1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự phân hoá xã hội và chính sách xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế

231 710 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự phân hoá xã hội và chính sách xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
Trường học University of Social Sciences and Humanities, Vietnam National University Ho Chi Minh City
Chuyên ngành Sociology
Thể loại Research Paper
Năm xuất bản 2023
Thành phố Ho Chi Minh City
Định dạng
Số trang 231
Dung lượng 7,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ góc độ xã hội học, phân tầng xã hội là sự "xếp hạng” một cách ổn định vị trí của những nhóm người trong xã hội do có sự khác nhau về nhiều mặt, nhưng trước hết và chủ yếu là sự khác

Trang 1

DE TAI CAP BO NAM 2004

SU PHAN HOA XA HOI VA CAC CHINH SACH XA HOI TRONG

THOIKY DAY MANH CONG NGHIEP HOÁ - HIỆN ĐẠI HOÁ

VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Trang 2

DANH SACH CONG TAC VIEN THAM GIA DE TAI

CN Luong Anh Tram

ThS Đào Hữu Hải

Thể Thiểều Quang Đồng

THS Tran Si Duong

THS Vi Thi Huong Lan

CN Dang Quang Dinh

CN Nguyén Anh Hing

Viện Khoa học xã hội

Viện Chủ nghĩa XHKH Viện Triết học

Viện Triết học Viện Triết học Viện Triết học

Viện Triết học

Viện Xã hội học

Học viện Quốc phòng Viện Triết học

Viện Triết học Viện Triết học Ban Khoa giáo TW Học viện Quốc phòng Tổng liên đoàn lao động VN

Viện Triết học

Viện Triết học -_ Viện Triết học Viện CNXHKH Viện Triết học Viện Triết học

Trang 3

: Đồng bằng sông cửu long

: Điều tra mục tiêu

: Điều tra giầu nghèo

Trang 4

MUC LUC

Phần mở đầu TQ TQ HQ n HH n HH HH HH HS vn sư, 1 Chương T: Lý luận về phân tầng xã hội và thực trạng của phân

1 Phân tầng xã hội Ăn se 4

2 Thực trạng phân tầng xã hội ở Việt Nam hiện nay

Chương II: Chính sách xã hội và ảnh hưởng của nó đối với sự 20

phân tầng xã hội ở nước ta hiện nay -.~-s< 85

1 Lý luận chung về chính sách xã hội 85

2 Cơ sở để hình thành chính sách xã hội 90

3 Đánh giá chính sách xã hội ở nước ta trong thời kỳ

Chuong IIT Phuong huGng va giải pháp nhằm điểu chỉnh các

chính sách xã hội để thúc đẩy đất nước phát triển theo định

124

2 Một số giải pháp từ góc độ chính sách xã hội góp

phần khắc phục quá trình phân hoá, phân tâng xã hội, thúc đẩy

sự phát triển đất nước theo định hướng xã hôi chủ nghĩa 135

Danh mục tài liệu tham khảo à ác 185

Trang 5

MO DAU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ năm 1986, nước ta đã bước vào thời kỳ đổi mới Quá trình đổi mới trước hết là quá trình chuyển từ nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế Quá trình đó đã tạo ra những tiểm đề vật chất và tinh thần cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Sự nghiệp đổi mới càng đi sâu thì càng tạo ra những điều kiện cho sự phát triển bền vững và càng nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Tuy nhiên, quá trình ấy cũng đang dẫn tới những biến đổi to lớn về mặt xã hội

Đó là sự phân hoá xã hội ngày càng trở nên sâu sắc, cơ cấu xã hội ngày càng phức tạp Phân hoá xã hội diễn ra trên tất cả các lĩnh vực: từ phân hoá giai cấp, đến phân hoá các thành phần xã hội, phân hóa nội bộ từng giai cấp,

Phân hoá xã hội diễn ra rõ nhất ở sự phân hoá giàu nghèo Phân hoá giàu nghèo là sự phân hoá có tính hai mặt: bên cạnh mạt tích cực là thúc đẩy

sự phát triển sản xuất, nó còn có mặt tích cực là làm gia tăng sự bất bình đẳng

xã hội Nếu để quá trình đó diễn ra một cách tự phát trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường thì sẽ không những không tránh khỏi những bất ổn định không chỉ về kinh tế, mà còn dẫn tới cả sự bất ổn trên lĩnh vực chính trị, thậm chí dẫn đến nguy cơ chệch hướng XHCN Việc nghiên cứu, phân tích đúng đắn thực trạng, cũng như xu hướng biến động của sự phân hoá giàu nghèo là cơ sở

để chúng ta đưa ra được các giải pháp để thúc đẩy đất nước tiếp tục phát triển

Thực trạng trên không những thu hút sự quan tâm của Đảng, nhà nước

mà còn thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa học, sự chú ý của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương Vì vậy đã có nhiều chương trình quốc gia, nhiều dự án, nhiều đề tài khoa học nghiên cứu những vấn dé có liên quan từ nhiều khía cạnh khác nhau song đây là vấn đề lớn mà một giai đoạn nhất định của lịch sử lại đòi hỏi phải có sự nhận đinh khái quát, sự tổng kết đánh giá để làm cơ sở cho việc hoạt động các chính sách xã hội

Xuất phát từ yêu cầu trên, Học viện CTQG Hồ Chí Minh đã xem đây

là một trong số những nội dung cơ bản của các đề tài cấp bộ năm 2004 ~

1

Trang 6

2005 và chúng tôi đã được giao nhiệm vụ thực hiện đề tài này để góp phần vào việc nghiên cứu một trong những vấn để bức xúc mà cuộc sống đang đặt ra

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở đánh giá thực trạng phân hoá xã hội, đề xuất một số phương hướng, giải pháp giải quyết các vấn đề đặt ra từ sự phân hoá xã hội

ở nước ta hiện nay nhằm điêu chỉnh các chính sách xã hội để thúc đẩy đất nước tiếp tục phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa

3 Những nội dung cơ bản

Chương I: Lý luận về phân tầng xã hội và thực chất sự phân tầng xã hội ở Việt Nam hiện nay

Chương II: Các chính sách xã hội và ảnh hưởng của nó đối với sự phân tầng xã hội ở nước ta

Chương III: Phương hướng và giải pháp nhằm điều chỉnh các chính sách xã hội để thúc đẩy đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa

4 Quá trình triển khai thực hiện đẻ tài

Bước 1: Sau khi có quyết định của Giám đốc Học viện và có ý kiến tư vấn của các nhà khoa học trong Học viện, Ban chủ nhiệm đè tài đã chỉnh đề cương chỉ tiết và xin ý kiến của Hội đồng khoa học đơn vị để triển khai cụ thể

Bước 2: Sau khi tu chỉnh đề cương chỉ tiết, Ban chủ nhiệm đã mời các cộng tác viên và mở hội nghị các cộng tác viên để triển khai đề tài

Các cộng tác viên và Ban chủ nhiệm đề tài mời tham gia gồm:

- Toàn bộ các cán bộ giảng viên và viên chức của Viện Triết học

- Các giáo sư và phó giáo sư của Viên CNXH khoa học và Viện XHH

- Cán bộ Tổng liên đoàn lao động Việt Nam

- Cán bộ Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Trong quá trình triển khai để tài, Ban chủ nhiệm dé tai đã hợp đồng điều tra xã hội học ở 7 tỉnh:

- Bắc Cạn

- Lào Cai

- Thanh Hoá

- Hải Phòng

Trang 7

Liên hệ với Hội nông dân Việt Nam

Do vậy, đề tài đã có một số khối lượng tư liệu khá phong phú của nhiều ngành, nhiều đề tài, nhiều dự án để thực hiện nhiệm vụ của đề tài

Trang 8

CHUONG 1

DANH GIA THUC TRANG SU PHAN HOA XA HOI

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1 Những cổ sở để đánh giá sự phân hoá xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ đối mới

1.1.1 Phân hoá xã hội là gì?

Đề làm rõ hiện tượng phân hoá xã hội, cũng cần phân biệt khái niệm phân hoá xã

hội với một số khái niệm có liên quan khác Trước tiên là sự khác biệt giữa phân tầng

và phản hóa xã hội ờ đầy, phân hóa xã hội là sự phân chia xã hội thành nhữnh nhóm, những tầng, những tập hợp người đa dạng dựa trên những tiêu chí nào đó Trong đó sự thống nhất và tính toàn vẹn thường bị phá vỡ trong quá trình phân hóa Theo cách hiểu này, người ta thường nhắc tới sự phân hóa giai cấp, sự phan hóa giàu nghèo, sự phân hóa nội bộ một tổ chức, một đảng phái Xã hội chuyển từ chế độ cộng sản nguyên thủy sang chế độ chiếm hữu nô lệ chính là quá trình chuyển từ xã hội không giai cấp sang xã hội có phân chia giai cấp, có kẻ giàu, người nghèo, có kẻ thống trị và người bị trị Đó là một sự phân hóa xã hội rất sâu sắc đầu tiên trong lịch sử

Trong phân hóa cũng thường diễn ra hiện tượng phân cực xã hội Đây là hiện tượng mà quá trình phân hóa một nhóm hoặc một số nhóm xã hội này vào một cực và đẩy nhóm xã hội khác vào cực đối lập, tạo nên tình trạng mâu thuẫn, đối kháng với nhau Nhiều khi sự phân cực xã hội bao gồm cả sự trái ngược nhau cả về lợi ích, về quyền lực và về hệ thống giá tị chuẩn mực Trong những xã hội có phân chia giai cấp, sự đối kháng giữa hai giai cấp cơ bản như- chủ nô và nộ lệ, phong kiến và nông dân, tư sản và vô sản là sự phân cực rõ ràng nhất ở đây, sự đối kháng thể hiện trên cả

ba linh vực kinh tế, chính trị và xã hội Từ đây mà hình thành nên hai phe lớn đấu tranh quyết liệt nhau tạo nên hình thái vận động và phát triển của từng xã hội

Như vậy, phân hóa xã hội là khái niệm có nội hàm rộng hơn phân tầng xã hội Trong đó phân tầng được hiểu là một loại phân hóa xã hội mà ở đó, con người được phân chia thành các tầng lớp do có sự khác nhau về địa vị kinh tế, địa vị chính trị và địa vị xã hội Bản chất của sự phân tầng là sự phân chia xã hội dựa trên

Trang 9

sự bất bình đẳng xã hội Trong đó, người ở tầng cao thường có nhiều cơ hội hon trong việc nhận quyền lợi và ân huê xã hội

Phân tầng xã hội là phạm trù nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội - nhân văn Từ các góc độ, tiêu chí khác nhau có thế đưa ra các quan niệm khác nhau về sự phân tầng trong xã hội

Từ góc độ xã hội học, phân tầng xã hội là sự "xếp hạng” một cách ổn

định vị trí của những nhóm người trong xã hội do có sự khác nhau về nhiều mặt, nhưng trước hết và chủ yếu là sự khác nhau về quyền lực, uy tín, quyển lợi, học vấn, văn hoá, xu hướng phát triển v.v

Do chịu sự qui định của tồn tại và phản ánh chính bức tranh xã hội đương thời nên hệ thống phân tầng xã hội gắn rất chặt với các thiết chế xã hội quan trọng như kinh tế, chính trị, gia đình, giáo dục, văn hoá Tuy nhiên, cũng như các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá phân tầng xã hội luôn chứa đựng các tiểm năng để có thể gây ra các mâu thuẫn, căng thẳng, xung đột, và đễ dẫn đến các biến động theo các chiều hướng khác nhau, hoặc

là tích cực, hoặc là tiêu cực đối với sự phát triển của xã hội

Ngày nay, khi cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại phát triển như vũ bão thì sự ra đời, phát triển của kinh tế tri thức sẽ thúc đẩy quá trình - phân tầng diễn ra ngày càng mạnh mẽ, phong phú, phức tạp hơn

Một câu hỏi được đặt ra là: nguyên nhân nào dẫn tới sự phân tầng trong xã hội? Phải chăng, xã hội càng tiến lên vì sự phát triển kinh tế thì sự phân tầng xã hội càng diễn ra mạnh mẽ hơn?

Đứng ở những góc độ khác nhau cũng có thể đưa, luận giải các nguyên nhân khác nhau cho sự phân tầng của xã hội Dưới góc nhìn của triết học, xã hội học thì có hàng loạt các nguyên nhân dẫn tới sự phân tầng, đặc biệt là các nguyên nhân kinh tế - xã hội như:

+ Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế

+ Sự chuyển đổi cơ cấu đầu tư

+ Sự chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp

5

Trang 10

+ Sự thay đổi học vấn

+ Vai trò quyền lực và môi trường pháp lý

+ Tính độc quyền hoặc có ưu thế của một số ngành, một số lĩnh vực hoạt động

Trong các nguyên nhân trên đây nổi lên mấy vấn đề sau:

Trước hết, đó là sự tác động của quá trình thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước Điều này cho thấy sự điều tiết của nhà nước tác động rất mạnh mẽ theo các chiều khác nhau đối với sự phân tầng xã hội Trong đó nó bao hàm cả hai chiều chủ đạo: thúc đẩy sự phân tầng ngày càng diễn ra mạnh mẽ hơn và thu hẹp khoảng cách phân hoá giữa các tầng lớp trong xã hội Điều này thể hiện rõ nhất trong lĩnh vực kinh tế

Theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu, việc chú trọng và tập trung quá mức đầu tư vào phát triển đô thị, các khu công nghiệp, tác động của việc tập trung đất đai ở một số vùng, việc sử dụng không hợp lý các nguồn lực trong và ngoài nước cho các đô thị, sự hình thành và phát triển những người hưởng lại trung gian, những nhóm đặc quyền, đặc lợi, những trở ngại lớn đối với các doanh nghiệp địa phương và nông thôn trong việc tiếp cận thị trường gây ra tác động đến phân tầng xã hội

Việc thị trường hoá các hoạt động dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục,

việc làm đã thúc đẩy nhanh sự phân tầng xã hội, đặc biệt là với nhóm

người nghèo

Những sự biến động trong học vấn của xã hội trước đòi hỏi mới của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, kinh tế trị thức, cách mạng khoa học công nghệ, hội nhập kinh tế quốc tế, toàn cầu hoá là một tác nhân mạnh mẽ đối với quá trình phân hoá các giai tầng trong xã hội

Quyền lực và môi trường pháp lý cũng tác động đến sự phân tầng bao gồm cả quyền lực kinh tế (nguồn lực, vốn, tài nguyên, chất xám, công nghệ, -thông tin đạc biệt là vốn), hành chính, chính trị, xã hội (các quan hệ xã

Trang 11

hội) Quá trình vận hành các quyền lực thường diễn ra hai khuynh hướng: tập trung, kết hợp và tách rời, phân ly Khi các quyển lực được tập trung hoặc kết hợp chặt chẽ với nhau, cùng phát huy sức mạnh chỉ phối tới các đối tượng thuộc quyền sẽ hình thành nên một “tầng lớp trung lưu" mới với rất nhiều bổng lọc nằm trong tay tầng lớp này

Môi trường pháp lý trong thời kỳ quá độ nói chung và ở Việt Nam nói riêng nhìn chung chưa rõ ràng, ổn định và có nhiều khiếm khuyết Sự thiếu đồng bộ và tính khả thị của hệ thống các văn bản qui phạm pháp luật tất yếu sẽ tạo ra nhiều kẽ hở tạo thuận lợi cho các hành động thao túng, lợi dụng luật pháp để trục lợi, vun vén lợi ích cá nhân và tập thể đơn lẻ của mình Dù nhìn ở góc độ nào thì đây cũng là tác nhân tiêu cực góp phần làm gia tăng phân tầng xã hội theo chiều hướng xấu

Nhìn nhận một cách biện chứng về phân tầng xã hội, phân tầng xã hội bao giờ cũng là kết quả của toàn bộ quá trình chuyển hoá xã hội trong đó sự chuyển hoá kinh tế là cơ sở quan trọng nhất

1.L2 Những căn cứ để xác định phân hoá giàu nghèo ở Việt Nam hiện nay Trong các phân tầng xã hội thì sự phân tầng về thu nhập được thể hiện

rõ nét nhất thông qua sự phân hoá giàu nghèo

Hiện nay cũng có nhiều khái niệm khác nhau để chỉ sự khác biệt giàu, nghèo trong đời sống dân cư như: phân hoá giàu nghèo, phân cực giàu nghèo, phân tầng mức sống

Các khái niệm này tuy có sự khác nhau về tên gọi nhưng nội hàm của chúng cơ bản giống nhau, đều phản ánh sự chênh lệch, sự khác biệt trong cuộc sống giữa hệ này với hệ khác, nhóm hệ này với nhóm hệ khác, giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng kinh tế về thu nhập, mức sống, quyền sở hữu tài sản, vị thế, vai trò và lợi ích trong cuộc sống

Vấn đề đặt ra là muốn đánh giá đâu là nghèo, đâu là giàu trước hết phải có hệ thống tiêu chí vé nó và một phương pháp xem xét, điều tra, tổng luận khách quan, khoa học.

Trang 12

Để xếp các nhóm xã hội vào các tầng mức sống, vấn để quan trọng nhất là phải qui ước "nhóm mức sống”

Nhóm mức sống là nhóm có mức thu nhập hoặc chỉ tiêu bình quân đầu người/tháng trong hộ gia đình tương đối như nhau được xếp chung vào một nhóm trong "tháp phân tầng" để định dạng và phân tích

Hiện nay, trong nghiên cứu và điều tra, mức sống dân cư được qui ước chia thành Š nhóm hộ gia đình:

Mức thu nhập bình quân đầu người/tháng của mỗi nhóm được tính trên

cơ sở kết quả điều tra mức sống dân cư hai năm một lần, bao gồm các chỉ tiêu về thu nhập và chỉ tiêu có chú ý đến yếu tố tài sản của các nhóm dân cư

Để xác định sự giàu, nghèo giữa các tầng lớp dân cư cần phải có nhiều tiêu thức khác nhau Các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy rằng, để phân biệt được giàu, nghèo phải căn cứ vào các tiêu thức cơ bản sau:

- Sự chênh lệch về thu nhập, chi tiêu và mức sống, mức hưởng thụ

- Sự khác nhau về quyền sở hữu hay sử dụng các tài sản như: nhà ở, phương tiện, đồ dùng, dụng cụ phục vụ đời sống và sinh hoạt

- Sự khác nhau về cơ hội, điều kiện tạo việc làm và có việc làm

- Sự khác nhau về khả năng và điều kiện tiếp cận, hưởng thụ các dịch vụ

cơ bản của xã hội như: y tế, giáo dục, văn hoá, nước sạch, điện, thông tin

- Sự khác nhau về quyền sở hữu, chiếm hữu các tư liệu sản xuất quan trọng như: đất đai, tài nguyên, rừng, biển

Trang 13

- Sự phân biệt về vị thế chính trị, xã hội thông qua khả năng và điều kiện tham gia vào hệ thống chính trị - xã hội và các quyền lợi chính trị - xã hội khác

- Sự khác nhau trong nhận thức, quán triệt, vận dụng đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội nghề

nghiệp vào quá trình phát triển kinh tê - xã hội và đời sống

- Sự khác nhau trong nhận thức, quán triệt, vận dụng đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội nghề nghiệp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội và đời sống

- Sự khác nhau trong việc giải quyết mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân

Tuy nhiên, thực tế quá trình xem xét sự phân tầng thông qua phân hoá giàu nghèo, thông thường và chủ yếu dựa trên sự chênh lệch về thu nhập, chỉ tiêu, mức hưởng thụ phản ánh mức sống nói chung giữa các tầng lớp đân

cư, giữa các vùng, các khu vực

Để bảo đảm tính toàn diện, chuẩn xác, đòi hỏi quá trình xem xét sự phân tầng phải tính đến hàng loạt các tiêu thức quan trọng khác để bổ sung

cho việc đánh giá, xếp loại như sở hữu, sử dụng các tài sản có giá trị (nhà ở,

phương tiện, dụng cụ phục vụ sản xuất và đời sống)

Từ các tiêu thức về sự giàu nghèo trên đây, vận dụng vào xem xét các

hộ giàu có thể đưa ra quan niệm chung về hộ giàu như sau:

Trang 14

Hộ giàu là những hộ gia đình có tài sản, thu nhập bình quân đầu người cao gấp nhiều lần thu nhập bình quân đầu người của cả nước, có khả năng thoả mãn những nhu cầu về ăn, mặc, ở, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, văn hoá, giao tiếp xã hội ở nước cao nhất so với cộng đồng dân cư ở nơi cư trú,

có tích luỹ cho đầu tư phát triển, mở rộng, sản xuất, nâng cao đời sống và bảo đảm cho tuổi già

* Tiêu chí đánh giá

- Tiêu chí đánh giá hộ giàu

- Chi tiêu định lượng

Thu nhập của hộ giàu bình quân đầu người một năm hoặc một tháng cao ít nhất gấp 3 lần thu nhập bình quân của các hộ gia đình trong khu vực tương ứng, ở nông thôn khoảng 1 triệu đồng/người/tháng; ở khu vực thành thị khoảng 2,66 triệu đồng/người/tháng

Tuy nhiên, hiện nay bên cạnh quan niệm chung thì cần có khá nhiều các quan niệm khác về hộ giàu Có thể dẫn ra đây một vài quan điểm sau:

Theo quan điểm của Tổng cục Thống kê thì hộ giàu là những hộ có thu nhập bình quân đầu người khoảng 250.000 nghìn đồng trở lên trong một tháng ở nông thôn; ở đô thị khoảng 300 ngàn/người/tháng; hộ rất giàu ở nông thôn khoảng 400 ngàn/ngườitháng và ở đô thị là khoảng 400 ngàn/người/tháng Tuy nhiên các mức đưa ra trong quan niệm này cho đến nay đã trở nên quá thấp so với thực tế các hộ giàu và rất giàu ở cả nông thôn

và đô thị Một số chuyên gia nghiên cứu về vấn để giàu, nghèo cho rằng, hộ giàu có thu nhập bình quân đầu người cao ít nhất gấp 5 lần mức thu nhập hoặc chỉ tiêu bình quân đầu người của quốc gia

Những người dân ở một số vùng nông thôn cho rằng, hộ giàu là hộ có nhà cửa khang trang (xây mái bằng, xây hai tầng, hoặc nhà đất tiền), các tài sản trong nhà có trị (xe máy, ti vi, tủ lạnh, đồ gỗ đắt tiền), có nhiều ruộng đất, trâu bò, gia cầm, thu nhập đủ ăn và có tích luỹ, ốm đau được khám, chữa bệnh chu đáo tại các

bệnh viện, con được học hành đẩy đủ, có công việc làm và thu nhập ổn

Trang 15

dinh Tiéu chi dénh gid h6 nghéo, vận dụng các tiêu thức vào xem xết các hộ nghèo có thể thấy rằng, việc định ra các hộ nghèo cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau

Nghèo là tình trạng các hộ gia đình có khó khăn trong việc đáp ứng các nhu cầu cơ bản chủ yếu về ăn, ở, mặc, đi lại, giáo dục, y tế, văn hoá và giao tiếp xã hội

Có thể ở mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ khác nhau sẽ có quan niệm khác nhau về sự nghèo đói Dù tiếp cận ở phạm vi, góc độ nào thì tiêu chí chưng nhất để đánh giá về sự nghèo đói là xoay quanh mức thu nhập để thoả mãn nhu cầu về ăn, mặc, ở, đi lại, giao tiếp, giáo dục, y tế, văn hoá cho cá nhân hoặc

hộ gia đình, vùng và mở rộng hơn là cả quốc gia dân tộc và khu vực

Uỷ ban kinh tế - xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ASEM)

cho rằng: nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu câu cơ bản của con người, mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục, tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận

Ngân hàng thế giới (WB) cho rằng: nghèo là một khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất, nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, sức khoẻ, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyển phát ngôn và không có quyền lực

Từ các quan điểm trên đây có thể thấy: Hộ nghèo là hộ gia đình có mức thu nhập bình quân đầu người thấp không đủ khả năng bảo đảm những nhu cầu cơ bản của con người về ăn, mặc, ở, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, văn hoá, đi lại giao tiếp xã hội, mức sống của họ thấp nhất so với cộng đồng dan cư nơi cư trú và không có khả năng tích luỹ cho tuổi già

Quan niệm trên phản ánh ba khía cạnh của người nghèo:

- Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu đành

H

Trang 16

- Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư

- Thiếu cơ hội lựa chọn và tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng

Căn cứ vào chuẩn nghèo mà Ngân hàng thế giới đưa ra (đối với nước nghèo, cá nhân bị coi là nghèo đói là khi có mức chi tối thiểu 0,5 USD/ngày; đối với các nước đang phát triển là 1 USD/ngày; các nước Châu Mỹ và vùng Caribê là 2USD/ngày; với các nước Đông Âu là 4 USD/ngày; các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày), Việt Nam đã ba lần công bố chuẩn nghèo (1993 - 1995), 1996 - 2000, 2001 - 2005) Cụ thể mức thu nhập bình quân đầu người trong một hộ dưới mức qui định sau thì xếp vào nhóm hộ nghèo

- Vùng đô thị 150 ngàn VNĐ/tháng/người

- Vùng nông thôn đồng bằng là: 100 ngàn VNĐ/tháng/người

- Vùng nông thôn miền núi: 80 ngàn VNĐ/tháng/người

Dự kiến chuẩn nghèo ở Việt Nam từ 2005 - 2010 như sau:

- Chuẩn nghèo giai đoạn 2005 - 2006 dự tính 190 ngàn VNĐ/người/tháng đối với thành thị

-: Chuẩn nghèo giai đoạn 2006 2007 dự tính 210 ngàn VNĐ/người/tháng đối với vùng thành thị

- Chuẩn nghèo giai đoạn 2008 2010 dự tính 230 ngàn VNĐ/người/tháng với vùng nông thôn; 345 ngàn VNĐ/người/tháng đối với vùng thành thị

1.1.3 Những điều kiện và nhân tố ảnh hưởng tới sự phân hoá xã hội việt nam hiện nay

Có thể khái quát những nhân tố cơ bản tác động và ảnh hưởng tới sự phân hoá xã hội ở nước ta hiện nay trên những vấn đề sau:

Một là, sự tác động của nên kinh tế thi thường theo định hướng XHCN trong thời kỳ quá độ ở nước 1a

Trang 17

Đảng ta khẳng định phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam là một tất yếu khách quan phù hợp với qui luật phát triển kinh tế từ sản xuất nhỏ đi lên sản xuất lớn Nước ta trong thời kỳ quá độ xây dựng CNXH

không thể chủ quan, duy ý chí bỏ qua kinh tế thị trường

Phải thừa nhận rằng, nền kinh tế thị trường ở Việt Nam đã đem lại những thành tựu hết sức quan trọng của công cuộc đổi mới không phải chỉ trên lĩnh vực kinh tế mà còn trên các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Nhưng bên cạnh những thành tựu đạt được, nền kinh tế thị trường ở nước ta lại chưa phát triển toàn diện, đồng bộ, lành mạnh đáp ứng yêu cầu của tình hình đổi mới Vai trò vị trí của các thành phần kinh tế có sự phân hoá và biến động Có những doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh chủ động, sáng tạo, tổ chức tốt, đúng pháp luật phát triển mạnh về qui mô và chất lượng, đóng góp ngày càng nhiều cho xã hội Ngược lại có những doanh nghiệp, những cơ sở sản xuất thiếu chủ động, sáng tạo, thua lỗ kéo dài dẫn đến phá sản Có những cơ sở sản xuất kinh doanh giàu lên do làm ăn bất chính, trốn têasnh pháp luật do quản lý nhà nước còn nhiều yếu kém, bất cập

Trong nền kinh tế thị trường đã tạo ra những động lực thúc đẩy nhiều

cá nhân trong các thành phần kinh tế có sự năng động, sáng tạo, làm ăn chân chính, đúng pháp luật, làm giàu cho mình và đóng góp xây dựng đất nước Ngược lại có nhiều người năng lực thấp, trình độ thấp, thiếu năng động, sắng tạo dẫn đến sản xuất kinh doanh thiếu hiệu quả, thu nhập thấp, thậm chí nghèo và đói Có những người dân dân nắm bắt được kinh tế thị trường và có điều kiện thuận lợi vươn lên làm chủ sản xuất, kinh doanh trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ Ngược lại có những người có ruộng đất,

có tư liệu sản xuất nhưng không biết tổ chức sản xuất kinh doanh chuyển hoá thành người đi làm thuê Có những cán bộ, đảng viên làm ăn chân chính, đúng pháp luật, nhưng đồng thời có những cán bộ, đảng viên ở các ngành, các cấp giàu lên nhanh chóng do lợi dụng chức quyền, tham nhũng, tiếp tay cho những kẻ xấu làm ăn phi pháp

13

Trang 18

Mặt trái của kinh tế thị trường tác động đến sự phân hoá xã hội về tư tưởng, đạo đức, lối sống Một số người có động cơ không trong sáng, chạy theo chủ nghĩa

cá nhân, làm giàu bất chính dẫn đến tha hoá về phẩm chất, đạo đức, lối sống Có những người chệnh hướng về nhận thức, tư tưởng và quan điểm chính trị

Đảng ta khẳng định trong thời kỳ quá độ, nền kinh tế ở nước ta còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế là một tất yếu khách quan, phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam và phù hợp với qui luật phát triển

Nước ta hiện nay tồn tại ba loại hình sở hữu là: sở hữu toàn dan, sé hữu tập thể, sở hữu tư nhân và được thể hiện qua các thành phần kinh tế Các hình thức sở hữu đan xen trong các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh theo pháp luật: hộ kinh doanh cá thể, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty

cổ phần, công ty hợp doanh, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Kinh tế tập thể có vị trí ngày càng lớn trong nền kinh tế Kinh tế tư nhân có vai trò rất quan trọng, là một động lực cho

sự tăng trưởng nhanh và hiệu quả của nền kinh tế, góp phần tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo Kinh tế hỗn hợp mà đặc trưng là sở hữu cổ phần sẽ phát triển mạnh và ngày càng trở thành phổ biến trong nền kinh tế Các thành phần kinh

tế đều bình đẳng trước pháp luật, là những bộ phận cấu thành của nên kinh tế thị trường định hướng CNXH ở nước ta

Tổng kết quá trình đổi mới hai mươi năm qua cho thấy kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể chưa đủ mạnh Một bộ phận doanh nghiệp nhà nước suy

giảm, thiếu hiệu quả Mặc dù kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo, giữ được các vị trí trọng yếu và có những đóng góp lớn vào ngân sách của đất nước, nhưng hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh vẫn thấp do với các thành phần kinh tế khác nhất là các doanh nghiệp tư bản tư nhân Trong khi

đó, khu vực kinh tế tư nhân lại có bước phát triển mạnh mẽ Tính từ năm

2000 đến cuối 2003 đã có 72601 doanh nghiệp tư nhân đăng ký sản xuất, kinh doanh trong các lĩnh vực với số vốn đăng ký trên 9,5 tỷ USD Trong quá trình phát triển, các thành phần kinh tế ngày càng đẩy mạnh hội nhập quốc tế và khu vực, thu hút vốn đầu tư nước ngoài Trong điều kiện hiện nay sự phát triển

Trang 19

của bất kỳ thành phần kinh tế nào đều đóng góp vào sự phát triển của đất nước Nhưng để định hướng cho quá trình phát triển đòi hỏi phải tạo điều kiện cho kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế đất nước

Từ sự phân hoá, biến đổi và phát triển của các thành phần kinh tế, các

giai cấp, các tâng lớp xã hội cũng có sự phân hoá, sự biến đổi quan trọng

Giai cấp công nhân từ chỗ phát triển khá thuần nhất (chủ yếu là công nhân trong các xí nghiệp, các nông trường quốc doanh) thì nay lại hình thành các bộ phận công nhân hết sức khác nhau

Giai cấp nông dân hiện nay vẫn là lực lượng lao động đông đảo ở nước

ta Tỷ lệ nông đân trong nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 73% lao động của cả nước Nông dân không những làm ra lương thực, thực phẩm tiêu dùng cho cả nước mà còn làm ra các sản phẩm xuất khẩu như lương thực, cây công nghiệp, cá, tôm nông dân là tiểm lực quan trọng của mọi thành phần kinh

tế Song, đời sống của người nông dân đang có sự phân hoá ngày càng rõ nét Bình quân thu nhập đầu người giữa các hộ giàu và nghèo, giữa thành thị và nông thôn, giữa miền núi và miền xuôi, giữa trung tâm đô thị và các vùng sâu, vùng xa ngày càng có khoảng cách lớn hơn, chênh lệch nhiều hơn Ở nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao còn nhiều hộ gia đình nghèo Quá trình công nghiệp hoá dẫn đến tình trạng thu hẹp đất canh tác ở một số địa phương, công tác đẻển bù có nơi chưa thoả đáng, việc di chuyển nơi ở và việc làm chưa giải quyết kịp thời dẫn đến nạn thất nghiệp tạo nên những bức xúc ở nông thôn Ở một số địa phương đã xảy ra các điểm nóng ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế - xã hội Đảng và Nhà nước đã thực hiện

chương trình đầu tư cho miền núi, như chương trình xoá đói giảm nghèo nhưng nhiều địa phương còn thực hiện chưa nghiêm, hiệu quả thấp

Tầng lớp trí thức ở nước ta có sự phát triển nhanh chóng Tỷ lệ số người

có trình độ đại học, sau đại học làm việc trong các cơ quan nhà nước và làm việc trực tiếp ở các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất ngày càng tăng lên Số cán

bộ lãnh đạo, quản lý ở các ngành, các cấp, các địa phương có học hàm, học vị cũng ngày càng tăng Đây là lực lượng quan trọng của đất nước Đảng và Nhà

Trang 20

nước đã có nhiều chính sách tích cực để bồi dưỡng, đào tạo, phát triển đội ngũ trí thức, nhưng cồn nhiều vấn đề bất cập trong việc đào tạo, sử dụng, chế độ đãi ngộ khuyến khích nhân tài của đội ngũ này trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Về giai cấp tư sản ở Việt Nam hiện nay chưa thể khẳng định họ là một giai cấp đầy đủ với ý nghĩa là một (tập đoàn người to lớn trong xã hội Mặt khác các nhà tư sản hiện nay cũng chưa liên kết thành một lực lượng chính trị độc lập đối viện với các giai cấp khác Tuy vậy, thực tế tồn tại các nhà tư sản trong sản xuất kinh doanh ở nước ta đòi hỏi phải có nhận thức đúng về

họ để có'các chính sách phù hợp Không để đồng nhất các nhà tư sản Việt

Nam xuất hiện trong sản xuất kinh doanh hiện nay với tư sản nước ngoài vào đầu tư hay tư sản Việt Nam trong thời kỳ cách mạng dân tộc, dân chủ trước đây Nhà nước phải có chính sách phù hợp để tổ chức, quản lý họ làm ăn đúng pháp luật

Các tầng lớp xã hội khác cũng có sự phân hoá và biến động cùng với

sự phát triển của nền kinh tế thị trường, kinh tể nhiều thành phần Tầng lớp tiểu thương xuất hiện nhiều ở các đô thị và cả vùng nông thôn Tầng lớp những người làm trong lĩnh vực dịch vụ ngày càng tăng Thị trường những người lao động tự

do, nghề nghiệp không ổn định ngày càng nhiều Những người không có việc làm được tổ chức đi lao động xuất khẩu cũng ngày càng tăng

Cùng với sự biến đổi, phân hoá của cơ cấu giai cấp - xã hội, các vấn

để xã hội khác cũng có nhiều biến đổi phức tạp Sự phân hoá xã hội trên cơ

sở nền tảng là nền kinh tế thị trường, kinh tế nhiều thành phần theo hai hướng tích cực và tiêu cực Trong khi đông đảo cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dan di theo đường lối của Đảng, chấp hành tốt pháp luật của nhà nước thì ngược lại một bộ phận cán bộ, đảng viên lại thoái hoá, biến chất, mưu cầu lợi ích cá nhân, lợi dụng chức quyền, làm trái pháp luật gay ra những tác động tiêu cực trong xã hội Tham nhũng trở thành quốc nạn và các giải pháp hiện nay để khắc phục tình trạng này chưa thực sự có hiệu quả Hiện nay Nhà nước ta đã ra bộ luật chống tham nhũng mở ra một hướng mới

Trang 21

để giải quyết hiện tượng này Tham nhũng tác động làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng và uy tín của bộ may Nhà nước Một bộ phận cán bộ và quần chúng nhân dân giảm sút niềm tin đối với Đảng và Nhà nước Đã có những đấu hiệu phản ứng ngấm ngầm hoặc công khai của đân chúng đối với nhà nước, điều đó ảnh hưởng trực tiếp tới sự bền vững của hệ thống chính trị, sự

ổn định xã hội ở nước ta hiện nay

Sự tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường, kinh tế nhiều thành phần cùng với sự yếu kém và hạn chế trong công tác quản lý của bộ máy nhà nước cũng làm gia tăng các hiện tượng buôn bán may tuý, lâm tặc, buôn lậu, làm hàng giả, lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân, tệ nạn ma tuý, mãi đâm

và các hành vi suy thoái đạo đức và lối sống làm phân hoá xã hội ngày càng phức tạp

Thứ hai, điều kiện chính trị - xố hội

Nền kinh tế nước ta tổn tại nhiều thành phần kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, theo định hướng CNXH có sự quản lý của Nhà nước Vì thế, vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò tổ chức quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế là rất quan trọng Nền kinh tế và các mặt của đời sống xã hội ở nước ta phát triển, vận động, biến đổi có đúng hướng hay chệch hướng so với mục tiêu XHCN hay không là do nhận thức, lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước giữ vai trò quyết định Đường lối của Đảng đúng, chính sách kinh

tế - xã hội của nhà nước đúng, hệ thống luật pháp tốt, Nhà nước tổ chức, quản lý và giám sát tốt sẽ đưa đất nước đi lên và phát triển, phân hoá xã hội theo hướng tích cực, tiến bộ Ngược lại, chính sách kinh tế - xã hội không phù hợp, luật pháp chưa hoàn thiện, hiệu lực của bộ máy nhà nước còn hạn chế và yếu kém, công tác quản lý kém sẽ làm cho hoạt động kinh tế xã hội xuất hiện nhiều hiện tượng tiêu cực, chệch hướng, cần trở sự phát triển, sự phân hoá xã hội sẽ diễn ra theo chiều hướng tiêu cực

Tổng kết công tác xây dựng Đảng qua 20 đổi mới, Đảng ta nhận định:

cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa đạt yêu cầu để ra Bệnh cơ hội, thực dụng, thiếu trung thực có chiều hướng gia tăng Sự suy thoái, biến

Trang 22

chất của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vẫn rất nghiêm trọng Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của nhiều tổ chức cơ sở đảng thấp Công tác kiện toàn bộ máy làm chậm và thiếu kiên quyết Một bộ phận cán bộ, đảng viên còn yếu kém về phẩm chất và năng lực Tính tiên phong, gương

mẫu, năng lực đảm đương nhiệm vụ của một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể

cả cán bộ chủ chốt còn thấp

Đối với vai trò của Nhà nước, công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện vẫn

là khâu yếu Tình trạng nói nhiều mà không làm hoặc làm không đến nơi đến chống còn điễn ra ở nhiều nơi Quản lý nhà nước ở một số lĩnh vực như: qui hoạch, đất đai, xây dựng cơ bản, giá cả - tài chính - ngân hàng còn nhiều sơ hở Công tác thanh tra, kiểm tra chưa thường xuyên, hiệu quả chưa cao Xử lý một số vi phạm chưa triệt để

Nhận định trên của Đảng đã chỉ ra vai trò của Đảng và Nhà nước có tính chất quyết định đến sự định hướng phát triển kinh tế - xã hội và định hướng sự phân hoá xã hội ở nước ta hiện nay

Ba là, sự tác động của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế

Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế ở nước ta là một tất yếu trong quá trình phát triển Đảng ta khẳng định phải phát triển công

nghiệp, theo hướng hiện đại, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, phát triển toàn diện các ngành dịch vụ, từng bước xây dựng nước ta trở thành nước công nghiệp Đây là chủ trương đúng đắn để phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta theo hướng hiện đại Quá trình này cũng tác động làm biến đổi vai trò, vị trí của các thành phần kinh tế, sự biến động của các giai cấp, các tầng lớp xã hội

Quá trình công nghiệp hoá diễn ra làm tăng số lượng giai cấp công nhân Nhiều người ở các thành phần xã hội khác có cơ hội chuyển hoá thành giai cấp công nhân Mặt khác, do yêu cầu cao của khoa học công nghệ hiện đại mà các doanh nghiệp đầu tư đòi hỏi đội ngũ giai cấp công nhân hiện nay phải có trình độ cao Những người công nhân không nâng cạo được trình độ, năng lực sẽ bị đào thải

Trang 23

Quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn cũng dẫn đến quá trình phân hoá giai cấp nông dân Những người nông đân nắm bắt được khoa học, kỹ thuật canh tác hiện đại, có tổ chức tốt, có trình độ quản lý và kinh doanh sẽ vươn lên có thu nhập cao Một số người có năng lực trở thành chủ các mô hình trang trại trồng trọt và chăn nuôi gắn với xuất khẩu Một bộ phận khác của giai cấp nông dân do trình độ thấp dẫn đến hiệu quả sản xuất và thu nhập thấp Sự phân hoá giầu nghèo trong nông thôn xảy ra Một số nông dân trở thành người lao động làm thuê cho các chủ trang trại hoặc làm thuê ở các loại hình sản xuất khác

Tầng lớp trí thức cũng có nhiều biến động trong quá trình công nghiệp hoá Số lượng trí thức ngày càng tăng nhanh do nhu cầu của xã hội Chất lượng đội ngũ trí thức đòi hỏi ngày càng phải nâng cao đáp ứng với cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại Thu nhập của đội ngũ trí thức cũng thay đổi theo hướng tăng lên do nhu cầu của công việc Số lượng đội

ngũ trí thức gắn trực tiếp với sản xuất kinh doanh ngày càng nhiều Vai trò của đội ngũ trí thức ở nước ta ngày càng được đề cao

Trong thời kỳ đổi mới, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế và khu vực

là một yêu cầu khách quan Đảng ta đã có quan điểm đúng dắn về quan hệ đối ngoại Đó là chủ trương "đa phương hod", "da dang hod" trong quan

hệ quốc tế, làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau Việc mở rộng quan hệ quốc tế đã tạo ra

điều kiện cho Việt Nam giành được nhiều thành tựu kinh tế, khoa học kỹ

thuật, văn hoá và hội nhập quốc tế

Bên cạnh những mặt thuận lợi như vậy chúng ta cũng gặp không Ít những thách thức và khó khăn Chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là Mỹ vấn có

âm mưu xoá bỏ con đường đi lên CNXH ở nước ta Chúng thực hiện âm mưu

"diễn biến hoà bình" tác động vào Việt Nam bằng nhiều con đường, nhiều

hình thức, nhiều thủ đoạn khác nhau với mục tiêu làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng, suy thoái bộ máy nhà nước, chia rẽ Đảng với nhân đân gây mâu thuẫn giữa các sắc tộc và tôn giáo nhằm làm mất ổn định chính trị Sự tác

19

Trang 24

động đó ảnh hưởng không nhỏ đến các dân tộc, các giai cấp và tầng lớp xã hội ở nước ta

Một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân có sự phân hoá về mặt tư tưởng đo nhận thức không đúng về CNXH và vai trò của Đảng cộng sản, nhận thức không đúng về chủ nghĩa tư bản Một số do bị tuyên truyền, kích động, mua chuộc đã có sự tha hoá về lập trường giai cấp, quan điểm chính trị Một bộ phận thanh niên tiếp xúc với những luồng tư tưởng, văn hoá không lành mạnh dẫn đến xa rời lý tưởng, tha hoá về mặt phẩm chất

và lối sống Sự phân hoá theo chiều hướng có ảnh hưởng không tốt đến sự

phát triển của đất nước

Sự tác động tổng hợp của các điều kiện, các nhân tố thuộc các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và quan hệ quốc tế có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự phân hoá xã hội ở nước ta hiện nay Sự phân hoá này theo hai chiều hướng tích cực và tiêu cực tác động đến quá trình phát triển của đất nước

1.2 Một số nét tổng quát về sự phân hoá xã hội ở Việt Nam trong

thời kỳ đổi mới

Như phần trên đã phân tích, đo tác động của nhiều nhân tố, sự phân hoá xã hội ở Việt Nam đã diễn ra mạnh mẽ Trong những năm vừa qua, các tổ chức, các cấp,các ngành đã có những cuộc khảo sát điều tra ở khắp các vùng trong cả nước và kết quả cho thấy sự phân hoá xã hội đã diễn ra trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, văn hoá đến các mặt khác của đời sống

xã hội và ở hầu hết các địa bàn trong cả nước Sự phân hóa thể hiện rõ trên các mặt chủ yếu sau đây

1.2.1 Phân hoá về thu nhập

Trong thời kỳ đầu đổi mới, đặc biệt từ năm 1991, thu nhập của các tầng lớp dân cư trong cả nước, ở thành thị, nông thôn và các vùng kinh tế đều tăng

Trang 25

Theo điều tra giàu nghèo (DTGN) nam 1993, điều tra đa mục tiêu (ĐTĐMT) năm 1999 và điều tra mức sống năm 2002, thu nhập bình quân

1 người l tháng năm 1993, năm 1999, năm 2001 - 2002 đạt 119 nghìn đồng,

295 nghìn đồng và 356 nghìn đồng tương ứng Thu nhập bình quân 1 người l tháng tính chung cả nước theo giá hiện hành năm 2001 - 2002 đạt 348 nghìn đồng, tăng 18% so với năm 1999

Ở nước ta, theo số liệu năm 1999, nếu chia 10 nhóm thì thu nhập bình quân đầu người của nhóm 10% hộ giàu nhất lớn gấp 12 lần nhóm 10% hộ

nghèo nhất; nếu chia 20 nhóm là 17,1 lần và nếu chia 50 nhóm thì con số

này là gần 30 lần; năm 2002, thu nhập bình quân đầu người của nhóm 10%

hộ giàu nhất gấp 13,86 lần nhóm 10% hộ nghèo nhất, trong đó thành thị là 14,22 lần và nông thôn là 9,4 lần (nguồn: Kinh tế xã hội Việt Nam 2001 -

2003, Nhà xuất bản Thống Kê, tháng 9/2003, tr 132)

Sự chênh lệnh về nguồn thu: thu từ nông nghiệp giữa nhóm hộ giàu với nhóm hộ nghèo chênh lệch là 1,84 lần; thu từ tiểu thủ công nghiệp chênh lệch là 6,03 lần, thu từ thương mại dịch vụ chênh lệch là 10,7 lần

Chênh lệch giữa 20% hộ có thu nhập cao nhất với hộ thu nhập thấp nhất là 8,04 lần

1.2.2 Về chỉ tiêu

Tính chung cả nước, mức chỉ tiêu cho đời sống năm 1997 - 1998 tăng gấp 2.41 lần năm 1992 - 1993; năm 2001 - 2002 bình quân I1 người 1 tháng theo giá hiện hành đạt 286,35 nghìn đồng, tăng 21,7% so với năm 1999, bình quân mỗi năm tăng 8,6%, cao hơn thời kỳ 1996 - 1999 (6,6%) Nếu tính theo giá so sánh (năm 1999 làm gốc) chi tiêu thực tế năm 2001 - 2002 đạt 261,3 nghìn đồng, tăng 18,2% so với năm 1999 Trong các vùng, chỉ tiêu cho đời sống bình quân Í người 1 tháng tăng khá so với năm 1999,

Chi tiêu cho đời sống năm 2001 - 2002 bình quân đầu người | thang khu vực nông thôn đạt 2l! nghìn đồng, khu vực thành thị đạt 46l nghìn đồng, gấp 2,2 lần nông thôn So với năm 1999, chỉ tiêu cho đời sống các hộ

21

Trang 26

nghèo tăng 14%, nhóm hộ giàu tăng 21,3% Chi tiêu cho đời sống của nhóm các hộ giàu cao gấp 4,47 lần so với nhóm hộ nghèo (hệ số này năm 1999 là 4,18 lần)

Tuy nhiên nếu nhìn vào số liệu ĐTGN năm 1993, ĐTĐMT năm 1998

và năm 2002, có thể cho chúng ta một bức tranh khác hơn về diễn biến khoảng cách chi tiêu giữa nhóm giàu và nhóm nghèo Khoảng cách chênh lệch về chi tiêu năm 2002 thu hẹp lại so với năm 1997 - 1998 (4,47 lần so với 5,22 lần) và về gần với mức chênh lệch của năm 1992 - 1993 (4,9 lần)

Số liệu thu thập được về chỉ tiêu rất khó xác định và độ tin cậy không cao, do vậy số liệu điều tra về chi tiêu năm 1999 lại thấp hơn năm 1997 - 1998 Đây cũng là một trở ngại cho việc nhận xét và kết luận

Mức sống tiếp tục có sự chuyển biến tích cực còn thể hiện thông qua các số liệu về cơ cấu chi tiêu trong đời sống Chi tiêu cho ăn uống của người dân tăng về số lượng, nhưng tỷ trọng trong chỉ tiêu về đời sống giảm từ

63,3% năm 1999 xuống còn 56,7% năm 2001 - 2002

Các gia đình thuộc nhóm hộ trung bình, hộ khá và hộ giàu chỉ tiêu nhiều hơn cho các nhu cầu ngoài ăn uống như: Chi tiêu mua sắm thiết bị và

đồ dùng gia đình từ 3,9% năm 1999 tăng lên 8,1% năm 2001 - 2002; chỉ y tế

va chăm sóc sức khoẻ tăng từ 4,6% lên 5,6%; chi giáo dục tăng từ 6,4% lên 6,1%; chỉ đi lại và bưu điện tăng từ 6,6% lên 10%

Tuy nhiên, các khoản chi ngoài ãr uống của nhóm hộ giàu lớn gấp 7,5 lần so với nhóm hộ nghèo, trong đó chỉ về nhà ở, điện nước, vệ sinh gấp 10,4 lần; chị thiết bị và đồ dùng gia đình gấp 7,4 lần, chi y tế chăm sóc sức khoẻ gấp 3 lần, chi đi lại và bưu điện gấp 15,8 lần, chi giáo dục gấp 6 lần, chỉ văn

hoá thể thao giải trí gấp 95,4 lần 7

1.2.3 Nhà ở, tiện nghỉ, đồ dàng và tài sẵn cố định

Về nhà ở, tỷ lệ hộ có nhà kiên cố là 17,2%, nhà bán kiên cố là 58,3%, nhà tạm và nhà khác là 24,5% Tỷ lệ hộ có nhà tạm và nhà khác giảm nhanh,

Trang 27

từ 51% năm 1992 - 1993 xuống còn 26% năm 1997 - 1998 và 24,5% năm

2001 - 2002

Các hộ đã có nhiều loại đồ dùng lâu bền hơn Đặc biệt, có những loại

đô dùng trước kia được coi là xa xỉ, đất tiền thì nay trở thành những hàng hoá không thể thiếu đối với nhiều gia đình và đã tăng đáng kể Tỷ lệ có máy thu hình tăng từ 58% năm 1997 - 1998 lên 67% năm 2001 - 2002; có xe máy

từ 24% lên 32,3% Tỷ lệ hộ có mua sắm đồ dùng lâu bền trong năm là

32,8%

Sử dụng nước sạch và vệ sinh môi trường cũng tăng đáng kể Tỷ lệ hộ

sử dụng nước máy làm nguồn nước ăn tăng từ 15% năm 1997 - 1998 lên

17,6% năm 2001 - 2002 Tỷ lệ hộ sử dụng nước sông, hồ, ao đã giảm nhanh từ

12% năm 1997 - 1998 xuống còn 10% năm 2001 - 2002 Tỷ lệ hộ có hố xí tự hoại, bán tự hoại tăng đột biến từ 0,8% năm 1991 - 1992 lên 17,7% năm 1997 -

1998 và 25,5% năm 2001 - 2002, trong đó vùng nông thôn đạt 10,8

Ty lệ hộ dùng điện cũng tăng nhanh, từ 49% năm 1992 - 1993 lên 77% năm 1997 - 1998 và 86% năm 2001 - 2002 Ngày càng có nhiều hộ ở nông thôn được sử dụng điện, từ 80% năm 1999 lên 82,7% năm 2001 - 2002 Tỷ lệ hộ nghèo được sử dụng điện cũng tăng khá, đạt 72,2% năm 2001 - 2002

Nhờ thu nhập tăng khá nên phần lớn các hộ gia đình đã có đầu tư tích luy Nam 1999, trị giá đầu tư tích luỹ về xây dựng nhà ở và mua sắm tài sản

cố định ở khu vực dân cư bình quân một bộ là 1.566 nghìn đồng, tăng bình quân hàng năm 12% trong giai đoạn 1996 - 1999, trong đó khu vực thành thị tăng 17%, nông thôn tăng 12%

Từ số liệu về nhà ở và tiện nghi cho thấy mức sống có sự chênh lệch lớn giữa thành thị, nông thôn, giữa các vùng và giữa các nhóm dân cư giàu - nghèo Tỷ lệ hộ sử dụng hố xí tự hoại và bán tự hoại năm 2002 ở khu vực thành thị là 65%, trong khu vực nông thôn chỉ có 11% Tỷ lệ hộ có máy thu hình màu năm 2002 ở khu vực thành thị là 82%, trong khu vực nông thôn là 44% Giá trị đồ dùng lâu bên năm 2002 ở nhóm hộ giàu lớn gấp 10 lần nhóm

hộ nghèo

23

Trang 28

Theo vùng, tỷ lệ hộ có nhà kiểu biệt thự, căn hộ cao tầng khép kín, căn

hộ cao tầng không khép kín, căn hộ 1 tầng kiên cố không khép kín (nhà kiên cố) hầu hết là thuộc những hộ ở Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng Tỷ

lệ sử dụng nước máy làm nguồn nước ăn năm 1997 - 1998 tập trung hầu hết

ở Đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ Hộ sử dụng nước máy ở Đồng bằng sông Hồng là 21%, Đông Nam Bộ là 37,5%; 3 vùng đặc biệt thấp

là Đông Bắc, Tay Bắc và Tây Nguyên Tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt rất cao ở vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ (98% và 93% năm 1997 - 1998), đồng bằng sông Cửu Long tương đối thấp (52,5% năm 1997 - 1998) Những loại đồ dùng lâu bền đất tiền như máy thu hình, xe máy, tủ lạnh thì

2 vùng có 2 thành phố lớn nhất là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có tỷ lệ cao hơn hẳn

Diện tích ở và diện tích sử dụng bình quân đầu người năm 1992 - 1993 của nhóm hộ giàu gấp khoảng 1,5 lần nhóm hộ nghèo thì đến năm 1997 -

1998 đã tăng lên khoảng 2 lần Toàn bộ nhà ở kiểu biệt thự và §7% kiểu nhà căn hộ cao tầng khép kín là thuộc sở hữu của nhóm hộ giàu, còn nhóm hộ nghèo chiếm 34% so với tổng số đều là nhà tạm Trị giá bình quân một ngôi nhà thuộc nhóm hộ giàu cao hơn rất nhiều so với ngôi nhà thuộc nhóm hộ nghèo Tình hình sử dụng điện và hố xí hợp vệ sinh, đồ dùng lâu bền của nhóm hộ giàu cao hơn nhiều nhóm hộ nghèo (tỷ lệ hộ có máy thu hình màu năm 1997 - 1998 của nhóm hộ giàu là 78%, trong khi nhóm hộ nghèo chỉ có 6,2%; tỷ lệ hộ có xe máy năm 1997 - 1998 của nhóm hộ giàu là 58% trong khi nhóm hộ nghèo là 1,4%) Trị giá bình quân một đồ dùng lâu bền năm

1997 - 1998 của nhóm hộ giàu cao gấp 7,l lần nhóm hộ nghèo Nếu tính toàn bộ giá trị đồ dùng lâu bền bình quân 1 hộ năm 1997 - 1998 thì nhóm hộ giàu gấp nhóm hộ nghèo tới 18,6 lần

Chênh lệch về giá trị tư liệu sản xuất và tài sản chủ yếu

Chênh lệch về giá trị tư liệu sản xuất và tài sản chủ yếu giữa các hộ giàu - nghèo khoảng 5,45 lần

24

Trang 29

Vi du: máy kéo, phương tiện vận tải, bình quân nhóm hộ giàu ở Quang Thịnh trị giá 557.000 đồng, nhóm hộ nghèo không; ở Diễn Hồng là

20.909.000đ, nhóm hộ nghèo không; ở Trường Sơn là 395.000 đồng, nhóm

hộ nghèo không

- Các loại máy phục vụ sản xuất: tương tự so sánh nhóm hộ giàu/ nhóm hộ nghèo ở Quảng Thịnh 2.735 triệu/0 triệu đồng, Diễn Hồng 227,326 triệu/Otriệu đồng, Trường Sơn 1,697 triệu/0 triệu đồng

- Nhà xưởng, kho tàng kiên cố: Quảng Thịnh 2,767 triệu/0,278 triệu; Diễn Hồng 10,5 triệu/0,698; Trường Sơn 1,276 triệu/0,112 triệu

- Chuéng trại chăn nuôi: Quảng Thịnh 5,576 triêu/1,663 triệu; Diễn

Hồng 4,33 triệu/1,753 triệu; Trường Sơn 8,603 triệu/1,893 triệu

- Đàn gia súc cơ bản: Quảng Thịnh 1,729 triệu/0,472 tiệu; Diễn Hồng 1,659 triệu/0,787 triệu; Trường Sơn 5,653 triệu/2,359 triệu

Phỏng vấn lãnh đạo cơ sở, ý kiến đánh giá về giá trị tài sản bình quân chung của nhóm hộ giàu/nhóm hộ nghèo ở xã Quảng Thịnh là 445 triệu/17,3 triệu đồng; xã Diễn Hồng là 735 triệu/19,71 triệu đồng và xã Trường Sơn là

445 triệu/20,25 triệu đồng ,

Chênh lệch về giá trị các phương tiện sinh hoạt

Điều tra thống kê 22 loại phương tiện phục vụ sinh hoạt của hai nhóm

hộ giàu và nghèo cũng có sự chênh lệch khá lớn về giá trị

Tổng giá trị các phương tiện

Trang 30

+ Đầu video 18,6 lần 6,8 lần 5,9 lần

+ Đồ gõ tốt các loại 12,9 lần 27,0 lần 19,9 lần Một số phương tiện sinh hoạt cao cấp như tủ lạnh, bình nóng lạnh, điều hoà nhiệt độ, máy vi tính, điện thoại, máy giặt chỉ có ở nhóm hộ giàu, nhóm hộ nghèo không có

Ý kiến của lãnh đạo cơ sở đánh giá chung trong toàn xã: các hộ thuộc nhóm giàu gần như 100% có xe máy, tỉ vi màu, tủ lạnh và điện thoại; bình nóng lạnh có từ 75,5% đến 92,8%; đồ gỗ tốt có từ 74,2% đến 86,6% đối với

các hộ thuộc nhóm giàu

Sự chênh lệch giữa nhóm hộ giàu với nhóm hộ nghèo nếu chỉ so sánh

về thu nhập ở các xã điều tra thì mức chênh lệch chỉ trên dưới 8 lần, nhưng nếu nghiên cứu so sánh cả về chất lượng, giá trị nhà ở cùng với giá trị tư liệu sản xuất và đồ dùng sinh hoạt cao cấp thì sự phân hoá, phân tầng về đời sống kinh tế có sự khác biệt khá xa

1.2.4 Giáo duc

Tỷ lệ biết chữ ở nước ta thuộc loại cao trên thế giới và tiếp tục tăng trong những năm gần đây, nhưng theo ĐTĐMT năm 2002 thì tỷ lệ biết chữ của nhóm hộ giàu cao hơn nhóm hộ nghèo khoảng 13% (96,8 so với 83,9%)

Số người có bằng cấp về giáo dục và đào tạo ngày càng tăng cả về số tương đối và tuyệt đối Tuy nhiên, số người chưa bao giờ đến trường hoặc không có bằng cấp vẫn chiếm 16,4% ở thành thị và 31,19% ở nông thôn; 33,51% ở nhóm hộ nghèo và nhóm hộ giàu là 21,96% (nhóm giàu và nghèo chênh lệch nhau khoảng 11,55%)

Chỉ tiêu về giáo dục của các hộ gia đình ngày một tăng và có sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa hộ giàu và hộ nghèo Theo ĐTĐMT năm 2002, ở khu vực thành thị, chỉ tiêu về giáo dục bình quân một người là

1255 nghìn đồng, gấp 3 lần khu vực nông thôn Chỉ tiêu về giáo dục của một người của nhóm hộ nghèo bình quân là 236 nghìn đồng, của nhóm hộ giàu là

Trang 31

1418 nghìn đồng, cao gấp 6 lần nhóm hộ nghéo Theo DTDMT nam 1998 chỉ cho 1 cháu mẫu giáo, nhà trể của nhóm hộ nghèo là 58 nghìn đồng một năm, trong khi đó nhóm hộ giàu chi là 1298 nghìn đồng, cao gấp 22 lần nhóm nghèo

Theo các vùng, thì chi phí về giáo dục cao nhất là vùng Đông Nam Bộ (1139 nghìn đồng), thấp nhất là vùng Tây Bắc (278 nghìn đồng) Khoảng cách chênh lệch giữa 2 vùng này là trên 4 lần

1.2.5 Y tế và sức khoẻ

Theo ĐTĐMT năm 2002, có sự khác biệt đáng kể trong việc sử dụng các cơ sở y tế để khám chữa bệnh giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa

hộ giàu và hộ nghèo Năm 2001 - 2002, đã có tới 85,2% trong tổng số người

ốm đến điều trị nội trú tại các bệnh viện công ở khu vực thành thị và 75,1%

ở khu vực nông thôn Như vậy khi ốm đau hầu hết người dân đều đến bệnh viện, nhưng ở nông thôn cơ hội này thấp hơn và ở các cơ sở y tế cấp thấp hơn (khoảng 10,6% đến trạm y tế xã, ở thành thị chỉ có 1,9%) Người giàu có điều kiện điều trị nội trú nhiều hơn người nghèo (tỷ lệ tương ứng là 85,5% và 69,1%) Tình trạng khám bệnh cũng tương tự như vậy, nhóm hộ giàu khám

bệnh ở các cơ sở y tế là 22%, nhóm hộ nghèo là 16,5%

Chỉ tiêu y tế bình quân một người có khám chữa bệnh ở khu vực thành thị

là 991 nghìn đồng, cao gấp l,6 lần khu vực nông thôn (602 nghìn đồng), của nhóm hộ giàu cao gấp 3 lần của nhóm hộ nghèo Vùng Đông Nam Bộ chỉ tiêu cao nhất là 936 nghìn đồng, gấp 2 lần so với vùng Tây Bắc 1,8 lần so với vùng Tây Nguyên

Chí tiêu cho điều trị nội trú tại các bệnh viện nhà nước chiếm 93,8%,

trạm xá xã 1,8%, y tế tư nhân 2,8%

Tình trạng sức khoẻ của nhóm hộ giàu và hộ nghèo, của dân cư thành thị và dân cư nông thôn cũng có sự khác biệt đáng kể, mặc dù trong những năm gần đây, tình trạng sức khoẻ của dân cư đã được cải thiện đáng kể thể hiện qua các chỉ số tuổi thọ bình quân tăng lên, tỷ lệ suy đinh dưỡng của trẻ

27

Trang 32

em giảm Tuy nhiên kết quả ĐTĐMT cho biết tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng ở các hộ nghèo cao hơn rất nhiều so với nhóm hộ giàu (52,6% ở nhóm hộ nghèo, 18,4% ở nhóm hộ giàu), ở nông thôn 45,2% so với thành thị 22,7%

1.3 Sự phân hoá của một số giai cấp và tầng lớp xã hội tiêu biểu 1.3.1 Sự phân hoá của giai cấp nông dân

Với tư cách là đơn vị kinh tế tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường, các hộ nông dân trong cả nước đã và đang tích cực đẩy mạnh phát triển sản xuất một cách năng động, đa dạng, phù hợp với năng lực và điều kiện cụ thể mỗi hộ, tạo ra thị trường hàng hoá phong phú Một quá trình phân công lao động đang diễn ra mạnh mẽ, sản xuất nông nghiệp không còn là sản xuất thuần nông, độc canh, đơn diện nữa Đã có những bộ phận nông dân chuyển sang chăn nuôi, trồng trọt, trồng cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày Xây dựng các trang trại, nhận khoán rừng, làm kinh tế Vườn - Ao - Chuồng Một bộ phận nông dân khác chuyển sang sản xuất tiểu thủ công nghiệp, làm dịch vụ, buôn bán nhỏ Đồng thời, cũng có một bộ phận nông đân do nhiều nguyên nhân khác nhau (như không có vốn

để sản xuất, không có đất, không có nghề phụ ) đã trở thành những người lao động làm thuê ở nông thôn

Sự phân hoá giàu nghèo, sự phân tầng trong giai cấp nông đân là quá trình tự nhiên trong khi chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta

Theo kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê năm 1993 (mức thu nhập bình quân đầu người hàng tháng dưới 50.000đ ở nông thôn và 70.000đ ở thành thị là ranh giới nghèo) thì trong cả nước số hộ nghèo chiếm tỷ lệ 20%, trong đó thành thị là 10%, còn ở nông thôn là 22%

Còn theo cách tính của Ngân hàng thế giới (lấy đường ranh giới nghèo là mức thu nhập bình quân đầu người hàng tháng dưới 100.000đ) thì tỷ lệ hộ nghèo trong cả nước năm 1994 là 51%, trong đó 90% số hộ nghèo tập trung ở nông thôn

Trang 33

Nhìn chung, có thể thấy loại hộ giàu là những hộ đã chuyển nhanh sang sản xuất hàng hoá bằng những cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế cao, hoặc biết phát triển ngành nghề đáp ứng yêu cầu của thị trường Loại hộ trên trung bình và trung bình có mức độ sản xuất hàng hoá ít nhiều cao hơn hoặc ngang bằng so với sản xuất tự cấp, tự túc Loại hộ nghèo có thu nhập không

đủ duy trì mức tối thiểu cần thiết, trong đó có những hộ thiếu ăn từ 3 đến 6 tháng/ năm, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao

Như vậy, trong quá trình chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường, cùng với những thay đổi trong phát triển kinh tế, sự phân hoá trong các hộ nông dân, sự phân tầng trong giai cấp nông dân diễn ra ngày càng rõ nét và không kém phần phức tạp

Từ thực tiễn quá trình đổi mới trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, qua phân tích kết quả điều tra về tình hình kinh tế hộ nông dân, sự phân hoá giàu nghèo giữa các hộ nông dân cho thấy một bộ phận hộ nông dân trở thành các nhà sản xuất hàng hoá lớn, có thu nhập cao, trở nên giàu có Một

bộ phận khác vẫn duy trì mức sản xuất tự cấp, tự túc, có thu nhập thấp, đã trở nên nghèo hơn Khoảng cách giữa các hộ nông dân về thu nhập ngày một tăng, sự tương phản về thu nhập, sự chênh lệch nhau về giàu nghèo giữa các

hộ nông đân trở nên rõ rệt Tuy nhiên, cũng nhận thấy một điều là số hộ nghèo mà chúng ta nói ở trên là nghèo so với những hộ giàu chứ không phải

là nghèo đi so với thời kỳ trước đổi mới Nếu so với thời kỳ trước đổi mới, thì mức sống của người nông dân hiện nay đều được tăng lên kể cả thu nhập lẫn mức sống của người nghèo và những người giàu đều được tăng lên tương ứng Điều này do tác động tích cực của quá trình đổi mới mang lại

Theo kết quả điều tra cho thấy trong số những hộ nông dân giàu lên từ khi chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần thì những hộ giàu lên từ sản xuất nông nghiệp là 74,24%, còn từ kinh doanh phi nông nghiệp là 25,7% Như vậy, thu nhập của hộ giàu là thu nhập chính đáng, thu nhập từ chính hoạt động sản xuất, kinh doanh của họ, chứ không phải do làm ăn gian

đối buôn lậu, lừa đảo mà có

29

Trang 34

Những hộ giàu có được thu nhập cao ấy trước hết, là do bản thân người lao động trong các hộ giàu đã làm việc hết mình Bình quân một lao động trong độ tuổi của một hộ giàu 1 năm làm được 269 công, tức là làm gần như hết các ngày làm việc của một năm, trong khi đó do thiếu ruộng đất, thiếu vốn, lao động trong độ tuổi của hộ nghèo một năm chỉ làm được 83 còng, tức bằng 1/3 mức làm việc của một lao động thuộc hộ giàu

Bình quân một hộ giàu một năm làm được 978 công, còn đi thuê 196 công, trong đó có 110 công thuê làm thường xuyên và 196 công thuê làm theo thời vụ Như vậy, công do các hộ giàu tự làm lấy chiếm 77%, còn công

đi thuê chiếm 23% Điều đó cho thấy, do không có đủ sức làm hết tất cả các công việc, đặc biệt là vào dịp thời vụ, mà những hộ giàu đã thuê thêm nhân công, tất nhiên mức thuê cũng chưa nhiễu Mặt khác, cũng thấy rằng bản thân những hộ giàu cũng đi làm thuê cho người khác: Họ dùng các công cụ sản xuất đã đầu tư mua sắm được ngoài việc làm cho mình còn đi làm dịch

vụ như: cày thuê, bơm nước thuê, xay xát, vận chuyển thuê để tăng thêm thu nhập Đây cũng là cách để làm giàu, để tăng thêm thu nhập cho hộ giàu

Như vậy, sự giàu lên của các hộ nông dân Việt Nam trước hết là chủ yếu bằng sức lao động của chính mình, trong đó hộ nào có những điều kiện thuận lợi hơn, có nhiều sức lao động hơn, có kinh nghiệm, kỹ năng sản xuất _ kinh doanh giỏi hơn, biết phát huy, kết hợp giữa lao động, đất đai, vốn và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật tốt hơn thì trở nên giàu có Sự giàu lên của

hộ nông đân không phải chủ yếu bất nguồn từ sự bóc lột lao động làm thuê

Đó là sự giàu lên một cách chính đáng, là xu hướng cần được quan tâm, khuyến khích Mặt khác, qua phân tích số liệu thống kê cũng cho thấy số hộ

nghèo không có được lợi thế để sản xuất kinh doanh như các hộ giàu

Về ruộng đất: bình quân một hộ giàu có được 13.260m? đất để canh - tác, còn hộ nghèo chỉ có được 3.542m”, tức là bình quân một hộ giàu gấp gần 4 lần hộ nghèo Cũng cần nhận thấy rằng số ruộng đất các hộ giàu không thuộc sở hữu của bọ hoàn toàn mà 94,1% do hợp tác xã và chính quyền các cấp giao cho họ để sản xuất, còn 5,9% là đất đấu thầu hoặc thuê

Trang 35

từ nguồn khác Còn các hộ nghèo bình quân ruộng đất thấp là do họ không

có khả năng sản xuất hết ruộng khoán, khê đọng sản phẩm cho nên hợp tác

xã chuyển giao cho các hộ khác để sản xuất Như vậy, sự chênh lệch ruộng đất cũng là kết quả của việc chuyển giao cho người có đủ điều kiện để sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, chứ không phải là do sở hữu tư nhân về ruộng đất và do vậy cũng không phải bóc lột theo kiểu tô tức phong kiến

Về vốn: Các hộ giàu đều đầu tư một số vốn lớn để sản xuất, trong đó

có khoảng 30% đến 50% là vốn tự có, còn lại là vốn đi vay Còn hộ nghèo thì hầu hết là thiếu vốn, khả năng đi vay của họ rất hạn chế vì không có tài sản thế chấp Do đất đai canh tác ít, thiếu vốn, thiếu công cụ sản xuất, các hộ nghèo không tạo được việc làm nên chỉ là trông chờ đi làm thuê Có tới 43%

số hộ nghèo chấp nhận đi làm thuê, nhưng số ngày đi làm thuê cũng không nhiều, thu nhập từ làm thuê không lớn Tuy có lao động dư thừa nhưng cũng

không thể sử dụng số lao động dư thừa ấy để thoát cảnh nghèo

Ngoài ra, nhiều hộ nghèo còn do các nguyên nhân khác như thiếu kinh nghiệm làm ăn, nhân khẩu đông nhưng ít người làm, do gặp tai nạn, rủi ro,

ốm đau, bệnh tật Cũng có những người do lười lao động, ăn tiêu không có

kế hoạch, nghiện hút, cờ bạc Trong số các hộ nghèo có 11% là hộ thuộc diện chính sách, phần lớn những hộ này là do thiếu lao động (giàu nghèo trong nông thôn Việt Nam hiện nay - Nxb Nông nghiệp, Hà Nội 1993)

Từ thực trạng phân hoá giàu nghèo trong giai cấp nông dân có thể nhận thấy: Sự phân hoá giàu nghèo giữa các hộ nông dân, sự phân tầng trong giai cấp nông dân điễn ra ngày một rõ nét Song sự phân hoá giàu nghèo ấy chủ yếu không bất nguồn từ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất do đó không bắt nguồn từ bóc lột lao động làm thuê, mà sự phân hoá giàu nghèo giữa các

hộ nông dân trước hết và chủ yếu đều bằng sức lao động của chính mình Trong đó hộ nào có điểu kiện tốt hơn, có nhiều sức lao động hơn, có khả năng kết hợp giữa vốn, lao động đất đai, tận dụng tốt những điều kiện sẵn có

để phát triển sản xuất thì hộ đó trở nên giàu có, còn hộ nào không có được

những điều kiện trên thì trở nên nghèo đi

31

Trang 36

Hộ nông dân giàu

* Thu nhập của nhóm hộ giàu

- Qui mô thu nhập bình quân một người/tháng của nhóm hộ giàu đạt khá cao so với mức bình quân chung Cụ thể:

Năm 1995 tăng 27,2% so với mức 22,6%

Năm 1996 tăng 10,6% so với mức 10%

Năm 1999 tăng 29% so với mức 30,1%

Năm 2001 - 2002 tăng 17,7% so với mức 20,7%

Điều trên chứng tỏ khi mức thu nhập lên cao thì tốc độ tăng sẽ thấp đi

và đặt ra vấn đề phải xem xét các nguyên nhân khác ảnh hưởng tới thu nhập

Dân số ở nông thôn chiếm 74,6% song số hộ giàu chỉ chiếm 54,2% tổng thu nhập nhóm hộ giàu của cả nước Thu nhập của nhóm hộ giàu ở các

Trang 37

~ Tây Nguyên 543 ngàn đồng/ người tháng

- Đông Nam Bộ 1.495,3 ngàn đồng/ người tháng

- Đồng bằng sông Cửu Long 877,6 ngàn đồng/ người tháng

So sánh giữa tỷ trọng số hộ giàu với tỷ trọng về dân số có thể thấy

* Chi tiêu về đời sống của nhóm hộ giàu

- Qui mô chỉ tiêu về đời sống bình quân 1 người/tháng đã đạt khá và cao hơn mức bình quân chung

Năm 1994 là 282 ngàn đồng so với 141,9 ngàn đồng

Năm 1995 là 348,5 ngàn đồng so với 170,0 ngàn đồng

Năm 1996 là 376,9 ngàn đồng so với 182,4 ngàn đồng

33

Trang 38

Duyên hải Nam Trung Bộ 459,4 ngàn đồng |

Đồng bằng sông Cửu Long 434,2 ngàn đồng

- Cơ cấu chỉ tiêu của nhóm hộ giàu như sau: (theo tháng)

Chi cho lương thực 40,8 ngàn chiếm tỷ trọng 7,5%

Nhà ở, điện, nước, vệ sinh 29,4 ngàn chiếm tỷ trọng 5,4%

Thiết bị và đồ dùng gia đình 52,2 ngàn chiếm tỷ trọng 9,5%

Trang 39

Y té va cham sóc sức khoẻ 28,5 ngàn chiếm ty trong 5,3%

Đi lại và bưu điện 72,6 ngàn chiém ty trong 13,3%

Giáo dục 36,0 ngàn chiếm tỷ trọng 6,6%

Văn hoá, thể thao, giải trí 11,4 ngàn chiếm tỷ trọng 2,1%

Đồ dùng và dịch vụ khác 20,7 ngàn chiếm tỷ trọng 3,8%

Nếu tính bình quân chỉ tiêu của nhóm người giầu trên phạm vi cả nước

là 330 ngàn đồng bằng 37,6% số thu thì ở khu vực nông thôn là 243 ngàn, bằng 40,6% số thu, tính theo vùng lãnh thổ thì ở Đông Nam Bộ là 585,3 ngàn đồng, Đồng bằng sông Cửu Long 443,4 ngàn, Đồng bằng sông Hồng 272,9 nàn đồng, Duyên hải Nam Trung Bộ 198,9 ngàn, Đông Bắc 183,5 ngàn, Bắc Trung Bộ 174 ' ngàn, Tây Nguyên 169,2 ngàn, Tây Bắc 93,2 ngàn đồng

Trình độ học vấn và nhân khẩu của hộ giàu so với mức bình quân chung

Số nhân khẩu bình quân một hộ của nhóm giàu thấp hơn mức bình quân chung Nhân khẩu bình quân của hộ giàu là 3,99 người, mức bình quân chung là 4,44 người, tỷ lệ dân số tỉnh từ 10 tuổi trở lên biết chữ của hộ giàu

là 96,9%, tỷ lệ chung là 92,1%

Khi tính từ 15 tuổi trở lên so với mức b ình quân chung cụ thể như sau:

Chưa bao giờ đến trường và không có bằng cấp là 20,6% so với 21,8%

Tốt nghiệm tiểu học 29% so với 21,8%

Tốt nghiệp trung học phổ thông 18,9% so với 11,7%

Công nhân kỹ thuật 3,11% so với 1,62%

Trung học chuyên nghiệp 6,27% so với 3,12%

Cao đẳng, đại học 11,44% so với 3,75%

Trên đại học 0,37% so với 0,10%

35

Trang 40

Vi dụ: ở Bắc Trung Bộ trình độ văn hoá, chuyên môn kỹ thuật ở khu vực nông thôn như sau:

Tốt nghiệm tiểu học 21,5%

Tốt nghiệp trung học cơ sở 32,76%

Tốt nghiệp trung học phổ thông 46,99%

Sơcấp — 46,15%

Công nhân kỹ thuật 38,48%

Trung học chuyên nghiệp 60%

Cao đẳng, đại học 50%,

Tình hình hộ nông đân nghèo

* Thụ nhập

- Qui mô thu nhập người thuộc nhóm nghèo rất thấp

Năm 1993 là 63 ngàn đồng, năm 1995 là 74,3 ngàn đồng, năm 1996 là 78,6 ngàn đồng, năm 1999 là 97 ngàn đồng và năm 2001 - 2002 là 107,7 ngàn đồng

- Tốc độ thu nhập không ổn định (theo mốc)

Năm 1995 tăng 17,9%, năm 1996 tăng 5,5%, năm 1999 tăng 23,4%, năm 2001 - 2002 tăng 11%

- Qui mô thu nhập của người nghèo ở các vùng (theo thang)

Tây Bắc là 75 ngàn đồng, Tay Nguyên 80,4 ngàn đồng, Đông Bắc là 97,6 ngàn đồng, Duyên hải Nam Trung Bộ 113 ngàn đồng, Đồng bằng sông Cửu Long 122,9 ngàn đồng, Đồng bằng sông Hồng 123 ngàn đồng, Đông Nam Bộ 171,3 ngàn

- Cơ cấu thu nhập của người nghèo

Ngày đăng: 13/05/2014, 23:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w