1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những thay đổi chủ yếu của làng xã các dân tộc miền núi vùng cao phía bắc

110 782 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Thay Đổi Chủ Yếu của Làng Xã Các Dân Tộc Miền Núi Vùng Cao Phía Bắc
Người hướng dẫn TS. Lê Hải Đường
Trường học Học viện Nghiên cứu về Dân tộc và Tung tổi Chính sách
Chuyên ngành Nghiên cứu Dân tộc
Thể loại Báo cáo dự án
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 626,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của đề tài Nghiên cứu thực trạng một số biến đổi chủ yếu về kinh tế - văn hoá - xã hội trong làng bản của dân tộc thiểu số tại miền núi vùng cao phía Bắc, đề xuất cơ chế chính

Trang 1

uỷ ban dân tộc

báo cáo tổng kết đề tài

những thay đổi chủ yếu của làng x∙

các dân tộc miền núi vùng cao phía Bắc

chủ nhiệm đề tài: ts lê hải đường

5951

26/7/2006

hà nội – 02/2006

Trang 2

Báo cáo kết quả thực hiện đề tài

***

Mở đầu

1 Sự cần thiết của đề tài

Trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước ta đã và đang thực hiện nhiều chính sách, chương trình, dự án nhằm nâng cao đời sống, bảo tồn và phát triển các dân tộc thiểu số Hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội vùng

đặc biệt khó khăn đã được đầu tư mở rộng thúc đẩy quá trình phát triển kinh

tế, giao lưu văn hoá và tiếp thu tri thức khoa học, góp phần nâng cao đời sống của đồng bào cả về vật chất lẫn tinh thần

Bên cạnh những tác động tích cực về kinh tế, văn hóa, xã hội thì còn có những tác động tiêu cực mà chúng ta cần nghiên cứu, đó là sự biến đổi đa dạng của làng xã của các dân tộc Trong phạm vi của đề tài này nghiên cứu sự thay đổi của làng xã - hay cụ thể hơn là làng bản - để có những đề xuất về cơ chế chính sách xây dựng làng bản phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa theo quyết định số 387/QĐ-UBDT ngày 24 tháng 8 năm 2005

của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc về việc phê duyệt đề tài: Những

thay đổi chủ yếu của làng xã các dân tộc miền núi vùng cao phía Bắc

Từ tháng 8 năm 2005 đến tháng 2 năm 2006 chúng tôi đã thực hiện đề tài Kết quả đã được Hội đồng nghiệm thu cấp bộ họp ngày 22 tháng 2 năm

2006 đánh giá đạt loại Xuất sắc

2 Mục tiêu của đề tài

Nghiên cứu thực trạng một số biến đổi chủ yếu về kinh tế - văn hoá - xã hội trong làng bản của dân tộc thiểu số tại miền núi vùng cao phía Bắc, đề xuất cơ chế chính sách xây dựng và phát triển làng bản phù hợp với thời kỳ

công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước

Trang 3

3 Nội dung nghiên cứu:

3.1 Cơ sở lý luận về sự thay đổi làng bản các dân tộc thiểu số,

3.2 Thực trạng và phân tích một số biến đổi chủ yếu về kinh tế, văn hoá, xã hội trong các bản của dân tộc Mông, Dao, Thái ở miền núi vùng cao phía Bắc, đánh giá tích cực và tiêu cực của sự thay đổi trên,

3.3 Đề xuất một số giải pháp cơ chế, chính sách nhằm xây dựng bản dân tộc Mông, Dao, Thái phù hợp với sự phát triển trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá

4 Phương pháp và nhân lực thực hiện

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Với phương pháp chủ đạo là khảo sát, nghiên cứu có sự tham gia giữa Chủ nhiệm đề tài với các thành viên, các đối tượng từ cán bộ, chuyên gia khoa học, nhà quản lý, và người dân nhằm thu thập, nghiên cứu đến mức cao nhất những thông tin cơ bản phục vụ cho nghiên cứu theo mục tiêu của đề tài

* Phương pháp kế thừa:

- Sưu tầm, xử lý tài liệu thứ cấp liên quan đến dân tộc Mông, Dao, Thái;

- Kế thừa các công trình nghiên cứu, tài liệu, báo cáo, ấn phẩm về các nội dung liên quan đến của đề tài

* Phương pháp chuyên gia:

- Toạ đàm với sự tham gia của đại diện các sở ban ngành liên quan ở cấp tỉnh gồm các ngành Kế hoạch Đầu tư, Văn hoá, Y tế, Giáo dục, Nông nghiệp, Ban Dân tộc, Cơ quan thường trực khu vực Tây Bắc ; và các ngành ở Trung

ương với đại diện của các nhà khoa học, cán bộ quản lý

- Nghiên cứu, xây dựng các báo cáo chuyên đề liên quan đến đề tài của 3 dân tộc Mông, Dao, Thái

Trang 4

* Phương pháp điền dã, điều tra xã hội hội học: Khảo sát, phỏng vấn trực tiếp các hộ là dân tộc Thái ở 2 bản:

- Bản Thúm, xã Tông Cọ, huyện Thuận Châu;

- Bản Mé Ban, xã Chiềng Cơi, Thị xã Sơn La, tỉnh Sơn La bằng các phương pháp quan sát, phỏng vấn, thảo luận nhóm, thu thập thông tin, chụp

- CN Đinh Thị Hòa, Nghiên cứu viên Viện Dân tộc, Thư ký đề tài

và một số cán bộ khoa học của Viện Dân tộc, Vụ, đơn vị liên quan của

Uỷ ban Dân tộc và các cơ quan ban, ngành liên quan ở Trung ương và tỉnh

Sơn La (có danh sách kèm theo)

Trang 5

Chương I Khái quát về làng bản của dân tộc Mông, Dao,

Thái trước thời kỳ đổi mới

1 Cơ cở lý luận về sự thay đổi làng bản các dân tộc thiểu số vùng cao:

Làng, bản là tổ chức xã hội cơ bản nhất của các dân tộc thiểu số nói chung và các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng, là nơi con người gắn kết cuộc sống thông qua các hoạt động sản xuất, tâm linh, quan hệ gia đình, xã hội, cộng đồng Sự tác động qua lại giữa cá nhân và xã hội, giữa từng con người cụ thể với cộng đồng trong các đơn vị cư trú truyền thống chủ yếu diễn ra trong làng, bản Có thể nói, làng, bản chính là hình ảnh thu nhỏ của cả một xã hội,

là sự cố kết cộng đồng được duy trì bởi cái gọi là “Lệ làng” mà đứng đầu là các già làng, trưởng bản Trước thời kỳ đổi mới, làng, bản các dân tộc thiểu số vùng cao, miền núi phía Bắc hầu như không có sự trao đổi, giao lưu về kinh

tế, văn hoá, mà khép kín, sản xuất tự cung tự cấp, người dân sống bó hẹp trong phạm vi làng, bản ít tiếp xúc với môi trường bên ngoài

Sự hình thành và phát triển của các làng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, tự nhiên cũng như xã hội Song dù thuộc dạng làng nào, được xây dựng trên một

địa hình diện mạo nào, của bất kỳ một dân tộc nào cũng cần được đáp ứng một số yêu cầu:

- Địa điểm lập làng phải thoả mãn được những yêu cầu về đất trồng trọt, đất chăn thả gia súc và nguồn thực phẩm tự nhiên (măng, rau, củ, quả, côn trùng, chim, thú )

- Làng cần đáp ứng được nhu cầu về nước dùng cho sinh hoạt và sản xuất, nên làng thường được thiết lập gần các nguồn nước (sông, ngòi, suối, khe)

Trang 6

- Làng cũng cần gần nơi có khả năng cung cấp chất đốt, chủ yếu là thực vật tự nhiên

Theo GS Nguyễn Lân: “Làng là đơn vị quần cư ở một nơi nhất định

trong nông thôn, trước đây là đơn vị hành chính nhỏ nhất” Làng của bất kỳ

dân tộc nào, thuộc ngôn ngữ nào trên đất nước ta, ở đồng bằng, trên núi cao hay hải đảo xa xôi đều là mái ấm của các cư dân trong đó Nó là mối dây liên kết nhiều mặt của cuộc sống vật chất cũng như tinh thần của các thành viên trong cộng đồng các dân tộc cơ trú nơi đây Đây là môi trường, là sợi dây liên hệ giữa những người đang sống và sẽ ra đời với những người đã khuất trên mảnh đất làng Đồng thời còn là nơi chia xẻ những niềm vui nỗi buồn của cả cộng đồng qua những hội làng sôi động, những đêm trăng thanh gió mát, những mối tình thơ mộng, và cả những đớn đau khi làng mất đi một người thân, khi dịch bệnh hoành hành, khi mùa màng thất bát, và những thiên tai địch họa khác Nơi ấy còn tiềm ẩn biết bao sự kiện lịch sử đã bị vùi lấp bởi lớp bụi thời gian và những cái hay, cái đẹp cũng như những cái lạc hậu, lỗi thời đã được lưu giữ qua bao thế hệ Làng là quê hương, làng là những pho

sử nhỏ của các cư dân các dân tộc

Trong làng bản có nhà ở Các nhà trong làng không được bố trí theo một nguyên tắc nhất định, nên diện mạo của nó rất đa dạng (Việt, Mường,

Tày, Thái, Nùng, Cao Lan, Sán Dìu ) Nhà cổ truyền các dân tộc nước ta có

ba loại hình sau: nhà sàn, nhà đất (nhà trệt) và nhà nửa sàn - nửa đất

- Nhà sàn: Loại hình nhà không chỉ cổ nhất mà còn có mặt ở hầu khắp

các dân tộc nước ta Ngay như một số cư dân thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến, Hmông - Dao và Hoa vốn là những cư dân ở nhà đất thì nay cũng có nhà sàn Còn những cư dân từ xa xưa sống trên nhà sàn thì nay hãy còn giữ

được nhà sàn, trước hết là các cư dân Môn - Khơ me, sau đó là các cư dân Malayô - Pôlinêxia, Tày - Thái và Mường Có thể nói, đó là loại hình nhà có sức sống lâu dài nhất - từ thời đá mới cho tới tận ngày nay

Trang 7

- Nhà đất: Nhà đất là loại hình nhà cổ xưa của các cư dân Tạng - Miến,

Mông - Dao và Hán Còn đối với các cư dân khác ở nước ta thì chỉ là loại hình nhà có sau nhà sàn Song sự ra đời của nhà đất ở các cư dân này có sớm muộn khác nhau

- Nhà nửa sàn - nửa đất: Một loại hình nhà ít phổ biến ở nước ta, chủ

yếu là của một số cư dân nương rẫy du canh - du cư trên nền đất dốc Nhà

được chia thành hai phần theo chiều dọc: một phần là nền đất, một phần là sàn Còn một dạng nhà nửa sàn - nửa đất nữa, nhưng nhà được chia theo chiều ngang Đó là dạng nhà trung gian của quá trình nhà sàn chuyển thành nhà đất Vật liệu xây dựng nhà cổ truyền các dân tộc nước ta chủ yếu là thảo mộc, đất đá cũng được dùng, nhưng số lượng không nhiều Tre, nứa, cỏ tranh, lá gồi, lá dừa, dây rừng, gỗ rừng, là những vật liệu chính yếu Khắp đất nước ở đâu người ta cũng có thể kiếm được những vật liệu tại chỗ Gỗ là thứ vật liệu cơ bản, không dân tộc nào không dùng gỗ để làm nhà Nước ta vốn có nhiều rừng và có nhiều gỗ tốt

Công cuộc đổi mới ở nước ta gần 20 năm qua bắt đầu từ cơ sở, tức là từ các làng, bản và do đó ít nhiều đã có những tác động nhất định Cơ chế thị trường với cả những mặt mạnh và hạn chế đang từng bước len lỏi vào trong các làng- bản làm thay đổi dần nếp sống, sinh hoạt, sản xuất của người dân; làm thay đổi quan hệ kinh tế - xã hội truyền thống, hình thành các quan hệ mới Đây cũng là một quy luật tất yếu của sự phát triển Sự thay đổi này diễn

ra trên các lĩnh vực từ kinh tế, văn hoá, xã hội đến các mối quan hệ cộng

đồng, dòng họ Sự thay đổi này có cả những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực

đến đời sống của mọi người dân trong làng- bản Thực hiện chính sách dân tộc đã góp phần xoá đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số nhưng bên cạnh những thành tựu đã đạt được cũng đặt ra nguy cơ mai một bản sắc văn hoá dân tộc

Trang 8

Phát triển các dân tộc thiểu số luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và có những chính sách lớn được ban hành để thực hiện chủ trương này như Nghị quyết 22, Quyết định 72 cụ thể hóa bằng các chương trình, dự

án như: Chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo (Chương trình 133), Chương trình Định canh định cư, chương trình xây dựng trung tâm cụm xã trung tâm cụm xã, Chương trình 135, Quyết định 186/2001/QĐ-TTg, Chính sách hỗ trợ các dân tộc đặc biệt khó khăn, chính sách trợ cước trợ giá,

dự án trồng mới 5 triệu ha rừng (QĐ 661) Trong đó Chương trình Phát triển kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa CT

135 với mục tiêu cải thiện nhanh đời sống nhân dân được thực hiện những nội dung toàn diện đã góp phần thay đổi làng bản vùng cao trong thời gian qua Việc thay đổi đời sống kinh tế, chính trị, xã hội tại làng bản các dân tộc thiểu số vùng cao miền núi phía Bắc đã làm cho làng bản như GS Nguyễn

Lân đã nêu trong Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam: Trở nên khác trước

Cơ sở khoa học của sự biến đổi của văn hoá làng, bản các dân tộc thiểu

số là việc nhận ra các yếu tố chủ quan và khách quan làm cho các giá trị văn hoá truyền thống của các tộc người thiểu số biến đổi Các yếu tố tác động và làm cho các giá trị văn hoá làng, bản biến đổi bao gồm những nội dung chủ quan và khách quan nào , nguyên nhân tạo ra sự biến đổi đó là gì? Trên tinh thần đó từ việc tiếp cận các thông tin ban đầu chúng ta có thể nhận thấy làng bản các dân tộc Hmông, Dao, Thái khu vực miền núi phía Bắc có những biến

đổi được xuất phát từ những cơ sở khoa học sau:

- Biến đổi là một quy luật tất yếu của sự vật trong quá trình vận động: Sự

vật nói chung và làng, bản các dân tộc Hmông, Dao, Thái nói riêng trong quá trình tồn tại và phát triển luôn luôn chịu tác động ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài và và sự vận động của các yếu tố bên trong Đó là hai nhóm nguyên nhân cơ bản tạo nên sự biến đổi, “không đứng yên” của các thiết chế làng bản của các tộc người thiểu số miền núi phía Bắc Biến đổi là một cách

Trang 9

gọi thực chất đó là kết quả của một quá trình vận động mang tính tất yếu của các các sự vật hiện tượng với các yếu tố nội sinh và ngoại sinh Tình hình làng bản các dân tộc Hmông, Dao, Thái miền núi phía Bắc là một hiện tượng không nằm ngoài quy luật đó Tuy nhiên cái khác là những biểu hiện cụ thể của các biến đổi đó của làng bản các dân tộc trên như thế nào là tuỳ thuộc vào các điều kiện cụ thể bên trong và bên ngoài tác động vào Trong những năm gần đây làng bản các dân tộc thiểu số miền núi phía bắc có sự biến đỏi rất đa dạng trên nhiều bình diện với các nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau Sự biến đổi của các làng bản của các dân tộc Hmông, Dao, Thái mang bản chất sự vận động của các hiện tượng xã hội trong quá trình tồn tại và phát triển Bởi các yếu tố cấu thành các giá trị của làng bản truyền thống luôn luôn hấp thụ cái mới, cái phù hợp để tồn tại và phát triển…

- Văn hoá làng bản các dân tộc Hmông, Dao, Thái chịu sự tác động biến

đổi của sự phát triển của tình hình kinh tế-xã hội trong khu vực miền núi phía bắc và của quốc gia: Trong những năm đổi mới vừa qua, kinh tế vùng dân tộc

thiểu số miền núi phía Bắc nói chung và của các dân tộc Hmông, Dao, Thái nói riêng có nhiều biến đổi về hoạt động kinh tế, cơ sở hạ tầng, về đời sống của đồng bào các dân tộc Trong những năm qua vùng dân tộc thiểu số đã có biến đổi quan trọng về cơ sở hạ tầng, về hoạt động kinh tế dưới sự tác động của các chính sách, chương trình dự án quốc gia của chính phủ và nhiêù tổ chức trong nước và quốc tế Các chương trình như 135, dự án 661, chính sách trợ cước trợ giá, chính sách theo quyết định 134…đã mang lại diện mạo mới, bầu sinh khí mới cho sự phát triển của vùng dân tộc thiểu số Sản xuất vùng dân tộc thiểu số đang chuyển dần từ tự cung tự cấp sang kinh tế hàng hoá, theo các quy luật của kinh tế thị trường Nhiều vùng đã kinh tế đã phát triển

và tăng trưởng; tỷ lệ đói nghèo giảm Nhiều thôn bản đã có điện, đã phủ sóng phát thanh truyền hình, cơ sở khám chữa bệnh và trường học được phát triển,

Trang 10

nhiều thôn bản đã có nhà văn hoá… góp phần nâng cao mức sống của đồng bào các dân tộc

Trong bối cảnh đó, làng bản truyền thống của các dân tộc không thể là

“ốc đảo” độc lập đứng ngoài mọi sự biến đổi, phát triển Nhiều giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể trong các làng bản đã chịu những tác động của nền kinh

tế hàng hoá, của văn minh công nghiệp Nông dân, nông thôn vùng dân tộc thiểu số đã và đang chuyển đổi tư duy, thay đổi những tập tục lỗi thời để thích ứng với lối sống kinh tế hàng hoá, công nghiệp… Có thể nói sự tác động của nền kinh tế mới tạo nên sự biến đổi toàn diện và sâu sắc đối với bản làng các dân tộc thiểu số trong những năm qua Sự biến đổi do tác động của các yếu

tố kinh tế - xã hội đưa lại tác động tới tư duy, tập tục sinh hoạt văn hoá truyền thống của bản làng, đặc biệt là của thế hệ trẻ Sự phát triển về kinh tế, mức sống được nâng lên đã làm cho lối sống, sinh hoạt văn hoá gia đình và cộng

đồng có những biến đỏi nhất định cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh sống mới Các thiết chế gia đình nhiều thế hệ bị tan vỡ, kết cấu kiến trúc và chất liệu xây dựng các ngôi nhà truyền thống được thay thế bằng vật liệu, kỹ thuật mới; lối ăn mặc, đồ dùng gia đình và cá nhân, không gian sinh tồn của bản làng; quan hệ xã hội, ứng xử của con người trong gia đình và cộng đồng cũng biến đổi… Các yếu tố về ngôn ngữ, tập quán trong lễ hội, hôn nhân, ma chay cũng không còn nguyên như xưa, nhiều hoạt động mang tính xã hội, cộng

đồng theo các hình thức mới xuất hiện (hội cựu chiến bình, hội làm vườn, hội nông dân, khuyến học, hội văn nghệ dân gian…) thay thế hoặc bổ sung thêm trong lối sống mới Tất cả đã và đang đưa lại cho các làng bản vùng dân tộc thiểu số miền núi phía bắc một sự biến đổi không gì có thể ngăn cản được

- Văn hoá làng bản các dân tộc Hmông, Dao, Thái chịu sự tác động biến

đổi của sự giao lưu văn hoá mang tính quốc gia và quốc tế: 20 năm đổi mới

của đất nước không chỉ là 20 năm thay đổi tư duy kinh tế, quản lý xã hội mà còn là hai thập kỷ giao lưu và tiếp xúc văn hoá của các dân tộc trong phạm vi

Trang 11

quốc gia và quốc tế Trong điều kiện bùng nổ thông tin với các phương tiện

kỹ thuật thông tin hiện đại chưa từng có trong lịch sử văn hoá các dân tộc trong phạm vi quốc gia và quốc tế văn hoá làng bản các dân tộc đã có sự hoà nhập vào xu thế chung đó

Văn hoá làng bản các dân tộc thiểu số trong hai thập kỷ qua ở từng tộc

người, từng địa bàn có những biến đổi trên hai phương diện:

+ Biến đổi theo hướng chấn hưng, phục hồi các giá trị văn hoá truyền

thống Nhiều giá trị văn hoá truyền thống được quan tâm đầu tư phục hồi

nhằm làm sống dậy các bản sắc văn hoá dân tộc, phát huy nó trong đời sống hiện tại của các tộc người và của quốc gia

+ Biến đổi theo hướng tiếp thu các yếu tố mới của lối sống và văn minh

công nghiệp Đây là sự biến đổi đứng giữa hai hiện tượng:

a) Biến đổi theo kiểu lai căng, mất gốc;

b) Biến đổi theo hướng làm giàu, làm phong phú các giá trị văn hoá truyền thống trên cơ sở tiếp thu tinh hoa văn hoá quốc gia và nhân loại

Thời điểm nghiên cưú bài này là lúc các hiện tượng trên đã và đang diễn

ra một cách rất sinh động ở từng địa phương và tộc người Sự tác động của văn hoá quốc gia và quốc tế trong bối cảnh kinh tế thị trường tới văn hoá làng bản các dân tộc thiểu số miền núi phía bắc tác động ở những mức độ khác nhau, thông qua nhiều “kênh” khác nhau như hoạt động du lịch, sự triển khai các khu kinh tế công nghiệp, sự du nhập do các cá nhân trong cộng đồng các dân tộc tiếp thu từ bên ngoài, sự tiếp xúc tự nhiên…

- Văn hoá làng bản các dân tộc Mông, Dao, Thái chịu sự tác động biến

đổi của chủ thể sáng tạo – là con người: Cái gốc của sự biến đổi về văn hoá

làng bản truyền thống của các tộc người có ý nghĩa quyết định trực tiếp và sâu xa, trước mặt và lâu dài là từ các vấn đề nhận thức, tư tưởng và hoạt động

Trang 12

của các thành viên cộng đồng trong từ gia đình và làng bản Ngày nay sự phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng (vô tuyến truyền hình, đài phát thành, truyền thanh, báo chí ) đã làm cho ý thức, sự tiếp thu các thông tin văn hoá của nhiều tộc người, nhiều vùng được gia tăng một cách rõ rệt

Con người là chủ thể sáng tạo các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể, các quan hệ ứng xử của con người và con người trong xã hội Với tư cách vừa

là chủ thể sáng tạo các giá trị văn hoá vừa là thành viên của cộng đồng văn hoá làng bản, con người thuộc các dân tộc luôn luôn có khả năng thích ứng với hoàn cảnh kinh tế-xã hội, môi trường, điều kiện kinh tế mới tác động vào

điều kiện sống của cộng đồng Trong những năm văn hoá làng bản các dân tộc thiểu số miền núi phía bắc chịu tác động bởi nhiều chính sách phát triển kinh tế-xã hội, văn hoá…Sự tác động đó không vào ai khác là chính công dân các dân tộc thuộc các cộng đồng Sự nhận thức của từng con người trong cộng

đồng về các hoạt động kinh tế, phong tục tập quán, lối sống…ở những mức

độ khác nhau, song đó là cái gốc tạo ra sự biến đổi nhanh hay chậm., nhiều hay ít tới các giá trị văn hoá truyền thống và hấp thụ các yếu tố văn hoá mới trong cộng đồng làng bản

Các chủ thể văn hoá trên của làng bản các dân tộc Mông, Dao, Thái tạo

ra sự biến đổi toàn diện và sâu sắc của làng bản truyền thống; họ là nguyên nhân chủ quan trực tiếp tạo ra những sự biến đổi đó đồng thời cũng chính là

nhân tố tạo ra những xu hướng biến đổi phù hợp hay không phù hợp nếu

không có sự quản lý hỗ trợ của Nhà nước

Kinh tế và văn hoá các dân tộc thiểu số nước ta là một bộ phận quan trọng của kinh tế, văn hoá quốc gia Nó được hình thành, gắn bó mật thiết và nằm trong khung cảnh đặc điểm lịch sử kinh tế, văn hoá trong tiến trình hình thành và phát triển của quốc gia Việt Nam Trong khuôn khổ đề tài chúng tôi nghiên cứu những thay đổi chủ yếu về làng bản các dân tộc Mông, Dao, Thái trên các mặt kinh tế, văn hoá, xã hội Qua nghiên cứu điểm tại tỉnh Sơn La

Trang 13

chúng tôi nhận thấy: Trong bối cảnh xây dựng đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tác động của nền kinh tế hàng hoá, thị trường dẫn

đến sự biến đổi lối sống, tập quán cổ truyền của các dân tộc theo xu thế phát triển mới về mọi mặt của đời sống xã hội Sự tác động tất yếu của nền văn minh công nghiệp vào văn minh nông nghiệp nông thôn vùng dân tộc thiểu số thông qua các hoạt động kinh tế, văn hoá, đời sống xã hội của các dân tộc là một tất yếu không thể tránh khỏi Chẳng hạn về kinh tế nếu như trước đây nền kinh tế của đồng bào còn lạc hậu, chủ yếu là tự cung tự cấp thì nay do cơ chế thị trường nên đã có sự trao đổi hàng hoá, giao lưu kinh tế giữa các vùng miền, các dân tộc Về văn hoá, nhiều giá trị văn hoá được bảo tồn, phục hồi như nhà sinh hoạt cộng đồng (nhà văn hoá), các hình thức múa, hát, lễ hội nhưng bên cạnh đó nguy cơ mai một các giá trị văn hoá vẫn diễn ra âm thầm, vẫn còn hiện tượng mê tín, dị đoan, tệ nạn xã hội, các hủ tục lạc hậu như ốm

đau vẫn cúng ma, nếu không khỏi mới đến các cơ sở y tế để chữa bệnh Sự giao thoa văn hoá giữa các dân tộc phần nào tác động đến văn hoá truyền thống của đồng bào các dân tộc nói chung và dân tộc Mông, Dao, Thái nói riêng

Vì thế, việc nhận dạng thực trạng biến đổi về kinh tế, văn hoá, các quan

hệ xã hội trong làng, bản một số dân tộc thiểu số vùng cao, miền núi phía Bắc

sẽ là cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đề xuất các chính sách nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực, phát huy các mặt tích cực để xây dựng làng - bản trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

2 Một số đặc điểm về kinh tế, văn hoá, xã hội của làng bản dân tộc Mông, Dao, Thái trước đây:

2.1 Đặc điểm về địa bàn và hình thái cư trú:

Trong bối cảnh và địa bàn cư trú của hầu hết các dân tộc ở miền núi phía Bắc nước ta đã được định hình và họ đều sinh sống tại những vùng đất

Trang 14

khá thuận lợi cho điều kiện sống và phù hợp với phong tục tập quán của đồng bào Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi xin nêu khái quát như sau:

cả nước, sống tập trung ở vùng cao thuộc các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thanh Hoá, Nghệ An, Bắc cạn, Thái Nguyên, Hoà Bình Trong các tỉnh người Mông ở tập trung thành từng vùng

rõ rệt Những khu vực tập trung đông người Mông sinh sống ở miền Bắc nước

ta là: cao nguyên Đồng Văn, Hoàng Su Phì, Bắc Hà, Mường Khương, Mù Căng Chải, Trạm Tấu, Bắc Yên, Sa Pa, Phong Thổ, Sìn Hồ, Tủa Chùa, Điện Biên và các khu vực tiếp giáp của các huyện Thuận Châu và Tuần Giáo Những vùng cư trú của người Mông không gắn liền với nhau thành một dải

mà thường bị ngăn cách bởi nhiều khu vực cư trú của các dân tộc khác

Các vùng cư trú của đồng bào Mông thường là những sườn núi, có độ cao trung bình từ 800m đến 1500 - 1700m trên mặt biển, địa hình hiểm trở, vách đá dựng đứng trên những thung lũng dạng hẻm vực ở những vùng người Mông sinh sống thường thiếu nước, rất khó khăn trong việc sinh hoạt hàng ngày

Miền núi phía Bắc là địa bàn sinh sống của nhiều dân tộc thiẻu số như Mông, Dao, Hà Nhì, La Hủ, La Ha Nghề sống chính của các dân tộc này là canh tác nương rẫy, săn bắn, hái lượm Để thích nghi với đời sống kinh tế đó

họ phải du canh du cư Người Mông cũng không nằm ngoài cách sống đó và thực tế đó đã tác động sâu sắc đến đến đời sống xã hội của họ Đặc biệt là hình thái cư trú phân tán, rải rác, nơi này một vài nhà, nơi khác một vài nhà, thậm chí có khi cách nhau 1-2 km mới có một nhà Mặt khác do cuộc sống nay đây mai đó nên cuộc sống của người Mông rất tạm bợ, không ổn định, có thể một vài năm ở chỗ này, một vài năm sau lại ở chỗ khác Điều này đã tạo nên một hiện tượng đó là có sự tiếp xúc với dân tộc khác Vì vậy ít nhiều có

sự pha trộn trong nền văn hoá

Trang 15

Đơn vị cư trú của người Mông gọi là giao Mỗi giao có thể gồm từ một

vài nhà cho đến hàng trăm nhà trên một địa điểm hoặc nhiều địa điểm và có

phạm vi cư trú, đất đai làm ăn riêng Người Mông duy trì cách lập làng bản

theo quan hệ huyết thống, trong một bản chỉ thuần tuý có một hoặc hai dòng

họ chung sống với nhau Vì thế quan hệ trong một bản thuần tuý là quan hệ huyết thống

ở vùng người Mông sinh sống ngoài các tổ chức hành chính, những quan hệ thôn xã cổ truyền có vai trò quan trọng trong đời sống Trong điều kiện sản xuất cá thể, du canh du cư hoặc cơ sở sản xuất không ổn định những mối quan hệ đó được giữ lại một cách tự nhiên với nhiều mức độ khác nhau ở các vùng

dân tộc: Mông, Thái, Tày, Mường, Kinh Phạm vi cư trú của người Dao rất rộng, rải khắp miền rừng núi, dọc theo biên giới Việt- Trung, Việt - Lào cho tới một số tỉnh trung du và ven biển Bắc Bộ

Người Dao cư trú trên cả ba vùng: vùng cao, vùng giữa và vùng thấp

- Vùng cao có nhiều núi đá vôi thuộc các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Quảng Ninh và vùng cao Tây Bắc Vùng này núi non hiểm trở, độ cao trung bình từ 800m đến 1000m, đất latêrit có mùn, khí hậu mát mẻ, độ ẩm cao do mưa nhiều; ở vành đai này có nhiều người Dao Đỏ, một bộ phận Dao Tiền và một số ít Dao Làn tiẻn

- Vùng giữa là vùng có núi đá vôi xen với núi đất thuộc thượng du Bắc

Bộ và Trung Bộ có độ cao khoảng 400m đến 600m Vành đai này là đất latêrit, núi tương đối thấp, khí hậu và thực vật thuộc miền nhiệt đới Vùng này

là địa bàn sinh tụ chủ yếu của Dao Quần chẹt, Dao Lô gang, Dao Tiền, Dao Thanh y

Trang 16

-Vùng thấp, vùng chuyển tiếp giữa vùng núi và vùng đồng bằng, có độ cao khoảng 200m trở xuống Trước đây vùng này hầu như chỉ có nhóm Dao Quần trắng, nhưng nay có thêm một số nhóm như: Dao Quần chẹt, Dao Tiền, Dao Làn tiẻn

Người Dao có hai loại hỡnh thụn xúm là thụn xúm cư trỳ phõn tỏn và thụn xúm cư trỳ tập trung

Thụn xúm cư trỳ phõn tỏn phổ biến trong những nhúm Dao chuyờn sống bằng nương rẫy du canh Mỗi thụn chỉ cú độ dăm bảy núc nhà Nhà nọ cỏch nhà kia khỏ xa, cú khi tới 3 - 4 km vỡ nhà ở phải chạy theo nương rẫy Kiểu thụn xúm này chỉ là sự kết hợp tạm bợ, số nhà trong thụn tăng, giảm thất thường

Thụn xúm cư trỳ tập trung phần lớn ở những người Dao đó định canh - định cư hoặc luõn canh - định cư Thụn xúm thường được thiết lập trờn sườn đồi, gần suối nước hoặc nơi cú điều kiện dẫn nước về tận nhà Mỗi thụn cú khoảng vài chục núc nhà, nhà nọ liền kề với nhà kia; kiểu thụn xúm này cú nhiều thuận tiện cho lối làm ăn tập thể Song cũng cú nhược điểm là khụng đảm bảo được vệ sinh chung, hạn chế việc chăn nuụi gia sỳc và trồng rau Trước thời kỳ đổi mới du canh du cư là hình thái cư trú chính của người Dao (đứng thứ 9 về dân số trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, nhưng lại

đứng thứ 2 về số lượng người du canh, du cư) sống chủ yếu bằng phát rừng, làm rẫy theo cách phát, đốt, chọc, trỉa và chủ yếu là trồng lúa, ngô và một số loại rau màu khác Người Dao sống trên rừng, đồi núi trọc phân tán thành từng bản nhỏ, độc lập, mỗi bản chỉ có năm, bảy nóc nhà, nhà nọ cách nhà kia khá xa, ngôi nhà của họ thường rất đơn sơ, với kỹ thuật ngoãm và buộc dây rừng, kiểu nửa sàn, nửa đất Thôn xóm thường được thiết lập trên sườn đồi, chỗ thuận tiện cho việc dẫn nước về nhà, xa đường giao thông, chợ búa nên ít

Trang 17

có điều kiện giao lưu kinh tế Mọi sinh hoạt, sản xuất chủ yếu dựa vào nương rẫy

Dân tộc Thái: có 1.328.725 người (1.4.1999) gồm nhiều ngành, mỗi

ngành lại chia làm nhiều nhóm khác nhau: Thái Đen (Táy Đăm) cư trú chủ yếu ở Sơn La, các huyện Điện Biên, Tuần Giáo tỉnh Lai Châu; Thái Trắng: (Táy Đón hay Táy Khao) cư trú chủ yếu ở tỉnh Lai Châu và các huyện Quỳnh Nhai, Bắc Yên, Phù Yên (Sơn La), Hoà Bình, Thanh Hoá, Mường Tè (Lai Châu)

Điạ bàn cư trú của người Thái thường bên cạnh dòng sông, con suối Nguồn nước là tiêu chuẩn hàng đầu để người Thái lập bản, đó cũng là một

điều kiện quan trọng để tồn tại của một bản người Thái; ở những nơi này người Thái thường sử dụng nguồn nước để sinh hoạt hàng ngày và phục vụ cho việc tưới ruộng

2.2 Thiết chế x∙ hội của làng bản dân tộc Mông, Dao, Thái:

Thiết chế xã hội là một đặc trưng cơ bản của loài người Loài người từ khi hình thành với tư cách là con người thực sự đã được tổ chức thành xã hội gắn với thiết chế làng bản Bản là đơn vị cư trú nhỏ nhất của đồng bào dân tộc vùng cao

nào sồng, biểu hiện sự cam kết thực hiện những quy ước chung đã có

Trang 18

Mỗi giao có một hoặc hai người đứng đầu theo chế độ luân phiên, lo đôn

đốc việc thực hiện các quy ước chung gọi là “lùng thầu” hay sống thầu” Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong các giao trong sản xuất và đời sống

được mọi người coi trọng, kể cả những trường hợp nguy hiểm đến tính mạng

Có phạm vi rộng hơn giao tổ chức bản, xã, một vài nơi gọi là giồng

Giồng cũng có quy ứơc chung, cúng thổ thần, ăn tập thể khi cúng, tuy nhiên

người đứng đầu không do dân cử mà do một chức dịch có chức vụ cao nhất

địa phương đảm nhiệm Trong làng gia đình là một đơn vị kinh tế văn hoá tự cung tự cấp, sự phân công lao động trong gia đình rất chặt chẽ theo lứa tuổi

và giới tính Đó là gia đình phụ hệ, trong mỗi gia đình thường có 2 thế hệ sống với nhau; con trai được thừa kế tài sản; anh cả là người phải giúp đỡ em trai trong việc cưới xin, làm nhà

Bản của người Dao được tổ chức và vận hành theo phương thức tự quản

Đứng đầu mỗi bản là trưởng bản, người Dao gọi là chẩu con hoặc giằng châu

Đây là một người am hiểu phong tục tập quán của dân tộc, có uy tín, biết cúng bái do nhân dân trong bản bầu chọn Đồng thời người được nhân dân tín nhiệm cũng phải nêu cao trách nhiệm hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình

và là người có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến quyền lợi và cuộc sống của người dân bản mình: chẳng hạn như khi tiến hành chia đất cho làng, quản lý tài nguyên và con người trong phạm vi mà mình cai quản, cho người ngoài đến cư trú ở bản của mình, lịch gieo cấy, thu hoạch mùa màng, giải

quyết các mâu thuẫn trong nội bộ cộng đồng theo luật tục

Từ xưa, người Dao đã có những quy định mang tính luật tục, mặc dù không thành văn bản nhưng rất chặt chẽ về sử dụng đất đai, an ninh trật tự, bảo vệ nguồn nước, hoa màu, hôn nhân, tang ma , người Dao Đỏ quy định những ai cố tình đốt nương rẫy ở khu rừng đầu nguồn thì phải chịu hình phạt

Trang 19

nặng Phải mổ một con lợn to để chịu phạt và xin lỗi mọi người, cấm mọi người không được chặt cây hái củi ở những khu rừng cấm cạnh làng Nếu ai

vi phạm phaỉ nộp một con lợn khoảng 50 kg để cúng thần rừng, cuối năm các gia đình phải cử người đi tu sửa, khơi dòng nguồn nước, không được thả súc vật vào nguồn nước ăn, không chôn cất người chết gần nguồn nước Những luật tục này của người Dao vẫn còn tồn tại đến ngày nay Chính những quy

định này làm cho cuộc sống của bản người Dao có quy tắc hơn, góp phần quan trọng vào việc ổn định vững chắc cuộc sống xã hội, là cơ sở của bộ máy

tự quản và giải quyết các vụ việc trong cộng đồng

Thiết chế làng bản của dân tộc Thái:

Dân tộc Thái đã định cư thành bản, mường Bản là đơn vị cư trú nhỏ nhất, một đôi nơi gọi là chòm xóm Các bản thường cấu trúc theo hình thức mật tập Mỗi bản có tên gọi riêng theo truyền thuyết địa phương, theo chức vụ của người trưởng bản Mỗi bản đều có danh giới rất cụ thể, có khu rừng, ruộng

đất, bãi cỏ nơi thả trâu bò, rừng cấm, bãi tha ma, nguồn nước riêng của bản mình Bản trong xã hội Thái cổ truyền bao gồm nhiều dòng họ cùng chung sống Các gia đình tuy quyền lợi kinh tế chênh lệch nhau, quan hệ huyết thống khác nhau nhưng các thành viên trong bản gắn bó chặt chẽ trước hết vì công việc khai phá ruộng đất và xây dựng hệ thống thuỷ nông

ở bản, các gia đình phân chia số ruộng công, chia nhau gánh vác việc toàn mường Ai đi khỏi bản, tất cả quyền lợi ruộng vườn, đất đai, thậm chí cả các danh hiệu xã hội đều bị xoá bỏ Người đứng đầu lấy đơn vị bản để cai quản, mà không quản lý từng cá nhân thành viên trong bản

Những tài liệu còn lưu giữ được của người Thái đen ghi rõ lệ mường và luật mường, giúp chúng ta hình dung tương đối chính xác tính chất của xã hội Thái

Trang 20

Luật mường bao gồm những điều về hình luật, dân luật và luật hôn nhân Nếu lệ thường chỉ quy định nghĩa vụ của dân đối với chúa đất thì bộ luật được

áp dụng cho tất cả thành viên trong xã hội không trừ một ai

Bộ luật gồm 3 phần: Quy định quyền hạn, cách thức xử phạt của từng cấp, cách chống án; quy định những hạng người xấu tốt trong xã hội, thái độ đối với từng hạng người; nội dung các điều khoản về hình luật, dân luật và luật hôn nhân gia đình Từng điều khoản được ghi tỉ mỉ, đầy đủ các trường hợp có thể xảy ra Bộ luật đã phản ánh tính giai cấp sâu sắc

2.3 Đặc điểm về văn hoá

Văn hoá vật thể hay còn gọi là văn hoá vật chất, bao gồm các sinh hoạt

vật chất như nhà cửa, trang phục, phương tiện Hình thành các yếu tố, các hình thức mang tính vật chất là thể hiện đặc điểm riêng, phong cách riêng của từng dân tộc, phù hợp với cuộc sống, điều kiện sinh hoạt và môi trường sinh thái và hoàn cảnh xã hội cụ thể của từng dân tộc Do môi trường sống, đặc

điểm, phong tục tập quán từng dân tộc khác nhau, tuỳ theo từng điều kiện khách quan đó mà các dân tộc lại có cách ứng xử khác nhau sao cho thích ứng cao nhất điều kiện sinh hoạt vật chất cũng như tinh thần của dân tộc mình

* Về nhà ở :

Người Mông: Cách xây dựng nhà ở của họ tương đối thống nhất, chỉ

khác nhau ở quy mô và vật liệu xây dựng Người Mông ở nhà đất, thường gồm ba gian, hai chái: gian giữa đặt bàn thờ, hai bên là bếp và buồng ngủ, buồng ngủ thường không bố trí ngang hàng cùng bàn thờ Trước đây nhà ở của người giầu thường khá rộng, tường trình, cột gỗ thông kê trên đá tảng đẽo hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, gác lát ván Nhà của người nghèo làm bằng cột ngoãm, vách nứa hay ván bổ, mái tranh Mỗi nhà đều được mở từ hai

đến 3 cửa Mọi người trong nhà, nhất là phụ nữ thường đi lại hàng ngày chủ

Trang 21

yếu qua cửa phụ Nhà ở cũng là nơi để lương thực, ngô được xếp ở gian bếp Tuy nhiên nhiều vùng, đồng bào có làm kho chứa lương thực riêng ở cạnh nhà Bếp của người Mông thường có hai cái, một cái dùng để sưởi, một cái dùng để đun nấu, chủ yếu là nấu thức ăn cho gia súc Các chuồng gia súc cũng làm ở chỗ thuận tiện cách nhà không xa lắm Chuồng trâu, bò, lợn được lát ván cao và quét dọn hàng ngày ở một số nơi người ta thường xây tường

đất cao ngang đầu người xung quanh nhà, chuồng gia súc tạo thành khu vực ở riêng của mỗi gia đình

Người Dao: Do địa bàn và hình thái cư trú nên người Dao có 3 loại hình nhà khác nhau đó là: Nhà nền đất, nhà nửa sàn nửa đất và nhà sàn

Dụng cụ để làm nhà thường: dao tay, nếu làm nhà cú lỗ đục và mộng thỡ phải cú thờm cưa, bào và cỏc loại đục Người Dao khụng cú thợ làm nhà chuyờn nghiệp mà mọi người trong thụn xúm đều cú thể làm đuợc, kể cả phụ

nữ Từ lõu đời người Dao đó cú tập quỏn tương trợ nhau, vỡ thế mỗi khi trong thụn cú ai làm nhà thỡ mọi người tới làm giỳp hoặc gúp thờm nguyờn vật liệu Nguyên vật liệu chủ yếu là gỗ, tre nứa, cỏ gianh, dây rừng là những thứ có sẵn trong rừng

Loại hỡnh nhà đất: Từ rất lõu người Dao đó ở nhà đất Họ cho rằng cú ở

nhà nền đất mới cú chỗ để cỳng Bàn Vương Nhà nền đất phổ biến ở những người Dao đó định canh định cư hoặc luõn canh định cư, với những người Dao chuyờn làm ruộng nước Bộ sườn của nhà được cấu tạo khỏ đơn giản, thường mỗi vỡ kốo chỉ cú hai hoặc ba cột, một quỏ giang và một bộ kèo đơn Nhà thường ba hoặc năm gian đứng (khụng cú chỏi), dựng trên những chỗ đất

đồi tương đối bằng phẳng bao gồm: Nhà chính, bếp, chuồng gia súc, nơi để các công cụ sản xuất và sinh hoạt

Loại hỡnh nhà nửa sàn nửa đất: Loại hỡnh này phần nhiều ở những

nhúm Dao sống bằng nương rẫy du canh, thường cư trỳ trờn nền đất dốc Nhà

Trang 22

đối với cư dõn này chỉ là một phương tiện cư trỳ tạm thời, phự hợp với cuộc sống du canh, du cư Do đú loại hỡnh nhà nửa sàn nửa đất đó ra đời Sườn nhà loại này cũn đơn giản hơn cả loại nhà nền đất Mỗi vỡ kốo cũng cú hai cột nhưng là cột ngoàm Cột, quỏ giang, kốo đều được buộc gỏ vào nhau bằng dõy rừng

Nhà nửa sàn, nửa đất khụng phải là một bước phỏt triển của loại hỡnh nhà nền đất mà là một biến dạng của nhà nền đất để thớch ứng với điều kiện sản xuất du canh và cư trỳ trờn nền đất dốc

Loại hỡnh nhà sàn: Loại hỡnh này phổ biến ở những người Dao đó làm

ruộng nước Nhà được dựng trờn cỏc gũ đất thấp, dưới chõn nỳi, trong cỏc thung lũng gần ruộng nước

Nhà sàn của người Dao cú những nột tương tự như nhà người Tày hay người Nựng cựng địa phương, từ cấu trỳc bộ sườn cho đến cỏch bố trớ bờn trong, xa dần loại hỡnh nhà nền đất éiều đú chứng tỏ người Dao với người Tày, Nựng hoặc người Việt nờn đó cú sự trao đổi ảnh hưởng lẫn nhau trong việc kiến thiết nhà cửa

Ba loại hỡnh nhà ở của người Dao tuy khỏc nhau nhưng vẫn cú những nột chung ở chỗ vị trớ và cỏch bố trớ bờn trong của một "gian đặc biệt" trong ngụi nhà Gian này thường cú vỏch chắn theo chiều dọc của nhà và cú một đoạn vỏch, ngăn giữa nú với gian bờn Ở gúc nhỏ này cú bàn thờ Sau đoạn vỏch, ngăn giữa nú với gian bờn Sau đoạn vỏch ngăn dọc là một buồng nhỏ thường để rượu hay thịt ướp chua Cú thể núi cỏch bố trớ của gian này là một đặc trưng của nhà ở người Dao nước ta

Người Thái: Người Thái đều ở nhà sàn làm bằng gỗ, rất đẹp, chắc chắn,

dựng theo những quy định được đặt ra từ đời này qua đời khác tuỳ theo từng

địa phương, từng ngành, nhóm Thái Đây vừa là phong tục vừa là nét văn hoá

Trang 23

của người Thái Nhà sàn người Thái gồm có hai loại (loại mái khum mu rùa của người của người Thái Đen và loại 4 mái phẳng của người Thái Trắng Nguyên liệu chủ yếu để làm nhà là gỗ, tre, nứa, mái lợp cỏ gianh Đặc điểm của loại nhà sàn này là cao ráo, thoáng mát nhờ có cửa sổ ở tất cả các gian,

trừ gian đặt bàn thờ tổ tiên (người Thái gọi gian này là Khlọ hoóng)

Cách bố trí mặt bằng sinh hoạt của người Thái khá độc đáo, trong lòng

nhà được chia làm hai phần chính là phần gầm sàn lang” chỗ ở của gia cầm gia súc, gia cầm, phần mặt sàn “hạu hươn” phần người ở Nhà sàn của người

Thái thường 5 gian, không có tường ngăn thành từng gian, buồng ngủ mà tất cả các thành viên đều ngủ theo gian, lấy chăn đệm hay hòm làm vật ngăn giữa các gian theo thứ tự tính từ gian đặt bàn thờ tổ tiên ra phía sau sàn phơi

(chau) Gian kế tiếp bàn thờ tổ tiên thường là nơi ngủ của ông bà, tiếp đến là

gian bố mẹ, vợ chồng con trưởng, vợ chồng anh hai, anh ba các cô gái chưa chồng thường ngủ gian ngoài cùng sát giàn phơi Riêng các con trai chưa vợ ngủ ở gian quản (gian đặt bàn thờ tổ tiên) khi có khách ngủ qua đêm sẽ được chủ nhà sắp xếp theo phong tục người Thái Khách nam ngủ ở bên phải nhà, khách nữ ngủ bên trái nhà liền kề với con gái của chủ nhà

Kết cấu nhà sàn Thái xưa kia là cột chôn, không đục mộng mà được giằng với nhau bằng dây mây, dây rừng Sau này thay đổi bằng cột kê, có đục mộng, theo kết cấu vì kèo, có 4 cột gỗ chác chắn, dựng cột với quá giang xong mới lắp kèo Tất cả các chi tiết từ số gian, số bậc cầu thang, đòn tay, chắn song cửa sổ cũng đều là số lẻ (người Thái cho rằng đây là những con số của sự phát triển) Phía trước nhà có sàn lộ thiên được ghép bằng cây vầu hoặc cây nứa rộng khoảng 35- 40m làm sân phơi quần áo, lương thực, thực phẩm khi thu hoạch hoặc ngồi hóng mát khi rảnh rỗi của tất cả các thành viên trong gia đình Phía sau nhà cũng có một sàn tương tự dùng làm chỗ rửa chân trước khi vào nhà, và phục vụ việc bếp núc

Trang 24

Tóm lại, nhà của các nhóm Thái khá thống nhất về kết cấu cũng như các sinh hoạt trong nhà, phù hợp với hoàn cảnh sống và phong tục tập quán lâu

đời của họ

* Về văn hoá ẩm thực:

Người Mông: Đời sống văn hóa của người Mông cũng có nhiều nét

đặc trưng riêng, nổi bật Tuy sản xuất gặp nhiều khó khăn, nhưng với tinh thần lao động cần cù nên cuộc sống của người Mông tương đối dễ chịu

Đồng bào ăn ngày hai bữa, vào những ngày mùa ngày ăn ba bữa Thức ăn chính là cơm ăn thì có “mèn mén”, thức ăn có món” thắng cố”, rau, đậu sào

mỡ và canh Vào những dịp lễ tết, có khách, người ta còn hay thịt gà, làm nhiều loại bánh bằng bột ngô, gạo Hút thuốc phổ biến bằng điếu cày Nạp thuốc vào điếu mời khách hút được coi là cử chỉ quý khách

Người Dao: chủ yếu là các loại sản xuất, khai thác trong thiên nhiên và

trao đổi hàng hoá Lương thực chính vẫn là lúa, ngô, khoai, sắn Trước đõy đồng bào cũn nhiều thiếu thốn nờn ăn uống cũng rất kham khổ, thức ăn thường chỉ cú măng rau, ớt khi cú cỏ thịt Mặc dự người Dao cú nuụi nhiều

gà, lợn nhưng chỉ để dựng làm lễ cỳng hay dựng trong cỏc dịp ma, chay, cưới xin Người Dao để dành thịt bằng cỏch phơi khụ hay xấy khúi; đặc biệt là mún thịt ướp chua cú thể để lõu hàng chục năm vẫn tốt Gia vị cú: ớt, gừng, giềng, lỏ xả, hạt dổi và cỏc thứ rau cú mựi thơm Người Dao hay uống rượu Dao Thanh y, Dao Tiền uống rượu hoóng (rượu khụng cất), rượu này ớt cay, thường cú vị chua

Nước uống hàng ngày là nước chố, nước vối hoặc nước lỏ rừng cú tỏc dụng như một vị thuốc bổ Người Dao cũng hỳt thuốc lào, thuốc lỏ và ăn trầu Người Dao rất thảo ăn và mến khỏch, đồng bào thường núi: "éến làng người Dao thỡ khụng lo đúi" Thực vậy, là khỏch dự quen hay lạ, dự xa hay gần đến nhà người Dao, gặp bữa đều được chủ nhõn thết đói chu đỏo

Trang 25

Người Thái: Trong cách ăn uống đồng bào thích ăn cá, thịt trâu và ếch,

nhái, thích các món ăn khô như nướng, đồ vùi tro bếp Lương thực chính của người Thái là lúa gạo, nhất là gạo nếp, từ gạo nếp được chế biến thành nhiều loại xôi: xôi ngô, xôi đỗ, xôi nhuộm màu xanh, đỏ, vàng khi có lễ tết Nhiều loại côn trùng cũng được ưa thích như ong non, trứng kiến Khi sinh nở, phụ nữ được săn sóc chu đáo thường được bồi dưỡng bằng các loại thịt đặc biệt là thịt gà

Đồng bào ít ăn thức ăn luộc Thức ăn thường hay xào với mỡ hoặc rang muối Họ thích ăn chua, ăn sống hoặc ăn tái với nhiều gia vị thường có chất cay chát Mắm cá là món ăn nổi tiếng của người Thái Đặc biệt có món Nậm Pịa là nước sữa đắng ở ruột non những con vật hay ăn cỏ như trâu, bò, hươu, nai Nước sữa đó hoà với tỏi, ớt, nước chua làm nước chấm Cho đến ngày nay món ăn này vẫn dược duy trì và trở thành đặc sản không chỉ của riêng người Thái mà còn của cả các dân tộc vùng cao phía Bắc

Về đồ uống của người Thái chủ yếu là rượu trắng (lẩu xiêu) làm bằng ngũ cốc, sắn, các thứ củ trong rừng Rượu thường được dùng sau buổi làm việc mệt nhọc, khi tiếp khách, hội hè, cúng bái, cưới xin Rượu vùng Điện Biên cất hai lần nổi tiếng là ngon Rượu cần (lẩu xá) thường được dùng trong những dịp hội hè tế lễ

Ngoài uống rượu đồng bào ưa hút thuốc lào Chiếc điếu cày dài, to, có nhiều nước, hút nhẹ chủ yếu dành cho nam giới Còn phụ nữ người Thái ít ăn trầu

* Về các hình thức lễ, tết, hội :

Bên cạnh những nét về đời sống văn hoá vật chất như trên các dân tộc Mông, Dao, Thái còn có những nét về văn hoá tinh thần, văn hoá phi vật thể Văn hoá phi vật thể chính là kho tàng văn hoá tinh thần hết sức phong phú,

đặc sắc của đồng bào có sức sống bền bỉ bát nguồn từ hiện thực cuộc sống,

Trang 26

nhưng lại vượt lên trên cuộc sống để trở thành khát vọng vươn tới cái đẹp, cái lớn lao Có thể nói mỗi dân tộc thể hiện các hoạt động văn hoá khác nhau, nhưng đều xoay quanh các hình thức như: múa hát, lễ hội truyền thống, tri thức dân gian, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo

Người Mông: Trong một năm người Mông ăn hai Tết lớn:

- Tết năm mới vào khoảng đầu tháng 12 âm lịch, theo cách tính của người Mông mỗi tháng có 30 ngày, hết 12 tháng là tết; ở các tỉnh vùng Đông Bắc người Mông còn ăn tết 13 tháng 3, 13 tháng 6, đồng bào còn ăn tết mồng

7 tháng 7, tết đốt vàng mã cho tổ tiên

- Tết mùng 5 tháng 5 là dịp sum họp gia đình, gặp gỡ những người cùng thôn xóm trong tiệc rượu, nên thường mổ những con lợn to, gà thiến béo để

mời khách

Ngoài ra người Mông còn có một lễ hội được tổ chức với quy mô lớn

Đó là lễ Nào Xồng trong lễ người ta tập trung các dòng họ, các chi Mông ở

một xã, hay một vùng mổ trâu, bò để cúng tế, mỗi gia đình đến đều phải mang theo cơm, rượu để góp Mục đích của buổi lễ này là cùng nhau bàn bạc, thống nhất về quy ước, phong tục tập quán, những quy định của dân làng về hôn nhân, ma chay, lễ tết, cấm những điều không được làm như: phá rừng, chăn thả trâu, bò vào những khu rừng cấm Sau khi lễ xong cùng ăn uống, chúc tụng vui vẻ; ăn uống xong người ta tổ chức múa hát quanh đống lửa,

cuộc vui có khi kéo dài đến sáng hôm sau mới tàn

Âm nhạc dân ca Mông mang tính trữ tình phong phú và chiến đấu mạnh phản ánh sắc nét cái đẹp tự nhiên vùng cao, cái đẹp tươi sáng của tinh thần người Mông, vì vậy được nhiều người làm công tác âm nhạc quan tâm nghiên cứu, nâng cao

Dụng cụ âm nhạc người Mông độc đáo, có những thứ (như kèn lá, đàn môi) giản dị nhưng lại phát được âm thanh tốt Khèn được sử dụng trong đám

Trang 27

ma, một số nghi lễ gia đình Những lúc đi đường hay nghỉ ngơi trong đêm dưới ánh trăng sau một ngày làm việc mệt nhọc, thanh niên cũng hay thổi khèn Đàn môi, kèn lá là phương tiện trao đổi tâm tình của thanh niên trong những đêm khuya vắng mà lời nói hiểu qua nó còn lôi cuốn mạnh hơn cả lời nói phát thành lời Khác với khèn bè tiếng của nó vang lên cả một thung lũng thì kèn lá, đàn môi chỉ thầm thì cho một người nghe Trong những ngày hội

đầu xuân (gầu lào), tết đến, xuân về nam nữ thanh niên ca hát, chơi các trò

chơi cổ truyền nhẩy múa khèn Mông, tung còn (lảy Pao), đánh quay, đua ngựa, bắn tên, bắn nỏ

Người Dao: cũng giống lễ hội của người Thái, người Mông luôn mang

không khí vui vẻ trẻ trung, tưng bừng sau những ngày làm việc vất vả, có khi còn là nơi để nam nữ thanh niên hẹn hò , lễ hội của người Dao vừa mang màu sắc tôn giáo, tín ngưỡng vừa có tính chất sinh hoạt văn nghệ

Tết Nhảy của người Dao khá đặc biệt Mục đích của lễ hội này là cúng Bàn Vương và luyện binh âm tướng (âm binh) để bảo vệ cuộc sống và sinh hoạt của gia đình Vào tháng chạp người ta tổ chức Lễ hội Tết Nhảy Nghi lễ này được tổ chức hàng năm và ba năm làm thành một chu kỳ Năm thứ nhất

và năm thứ hai cúng bình thường, có thể chỉ mổ gà vịt vũng được Năm thứ ba thường làm to, phải mổ lợn, cúng trong hai ngày, hai đêm Trong lễ này người

ta phải mời hai thày cúng, mộy thày làm chủ đám (sliêu họ) và một thày múa

(khoi tàn) Các bước được tiến hành nghi lễ như sau: lập đàn tẩy uế, lễ khấn

mời các thần thánh, Bàn Vương gia tiên về dự lễ, tuyên bố lý do và báo cáo công việc cho gia tiên và thần thánh biết Tiếp đến là thầy múa nhảy bằng chân trên bếp than hồng để tẩy uế Mọi người thay nhau nhảy theo, kéo dài

đến sáng hết điệu này đến điệu khác Sau các điệu múa thầy chủ đám thổi tù

và mời Ngọc Hoàng, Thượng Đế xuống chứng giám buổi lễ, sau đó lại tiễn

Ngọc Hoàng về thượng giới, các thầy cúng làm lễ "chiêu binh" Ông chủ đám

khấn các thần, Bàn vương và gia tiên về ngự tại bàn thờ tổ tiên rồi làm phép

Trang 28

thu thánh tướng, âm binh vào một thanh kiếm hay con dao nhọn, rồi đặt lên

mu bần chân hất mạnh lên bàn thờ tổ tiên Tiếp đó họ mổ lợn để cúng, cầu mong Bàn Vương, các thánh thần phù hộ cho gia đình, mong gia tiên luôn chăm sóc bảo vệ con cháu, dòng tộc, cầu mong thánh tướng giúp sức trong việc tế lễ làm ma chay để bảo vệ cuộc sống sinh hoạt trong cộng đồng.Ngày nay một số điệu múa của Tết nhảy đã được đồng bào đã được cải biến

để phục vụ sinh hoạt văn nghệ của đồng bào

Nói đến lễ hội của người Dao, không thể không nói đến lễ cấp sắc dành riêng cho nam giới Người ta làm lễ này lần lượt theo thế hệ và thứ bậc: ông,

bố, anh, em, con, Những người lớn tuổi qua đời mà chưa làm lễ cấp sắc thì con cháu phải làm cho họ, sau đó mới làm cho mình Tuổi quy định được cấp sắc là từ 12 -18 tuổi trở lên trong lễ cấp sắc người đàn ông sẽ được đặt pháp danh- tên âm Khi cúng chỉ dùng tên âm này Trong lễ cấp sắc ngoài mục

đích, ý nghĩa thụ phong, tấn phong tôn giáo, người Dao còn kết hợp làm lễ cúng Bàn vương là anh hùng huyền thoại thuỷ tổ của các ngành Dao Ai muốn được công nhận là con cháu Bàn vương thì bắt buộc phải làm lễ cấp sắc, để được công nhận là tín đồ Đạo giáo Dân gian, khi chết đi linh hồn mới

được quy tụ về đất tổ ở Dương Châu

Ngoài các nghi lễ trên người Dao còn có một số lễ khác đó là: lễ mở cửa rừng, lễ cúng thần nương, lễ cúng cơm mới, lễ cúng hồn lúa

Người Thái: Trong các mường thường tổ chức lễ hội “xên bản”, “xên

mường” (cúng thần bản, thần mường) Đây là lễ cúng cầu an của dân bản diễn

ra tại nơi rừng cấm đầu bản hoặc rừng cấm cửa mường, họ góp của, góp công

để tổ chức, nên tuỳ điều kiện, khả năng của từng nơi mà lễ này to hay nhỏ

Lễ “Xên bản” gồm hai phần, phần lễ xên và phần hội vui chơi Người ta

có quy định đồ vật để làm lễ đó là chỉ được mổ lợn, gà, vịt, cá hay thịt ướp chua, nhưng không được mổ trâu, bò mà bắt buộc phải mổ dê hoặc chó để lấy

Trang 29

tiết của chúng bôi dọc hai bên đường vào bản với mục đích ngăn chặn các loại ma làm hại bản

Lễ “Xên mường”do ông mo Nghe (mo của mường) chịu trách nhiệm thực hiện, phìa hoặc chẩu mường đứng ra tổ chức quyên góp Không giống như lễ “Xên bản” lễ “Xên mường’’ phải mổ trâu, con trâu dùng làm lễ phải là trâu đực lành lặn chưa biết cày Sau khi cúng xong tất cả nam giới đến dự sẽ

được mời ăn uống chung tại nơi cúng lễ, (lúc này chị em không được dự ăn cơm, sau khi ăn cơm ở nhà xong, chị em phụ nữ sẽ kéo đến nơi cúng để tham gia các trò chơi Các trò chơi chủ yếu là chơi đu và những điệu múa xoè duyên dáng của các chàng trai, cô gái Thái, cũng có nơi sau khi ăn uống xong

họ thường tổ chức đi săn tập thể, những con thú săn được sẽ chia đều cho các gia đình trong mường

Trong dịp “cúng mường, cúng bản” có lệ cấm người ngoài vào bản, vào mường và kiêng các hoạt động sản xuất như hái củi, hái rau, ra sông suối

đánh bắt cá (người Thái gọi là “căm bạn” hay “căm xéng” (kiêng bản, kiêng mường)

Không chỉ có lễ hội mùa xuân người Thái còn có tết “Xíp xí” (ngày 14 tháng 7 âm lịch) là lúc mọi nhà đã làm xong vụ mùa Thực chất đây là tết cầu mùa Họ cầu xin tổ tiên và các vị thần linh phù hộ cho vụ mùa tốt tươi, cho con người và con của có sức khoẻ để làm tiếp vụ sau, cũng là để tạ ơn trâu, bò công cụ sau một vụ mùa lao động vất vả mệt nhọc Tết này được tổ chức theo từng gia đình, có nơi theo dòng họ và tuỳ khả năng mà tổ chức to, nhỏ khác nhau Họ cho rằng trong dịp này, gia đình nào càng mời được nhiều khách

đến dự, kể cả khách ngoài dòng họ thì càng may mắn tốt đẹp

Theo tục lệ sau khi cúng tổ tiên xong, nam nữ thanh niên thường rủ nhau lên rừng, ra suối múa hát dao duyên, hát ổi, hát sim, ném còn vòng, kéo co giữa các bản các mường với nhau

Trang 30

Người Thái nổi tiếng với điệu múa xoè vòng tròn Trống chiêng ở giữa, nam nữ xen kẽ cầm tay nhau tạo thành vòng tròn xoè theo nhịp trống chiêng Vòng xoè càng rộng, tiếng chiêng, trống càng vang thì năm đó làm ăn càng may mắn, thóc lúa càng bội thu, con người sống yên vui

*Về trang phục:

Bộ trang phục truyền thống là một trong những sản phẩm văn hoá vật thể phản ánh đặc trưng, phong cách của từng dân tộc Do điều kiện lịch sử xã hội của từng tộc người mà trang phục các dân tộc có những nét khác nhau về chất liệu, hoạ tiết, màu sắc, kiểu dáng y phục, đồ trang sức

Trang phục của người Mông: Trang phục cổ truyền của phụ nữ Mông

gồm váy, áo xẻ ngực có yếm lưng, tấm vải che váy phía trước, thắt lưng và vuông vải nhỏ che lưng đằng sau, khăn quấn đầu, xà cạp Váy hình nón cụt, xếp nếp xoè rộng, khi người đi váy đu đưa lượn sóng Váy người Mông trắng làm bằng lanh trắng Váy Mông hoa màu tràm có thêu hoặc in hoa văn gấu váy áo phụ nữ Mông trắng xẻ ngực có thêu hoa văn ở cánh tay và yếm lưng

áo phụ nữ Mông hoa xẻ nách, trên vai và ngực có nẹp thêm vải mầu thêu hình hoa văn và thường là hoa văn con ốc Váy phụ nữ Mông đen cũng cùng kiểu với váy phụ nữ Mông trắng và Mông hoa nhưng ngắn hơn Váy màu chàm in hoa văn áo của họ giống áo Mông Trắng nhưng thêu ở cánh tay và

hò áo Váy phụ nữ Mông xanh (Mống Súa) may bằng vải chàm, ở sát gấu có thêu hoa văn hình chư thập trong các hình vuông Váy hình ống khi mặc mới xếp nếp áo phụ nữ mở chếch ngực, xẻ thẳng về bên trái, cài bằng một cái cúc Hò, cánh tay và cổ tay áo có thêu hoa văn Nẹp áo đáp thêm những miếng vải màu nhỏ Tà xẻ không khâu mà buộc lại với nhau bằng dây ở một chỗ Gấu áo khâu thành 3, 4 lớp đè lên nhau bằng vải màu Phụ nữ Mông trắng cặp tóc xung quanh đầu và sau đó còn quấn thêm tóc giả ở người Mông xanh, trẻ em gái để tóc xoã ngang vai, đến khi lấy chồng mới quấn lên đỉnh

Trang 31

đầu và dùng lược móng ngựa cặp ngược về phía trước giữ tóc, do đó khi trùm khăn lên, đầu có hai đầu nhọn chìa ra phía trước như hai sừng nhỏ Phụ nữ và nam giới Mông ở Sa Pa còn mặc áo khoác ngoài kép, xẻ ngực, không có tay,

cổ đứng có thêu hoa văn Cái áo cánh đàn ông người Mông Sa Pa rất giống kiểu áo cánh người Dao đỏ

Hoa văn trang trí trên váy, áo phụ nữ Mông là những tác phẩm nghệ thuật dân gian đẹp Thể hiện những hoa văn đó bằng cách thêu, chắp vải, dùng sáp ong kẻ và nhuộm chàm Bên cạnh hoa văn con ốc, chữ thập ngoặc, còn có hình chân có , con rắn, mắt chim, vai cày, răng bừa, cái kèn, đoá hoa, con bướm, đồng tiền, chân lợn, phản ánh nhiều khía cạnh cuộc sống Sự cách điệu cao, màu sắc hài hoà, sự thông minh khéo léo của đồng bào dân tộc

dân tộc của mình éàn ụng Dao cú hai loại ỏo: ỏo ngắn và ỏo dài; ỏo ngắn được mặc thường xuyờn hàng ngày, ỏo dài giống kiểu ỏo của người Việt chỉ được mặc vào những dịp đi chơi xa, đi chợ, dự hội, dự đỏm

Quần bằng vải nhuộm chàm, cắt theo kiểu chõn quố, cạp lỏ toạ ruộm chàm hoặc để trắng Nay đó cú nhiều người (nhất là ở lứa tuổi thanh niờn) đó mặc quần Âu

éồ đội đầu cú nún lỏ và ụ éàn ụng cũng cú đồ trang sức bằng bạc hoặc bằng đồng như nữ

Nếu như bộ trang phục nam ớt cú những nột độc đỏo thỡ trỏi lại bộ trang phục nữ cũn giữ lại được nhiều yếu tố dõn tộc cổ truyền

Phụ nữ Dao éỏ để túc dài vấn xung quanh đầu, ngoài đội khăn bằng vải

nỉ đỏ Phụ nữ Dao éỏ khụng cú ỏo ngắn mà chỉ mặc ỏo dài ngang ống chõn

Áo màu chàm xẻ trước ngực, cổ ỏo liền với nẹp ngực, thờu rất đẹp Khuy bạc

Trang 32

to gần bằng bao diêm có chạm hoa văn trang trí Gấu áo của hai thân vải có thêu cái ấn của Bàn Vương như ở áo của người đàn ông Phụ nữ Dao Ðỏ mặc quần màu chàm cắt theo kiểu chân què, cạp lá toạ, nay thay bằng cạp lồng dây rút Ống quần tương đối hẹp có thêu nhiều ở phần gấu yếm của Dao Ðỏ giống yếm của người Mông Phụ nữ Dao Ðỏ thường đi chân đất, nay đã có dep lốp và giày vải Ngày hội, ngày đám hay đi chợ, phụ nữ Dao còn vấn xà cạp bằng vải trắng Ðồ trang sức chủ yếu làm bằng bạc hoặc đồng thau

Phụ nữ Dao Quần Chẹt cắt tóc ngắn chải sáp ong, đội khăn dài màu chàm Cách đội khăn giống Dao Ðỏ, nhưng cũng có người vấn khăn thành hình cái sừng tròn trên đầu, hơi nghiêng về phía bên phải hoặc bên trái Dao Quần Chẹt khăn bằng vải ruộm chàm, thêu nhiều hoa văn bằng chỉ màu ở phần cổ và còn đính thêm hai bán cầu hoặc hai ngôi sao bằng vải chàm, nhưng cách cắt có khắc quần chân què, độ doãng của quần khá lớn, ống quần rất hẹp, bó sát vào chân và chỉ dài dưới gối một chút

Aó của Dao Lô Gang rất giống áo Dao Quần Chẹt, chỉ khác là nẹp cổ có thêu nhiều mô típ khác nhau Quần cũng màu chàm, khâu cắt và thêu giống như người Dao Quần chẹt nhưng ống rộng hơn Xà cạp thêu rất đẹp.Áo của phụ nữa Dao Tiền cùng kiểu với áo Dao Ðỏ nhưng ít thêu và nẹp ngực nhỏ hơn Cổ áo phía sau lưng đính bảy hoặc chín đồng tiền Riêng áo mặc trong ngày cưới, ngày có đám chay, thường là áo kép, áo ngoài thêu nhiều hơn áo trong

Phụ nữ Dao Tiền mặc váy (váy hở không khép mí) bằng vải chàm gồm

6 bức, mỗi bức là một khổ vải dài chừng 80 cm (tuỳ người mặc cao hay thấp

mà có kích thước khác nhau), rộng khoảng 30-35cm Vòng cạp khoảng 100cm về phía dưới gấu có hoa văn màu xanh lơ in bằng sáp ong Phụ nữ Dao Tiền cũng có rất nhiều đồ trang sức bằng bạc Có người đeo tới 10-12

Trang 33

cỏi nhẫn va vũng cổ cũng rất nhiều Tỳi đựng trầu cau, ngoài tỏc dụng thực tế

nú cũn là thứ đồ trang sức đặc biệt mà người đàn bà Dao Tiền nào cũng cú

Trang phục của người Thái gồm có áo cóm, váy màu đen, cúc màu

bạc, hình bướm Tấm váy Thái có độ dài chấm gót chân, dưới bàn tay khéo léo của chị em phụ nữ nó được cắt may theo hình ống từ đầu váy đến chân váy, phần đầu váy được viền thêm một dải vải khác màu tuỳ theo ý thích của từng người nhưng thường là màu trắng hoặc màu đen ở phần gấu váy mặt trong thường viền thêm một dải vải đỏ tạo nên điểm nhấn không thể thiếu của

bộ y phục Thái Để tôn thêm vẻ đẹp của tấm váy, chiếc áo ngắn chít thân của người phụ nữ Thái “xửa cóm” đã trở thành một thành tố không thể thiếu của

bộ y phục phụ nữ Thái Chiếc áo cóm phô diễn những đường cong, nét đẹp của nửa thân trên mà thân hình phụ nữ vốn có Chiếc áo cóm còn được tôn thêm vẻ đẹp háp dẫn bởi hàng cúc bướm “mác pém” tóm lại bộ y phục của phụ nữ Thái khá giản dị, ít màu sắc nhưng lại rất thanh lịch Đây là bộ y phục vừa mang tính truyền thống, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa ẩn chứa nhiều yếu

tố hiện đại

* Về hôn nhân

Thủ tục hôn nhân của người Mông: cũng giống như các dân tộc khác

Họ được tự do tìm hiểu và tự quyết định lấy hạnh phúc của mình Tiêu chuẩn lấy vợ lấy chồng của người Mông là khoẻ mạnh, chăm chỉ làm việc Đồng bào quan niệm lấy được một người đàn ông khoẻ mạnh làm chồng như mua

được con trâu mộng Đồng thời, người con gái Mông cũng thích làm bạn đời với các chàng trai hát hay, thổi kèn giỏi Đối với con gái thì phải biết dệt, may vá, thêu thùa giỏi và chăm chỉ việc nhà

Khi lấy vợ lấy chồng, người Mông không so tuổi và xấu, đẹp không thành vấn đề, miễn đạt những tiêu chuẩn trên Trai gái Mông được tự do tìm hiểu Một điều đáng chú ý nữa của hôn nhân người Mông là xã hội cũ khuyến

Trang 34

khích quan hệ hôn nhân cận huyết Theo phong tục, con dì con già, con cô

con cậu được lấy nhau Hôn nhân giữa con của chị em gái “mi nhổn lỉa lâì lỉa

dùa” Con anh trai lấy con em gái “mi nhổn lỉa tày mi nhổn át làu” Hôn nhân

cháu lấy dì Con trai cậu lấy con gái cô được coi là điều tốt Người cô khi gả

bán trước hết phải gả bán cho con cậu, “nước tốt không để chảy vào ruộng

người” Còn cậu thì có quyền đòi cô gả con gái cho con trai mình, vì “tôi đã

để vật quý ở đây thì phải lấy lại nó" Các trường hợp này thường do bố mẹ

sắp đặt nhằm cố kết sợi dây liên kết dòng họ Tuy là anh em, nhưng đã khác huyết thống, xét đến cùng đã khác dòng họ (tính theo trực hệ bố) Đồng bào cho rằng những cặp hôn nhân như thế là tốt nhất, con cái sinh ra sẽ đẹp đẽ, tốt tính, tốt nết, vợ chồng làm ăn khẫm khá, Các bước hôn nhân của người Mông diễn ra theo tập quán truyền thống gồm các lễ như sau:

+ Lễ bắt dâu “Mùng tùa nha”

+ Lễ đi báo nhà gái “mùng nung”

+ Lễ ăn hỏi “mùng tẩy chau xung”

+ Lễ trao vật “mùng giả từ ô chuông”

+ Lễ cưới “hàu chứ xung”

+ Cuối cùng là lễ lại mặt (lễ về thăm nhà) cô dâu có thể ở lại nhà mình một ngày và khi trở về nhà chồng có thể mang theo tất cả đồ đạc tư trang của mình Từ đó cô dâu hoàn toàn thuộc về nhà chồng

Thủ tục hôn nhân của người Dao: đơn giản hơn thủ tục hôn nhân của

người Mông Sau khi hai bên yêu nhau thực sự chàng trai sẽ thưa với bố mẹ

nhờ ông mối sang nhà gái dạm hỏi “nại nham” Trước đó, nhà trai đã nhờ

người đến nhà gái đánh tiêng trước Lễ này do chính bố mẹ chàng trai trực tiếp đến nhà gái dạm hỏi cho con mình Lễ vật chỉ cần chai rượu, nhưng nhà gái lại chuẩn bị sẵn cơm nước đàng hoàng để đón tiếp bố mẹ chàng trai Nếu

Trang 35

nhà gái đồng ý sẽ trao tờ “mệnh” ghi ngày sinh tháng đẻ của cô gái cho nhà trai Sau khi so tuổi được 10 - 15 ngày nhà trai sẽ sang làm lễ đặt chân gà (lễ

đính hôn) Gồm các lễ:

+ Lễ đính hôn “địa tịnh, tịnh chìa cha, táy chay”;

+ Lễ báo ngày cưới do bố mẹ chàng trai đem 2 lít rượu sang nhà gái thông báo ngày cưới, có nơi mang theo 1 phong bì đỏ trong đó ghi ngày hẹn cưới,

+ Lễ cưới “chìa cha, ay cón, chất tíu”;

Thủ tục hôn nhân của nhóm Thái Đen và Thái Trắng được tiến hành

tuần tự như sau:

Lễ so tuổi, tuy nhiên đây không phải là thủ tục bắt buộc, tuỳ từng gia

đình mà tiến hành thủ tục này Vì trong truyền thống trai gái Thái tự do tìm hiểu nhau sau đó mới báo cho cha mẹ biết khi đã thực sự phải lòng nhau

Lễ chạm ngõ “pay tham pợ” Đây là cuộc tiếp xúc đầu tiên, lễ vật đơn

giản

Lễ ăn hỏi “Pay dạm pợ”, đây là bước chính thức quan hệ giữa họ nhà

trai và nhà gái Có ông, bà mối dẫn đầu cùng một số chàng trai đi giúp việc và các lễ vật đã thoả thuận trước giữa ông mối và nhà gái Tổ chức lễ này to hay nhỏ là tuỳ thuộc khả năng, điều kiện của nhà trai và yêu cầu của nhà gái, nhưng phải tuân theo phong tục truyền thống

Lễ cưới “Xúc phạ”, có nơi gọi là “Kin đoong” Dẫn đầu đoàn cưới là

ông, bà mối, chàng rể và các bạn trai khoảng 10-15 người mang lễ vật sang nhà gái cùng nấu nướng và mời nhà gái cùng ăn uống Để đón đoàn đưa dâu, nhà trai phải chuẩn bị sẵn vài mâm cơm để mời đoàn nhà gái Sau ngày cưới

là lễ lại mặt, sau lễ lại mặt là hoàn tất một đám cưới của người Thái

Trang 36

* Về lễ tang :

Dân tộc Mông: khi có người chết người ta mời đến hát bài mở đường

(khuố kê), mặc quần áo rồi đưa lên cáng treo trước bàn thờ hoặc để trên ghế

dài đặt ngang cửa ra vào ở một số họ tuy xác người chết được để vào quan tài ngay nhưng có thể mở quan tài dễ dàng để xem mặt người chết Lúc hát

mở đường khi đọc đến sự tích gà dẫn đường người chết về với tổ tiên, người ta mang một con gà đã chết để nguyên lông moi lòng ra ngoài, hay đôi cánh gà hoặc con gà còn sống đặt trong âu bột ngô đồ với ô giấy và cùng để ở phía

đầu người chết ở dưới “cáng” phía đầu người chết còn để rượu, bột ngô đồ làm đồ cúng hàng ngày

Trong đám ma người Mông thường dùng khèn trống, họ hát các bài: ăn buổi chiều, lên ngựa, ăn buổi sáng, ăn trưa, nhận gia súc, bày tỏ nỗi luyến tiếc người sống đối với người chết Những lễ viếng có người thổi khèn riêng

được coi là long trọng Người đến viếng thường mang đến giấy bản, rượu; người thân mang cả chăn lanh, lợn Khi mổ súc vật bốn chân, người ta đem sợi lanh buộc từ con vật đến tay người chết Trong đám ma người Mông không thiếu được lợn, trâu hay bò làm vật cúng

ở một số họ có tục đưa xác ra ngoài trời để trên một sàn nhỏ có hoặc không có mái che một thời gian Tại đó còn phải giết bò cúng và ăn uống xong mới chôn cất Trường hợp không đưa vào quan tài ngay, người ta cho quan tài xuống huyệt trước rồi mới đưa xác xuống sau Trước khi đậy nắp quan tài, quần áo người chết được cắt nhiều chỗ và cạch xác được đặt những

sợi lanh thái nhỏ trộn cơm, ở một vài nơi còn có con gà “đưa đường” để phía

đầu quan tài

Trước đây, lễ tang kéo dài 5 - 7 ngày, (nay chỉ để 2 - 3 ngày) Chôn cất xong hàng xóm thường đến chơi gia chủ vài ba buổi tối và chủ nhà cắm cành

ở đường nếu người chết là nam: 9 cành, nữ: 7 cành để hồn người chết không

Trang 37

biết đường quay về làm hại gia đình Sáng thứ ba người ta mang cơm nước ra mả, sau đó mang cơm nước ra tiếp hai bữa nữa Hôm cuối cùng người ta nhặt một hòn đá ở mả về để gần bếp coi như chỗ cơm người chết đặt tại đó

Dân tộc Dao: éồng bào Dao quan niệm người chết là ra khỏi cừi trần

nhưng lại cú một đời sống khỏc ở một thế giới khỏc, cuộc sống đú khụng khỏc gỡ ở cừi trần

Quan niệm ấy được thể hiện rất rừ trong việc tang ma cho người chết Gia đỡnh nào cú người chết, mọi người trong nhà khụng được khúc ngay Tang chủ phải đeo dao và buộc dõy ngang thắt lưng đem hai gúi muối, một chai rượu và vàng hương tới đặt trước cửa nhà thầy tào lạy ba lạy Thầy tào nhận lễ đem cỳng trước bàn thờ Tam thanh, sau đú tang chủ mới được vào nhà bỏo tang và mời tào đến "cầm đầu ma", tang chủ cũn phải tới trước cửa từng nhà trong xúm để bỏo tang và xin hộ tang Sau khi được bỏo, thầy tào tới ngay nhà cú người chết để làm lễ mai tỏng Người chết mà được cấp sắc, khi tắt thở người ta bắn ba phỏt sỳng chỉ thiờn để bỏo cho Ngọc Hoàng biết Nếu là người đứng đầu làng, người ta cũn phải chọc thủng núc nhà và giường

ụ đặt ngay tại lỗ thủng đú rồi mới bắn sỳng éồng bào rất e ngại giờ khõm liệm người chết

Ngoài thủ tục địa tỏng, hoả tỏng, người Dao Tiền cũn hỡnh thức tỏng lộ thiờn - tỏng trờn sàn cao

Trong lễ tang của người Dao đều cú lễ cỳng đưa hồn người chết về quờ hương cũ là đất Chõu Dương Người Dao cũng cú quần ỏo tang, nhưng nay nhiều nhúm chỉ cú khăn tang Sau khi món tang, người ta mời thầy tào về làm

lễ đoạn tang và lập bỏt hương thờ vong người chết Bỏt hương này chỉ thờ ba năm thỡ huỷ

Trang 38

Mộ của người Dao thường ở phớa đầu cú một hũn đỏ, phớa chõn ba hũn

đỏ ếp thành cỏi cổng nhỏ Dao Thanh y hoặc Dao Quần trắng cũn cú nhà mồ thủng nơi để mồ mả nhất thiết khụng ai được làm nhà ở đú Những tục lệ lạc hậu vừa hà khắc vừa tốn kộm đang được cải tạo và bỏ dần.

phải là hết mà “tiếp tục sống”ở thế giới bên kia với tổ tiên Xuất phát từ quan niệm đó người Thái đều có nhiều nghi thức liên quan đến ma chay Khi trong nhà có bố mẹ chết, con cháu phải phá bỏ dường chiếu đi và nằm trên ổ rơm, mọi người kiêng trang điểm, không ăn thịt, khóc vật vã Khi khâm niệm người ta phải thực hiện một số nghi thức bắt buộc … Khi đưa quan tài ra khỏi nhà phải đưa đầu đi trước, chân đi sau để con cháu níu kéo lại; ra khỏi ngõ xoay chân 180° về với tổ tiên, còn đầu đi sau hướng về phù hộ độ chì con cháu Khi đưa quan tài ra huyệt con trưởng phải đi dật lùi, đầy quan tài lại, có níu kéo người chết, lăn lộn dưới chân những người khiêng quan tài, bộc lộ sự

đau đớn thiêng tiếc cùng cực của con cháu Ngày chôn đã được chọn từ trước, phải là ngày tốt không trùng với ngày sinh của người thân, gìơ hạ huyệt cũng phải được chọn trước Mộ của người Thái đắp thành hình nấm, đặt 4 hòn đá 4 phía Sau đó họ tiến hành làm nhà mồ khá chắc chắn và đẹp Cá biệt có những

nơi người Thái không chôn mà hoả táng (Người Thái ở Thuận Châu, Sơn La)

Khi người chết tắt thở họ tắm rửa cho người chết bằng nước lá thơm, sau đó mặc quần áo mới, áo ngắn mặc trong, áo dài mặc ngoài, quấn khăn to cho nam giới, quấn khăn Piêu cho nữ giới Sau đó cho vào quan tài bằng gỗ, họ cho vào trong quan tài chăn, màn, đệm, bát đũa, dao… đó là phần của cải chia cho người chết Khi đưa người chết đi hoả táng họ chọn con rể đi dẫn

đường, đến nơi quy định đốt xác của bản, người ta mang người chết đem đốt còn hòm gỗ để lại Hôm sau người ta nhặt xương người chết cho vào chum

đào sâu chôn xuống, đắp thành mồ, sau đó lấy gỗ quan tài làm nhà Từ đó

Trang 39

không bao giờ thăm lại nữa, chỉ gọi hồn về nhà thờ cúng Mười ngày giỗ 1 lần, lễ thường là gà, cá, xôi trắng

* Quan hệ gia đình:

Gia đình của người Mông: là gia đình nhỏ, phụ hệ mà tính chất được

biểu hiện trong nhiều tập tục như trong các dân tộc khác như là con trai được quý trọng Người đàn ông đi cày, khấn tổ tiên, đón thầy cúng, thay mặt cho gia đình trong các công việc làng xóm, những việc theo phong tục, phụ nữ không được làm Có nhiều con trai là điều mong ước của mọi người Những gia đình không có con trai sau khi chồng chết ít quan tâm đến thờ cúng tổ tiên ở người Mông không có tục lấy rể ở đời mà chỉ lấy rể tạm Tâm lý người con gái tự cho mình là khách khá phổ biến Khi còn ở với bố mẹ mình, người con gái không phải kiêng như con dâu (như không ăn tim con vật bốn chân,

không lên gác )

Việc giáo dục con được chú trọng đến nhiều mặt Người con trai không những cần có khả năng lao động giỏi, có đạo đức tốt mà còn cần biết khấn tổ tiên Khả năng lao động cũng sớm phát triển trong thiếu niên Mông Các em trai 13 - 14 tuổi đã làm nương thạo, 17 - 18 tuổi đã lao động giỏi Nắm được nghề thủ công cổ truyền của gia dình Các em gái chóng biết thêu thùa Nhưng để trở thành người lớn thực sự, có thể cúng tổ tiên, tham gia các việc

họ hàng, người con trai còn phải thay tên cũ, đặt tên mới bằng một nghi lễ Con trai được chia phần tài sản đều nhau Bố, mẹ giữ cho mình phần tài sản ngang với phần các con để sinh sống và sau này dùng cho chôn cất Con

út nếu chưa lấy vợ được phần tài sản nhiều hơn, coi đó là sự đóng góp của những người anh giúp cho em xây dựng gia đình

Gia đỡnh người Dao: Tương tự như gia đình người Mông, cũng là gia

đỡnh nhỏ phụ quyền Mỗi gia đỡnh chỉ bao gồm một đụi vợ chồng và cỏc con,

cú gia đỡnh cũn cú thờm ụng bà Mỗi thành viờn trong gia đỡnh đều sống

Trang 40

chung trong một ngụi nhà Những gia đỡnh đụng con trai, cỏc con thứ sau khi lập gia đỡnh, thường làm nhà ra ở riờng và sinh hoạt riờng Tuy nhiờn người

ta cũng cũn thấy một vài tàn dư của hỡnh thức gia đỡnh lớn Chủ gia đỡnh là người cha, nếu người cha đó già yếu thỡ người con cả thay, những cụng việc

hệ trọng trong gia đỡnh thường cú sự bàn bạc chung, nhưng quyền quyết định vẫn thuộc về người chủ gia đỡnh

Những người đàn ụng trong gia đỡnh thường làm cỏc cụng việc nặng nhọc, làm nương rẫy, cày bừa, làm nhà, săn bắn, đỏnh bắt cỏ hoặc nghề phụ

nữ đan lỏt, đúng cối đảm nhiệm việc giáo dục con cỏi éàn bà phải quỏn xuyến mọi cụng việc bếp nỳc và cũng phải gỏnh vỏc một số cụng việc khụng kộm phần vất vả như đàn ụng Trẻ nhỏ làm cụng việc nhẹ như: kiếm củi, lấy măng rau, chăn trõu bũ

Gia đình người Thái có cha, mẹ sống cùng con cái, thường là con trai

cả, hoặc ở với con thứ hai, thứ ba là tuỳ vào cách lựa chọn của cha, mẹ Nếu nhà không có con trai thì chọn ở cùng con rể và con gái Khi bố mẹ qua đời thì người ở cùng được thừa kế toàn bộ gia tài của bố mẹ để lại

* Về quan hệ dòng họ:

Dòng họ của người Mông quan niệm các dòng họ của mình sinh ra từ

một ông tổ, tuy ông tổ đó được gọi không thống nhất Các dòng họ phổ biến trong đồng bào là: Giàng, Thào, Lù, Vù, Sùng, Mã, Lùng, Hầu, Ly, Vang, Tẩn, Trang, Hản, Thèn, Cù, Nhiều tên họ các dòng họ là tên súc vật, các hiện tượng tự nhiên hoặc gắn với một quan niệm kiêng kỵ nhất định

Mặc dù mỗi dòng họ người Mông đều được giả thích bằng những quan niệm nhất định và có sự phân biệt với họ khác, song không phải những người cùng tên họ đều có những quan hệ thân thuộc Đồng bào cho rằng, những

người cùng dòng họ là “ những người anh em cùng tổ tiên”, có thể đẻ và chết

Ngày đăng: 13/05/2014, 23:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Hoàng Tuấn Cư: Đôi điều về tín ngưỡng của dân tộc Thái ở Tây Bắc Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 4, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Tuấn Cư: Đôi điều về tín ngưỡng của dân tộc Thái ở Tây Bắc Việt Nam
3. Hoàng Bình Chính: H−ng Hóa xứ phong thổ lục. T− liệu dịch, Phòng t− liệu khoa Lịch sử - Tr−ờng Đại học KHXH&NV Sách, tạp chí
Tiêu đề: H−ng Hóa xứ phong thổ lục
Tác giả: Hoàng Bình Chính
Nhà XB: Phòng t− liệu khoa Lịch sử - Tr−ờng Đại học KHXH&NV
4. TS. Yang Đao: Người Hmông tại thời điểm bước ngoặt, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đao: Người Hmông tại thời điểm bước ngoặt
Tác giả: TS. Yang
Năm: 1992
6. GS.Phan Hữu Dật: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay. Nxb Chính trị Quốc gia - Hà Nội - 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan "đến mối quan hệ dân tộc hiện nay
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Hà Nội - 2001
7. GS.Khổng Diễn - Bùi Minh Đạo (chủ biên). Dân tộc học Việt Nam thế kû nh÷ng n¨m ®Çu thÕ kû. Nxb KHXH, H.2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc học Việt Nam thế kû nh÷ng n¨m ®Çu thÕ kû
Nhà XB: Nxb KHXH
8. PGS. TS. Nguyễn Thị Thanh Nga: Tín ngưỡng dân gian trong nghi lễ cầu cúng của người Thái đen ở Sơn La. Tạp chí nghiên cứu Tôn giáo, số 4, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: PGS. TS. Nguyễn Thị Thanh Nga: Tín ngưỡng dân gian trong nghi lễ cầu cúng của người Thái đen ở Sơn La
12. Vũ Ngọc Khánh (chủ biên): Sơ l−ợc truyền thống văn hóa các dân tộc thiểu sô Việt Nam. Nxb Giáo dục Hà Nội – 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ l−ợc truyền thống văn hóa các dân tộc thiểu sô Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội – 1998
14. PGS. TS.Hoàng L−ơng: Luật tục với việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa một số dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam. Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Néi, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tục với việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa một số dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam
Tác giả: PGS. TS.Hoàng L−ơng
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 2004
15. PGS. TS.Hoàng Lương: Phong tục trong hôn nhân và gia đình của ng−ời Thái M−ờng Tấc (Phù Yên -Sơn La) - Trong Văn hóa ứng xử các dân tộc Việt Nam. Nxb Văn hóa - Thông tin Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục trong hôn nhân và gia đình của ng−ời Thái M−ờng Tấc (Phù Yên -Sơn La)
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin Hà Nội
16. PGS. TS.Hoàng L−ơng: Văn hóa các dân tộc vùng Tây Bắc Việt Nam. Nxb Văn hóa Hà Nôi, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc vùng Tây Bắc Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa Hà Nôi
17. PGS. TS.Lê Ngọc Thắng: Một số vấn đề về dân tộc và phát triển. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội – 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về dân tộc và phát triển
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
25. TS. Nguyễn Bá Thuỷ: Di dân tự do của đồng bào Tày, Nùng, Hmông, Dao từ Cao Bằng, Lạng Sơn vào Đăk Lăk. Nxb Lao động Xã hội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dao từ Cao Bằng, Lạng Sơn vào Đăk Lăk
Nhà XB: Nxb Lao động Xã hội
1. GS. Trần Văn Bính: Văn hoá các dân tộc Tây Bắc, thực trạng và những vấn đề đặt ra. Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2004 Khác
5. BÕ Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Tiến Nam: Người Dao ở Việt Nam. Nxb Khoa học Xã hội, 1971 Khác
9. PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Nga: Nghề dệt của người Thái ở Tây Bắc trong cuộc sống hiện đại. Nxb Khoa học xã hội, 2003 Khác
10. Vi Hồng Nhân: Văn hoá các dân tộc thiểu số, từ một góc nhìn. Nxb Văn hoá Dân tộc, 2004 Khác
11. Tô Duy Hợp: Sự biến đổi của làng-xã Việt Nam ngày nay ở đồng bằng sông Hồng. Nxb Khoa học Xã hội, 2000 Khác
13. PGS. TS. Hoàng Lương: Luật tục với việc bảo tồn và phát huy di sản văn hoá truyền thống một số dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam. Nxb Văn hoá Dân tộc, 2004 Khác
18. Cầm Trọng: Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam. Nxb Khoa học Xã hội, 1978 Khác
19. Học Viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Cộng đồng làng xã Việt Nam hiện nay. Nxb Chính trị quốc gia, 2001 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w