Chúng tôi cam kết sẽ bảo đảm cho người cao tuổi được tiếp cận bình đẳng và đầy đủ các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, bao gồm cả các dịch vụ sức khoẻ thể chất và tâm thần và thừa nhận rằng c
Trang 1uỷ ban dân số, gia đình và trẻ em
Trung tâm thông tin
Báo cáo kết quả đề tài NCKH cấp bộ
nghiên cứu một số đặc trưng của người cao tuổi Và đánh giá mô hình
chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi đang áp dụng
Chủ nhiệm đề tài : TS Nguyễn Quốc Anh
Trang 2Mục lục
Danh mục chữ viết tắt 5
Mở đầu I Tính cấp thiết 23
II Mục tiêu nghiên cứu 24
III Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 24
IV Phương pháp luận nghiên cứu 25
Phần I tổng quan về người cao tuổi I Tình hình nghiên cứu về người cao tuổi 27
1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 27
1.1.1 Thực trạng già hoá dân số trên thế giới 27
1.1.2 Người cao tuổi trong quan niệm văn hoá á Đông 29
1.1.3 Chăm sóc người cao tuổi ở các nước phát triển 33
1.1.4 Chăm sóc người cao tuổi ở các nước Đông Nam á 37
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 49
1.2.1 Già hoá dân số ở Việt Nam – Cơ hội và thách thức 50
1.2.2 Chính sách về người cao tuổi ở Việt Nam 52
II Thực trạng người cao tuổi ở Việt Nam chia theo các đặc tính xã hội 53
2.1 Một số đặc trưng nhân khẩu học của người cao tuổi Việt Nam 53
2.1.1 Quy mô và phân bố người cao tuổi 53
2.1.2 Cơ cấu giới tính và tình trạng hôn nhân 57
2.1.3 Trình độ học vấn và chuyên môn của người cao tuổi 58 2.2 Một số đặc trưng về kinh tế, điều kiện sống của người cao tuổi Việt Nam 62
Trang 32.2.1 Mức sống và hoạt động kinh tế người cao tuổi 62
2.2.2 Tình trạng sức khoẻ và chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi 65
Phần II thực trạng chăm sóc người cao tuổi tại một số địa phương I Thực trạng người cao tuổi 71
1.1 Người cao tuổi, nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế-xã hội 71
1.2 Cơ cấu giới tính và những hạn chế chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi 76
1.3 Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn 79
1.4 Cơ cấu người cao tuổi chia theo các nhóm đối tượng 87
1.5 Tình trạng gia đình và hôn nhân của người cao tuổi 90
II Tình hình chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi tại các địa phương khảo sát 93
2.1 Tình hình sức khoẻ của người cao tuổi tại các địa bàn điều tra 93
2.1.1 Một số bệnh thường gặp của người cao tuổi 93
2.1.2 Tình trạng cơ sở khám chữa bệnh của người cao tuổi ở các địa bàn điều tra 97
2.1.3 Nhu cầu khám chữa bệnh của người cao tuổi 100
2.1.4 Người cao tuổi tự đánh giá về tình trạng sức khoẻ 101
2.2 Công tác chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi tại các địa phương 103
2.3 Chính sách chăm sóc sức khoẻ với người cao tuổi 110
III Đời sống vật chất và đời sống tinh thần của người cao tuổi 115
3.1 Đời sống vật chất 115
3.1.1 Thu nhập của người cao tuổi 115
3.1.2 Điều kiện nhà ở, sinh hoạt của người cao tuổi 116
3.1.3 Sở hữu tài sản và sử dụng tài sản có giá trị của người cao tuổi 121
3.1.4 Đánh giá mức sống của người cao tuổi 122
3.2 Đời sống tinh thần của người cao tuổi 124
3.2.1 Tham gia hoạt động văn hoá của người cao tuổi 124
Trang 43.2.2 Các tổ chức tham gia hoạt động văn hoá của người cao tuổi 126 3.2.3 Nhận thức của người cao tuổi về hoạt động văn hoá 127
3.2.4 Một số nguyên nhân hạn chế đời sống tinh thần của người cao tuổi 129
IV Sự quan tâm của Đảng và chính quyền, đoàn thể đối với người cao tuổi 130
Phần III Mô hình chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi
I Trung tâm nuôi dưỡng người già và trẻ mồ côi An Giang 139
II Mô hình chăm sóc sức khoẻ miễn phí cho người cao tuổi – Viện Lão Khoa 139 III Mô hình Trung tâm tư vấn sức khoẻ nguời cao tuổi TP Hồ Chí Minh 140
IV Khu chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi Phú Diễn 141
Phần IV Kết luận và kiến nghị
Trang 5danh mục chữ viết tắt
ĐTBĐDS Điều tra biến động dân số
KCSSK-NCT Khu chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi LHQ Liên hợp quốc
NCT Người cao tuổi
UBND Uỷ ban nhân dân
TCTK Tổng cục Thống kê
TĐTDS Tổng điều tra dân số
TTCĐ Tàn tật cô đơn
Trang 6Phiếu đăng ký kết quả nghiên cứu khoa học
Tên đề tài :
Nghiên cứu một số đặc trưng của người cao tuổi Việt Nam
và đánh giá mô hình chăm sóc người cao tuổi đang áp dụng
Mã số:
1 Cơ quan chủ trì :
Trung tâm Thông tin–Uỷ ban dân số, gia đình và trẻ em
Địa chỉ : 12 Ngô Tất Tố, Quận Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại : (04) 8437960 Tổng kinh phí thực hiện: 128.000.000 đồng
Thời gian nghiên cứu: 12 tháng
ư Thời gian bắt đầu: 8/2004
ư Thời gian kết thúc (thực tế bảo vệ): 30/9/2005
Trang 7Danh sách cán bộ nghiên cứu chính
Giám đốc Trung tâm Thông tin,
Uỷ ban DS,GĐ&TE
2 Phạm Minh Sơn Cao học
Luật
Phó trưởng phòng Tư liệu-Thư viện, TTTT, Uỷ ban DS,GĐ&TE
3 Nguyễn Ngọc Quỳnh Cử nhân
Toán
Trưởng phòng Công nghệ Thông tin, TTTT, Uỷ ban DS,GĐ&TE
7 Nguyễn Trung Kiên Cử nhân
kinh tế
Nghiên cứu viên, Trung tâm nghiên cứu và hỗ trợ người cao tuổi, TW Hội người cao tuổi Việt Nam
8 Nguyễn Tuấn Ngọc Bác sĩ Giám đốc khu chăm sóc người
cao tuổi Phú Diễn, Từ Liêm
9 Nguyễn Thu Hiền Cử nhân
Trang 8Tóm tắt kết quả nghiên cứu:
1 Mục tiêu nghiên cứu:
ư Hệ thống hoá tình hình chung về người cao tuổi trong và ngoài nước;
ư Đánh giá thực trạng về người cao tuổi ở Việt Nam;
ư Tổng kết, đánh giá kinh nghiệm từ một số mô hình chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi đang áp dụng;
ư Đề xuất một số giải pháp về chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi tại cộng đồng
2 Kết quả nghiên cứu:
Qua việc tổng thuật, phân tích, đánh giá các đặc trưng cơ bản về người cao tuổi ở Việt Nam, cùng với việc phân tích các số liệu thứ cấp qua các cuộc điều tra, khảo sát nghiên cứu chuyên sâu về người cao tuổi ở vùng đặc trưng, người cao tuổi có hoàn cảnh đặc biệt và đánh giá mô hình can thiệp “Khu chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi "đang áp dụng, chúng tôi thu được kết quả sau:
1 Già hoá dân số, một vấn đề toàn cầu đang được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm Xu hướng già hoá dân số mang tính lâu dài và không thể đảo ngược Tình trạng già hoá dân số đang diễn ra mạnh mẽ, kéo theo nhiều vấn đề kinh tế - xã hội cần phải giải quyết Việt Nam không nằm ngoài tình trạng trên
Số lượng người già ở Việt Nam tăng mạnh cả về số tuyệt đối lẫn tương đối Nhằm chuẩn bị cho tình trạng trên những vấn đề như nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi hoặc phát huy tài năng trí tuệ của NCT cần được quan tâm nhiều hơn
2.Tuổi thọ trung bình của Việt Nam cao hơn mức trung bình của thế giới,
điều này cũng đồng nghĩa với việc tỷ lệ người già trong tổng dân số cao Số lượng người cao tuổi (trên 60 tuổi) phân bố không đồng đều, thường tập trung tại các khu đô thị, các tỉnh đồng bằng có điều kiện kinh tế-xã hội phát triển Điều kiện sống tốt là một trong những nhân tố tích cực nâng cao tuổi thọ của con người và thúc đẩy già hoá dân số Tỷ lệ người cao tuổi tại khu vực thành thị cao,
đồng bằng thường cao hơn miền núi, những cũng có những địa phương có đặc thù riêng, có những nhóm dân tộc ít người có nhiều người cao tuổi, những điều này đều đòi hỏi có những chính sách, giải pháp đồng bộ về người cao tuổi
3 Mặc dù trình độ học vấn hay chuyên môn của người cao tuổi đang ngày
được nâng lên theo thời gian và thể hiện rõ qua các nhóm tuổi nhưng thực tế cho thấy vẫn có một số lượng không nhỏ các cụ vẫn còn mù chữ, đặc biệt là các cụ ở vùng sâu vùng xa, vùng khó khăn Chính hạn chế này đã gây nhiều khó khăn cho người cao tuổi khi tham gia vào các hoạt động xã hội, phát triển kinh tế gia đình Việc tiếp tục nâng cao trình độ học vấn cho các cụ ở nước ta hiện chưa triển khai, trong đó đấy là một nhu cầu chính đáng của người cao tuổi như Trung
Trang 9Quốc cũng đã mở các trường đại học dành cho người cao tuổi (Lão học đường)
Đặc biệt nhóm NCT là nghệ nhân, học giả, nhằm tạo điều kiện cho các cụ duy trì, phát huy và truyền lại cho thế hệ con, cháu sau này Đối tượng người cao tuổi ở nước ta khá đa dạng, đặc biệt nhóm người cao tuổi có công với đất nước chiếm tỷ lệ không nhỏ
4 Điều kiện sống ngày một tăng góp phần tích cực vào việc nâng cao sức khoẻ của người cao tuổi NCT sống ở khu vực nông thôn có sức khoẻ tốt hơn
Điều này cho thấy môi trường sống ở khu vực đô thị ồn ào, náo nhiệt, ô nhiễm có
ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ NCT Việc tạo cho NCT một không gian yên bình, trong lành, một cuộc sống vui vẻ đầm ấm sẽ nâng cao sức khoẻ cho NCT
5 Công tác chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi đã được quan tâm Nhờ những thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới, sức khoẻ và đời sống của người cao tuổi tại các tỉnh đã được cải thiện rõ rệt Sức khoẻ người cao tuổi tuy đã được nâng cao dần song tình trạng các cụ mắc phải các chứng bệnh nguy hiểm vẫn còn khá phổ biến
6 Công tác tổ chức các hoạt động chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi tại cộng đồng còn ít, tại nhiều địa bàn khảo sát tình trạng người cao tuổi hoạt
động đơn lẻ, tự phát là phổ biến Việc tổ chức các câu lạc bộ NCT, câu lạc bộ dưỡng sinh sẽ đem lại cho NCT sức khoẻ tốt hơn song hình thức này còn hạn chế và bị chi phối nhiều bởi kinh phí hoạt động hạn hẹp và đối tượng tổ chức
7 Chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi là một việc làm cần thiết và thường xuyên Đây là nhóm đối tượng có nhu cầu khám và điều trị bệnh lớn cần
có cơ chế, chính sách riêng dành cho nhóm đối tượng này Hiện nay vấn đề này còn chưa được quan tâm đúng mức, tình trạng các cụ phải tự bỏ tiền để được khám chữa bệnh là phổ biến Chế độ khám chữa bệnh theo bảo hiểm y tế và thẻ khám chữa bệnh còn nhiều hạn chế Hiện vẫn còn nhiều nhóm đối tượng người cao tuổi chưa tiếp cận đến được với thẻ bảo hiểm y tế Đồng thời chất lượng khám chữa bênh theo chế độ thẻ bảo hiểm còn chưa đảm bảo
8 Điều kiện sống của người cao tuổi đang dần được cải thiện cùng với
điều kiện sống của toàn xã hội Tình trạng nhà ở của người cao tuổi tương đối tốt, tại các địa phương nhiều ngôi nhà tình nghĩa cho các cụ là người có công đã
được xây dựng Mức chi sinh hoạt hàng tháng tính bình quân cho 1 người cao tuổi ở nông thôn còn thấp và có sự chênh lệch lớn so với khu vực thành thị
9 Sự khác biệt về phát triển giữa các tỉnh đã có những ảnh hưởng rõ rệt
đến điều kiện sống của người cao tuổi và khoảng cách này cần được thu hẹp
Đây là một yếu tố tạo nên sự khác biệt và khoảng cách giàu nghèo giữa các khu vực Do vậy, những cải thiện về mặt chính sách cho người cao tuổi trong thời gian tới cần tập trung vào giải quyết những khác biệt trong cuộc sống của NCT giữa các khu vực và đặc biệt giữa đồng bằng với miền núi, vùng sâu, vùng xa
10 Tình trạng và mức sống liên quan khá chặt chẽ theo nhóm tuổi của các
cụ Nhóm tuổi càng cao thì mức độ khó khăn càng lớn Giữa các nhóm người cao
Trang 10tuổi có sự phân hoá mạnh về mức sống Tỷ lệ người cao tuổi sống thiếu thốn và rất thiếu thốn rất cao ở các nhóm cô đơn, tàn tật và được hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên Đây chính là nhóm có nguồn thu nhập ít ỏi và đơn điệu Cuộc sống của người cao tuổi hiện nay còn nhiều khó khăn và phần lớn trong số họ phải dựa vào chính bản thân để sống Điều kiện kinh tế khó khăn là nguyên nhân cơ bản thúc đẩy người cao tuổi tham gia hoạt động kinh tế
11 Do điều kiện kinh tế-xã hội ngày một phát triển, người cao tuổi có cuộc sống tâm lý, tinh thần tương đối thoải mái Tuy cuộc sống còn nhiều khó khăn, song đời sống văn hoá tinh thần của người cao tuổi hiện khá đa dạng và thường xuyên được cải thiện So sánh giữa hai khu vực thành thị và nông thôn không có sự chênh lệch khắc biệt Hoạt động văn hoá phổ biến của người cao tuổi là đọc sách, báo và nghe đài, xem tivi Đây là những hoạt động văn hoá thông tin thường ngày của người cao tuổi và là những hoạt động thích hợp với NCT Tuy nhiên các hoạt động này còn mang tính tự phát và đơn lẻ không có tổ chức
12 Người cao tuổi còn đóng vai trò quan trọng trong việc truyền lại những kinh nghiệm, những giá trị truyền thống, các quy tắc xã hội và các nghi lễ cũng như các hoạt động xã hội Người cao tuổi và Hội người cao tuổi đã tích cực tham gia cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá khu dân cư và coi đây là một chương trình quan trọng của hội người cao tuổi Bằng sự
đóng góp công sức và những việc làm thiết thực của người cao tuổi cho cộng
đồng dân cư tạo dựng được cuộc sống tình nghĩa đậm đà thôn xóm
13 Trong cuộc sống gia đình, truyền thống trọng lão luôn được duy trì, người cao tuổi luôn có vị trí cao nhất trong gia đình Họ luôn được kính trọng, tiếng nói của họ luôn có ảnh hưởng quyết định đến các hoạt động của gia đình
14 Mô hình gia đình nhiều thế hệ hiện nay đang được khuyến khích duy trì song việc dung hoà về lối sống, suy nghĩ giữa các thế hệ trong một gia đình luôn là vấn đề quan trọng Tình trạng nhà ở chật chội, kinh tế của con cháu vẫn còn khó khăn cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng các cụ phải sống cô đơn song chiếm tỷ lệ không nhiều Lý do con cái không muốn sống chung chiếm tỷ
lệ nhỏ cần hạn chế tình trạng này, nhất là khi cơ chế thị trường đang có những
ảnh hưởng sâu sắc đến lối sống gia đình, đảm bảo cuộc sống gia đình cho người cao tuổi
15 Sự giúp đỡ của các thành viên trong gia đình hiện nay vẫn là chủ yếu, các tổ chức xã hội, các cơ quan đoàn thể vào cuộc vẫn chưa nhiều và chưa thực
sự Việc chăm sóc và phát huy tài năng trí tuệ của người cao tuổi vẫn còn bị coi nhẹ Yếu tố kinh tế là một trong những nguyên nhân quan trọng tác động đến hình thức giúp đỡ của xã hôị đối với người cao tuổi Các hình thức thăm hỏi
động viên chiếm tỷ lệ cao ở khu vực nông thôn, còn giúp đỡ về vật ở khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn
16 Một số mô hình chăm sóc người cao tuổi hiện nay bước đầu đã giải quyết được những vấn đề của xã hội Các mô hình này ít nhiều đã giúp NCT có
Trang 11được cuộc sống thanh thản và nhận được sự quan tâm, chăm sóc chu đáo Trong bối cảnh Việt Nam cũng như nhiều nước đã và đang tiến đến ngưỡng già hoá dân
số thì các mô hình chăm sóc người cao tuổi cũng là vấn đề cần xem xét Nhà nước cũng nên ban hành những quy định chung và tạo điều kiện thuận lợi cho những mô hình này hoạt động
17 Việt Nam khú cú thể ỏp dụng mụ hỡnh chǎm súc người già như ở cỏc
nước phỏt triển (Trung tõm ban ngày, cơ sở chǎm súc và nuụi dưỡng người già tập trung) vỡ hạn chế về thu nhập và tỷ lệ tham gia BHYT quỏ thấp (30% ở đụ thị và 15% ở nụng thụn) Trong điều kiện kinh tế khú khǎn, việc ỏp dụng mụ hỡnh Khu chăm súc sức khoẻ NCT tại cộng đồng là phự hợp với phương chõm
xó hội hoỏ như: y tế dự phũng, rẻ tiền, phục vụ đa số NCT, cú thể ở cả vựng nụng thụn
Kiến nghị:
1 Sớm hoàn thiện hệ thống tổ chức của cơ quan quản lý nhà nước về NCT
ở các cấp từ TW xuống cơ sở ở TW, những cơ quan như Uỷ ban DSGĐTE Việt Nam cần xem xét và tiến tới thành lập Vụ người cao tuổi là đơn vị quản lý nhà nước đầu mối thực hiện công tác này Nhà nước cần xây dựng, bổ sung các chính sách, văn bản qui phạm pháp luật, bố trí nguồn kinh phí hoạt động cho các cấp,
có cán bộ chuyên trách để điều hành, thực hiện công tác về NCT
2 Xây dựng chiến lược quốc gia về người cao tuổi để có kế hoạch dài hạn, chủ động với xu thế già hoá dân số ở Việt Nam đang phát triển nhanh
3 Xây dựng chính sách nâng cao chất lượng sống cho người cao tuổi về chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi và các điều kiện phát triển kinh tế-xã hội Chú trọng có chính sách cho những nhóm đặc thù như : Phụ nữ cao tuổi, đặc biệt là phụ nữ cô đơn và ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn
4 Xây dựng chính sách xã hội hoá công tác CSSK-NCT, phát huy tài năng, trí tuệ, bản sắc của người cao tuổi trong các hoạt động xã hội, cộng đồng
5 Tăng cường công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, tạo dựng những chuẩn mực đạo đức xã hội, phù hợp với truyền thống tốt
đẹp của dân tộc về ''Kính lão, trọng thọ'', yêu quý ông bà, cha mẹ… là những chuẩn mực đạo đức truyền thống của xã hội cần được duy trì và thể chế hoá trong các chính sách của Nhà nước
6 Có chính sách thích hợp để phát huy bản sắc và chăm sóc phụng dưỡng người cao tuổi theo các nhóm tuổi phù hợp ( nhóm 60-69; nhóm 70-79; nhóm 80 tuổi trở lên)
7 Xây dựng chính sách hỗ trợ và phát huy mô hình chăm sóc NCT tại nhà
8 Nhà nước cần có các chính sách khuyến khích phát triển mô hình chăm sóc người cao tuổi bán công, để khai thác và huy động sự tham gia đóng góp của
Trang 12cộng đồng Có chính sách hỗ trợ cụ thể cả về thủ tục pháp lý lẫn điều kiện vật
chất để tạo điều kiện thuận lợi cho các mô hình CSSK-NCT phát triển
9 Uỷ ban DSGĐTE phối hợp cùng Uỷ ban quốc gia về người cao tuổi tổ chức, xây dựng cơ sở dữ liệu về người cao tuổi làm nền tảng thông tin để quản lý
và triển khai các công tác về người cao tuổi
10 Triển khai các nghiên cứu cơ bản cũng như nghiên cứu tác nghiệp về người cao tuổi ở Việt Nam
11 Xây dựng, ban hành chính sách khám chữa bệnh miễn phí cho người cao tuổi Để đảm bảo tính khả thi cao, chính sách có thể được thực hiện theo từng giai đoạn, theo từng nhóm đối tượng ưu tiên ( hiện nay thực hiện khám chữa bệnh miễn phí cho NCT 90 tuổi trở lên, thì mới thực hiện cho khoảng 4 % người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên Theo số liệu TĐTDS 1999, tổng số NCT từ 60 tuổi trở lên là 6,15 triệu người Trong đó số NCT 60-69 là 3,40 triệu chiếm 55,3 % Số NCT 70-85 là 2,46 triệu, chiếm 40,0 % Số NCT 85 trở lên là 0,29 triệu người chiếm 4,7 %)
Kết quả nghiệm thu: Loại xuất sắc
Chức vụ Chủ nhiệm
đề tài
Cơ quan chủ trì
Chủ tịch Hội đồng đánh giá chính thức
Cơ quan quản lý đề tài
Họ và tên Nguyễn Quốc Anh Võ Anh Dũng Nguyễn Thiện Trưởng Nguyễn Bá ThuỷHọc vị Tiến sĩ Cử nhân Tiến sĩ Tiến sĩ Chữ ký
Đóng dấu
Trang 13Mở đầu
I Tính cấp thiết
Liên Hợp Quốc đã dự báo, thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ già hóa, vì thế tại nhiều nước trên thế giới hiện đang rất quan tâm đến vấn đề già hóa dân số và đang tìm biện pháp để giảm những ảnh hưởng tiêu cực của vấn đề này Năm 1995, tỷ lệ người cao tuổi trên toàn thế giới là 9% thì vào năm 2025 Quỹ dân số của Liên Hợp Quốc dự báo sẽ là 14% ở Việt Nam, theo số liệu tổng điều tra dân số 1979,
1989, 1999, tỷ lệ người cao tuổi (60 tuổi trở lên ) đã tăng từ 7,1% đến 7,25 và 8,2% trong tổng dân số, gần đến ngưỡng của già hóa dân số mà thế giới quy
định Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề già hoá dân số, từ nhiều năm trước
đây Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến người cao tuổi đặc biệt năm 1995, Ban Bí thư Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã ra chỉ thị số 59- CT/TW, ngày 17 tháng 9 năm 1995 về chăm sóc người cao tuổi; Quyết định số 121/1998/QĐ-TTg ngày 9 tháng 7 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về thành lập Uỷ ban năm Quốc tế Người cao tuổi Việt Nam; Chỉ thị số 34/ 1998/ CT-TTg ngày 30/9/1998 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức hoạt động Năm Quốc tế Người cao tuổi Năm 2000, Chủ tịch Nông Đức Mạnh thay mặt ủy ban Thường
vụ Quốc Hội đã ký Pháp lệnh Người cao tuổi số 23/2000/PL-UBTVQH10 và Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định số 30/2002/NĐCP ngày 26 tháng 3 năm
2002 Quy định và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh người cao tuổi Mới đây, ngày 05 tháng 8 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 141/2004/QĐ-TTg về việc thành lập Uỷ ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam
Mặc dù đã có Pháp lệnh của Quốc Hội, Nghị định, Chỉ thị, Quyết định của Chính phủ song việc phụng dưỡng, chăm sóc người cao tuổi chưa làm được nhiều Đó cũng do chưa có chính sách tổng thể, giải pháp đồng bộ và kèm theo các chế độ cụ thể cho các đối tượng người cao tuổi ở các vùng miền khác nhau của Việt Nam Xuất phát từ tính bức xúc của vấn đề người cao tuổi, một số cuộc
điều tra cơ bản, một số đề tài nghiên cứu khoa học về người cao tuổi đã và đang
được triển khai, những công việc này góp phần thiết thực giúp cho Nhà nước hoạch định các chính sách, xây dựng kế hoạch nhằm thực hiện tốt công tác về người cao tuổi, góp phần an sinh và phát triển kinh tế - xã hội Đồng thời qua đó cung cấp luận cứ khoa học giúp Đảng, Chính phủ và các Bộ, ban, ngành trong việc xây dựng chính sách phụng dưỡng, chăm sóc người cao tuổi Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và trong những năm tới
Trang 14II Mục tiêu nghiên cứu
ư Hệ thống hoá tình hình chung về người cao tuổi trong và ngoài nước;
ư Đánh giá thực trạng về người cao tuổi ở Việt Nam;
ư Tổng kết, đánh giá kinh nghiệm từ một số mô hình chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi đang áp dụng;
ư Đề xuất một số giải pháp về chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi tại cộng
đồng
III Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu những nội dung chủ yếu sau :
1 Tổng thuật, phân tích, đánh giá các đặc trưng cơ bản về người cao tuổi ở Việt Nam, so sánh với tình hình thế giới và các nước trong khu vực
ư Thu thập tài liệu, xử lý số liệu thứ cấp từ các cuộc điều tra cơ bản và
điều tra chuyên đề về người cao tuổi
ư Tổng thuật, phân tích chọn lọc số liệu xây dựng báo cáo phân tích
ư Nghiên cứu, phân tích, lựa chọn lý thuyết nghiên cứu
2 Khảo sát nghiên cứu chuyên sâu các đặc trưng Kinh tế-Xã hội của người cao tuổi, đặc biệt người ở vùng đặc trưng, người cao tuổi có hoàn cảnh đặc biệt
ư Nội dung khảo sát một số đặc trưng cơ bản về: điều kiện kinh tế; điều
kiện xã hội; điều kiện, nhu cầu chăm sóc sức khoẻ; đặc điểm về nguyện vọng, tâm lý của người cao tuổi
ư Địa bàn thực hiện khảo sát: Người cao tuổi vùng đặc trưng: tỉnh Thái
Bình; Người cao tuổi có hoàn cảnh đặc biệt: Khu chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi, Phú Diễn, Từ Liêm, Hà Nội (khảo sát đầu và cuối kỳ, nghiên cứu tác động, ảnh hưởng của mô hình trọng điểm về CSNCT)
3 Lựa chọn, tác động, đánh giá kết qủa mô hình can thiệp “ Khu chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi "
ư Hỗ trợ các hoạt động sinh hoạt văn hoá, vui chơi giải trí
ư Hoạt động tập luyện, thể thao, lao động rèn luyện sức khoẻ
ư Trợ giúp điều trị cơ bản, dinh dưỡng, khám sức khoẻ định kỳ
4 Phân tích, đánh giá, kết luận và khuyến nghị
5 Sản phẩm tạo ra và yêu cầu khoa học - kỹ thuật, kinh tế xã hội
Trang 15
Báo cáo kết quả nghiên cứu gồm:
ư Tổng thuật, phân tích tình hình về người cao tuổi ở Việt Nam, có so sánh trong và ngoài nước
ư Báo cáo kết quả phân tích xử lý thứ cấp số liệu điều tra cơ bản NCT
ư Kết quả điều tra khảo sát tình hình người cao tuổi vùng đặc trưng, người cao tuổi có hoàn cảnh đặc biệt
ư Kết quả nghiên cứu có can thiệp mô hình, đánh giá mô hình trọng điểm
“Khu chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi”; Khuyến nghị và giải pháp đề xuất từ các mô hình đang thực hiện
ư Kết luận khuyến nghị của kết quả nghiên cứu
IV Phương pháp luận nghiên cứu:
1 Tổng thuật, khai thác thông tin, tài liệu
Lựa chọn, biên dịch và tổng thuật các tài liệu về những hoạt động và bài học kinh nghiệm về vấn đề người cao tuổi ở các nước Lựa chọn các vấn đề theo mục đích, yêu cầu của đề tài
2 Xử lý số liệu thứ cấp kết quả các cuộc điều tra cơ bản về người cao tuổi, lựa chọn phương pháp, mô hình nghiên cứu
Đề tài khai thác nguồn số liệu của một số tỉnh thuộc phạm vi khảo sát của cuộc điều tra cơ bản về người cao tuổi của Hội người cao tuổi Việt Nam do
Bộ Kế hoạch- Đầu tư hỗ trợ, khai thác nguồn thông tin số liệu để xử lý thứ cấp phục vụ phân tích thực hiện theo mục tiêu của đề tài nghiên cứu đề ra
3 Phương pháp nghiên cứu định lượng theo chuyên đề
Đề tài chọn Thái Bình là địa bàn đặc trưng sẽ tiến hành điều tra, khảo sát chuyên đề bổ trợ cho kết quả nghiên cứu từ xử lý thứ cấp kết quả điều tra cơ bản về người cao tuổi Tại Thái Bình, đề tài chọn 1 huyện và thành phố Thái Bình để nghiên cứu, khảo sát Mỗi huyện, thị chọn 2 xã, phường hoặc thị trấn Mỗi xã/phường điều tra 50 phiếu Số phiếu điều tra ở mỗi huyện là 100 Tổng
số phiếu điều tra ở tỉnh Thái Bình là 200 Đề tài tổ chức điều tra định lượng qua phiếu điều tra phỏng vấn đã được thiết kế sẵn theo nội dung của đề tài Các xã/phường điều tra lập danh sách người cao tuổi trong xã, dựa vào danh sách đã
được lập, chọn ngẫu nhiên đối tượng để điều tra
4 Phương pháp nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm)
Phương pháp khảo sát điền dã thông qua phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm nhằm thu thập những nguyện vọng của người già và các ý kiến đề xuất của các
Trang 16ban, ngành, đoàn thể và người dân về chăm sóc, phụng dưỡng và phát huy khả năng của NCT ở địa bàn nghiên cứu
5 Phương pháp chuyên gia và phân tích
- Phương pháp chuyên gia: Tranh thủ kinh nghiệm của các chuyên gia
về các lĩnh vực liên quan tới nội dung nghiên cứu về người cao tuổi
- Phương pháp phân tích: Dùng các số liệu đã thu thập được qua phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm và kết quả xử lý phiếu điều tra để phân tích, viết báo cáo theo từng chuyên đề để xây dựng báo cáo chung
6 Xử lý và phân tích thông tin
- Kiểm tra, mã hoá phiếu điều tra
- Xử dụng phần mềm SPSS 10.0 để tổng hợp, thống kê, kiểm tra, xử lý các thông tin số liệu thu được từ điều tra khảo sát theo mục tiêu của dự án Tổ chức khai thác, xử lý thông tin từ các cuộc phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm
7 Lựa chọn, hỗ trợ can thiệp, đánh giá mô hình CSSKNCT
Đề tài chọn Khu chăm sóc sức khoẻ NCT tại xã Phú Diễn, huyện Từ Liêm,
Hà Nội là địa bàn thử nghiệm can thiệp và đánh giá mô hình khu chăm sóc sức
khoẻ người cao tuổi
Trang 17phần I Tổng quan về người cao tuổi
I Tình hình nghiên cứu về nguời cao tuổi:
1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Nghiên cứu dân số người cao tuổi ở các quốc gia và các tổ chức quốc tế đã
được quan tâm từ những năm 50 Trước hết là ở những nước phát triển, sự quá độ dân số đã chuyển sang già hoá dân số và là những thách thức lớn cho việc phát triển kinh tế –xã hội và an sinh, phúc lợi xã hội Sau này đã được thực hiện cả ở những nước đang phát triển, đặc biệt là vùng dân cư có đặc thù riêng về lão hoá dân số diễn ra nhanh chóng Chương trình dân số của Liên Hợp Quốc cũng đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề già hoá dân số của thế giới, của các khu vực và một
số nhóm nước đặc thù LHQ cũng đã đưa vấn đề này là một trong những trong tâm và định kỳ công bố các công trình dự báo sự già hoá dân số chung cho toàn thế giới, từng khu vực và cụ thể cho từng quốc gia thành viên của LHQ Gần đây nhất là công trình Già hoá dân số thế giới do LHQ xuất bản phát hành năm 2002
dự báo già hoá dân số cho từng nước đến năm 2150 (World Aging, UN 2002)
Tổ chức LHQ khu vực châu á-Thái bình dương (ESCAP) cũng đã có nhiều nghiên cứu về sự già hoá dân số của khu vực và cho một số nước thành viên Các công trình nghiên cứu được công bố trong các hội nghị dân số quốc tế và đăng tải trên các ấn phẩm về thông tin, nghiên cứu dân số Nhiều nước cùng khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, cũng đã triển khai nhiều cuộc điều tra khảo sát và các nghiên cứu về già hoá dân số để đề ra những chính sách, giải pháp cho vấn đề này Đặc biệt một số nước có đặc điểm dân số tương tự như Việt Nam cũng đã sớm nghiên cứu dân số già như Trung Quốc, Thái Lan, Sigapore, Nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển, dân số cao tuổi đã trở thành vấn đề trọng tâm và được hoạch định trong chiến lược tổng thể về phát triển Kinh tế-Xã hội Tại một số nước vấn đề này đã được đưa thành một chương trình chính thức trong luật ưu sinh
1.1.1 Thực trạng già hoá dân số trên thế giới
Già hoá dân số một hiện tượng mang tính toàn cầu, xảy ra ở khắp nơi và
ảnh hưởng đến mọi quốc gia, dân tộc Đây là hiện tượng chưa từng thấy trong lịch sử loài người, bắt đầu xuất hiện trong thế kỷ XX và được dự báo là sẽ tiếp tục trong thế kỷ XXI với mức độ ngày càng gia tăng Già hoá dân số có ảnh
hưởng sâu rộng đến mọi phương diện của cuộc sống con người “Trong lĩnh vực
Trang 18kinh tế, già hoá dân số tác động đến tăng trưởng kinh tế, tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng, thị trường lao động, lương hưu, tiền thuế và sự chuyển giao giữa các thế
hệ Trong lĩnh vực xã hội, già hoá dân số ảnh hưởng đến y tế và chăm sóc sức khoẻ, cấu trúc gia đình và thu xếp cuộc sống, nhà ở và di cư Về mặt chính trị, già hoá dân số có thể tác động đến việc bầu cử và người đại diện”( ) 1
Dưới góc độ dân số, già hoá dân số là kết quả của quá độ nhân khẩu học trong đó mức chết và mức sinh đều giảm Cùng với tổng tỷ suất sinh giảm dần xuống mức sinh thay thế, tuổi thọ bình quân tăng lên đã làm tăng số lượng người già trên toàn thế giới Tức là tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi giảm, tỷ lệ người cao tuổi (trên 60 tuổi) tăng
Theo quy ước của Liên Hợp Quốc, một quốc gia có tỷ lệ người cao tuổi từ
10 % trở lên thì quốc gia đó được coi là dân số già Pháp đạt tỷ lệ này từ năm
1935, Thụy Điển năm 1950 Thời gian để một nước tăng tỷ lệ người cao tuổi từ 7% lên 10 % đạt ngưỡng dân số già rất khác nhau: Pháp 70 năm (1865 - 1935),
Mỹ 35 năm (1945 - 1975) còn Nhật Bản chỉ có 15 năm (1970 - 1985) Như vậy, tốc độ già hoá dân số song song với tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, tốc độ phát triển ở mỗi quốc gia càng nhanh thì tốc độ già hoá dân số càng mạnh
Tốc độ gia tăng dân số cao tuổi ngày càng mạnh và nhanh hơn các nhóm tuổi khác Trong giai đoạn hiện nay tốc độ tăng dân số cao tuổi là 2% mỗi năm,
tỷ lệ này sẽ là 2,8%/năm trong giai đoạn 2025 – 2030 Bước vào thế kỷ XXI, thế giới có 590 triệu người cao tuổi gấp 3 lần con số 50 năm trước, và đến giữa thế
kỷ sẽ có khoảng 2 tỷ người cao tuổi, tăng gấp hơn 3 lần trong 50 năm sau Chính vì vậy, tỷ trọng người cao tuổi trong dân số thế giới ngày càng lớn từ 8,6% năm
1950 tăng lên 9,7% năm 2000 và dự báo tỷ lệ này là 14% vào năm 2025
Giữa các khu vực có sự chênh lệch rõ rệt về số lượng và tỷ lệ người cao tuổi Tỷ lệ người cao tuổi cao nhất ở các nước đã phát triển, chẳng hạn Thụy
Điển: khoảng 22% gấp hơn 3 lần ấn Độ: 7,2% nhưng số lượng người cao tuổi nhiều nhất lại ở các nước đang phát triển Trong số 1.120 triệu người cao tuổi, có tới 805 triệu cụ sống ở các nước nghèo, tức là các nước nghèo chiếm tới 80 % người cao tuổi của thế giới
Bảng 1: Số lượng và tỷ lệ người cao tuổi trên thế giới
Trang 19Tỷ lệ NCT (%) 8.6 9,1 9,7 14,0
Số NCT ở các nước giàu (triệu) 95 166 230 315
Số NCT ở các nước nghèo (triệu) 119 180 360 805
Nguồn: Vấn đề dân số hôm nay Số 1 (Quí 1 năm 1999)
Tình trạng già hoá dân số đã làm thay đổi cấu trúc dân số xã hội và đặt ra những vấn đề bức xúc đòi hỏi mỗi nước phải có những chính sách thích hợp để giải quyết Đánh giá được tầm quan trọng của già hoá dân số, năm 1982, lần đầu tiên Liên Hợp Quốc triệu tập Đại hội thế giới về tuổi già họp tại thành phố Viên, thủ đô nước Cộng hoà áo đã thống nhất đưa ra 50 điều khuyến cáo bao quát 6 mục tiêu lớn về người cao tuổi trong đó mục tiêu về sức khoẻ và dinh dưỡng
được đề cập đến đầu tiên
Năm 1991, trên cơ sở kiểm điểm những kết quả thực hiện, Liên Hợp Quốc tiếp tục thông qua "Những nguyên tắc đạo lý của Liên Hợp Quốc đối với người cao tuổi" (Nghị quyết số 46/91) bao gồm 5 nguyên tắc về đảm bảo các quyền của người cao tuổi trong đó quyền được chăm sóc khi cần thiết cũng được đề cập
đến Tiếp đó, năm 1992, Liên Hợp Quốc thông qua Nghị quyết số 4/ 86 nêu lên những mục tiêu toàn cầu về người cao tuổi trong thập kỷ 1997 - 2001
Từ ngày 8 đến ngày 12 tháng 4 năm 2002 tại Madrid, Tây Ban Nha, Đại hội
đồng Liên Hợp Quốc quyết định triệu tập Hội nghị thế giới lần thứ 2 về già hoá dân số, để tổng kết những kết quả của Hội nghị thế giới lần thứ nhất cũng như
thông qua Kế hoạch hành động quốc tế về người cao tuổi 2002 Tuyên bố chính trị của Hội nghị bao gồm 19 điều trong đó tại điều thứ 14 có nêu rõ: "Chúng tôi khẳng định lại rằng việc đạt tới trình trạng sức khoẻ tốt nhất là một mục tiêu quan trọng hàng đầu của cả thế giới Để thực hiện được điều đó đòi hỏi hành
động của nhiều ngành kinh tế, xã hội khác cùng với ngành y tế Chúng tôi cam kết sẽ bảo đảm cho người cao tuổi được tiếp cận bình đẳng và đầy đủ các dịch
vụ chăm sóc sức khoẻ, bao gồm cả các dịch vụ sức khoẻ thể chất và tâm thần và thừa nhận rằng các nhu cầu gia tăng của sự già hoá dân số đòi hỏi phải có những chính sách bổ sung, đặc biệt là chính sách chăm sóc và điều trị…
1.1.2 Người cao tuổi trong quan niệm văn hoỏ Á Đụng
Núi đến văn hoỏ Á Đụng, khụng thể khụng núi đến Phật giỏo, tớnh hướng thiện, quan niệm của đạo Phật ảnh hưởng sõu sắc đến lối sống, tập tục của nhõn dõn ở hầu hết cỏc nước chõu Á Ngày nay, trong nhiều xó hội người cao tuổi gắn kết chặt chẽ với phật giỏo, khụng chỉ ở chõu Á mà ngay cả nhiều nước, Phật giỏo khụng thịnh hành cũng cú sự gắn kết người cao tuổi với Phật giỏo Trong
Trang 20những thời gian sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ với xã hội về nghỉ, nhiều người cao tuổi thường đến với chùa triền, vậy quan niệm của Phật giáo về người cao tuổi như thế nào, do đâu có sự gắn kết này Chúng ta hãy xem xét một số quan điểm, vấn đề về người cao tuổi trong Phật giáo
Sau khi hưu trí, nếu không học Phật, không có một chút sinh hoạt tinh thần, ở trong viện dưỡng lão Như thế thì thật đáng thương! Viện dưỡng lão, có một số người quan niệm đó là: ngồi ăn chờ chết! Mặc dù điều kiện vật chất không thiếu Điều kiện thuốc men y tế cũng tốt, nhưng tinh thần thì đau khổ! Đặc biệt là ở xa quê hương, thân nhân của mình mỗi không thường xuyên đến thăm được, con cái của họ, sau khi trưởng thành, sống và làm việc tách rời gia đình, thường thường vài ba năm không có điều kiện về thăm cha mẹ mình Người già cần có nơi tĩnh dưỡng, đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của tuổi già Cho nên Phật giáo từ nhiều thế kỷ trước đã theo phương hướng này Đó là thôn Di Đà, thôn Di Đà chính là khu dành cho người già Phát khởi ý tưởng:
"Kiến lập thôn Di Đà" Đương nhiên là thôn Di Đà xây dựng ở ngoại ô sẽ tốt hơn so với xây trong thành phố Ở ngoại ô thì sinh hoạt của mọi người sẽ gần với thiên nhiên hơn Ở đô thị thì phương tiện đầy đủ hơn nhưng khu nhà dành cho người già, mỗi người mỗi đơn vị nhỏ, không có khung cảnh thiên nhiên, làm cho tâm hồn khó thảnh thơi, thoải mái
Ngay ở Úc, trung tâm người già, mỗi một người có một phòng nhỏ, độc lập, cũng giống như thôn Di Đà Trung tâm hoạt động rất lớn, đường xá nho nhỏ Trên đường có xe nhỏ, ô tô có mui, trên xe có thể ngồi năm sáu người Người già nếu đi không được, thì cứ vẫy tay, xe sẽ đến liền Điều này rất đáng
để tham khảo, học tập Ở đây có một trung tâm y tế, có một giảng đường Mọi người cao tuổi đều là người tu Tịnh độ, cần có một Niệm Phật đường Niệm Phật đường nên xây dựng theo hình tròn, giống như hình tròn cảnh bồng lai, hình tròn giống như một đoá hoa sen Ngoài ra còn có một thư viện, không nhất thiết phải gọi là lầu tàng kinh, mà gọi là Thư viện Ở đây có một kho sách phong phú, giúp cho những người già ở đây vui vẻ đọc sách, vui vẻ nghiên cứu học thuật, tạo cho họ một hoàn cảnh tu hành thật hoàn hảo Ngoài ra, đây cũng chính
là nhà sinh hoạt thường ngày của cộng đồng Bên trong cũng có thể biểu diễn văn hoá nghệ thuật, có thể mời bên ngoài, như đoàn thể học sinh, hoặc những đoàn thể khác đến biểu diễn ca múa, tạp kỹ cho người cao tuổi Nhiều khi không cần phải ra ngoài mời người đến, đây là chỗ tiêu khiển, giải trí của cộng đồng, như vậy tạo được sự giao lưu giữa người già và các tầng lớp khác của cộng đồng Hơn nữa có thể tổ chức một nhà nấu ăn chay Đối với những người trong trung tâm thì nấu ăn tháng; đối với khách bên ngoài thì đây là dịch vụ Với phương thức này thì kinh tế của trung tâm mới có nguồn lực, mới có thể ổn định được Đây chính là chỗ nói: "Thân an thì đạo mới thịnh" Thân tâm của bạn không an thì bạn còn tâm trí đâu nữa mà tu đạo, mà niệm Phật Đây là điều
Trang 21không thể Lại nói: "Bánh xe pháp chưa chuyển thì bánh xe ăn đã khởi động trước" Sinh hoạt căn bản được giải quyết thì mới tĩnh tâm có trí để tu đạo Nếu như hàng ngày phải lo âu vì chuyện ăn mặc thì làm sao có thể an tâm tu tập Cho nên những vấn để này đều phải dự liệu trước để giải quyết
Hoàn cảnh sống của tuổi xế chiều phải tươi đẹp Cây cối phải nhiều, hoa
cỏ phải nhiều, có sân chơi, có ao hồ Trong đây, hàng ngày thụ kinh, thuyết pháp, nghiên cứu thảo luận, cùng tu niệm Phật Cũng có thể cũng có thể lợi dụng thiết bị khoa học kỹ thuật cao hiện nay, nếu người nào ở trong phòng, lười biếng không ra ngoài, trong phòng họ có lắp đặt truyền hình, mở truyền hình lên thì mọi sinh hoạt hiện trường của chúng ta đều ở ngay trước mắt họ Họ muốn nghe kinh, cũng có thể; muốn niệm Phật, cũng có thể! Họ đều có thể thấy được tất cả Nếu thích niệm Phật thì trong mỗi phòng có gắn một cái loa loại nhỏ, điều khiển
ở trung tâm, phát ra âm thanh niệm Phật Các vị chỉ cần mở máy khuếch âm, bất
cứ lúc nào cũng có thể nghe được danh niệm Phật và các vị có thể cùng niệm theo Nếu như thích ra ngoài đi dạo, bên những hàng cây, bên những ngôi nhà nghỉ đều có gắn những cái loa nhỏ Trong mọi hoàn cảnh đều có âm thanh niệm Phật
Đạo tràng là nơi học tập, trao đổi nhưng không phải giảng đường, Phật giáo có một tên gọi cũng khá hay: "Học hội", Học Tịnh độ thì gọi là Tịnh Tông học hội Nếu học Thiền thì gọi là Thiền Tông học hội Học Thiên Thai thì gọi là Thiên Thai học hội Mỗi một tông phái kiên lập một đạo tràng, tu tập nhưng đồng đạo cùng chí hướng lại và cùng tu học, cùng sống những năm tháng cuối đời trong hạnh phúc mỹ mãn Khiến cho trong cuộc đời này của chúng ta, tuổi trẻ thì phục vụ cho đất nước, cho xã hội, cống hiến trí tuệ và năng lực Đến lúc tuổi già thì có thể hưởng được sự đền bù hạnh phúc mỹ mãn và như thế thì một đời chúng ta không trôi qua uổng phí Hơn nữa đạo tràng là mô hình để mô phỏng và trong tương lai các địa phương đều có xây dựng kiểu đạo tràng này, như nơi trao đổi, sinh hoạt của cộng đồng, phù hợp với nhiều người Loại đạo tràng dành cho người già hay viện an lão thì tuyệt vời hơn nhiều, sức sống tràn đầy, hoạt bát, sinh động
Cho nên trong tương lai đạo tràng không cần xây nhiều chùa triền, am miếu Vậy thì xây cái gì? - Xây nhà cư trú cho người già, viện an lão, viện dưỡng lão Đấy chính là đạo tràng hoàng pháp của Phật gíao Những người già hiện nay ngày một nhiều, nhưng phần lớn thân thể vẫn còn khỏe mạnh, vẫn không cần người chiếu cố, vẫn có nhiều nhu cầu Hơn nữa ở châu Á, những người già ít nhiều đều có dành dụm chút đỉnh, không như người châu Âu Người châu Á có tập quán dành dụm, ít nhiều đều có một số vốn Hơn nữa con cái cũng
có thể tận lòng hiếu, cha mẹ có thiếu kém thì con cái đều có thể chủ động giúp
đỡ ít nhiều Do đó nếu họ sức khỏe vẫn còn tốt thì viện an lão cũng có thể thực hiện những hoạt động khác như đi dạo chơi trong phạm vi gần, mỗi tháng tổ
Trang 22chức một lần, đưa những người già đi dạo đó đây, giúp cho họ có điều kiện tiếp xúc với thiên nhiên, tâm tình của họ được vui vẻ, thoải mái Đồng thời cũng có thể giảng giải một chút Phật pháp Hoặc tùy lúc chỉ dẫn họ tĩnh tọa như thế nào, điều thân, điều tâm như thế nào, niệm Phật như thế nào Những việc như thế đều
là những sinh hoạt rất vui vẻ, hạnh phúc Còn nếu như có sức khỏe, lại có khả năng kinh tế thì mỗi năm có thể tổ chức một, hai lần đi du lịch các nước, giúp cho họ thật sự vui vẻ trong cái tuổi vãn niên của mình Hiện nay chúng ta thường thấy ở bên ngoài có những đoàn du lịch, tham quan hơn phân nửa hoặc tất thảy đều là người già cả Đoàn du lịch người cao tuổi, những người trẻ tuổi hướng dẫn đoàn, đây thật sự là sự giao lưu, phúc lợi của người già
Hơn nữa, trong đạo tràng, nhiều nơi tổ chức trại hè, mở lớp dạy Phật học, vui vẻ đón tiếp những bạn trẻ đến dự học Người già thường xuyên trông thấy các bạn trẻ, tự nhiên quên mất sự già yếu của mình, có cơ hội thường xuyên tiếp xúc với các bạn trẻ, cùng sinh hoạt chung với các bạn trẻ, cùng nghiên cứu, thảo luận học thuật với họ, thảo luận đạo lý đối nhân tiếp vật, người già kinh nghiệm phong phú hơn lớp trẻ, có thể giới thiệu với người trẻ nhưng kinh nghiệm đã trải qua của mình, cung cấp cho họ tham khảo, thật sự có thể thu hoạch được hiệu quả của việc giao lưu, học tập Như thế họ, nhưng người già có thể trải qua một đời vui vẻ hạnh phúc
Quan niệm hiếu đạo, ví dụ như ngày sinh nhật, hoặc ngày tết của bạn, con cái bạn gởi cho bạn một cái thiệp chúc mừng Bạn xem xong thì vui vẻ phấn khởi: "Con cái chúng tôi đã rời xa chúng tôi nhiều năm như thế vẫn không quên chúng tôi" Người châu Á ở điểm này biểu hiện rất tốt Thật sự hiện nay người ngoại quốc rất hâm mộ nền văn hóa Á đông Con cái thường đến thăm cha mẹ già, mua tặng họ một chút quà gì đó Con cháu đều có thể gặp mặt ông bà Nếu thiếu những điều này, người già tuổi xế chiều, thật sự rất đau khổ, tinh thần ưu uất Trong lúc này, chúng ta đem Phật pháp giới thiệu cho họ, khiến sinh hoạt của họ có thể bước vào một không gian, thời gian khác Cái không thời gian này hoàn toàn không giống với cái không thời gian họ đang sống, có thể cho tuổi già được hạnh phúc, mỹ mãn thật sự Họ sẽ cảm nhận được trong cuộc đời họ, tuổi già thật sự có ý nghĩa, tuổi già thật sự có giá trị Giai đoạn này rất quan trọng, giảng kinh trong viện an lão có được kết quả này, có được sự đón nhận này
Chúng ta thấy rằng có tư nhân xây nhà dành cho người già, Chính phủ có trợ cấp, vì quốc gia có ngân sách phúc lợi dành cho người già Nếu như bằng lòng phát tâm, Chính phủ rất hoan nghênh, lại còn động viên khen thưởng Nếu như chúng ta có thể làm được viên mãn hoàn hảo như thế thì tin rằng sẽ được mọi thành phần, mọi tầng lớp xã hội hưởng ứng trợ giúp Cho nên, về mặt tài chính cảm thấy không phải là quá khó khăn, lo lắng Vấn đề ở đây chính là chúng ta phải phát ra thành ý Thật lòng thật ý, hết thảy vì người già mà phục
vụ Chúng ta phải trân thành, thanh tịnh, bình đẳng, đại từ đại bi, thực hiện thật
Trang 23tốt, thật viờn món sự nghiệp đem phật phỏp phổ độ chỳng sanh Mỗi ngày, một người nhúm gúp sức lại, thế duyờn buụng bỏ sạch Tuổi xế chiều chỉ một lũng hướng về đạo Đạo tràng thường xuyờn tổ chức cỏc buổi tọa đàm về cỏc loại học thuật, đưa người cao tuổi đến tham dự Những người cao tuổi thuộc nhiều tầng lớp, với cỏc loại nghề nghiệp khỏc nhau trong xó hội, họ sẽ đem kinh nghiệm, trớ tuệ, vốn liếng hiểu biết của mỡnh truyền lại cho lớp trẻ thế hệ sau, một cỏch tự nguyện, khụng điều kiện, khụng giỏ cả, giỳp cho thế hệ trẻ càng thờm tiến bộ, càng thờm vững tiến Hơn nữa sau khi hưu trớ, tự nhiờn mỡnh cú phương hướng đỳng đắn, cú mục tiờu sinh hoạt đỳng đắn, họ mới thật sự cảm nhận được đời người cú ý nghĩa, cú giỏ trị, cú chỗ quy hướng Điều này trong Phật phỏp gọi là
cú chỗ nương về đỳng đắn Điều mong muốn lớn nhất của xó hội Á Đụng cũnh như của hầu hết cỏc xó hội khỏc, lỳc tuổi già cú một kết thỳc tốt đẹp, cú thể thực hiện viờn món Đõy là cụng đức thu thắng viờn món của sự giỏo dục Phật Đà Nhưng phải dựa vào con người, thật sự cú thể nhận thức, tiếp nhận, học tập và đem phỏt huy rộng lớn Nếu cú sự kết hợp của học viện và học hội, việc này cú thể thực hiện viờn món
1.1.3 Chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi ở các nước đang phát triển
Tại Hội nghị thế giới lần thứ hai về già hoá, nhiều nước đã tập trung vào việc ngăn chặn sự phá vỡ các giá trị truyền thống, là những điều đảm bảo việc chăm sóc và kính trọng đối với người cao tuổi Tại Lào, trong khi tỷ lệ người cao tuổi đang tăng lên thì số lượng những người chăm sóc trong các gia đình lại giảm xuống Vấn đề đô thị hoá và sự tăng lên của số phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động đang làm suy yếu hệ thống giúp đỡ truyền thống trong các gia đình mở rộng đối với các thành viên cao tuổi2
Mặc dù với những điều kể trên, tình hình người cao tuổi tại các quốc gia ở Châu Phi đã được tiến triển tốt Tại Angola, việc bảo vệ cụ thể người cao tuổi
đang được mở rộng và người cao tuổi được xếp vào nhóm yếu thế trong xã hội Nhiều cải cách trong hệ thống an sinh xã hội cũng đã được thực hiện để cung cấp những trợ giúp xã hội thiết yếu Bên cạnh đó, những sự giúp đỡ về tài chính cũng
đã bắt đầu được cung cấp
Tại Kazakhstan, già hoá dân số có một tác động lớn đối với mọi khía cạnh
đời sống kinh tế-xã hội của quốc gia này Kazakhtan đã phát triển một hệ thống lương hưu ở trình độ cao với nhiều dịch vụ trợ giúp của chính phủ đối với người cao tuổi và các cựu chiến binh Người cao tuổi được cung cấp các dịch vụ chăm sóc tại gia đình Mỗi một nhân viên y tế có thể giúp đỡ cho từ 6 đến 10 người
2
Phongsavath Boupha, Vice Minister for Foreign Affairs, Lao People’ Democratic Republic, Second World
Trang 24cao tuổi Đối với việc chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi tại Kazakhstan, vấn
đề quan trọng nhất là các bệnh về tuần hoàn máu Số lượng người cao tuổi bị cao huyết áp gia tăng nhưng kể từ năm 1997, tỷ lệ người chết vì căn bệnh này đã giảm nhẹ Những kinh nghiệm và sự hiểu biết của người cao tuổi đang được huy
động giúp cho việc giải quyết chính bản thân những vấn đề của họ Ngày nay, người cao tuổi đã được quan tâm hơn Các bệnh viện đã có khoa lão khoa cung cấp các dịch vụ về sức khoẻ, tư vấn bởi các chuyên gia và lời khuyên trong việc dùng thuốc cho người cao tuổi
Theo một cuộc điều tra tại Pakistan trong những năm 1984-1985, khoảng 12% những người trong nhóm tuổi 60-64 và 25% những người từ 65 tuổi trở lên
có một số khuyết tật Trong số những người cao tuổi khuyết tật, những người bị
mù, điếc, què và những tật nguyền về cả thể xác lẫn tinh thần đều có tỷ lệ cao Không phải tất cả các căn bệnh tuổi già đều là giai đoạn cuối hoặc chúng dẫn
đến khuyết tật Do vậy, nếu có một kế hoạch giáo dục về sức khoẻ thì nhiều căn bệnh có thể được phòng và điều trị để người bệnh có thể sống độc lập hơn và khoẻ mạnh hơn3
Tại Ai Cập, triết lý về chăm sóc tuổi già được xây dựng dựa trên cơ sở cung cấp cho tất cả những ai đến tuổi nghỉ hưu Ai Cập đồng thời ủng hộ việc chăm sóc toàn diện cho người cao tuổi thông qua các hoạt động tình nguyện của các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và gia đình Chăm sóc người cao tuổi cũng
đồng thời là tư tưởng nền tảng của đạo Hồi, phần lớn các gia đình đều hướng tới việc chăm sóc người cao tuổi
Các chính sách về chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi dựa trên cơ sở nâng cao các dịch vụ chăm sóc về y tế và tinh thần, gia tăng nhận thức của người cao tuổi, vai trò và sự độc lập của họ trong xã hội nhằm giảm thiểu khuyết tật và nâng cao mức sống
Tại Nam Phi, những rào cản đối với chăm sóc y tế bao gồm thiếu kiến thức hoặc nơi tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc y tế, khoảng cách đến các cơ sở
y tế quá xa, không tiếp cận được với các phương tiện giao thông hoặc không thoả mãn với chất lượng dịch vụ chăm sóc tại các cơ sở y tế nhà nước Chính sách về chăm sóc y tế 3.11-16 tại Nam Phi đã tập trung ưu tiên đối với phụ nữ, trẻ em và thanh niên nhưng người cao tuổi lại không được đề cập đến như một sự ưu tiên Mặc dù việc nâng cao chăm sóc dựa vào cộng đồng dành cho người cao tuổi, cùng việc nâng cao khả năng phát hiện và kiểm soát các nhân tố gây bệnh và các căn bệnh mãn tính ở cấp độ sơ đẳng được xác định là hai ưu tiên chính trong kế hoạch xây dựng lại y tế nhưng trên thực tế việc triển khai kế hoạch rất chậm
3
Population Ageing in Pakistan and its implications, Mohammad Afzal, The Ageing of Asian Populations, United Nations, 1994
Trang 25Một tỷ lệ cao những người bị chứng trầm cảm, đặc biệt đối với phụ nữ thành thị Châu Phi 44% phụ nữ cao tuổi sống tại các thị trấn đô thị mới tại Cap Town có triệu chứng của bệnh trầm cảm, so sánh với 27% phụ nữ cùng độ tuổi ở Langa, một trong những thị trấn cổ nhất Các yếu tố về kinh tế, gánh nặng trong việc chăm sóc và sự thay đổi địa vị xã hội là những áp lực đối với các căn bệnh
về thần kinh của phụ nữ cao tuổi
Sự thay đổi về dinh dưỡng liên quan đến quá trình đô thị hoá gia tăng nhanh hiện tại cũng như trong tương lai sẽ kèm theo sự gia tăng các căn bệnh mãn tính như bệnh động mạch vành tim, bệnh về động mạch não và bệnh tiểu
đường Tuy nhiên, mối liên hệ giữa chế độ ăn, đô thị hoá và sự biểu hiện của các căn bệnh mãn tính là không rõ ràng Những người cao tuổi da đen ở vùng đô thị thuộc Cap Town có một tỷ lệ người bị cao huyết áp khá cao (30,3%)4
Tại Zimbabue, tác động của HIV/AIDS đến người cao tuổi đã được thừa nhận Người cao tuổi ở quốc gia này đang phải đối mặt với một vấn đề chính trong việc cung cấp sự chăm sóc và giúp đỡ cho những người ốm đau bệnh tật, là những người quay trở lại để nhờ cậy sự chăm sóc của cha mẹ già cùa mình Họ cũng đồng thời phải đối mặt với những thách thức trong việc chăm sóc cho những đứa trẻ mồi côi do cha mẹ chúng chết vì AIDS
Chính phủ cải cách trong trồng trọt hiện thời đã chứng minh, ngược lại với những hiểu biết theo tập quán, tầng lớp những người trẻ tuổi và có học thức chuyên môn cao đang chiếm lĩnh trong lĩnh vực nông nghiệp Hiện tượng này sẽ
đảm bảo rằng nông nghiệp sẽ không còn mang ý nghĩa sống còn nhưng sự phát triển của công nghiệp nông sinh học sẽ là một yếu tố quan trọng trong việc giảm nghèo và là cần thiết cho người cao tuổi Các chương trình đang được triển khai
để giúp đỡ người cao tuổi bao gồm: cung cấp lương thực và dinh dưỡng miễn phí, chăm sóc và bảo vệ, cung cấp nơi cư trú và điều trị y tế miễn phí và an ninh xã hội cho người cao tuổi Tuy nhiên, Zimbabwe đang thiếu các nguồn lực để giúp đỡ người cao tuổi trong các hoạt động tạo thu nhập nói chung và các chương trình giáo dục và đào tạo phù hợp
Những người từ 70 tuổi trở lên chiếm 10% dân số của Isarel và đang gia tăng Những người hưởng lương hưu chịu trách nhiệm 40% tổng chi phí về y tế
Do đó, việc nâng cao khẩu phần ăn của người cao tuổi và phòng chống bệnh tật
có thể dẫn đến giảm sử dụng các dịch vụ y tế và một phần lớn trong khoản tiền tiết kiệm Trong số những người trẻ tuổi hơn, tình trạng quá trọng lượng có thể gây nên bệnh tật nhưng đối với người cao tuổi, điều ngược lại là đúng Một khẩu phần ăn không đủ vitamin B có thể gây ra triệu chứng của bệnh mất trí và căn bệnh này có thể được loại bỏ nếu người cao tuổi có đủ thức ăn đúng tiêu chuẩn
4
Nutrion, Health and Old age- the case of South African urban elderly Karen E Charlton
Trang 26Nghiên cứu cũng cho thấy người cao tuổi có sự thiếu hụt lớn về can xi trong khẩu phần ăn, nguyên tố quan trọng bậc nhất gây mất xương và đôi lúc là những điều kiện xấu của bệnh loãng xương
Những lý do chưa rõ về chưa có đủ dinh dưỡng cho người cao tuổi Một số
lý giải như người cao tuổi cảm thấy kém ăn hơn so với những người trẻ tuổi và không muốn ăn khi họ cảm thấy chưa đói Họ không thể thưởng thức đồ ăn như những người trẻ tuổi Những người cao tuổi sống cô đơn thường không thể tự nấu nướng và họ cũng không đủ mạnh khoẻ để đi chợ nên sự ngon miệng của họ có thể bị giảm đi bởi chứng trầm cảm và điều này là phổ biến ở người cao tuổi5
Tại Iran, có hơn 4 triệu người từ 60 tuổi trở lên trong đó 57% đang sống tại khu vực thành thị Phụ nữ, với tỷ lệ có học vấn thấp hơn và sự phụ thuộc về tài chính cao hơn chiếm một nửa trong tổng số người cao tuổi Mặc dù thách thức về già hoá đã trở nên rõ nét, Iran có những truyền thống được thiết lập trong một thời gian dài dựa theo những lời giáo huấn của đạo Hồi Những lời giáo huấn này luôn đứng ở vị trí đầu tiên trong các vấn đề của chính phủ để cung cấp các nhu cầu về xã hội và y tế cho người cao tuổi Triết lý sống còn của xã hội phụ thuộc vào sự tham gia một cách năng động của người cao tuổi Do đó, việc cấp bách là phải giúp đỡ những điều kiện về kinh tế- xã hội để cho phép mọi người ở mọi lứa tuổi có thể cùng hoà nhập trong xã hội Mục tiêu của kế hoạch bảo vệ xã hội là nhằm cung cấp sự tiếp cận về các dịch vụ y tế và an sinh xã hội cũng như sự ổn
định về tinh thần và tình cảm và an sinh là quan trọng, đặc biệt là phụ nữ Hệ thống chăm sóc y tế ban đầu bao gồm các chương trình toàn diện để kiểm soát
và phòng chống bệnh tật không lây nhiễm và các vấn đề y tế Tuy nhiên, phát huy một lối sống khoẻ mạnh vẫn là nền tảng của các chương trình Việc xem xét lại những quy tắc liên quan đến y tế để hoàn thiện lão khoa và biến tất cả các dịch vụ trở nên có thể tiếp cận được trong hệ thống y tế6
Nhiệm vụ của chúng ta là phải đảm bảo cho người cao tuổi có được một cuộc sống có giá trị với những điều kiện không nghèo đói, cô đơn, sức khoẻ kém, lạm dụng và phân biệt đối xử Vấn đề già hoá phải ở vị trí trung tâm trong
kế hoạch phát triển toàn cầu Ngày nay, hơn 400 triệu người cao tuổi đang sống tại các quốc gia đang phát triển có cuộc sống dưới ngưỡng nghèo đói Một nghiên cứu gần đây của UNFPA tại ấn Độ và Nam Phi cho thấy những mối quan tâm chính của người cao tuổi bao gồm điều kiện sống không đầy đủ, thiếu
sự tiếp cận với các dịch vụ xã hội, lạm dụng và bạo lực liên thế hệ Nghèo đói của người cao tuổi có liên quan đến trình độ học vấn thấp, đặc biệt của phụ nữ cũng như điều kiện về sức khoẻ nghèo nàn, thiếu nhận thức và tiếp cận với thông tin Người cao tuổi đã xác định các nhu cầu ưu tiên của họ là an ninh lương thực,
Trang 27nước sạch, sức khoẻ tốt, tiện nghi sinh hoạt phù hợp và sự chăm sóc giúp đỡ của
gia đình Bởi tác động của đại dịch HIV/AIDS, người cao tuổi đang phải chăm
sóc những đứa con đã trưởng thành của họ cũng như những đứa cháu mồ côi7
1.1.4 Chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi ở khu vực Đông Nam á
Tại hầu hết các quốc gia Đông Nam á, gia đình vẫn là đơn vị xã hội
truyền thống đối với việc chăm sóc người cao tuổi, người sống và làm việc với
các con của mình Sự quan tâm trong các chính sách và chương trình để làm
giảm nhẹ áp lực của số lượng người cao tuổi đối với quá trình biến đổi kinh kế
xã hội, giảm nhẹ trách nhiệm của các cơ sở dưỡng lão và giúp chính phủ giải
quyết các vấn đề tiềm năng
Bảng 2: Số người cao tuổi yêu cầu dịch vụ chăm sóc theo ngày các nước thuộc khu vực Đông Nam á năm 2000
Malayxia 205.0 Indonexia 2.263,4
Myanmar 454,2 Cambodia 80,5
Philipine 588,5 Lao 41,5 Singapore 59,4
ThaiLand 715,2
Tại Malaysia, gia đình là nền tảng của xã hội và là nguồn lực đầu tiên của
sự ủng hộ, giúp đỡ, chăm sóc cho những người ốm yếu, khuyết tật và người cao
tuổi Vì lý do này, sự nhấn mạnh được tập trung vào việc tăng cường đơn vị gia
đình Việc đưa người cao tuổi vào các cơ sở từ thiện chỉ là giải pháp cuối cùng
Nhằm khuyến khích gia đình chăm sóc người cao tuổi, chính phủ đã cho phép
giảm thuế đối với việc chi trả các chi phí về y tế đồng thời thiết lập nên các trung
7
Thoraya ahmed obaid, Executive director of the United Nations Population Fund (UNFPA), Second World
Trang 28tâm chăm sóc hàng ngày dựa vào cộng đồng cũng như các nhà dưỡng lão dành cho người cao tuổi
Chính phủ đã dành một phần ngân sách quan trọng để đảm bảo cho tất cả các nhóm tuổi, bao gồm cả người cao tuổi, có cơ hội và phương tiện để tham gia vào quá trình phát triển Kế hoạch hành động này nhằm cung cấp sự chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi với việc nhấn mạnh vào các dịch vụ chăm sóc và lão khoa dựa vào cộng đồng, các hoạt động xã hội và giải trí, nhà ở an toàn, nghiên cứu và phát triển và các chương trình ủng hộ8
Tại Singapore, ngay từ những năm 1980, chính phủ đã quan tâm đến vấn
đề già hoá Năm 1988, Hội đồng tư vấn quốc gia về già hoá đã được hình thành
để đảm nhận việc xem xét toàn diện về già hoá tại Singapore Một trong những kiến nghị chính được đề xuất bởi Hội đồng tư vấn là thành lập Hội đồng quốc gia
về già hoá Bên cạnh đó, nhiều đề xuất khác cũng được đưa ra như nâng tuổi nghỉ hưu từ 55 lên 60, mở rộng các chương trình giáo dục công cộng cho người cao tuổi, giao đất cho các tổ chức phi chính phủ để xây dựng nhà ở cho người cao tuổi, nghiên cứu tính khả thi của việc cung cấp các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khoẻ cho những người cao tuổi ốm yếu tại gia đình và giảm thuế đối với những người chăm sóc người cao tuổi
Để đáp ứng những thách thức của vấn đề già hoá dân số, hai chính sách đã
được triển khai từ trước về những vấn đề dự báo trước liên quan đến chăm sóc y
tế và xã hội cho người cao tuổi Các nhóm cộng đồng và Uỷ ban đặc biệt của Quốc hội đã đưa ra một luật quan trọng có tên gọi hoạt động nuôi dưỡng cha mẹ năm 1995 Sau nhiều cuộc tranh cãi, sự tán thành của công chúng đối với luật này bắt buộc nghĩa vụ về mặt pháp luật đối với con cái trong việc chăm sóc cha
mẹ Đó là một chính sách xã hội liên quan đến việc phòng chống và những vấn
đề liên quan đến sự khước từ cha mẹ của con cái Tại phần lớn các cộng đồng thành thị, tan vỡ gia đình đang trở thành một vấn đề xã hội nguy hiểm và điều này sẽ gây ra hậu quả trong việc chăm sóc và giúp đỡ người cao tuổi Năm 1996, những sửa đổi trong hiến chương của phụ nữ cung cấp những kênh cho cha mẹ cao tuổi để thực hiện những hoạt động hợp pháp nếu họ là nạn nhân của lạm dụng về thể chất, tinh cảm và tâm lý Năm 1996, một chính sách khác bao gồm việc chăm sóc y tế đối với những người bị bệnh nặng khó cứu chữa
Trong số các nội dung của chính sách đối với các dịch vụ cho người cao tuổi, chính phủ đã áp dụng nguyên tắc "cùng chi trả" Nguyên tắc này được áp dụng cho kế hoạch tiết kiệm y tế, một kế hoạch tiết kiệm y tế bắt buộc theo đề mục của quỹ tiết kiệm trung ương và hệ thống an ninh xã hội Singapore Một cá nhân có thể sử dụng khoản tiết kiệm y tế của mình chi trả viện phí của bản thân
8
Siti Zaharah Sulaiman, Minister of National Unity and Social Development of Malaysia, Second World
Assembly on Aging, Madird, 2002
Trang 29họ cũng như cha mẹ của họ Phạm vi của các khoản phí là căn cứ theo thu nhập
đối với các dịch vụ dựa vào cộng đồng như các dịch vụ chăm sóc tại gia đình, chăm sóc hàng ngày và phục hồi Những người nhận được sự giúp đỡ công cộng,
kế hoạch hỗ trợ về tài chính nhằm vào những người cao tuổi trong tình trạng thiếu thốn cùng cực, ốm yếu hoặc tàn tật và được chi trả bởi Bộ Thể thao và Phát triển cộng đồng, được quyền cung cấp miễn phí các dịch vụ y tế tại những phòng khám của Chính phủ Mọi công dân Singapo từ 60 tuổi trở lên đều nhận được khoản tiền trợ cấp bằng 75% các khoản phí chi trả tại phòng khám
Mô hình hiện tại trong việc chăm sóc người cao tuổi tại Singapore là sự chung sức giữa Chính phủ, cộng đồng và gia đình Chính phủ và cộng đồng hy vọng giúp đỡ các gia đình có người cao tuổi nhằm giảm thiểu những áp lực trong việc chăm sóc người cao tuổi của thành viên trong gia đình Chính phủ Singapore
đã thiết kế một hệ thống trợ cấp về giường bệnh theo mức bệnh nhân thuộc loại
C sẽ nhận được 80% khoản trợ cấp; bệnh nhân thuộc loại B2 nhận được 65% và loại B1 nhận được 20% Khoản trợ cấp đối với giường bệnh tại gia đình đã được xem xét lại theo những kiến nghị trong báo cáo của Uỷ ban các bộ trưởng về chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi năm 1999 Nguyên tắc được thông qua Chính phủ là mỗi cá nhân có trách nhiệm duy trì sức khoẻ và phúc lợi và nên tiết kiệm trong những lúc thiếu thốn Nếu những người này ốn yếu, gia đình nên giúp đỡ, chính phủ sẽ chỉ là giải pháp cuối cùng Do vậy, một khoản kinh phí lớn đã được Chính phủ dành cho giáo dục y tế công cộng dài hạn
Một khía cạnh khác là chăm sóc y tế của khu vực tư nhân, lĩnh vực mà Chính phủ đang chú ý, được trợ cấp trong việc khám sức khoẻ cho người cao tuổi Đối với một khoản phí nhỏ không đáng kể ở mức 5 đôla Singapore, một cá nhân từ 60 tuổi trở lên có thể có được việc kiểm tra sức khoẻ cơ bản Dịch vụ này
đã được đẩy mạnh bởi Bộ Y tế trong việc sử dụng những tổ chức có liên quan như các trung tâm hoặc các câu lạc bộ cộng đồng Trong khi một số các dịch vụ
có sẵn, sự không tương xứng, phân phối không công bằng theo vùng địa lý và không đầy đủ cho thấy còn có những vấn đề, nhu cầu của các chương trình hỗ trợ để giúp đỡ gia đình trong việc chăm sóc người cao tuổi Các chương trình này
có thể bao gồm việc cung cấp các bữa ăn, giúp đỡ qua điện thoại và thuê các thiết bị Sự liên tục trong việc chăm sóc người cao tuổi ốm yếu là mục tiêu của chính sách của chính phủ đối với người cao tuổi, mặc dù vẫn chưa đạt tới hoàn thiện
Một áp lực đối với các cơ sở chăm sóc dài ngày tại Singapore do số lượng người cao tuổi không được chăm sóc bởi gia đình họ Theo điều tra quốc gia về người cao tuổi năm 1995, 86,2% người cao tuổi sống với con cái của họ, giảm 5% so với năm 1983 Cuộc điều tra cũng cho thấy khoảng 3,1% người cao tuổi sống độc thân và 5,2% người cao tuổi chỉ sống với bạn đời của mình Theo tổng
điều tra dân số Singapore năm 2000 cho thấy sự gia tăng số hộ gia đình chỉ có
Trang 30người cao tuổi từ 1,8% năm 1990 lên 2,8% năm 1999 Đồng thời với sự giă tăng này là giảm số hộ đông người hoặc đa thế hệ từ 6,7% xuống còn 5,6% Số hộ chỉ
có một người tăng từ 5,2% năm 1990 lên 8,2% năm 1999 Sự gia tăng của số hộ chỉ có người cao tuổi là vấn đề của xã hội, yếu thế dẫn đến trầm cảm và tự tử cũng như khả năng ít hiệu quả việc điều trị trong thời kỳ khủng hoảng Trong khi một người cao tuổi khoẻ mạnh không gặp khó khăn trong việc sống độc lập thì những người cao tuổi ốm yếu lại cần đến sự trợ giúp
Tại Singapore, già hoá dân số cao tuổi trong đó tỷ lệ gia tăng của dân số già nhất là lớn hơn so với những người cao tuổi thuộc nhóm tuổi trẻ và do vậy đã dẫn đến hậu quả là tăng đối với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ Ví dụ, năm
1995, số người từ 65 tuổi trở lên chỉ chiếm có 5% dân số nhưng chiếm tới 17% tổng viện phí và 19% số lần đến khám tại cơ sở y tế
Đối với phụ nữ cao tuổi, số liệu thống kê của Singapore cho thấy họ phải chịu đựng nhiều căn bệnh mãn tính hơn so với nam giới trong khi đó nam giới lại
có xu hướng mắc các căn bệnh về tim mạch Tại Singapore, số lượng phụ nữ cao hơn số nam giới trong các nhà dưỡng lão
Vấn đề tài chính của chăm sóc dài hạn là một lĩnh vực phức tạp bởi vì nó
đan xen với hệ thống cung cấp chăm sóc y tế tổng thể Singapore đã thực hiện một quá trình lớn trong việc cung cấp y tế và so sánh với các nước đang phát triển khác, nó có một hệ thống chăm sóc y tế toàn diện tiếp cận với mọi người dân Vào những năm đầu thập kỷ 90, sự xem xét về chính sách y tế đã xác định nhu cầu đối với ngăn chặn về giá trong chi phí chăm sóc y tế và vai trò của Chính phủ trong việc cung cấp sự chăm sóc Một trong những kiến nghị là Chính phủ nên đầu tư để triền khai một chương trình toàn diện trong việc chăm sóc sức khoẻ cho những người cao tuổi ốm yếu Điều này bao gồm việc cung cấp nhiều giường bệnh hơn cho việc chăm sóc lão khoa, chăm sóc tại gia đình, chăm sóc hàng ngày, những nơi nghỉ ngơi và các dịch vụ trợ giúp tại gia đình Khu vực tư nhân, các tổ chức tình nguyện và các bác sỹ đa khoa nên được khuyến khích tham gia vào chương trình này
Tuy nhiên, một thực tế tại Singapore đó là tình trạng thiếu nhà dưỡng lão
kể cả hiện tại cũng như trong tương lai, cầu vượt quá xa so với cung Tại Singapore có một chính sách hiểu ngầm rằng các nhà dưỡng lão nên được kiểm soát để không khuyến khích các thành viên trong gia đình gửi cha mẹ mình vào
đó và họ nên là nguồn cung cấp sự chăm sóc chính chứ không phải là nhà dưỡng lão Việc chăm sóc tại gia đình đối với người cao tuổi sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực nếu như việc tiếp cận với các nhà dưỡng lão quá dễ dàng Theo dự đoán, trong giai đoạn 1993-2030, sẽ có một sự thiếu hụt nghiêm trọng về các cơ sở chăm sóc cho người cao tuổi ở mọi cấp độ Đặc biệt, giường bệnh dành cho các bệnh nhân
bị bệnh mãn tính, giường bệnh tại các bệnh viện cộng đồng, chăm sóc tại gia
Trang 31đình và các dịch vụ chăm sóc tại gia đình Chính phủ cung cấp những khoản tiền trợ cấp cho các tổ chức phúc lợi tình nguyện điều hành các nhà dưỡng lão và nơi cư trú cho người cao tuổi Bộ Y tế cung cấp 90% chi phí quỹ vốn cho các nhà dưỡng lão và 50% chi phí điều hành Để khuyến khích hơn việc xây dựng nhiều nhà dưỡng lão do khu vực tư nhân đảm nhiệm, chính phủ tuyên bố sẽ cung cấp
17 khu đất cho những công ty tư nhân xây dựng nhà dưỡng lão
Quỹ chăm sóc người cao tuổi được thành lập năm 2000 đã được tăng cường để tài trợ trên một phạm vi rộng lớn cho người cao tuổi và các cơ sở chăm sóc bao gồm nhà dưỡng lão, bệnh viện cộng đồng, nhà cứu trợ và các dịch vụ chăm sóc tại gia đình Bộ Y tế năm 2000 đã công bố một kế hoạch đối với các dịch vụ chăm sóc y tế thích hợp cho người cao tuổi Nhu cầu của người cao tuổi thay đổi theo thời gian, ví dụ, một người đang ở trong trung tâm chăm sóc thường xuyên có thể sau đó cần đến các dịch vụ chăm sóc lớn hơn sau khi bị ngã hoặc bị tai nạn Theo kế hoạch, các dịch vụ dựa vào cộng đồng của Singapo sẽ
được chia theo 3 vùng địa lý (Tây, Trung và Đông) và có một hệ thống chặt chẽ
ở từng vùng Mặc dù các dịch vụ chăm sóc người cao tuổi là có sẵn nhưng trừ dịch vụ chăm sóc tại gia đình, tất cả các dịch vụ khác đều chưa phù hợp với nhu cầu Các dịch vụ thậm chí không được cung cấp ở các đảo cho nên nhiều gia
đình phải đi một khoảng cách xa để tới được nơi có dịch vụ đặc biệt và người cao tuổi cũng phải đi trong một khoảng thời gian lâu hơn, nguyên nhân gây ra tình trạng mệt mỏi9
Tại Malayxia, cho đến tận năm 1995 vẫn chưa có bất cứ một chính sách
cụ thể nào về người cao tuổi Các chương trình và chính sách phục vụ cho các nhu cầu của người cao tuổi được hợp nhất vào trong các chính sách phúc lợi xã hội tổng thể Chính sách phúc lợi quốc gia ban hành vào năm 1990 xác định người cao tuổi thuộc vào một trong các nhóm ưu tiên Mặc dù đây là lần đầu tiên
và thừa nhận nhu cầu chăm sóc của người cao tuổi, gia đình hoặc cộng đồng
được khuyến khích tiếp tục cung cấp sự chăm sóc cho người cao tuổi Nguyên tắc chính là sự chăm sóc ở các tổ chức chỉ là biện pháp cuối cùng
Năm 1995, Chính phủ đã thông qua chính sách quốc gia về người cao tuổi Chính sách tập trung vào việc khuyến khích cung cấp các cơ sở cho người cao tuổi để đảm bảo việc chăm sóc và bảo vệ họ Malayxia không có một chính sách
cụ thể nào về chăm sóc trong thời gian dài đối với người cao tuổi nhưng nói thế không có nghĩa là không có những quy định và các công trình để cung cấp những dịch vụ cần thiết trợ giúp việc chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi
Từ khía cạnh điều chỉnh, hoạt động chăm sóc tập trung năm 1993, những quy định chăm sóc tập trung năm 1994 tồn tại điều hành ở mức độ thấp nhất để
9
National Policies on Aging and Longterm care in Singapore, a case of catious wisdom, Kaliani K Mehta,
Trang 32bảo vệ sự quan tâm đối với người cao tuổi Các cơ sở chăm sóc tư nhân và hoạt
động dịch vụ năm 1998 quy định những hướng dẫn và điều chỉnh cụ thể đối với các nhà dưỡng lão
Đã có nhiều sự quan tâm đến vấn về y tế và già hoá dân số liên quan đến gánh nặng trong hệ thống chăm sóc y tế, đặc biệt liên quan đến các gia tăng chi phí Trong nội dung về tình trạng sức khoẻ, dựa trên sự tự đánh giá, phần lớn người cao tuổi cho rằng họ khoẻ mạnh với một tỷ lệ cao hơn đối với người cao tuổi ở khu vực thành thị Vấn đề về thị lực có liên quan lớn hơn so với vấn đề thính giác Khoảng 40% người cao tuổi cho rằng họ có vấn đề về sức khoẻ với tỷ
lệ phụ nữ cao hơn so với nam giới Cao huyết áp là phổ biến nhất và phụ nữ bị
ảnh hưởng nhiều hơn so với nam giới cao tuổi Thấp khớp là một vấn đề đối với phụ nữ nhưng nó có vẻ như có tác động hơn đối với nam giới
Một tỷ lệ cao người cao tuổi không thể thực hiện được các hoạt động thường ngày Tương tự, một nghiên cứu độc lập tại một huyện bán nông thôn đã cho thấy 80% nam giới từ 65 đến 74 tuổi và 64% nam giới từ 75 tuổi trở lên có thể thực hiện được những hoạt động thường ngày Các tỷ lệ tương tự của nữ giới lần lượt là 71% và 68% Ngược lại, khả năng để thực hiện những hoạt động thường ngày giảm dần theo tuổi Trong số những người không thể thực hiện được các hoạt động thường ngày, những khó khăn chính là việc đi lại và mua sắm
"Vào hoặc ra khỏi giường" là môt vấn đề không chỉ đối với những người thuộc nhóm tuổi già nhất và phổ biến hơn ở nữ giới so với nam giới Nhìn chung, nam giới có sức khoẻ tốt hơn so với nữ giới, đặc biệt ở những người từ 70 tuổi trở lên
Sức khoẻ xã hội bao gồm môi trường, sự tham gia các hoạt động và cách sống Hầu hết người cao tuổi ở Malayxia, đánh giá môi trường nhà ở của họ là tốt hoặc hoàn hảo ngoại trừ một tỷ lệ nhỏ cho rằng họ không cảm thấy an toàn khi ở trong nhà của mình Phần lớn người cao tuổi sống chung cùng với con cái hoặc bạn đời của mình và sự giúp đỡ là sẵn có đối với họ Một tỷ lệ nhỏ cho biết
họ không có bất cứ ai để chăm sóc khi họ bị ốm đau
Khoảng 60% cho biết họ vẫn rất quan tâm đến các hoạt động cộng đồng
và tỷ lệ này cao hơn ở nam giới so với nữ giới, người Malay quan tâm nhiều hơn
so với những người không phải là người Malay và ở thành thị cao hơn so với ở nông thôn Khoảng 1/4 người cao tuổi là thành viên của các tổ chức xã hội nhưng phần lớn trong số những người này chỉ tham gia vào các dịp lễ hội Chỉ 4% cho biết họ thuộc về một tổ chức
Trung bình, người Malayxia đến các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tư nhân khoảng từ 2 đến 3 lần/năm nhưng đối với người cao tuổi, con số này là 6 lần/năm Các dịch vụ y tế của chính phủ là sự lựa chọn phổ biến Một sự phát triển quan trọng trong việc chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi ở Malayxia đã
được thiết lập Kể từ giữa những năm 1990, các bệnh viện lão khoa và các trung
Trang 33tâm phục hồi đã được mở để đáp ứng các dịch vụ của người cao tuổi Riêng đối với khu vực tư nhân, chỉ có một bệnh viện tư nhân phục vụ người cao tuổi Một bệnh viện lão khoa khác đã được tài trợ trong suốt giai đoạn của kế hoạch lần thứ
7 và nhiều bệnh viện chung khác đang trong giai đoạn của kế hoạch lần thứ 8 (2001-2005) Tổng số 33 bệnh viện được phê duyệt trong giai đoạn kế hoạch lần thứ 7, 16 bệnh viện sẽ được cung cấp dịch vụ lão khoa Bên cạnh các dịch vụ có sẵn ở khu vực nhà nước, nhiều bệnh viện tư nhân khác cũng thiết lập các dịch vụ lão khoa Các dịch vụ phục hồi như vật lý trị liệu và điều trị bằng lao động cho người cao tuổi mặc dù dịch vụ này không mở rộng ra khu vực nông thôn
Như vậy, thông qua hệ thống các bệnh viện và phòng khám cung cấp chăm sóc y tế và sức khoẻ cho mọi lứa tuổi trong đó có người cao tuổi, những cố gắng đang được thực hiện để cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi như một phần của khái niệm chăm sóc xã hội, ví dụ, cha mẹ của những công dân được cung cấp miễn phí các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ từ các bệnh viện của chính phủ
Bởi vì chi phí chăm sóc sức khoẻ là một mối quan tâm chính đối với các cá nhân, gia đình cũng như chính phủ, nên được hiểu rằng các nguồn tài chính cho việc chăm sóc sức khoẻ là có sẵn Một phần lớn tài chính đã được thông qua trong kế hoạch lần thứ 8 của Maylaxia giai đoạn 2001-2005 như một chiến lược
đối với phát triển y tế
Năm 1995, chương trình chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi đã được triển khai tập trung vào việc nâng cao và duy trì sức khoẻ cũng như khả năng của người cao tuổi Nhiều hợp phần về chăm sóc sức khoẻ đã được xác định và các chiến lược đã đưa ra để đạt được các mục tiêu của chương trình bao gồm chăm sóc sức khoẻ tăng cường và phòng tránh, chăm sóc y tế và phục hồi, nghiên cứu
và đào tạo Kể từ khi bắt đầu chương trình, nhiều hoạt động đã được thực hiện như kế hoạch hành động quốc gia về chương trình sức khoẻ tinh thần cộng đồng cùng một số dự án thí điểm được thiết lập năm 1997, chiến dịch về cách sống khoẻ mạnh tập trung vào việc phòng chống và kiểm soát các bệnh mãn tính, các dịch vụ phục hồi, các trung tâm y tế hoạch định các hoạt động dựa vào cộng
đồng, kế hoạch giai đoạn 1997-2000 bao gồm 3 dịch vụ chính gồm dịch vụ bệnh viện, trung tâm y tế hoặc các dịch vụ sức khoẻ cộng đồng
Trong việc chăm sóc người cao tuổi, gia đình cũng như cộng đồng luôn
đóng vai trò đầu tiên Tuy nhiên, tại Malayxia cũng như các quốc gia đang phát triển khác trong khu vực, sự xói mòn hệ thống gia đình mở rộng, phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động ngày càng đông và qui mô gia đình nhỏ đã tạo nên trạng thái căng thẳng Sự phát triển này đã thúc đẩy sự phát triển việc chăm sóc người cao tuổi tại các cơ sở dưỡng lão Tuy nhiên, các cơ sở dưỡng lão chỉ có thể
Trang 34tiếp cận đối với những người có khả năng chi trả (trong trường hợp các nhà dưỡng lão của tư nhân) và phần lớn ở khu vực thành thị
Tại Malayxia, chăm sóc tại cơ sở được hình thành gồm: Chính phủ cung cấp nơi cư trú và chăm sóc dài hạn; khu vực tư nhân vì lợi nhuận; các tổ chức phi chính phủ đáp ứng nhu cầu của người cao tuổi trong sự khuyến khích của chính phủ Nhà dưỡng lão được xây dựng phần lớn ở khu vực nông thôn Nhà dưỡng lão được điều hành bởi các tổ chức tư nhân và được giám sát bởi Bộ Y tế hoặc phòng phúc lợi xã hội Nhà dưỡng lão đầu tiên tại Malayxia được thành lập vào năm 1983 Đến năm 2001, đã có từ 40 đến 50 nhà dưỡng lão ở mức độ vừa phải (trên 40 giường) Các nhà dưỡng lão phục vụ 24/24 các nhu cầu khác nhau bao gồm người cao tuổi và người tàn tật Trong số hàng trăm nhà dưỡng lão đang hoạt động tại Malayxia, chỉ có 188 có đăng ký với phòng phúc lợi xã hội về chất lượng chăm sóc Trong số đó, chỉ có 29 nhà dưỡng lão dành cho người cao tuổi, khoảng 1.046 người 7 trong số này được điều hành bởi các tổ chức phi chính phủ và số còn lại là hình thức kinh doanh tư nhân Ngoài ra, Chính phủ hoặc các
tổ chức tư nhân, một kiểu nhà cư trú khác được điều hành bởi Hội đồng phúc lợi Trung ương, một tổ chức phi chính phủ Những kiểu nhà này chịu sự giám sát của Phòng phúc lợi xã hội Tại Malayxia, Hội đồng quốc gia về sức khoẻ của người cao tuổi đã được thành lập năm 1997 trực thuộc Bộ Y tế Các hoạt động chính là để giám sát các chính sách gắn liền với sức khoẻ của người cao tuổi
Bệnh viện dành cho người cao tuổi vẫn còn hạn chế Mặc dù phát triển việc cung cấp chăm sóc sức khoẻ cụ thể như chăm sóc lão khoa cho người cao tuổi, cả ở khu vực nhà nước cũng như tư nhân và mục tiêu là cung cấp chăm sóc lão khoa tại tất cả các bệnh viện cấp huyện vằo năm 2020 Tuy nhiên, việc đạt
được mục tiêu này là rất khó, liên quan đén sự thiếu hụt đội ngũ cán bộ có chuyên môn về lão khoa Bên cạnh đó, vấn đề tài chính vẫn là thách thức lớn với các nhu cầu và chi phí gia tăng liên quan đến chăm sóc sức khoẻ Mặc dù kế hoạch Malayxia lần thứ 8 giai đoạn 2001-2005 đã đưa ra một chiến lược khung
kế hoạch tài chính về chăm sóc sức khoẻ nhưng còn quá sớm để xem xét đến các kết quả10
Tại Thái Lan, đầu tiên là Viện phúc lợi cho người cao tuổi của Chính phủ thành lập năm 1953 Tuy nhiên, không có bất cứ một chính sách quốc gia chính thức nào về người cao tuổi cho đến tận năm 1986 Hội nghị già hoá thế giới lần thứ nhất tại Viên năm 1982 đã đưa ra nhiều kế hoạch hành động và chính phủ Thái Lan đã hưởng ứng bằng việc thành lập Uỷ ban quốc gia về người cao tuổi Năm 1986, Uỷ ban quốc gia về người cao tuổi Thái Lan đã xây dựng một kế hoạch hành động quốc gia dài hạn đối với người cao tuổi (1986-2001) Kế hoạch nhằm triển khai các chính sách của chính phủ trong việc chăm sóc người cao
10
Aging in Malayxia: a review of National policies and programs, Ong Fon Sim, IDRC
Trang 35tuổi và được sử dụng như một kế hoạch khung và hướng dẫn các hoạt động của các tổ chức khác Kể từ đó, nhiều chương trình đã được triển khai Phòng phúc lợi xã hội là một tổ chức chính chịu trách nhiệm cung cấp các dịch vụ xã hội bao gồm cả việc chăm sóc tại cộng đồng cũng như tại các cơ sở Hiện tại, phòng phúc lợi xã hội đang điều hành 20 nhà cho người cao tuổi và 18 trung tâm cung cấp sự chăm sóc hàng ngày, các dịch vụ cư trú khẩn cấp và các dịch vụ di chuyển cho người cao tuổi sống tại cộng đồng Năm 1993, phòng phúc lợi xã hội đã thiết lập quỹ phúc lợi, cung cấp 200 bat/tháng cho người nghèo và người cao tuổi Từ năm 1999, khoản trợ cấp hàng tháng đã tăng lên 300 bat cho khoảng 400 nghìn người cao tuổi Năm 1999, 200 trung tâm dịch vụ xã hội tại nhà chùa dành cho người cao tuổi đã được thiết lập Các trung tâm này được điều hành bởi các nhà lãnh đạo cộng đồng và chỉ có thể cung cấp các hoạt động nghỉ ngơi và các chương trình nâng cao sức khoẻ
Nhu cầu đối với chăm sóc dài hạn đối với người cao tuổi là kết quả của già hoá nhanh và tình trạng giảm sút về sức khoẻ Năm 1999, 1 phần 5 người cao tuổi Thái Lan có vấn đề về sức khoẻ và 6,7% có nhu cầu về chăm sóc cá nhân
Đột quỵ, viêm khớp mãn tính, mù, tai nạn và gù là những căn bệnh phổ biến nhất
đối với người cao tuổi Thái Lan Theo cuộc điều tra quốc gia 3,4% người cao tuổi Thái Lan bị bệnh tâm thần phân liệt và mức độ tăng theo độ tuổi, từ 1% ở nhóm tuổi 60-69 lên đến hơn 30% ở nhóm tuổi từ 90 trở lên Khoảng 50% người cao tuổi bị tâm thần phân liệt là do bệnh Alzhemeir Tâm thần phân liệt là một trong những bệnh nặng nhất đối với những người chăm sóc tại Thái Lan
Kiểu mẫu chính trong chăm sóc dài ngày đó là sự chăm sóc không chính thức của gia đình Phần lớn người cao tuổi Thái Lan cần có sự giúp đỡ từ các thành viên trong gia đình Việc người cao tuổi sống chung cùng gia đình vẫn là khuôn mẫu trong xã hội Thái Lan nhưng nó đang ngày càng bị giảm sút nghiêm trọng trong hai thập kỷ vừa qua bởi sự thay đổi quá nhanh về kinh tế xã hội mà Thái Lan đang trải qua Sự thay đổi kinh tế xã hội bao gồm gia đình qui mô nhỏ
và sự gia tăng phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động và số phụ nữ cao tuổi goá bụa, ly dị hoặc ly thân cao hơn so với nam giới Những người cao tuổi sống độc thân, nhất là những người thuộc nhóm tuổi rất già, là những người có nguy cơ cao nhất bao gồm người không có ai chăm sóc trong lúc đau yếu (31,6%), vấn đề tài chính và nhu cầu tìm việc (16,4%), khó khăn trong việc thực hiện những công việc hàng ngày (17,8%) Những người cao tuổi này ít có cơ hội hơn khi họ có nhu cầu được chăm sóc
Phòng phúc lợi xã hội thuộc Bộ lao động và phúc lợi xã hội chịu trách nhiệm chính đối với chăm sóc sức khoẻ dài hạn Hầu như tất cả các dịch vụ xã hội công tại Thái Lan được điều hành bởi tổ chức này Trong các nội dung chăm sóc dài hạn chính thức được cung cấp bởi các tổ chức công, các dịch vụ xã hội tiên tiến hơn so với các dịch vụ y tế Cơ sở dịch vụ chăm sóc người cao tuổi đầu
Trang 36tiên được thành lập tại Thái Lan vào năm 1956 và có tên là "nhà cho người cao tuổi" Nó cung cấp các dịch vụ cho những người cao tuổi có thu nhập thấp và không thể ở tại nhà của mình hoặc không có ai thân thích chăm sóc Những người cao tuổi sống tại nhà cho người cao tuổi phải tự lập và không có sự chăm sóc bởi các nhân viên Tuy nhiên, khi họ trở nên yếu hơn, họ sẽ cần phải có những sự chăm sóc cá nhân hoặc y tá Hiện tại, nhà chăm sóc công không còn có sẵn ở Thái Lan Các khu vực tư nhân hoạt động vì lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận
đóng vai trò lớn trong việc đóng góp các dịch vụ chăm sóc tại gia đình và chủ yếu là các bệnh viện tư nhân
Năm 2001, kế hoạch quốc gia chăm sóc dài hạn người cao tuổi lần thứ hai của Thái Lan đã được triển khai bao gồm các chiến lược trong việc cung cấp chăm sóc dài hạn phạm vi lớn như tăng cường và trợ giúp sự chăm sóc không chính thức của gia đình, cung cấp các dịch vụ xã hội và y tế cho cộng đồng ở các cơ sở và các dịch vụ phát triển nơi cư trú và sự thích nghi về môi trường cho phù hợp với các hoạt động của người cao tuổi
Phần lớn người cao tuổi Thái Lan chia sẻ nơi ở với con cái (71%), sống liền sát với con cái (9,4%) và sống cùng khu vực với nhà ở của con cái (7,4%) Trong việc chăm sóc, 93% người cao tuổi muốn có sự chăm sóc từ chính bản thân con cái họ Theo điều tra nghiên cứu, 64% người cao tuổi được chăm sóc bởi con cái trong khi chỉ có 27% được chăm sóc bởi bạn đời Cuộc điều tra cũng cho thấy khoảng 20% người chăm sóc cũng chính là người cao tuổi
Mặc dù hướng dẫn kế hoạch dài hạn quốc gia đối với người cao tuổi nhấn mạnh tới nhà ở và các dịch vụ dựa vào cộng đồng để giúp cho người cao tuổi có thể duy trì ở nhà của chính bản thân mình trong thời gian lâu nhất có thể nhưng trên thực tế việc cung cấp các dịch vụ phù hợp là có giới hạn Phần lớn các dịch
vụ có sẵn dành cho người cao tuổi và người tàn tật là chỉ cung cấp trong thời gian ngắn và được cung cấp theo yêu cầu hoặc trong tình trạng khẩn cấp
Đối với loại hình trung tâm chăm sóc hàng ngày, có 18 trung tâm dành cho người cao tuổi, cung cấp chủ yếu việc chăm sóc và phục hồi theo ngày và
được điều hành bởi phòng phúc lợi xã hội Phần lớn các trung tâm này đều kèm theo nhà cư trú có sẵn để cung cấp các dịch vụ cho một số lượng giới hạn những người cao tuổi sống trong phạm vi từ 5 đến 10 km Bên cạnh các chương trình phục hồi cơ bản và chăm sóc theo ngày, các trung tâm này còn cung cấp việc khám và điều trị y tế, tư vấn và các hoạt động nghỉ ngơi và phòng khám di động
Trong những năm gần đây, cùng với sự nâng cao nhận thức về nhu cầu của người cao tuổi trong cộng đồng, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tại nhà đã phát triển
để đáp ứng cho các nhu cầu đặc biệt như chương trình đến khám bệnh tại gia
đình Tuy nhiên, mô hình này vẫn chỉ dừng lại ở phạm vi nhỏ và các dịch vụ chủ yếu cung cấp cho những người cao tuổi có nhu cầu thăm khám tại gia đình trong
Trang 37một thời gian ngắn Bộ y tế đã đưa ra chính sách chăm sóc sức khoẻ tại nhà là các bệnh viện nên có một đội gồm bác sỹ, y tá và một nhân viên xã hội và 1 chuyên gia trị liệu để đến khám cho bệnh nhân tại gia đình
Mô hình nhà cư trú cho người cao tuổi là phổ biến nhất và là dịch vụ truyền thống được cung cấp bởi chính phủ và các tổ chức phi chính phủ Sự cần thiết phải thực hiện điều này do số lượng người cao tuổi nghèo hoặc không có gia đình đang tăng lên nhanh Nhà cư trú cho người cao tuổi được thành lập đầu tiên vào năm 1956 để giúp đỡ người cao tuổi không có nhà ở Hiện nay số lượng nhà như vậy đã lên đến con số 20 và dưới sự giám sát của phòng phúc lợi xã hội
Trong thế kỷ trước có một nhu cầu gia tăng về loại nhà chăm sóc và phục hồi cho người cao tuổi bị ốm yếu hoặc bị bệnh mãn tính Những người này thuộc diện những người bị trả về từ bệnh viện để tránh tình trạng quá tải và để giảm chi phí khám chữa bệnh và họ cũng là những người có nhu cầu được chăm sóc tại chính gia đình mình, nơi mà các thành viên trong gia đình đóng vai trò là người chăm sóc Gánh nặng của gia đình trong việc chăm sóc người cao tuổi ốm đau bệnh tật đã dẫn tới một loại hình dịch vụ mới chăm sóc và phục hồi cho người cao tuổi ốm yếu, đặc biệt tại BangKok và những khu đô thị khác Theo số liệu của phòng phúc lợi xã hội, có khoảng 10 nhà dưỡng lão kiểu này với khoảng 500 giường cung cấp dịch vụ chăm sóc và phục hồi cho những người cao tuổi ốm yếu
mà gia đình có khả năng chi trả
Một xu hướng mới trong chăm sóc người cao tuổi tại Thái Lan sau cuộc khủng hoảng về tài chính năm 1997 là chăm sóc dựa vào bệnh viện áp lực của suy thoái kinh tế, hơn 400 bệnh viện tư nhân đang phải gắng sức để tồn tại Do vậy, chăm sóc cho người cao tuổi ốm yếu hoặc bị bệnh mãn tính trở thành dịch
vụ phụ thêm của các bệnh viện tư nhân đưa ra ở các mức trung bình và cao cấp Năm 2001, ở Thái Lan có khoảng 50 bệnh viện tư nhân cung cấp dịch vụ này Mặc dù vậy, các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc lâu dài cho người cao tuổi và những gia đình có đủ khả năng chi trả vẫn còn thiếu so với nhu cầu11
Tại Singapo, ngày càng có nhiều người cao tuổi sống tại nhà dưỡng lão, khoảng 6.600 người năm 2004, so sánh với 6.000 người năm 2003 và 4.500 người vào năm 2000 Nhiều người khác không cần nhiều dịch vụ và họ có thể
được chăm sóc tại nhà Chính phủ Singapore đang lo lắng về xu hướng này và vẫn hy vọng có thể đáp ứng được những nhu cầu về nhà dưỡng lão đang gia tăng như hiện nay Để chăm sóc cha mẹ cao tuổi, những đứa con đang đi làm thường chọn giải pháp là thuê người giúp việc, khoảng 800USD/tháng Nếu thu nhập của
hộ gia đình ở mức thu nhập trung bình, vào khoảng 1000 USD của một thành
11
National Policies on Aging and Long term care Provision for older persons in ThaiLand, Sutthichai Jitaipunkul,
Trang 38viên hoặc ít hơn, chính phủ sẽ cung cấp một khoản tiền trợ cấp, từ 25 đến 75% của chi phí nếu chăm sóc người cao tuổi tại nhà
Chi phí để người cao tuổi có thể ở tại nhà dưỡng lão vào khoảng từ 500
đến 1800 USD/tháng, phụ thuộc vào mức độ ốm yếu của người cao tuổi Đối với những gia đình nghèo có người cao tuổi muốn gửi cha mẹ mình đến nhà dưỡng lão chỉ phải trả một khoản phí 125 USD/tháng Mức giá sàn này là hiển nhiên
Đối với những người chăm sóc một người cao tuổi tại nhà (cha, mẹ hoặc ông, bà)
ở cùng căn hộ của mình sẽ nhận được khoản trợ giúp là 5000 USD và họ sẽ nhận
được 8000 USD nếu người cao tuổi đó là tàn tật Tuy nhiên, đối với những người gửi cha mẹ mình vào các nhà dưỡng lão, họ sẽ chỉ nhận được một khoản giúp đỡ
về thuế là 3500 USD đến 6500 USD theo mức tương ứng Do vậy, việc xây dựng ngày càng nhiều nhà dưỡng lão để đáp ứng nhu cầu không phải là câu trả lời Làm như vậy sẽ là một thất thoát lớn của quốc gia với nhu cầu gia tăng về cơ sở hạ tầng cũng như nhân lực để thực hiện Một giải pháp được đưa ra đó là trung tâm chăm sóc theo ngày Năm 1996, tiến sỹ Aline Wong, sau này là lãnh đạo phụ trách về y tế tuyên bố rằng Chính phủ đã phê duyệt 126 triệu đô la cho 15 nhà dưỡng lão và chi 3 triệu đô la cho 9 trung tâm chăm sóc theo ngày Để hoạt
động, nhiều nơi đã đưa ra mức giá hấp dẫn và phương tiện đi lại rẻ đối với người cao tuổi vì không phải tất cả mọi người đều có xe hơi ở mức giá cao nhất, việc chi trả cho một ngày chăm sóc cũng như phương tiện đi lại có thể lên đến 70USD/ngày Kết hợp điều này với các mức trợ cấp đối với những người làm việc đang chăm sóc cha mẹ hoặc ông bà cao tuổi và họ được khuyến khích để giữ người cao tuổi ở với gia đình Bên cạnh đó, những dịch vụ chăm sóc, nghỉ ngơi, nơi mà người cao tuổi có thể đến ở đó trong một thời gian ngắn khoảng vài tuần Vậy lý do tại sao lại có mô hình chăm sóc này? bởi bản thân những người chăm sóc cho cha mẹ cao tuổi của mình cũng cần phải có thời gian dành riêng cho họ và không nên lấy luôn của họ cả những ngày nghỉ thật giản đơn chỉ vì họ phải chăm sóc cha mẹ già của mình Năm 2000, Chính phủ đã thành lập quỹ chăm sóc người cao tuổi với tổng số tiền là 2,5 tỷ USD vì nhìn thấy trước được nhu cầu của người cao tuổi12
Tại Singapore, số lượng người cao tuổi sống tại các nhà dưỡng lão được
điều hành bởi các tổ chức phúc lợi tình nguyện sẽ giảm đi do Bộ y tế đang xem xét lại tiểu chuẩn tiền đóng góp và khung kế hoạch trợ cấp cho các cơ sở này Việc xem xét này được đưa ra sau 4 năm kể từ khi việc khảo sát tài sản đối với các nhà dưỡng lão vào năm 2000 và để đảm bảo rằng những bệnh nhân ở các nhà dưỡng, những người thực sự cần có sự giúp đỡ về tài chính có thể được giúp đỡ
12
Give incentives to keep elderly at homw, Salma Khalik, The Straits Times, Singapo, 14/6/2004
Trang 39Các tiêu chuẩn sẽ được thực hiện một cách nghiêm ngặt để chỉ những bệnh nhân
là những người thực sự cần có sự chăm sóc cả ngày lẫn đêm mới được được nhận
Để quảng bá các dịch vụ phục hồi hàng ngày như một sự lựa chọn cho những người không cần có sự chăm sóc cố định, Bộ Y tế đang đồng thời làm việc với các tổ chức phúc lợi tình nguyện để tăng cường phương tiện giao thông, giờ
kỷ XXI14
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam trong thời gian trước đây mới chỉ thu thập thông tin về người cao tuổi trong các cuộc Tổng điều tra dân số hoặc gần đây một số các nghiên cứu có tính chất đơn lẻ hoặc điển hình về người cao tuổi ở một số địa bàn
đặc thù Có thể kể đến một số nghiên cứu như, Khảo sát về đời sống của người cao tuổi vùng Đồng bằng sông Hồng năm 1996 của Bùi Thế Cường Viện Xã hội học; Khảo sát về đời sống người cao tuổi vùng Đông nam bộ năm 1997 của Trương Sỹ ánh Viện Xã hội học, TP HCM; Nghiên cứu điều kiện sống của người cao tuổi Việt Nam năm 1998 của Vụ bảo trợ xã hội Bộ LĐ-TB&XH; Nghiên cứu điều tra về sức khoẻ người già năm 1998 của Bộ Y Tế Gần đây nhất
do nhu cầu bức xúc của vấn đề người cao tuổi, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã hỗ trợ cho TW Hội người cao tuổi một đề án điều tra cơ bản, phân tích kết quả thực trạng người cao tuổi Việt Nam nhằm phát huy tài năng, trí tuệ trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá Cuộc điều tra đã hoàn thành cả hai giai đoạn, kết quả đã được nghiệm thu và sẽ in ấn công bố sử dụng rộng rãi trong thời gian tới, đồng thời một số khảo sát và đề án khác về người cao tuổi cũng đã bắt đầu
Trang 40Hiện nay nghiên cứu chuyên sâu cho những nhóm đặc thù hầu như chưa
có công trình nào, ngoài ra vấn đề xây dựng, thử nghiệm mô hình chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi còn nhiều ý kiến khác nhau Đây là vấn đề cần sớm triển khai tại Việt Nam
1.2.1 Già hoá dân số ở Việt Nam – Cơ hội và thách thức
Hiện nay, người cao tuổi ở nước ta có xu hướng tăng cả về số lượng tuyệt
đối và tương đối Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tuổi thọ bình quân của nam giới là 70 tuổi và của nữ giới là 73 tuổi năm 2002 Số liệu Tổng điều tra dân
số các năm 1979, 1989, 1999 cho thấy tỷ lệ người cao tuổi (60 tuổi trở lên) đang tăng dần từ 7,1% đến 7,2% và 8,2% trong tổng số dân Theo kết quả điều tra biến động dân số và nguồn nhân lực năm 2003, tỷ lệ dân số trên 60 tuổi chiếm 8,82%
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) thì một đất nước có trên 10% người cao tuổi được coi là một đất nước già hoá dân số Như vậy nước ta đang đứng ở ngưỡng cửa của sự già hoá dân số Theo tổng điều tra dân số 1999, tuổi thọ trung bình của Việt Nam ngày càng cao, vượt qua tuổi thọ trung bình của thế giới Giai
đoạn 1989-1999 người cao tuổi đã tăng gần gấp đôi tỷ lệ tăng dân số của cả nước trong cùng thời kỳ từ 4,64 triệu người lên 6,19 triệu người, chiếm 8,12% dân số cả nước Tuổi thọ bình quân năm 1999 là 68,6 tuổi trong khi đó thế giới mới là
66 tuổi Tính đến cuối năm 2002 tuổi thọ bình quân ở nước ta là 68,6 tuổi (Nam: 70; Nữ 73 tuổi) trong khi trên thế giới là 67 tuổi (Nam: 65, Nữ: 69) Cuối năm
2003 đã có gần 8,15 triệu người bằng 10,16% dân số cả nước, trong đó khoảng 85% người già Việt Nam sống ở nông thôn Tính tổng số người già chỉ có 18%
được hưởng chế độ trợ cấp hưu trí hoặc mất sức (nếu tính tất cả các nguồn hưu trí, trợ cấp mất sức, trợ cấp người tàn tật, cô đơn không nơi nương tựa, bố mẹ liệt
sỹ và người có công ) cũng chỉ chiếm khoảng gần 30% còn gần 70% người cao tuổi sống chủ yếu bằng nỗ lực của chính mình và cuộc sống của không ít người cao tuổi đang gặp không ít khó khăn
Tỷ lệ người già (trên 65 tuổi) của Việt Nam cao hơn một số nước phát triển và đã đạt mức sinh thay thế trong khu vực như Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc (6%) Cao hơn tỷ lệ chung của thế giới (5%) và các nước trong khu vực như Thái Lan (5%), Myanmar (4%), Lào ( 3%) Nhịp độ già hoá dân số ở nước
ta trong thập kỷ 90 đã nhanh hơn nhiều so với thập kỷ 80: Nếu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, người cao tuổi chỉ tăng thêm 93 vạn người và tỷ lệ nâng cao thêm 0,3% thì thập kỷ 90, các con số tương ứng là 155 vạn và 0,92% Tốc độ tăng dân
số trong thời gian từ 1989-1993 là trên 2%/năm, trong khi đó tốc độ tăng dân số cao tuổi khoảng 5,87%/năm, gấp 3 lần tốc độ tăng dân số Những giai đoạn sau