẳng hạn, năm 1677,

ˆ đưới triểu Vua Sáclơ II, điều lệ về sự chiếm hữu không hợp pháp được ban

hành tuyên bố mọi thành phần đất sử dụng không theo chứng khoán hay

hợp đồng đều thuộc quyền chỉ phối của chủ Cái gọi là “quyền tục lệ” về

ruộng đất của người nông dân đã mất tác dụng Ở thế kỷ 18, Nghị viện ban

hành thêm nhiều đạo luật mới cho phép rào đất Năm 1807 “Đạo luật về

rào đất” được ban hành cho phép địa chủ tự do tước đoạt ruộng đất nông dan, do dé, qui mô rào đất tăng lên nhanh chóng, năm 1700 - 1760 gan

338.177 acrơ đất bị rào 1760 - 1797 là 2.980.000 acrơ, 1798-1820 là

3.308.910 acrơ Về sau, số “đất bỏ ngỏ” còn lại được thanh toán nốt Từ 1820-1886 số đất bị rào là 1.745.000 acrơ

Việc rào đất đã làm cho dân nghèo thôn quê bị tước đoạt cả bãi chăn gia súc Tiếp theo là sự “củng cố trang trại đã tước đoạt nốt ruộng đất của tiểu nông Các phần đất của họ được hợp thành các trang trại lớn và giao cho các nhà tư bản kinh doanh thuê mướn Điều này đã quét sạch các tá điển nhỏ, chuyển họ thành công nhân nông nghiệp

Hơn nữa, cuộc tấn công của địa chủ và tư bản không bỏ qua những

nông dân tự canh có ruộng đất riêng, thậm chí cả các quí tộc nhỏ Đất đai

của họ cũng bị mua lại, hay tước đoạt bằng nhiều cách

Việc tước đoạt ruộng đất của nông dân diễn ra ở nhiều nước trong

giai đoạn đầu của quá trình CNH Ở Nga, năm 1861 giai cấp quý tộc tước đoạt 1/5 ruộng đất nông dân, ở nước Phổ năm 1807 - 1811 tude doat dén 2/3 Song ở Anh, quá trình này diễn ra khá triệt để: địa chủ đã cướp hết

ruộng đất và đuổi nông dân ra khỏi thôn quê

Việc tước đoạt ruộng đất nông dân tập trung vào tay địa chủ tạo ra

kết quả hai mặt Mặt tiêu cực của nó là làm cho nhà nông không đất, buộc

phải rời bỏ quê hương, trở thành người làm thuê Ở nước Anh lúc bấy giờ, phần lớn họ được thu hút vào các trang trại lớn kinh doanh theo kiểu tư bản chủ nghĩa và như vậy trở thành công nhân nông nghiệp, số khác vào các công xưởng và nhìn chung đều bị bóc lột nặng nể Do “rào vườn”, dân

nghèo nông thôn mất cả gia súc và kinh tế phụ; nảy sinh ở nông thôn tình

trạng “thừa lao động nông nghiệp” Theo tài liệu của các nhà kinh tế học,

năm 1801, tiền công thực tế của công nhân nông nghiệp chỉ bằng 1/2 tiền

công mà họ nhận được cách đó 60 năm

Trang 33

Mat khác, do việc tập trung ruộng đất vào tay địa chủ, đến lượt nó,

địa chủ cho nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp thuê để thu địa tô, nên đã đẩy nông nghiệp nước Anh phát triển nhanh chóng Trước hết nó đã mở

rộng cơ sở nguyên liệu cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp dệt da Đồng thời, cùng với sự phát triển của CNTE trong nông nghiệp, thị trường trong nước tiêu thụ hàng công nghiệp càng mở rộng Không chỉ các nhà tư bản, địa chủ mà ngay cả những công nhân nông nghiệp cũng không thể tự

làm lấy các vật dụng cần thiết cho mình, và đều trở thành những người mua

hàng công nghiệp

Việc tập trung ruộng đất tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng

tiến bộ kỹ thuật, thâm canh Việc bón bùn cho đất, trồng cây điển thanh,

cây chia ba ngày càng phố biến Việc thay đổi công cụ cày kéo, áp dụng

giống mới với qui mô lớn đã làm cho năng suất cây trồng tăng lên Nếu ở

thế ký XVII, mỗi acrơ lúa mỳ thu hoạch từ 11-16 busen thì đến thế kỷ XXVII, năng suất đã tăng từ 15 - 25 busen

Từ sự phân tích trên đây cho phép ta nêu lên một số nhận xét như sau Một là, việc tập trung đất vào tay một số người tạo điều kiện cho tăng năng suất cây trồng, nâng cao hiệu quả đầu tư, cung cấp nguyên liệu cho nông nghiệp và mở rộng thị trường tiêu thụ Song nó lại biến nông dân trở thành người không đất, thành lao động làm thuê

Hai là, trong trường hợp tập trung ruộng đất thành trang trại, các đồn điển kinh doanh theo phương thức TBCN thì người nông dân không đất trở thành người công nhân nông nghiệp, một số người khác được thu hút vào các công xưởng Tất cả những người này có khả năng có việc làm khá ổn định Tuy nhiên, vẫn không thể tránh khỏi tình trạng một số nông dân không có việc làm, trở thành người thất nghiệp

Ba là, việc tập trung ruộng đất dù theo con đường nào cũng chỉ điễn

ra nhanh chóng nhờ sự can thiệp của Nhà nước

Trong những năm qua ở ĐBSCL tuy không có các điều kiện kinh doanh theo phương thức TBCN nhưng việc tập trung ruộng đất đang có xu hướng tăng lên Theo số liệu điểu tra của Tổng cục Thống kê, năm 1994 toàn vùng có 3,65% số hộ nông nghiệp có quy mô ruộng đất từ 3-5ha và 0,75% số hộ có trên 5ha, thì năm 1998, tỷ lệ trên tương đương là 30,32%

và 12,65%

Tình trạng tập trung ruộng đất ở ĐBSCL tăng lên do nhiều nhân tố

Có thể chia thành hai loại cơ bản sau đây:

Trang 34

Một là, do tinh trạng chuyển nhượng đất đai giữa các nhóm hộ, trong

đó có cả tình trạng chuyển nhượng hợp pháp và tình trạng chuyển nhượng

không hợp pháp theo quy định của pháp luật hiện hành

Hai là, do khai hoang, mở rộng diện tích

Tình trạng tập trung ruộng đất trên đây, một mặt có tác động tích cực

thúc đẩy sự phát triển kinh tế hàng hoá, hình thành các vùng sản xuất tập

trung, tạo điều kiện thúc đấy sản xuất phục vụ xuất khẩu Tuy nhiên, đó

cũng là một nhân tố làm tăng thêm tình trạng nông dân không đất, thiếu

đất ở Vùng này Do vậy cần có chính sách phù hợp để vừa tạo điều kịn tập

trung ruộng đất hợp lý, vừa tạo việc làm và đảm bảo thu nhập cho nông dân không đất, thiếu đất sản xuất ở ĐBSCL

5 Quá trình CNH, đô thị hoá ngày càng tăng đi đôi với việc

chuyển đất nông nghiệp sang đất chuyên dùng, lao động nông nghiệp

sang lao động công nghiệp và dịch vụ

Khi CNH, HĐH ngày càng mạnh, tốc độ đô thị hoá diễn ra nhanh chóng thì một mặt, bộ phận đất nông nghiệp chuyển sang xây dựng cơ sở

hạ tầng, đường sá giao thông, xây dựng nhà máy xí nghiệp, nhà ở dân cư, công sở ngày càng lớn Mặt khác, quá trình thành thị hoá dân cư cũng nhanh chóng hơn, cấu trúc giai cấp trong dân cư thay đổi, cư dân ngày càng thành thị hoá

Lịch sử phát triển của nước Anh là một ví dụ điển hình Sau 80 năm

của cách mạng công nghiệp, vào những năm 1840, ở nước Anh đã mọc lên

những thành phố khổng lồ Những tỉnh lẻ trước đây nay trở thành các đô

thị lớn làm cho một bộ phận diện tích đất đai nông nghiệp chuyển mục dích sử dụng, trở thành đất công nghiệp, đô thị Tốc độ tăng dân số ở các

đô thị ngày càng nhanh, chẳng hạn Birmingham tăng từ 73.000 người (1801) lên 200.000 người (1844), Sepphin từ 46.000 người (1801) lên 110.000 người (1844) Đến 1844, London có đến 2,5 triệu dân Quá trình CNH, HĐH làm cho tỷ lệ dân cư nông nghiệp suy giảm nhanh chóng Năm

1696, theo Gregori King, dân số Anh có 5,5 triệu, trong đó 4,265 triệu là nông dân, chiếm tỷ lệ 77,5% Đến 1811, tỷ lệ nông dân là 3%, năm 1851 còn 20,9% và 1871 chỉ còn 14,12% Nước Anh trở thành một nước thành thị và công xưởng

Trang 35

Xu hướng chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp, làm tăng tỷ trọng lao động công nghiệp và dân cư thành thị được minh

Biểu 3: Tỷ lệ dân số thành thị ở một số nước

Từ sự phân tích trên đây chúng ta có thể nhận xét như sau:

Một là, xu hướng chuyển ruộng đất nông nghiệp sang đất công nghiệp, đô thị diễn ra là tất yếu và ngày càng tăng lên trong qué trinh CNH HĐH Xu hướng đó phản ánh sự tiến bộ của sự phát triển kinh tế

Hai là, cùng với việc chuyển ruộng đất nông nghiệp sang đất đô thị

và công nghiệp, dân số và lao động trong nông nghiệp ngày càng giảm xuống, dân cư công nghiệp, đô thị; lao động công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên cũng phản ánh xu hướng phát triển tất yếu và văn minh của loài người

Ba là, đối với những nước nông nghiệp, khi kinh tế chưa phát triển, dân cư và lao động trong nông nghiệp còn chiếm một tỷ trọng lớn, lao động thừa đang còn tiểm tàng, tiền lương và thu nhập còn thấp, chỉ cần lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ phát triển một mức độ nhất định với mức tiền công cao hơn trong nông nghiệp chút ít, sẽ thu hút được một lực lượng lớn lao động sang lĩnh vực công nghiệp và tạo ra khối lượng sản phảam thang du lớn cho xã hội Điều đó, tất yếu mang lại lợi ích cho sự phát triển nói chung

Ở Việt nam nói chung, ĐBSCL nói riêng, do trình độ phát triển kinh

tế còn thấp kém, quá trình CNH, HĐH diễn ra chậm nên xu hướng chuyển dịch lao động từ nông thôn ra thành thị diễn ra rất chậm Chúng ta có thể thấy nhận định này qua thời kỳ từ 1960 đến 1994 (xem biểu 4)

Trang 36

Biểu 4: Phân bố dân số thành thị và nông thôn (%)

của Việt nam từ 1960 - 1994

Nguồn: Niên giám Thống kê 1994, trang 23 và Niên giám thống kê 1997, trang 9

Đối với ĐBSCL, tỷ lệ dân cư thành thị và nông thỏn từ 1985 đến

1994 như sau (xem biểu 5)

Biểu 5: Tỷ lệ dân cư thành thị và nông thôn từ 1985 đến 1994

Nguén: Nién gidm Thong ké 1993, trang 12 và 15; Niên giám Thống k¿ 1994 trang 29

Tình trạng trên mặc dù ít nhiều phản ánh sự vận động theo qui luật của dân số trong quá trình CNH, nhưng cũng thể hiện đúng tình trạng kém phát triển của nền kinh tế nói chung, nông nghiệp nói riêng

Cùng với quá trình CNH, HĐH việc chuyển đất nông nghiệp sang xây dựng đô thị, nhà ở dân cư, công trình cầu cống, cơ sở hạ tầng cũng tăng lên Chỉ tính riêng đất chuyên dùng vào việc xây đựng cơ bản ở cả nước nói chung và

ĐBSCL nói rêng, điều này cũng rất rõ ràng (xem biểu 6)

Biểu 6: Tốc độ tăng đất chuyên dùng từ 1993 - 1997

Trang 37

Do quá trình CNH ở ĐBSCL còn thấp so với cả nước nên tốc độ tăng đất chuyên dùng thấp xa so với mức chung của cả nước Song thời kỳ 1993

-1997 bình quân mỗi năm đất chuyên dùng tăng 2,1% làm cho đất nông nghiệp bình quân đầu người giảm sút là điều tất yếu

Tóm lại, sự vận động của nền kinh tế hàng hoá đã tác động mạnh mẽ

đến sự chuyển dịch cơ cấu đất đai, lao động - những yếu tố cơ bản liên quan chặt chẽ đến đời sống nông dân Quá trình vận động này đòi hỏi phải tăng tốc giải quyết việc làm trong bản thân ngành nông nghiệp đồng thời với các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp Sự chậm trễ quá

trình CNH nông nghiệp, nông thôn sẽ tạo ra sự ách tắc về việc làm và sẽ ảnh hưởng đến đời sống kinh tế, chính trị, xã hội ở nông thôn Đây là một bài học mà trong suốt quá trình cách mạng nước ta và các nước trên thế giới đều phải đặt lên hàng đầu Ngày nay ở nước ta liên minh công nông

không phải chỉ là vấn để chính trị mà còn là vấn đề kinh tế, xã hội để tiến

hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn cả nước nói chung và ở ĐBSCL nói

của các cấp lãnh đạo Dang và Nhà nước Để giải quyết vấn đề này, cần

nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước khu vực châu Á trong việc giải quyết tình trạng hộ nông dân không đất, thiếu đất ở nông thôn

Cách đây 2, 3 thập kỷ, các quốc gia khu vực châu Á (trừ Nhật Bản) có nền kinh tế ở điểm xuất phát thấp với nền nông nghiệp lạc hậu Kinh tế nông nghiệp của các quốc gia này mang một số nét tương đồng như nước ta Đó là những quốc gia nằm ở vùng châu Á gió mùa, đất đai

nông nghiệp bình quân đầu người thấp hơn so với nhiều nước thuộc các

khu vực khác trên thế giới Năm 1985, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người ở châu Á là 0,17 ha (trong đó Nhật 398 mˆ, Đài Loan

472m”, Hàn Quốc 530 m”, Việt Nam 1080 mˆ, Thái Lan 3557 m'” ),

trong khi đó, trên thế giới diện tích đất nông nghiệp bình quân đẩu

Trang 38

người là 0,3 ha, châu Âu là 0,26 ha, Nam Mỹ là 0,43 ha và Bắc Mỹ là

0,71 ha Như vậy, tình trạng đất chật, người đông là hiện tượng phổ biến

ở các quốc gia thuộc châu Á

Từ thực tế ấy, trong một thời gian dài các nhà quan sát cho rằng

những khó khăn vẻ kinh tế ở nông thôn châu Á không dễ dàng tìm ra hướng giải quyết Tuy vậy chỉ trong thời gian tương đối ngắn, nền nông

nghiệp của một số nước châu Á đã có những thay đổi căn bản, đồng thời

quá trình công nghiệp hóa nông thôn cũng diễn ra và thu được những thành tựu quan trọng làm thay đổi diện mạo kinh tế - xã hội nông thôn Kinh tế nông thôn phát triển đã đóng vai trò tích cực cho công cuộc công

nghiệp hóa nên kinh tế đất nước

Để đưa nông thôn thoát khỏi những khó khăn về kinh tế - xã hội,

đặc biệt là tình trạng không ít hộ nông dân không có đất và thiếu đất

canh tác, Chính phủ các nước Đài Loan, Thái Lan, Nhật Bản đã có những chính sách cũng như giải pháp cụ thể để mở đường cho sự phát:

triển kinh tế nông thôn

1 Chính sách và giải pháp về ruộng đất

Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất căn bản của

nông dân Do vậy, sự biến đổi về quan hệ sở hữu ruộng đất là gốc rễ dẫn

tới sự thay đối kinh tế - xã hội ở nông thôn Giải quyết vấn đề ruộng đất

là chìa khóa để giải quyết vấn để kinh tế - xã hội nông thôn và do đó

cho sự phát triển chung của nên kinh tế Với ý nghĩa ấy cuộc cải cách

ruộng đất đã lần lượt diễn ra ở các nước châu Á cũng như ở nước ta,

nhưng mỗi nước đã có những cách đi khác nhau trong chính sách và giải

pháp về ruộng đất

1.1 Đài Loan

Cải cách ruộng đất ở Đài Loan được tiến hành vào những năm

50 Quá trình này nếu không kể giảm tô thì được chia thành hai bước

- Bước 1: Nhà nước thực hiện chuyển giao đất công thành sở hữu

của người dân Đối tượng nhận ruộng là những người hiện canh tác trên mảnh đất đó và tiếp đó là những nông dân do thiếu đất phải lĩnh canh

thêm Giá ruộng nông dân mua tính bằng 2,5 sản lượng trên diện tích đó trong một năm Người nông dân được phép trả dần tiền ruộng trong 10

năm thì được thực hiện quyền sở hữu Nhờ đó, 20% hộ nông dân đã

Có ruộng

Trang 39

- Bước 2: Năm 1953, Đài Loan ra sắc lệnh "người cày có ruộng”, Theo luật định, địa chủ chỉ được sở hữu 3 ha ruộng nước, 6 ha ruộng

khô Số diện tích dôi ra, Nhà nước trưng thu chuyển giao cho nông dân “ lĩnh canh trên mảnh đất đó Giá đất trưng thu và giá chuyển giao cho nông dân không đất, thiếu đất như nhau Tiển ruộng đất nông đân trả

trong thời gian 10 năm, lãi suất 4% năm Nông dân có thể vay vốn tín:

dụng để trả

Kết quả năm 1953, tính chung số nông dân có ruộng là 92% Khi thực hiện cải cách ruộng đất, ruộng của địa chủ trưng thu không trả tiền

ngay mà Nhà nước phát hành phiếu trả nợ bằng hiện vật và cổ phiếu là

phương tiện thanh toán Quyền lợi của địa chủ do vậy vẫn được đảm bảo

Để tạo điều kiện cho phát triển nông nghiệp sau cải cách ruộng đất, Chính phủ đã cho thành lập Nông phục hội, tổ chức tín dụng nông thôn, xây dựng

cơ sở hạ tầng cho nông nghiệp

1.2 Thái Lan

Năm 1954, Thái Lan ban hành Luật ruộng đất Bộ luật qui định ˆ

rõ phần đất thuộc sở hữu Nhà nước và công nhận quyền sở hữu ruộng

đất của tư nhân Do vậy, các chủ đất có quyển tự do bán, chuyển nhượng, cầm cố ruộng đất một cách hợp pháp Do dân số tăng nhanh và

sự phân hóa giàu nghèo ở nông thôn, tình trạng nông dân không đất và thiếu đất gia tăng Theo báo cáo "tình hình ruộng đất năm 1965” thì

vùng đồng bằng trung tâm có 41% nông dân có đất, 56% nông dân là tá điển (3% còn lại chưa phân loại) Với tá điền, 81% tá điển chưa bao giờ

có ruộng đất, 19% đã từng là chủ sở hữu ruộng đất sau bán đi Số hộ nông dân không đất và thiếu đất có khuynh hướng tiếp tục gia tăng Ở nông thôn Thái Lan, chế độ lĩnh canh thường trong thời gian ngắn một năm Mức địa tô quá cao thường chiếm đến 1/2 sản lượng Do xác định

không rõ quyền lợi và nghĩa vụ giữa chủ đất và tá điển làm giảm mức đầu tư nông nghiệp, năng xuất cây trồng trên đất phát canh thấp hơn so

với năng suất trên đất đai nông dân tự canh Do vậy vào năm 1975, Thái Lan đã tiến hành cải cách ruộng đất Mục tiêu cải cách:

- Biến tá điển thành chủ sở hữu ruộng đất Trên cơ sở đó, Nhà

nước tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình phát triển

- Người chủ sở hữu ruộng đất phải là người trực tiếp sản xuất Nhà nước qui định mức hạn điền với đất trồng trọt là 5O Rai, đất chăn

Trang 40

nuôi là 100 Rai Quá mức qui định trên, Nhà nước trưng thu chuyển

Khi chuẩn bị xúc tiến cải cách ruộng đất, Nhà nước qui định địa

tô không quá 1/4 sản lượng; thành lập Ngân hàng ruộng đất do Chính

phủ nắm đa số cổ phần, hình thành các tổ chức dịch vụ thương mại, tiền

tệ hỗ trợ nông nghiệp

Kết quả, năm 1979 có 650.000 ha ruộng công, 300.000 ha ruộng

tư được chuyển giao cho nông dân Các chủ đất được bồi thường 5,9 triệu đô la Mỹ Năm 1988 có 178.576 nông dân không đất và ít đất được

nhận ruộng theo Luật cải cách ruộng đất Tuy vậy, cải cách ruộng đất

vẫn gặp không ít vướng mắc, nó chỉ tiến hành có kết quả ở một số vùng

nên vào năm 1986 cả Thái Lan vẫn còn 454.819 hộ nông dân không có ruộng chiếm 8,14% hộ nông dân ở nông thôn Do vậy vào những năm

90, Chính phủ lại tiếp tục theo đuổi chính sách ruộng đất theo dự án

mới Nội dung dự án này trên cơ sở xem xét đánh giá khả năng sản xuất của hộ nông dân nghèo Họ không có điều kiện sử dụng tối ưu ruộng đất canh tác Trong khi ấy, những kẻ đầu cơ ruộng đất, những nhà kinh đoanh nông phẩm xuất khẩu cần mua những khoảnh đất lớn trồng cây

xuất khẩu Để giải quyết hệ cung cầu về ruộng đất theo xu hướng sản

xuất hàng hóa và giải quyết việc làm, đời sống cho nông dân nghèo nên nội dung của dự án là sự thoả thuận giữa Chính phủ, chủ đất, nông dân,

giới đầu tư nhằm chia sẻ quyền lợi trong kinh doanh và sử dụng ruộng đất Cụ thể:

Chính phủ giữ vị trí lãnh đạo chương trình và chiếm giữ một số tài khoản tương ứng với số vốn đầu tư của Chính phủ vào kết cấu hạ

tầng kinh tế nông thôn

Chủ đất đóng vai trò là người bán đất và được chiếm giữ một số trái khoán tương ứng với giá trị đất đai của họ theo giá thị trường -

Nông dân không ruộng là những người làm thuê và nhận thu nhập tương ứng với lao động của họ

Các chủ đầu tư là những người quản lý và là chủ sở hữu về vốn đầu tư Họ chiếm một số trái khoán tương ứng với vốn đầu tư

Theo dự án này, Chính phủ đỡ tiền mua lại ruộng đất của các chủ đất, mặt khác có tác dụng khuyến khích đầu tư nông nghiệp và đảm bảo việc làm cho người dân nghèo

Ngày đăng: 13/05/2014, 23:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w