Tư liệu sử dụng trong đề tài cơ bản là nguồn tư liệu điển dã của bản thân và đồng nghiệp Ngoài ra cũng khá quan trọng là tham khảo một số tài liệu đã ấn hành có liên quan đến văn hoá tru
Trang 1
VIEN KHOA HOC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN NGHIÊN CỨU VĂN HOÁ
T8 Lê Văn Kỳ (Chủ biên)
GS.TS Ngô Đức Thịnh - TS Nguyễn Quang Lê
MỘT SỐ DÂN TỘC THIẾU SỐ NAM TÂY NGUYÊN
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Nam Tây Nguyên (nói riêng) và Tây Nguyên (nói chung) là một vùng đất rộng lớn, màu
mỡ, giàu tiềm năng kinh tế, có vị trí chiến lược về chính trị, quốc phòng quan trọng Từ ngàn xưa, nơi đây đã có nhiều dân tộc thiểu số cư trú và đã tạo dựng một cuộc sống dam ấm, yên vui, một nền văn hoá phong phú, đa dạng và hết sức độc đáo mà người ta quen gọi là “văn
hoá rừng”
Những năm gắn đây, được sự quan tâm của Đảng và Chính phủ, Tây Nguyên đang
vươn mình phát triển theo cơ chế rộng mở khiến cho sự hội nhập và giao lưu văn hoá càng gia tăng Việc làm này đưa lại nhiều lợi ích to lớn cho đồng bào nhưng đồng thời bản sắc văn hoá Tây Nguyên cũng không tránh khỏi nguy cơ suy giảm, hoà tan và bị lấn át nếu chúng ta không
có kế hoạch bảo vệ kịp thời bằng những chủ trương đúng đắn, những giải pháp hữu hiệu
Phong tục, tập quán cổ truyền là một mảng quan trọng trong văn hoá Tây Nguyên Nó phẫn ánh cuộc sống đương thời, :rình độ tư duy, cách ứng xử, nét sinh hoạt thường ngày của cộng đồng các dân tộc thiểu số cùng chung sống qua trường kỳ lịch sử Khảo sát, nghiên cứu
phong tục, tập quán cổ truyền nam Tây Nguyên là để hiểu sâu hơn cuộc sống tính thân của
người dân bản địa Qua đó, chúng ta sẽ có cơ sở vạch ra những giải pháp hữu hiệu đối với vấn đề kế thừa, vận dụng, khai thác những giá trị tốt đẹp của nó trong việc xây dựng đời sống
văn hoá buôn làng hiện tại Đấy cũng là để góp phần thực hiện chính sách phát triển dân tộc
vùng cao, vùng sâu của Chính phủ, thực hiện nhiệm vụ bảo tôn và phát huy ban sac văn hoá truyền thống trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Văn hoá dân gian Tây Nguyên thật là phong phú, da dạng và độc đáo nhưng vì những
lý do chủ quan, khách quan nào đó mà việc nghiên cứu văn hoá vùng này được tiến hành hơi
muộn so với các dân tộc ở miễn xuôi Phải đến đầu thế kỷ XX mới có một số tác giả trong và
ngoài nước đề cập đến văn hoá truyền thống Tây Nguyên qua các tác phẩm của mình như
“Truong ca Dam San’, “Chúng tôi ăn rừng thân đá Gô O”, “Miền đất huyền ảo”, "Cao nguyên
xứ thương”, “Luật tục Ê Dé”, 'Luật tục Gia Rai”, %Luật tục MNông", “Sử thi Ê Đê”, “Sử thí thần
thoại M Nông, “Sử thí Tây Nguyên", “Văn hoá dân gian E 2é”, Văn hoá dân gian MNông”,
“Văn hoá cổ truyền Tây Nguyên”, +ễ hội dân gian Ê Đê”, “Nghí lễ và âm nhạc trong nghỉ lễ
của người JRai”, “Tìm hiểu luật tục các tộc người ở nam Tây Nguyên", v.v
Đó là những công trình có giá trị được nhiều người ghi nhận, trong đó có những công
trình mang ý nghĩa khám phá, mở đâu, đặt nền móng cho việc nghiên cứu tiếp theo (nhất là
các học giả người Pháp như SaBa Tier, Dounes, Con Bo minas, .).
Trang 3Tuy nhiên, trong những công trình đó, phong tục, tập quản cổ truyền của Tây Nguyên
chỉ mới được nhắc tới một cách chung chung, tản mạn chứ chưa được tác giả tập trung khai thác như các chủ đề khác Có thể nói là từ trước đến nay chưa có một chuyên luận nào dành riêng cho việc khÃo sát phong tục, tập quán cổ truyền Tây Nguyên một cách đây đủ, có tính
hệ thống và để xuất việc vận dụng nó vào cuộc sống hiện tại như thế nào cho phù hợp để phong tục, tập quán phát huy được tác dụng của mình Do vậy, tiếp tục tìm hiểu vấn đề trên là việc làm cần thiết, đáng được ủng hộ
Phong tục, tập quán cổ truyền các dân lộc thiểu số đã cư trú lâu đời trên địa bàn nam
Tây Nguyên sẽ là đối tượng nghiên cứu chính của đề tài Mặt khác do phong tục, tập quán có liên quan mật thiết với lễ nghỉ, tín ngưỡng nên khi khảo sát phong tục, người viết cũng sẽ phải
đề cập đến vấn đề tin ngưỡng dân gian bản địa trong chừng mực nào đó
Vấn đề vận dụng phong tục, tập quán cổ truyền vào việc xây dựng đời sống văn hoá buôn làng ngày nay có được đề cập tới nhưng chỉ là những nét phác thảo mang tính gợi mở vì
nó còn mới, chưa định hình, v lại đây cũng là vấn dé lớn và khó nên cần phải có thời gian
Phạm vi nghiên cứu được khoanh lại ở phía Nam Tây Nguyên Tuy nhiên vi địa bản Vùng này cũng quá rộng lớn, phức tạp, các dân tộc ít người lại sống rải rác khắp nơi nên trong
đề tài này, người viết chỉ dừng lại ở một số dân tộc tiêu biểu, có nền văn hoá ổn định, có tỷ lệ
dân số lương đối cao hiện đang sinh sống trêm các tỉnh Lâm Đồng, Đăk Lăk, Đăk Nông và một phần của tỉnh Bình Phước Các dân lộc thiểu số còn lại ở địa bàn này cũng sẽ được tim hiểu, giới thiệu khi cần thiết cho việc so sánh, đối chiếu nhưng chỉ là đại cương, sơ lược chứ
chưa có điều kiện đi sâu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là khảo sát thực địa, phông vấn hồi cố, điều tra xã hội
học, miêu thuật, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, rút ra những nhận xét trên cơ sở nghiên cứu liên ngành giữa các bộ môn văn hoá dân gian, ngữ văn, lịch sử, thống kê, dân lộc
học, khảo cổ học, v.v
Tư liệu sử dụng trong đề tài cơ bản là nguồn tư liệu điển dã của bản thân và đồng nghiệp Ngoài ra (cũng khá quan trọng) là tham khảo một số tài liệu đã ấn hành có liên quan đến văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số Nam Tây Nguyên
Tiếp thu, kế thừa thành tựu của những người đi trước, ở công trình này người viết sẽ cố gắng điều tra, Khảo sát một cách toàn diện, có bổ sung, có tính hệ thống về phong tục, tập
quán cổ truyền của một số đồng bào thiểu số Nam Tây Nguyên Trên cơ sở đó, người viết sẽ
nhìn nhận, phân tích, đánh giá, chọn lọc những yếu lố cần thiết trong phong tục, tập quán cổ
đối với cuộc sống buôn làng hiện tại và bước đầu đê xuất một số giải pháp, vận dụng nó trong
việc xây dựng đời sống văn hoá buôn làng ngày nay Tây Nguyên (đặc biệt các tỉnh ở phía
Trang 4Nam) là nơi cư trú của những tộc người được coi là dân tộc bản địa mang bản sắc văn hoá
Đông Nam Á lục địa, nên việc nghiên cứu phong tục, tập quán cổ truyền vùng này sẽ cho ta
thấy đặc sắc văn hoá cổ Đông Nam Á rõ ràng hơn Có thể nói đó là những đóng góp nhỏ của
dé tài mà người viết đã cảm nhận được trong lúc thực thi công việc nhưng chưa có điều kiện
di sâu
Đây là loại công trình sưu lâm, khảo cứu, biên soạn về phong tục, tập quán cổ truyền của một số dân tộc thiểu số ở một địa bàn nhất định Ngoài phần mở đâu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính công trình gôm có bảy chương như sau:
Chương I: Khái quát về Nam Tây Nguyên và văn hoá Nam Tây Nguyên
Chương ll: Phong tục, tập quán về vòng đời người
Chương Ill: Phong tục và nghỉ lễ nông nghiệp liên quan đến vòng cây trồng
Chương IV: Các phong tục cổ truyền về ăn, mặc, ở
Chương V: Phong tục, tập quán liên quan đến cộng đồng
Chương VI: Một số phong tục, tập quán cổ truyền khác
Chuang Vil: Phong tục, tập quán cổ truyền Nam Tây Nguyên trong cuộc sống buôn làng
ngày nay
Nhóm biên soạn công trình được phân công như sau:
1 T8 Lâ Văn Kỳ: Chủ nhiệm công trình và viết các phần:
Lời nói đâu; Chương I; Chương IV; Chương V; Chương VI; Chương VII; Kết luận; Danh mục tài liệu tham khảo
2 GS.TS Ngô Đức Thịnh: Viết Chương |
3 TS Nguyễn Quang Lê: Viết Chương Ill
Để hoàn thành công trình này, chúng tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của Viện Khoa học xã hội Việt Nam; Viện nghiên cứu văn hoá; Sở Văn hoá - Thông tin và (Äÿ ban nhân dân các tỉnh Lâm Đồng, Đăk Lăk, Đăk Nông, Bình Phước Chân thành cảm ơn các nghệ nhân
Điểu Kâu, Điểu KLút, Điểu Mĩ œh, Điểu GLơi (tỉnh Đăk Nông); Điểu Klung (tỉnh Đăk Lăk); Điểu Soai- Pang Tinh Cớ (tỉnh Lâm Đồng); Điểu Sen, Điểu Dang, Điểu Hích, Điểu Thích (tỉnh Bình
Phước) cùng một số đồng nghiệp đã cung cấp tư liệu và tận tỉnh giúp đỡ
Vì sức lực và trình độ có hạn nên chắc chắn không tránh khỏi sự sai sót Rất mong người đọc lượng thứ và chỉ bảo cho
THAY MẶT NHÓM BIÊN SOẠN
Lé Onan Ky
Trang 5CHUGNG I:
KHAI QUAT VE NAM TAY NGUYEN
VA VAN HOA NAM TAY NGUYEN
1, Nét đặc trưng về môi trường tự nhiên, dân cư và lịch sử
(Nam Tay Nguyén bao gém cdc tinh Lam Déng, Dak Lak, Dak
Nong và phía Bắc Bình Phước Chúng tôi đã phải tạm phân ra như vậy
trong lúc khảo sát phong tục tập quán các dân tộc thiểu số ở vùng này theo giới hạn của đề tài đã được xác định Tuy nhiên khi giới thiệu
những nét khái quát về nam Tây Nguyên va văn hoá tam Tay Nguyên thì không thể tách bạch như thế được bởi Tây Nguyên vốn là một lãnh thổ thống nhất về địa lý, lịch sử, văn hoá Do đó mà ở chương này sẽ có
rất nhiều chỗ người viết phải để cập đến cả Tây Nguyên (thậm chí còn lan ra cả vùng núi của các tỉnh kể cận như Quảng Ngãi, Khánh Hòa,
Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận) để đảm bảo tính liên kết tổng thể của nó trên một vùng "địa văn hóa")
Tây Nguyên là vùng sơn nguyên, xen cài giữa các dấy núi cao trung
bình với các cao nguyên đất đỏ bazan rộng lớn, khá bằng phẳng Có thể
nói, không ở đâu của nước ta như Tây Nguyên, đất đỏ bazan lại chiếm
điện tích lớn, lại đóng vai trò quan trọng tạo nên bộ mặt địa hình, địa
mạo, địa chất, cùng với yếu tố khí hậu tạo nên cảnh quan môi trường và thế giới động thực vật vô cùng phong phú, đa dạng
Khí hậu Tây Nguyên phân thành hai mùa: nóng khô, từ tháng II đến tháng 3 và mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, tạo nên sự tương phản
rất rõ rệt về thời tiết Những nét nổi bật này của khí hậu Tây Nguyên,
tạo nên nhịp điệu sản xuất và đời sống văn hoá mang tính chu kỳ rất đặc trưng của Tây Nguyên
Trang 6Nói tới Tây Nguyên là nói tới rừng, nay tuy đã suy giảm nhiều do chiến tranh, do con người khai thác bừa bãi nhưng độ che phủ của rừng chiếm tỷ lệ, thuộc loại cao nhất ở nước ta Cùng với rừng là thế giới động vật và thực vật rất phong phú, quý hiếm tạo nên một hệ sinh thái tất đặc trưng của các dân tộc ở đây Có thể nói rừng là môi trường sống gần gũi và thân thiết của cư dân các dân tộc, văn hoá của người Tây
Nguyên là “văn hoá rừng”
Sống trong môi trường sơn nguyên, khí hậu nhiệt đới gió mùa như vậy, hoạt động sản xuất của con người hướng vào canh tác nương rẫy trồng lúa khô là chính, chăn nuôi gia súc lớn như trâu, bò, voi khá phát
triển, kết hợp với săn bắn, hái lượm, thu hái các sản phẩm rừng núi, tạo
nên một lối sống nương rẫy, tùy thuộc nhiều vào hoàn cảnh tự nhiên, đời sống kinh tế mang tính tự cấp, tự túc Tuy nhiên, mấy thập kỷ gần
đây, do chuyển đổi sang trồng trọt cây công nghiệp (cà phê, cao su, tiêu,
điều ), khai thác rừng nên kinh tế thị trường đã và đang thâm nhập, tác động mạnh vào cơ cấu kinh tế của vùng về đời sống vật chất và tinh
thần của con người các dân tộc ở Tây Nguyên
- Từ lâu, Tây Nguyên và vùng phụ cận đã là địa bàn sinh tụ của gần hai mươi tộc người bản địa, nói các ngôn ngữ thuộc hai dòng ngôn ngữ
chính là Môn - Khơme và Nam Đảo Ngoài ra, từ những năm của thập
kỷ 70 thế ký XX tới nay, nhiều tộc người ở nhiều địa phương trong cả nước đã di dân đến sinh sống ở Tây Nguyên, làm cho không chỉ dân số Tây Nguyên tăng mạnh (khoảng 4 triệu người vào năm 1999), mà thành phần dân tộc cũng đông hơn, lên đến trên 40 tộc người khác nhau, gồm
cả cư đân bản địa tại chỗ và cư dân nơi khác di cư tới
Cư dân tại chỗ của Tây Nguyên và vùng phụ cận có khoảng gần 20
tộc người, nói ngôn ngữ thuộc hai nhóm Môn-Khơme và Nam Đảo
(Austronesien) Riêng hai nhóm ngôn ngữ này trên địa bàn các tỉnh Tây
<
Trang 7Nguyên, thì có các tộc người: Øa na, Xơ đăng, Giể-Trieng, Brdu,
Rơmăm, Mnông, Mạ, Cơ ho thuộc nhóm Môn-Khơme, các tộc người
Trai, Êđê, Chu ru, Raglai thuộc nhóm Nam Đảo Tuy nhiên, không thể
không kể tới các tộc người cư trú ở các vùng kể cận Tây Nguyên có mối quan hệ gần gũi về nguồn gốc và văn hoá với các dân tộc kể trên, như Hré, Co, Chăm hroi (ö phía Bắc và phía Đông) và các tộc Sông, Chơ
ro (ở phía Nam) Chúng ta cũng không thể không kể tới người Kinh (Việt) có mặt ở Tây Nguyên từ thế kỷ XIX, đặc biệt là sau 1954 và sau
1975, cùng với nhiều dân tộc khác từ miền núi phía bắc di cư vào, như
Tày, Nùng, Tái, Dao, Hmông, Bru-Vân Kiều làm cho không chỉ dân số,
số lượng dân tộc mà tình hình phân bố dân cư các dân tộc đang thay đổi khá cơ bản, ảnh hưởng lớn tới mối quan hệ và giao lưu văn hoá các dân tộc ở đây
Về phân bố dân cư các tộc người bản địa kể trên, ta thấy hình thành nên ba nhóm rố rệt, đó là các tộc thuộc nhóm Bana - Xơ đăng (hay
thường gọi Bana Bắc) phân bố chính ở Bắc Tây Nguyên, thuộc tỉnh Gia
Lai và Kon Tum gần với nhóm Katu - Bru nói ngôn ngữ dòng Môn - Khơme phân bố chủ yếu ở vùng núi Nam Trudng Son (Bru, Katu, Tadi),
nhóm nông - Mạ (thường gọi là Bana Nam, gồm Mnong, Stiéng, Ma,
Cho ro) cu tré 6 nam Tay Nguyên, thuộc tỉnh Lâm Đồng và lân cận
Còn các tộc Nam Đảo (Jrái, Êdê) thì xen vào giữa nhóm Bana - Xơ
đăng ở phía Bắc và Mơ nông - Mạ ở phía Nam, cư trú chủ yếu ở trung tâm Tây Nguyên thuộc địa bàn tinh Dak Lak, Dak Nông và nam Gia Lai Ba vùng phân bố ba nhóm tộc người nói trên đã có ảnh hưởng tới các sắc thái địa phương của vùng văn hoá Tây Nguyên
- Các tộc người bản địa kể trên sinh sống từ rất lâu đời ở Tây
Nguyên Với những phát hiện mới hiện nay về khảo cổ học Tây
Nguyên, đã hé mở những thông tin về tiền sử vùng này, khiến nhận
Trang 8thức của chúng ta cần phải điều chỉnh Phát hiên di chỉ khảo cổ học Lung Leng cho thấy con người sinh sống ở đây ít nhất cũng từ hậu kỳ đá cũ, tương đương với văn hóa Sơn Vi ở Bắc Bộ Con
người đã sinh sống định cư ở Lung Leng đến tận thời sơ kỳ kim khí,
tương đương với văn hóa Đông Sơn ở Bắc Bộ và Sa Huỳnh ở ven biển Trung Bộ Con người thời đó đã biết tới kỹ thuật đúc đồng, chế tác công cụ Như vậy, con người Lung Leng thời tiền sử đã có bước tiến
xã hội không thua kém gì các nên văn hóa cùng thời Từ đó cũng đặt
ra câu hỏi là vì sao trong lịch sử Tây Nguyên đã từng đạt tới trình độ
phát triển cao, nhưng sau đó lại bị thoái hóa và lạc hậu như hiện nay?
Từ khoảng trước sau công nguyên, khi mà các tộc lớn ở Đông Nam
Á bước vào giai đoạn tiếp xúc văn hoá, một bên với thế giới Ấn Độ
(Caămpuchia, Thái Lan, Lào, Miến Điện, Ma Lai, Chămpa ) và một
bên khác với thể giới văn hoá Trung Hoa (Âu Lạc, Đại Việt ), thì ở Dong Nam Á lục địa, các tộc người Tây Nguyên hầu như còn đứng ngoài ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ và Trung Hoa, cho tới gần đây
họ còn bảo lưu khá nguyên ven văn hoá truyền thống của mình, một
nên văn hoá ít nhiều cho ta thấy "nguyên bản" văn hoá bản địa Đông Nam A cổ đại trước khi tiếp xúc với hai nền văn hoá làng giêng kể
trên
Cũng phải nói thêm rằng, việc phát hiện ra thánh địa Cát Tiên ở
giáp ranh giữa Lam Đồng và Bình Phước một trung tâm tôn giáo đã bị
Ấn Độ hóa cao, chứng tỏ vùng rìa phía nam Tây Nguyên cũng đã nằm trong quỹ đạo ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, đấy là chưa kể chúng ta đang đứng trước câu hỏi lớn : Ai là chủ nhân thánh địa Cát Tiên này? Tuy không trực tiếp chịu ảnh hưởng của hai nền văn minh Ấn Độ và Trung Hoa, nhưng ít nhất từ cuối thiên niên ky thứ nhất tới thế kỷ
Trang 9XVI - XVII, Tây Nguyên nởm giữa vàng tranh chấp và ảnh hưởng của quốc gia Chămpa và các vương triểu Cămpuchia Biên niên sử
Cămpuchia đã từng ghi các quan hệ phụ thuộc và cống nạp giữa các bộ
lạc Tây Nguyên với vương triều Cămpuchia Những ảnh hưởng của Champa đối với Tây Nguyên còn rõ rệt hơn, kể cả việc người Chăm của quốc gia này đã từng đặt chân tới Tây Nguyên và xây dựng vác
mộ táng và tháp Chàm rải rác ở xổ: #“y - Có người cho rằng, hiện
tượng vua Lửa (Miao Pui) và vua Nước (Miao Ea) của người - Trai và Êđê cũng có di vết của những ảnh hưởng của người Chăm trên mảnh đất này
Từ khoảng thế ky XVII - XVII tới nay, các dân tộc Tây Nguyên gắn bó mật thiết hơn với các triểu đại phong kiến Việt Nam và với người Việt ở vùng duyên hải miền Trung Triều Nguyễn đã từng áp dụng chế độ “Thuộc Quốc” và "Thuộc Man" đối với các tộc Tây Nguyên, thông qua chế độ thần thuộc và cống nạp Từ cuối thế kỹ này, người Việt di cư lên Tây Nguyên ngày càng đông, chiếm tỷ lệ từ trên 50% tổng số dân cư, tạo nên vùng xen cư giữa các tộc bản địa và
người Việt và các nhóm tộc người thiểu số từ miền núi phía bắc mới di
cư tới, khiến thành phần tộc người ở Tây Nguyên lên tới hơn 40 tộc người khác nhau
Nếu không kể tới người Việt hay các tộc người thiểu số khác mới di
cư tới, thì thành phần tộc người vùng Tây Nguyên cũng khá phức tạp
Tính phức tạp bởi số lượng các tộc người và các nhóm địa phương là
khá lớn, bởi các tộc lại thuộc hai đòng ngôn ngữ - dân tộc khác nhau:
Môn - Khơme và Nam Đảo Tuy thành phần tộc người phức tạp như
vậy, nhưng không ai có thể phủ nhận tính thống nhất văn hoá của Tây Nguyên
Trước nhất, tuy thuộc hai dòng ngôn ngữ - dân tộc, nhưng mối quan
Trang 10hệ nguồn gốc và lịch sử giữa chúng lại khá chặt chẽ, khiến một số nhà ngôn ngữ đưa ra giả thuyết cho rằng, hoặc các tộc Nam Đảo ở đây vốn
là Môn - Khơme sau đó bị Nam Đảo hoá, hoặc là các tộc Môn - Khơme ở đây gốc là Nam Đảo sau bị Môn - Khơme hoá Tuy giả thuyết này hay xia chưa được chứng minh, nhưng một thức tế là hai dòng ngôn ngữ - tộc người này có sự tương đồng rõ rệt về văn hoá, đấy
là chưa kể hàng nghìn năm nay sống cạnh nhau giữa họ đã có những mối quan hệ giao lưu, ảnh hưởng qua lại khá chặt chẽ
Mặt khác, quá trình tộc người ở Tây Nguyên đang diễn ra, nhiều tộc
người hay nhóm tộc người vốn xưa cùng gốc nay đang trong quá trình
phân li Cũng có trường hợp các nhóm người nhỏ đang trong quá trình
đồng hoá vào tộc người lớn sống kề cận, do vậy những tương đồng văn
hoá giữa họ là khá rõ nét, trong không ít trường hợp nếu xét về văn
hoá thuần tuý thì giữa họ không có sự khác biệt đáng kể nào Ở đây, vai trò của sự tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng là những nhân tố quan trọng góp phần tạo nên tính thống nhất về các đặc trưng văn hoá vùng
Một đặc trưng lớn nhất, cơ bản nhất, từ đó quy định những sắc thái văn hoá lớn của vùng Trường Sơn - Tây Nguyên là nếp sống nương
ray, nép sống chủ đạo và bao trùm lên toàn bộ các tộc người trong
vùng Nếp sống nương rẫy đó thể hiện trên nhiều phương diện Về kinh tế, đó là truyền thống canh tác nương rẫy trên vùng đất khô của
sơn nguyên, đó còn là phương thức canh tác bắt con người hoàn toàn
phụ thuộc vào hoàn cảnh tự nhiên, thích ứng nhạy bén với những thay đổi điều kiện tự nhiên và khí hậu Kinh tế nương rẫy là nền kinh tế ở trình độ thấp, đời sống con người thường thiếu thốn và bấp bênh Nếp sống nương rẫy, tạo cho con người gắn bó với môi trường rừng núi, đó
là môi trường sống, sinh tồn của mỗi con người, mỗi làng buôn, nó tác
Trang 11động tới đời sống vật chất, cũng như thế giới tỉnh thần của con người Nếp sống nương rẫy là nếp sống không ổn định, tạm bợ, nay đây mai
đó, quan niệm về "quê hương xứ sở" không giống như các tộc người
đã định canh, định cư Có thể nói toàn bộ đời sống vật chất cũng như
đời sống tinh thần của các dân tộc Tây Nguyên gắn bó với rừng núi và
nương rẫy Từ tín ngưỡng, lễ hội, phong tục, nghỉ lễ, đời sống tình cảm của con người gắn bó với rừng núi, khiến ta có thể nói tới văn hóa của
họ là "văn hóa rừng” Thay đổi nếp sống nương rẫy là thay đổi tận gốc
đời sống của con người
`- Về phương diện xã hội, nếp sống nương rẫy duy trì các quan hệ
xã hội cộng đồng, mà mô hình xã hội cơ bản của các tộc người bản địa Tây Nguyên là /àng buôn (tuỳ theo từng tộc người gọi cơ cấu xã hội
cơ bản này với các tên khác nhau, nhu budn, bon, pldy, mir .) Tuy
ngày nay, ở một vài tộc người bắc Tây Nguyên còn thấy dấu vết của tổ
chức xã hội trên làng, gọi là 7'7ing, liên kết từ nhiều làng, nhưng cơ
cấu xã hội truyền thống làng buôn vẫn là hiện hữu duy nhất
Mỗi buôn làng như vậy bao gồm nhiều gia đình lớn hay nhỏ, cu trú
trong một số nóc nhà, thậm chí cả làng chỉ có một nóc nhà dài của đại gia đình Theo các nhà nghiên cứu, ở các dân tộc Tây Nguyên tổn tại
mấy hình thức gia đình, đó là gia đình mẫu hệ, phụ hệ và song hệ, trong đó gia đình mẫu hệ là tiêu biểu và đặc trưng cho các tộc người ở
khu vực này Cơ cấu xã hội theo mô hình làng buôn, trong đó nổi bật
quan hệ cộng đồng là đặc trưng n€¿ bật của xã hội các dân tộc Tây
Nguyên Quan hệ cộng đồng làng buôn thể hiện trên 4 mối liên kết, đó
là liên kết trên cơ sở cư trú (cộng c#), cộng đồng sở hữu đất dai va loi ích các nguồn tài nguyên thiên nhiên (cộng lợi), cộng đồng về đời
sống tâm linh (cộng mệnh) và cộng đồng về văn hoá (cộng cảm) Trong môi trường xã hội như vậy, tổn tại các quan hệ bình đẳng, dân
10
Trang 12chủ của xã hội nguyên thuỷ, xã hội chưa phân hoá giai cấp và thiết lập chế độ người bóc lột người
Cũng do kinh tế nương rẫy và trình độ phát triển xã hội tương ứng
mà nền văn hoá các dân tộc ở đây chưa vượt qua trình độ nền văn hoá
“phi chữ viết" và "phi nhà nước”, nên toàn bộ văn hoá tộc người cơ bản vẫn là văn hoá dân gian, một nên văn hoá do mọi người sáng tạo
ra và phục vụ mọi người trong cộng đồng, chưa có văn hoá chuyên
nghiệp, bác học, quý tộc, chưa có những người chiếm đoạt các giá trị văn hoá dân tộc cho cá nhân và giai cấp, tầng lớp mình Bởi vậy, văn hoá Trường Sơn - Tây Nguyên là mẫu hình của một trình độ phát triển văn hoá của các dân tộc Việt Nam ở giai đoạn tiền nhà nước, tiền giai
cap (1)
Với trình độ phát triển kinh tế - xã hội như vậy, nên trình độ tư duy
và cùng với nó thế giới tâm linh ở đây cũng mang sắc thái riêng Nguyễn Tấn Đắc trong công trình nghiên cứu của mình về Tây Nguyên đã có lý khi cho rằng, tư duy các dân tộc Tây Nguyên còn ở trình độ tu duy thần bí (2) Tuy nhiên cũng cần nói thêm rằng, con người Tây Nguyên với quá trình lâu dài thích ứng và đấu tranh sinh tồn với hoàn cảnh tự nhiên, đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý báu, như kinh nghiệm về bảo vệ rừng, chốngxới mon đất, kinh nghiệm
xen canh, luân canh , nhưng những kinh nghiệm đó nhiều khi được
thần bí hoá, khoác ngoài lớp áo linh thiêng Trong hoàn cảnh con người còn bất lực trước tự nhiên và xã hội, nên cái tốt, điều xấu đều trông mong, tin cậy vào các điểm và báo mộng, làm cho hiện tượng điểm báo trở thành hiện tượng phổ biến thâm nhập vào toàn bộ đời sống kinh tế, xã hội và văn hoá của con người Đây cũng là sự ngự trị còn khá đậm nét của tư duy nguyên thuỷ
Bao bọc xung quanh thế giới thực của con người Tây Nguyên là mộ?
1) Ngô Đức Thịnh - Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá Việt Nam NXB KHXH H2004
2) Nguyễn Tấn Đắc - Bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống Tây Nguyên trên đường phát
triên NXB KHXH H1984
tt
Trang 13thế giới huyền ảo, ở đó ngự trị các than linh, ma quỷ, các linh hồn Đó
là một quan niệm vạn vật có linh hồn, một quan niệm tín ngưỡng sơ
khai của loài người trong xã hội nguyên thuỷ Ở Tây Nguyên, tiêu
biểu nhất cho quan niệm đó là mọi vật xung quanh con người đều có
Yang (hồn, thần), từ các vật dụng như chiêng, ché, ghế ngồi (kpan), đến cây cỏ, sông suối, đồi núi, các con vật Có yøng tốt phù hộ cho con người, có yøwg xấu, nếu con người làm chúng không vừa lòng thì
có thể làm hại Con người có thể nhận biết yzng qua giấc mơ và báo
mộng, nếu yzng báo mộng tốt thì người ta tin tưởng làm theo, còn nếu báo mộng xấu thì phải bỏ dở Chính quan niệm y#g của đồng bào các đân tộc Tây Nguyên đã tạo ra những giao cảm tính tế giữa người và
vật, nó nhân hoá mọi hiện tượng tự nhiên xung quanh mình, tạo ra
những xúc cảm, những tưởng tượng ảnh hưởng đáng kể tới đời sống văn hoá và những sáng tạo nghệ thuật Tuy nhiên, quan niệm vạn vật
có yang (thần linh) như thế này, cũng tạo ra những lớp bao quanh con
người những hồn, ma, khiến con người luôn lo sợ trước lực lượng siêu
nhiên#
2 Một số đặc trưng văn hoá
Các dân tộc Tây Nguyên có những nét tương đồng và khá đặc trưng
về quan niệm và ứng xử giữa thế giới người sống và người chết, từ đó
tạo nên cả một hệ thống những tập tục, nghĩ lễ, sinh hoạt văn hoá xung quanh thế giới người chết, tạo nên một hiện tượng văn hoá dân gian
mang tính tổng thể - sinh hoạt văn hoá nhà mồ
Xuất phát từ quan niệm con người chết đi, sau nhiều lần linh hồn luân chuyển, cuối cùng tái sinh trong đời sống của con cháu mình Ở người Êđê, Mnông, - -rai thì dấu hiệu tái sinh của tổ tiên về với con
cháu dưới hình thức giọt nước hay giọt sương Bởi vậy, trong lễ đặt tên
cho đứa trẻ, người ta thường lấy chiếc lá trên đó có giọt nước đặt trước
L) Ngô Đức Thịnh - Thực trạng bảo tồn văn hoá Tây Nguyên - Tạp chí Cộng sản số 5/2003
42
Trang 14mặt đứa trẻ trong khi làm lễ nhắc lại lần lượt tên của tổ tiên, tới khi
đứa trẻ dơ tay hay liếm môi, tức là đứa trẻ đã nhận linh hồn của tổ tiên
có tên như vậy và tên đứa trẻ đã chính thức được đặt Trong thời gian
chưa làm /ễ bỏ mỏ, thì theo quan niệm dân gian, hồn người chết vẫn
còn luẩn quần quanh người sống, chưa chịu trở về với tổ tiên, nên hàng ngày người sống phải cúng cơm, chăm sóc phần mộ người chết và việc
đó chỉ kết thúc sau khi làm lễ bỏ mả Lễ bỏ mả là cả một lễ hội lớn và tiêu biểu nhất của các tộc người Tây Nguyên Từ đây cũng sáng tạo ra nghệ thuật trang trí nhà mồ, tượng nhà mồ, các nhạc cụ và bài hát, điệu múa dành riêng cho sinh hoạt lễ hội nhà mồ
Lễ hội là sinh hoạt tín ngưỡng - văn hoá thường thấy ở tất cả các dân tộc Tây Nguyên, nó là mốc đánh dấu những hoạt động sản xuất
nương rẫy từ chặt cây, gieo hạt tới khi thu hoạch mang lúa về kho: là
mốc đánh dấu những sinh hoạt đời sống con người, từ khi đẻ, cưới xin, mừng sức khoẻ, tới lúc chết; là sinh hoạt cộng đồng, từ gia tộc tới cả làng buôn, như nghi lễ cúng bến nước, lễ cầu no đủ và sức khoẻ, lễ lên nhà mới Không như ở một số vùng dân tộc khác, ở Tây Nguyên
không nhất thiết có nghĩ lễ là phải có hội, mà nhiều khi chỉ là nghi lễ
thuần tuý Hệ thống nghỉ lễ gắn chặt với sản xuất nông nghiệp, nó chưa bị những nội dung xã hội, lịch sử hay tôn giáo xen vào Trong các lễ hội ở Tây Nguyên, nghỉ thức hiến sinh trở thành quan trọng và không thể thiếu được Ngày nay, người †a còn thấy một vài dấu vết của hiến sinh người, hay vào những năm nửa đầu thế ký XX, người ta còn
quan sát thấy tục săn đầu người khi thực hiện nghỉ lễ gieo hạt của người Karm Ngày nay, nghỉ lễ hiến sinh được thay bằng con vật, trong
đó quan trọng nhất là hiển sinh trâu Bởi vậy lễ hội đâm trâu là lễ hội
lớn và đặc trưng cho các dân tộc Tây Nguyên, mà ở người Việt hay
các dân tộc thiểu số khác nay không còn thấy nữa
Trang 15Như trên chúng tôi đã nói, văn hoá đán tộc Tây Nguyên cơ bản là
văn hoá dân gian, sinh hoạt văn hoá nghệ thuật cũng là văn hoá nghệ
thuật dân gian mang tính cộng đồng cao
Trong dòng tự sự dân gian các dân tộc người Tây Nguyên người ta
thường lưu ý nhiều hơn cả tới loại hình tự sự trường thiên, mà người
Êđê gọi hình thức diễn xướng này là Khan, người Mnông gọi là ớ
Ngrông, người Bana gọi la Hơmon, ˆ 3ral gọi là Hơri, người Mạ gọi
là Nôtông, người Raglai gọi là Akha Juka Theo kết quả khảo sát và sưu tầm cho tới gần đây, người ta đã sưu tầm được hàng trăm tác phẩm văn học dân gian kể trên ở nhiều dân tộc bản địa Tây Nguyên, như Xơ
Đăng, Bana, Gia rai, Êđê, Mnông, Raglai, Hiện tại đang có nhiều cách gọi khác nhau và từ đó xác định tính chất của loại hình văn học dân gian này, như sử thư, sử thi anh hùng, trường ca, truyền thuyết anh hùng Các tác phẩm sử thi đã phát hiện được ở các tộc người sinh
sống trên đất nước ta đều thuộc loại sử £h¡ cổ sơ, phân khác với sử thi
cổ đại Ngay trong loại sử thi cổ sơ đó, cũng có thể phân chia thành
hai đạng, sử thí sáng thế, mà tiêu biểu là Ot Ndrông của người Mnông
và sử thi anh hàng, đại điện là sử thì Êđê Hơn thế nữa, sử thí Tay Nguyên là sử thi “vống”, tức là nó còn được truyền tụng và diễn xướng
trong sinh hoạt cộng đồng Đây cũng là một trong những hiện tượng văn hoá nổi bật và đặc trưng nhất của Tây Nguyên mà người trong nước cũng như nước ngoài đã biết tới qua các sử thì anh hùng đã xuất
bản, như Đăm San, Khính Dú, Xinh Nha, Đông Tư, Đămte Plan Ngoài các tác phẩm đã sưu tầm và dịch ra tiếng Việt và tiếng nước
ngoài, còn có nhiều tác phẩm đã và đang sưu tầm và tổ chức dịch
thuật, càng ngày càng làm giầu có thêm kho vốn sử thi Tây Nguyên,
đóng góp vào sử thì Việt Nam và sử thi thế giới @
Điều đáng nhấn mạnh là, sử thi Tây Nguyên không chỉ là hiện
1) Ngô Đức Thịnh Sử thi Tây Nguyên, phát hiện và vấn để Tạp chi VHDG sé nam 2002
14
Trang 16tượng thuần tuý văn học dân gian, mà còn là hiện tượng văn hoá dân gian nữa Trong buôn làng các dân tộc Tây Nguyên có những nghệ
nhân kể Khan, kể ót Nrông, họ có trí nhớ đặc biệt, có thể thuộc hàng
nghìn câu thơ, có giọng kể hay Vào những dịp lễ hội, mừng nhà mới,
cưới xin, ma chay người ta thường tổ chức hát kể sử thi, đêm hát kể
có thể kéo dài suốt tới sáng, có khi liên tục nhiều đêm Mọi người trong buôn, từ già tới trẻ tập trung ở nhà Rông hay phần công cộng của nhà đài say mê ngồi nghe, dõi theo từng lời, thưởng thức giọng ngâm
của nghệ nhân Đêm hát kể sử thi bao giờ cũng có những hũ rượu cần, người ta thay nhau, từ già tới trẻ vừa thưởng thức vị rượu ngọt nồng
vừa nghe lời kể khan trầm bổng chan hoà trong ánh lửa bập bùng giữa
căn nhà sàn Đó là sinh hoạt kể Khan, một hình thức sinh hoạt văn hoá
cộng đồng tiêu biểu của người Êđê và các hình thức diễn xướng hát kể
khác của các dân tộc Tây Nguyên
Trong kho tàng tự sự dân gian cũng như trong đời sống hàng ngày
của các dân tộc Tây Nguyên, hình thức /ời nói vần rất phát triển
Người Êđê gọi là KJ4ydué, còn người Mnông thì là Wøo Đưing Lời nói
có vần thâm nhập vào hầu hết các loại hình tự sự dân gian, như truyện
cổ, sử thi, dân ca, tục ngữ, truyện cười, luật tục, gia phả dòng họ Nó
cũng là câu nói dùng để ví von, ẩn dụ được người ta dùng xen ghép
vào ngôn ngữ thường ngày Hình thức lời nói vần này chứa đựng những nội dung phong phú, đa dạng, như về thiên nhiên, đạo lý, quan
hệ xã hội, kinh nghiệm sản xuất, tình yêu trai gái Như để nói tới cái
gi đó that dổi đào, phong phú, người Êđê xen câu kiáyduê:
Gà như lá rụng thang tam
Heo như dưa hấu thắng năm
Còn người Mnông thì diễn tả cái chân lý bình thường qua cau nao dưng:
1S”
Trang 17Muốn có lúa phải làm rấy
Muốn có sóc phải làm ná
Muốn có cá, có ếch phải đan lưới
Muốn có chuột phải đặt bẫy
Về cấu trúc, lời nói vần thường có cấu trúc cặp đôi đối xứng về cả vần điệu cũng như ý nghĩa câu trước và câu sau Tuy nhiên, lời nói vần cũng có khi tạo nên kết cấu mở, để một mặt, bản thân câu nói vần đó vẫn có thể phát triển tiếp về vần điệu và ý nghĩa, tạo nên một bài gồm
nhiều câu tương đối hoàn chỉnh; mặt khác, nó cũng có thể tách rời ra
để xen ghép vào các thể loại khác, tạo nên thể thống nhất về ý nghĩa
và vần điệu Thí dụ một câu øzø đring tương đối dài thể hiện một ý
hoàn chỉnh về quan hệ hoà hợp giữa con người trong một cộng đồng:
Anh với tôi đừng xa cách
Như nồi với cơm
Như bã với rượu
Như guồng với chỉ
Cây nhuộm răng với răng
Vì chúng ta cùng con chị con dì
Như bên phải bên trái
Như lúa cùng gốc, cùng nhánh
16
Trang 18Mẹ cùng sinh, đầu tóc cùng gốc
Chiếu trải cùng ngủ
Củng một dân tộc với nhau
Trong khi hoà giải giữa những người cùng dòng máu, cội nguồn, người ta cũng có thể viện dẫn câu møzo đring này để khuyên giải hai
bên
Về phương diện ngôn ngữ, lời nói vần là hình thức trung gian giữa
lời nói thường ngày và ngôn ngữ thơ ca Bởi vậy, nó là câu nói ví von, bóng hẩy, giầu âm điệu trong ngôn ngữ thường ngày, lại vừa là câu nói
thường ngày đã được hình tượng hoá, khái quát hóa để thâm nhập vào
ngôn ngữ thơ ca, ngôn ngữ văn học Đặc biệt với các tộc người chưa
phát triển chữ viết thì hình thức này càng phát triển, tạo cho ngôn ngữ
giầu hình ảnh và dễ nhớ, dễ lưu truyền Về hình thức tư duy, đây là
duy khái quát cụ thể, một hình thức tư duy đặc trưng của các tộc người
đang chuyển từ xã hội nguyên thuỷ sang xã hội văn minh
Ngoài hai hiện tượng nổi bật và đặc trưng cho dòng tự sự dân gian
Tay Nguyên kể trên, chúng ta cũng có thể đi vào rất nhiều thể loại tự
sự dân gian và qua đó cũng có thể phát hiện được các sắc thái đặc
trung ving Có thể nói trong các tộc người Tây Nguyên là kho vốn vô
tan về các huyền thoại, thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, dân ca, tục
ngữ, truyện cười Đó là các "sản phẩm" còn khá nguyên sơ, chưa bị
ảnh hưởng ngoại lai làm pha tạp như các dân tộc phát triển khác
Cũng như ở nhiều tộc người khác, các tộc người Tây Nguyên còn
truyền tụng các huyền thoại suy nguyên nguồn gốc loài người Khác
với vùng núi phía bắc phổ biến huyền thoại Quả bẩu mẹ và sau đó là
nạn hồng thuỷ và sự tái sinh của loài người, thì ở Tây Nguyên mô típ này hầu như vắng bóng, lại thường gặp mô típ truyền thống cứu con
người khỏi nạn hồng thuỷ và con người lấy chó để tát sinh loài người
⁄
Trang 19Trong một số tộc người nói ngôn ngữ Môn - Khơme còn lưu truyền
quả trứng thần kỳ sinh ra loài người, có nét nào đó giống với huyền
thoại bọc trứng sinh ra trăm con của dân tộc Việt và Mường
Trong thần thoại các dân tộc Tây Nguyên chứa đựng những quan
niệm thế giới và hệ thống các vị thần Ở người Bana, grai, Êđê
Mnông đều quan niệm vũ trụ hợp thành từ ba (hế giới: thế giới bên dưới, thế giới của con người và thế giới của thần linh, mà ở người Bana cột cây K/zo dựng ở nhà mồ chính là hình ảnh thu nhỏ của ba thế giới
đó Với Êđê thì mỗi thế giới như vậy lại có các cặp thần linh trị vì: Miao Kơ trị vì tầng trời, Miao Tolua va Ae Mogo Han tri vi tang dat, Bangdobai va Bangdobung wi vi tang dudi dat @
Các dân tộc Tây Nguyên có tiểm năng nghệ thuật to lớn, con người Tây Nguyên là những con người có năng khiếu nghệ thuật, một nền
nghệ thuật còn tươi rói chất tự nhiên thuần khiết, hồn nhiên và mộc
mạc mà nhiều nền nghệ thuật phát triển cao đã "đánh mất" nay đang
có khuynh hướng tìm trở lại cái chất tự nhiên ấy Đã có không ít các
nhạc sĩ đã nói rằng, mỗi con người Tây Nguyên là một nghệ sĩ, nhạc sĩ
thực sự, họ có thể vừa hát, múa, sử dụng từng nhạc cụ hay tham gia
dan nhạc cổng chiêng một cách thành thạo Năng khiếu âm nhạc có
trong mỗi con người vùng này
Về am nhạc, người ta thường nhắc tới nhạc cụ gõ, trong đó cổng
chiêng là tiêu biểu Sự phong phú và đa dạng nhạc cụ gõ của Tây
Nguyên gắn liên với các chất liệu tự nhiên phong phú: tre, nứa, gỗ, vỏ
bầu Nhạc cụ gõ cũng là hiện tượng âm nhạc hoá âm thanh và tiết tấu
của cuộc sống lao động, mà đặc trưng ở đây là giã gạo chày tay, cây
đàn /2rng nước, fơrưng gió, klong pút, đàn kôk đều có nguồn gốc từ
các dụng cụ đuổi thú trên nương rẫy Trong các nhạc cụ hiện có của
Tây Nguyên, có lẽ nhạc cụ gõ được dùng gắn với sinh hoạt tín ngưỡng,
1) Ngô Đức Thịnh (chủ biên) Văn hoá dân gian Êđe NXB VHDT, H1992
48
Trang 20nghi lễ, sinh hoạt cộng đồng mang tính linh thiêng Trong các nhạc cụ
gõ, cổng chiêng là nhạc cụ tiêu biểu nhất Hầu hết các tộc người ở Tây
Nguyên còn dùng chiêng thành dàn, thành bộ, gồm chiêng có núm và
chiêng không có núm Những gia đình khá giả có tới 2- 3 bộ Cách
thức dùng chiêng, cũng có sự khác biệt giữa một số dân tộc, như các
tộc Bana, Xơ Đăng vừa đi cúi lom khom vừa đánh chiêng, còn người Edé thi ngồi đánh chiêng Âm điệu, bài bản của dần chiêng cũng có
sự khác biệt giữa các dân tộc Ngoài chức năng là một nhạc cụ, cồng chiêng còn là một tài sản, một biểu tượng “@wyền uy", uy tin trong
cộng đồng, một với linh thiêng, mà mỗi khi dùng đến đều phải xin phép thần linh Cồng chiêng có mặt trong hầu hết các nghi lễ của cộng
đồng, nó gắn bó với mỗi con người ở đây từ khi cất tiếng khóc chào
đời tới khi nhắm mắt xuôi tay
Hiện tại, ở Tây Nguyên, nhất là vùng phía nam, đá tìm được nhiều
bộ đản đá, có từ 3 đến 5, 7, 9 thanh Nó có kết cấu âm thanh tương tự như cồng chiêng, gọi là đá thiêng, đá kêu hay đá ông bà dùng trong
một số dịp nghỉ Ìé cộng đồng hay là dụng cụ tạo âm thanh duổi thú
rừng Bộ đàn đá có cấu trúc dựa trên nhóm cơ bản gồm 3 thanh Cũng
đã có hiện tượng có sự nối tiếp giữa hai nhóm 3 thanh, tạo thành bộ
đàn đá 6 thanh Cấu trúc này hoàn toàn phù hợp với cấu trúc phổ biến của nhiều dần chiêng của các tộc người Êđê, Mnông, Raglay, Mạ, Bana Phải chăng cấu trúc ba đơn vị trong dàn nhạc gõ tồn tại như một hiện tượng phổ biến ở Tây Nguyên ít nhất cũng từ 3000 năm trở lại đây? ,
Một hiện tượng khá độc đáo của âm nhạc cổng chiêng Tây Nguyên
là tất cả các tộc người ở đây đều không đúc và chế tác cồng chiềng,
mà phải mua từ người Việt ở Trung Bộ, người Khơme ở Caămpuchia,
người Lào ở Nam Lào Khi mua về, trong cộng đồng các tộc người Ở
1) Sé VHTT Dak Lak - Dan dé Dak Ka - 1987
4g
Trang 21đây có những người (Pó chỉnh) có khả năng chỉnh lại âm thanh của
chiêng sao phù hợp với sở thích âm nhạc truyền thống của dân tộc
mình Họ có đôi tai "âm nhạc” thật đáng kính phục!
Nghe âm nhạc Tây Nguyên, dù là người không am hiểu chuyên môn cũng đều nhận ra ngay sắc thái riêng và độc đáo của nó Vậy nét riêng và độc đáo đó là gì? Theo các nhà nghiên cứu, âm nhạc Tây Nguyên đã hình £hành ngôn ngữ âm nhạc độc đáo, giầu bản sắc, dựa
trên một hệ thống thẩm mỹ cao và một tư duy âm nhạc khá phát triển
Về nhạc cụ, nó bao gồm tập đoàn khá đa dạng, tận dụng mọi khả năng sẵn có của tự nhiên tạo ra nhạc cụ có tính năng và hiệu quả cao, âm sắc đẹp, cường độ âm thanh với nhiều mức độ, cho ta một ý niệm về
con đường hình thành từ thời cổ với óc sáng tạo lớn của con người
Âm nhạc Tây Nguyên giầu âm thanh tự nhiên, phát hiện và sử dụng thành công chuỗi bổi ám tự nhiên, khiến cho âm nhạc toát ra lên một
vẻ đẹp hồn nhiên, mộc mạc # Âm nhạc ở đây cũng tạo ra sự kết hợp
hài hoà giữa cá nhân mà mỗi người có thể thể hiện tài năng sáng tạo
của mình, thì dàn nhạc cồng chiêng là một hình thức hoà âm tập thể
đạt trình độ cao, trong đó mỗi con người diễn xướng theo một mất
xích trong toàn bộ guồng quay âm nhạc
Trong nền nghệ thuật múa của các dân tộc Việt Nam, múa của các
tộc người Tây Nguyên tạo nên một mảng mầu khá phong phú và độc đáo, không thể lẫn với các tộc người khác, dù là múa của người Chăm, Khơme ở kể cận Những điệu múa Katu, Pacô, múa của người Bana, Jrai đã từng xuất hiện nhiều lần trên sân khấu cả nước và quốc tế Với người Giaral, trẻ lên ba tuổi đã học hát, 5 tuổi đã học múa cho tới khi 60 - 70 tuổi, còn sống và còn sức khoẻ thì còn ham nhảy múa ở
người Trai cũng như Bana, múa là nội dung sinh hoạt văn hoá chính
của các buổi lễ bổ mả, các lễ hội đâm trâu, thậm chí ngay trong các
1) Thuy Loan - Âm nhạc Tây Nguyên, mấy suy nghĩ và cảm xúc tạp chí NCVHNT - Số 6/1990
24
Trang 22ngày vui gia đình, đón khách quý cũng có thể nhảy múa Họ có thể
múa trong nhà zông, ngoài bến nước, ngoài nghĩa địa Có nhiều hình
thức múa, múa nghi lễ, múa cho từng giới, múa chung nam nữ Trống
đa và dàn chiêng thường là nhạc cụ chính dùng cho múa Với vùng Tây Nguyên, người ta thường thấy các tộc người Môn-Khơme ở Trường Sơn và bắc Tây Nguyên có nhiều hình thức múa phong phú và
đa dạng hơn các tộc người ở : nam Tây Nguyên
Múa của Tây Nguyên mang chất liệu khoẻ khoắn, hồn nhiên, mộc mạc, kết hợp cả động tác tay và chân chứ không chỉ động tác tay mềm mại như ở nhiều vùng khác Múa tập thể, thường là múa vòng tròn,
trong ngày hội múa xoay quanh cột đâm trâu hay nhà rông, thường di
chuyển ngược chiều kim đồng hồ Âm nhạc múa có tiết tấu, nhạc cụ là chiêng và trống, nên gây cảm giác khoẻ khoắn, trầm hùng
Người Tây Nguyên có một nền nghệ thuật tạo hình và kiến trúc
mang sắc thái riêng và khá độc đáo Ô Trường Sơn người ta thường thấy các ngôi nhà công cộng (Gươi) với mái tròn khum mu rùa, đầu hồi trang trí con chim thần mang phong cách Đông Sơn (Ngô Đức Thịnh, 1982), ở bắc Tay Nguyên là những ngôi nhà rông (nhà rong trống và nhà rông mái) đáng mái cao vút hình lưỡi rìu, vượt hẳn lên trên mái các ngôi nhà sàn trong làng, trên mái nhà rông, cầu thang lên xuống, trong nhà trang trí nhiều motip hoa van Con 6: nam Tây Nguyên thì đặc trưng bởi các ngôi nhà đài, xưa kia có ngôi nhà đài hàng trăm mét, “đài như một tiếng chiêng ngân”, "dài hơn một thôi ngựa chạy”, trong đó sinh sống nhiều gia đình và một phần của ngôi
nha (gar) danh cho sinh hoạt cộng đồng Ngôi nhà của Lae mang hinh
dáng con thuyền, trên cột nhà, cầu thang lên xuống trang trí hình cối, chày, mặt trăng, bầu sữa
Có lẽ nhiều tài năng sáng tạo nghệ thuật và kiến trúc của người Tây
Trang 23Nguyên dành cho ngồi nhà mỏ Nhà mồ và trang trí nhà mồ là đặc trưng chung của hầu hết các tộc sinh sống ở Tây Nguyên, tuy nhiên, ở
mỗi vùng, mỗi tộc người cũng có sắc thái riêng, trong đó nhà mồ vùng bác Tây Nguyên là đặc trưng và phong phú hơn cả, với kiến trúc nhà
mồ, tượng nhà mồ, trang trí nhà mồ Nhân đây cũng nêu thêm một đặc trưng của các tộc người Tây Nguyên trong quan hệ giữa người sống và
người chết Ngoài nghệ thuật trang trí nhà mồ, tượng nhà mồ, thì nhiều
bài dân ca, điệu múa, một số nhạc cụ chỉ được dùng khi tiến hành các nghi lễ ở nhà mồ, cấm dùng trong làng, trong nhà
Trang trí và tượng nhà mồ rất đa dạng về kiểu loại, đó là những hình
khối, những hình trang trí, những tượng gỗ Hai bên cửa vào nhà mồ
thấy tượng cặp nam nữ, thường là khoả thân, mô tả các bộ phận sinh dục, những tượng người ngồi xổốm, hai tay ôm má, mang tính sầu tư,
giống như tư thế đứa trẻ ngồi trong bào thai; nhưng tượng ở các ngôi
mộ của tù trưởng, giống như tượng nô lệ đi hầu hạ người đã chết, sau
này có cả tượng hình lính Mỹ- Ngụy, máy bay, ôtô, xe máy Những
lớp tượng nam nữ, tượng ngồi giống bào thai mang ý nghĩa phồn thực
và tái sinh của người đã khuất Phong cách tạc tượng và trang trí nhà
mồ không theo lối tả thực, mà đã hình học hoá, cách điệu hoá thông qua các hình khối và đường nét "thô phác” Những tượng nhà mồ và trang trí nhà mồ có nhiều nét giống trang trí và tượng của cư dân hải đảo Đông Nam Á, các quần đảo Thái Bình Dương
Các tộc người Trường Sơn - Tây Nguyên mang nhiều nét độc đáo trong trang phục và trang trí thực dụng Điều dễ nhận thấy hơn cả là ở
đây, không kể dân tộc nào, đều ưa mặc y phục thuộc loại choàng quấn, một loại trang phục khá cổ sơ, rất đặc trưng cho trang phục các
tộc bản địa Đông Nam Á, mà ngày nay không còn thấy ở các tộc người ở vùng khác trên đất nước ta Đó là các loại khố, váy mảnh (váy
22
Trang 24không khâu thành ống), tấm choàng, các loại áo chui đầu (pônxô)
Trang trí trên cơ thể vừa cho đẹp, vừa mang tính nghỉ lễ, như xăm
mình, cà răng, căng tai, đeo các loại vòng, kể cả vòng ống ở tay, chân,
cổ Cũng như nhiều tộc người thiểu số khác, họ ưa thêu và dệt hoa văn
trên váy, khố, tấm choàng, áo tuy nhiên, phong cách trang trí hoa văn, bố cục và hoa tiết trang trí có nhiều nét khác với trang trí của
người Thái, Mường, Hmong, Dao ®-
Nói tới Tây Nguyên, thường người ta nghĩ tới một hình ảnh con voi
và cái gùi, nó thường gắn bó với đời sống bình thường của người dân, lại vừa mang một biểu tượng tinh thần, gắn với phong tục các dân tộc
Người Tây Nguyên, đặc biệt là người Êđê Mnông có vốn tri thức phong phú về săn voi và thuần dưỡng voi, sử dụng nó vào công việc vận chuyển giúp ích cho con người Những người săn voi và thuần dưỡng voi được xếp theo thứ hạng căn cứ vào tay nghề và chiến công
của cả.cuộc đời họ Ở các tộc người này, hình thành những phong tục
và nghi lễ liên quan tới con voi, là con vật đứng hàng đầu các con vật
mà hàng năm có nghỉ lễ và cúng bái riêng
Người Tây Nguyên ra khỏi nhà là thấy mang theo cái gùi, nó là vật bất ly thân, trong mỗi gia đình, từng người có gùi riêng của mình, là vật dụng đã được “cá thể hoá” Gùi có nhiều loại, dùng vào nhiều
công việc khác nhau, như trữ đồ đạc, mang đồ vật từ nơi này tới nơi
khác, dùng khi săn, đi chợ, đi thăm hỏi, đi nương rẫy Gùi không chỉ
là vật mang vác, còn là đồ mỹ thuật, trên đó trang trí hoa văn đẹp, làm tăng thêm nét duyên dáng cho các cô gái, chàng trai Tuỳ theo từng
tộc người mà hình đáng, đế gùi cấu tạo khác nhau, màu sắc và trang trí hoa văn có nét riêng Nét chung của gùi ở Tây Nguyên là gủi quai đeo qua vai, chứ quai gùi không tì vào trấn như nhiều dân tộc ở miền núi phía bắc: @
1) Trần Từ, Hoa Văn Mường NXB VHDT H1978
2) Ngô Đức Thịnh - Tìm hiểu nông cụ cổ truyền Việt Nam NXB KHXH H1996
25
Trang 25Một hiện tượng đặc sắc nữa của văn hoá Tây Nguyên, vừa mang
tính xã hội vừa mang tính văn hoá là iuật rc Cơ cấu xã hội các dân
tộc Tây Nguyên là cơ cấu công xã láng giểng kiểu buôn, bon, pÌay
(làng), trong đó bao gồm các gia tộc phụ hệ hay mẫu hệ, tàn dư gia đình lớn còn thấy rõ nét ở nhiều tộc người Xã hội xây dựng trên cơ sở công hữu và cộng đồng, điều hành xã hội theo luật tục Ở các tộc Giarai, Êđê, Mnông, luật tục đã định hình, lưu truyền đưới hình thức
văn vần Bộ luật Êđê đã được người Pháp sưu tầm và dịch ra tiếng
Pháp với 236 điều @ ; bộ luật Giarai cũng được người Pháp sưu tầm
và dịch ® Riêng bộ luật Mnông thì những năm gần đây mới được
tác giả của công trình này sưu tầm và công bố
Trong bơn, buôn, pilây có những người thông thuộc luật tục mà
người Việt thường gọi là người xử kiện Người Êđê gọi luật tục là Phạt
kđi, người Mnông gọi là Phại kiuôi Trong khi xử kiện, các bước luận
tội, gỡ tội đều được đọc lên thành văn vần, giọng như giọng ngâm, trầm hùng, đầy tính thuyết phục Sau khi xử kiện xong, đều có nghi lễ cúng thần để hoà giải hai bên, tạo nên hoà khí trong sinh hoạt cộng đồng
Đó là những đặc trưng tiêu biểu nhất của vùng văn hoá Trường Sơn
- Tây Nguyên, qua đó chúng ta có thể dễ dàng phân biệt nó với các vùng văn hoá khác trên đất nước ta
3 Các khuynh hướng biến đổi văn hoá Tây Nguyên hiện nay
Như trên đã nói, trong lịch sử Tây Nguyên đã từng là khu vực văn
hoá "phi Hoa, phiẦn", tuy nhiên như thế không có nghĩa Tây Nguyên
là khu vực hoàn toàn biệt lập Tây Nguyên, ngoài mối quan hệ với các vương triều Cămpuchia, Chăm Pa thời kỳ trước sau thiên niên kỷ I sau
CN, thì theo những tư liệu lịch sử mà chúng ta biết được, các thủ lĩnh Tây Nguyên đã có quan hệ với phong kiến Đại Việt vào thời kỳ Lý-
1) Ngô Đức Thịnh (chủ biên) Luật tục Êđê NXB CTQG, H1996
2) Phan Đăng Nhật Luật tục Gia Rai - Sở VHTT Gia Lai 2001
3) Ngô Đức Thịnh (chủ biên) Luật tục Mnông NXB CTQG, H1998
24
Trang 26Trần (thế kỷ XII-XIT) Tuy nhiên, mối quan hệ ấy thực sự trở nên
thường xuyên hơn là từ thời nhà Nguyễn
Thực dân Pháp xâm lược và đô hộ các nước Đông Dương đã bước
đầu lôi kéo Tây Nguyên vào quỹ đạo của chủ nghĩa thực dân phương Tây tư bản chủ nghĩa Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Mỹ giải phóng dân tộc của nhân dân ta suốt một thế kỷ đã thực sự gắn kết
máu thịt Tây Nguyên với Tổ quốc Việt Ñam Sau năm 1975, đất nước
được giải phóng và thống nhất, Tây Nguyên cùng cả nước xây dựng và
phát triển đất nước theo con đường công nghiệp hoá và hiện đại hoá
Trong bối cảnh chính trị và xã hội đó, nhất là vào những thập kỷ gần đây, văn hoá các tộc người Tây Nguyên biến đổi nhanh theo những xu hướng khác nhau, thậm chí trái ngược nhau Theo chúng tôi
có 4 xu hướng chính trong biến đổi văn hoá các tộc người ở Tây
Nguyên
Giao lưu và ảnh hưởng văn hoá
Đó là một trong những khuynh hướng và tắc nhân quan trọng đối với sự biến đổi văn hoá của các dân tộc ở nước ta nói chung và Tây Nguyên nói riêng hiện nay Tuy nhiên, khác với tất cả các giai đoạn lịch sử trước kia, quy mô và cường độ của giao lưu ảnh hưởng văn hoá
đã mở rộng và mạnh mẽ hơn rất nhiều Những giao lưu, ảnh hưởng này
diễn ra giữa các tộc người trong vùng, giữa người Kinh và các tộc người Tây Nguyên, giữa Tây Nguyên với các đô thị và xa hơn với
quốc tế nữa Cường độ giao lưu diễn ra nhanh chóng, sôi động, thậm chí trở thành sức ép, khiến sự ảnh hưởng và tiếp nhận mang tính "áp đặt" một chiều, không có điều kiện "tiêu hoá" Cơ chế tự nhiên của
quá trình tiếp nhận cái mới vào văn hoá tộc người là : Đan xen, hỗn
dung, lua chọn, tái tạo, liên kết hoá thì nay cũng bị đảo lộn và rút ngắn
Trang 27Nguyên nhân của hiện tượng này là do sự phát triển của giao thông, thông tin đã thực sự rút ngắn khoảng cách và phá bỏ mọi sự biệt lập
dan tộc Đặc biệt, ở Tây Nguyên quá trình phân bố lại dân cư trên địa
bàn lãnh thổ nửa thế kỷ qua, nhất là từ sau 1975 tới nay, đã phá vỡ
"lãnh thổ tộc người” truyền thống, tạo nên hình thái cư frú xen cài giữa các tộc người, trong đó tỷ trọng người Kinh càng ngày càng chiếm tỷ
lệ cao, đã là tác nhân quan trọng nhất tạo nên diện mạo dân cư, dân
tộc và quá trình giao lưu ảnh hưởng văn hoá
Giao lưu ảnh hưởng văn hoá giữa các tộc người nội vùng Tây Nguyên và với bên ngoài có tác động nhiều mặt, cả tích cực và tiêu
cực Trước nhất, giao lưu, ảnh hưởng góp phần thúc đẩy quá trình xích
lại gần nhau và hiểu biết giữa các dân tộc, là tác nhân quan trọng thúc
đẩy nhanh quá trình biến đổi văn hoá truyền thống các dân tộc, khiến
cho nhiều hiện tượng và giá trị văn hoá mới đã thâm nhập và phát huy tác dụng trong đời sống, như về ngôn ngữ, chữ viết, giáo dục, khoa học, về ăn, mặc ở, đi lại, sinh hoạt văn hoá và vui chơi giải trí
Tuy nhiên, do cường độ và phạm vì của giao lưu, ảnh hưởng mạnh
mẽ và rộng lớn, đã tạo ra sự choáng ngợp, nhiễu loạn giữa cái mới và
cũ, cái hiện đại và cái cổ truyền, trong khi cái mới, cái từ bên ngoài và cái hiện đại ở trình độ phát triển cao hơn, áp lực mạnh mẽ hơn, khiến
chủ thể tiếp nhận văn hoá không có điều kiện và thời gian để lựa chọn,
tiếp thu và tái tạo, liên kết hoá Hậu quả tất yếu là cái cũ, cái truyền thống, cái nội lực bị lấn át, áp đảo, thậm chí chủ nhân văn hoá bị ngộ
nhận, chối bỏ quay lưng lại với truyền thống, còn cái mới thì xô bồ, chưa được lựa chọn, ồ ạt chiếm lĩnh đời sống văn hoá các tộc người
Đứt gấy giữa truyền thống và hiện đại trong quá trình đổi mới văn
hoá các tộc người
Đó là sự đổi mới văn hoá truyền thống điễn ra một cách bình
2£
Trang 28thường, có nghĩa là không có kế thừa và phát triển, không có tiếp thu
và loại bỏ, mà thường là sự đan xen hỗn loạn giữa cái cũ và cái mới, không tạo nên sự liên kết hữu cơ giữa chúng với nhau, cái cũ mất đi, cái mới chưa hình thành, tạo nên sự i„r hãng trong đời sống văn hoá
và hệ quả thường là đời sống văn hoá của nhân đân bị suy kiệt và trở nên nghèo nàn Do vậy, nhiều truyền thống, giá trị và di sản văn hoá quý báu đã và đang bị mất đi nhanh chóng, thậm chí ngộ nhận dẫn đến tình trạng chủ nhân của nó quay lưng lại chối bỏ cái vốn có của dân
tộc mình Trên bình diện quan hệ xã hội, nhiều chuẩn mực đạo đức và
ứng xử gắn với xã hội cổ truyền nay đã lỗi thời và đang dần mất đi, tuy nhiên các chuẩn mực ứng xử của xã hội mới lại chưa hình thành và
định hình, khiến trong quan hệ xã hội những giá trị đạo đức dễ bị lệch
chuẩn, đảo lộn và nhiễu loạn
Đây là xu hướng biến đổi văn hoá mang tính chung ở hầu khắp các
tộc người ở nước ta, tuy nhiên với Tây Nguyên tình hình trở nên trầm
trọng hơn Đó là vì : a) Các tộc người bản địa Tây Nguyên từ một xã
hội phát triển thấp nay tiếp cận với xã hội kinh tế thị trường phát triển
nhanh chóng khiến họ chưa kịp tự bảo vệ, nên dễ bị tổn thương và ngộ
nhận, b) Tình trạng di dân ô ạt, cư trú xen cài đã làm tăng lên ở mức
cao quá trình giao lưu, đồng hoá văn hoá giữa các tộc người, nhất là giữa người Kinh với các dân tộc thiểu số, dẫn tới tình trạng nhiễu loạn
trong biến đổi văn hoá
Khuynh hướng đông hóa tự nhiên về văn hoá
Đồng hoá tự nhiên là một quá trình tiếp xúc, giao lưu ảnh hưởng
văn hoá tự nhiên giữa các tộc người, thường là giữa các tộc người có
dân số lớn, trình độ phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá cao hơn các tộc người hay nhóm nhỏ tộc người láng giềng, dẫn đến tình trạng, các
tộc người hay các nhóm nhỏ tộc người đó tiếp thu văn hoá của tộc
27
Trang 29người có trình độ phát triển cao hơn, thậm chí các tộc người nhỏ ấy có
thể bị đồng hoá một phần hay hoàn toàn vào các tộc người lớn hơn và
tự coi mình là thành viên của tộc người ấy Đây là hiện tượng thường thấy trên thế giới, nhất là trong diéu kiện xã hội có giai cấp, mà theo V.I Lênin thì đồng hoá tự nhiên là tiến bộ để phân biệt với đồng hoá cưỡng bức là phản tiến bộ
Theo chúng tôi, ở Tây Nguyên hiện nay đã và đang diễn ra hai quá
trình đồng hoá tự nhiên, đó là :
- Các nhóm tộc người nhỏ bản địa, thường là các nhóm địa phương
của các tộc hiện đang sinh sống ở các vùng ráp ranh giữa các tộc người lớn, như giữa người Ba na với Irai, - yrai với Êđê ở Phú Yên
và Ea Hleo ở Dak Lak, giữa người Êđê với Mnông ở Đắk LắK, người Bih nằm giữa người Êđê và Mnông ở Đắk Lắk, người Stiêng với
Mnông ở Bình Phước, nhất là các nhóm địa phương, như người Lạt, Chil nằm giữa người Mnông và Eø ho ở Lâm Đồng Quá trình đồng hoá tự nhiên giữa các nhóm bản địa vốn trình độ phát triển không chênh lệch nhau lắm, nên không diễn ra mạnh mẽ và đặc trưng, do vậy cũng không dẫn đến sự đảo lộn đáng kể nào về diện mạo văn hoá Tây
Nguyên
- Có lẽ mạnh mẽ hơn và dễ gây ra những thay đổi lớn về sự biến đổi
văn hoá Tây Nguyên là quá trình đông hoá tự nhiên giữa văn hoá
người Kinh và các tộc người bản địa Quá trình này lại được quan niệm đồng nhất với xu hướng hiện đại hoá văn hoá của các tộc người
thiểu số, coi "Kinh hoá” tức là hiện đại hoá, nói cách khác, các tộc
người thiểu số muốn hiện đại hoá phải qua cái cửa "Kinh hoá”, cũng giống như người Việt muốn hiện đại hoá phải qua cái cửa "Tây hoá" Quá trình đồng hoá tự nhiên này diễn ra khá mạnh mẽ và trên nhiều
lính vực, từ đời sống vật chất lấn đời sống tinh than
24
Trang 30Chúng ta nên đánh giá quá trình đồng hoá tự nhiên này như thế nào Trước nhất, đồng hoá khác với giao lưu văn hoá ở chỗ nó tiếp nhận văn hoá của tộc khác không trên cơ sở cái truyền thống của mình mà
tiếp biến để đổi mới, mà chủ yếu là vay mượn thuần tuý, do vậy, quá
trình đồng hoá đồng thời cũng là quá trình đánh mất cái gì là bản sắc
văn hoá của dân tộc mình Dù đây hoàn toàn là đồng hoá tự nhiên,
không có sự áp đặt chủ ý nào, nhưng dù sao nó vẫn là một xu hướng tiêu cực, cần có biện pháp khắc phục
Xu hướng phục hồi văn hoá truyền thống
Với nhân dân các dân tộc Tây nguyên xu hướng nàychưa thực sự là
tự ý thức, là một nhu cầu tự thân, mà chủ yếu mới là áp lực từ bên ngoài, từ những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là
sau khi có Nghị quyết Trung ương 5 về “Xây dựng nên văn hoá Việt nam tiên tiến, đậm đà bản sắc đân tộc” và sau đó là hàng loạt các
cuộc vận động, các dự án nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá truyền thống Đây là một chính sách văn hoá vừa phù hợp với xu thế thời đại (Thập kỹ văn hoá của UNESCO), vừa hợp với nguyện vọng của nhân dân nước ta nói chung Do có một khoảng cách nào đó giữa
tự ý thức và nhu cầu cấp thiết về việc bảo tồn văn hoá cổ truyền của người dân Tây Nguyên với chủ trương chung của Nhà nước, nên trong quá trình thực thi chủ trương này ở các dân tộc Tây Nguyên bộc lộ nhiều vấn đề cần phải xem xét
Phân tích các nguyên nhân
- Nếu coi văn hoá là kết quả của sự thích ứng của con người với môi
trường tự nhiên vì nhu cầu tồn tại và phát triển của bản thân mỗi cộng
đồng, thì căn nguyên của sự suy thoái hay phát triển đó của văn hoá trước nhất và sâu xa nhất vẫn lại từ nguồn cội tự nhiên Đối với Tây Nguyên mấy thập kỷ qua, rừng bị tàn phá, nguồn nước bị xuy giÌn,
29
Trang 31đất đai bị thiếu hụt và ô nhiễm đã trực tiếp ảnh hưởng đến văn hoá Đối với các dân tộc thiểu số ở vùng núi, rừng bị mất thì văn hoá cũng
sẽ tiêu điều, suy kiệt, bởi vì, về bản chất văn hoá của họ là "văn hoá rừng ”
- Đối với các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, cái khung xã hội buôn
làng có vai trò rất quan trọng đối với việc sản sinh, duy dưỡng nền văn hoá, bản sắc văn hoá dân tộc Như nhiều lần chúng tôi đã phân tích, cơ cấu xã hội buôn làng truyền thống của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên trong những thập ky gần đây chịu những va đập, biến động mạnh, khiến động lực và tính năng động của nó bị suy giảm, thậm chí
bị triệt tiêu, đã trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống kinh tế, xã hội và văn hoá của các tộc người bản địa
- Ấp lực của quá trình giao lưu, ảnh hưởng nội vùng và ngoại vùng,
mà nhiều khi là "Kinh hoá", "Tây hoá” cũng tác động không nhỏ đến thực trạng và sự biến đổi văn hoá các dân tộc hiện nay Đó là quy luật tất yếu, thậm chí có mặt tích cực tác động đến sự biến đổi văn hoá các dân tộc, tuy nhiên liều lượng, mức độ của quá trình giao lưu, ảnh hư-
ởng ngày một mạnh mẽ, trong khi đó nội lực, sự chọn lựa, sức "dé
kháng" của văn hoá dân tộc lại yếu ớt, do vậy áp lực đó lấn lướt, áp đặt, gây nên sự nhiễu loạn trong tiếp thu ảnh hưởng văn hoá từ bên
ngoài
Trong định hướng và quản lý các quá trình phát triển văn hoá các
dân tộc thiểu số của chúng ta còn tỏ ra nhiều bất cập, non kém và
thậm chí sai lầm Trước nhất, trong một thời gian dài, chúng ta ít quan tâm tới lĩnh vực này, chưa thấy hết được vai trò của văn hoá đối với sự
phát triển xã hội, nhận thức về văn hoá truyền thống còn lệch lạc,
mang nặng tính giai cấp, phủ nhận các giá trị của quá khứ Trong chỉ
đạo công tác văn hoá thì còn nặng hình thức, phô trương tuyên truyền,
30
Trang 32bao cấp, áp đặt, chưa thấy văn hoá là "của dân, do dân, vì dân”, tức tính đân chủ của văn hoá Do vậy, tiên của, công sức bỏ ra thì nhiều
mà hiệu qủa thì còn rất hạn chế
4 Bảo tôn và phát huy văn hoá truyền thống các dân tộc
- Có lẽ cái đầu tiên và quan trọng nhất vẫn là nhận thức về văn hoá,
vai (rò của văn hoá trong phát triển Văn hoá là “bệ điều tiết” đối với
sự phát triển xã hội của mọi tộc người và mọi quốc gia Vậy cái “hệ
điêu tiết văn hoá" đó là gì ? Phải chăng "cái hệ điều tiết" đó là tổng
hoà của các nhân tố, trong đó hệ giá trị va chudn mirc văn hoá của mỗi
dân tộc đóng vai trò chủ đạo Điều đó quy định ở mỗi tộc người một
quan niệm về phát triển, về sự tốt đẹp, về sự no đủ, cũng như các phưong thức, cách thức, biện pháp để đạt được những mục tiêu ấy
Lâu nay chúng ta luôn nói tới bản sắc văn hoá, truyền thống văn hoá, vậy bản sắc văn hoá và truyền thống văn hoá của mỗi tộc người ở Tây Nguyên là gì ? Chúng ta hay nói, thậm chí tiến hành làm
cái mà chúng ta chưa tìm hiểu, chưa nắm vững thì thử hỏi kết quả của
nó sẽ như thế nào ? Đơn cử một thí dụ, chúng ta đang thực hiện chủ trương "nhà rông văn hoá” ở Tây Nguyên, vậy thì tại sao từ tên gọi đến hình dang nha rong chi thay ở ngươì Ba na và một bộ phận người Gia rai, nay đem nó "áp dat" cho gần 20 tộc người còn lại Tôi đã thấy những ngôi nhà rông ở một số làng người Êđê ở huyện Sông Hinh Thật không còn gì để nói về việc làm này !_Do vậy, nhất thiết chúng
ta cần phải tìm hiểu, nghiên cứu kỹ lưỡng những cái mà chúng ta đang
định tiến hành, nếu như chúng ta không muốn chuốc lấy sự thất bại
Chúng ta cũng cần phải làm thay đổi nhận thức của nhân dân các dân tộc bản địa Tây nguyên về nên văn hoá truyền thống của mình, khắc phục í tưởng tự tỉ, hướng ngoại, không đánh giá đúng các
giá trị văn hoá của dân tộc mình, thậm chí quay lưng lại, chối từ các
St
Trang 33giá trị truyền thống, nhất là ở các lớp thanh niên Chỉ trên cơ sở nhận thức đúng, có lòng tự hào chính đáng về truyền thống văn hoá của cha
ông để lại thì mới có thể bảo vệ và phát huy nó trong xã hội hiên tại,
cũng như có cơ sở để tiếp thu các giá trị văn hoá tốt đẹp của các dân
tộc khác
Một vấn đề về mặt nhận thức mà lâu nay chúng ta thường tự cho mình có cái quyền đưa ra các phán quyết về hiện tượng văn hoá này là "tiến bộ", hiện tượng kia là "lạc hậu”, rồi từ đó quyết định người dân được làm cái này và không được làm cái kia Đứng từ góc độ chủ
thể văn hoá, chúng ta chỉ có thể định hướng cho người dân, còn lựa chọn cái này hay cái kia trong hoạt động và sinh hoạt văn hoá phải là
do người dân tự đánh giá, lựa chọn và quyết định
- Chúng ta phải thống nhất với nhau rằng, chỉ thể của việc bảo
tôn và phát huy bản sắc văn hoá ở các dân tộc Tây Nguyên phải là nhân đân các dân tộc Tây Nguyên, đó là sự nghiệp của người Tây Nguyên, cho người Tây Nguyên và vì người Tây Nguyên Đó chính là
bản chất dân chủ của sự nghiệp bảo tôn và phát triển văn hoá Nếu
thiếu điều đó thì mọi ý định tốt đẹp, mọi nhân lực, vật lực mà chúng ta
bỏ ra đều không bao giờ đạt được kết quả mong muốn Chúng ta hãy đơn cử vài thí dụ :
Những năm gần đây, học tập kinh nghiệm của người Kinh ở đồng bằng cũng như chỉ thị của Nhà nước, các tỉnh Tây Nguyên thực hiện việc soạn thảo quy ước buôn làng (có nơi gọi là hương ước) Thực
ra, chủ trương này nên lồng ghép vào phong trào xây dựng gia đình văn hoá và buôn làng văn hoá, vì văn hoá là nội dung cơ bản của quy
ước buôn làng, thì nhiều địa phương lại thực hiện riêng rẽ, ngành tư
pháp và văn hoá chưa kết hợp với nhau chặt chẽ, cũng như phối hợp
với các đoàn thể quần chúng trong Mặt trận Tổ quốc để triển khai,
32
Trang 34giám sát thực hiện Điều đáng nói hơn là việc soạn thảo các quy uớc
này nên nghiên cứu kế thừa luật tục truyền thống của mỗi dân tộc, mỗi
địa phương, chỉ nên định hướng để mỗi buôn làng căn cứ vào thực tế
của địa phương mình tự nêu ra những nội dung cần thiết trong quy
ước Đằng này, chúng ta lại xuất phát từ các khuôn mẫu có sẵn, tự
phác thảo ra các bản quy ước rồi thông qua hội nghị nhân dân một
cách hình thức Đó chỉ là thứ "luật pháp hoá luật tục”, là việc làm mang tính áp đặt, nhân dân chưa thực sự đóng vai trò người chủ trong
việc soạn thảo và thực thi bản quy chế tự quản của mình
Từ sau Nghị Quyết Trung ương V, ở Tây Nguyên cũng như
nhiều vùng dân tộc khác, chúng ta đã triển khai nhiều hoạt động văn hoá truyền thống, như các liên hoan văn hoá nghệ thuật, các chương
trình trình diễn giới thiệu những nét đặc sắc văn hoá của mỗi dân tộc Những hoạt động như vậy là cần thiết nhằm cổ động và năng cao lòng tự hào của nhân dân về nền văn hoá của mình cũng như tăng cường sự hiểu biết giữa các dân tộc Tuy nhiên, cách tổ chức còn mang nặng tính "trình diễn"(show) hình thức, nhiều khi còn giả tạo, phô trương, thậm chí - xuyên tạc, không phản ánh đúng thực tế, các hoạt động trình diễn này phần lớn do các nghệ sỹ chuyên nghiệp, bán
chuyên nghiệp thực hiện Bên cạnh những hoạt động đó, đời sống văn hoá thường nhật của quần chúng ở cơ sở lại chưa được chú ý đúng
mức Phải chăng trong nhận thức và hành động của chúng ta đang lấy
sự trình diễn, phô trương, tuyên truyền văn hoá thay cho đời sống văn hoá thực sự của quần chúng nhân dân ?
- Theo chúng tôi, ở Tây nguyên, cái khung tự nhiên và xã hội
đảm bảo cho việc bảo tổn và phát huy các giá trị văn hoá, cho việc
phát triển xã hội chính là buôn làng, mà tuỳ theo mỗi tộc người, mỗi
địa phương được gọi với các tên : Pláy, Buôn, Bon Trong mấy thập
33
Trang 35kỷ qua, do phân bố lại dân cư, do phát triển kinh tế thị trường, cơ cấu
xã hội buôn làng bị đảo lộn, tính cộng đồng bị suy giảm, từng hộ nông
dân vốn được buôn làng bao bọc, che chở thì nay bị "phơi trần” ra trước sự va đập của những biến động xã hội và thường bị tổn thương Văn hoá dân tộc về cơ bản là văn hoá buôn làng cũng chịu chung số
phận như vậy Do đó, muốn bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá
truyền thống, cũng như đưa các nhân tố văn hoá mới vào đời sống dân tộc thì đều phải thông qua cơ cấu xã hội làng buôn Trước mắt cũng như trong tương lai không gần, đối với Tây Nguyên, xét về cả kinh tế,
xã hội và văn hoá thì rất cả dêu phải từ làng buôn và tất cả đêu phải
đến làng buôn Do vậy, khôi phục lại làng buôn, năng động hoá tính
tích cực của làng buôn phải coi là giải pháp quan trọng nhằm thúc dây sự ổn định và phát triển xã hội, văn hoá và an nình quốc phòng
- Trong bảo tổn và phát huy những giá trị văn hoá cổ truyền của các dân tộc, thường có hai hình thức khác nhau, đó là bảo tần tinh va bảo tồn động Bảo tồn tĩnh là bảo tồn hình thái các hiện tượng văn hoá
ở ngoài môi trường nó nảy sinh và tồn tại, như trong sách báo, các
viện bảo tàng, các trưng bày, triển lãm, các kho lưu trữ Thường các hình thức bảo tồn tĩnh này phục vụ chính cho nhu cầu nghiên cứu khoa
học, cho tuyên truyền, tìm hiểu, cho việc lưu giữ lâu dài các hiẹn tượng văn hoá để sau này khi cần thiết có thể phục chế, tái tạo nó
trong đời sống
Bảo tồn động là hình thức bảo tồn các hiện tượng văn hoá trong chính môi trường xã hội mà nó nảy sinh và tồn tại, để nó tiếp tục biến
đổi và phát huy vai trò đưới tác động của những điều kiện xã hội cụ
thể Thí dụ, sử thi là một hiện tượng văn hơá truyền miệng độc đáo của
các tộc người ở Tây Nguyên Hiện nay, chúng ta đang thực hiện việc
1) S6 VHTT Dak Lak - Dan da Dak Ka - 1987
34
Trang 36điều tra, sưu tầm, biên dịch và xuất bản hàng trăm bộ sử thi Đó chính
là hình thức bảo tồn tĩnh, tuy rất cần thiết nhưng vẫn là sự đối phó và thụ động Tuy nhiên, có hình thức chủ động hơn là làm sao bảo tồn các tác phẩm sử thi này trong môi trường sinh hoạt diễn xướng sử thi
của cộng đồng, để sử thi tiếp tục đời sống tự nhiên của nó, để nó tiếp
tục đóng vai trò là một hình thức sinh hoạt văn hoá, thoả mãn nhu cầu
văn hoá và nghệ thuật của nhân dân Hiện tại, chúng tôi đang có
những dự án thể nghiệm hình thức bảo tồn sử thi trong môi trường xã hội của các dân tộc, để nó tiếp tục là "sử thi sống" như nó đã từng sống hàng ngàn năm qua
Bảo tồn văn hoá trong trạng thái động, trong môi trường xã hội
chính là thể hiện quan điểm chủ thể văn hoá trong sự nghiệp bảo tồn
và phát huy bản sắc văn hod dan tộc Điều đó có nghĩa nhân dân là người sáng tạo các giá trị văn hoá thì đồng thời là người bảo tồn và
phát huy các giá trị văn hoá đó, Nhà nước không thể làm thay mà chỉ
có thể hỗ trợ mà thôi
- Ở Tây Nguyên cũng như nhiều địa phương khác, các thiết chế văn hoá hình như cũng đang có những vấn đề phải bàn Để thực hiện
các chương trình phát triển văn hoá, thì từ ngân sách, cán bộ đến các
thiết chế văn hoá đều là của Nhà nước, do vậy cái văn hoá mà chúng ta dang làm thường là mang dấu ấn “văn hod nhà nước” Bây giờ chúng
ta thử suy nghĩ khác, làm khác, tức coi văn hoá phải là hoạt động tự thân của nhân dân, nhân dân là chủ thể thực hiện và hưởng thụ các giá trị văn hoá, dưới sự định hướng của Nhà nước Nếu chấp nhận quan điểm như vậy thì từ con người làm văn hoá, thiết chế văn hoá, cơ chế hoạt động phải như thế nào ? Nếu trước kia hoại động văn hoá chủ yếu là từ trên xuống, thì bây giờ lại phải từ dưới lên hay kết hợp giữa
chúng, trong đó nhân dân vẫn là chủ thể của mọi hoạt động
3£
Trang 37CHƯƠNG II
PHONG TỤC TẬP QUÁN VỀ VÒNG ĐỜI NGƯỜI
I GIAI ĐOẠN SINH ĐẺ
Các dân tộc thiểu số Tây Nguyên rất quý người, một phần vì truyền thống nhân đạo, một phần vì đất rộng người thưa, núi non hiểm trở nên cần
phải có nhân lực để làm ăn và tự vệ
Một gia đình đông đúc con cháu, một buôn làng lắm hộ, nhiều dân đã
trở thành niềm mơ ước lớn lao của người dân bản địa Chính vì vậy mà họ đã phải trải nghiệm qua nhiều tục lệ phiển toái trong suốt thời kỳ sinh đẻ để thực hiện ước mơ to lớn đó
Xin giới thiệu một số phong tục phổ biến sau đây mà bước đầu chúng tôi ghi nhận được tại các tỉnh thuộc phía nam Tây Nguyên như Đăk Lak, Đắc Nông, Lâm Đồng, Bình Phước Hẳn là còn sơ lược, sai sót nhưng ít ra
cũng đã thể hiện được ý thức tôn trọng phong tục tập quán cổ truyền của
đồng bào đân tộc vùng cao; vùng sâu và đang góp chút sức lực nhỏ bề của mình vào việc gìn giữ, phát huy giá trị của nó trong cuộc sống đương đại
1 Tục lệ cúng thần khi có thai
Phần lớn các dân tộc thiểu số nam Tây Nguyên đều có tục lệ cúng thân cho phụ nữ khi biết người ấy đã có thai Thời gian thực hiện lễ cúng không quy định ngày nào cụ thể nhưng theo kinh nghiệm của bà con thì càng sớm càng tốt vì ít nhất nó cũng tạo được sự yên ổn cho chị em về mặt tâm lý trong những ngày “bụng mang dạ chửa” mệt mỏi, lo âu Lễ vật cúng thần thông thường là một ché rượu, một con gà; Người hành lễ có thể là gia chủ
hoặc thầy cúng tuỳ theo hoàn cảnh của từng gia đình Ở người Mnông thì
ông chồng làm chủ lễ (Đấy là vào địp vợ đẻ nên ông được làm thay, còn những lúc bình thường thì cúng đơm trong nhà là việc của vợ, vai trò của
36
Trang 38người chồng rất mờ nhạt trong gia đình) Ông ta đích thân lấy rượu đặt ra giữa nhà, cắt tiết con gà và lấy huyết của nó bôi quanh ché rượu rồi kính cần đọc lời khấn nhờ thần linh phù hộ cho vợ mình gặp được may mắn trong lúc
thai nghén Cùng lúc đó, người vợ phải ra ngồi cạnh ché rượu, tay cầm san cần rượu để khi chồng khấn xong thì đưa cần cho chồng uống ngụm rượu đầu tiên, sau đó đến lượt vợ và những người khác có mặt trong buổi lễ cùng
uống Nhóm Mnông Bunong còn có tục cúng thai vào tháng thứ sáu mà lễ vật là một con vịt, một con chó, một ché rượu Họ lấy huyết chó, huyết vịt bôi lên những chỗ được cọi là linh thiêng trong ngôi nhà, lại đeo vào cổ
người có thai một chiếc lổng đuôi con chỉm công, cái mỏ dưới của con vịt
cùng với một lát ngải để chống thần Ác (Briäng) hay quấy nhiễu sản phụ lúc
- Người Ê Đê thì phải mời thầy cúng quen thuộc của gia đình đến hành lễ để cúng cho bài bản Sau khi nhận lời, thầy sẽ định ngày giờ cho gia chủ và báo cho gia chủ phải chuẩn bị các thứ lễ vật trong buổi lễ theo ý thầy
Ngoài ché rượu, con gà thì người Ê Đê còn có thêm một chén nước, một bát
rượu, một con heo Ché rượu cột ở gian nhà chính, các lễ vật khác xếp ở phía Đông gian nhà ở, Người có thai ngồi đối diện với lễ vật; Thầy cúng ngồi
ngay trước ché rượu, tay cầm cần rượu và khấn: “Ơ thần! Lúc này gia đình đang có một người mang thai Gia đình đã sắm một chế rượu, một con gà, một con heo và các lễ vật khác để cúng thần Xin mời thần Sông, thần Núi,
thần Nhà hãy về uống rượu, ăn thịt gà để mừng cho người đàn bà của gia
đình đã mang thai và mong các thần phù hộ cho cái thai trong bụng mạnh
khoẻ, lúc sinh đẻ được đễ dang”
Cúng xong, thây cúng đưa cần rượu cho người mang thai để người ấy
uống ngụm rượu đầu tiên, sau đó là các thành viên trong gia đình, thầy cúng, dòng họ cùng uống Khi đã làm lễ cúng xong, người có thai phải ở trong nhà
ba ngày, không được tắm rửa, không được hoạt động Họ tin rằng có làm như
37
Trang 39vậy thì những lời khấn của thầy cúng mới có hiệu nghiệm, cái thai mới được
bảo vệ vẹn tròn
— Người Stiêng bình thường ít làm lễ cúng thai nhưng khi biết trong
buôn làng có người nào đó mang thai thì bạn bè cùng phái lứa sẽ đến động viên, giúp lấy nước, bổ củi, để mong sau này được làm thông gia với người
ấy
— — Đối với người Mnông, sau khi cúng thần xong thì cả vợ lẫn chồng người có thai phải thực hiện một số điều kiêng ky như không được buộc dây, đóng đinh, lắp ráp các đồ vật, mang biểu tượng cái nọ dính kết với cái
kia Nếu làm như thế thì những hình ảnh đó sẽ còn in sâu vào tâm trÍ người
me va e rang nó sẽ tạo nên sự dính kết của cái thai với các bộ phận khác khi
còn nằm trong bụng Điều đó sẽ gây nên khó khăn cho sản phụ lúc sinh nở Nếu đã trót làm rồi thì người chồng phải kịp thời tháo gỡ và làm lễ thỉnh báo với thần, mong được bỏ qua
— Người Ê Đê trong lúc có thai thì kiêng đặt bò cày và mở bò cày, kiêng lội ngược dong nước, kiêng đứng trên ghế kéo vật nặng xuống, kiêng nhìn mặt mình trong giếng nước, kiêng ăn thịt các loại thú rừng (kể cả gia súc, gia cầm) Họ cũng rất hạn chế ăn rau canh, vì họ nghĩ những thứ đó đều động
đến thần linh và có thể sẽ bị thân linh quở trách Thức ăn chủ yếu của người
có thai lúc này là muối ớt
Đối với những người Ê Đê hiếm muộn con cái thì họ còn có tục cầu con, Những đôi vợ chồng đã lấy nhau trên một năm mà chưa có thai thì gia
đình phải làm lễ cúng thần linh, xin thần linh cho đứa con để nối dõi Lễ này được tổ chức mỗi năm một lần, vì phải cầu cho đến khi nào được mới thôi
Để cho chắc chắn, họ thường mời thầy cúng đến hành lễ và ngày giờ do thầy hẹn Ở lần cúng thứ nhất, người chồng phải lấy một ché rượu đặt ra giữa nhà
Đối diện với ché rượu ấy về phía đông còn đặt thêm một con gà, một bát cơm, một bất rượu, một bát nước lã Đến ngày giờ đã định, thầy cúng vào
39
Trang 40đất bảy lần liên tiếp Sau đó người vợ lại cởi áo, quay lưng ra phía ngoài để
người chồng quét thêm một lần nữa Ông vừa quét vừa cầu khẩn tổ tiên cùng
với các vị thần lành về xua đuổi tà ma ác quỷ ra khỏi người sản phụ tương lai,
ra khỏi ngôi nhà mà chị ta đang ở Người chồng còn cầu khẩn cả thần đầu vịt, thần đầu chó hãy giúp giữ cửa cho gia đình không cho ma quỷ, thần ác vào nhà
để cho sản phụ được yên ổn Ông cũng hứa là nếu sinh đẻ tốt lành thì sẽ làm lễ
tạ thần linh một ché rượu và một con gà
Cúng xong, chị ta đi vào phòng ngủ của mình, mang theo chiếc lưỡi rìu đã được tưới rượu pha huyết các con vật hiến sinh và đặt lên mặt lưỡi rìu cái vảy
con tê tê, một củ ngải, hai chiếc lông công chuẩn bị từ trước Chị ta để các thứ
đó tại một góc rồi ngồi xuống giường quay mặt về phía đầu nằm để người
chồng lấy rượu hòa huyết ngâm cùng củ ngải và vảy con tê tê đổ lên đầu chị
Ông cầu khẩn thần Ngải, thần tê tê, và thần lông Công hãy phù hộ, bảo vệ cho
vợ con ông trong lúc mang thai Ông lại lấy củ ngải thái ra ba lát bỏ vào trong
một chiếc giỏ nhỏ xíu đan bằng mây rồi lấy dây xỏ qua nó cùng với chiếc mỏ
hàn đưới con vịt, một tý lông Công đeo vào cổ người có thai làm bùa phép Ông
tiếp tục cắm một ngọn đèn sáp ong vào một bát gạo rồi bưng bát gạo bằng hai tay đưa quanh đầu vợ bảy lần cầu xin các thần đầu vịt, đầu chó, thần ngải, thần
tê tê hãy chui vào đầu người chị ta để bảo vệ mẹ con an toàn Ông lại lấy ba lát
ngải và một chiếc lông đuôi công treo trên phía đầu giường nằm của người vợ Thực hiện xong các nghỉ lễ, hai vợ chồng đi ra khỏi phòng để tiếp tục làm nốt những việc còn lại Người chồng lấy gan vịt, gan chó, gan heo mỗi thứ một tý cùng với thìa cơm xới ở đầu rồi bón cho vợ ăn va dan dò vợ hãy giữ gìn thai nhi cho tốt Một người đỡ đẻ được gia đình mời đến từ trước, lúc này đến bên chị ta khuyên bảo, đặn dò những điều kiêng ky lúc mang thai như không làm việc nặng, không đi bước dài, không ăn thịt khi, thịt
nhím, thịt rùa, thịt hổ để sinh nở dễ dàng và đứa bé khi ra đời không xấu xí,
hung đữ như khi, hổ, Bà đỡ dặn xong, người chồng lại lấy rượu hòa với
3g