1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của khu du lịch sinh thái hồ núi cốc tỉnh thái nguyên

99 582 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của khu du lịch sinh thái hồ núi cốc tỉnh Thái Nguyên
Trường học Trường Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Quản trị Du lịch
Thể loại Báo cáo luận văn
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÀI LIỆU THAM KHẢO RẤT HAY VÀ GIÁ TRỊ !

Trang 1

MỤC LỤC

Lời cam đoan Error! Bookmark not defined Lời cảm ơn Error! Bookmark not defined

Mục lục i

Danh mục các từ viết tắt vi

Danh mục các bảng vii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

2.1 Mục tiêu chung 3

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

4 Ý nghĩa khoa học của luận văn 4

5 Bố cục của luận văn 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA ĐỀ TÀI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

1.1 Cơ sở lý luận chung của đề tài 5

1.1.1 Lý luận cơ bản về du lịch 5

1.1.1.1 Khái niệm về khách du lịch 5

1.1.1.2 Khái niệm về sản phẩm du lịch 5

1.1.1.3 Khái niệm về du lịch 6

1.1.1.4 Khái niệm về ngành du lịch 7

1.1.1.5 Khái niệm về khu du lịch 7

1.1.2 Lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 9

1.1.2.1 Khái niệm về cạnh tranh 9

Trang 2

1.1.2.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh 10

1.1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng và cấu thành năng lực cạnh tranh của ngành du lịch 10

1.1.3 Khái quát tình hình hoạt động du lịch trên thế giới, khu vực Đông Nam Á và Việt Nam 14

1.1.3.1 Khái quát tình hình du lịch thế giới 14

1.1.3.2 Khái quát tình hình du lịch của các nước trong khu vực Đông Nam Á (ASEAN) 15

1.1.3.3 Khái quát tình hình du lịch Việt Nam 16

1.1.3.4 Khái quát tình hình du lịch tỉnh Thái nguyên 17

1.2 Phương pháp nghiên cứu và hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 18

1.2.1 Phương pháp nghiên cứu 18

1.2.1.1 Phương pháp luận 18

1.2.1.2 Phương pháp thu thập thông tin 18

1.2.1.3 Phương pháp xử lý số liệu 19

1.2.1.4 Phương pháp phân tích số liệu 19

1.2.2 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 19

1.2.2.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh quá trình phát triển, khai thác, kinh doanh loại hình du lịch 20

1.2.2.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả của quá trình cạnh tranh 20

Chương 2. THỰC TRẠNG KHU DU LỊCH SINH THÁI HỒ NÚI CỐC TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA KHU DU LỊCH SINH THÁI HỒ NÚI CỐC TỈNH THÁI NGUYÊN 22

2.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, dân số và xã hội 22

2.1.1 Vị trí địa lý 22

2.1.2 Điều kiện tự nhiên 23

2.1.2.1 Khí hậu 23

Trang 3

2.1.2.2 Thủy văn, sông hồ 24

2.1.3 Dân số và xã hội 25

2.1.3.1 Dân số, lao động và nghề nghiệp, di dân 25

2.1.3.2 Dân tộc 28

2.1.3.3 Các chỉ tiêu chủ yếu 29

2.2 Thực trạng các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc tỉnh Thái Nguyên 29

2.2.1 Các nguồn lực phát triển du lịch 29

2.2.1.1 Nguồn nhân lực 29

2.2.1.2 Tài nguyên du lịch 30

2.2.1.3 Hiện trạng hệ thống hạ tầng xã hội trong vùng Hồ Núi Cốc 35

2.2.1.4 Hiện trạng hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong vùng Hồ Núi Cốc 36

2.2.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh của Khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc tỉnh Thái Nguyên 44

2.2.2.1 Lượng khách và doanh thu du lịch của KDL vùng Hồ Núi Cốc 44

2.2.2.2 Các dịch vụ hỗ trợ 45

2.2.2.3 Hoạt động marketing của Khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc 46

2.2.2.4 Hoạt động đầu tư vào ngành du lịch tỉnh Thái Nguyên và Khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc 48

2.2.3 Nhận định những điểm mạnh, điểm yếu của Khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc 49

2.2.3.1 Những điểm mạnh của Khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc tỉnh Thái Nguyên 49

2.2.3.2 Những điểm yếu của Khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc tỉnh Thái Nguyên 51

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của khu du lịch vùng Hồ Núi Cốc tỉnh Thái Nguyên 53

2.3.1 Yếu tố kinh tế 53

Trang 4

2.3.2 Yếu tố chính trị và luật pháp 54

2.3.3 Yếu tố văn hoá xã hội 55

2.3.4 Yếu tố công nghệ và kỹ thuật 55

2.3.5 Môi trường tự nhiên Hồ Núi Cốc tỉnh Thái Nguyên 55

2.3.6 Các đối thủ cạnh tranh 56

2.3.7 Khách hàng 60

2.3.8 Cơ hội và thách thức đối với Khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc tỉnh Thái Nguyên 61

2.3.8.1 Các cơ hội đối với Khu du lịch Hồ Núi Cốc tỉnh Thái Nguyên 61

2.3.8.2 Những thách thức đối với Khu du lịch Hồ Núi Cốc tỉnh TN 62

Chương 3.CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DU LỊCH SINH THÁI HỒ NÚI CỐC TỈNH THÁI NGUYÊN TRONG GIAI ĐOẠN TỚI 63

3.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển của khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc tỉnh Thái Nguyên đến năm 2015 tầm nhìn đến năm 2020 63

3.1.1 Quan điểm phát triển của du lịch vùng Hồ Núi Cốc 64

3.1.2 Mục tiêu chiến lược phát triển của du lịch vùng Hồ Núi Cốc 64

3.2 Các giải pháp góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của khu du lịch vùng Hồ Núi Cốc tỉnh Thái Nguyên đến năm 2015 tầm nhìn đến năm 2020 65

3.2.1 Nhóm giải pháp tận dụng ưu điểm 65

3.2.1.1 Giải pháp xâm nhập thị trường 65

3.2.1.2 Giải pháp phát triển thị trường 67

3.2.1.3 Giải pháp đa dạng hoá và khác biệt hoá sản phẩm 68

3.2.1.4 Giải pháp thu hút vốn đầu tư 70

3.2.1.5 Giải pháp tôn tạo và bảo vệ môi trường 72

3.2.2 Nhóm giải pháp khắc phục điểm yếu 74

3.2.2.1 Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực 74

Trang 5

3.2.2.2 Giải pháp tăng cường tổ chức quản lý và cơ chế chính sách về

du lịch 75

3.2.3 Nhóm giải pháp hỗ trợ 78

3.2.3.1 Giải pháp về xúc tiến quảng bá du lịch 78

3.2.3.2 Giải pháp phát triển du lịch bền vững với sự tham gia của cộng đồng địa phương 80

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82

1 Kết luận 82

2 Kiến Nghị 83

2.1 Kiến nghị với Chính phủ, các bộ ngành trung ương 83

2.1.1 Tăng cường kiểm tra, giám sát và thực hiện 83

2.1.2 Sự phối hợp của các Bộ, Ngành trung ương 83

2.1.3 Ban hành các chính sách khuyến khích, ưu đãi 84

2.2 Kiến nghị với địa phương tỉnh Thái Nguyên 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

PHỤ LỤC 1 89

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DL : Du lịch HNC : Hồ Núi Cốc HTKT : Hạ tầng kỹ thuật KDL : Khu du lịch NSNN : Ngân sách nhà nước

TN : Thái Nguyên TTCN : Tiểu thủ công nghiệp UBND : Ủy ban nhân dân VHTTDL : Văn hóa thể thao du lịch

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Biểu 1.1: Sự tăng trưởng của du lịch quốc tế giai đoạn 1990-2010 15

Biểu 2.1: Diện tích đất tự nhiên phân theo đơn vị hành chính vùng HNC 23

Biểu 2.2: Hiện trạng dân số và tăng trưởng dân số vùng Hồ Núi Cốc 26

Biểu 2.3: Hiện trạng lao động vùng Hồ Núi Cốc 27

Biểu 2.4: Hiện trạng cơ cấu lao động vùng Hồ Núi Cốc 27

Biểu 2.5: Hiện trạng dân số các dân tộc vùng Hồ Núi Cốc 28

Biểu 2.6: hiện trạng công suất phòng buồng các cơ sở lưu trú trong Khu du lịch vùng Hồ Núi Cốc 33

Biểu 2.7: Hiện trạng hệ thống giao thông vùng nghiên cứu 38

Biểu 2.8: Các trạm bơm tưới tiêu liên quan tới vùng nghiên cứu 39

Biểu 2.9: Số lượng du khách tới KDL Hồ Núi Cốc và doanh thu 45

Biểu 2.10: Số lượng Khách Quốc tế đến Việt Nam, Thái Nguyên, Bắc Kạn và Vĩnh Phúc 59

Biểu 2.11: So sánh một số chỉ tiêu hoạt động du lịch của Thái Nguyên và các địa phương khác 59

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay trên thế giới, du lịch được coi là một trong những ngành kinh tế hàng đầu, phát triển với tốc độ cao, thu hút được nhiều quốc gia tham gia vì những lợi ích to lớn mà nó đem lại Du lịch Việt Nam đang có những sự phát triển vượt bậc, với những bước chuyển toàn diện từ tư duy, quản lý đến tổ chức và bước đi để thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn Nhanh chóng thu hẹp khoảng cách với du lịch của các nước trong khu vực, mang lại hiệu quả nhiều mặt, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra nhiều giá trị mới và nguồn thu cho đất nước, góp phần tích cực vào tiến trình đổi mới, hội nhập khu vực và thế giới, đóng góp thật xứng đáng vào quá trình phát triển cũng như sự phồn thịnh của đất nước

Việt Nam có trên 70% dân số là nông thôn; vùng nông thôn rộng lớn chiếm 3/4 lãnh thổ, là địa bàn hoạt động của nhiều ngành kinh tế khác nhau Trong đó, có ngành du lịch và trọng tâm là du lịch sinh thái nông thôn Hiện này du lịch sinh thái đang là hướng phát triển được các quốc gia lựa chọn Vai trò của việc phát triển du lịch sinh thái được xét đến như một mắt xích với cơ cấu phát triển bền vững, vừa phù hợp với nhu cầu phát triển xã hội theo xu hướng chung của thế giới, vừa đảm bảo mục tiêu bảo tồn các hệ sinh thái (đặc biệt là sinh thái nông thôn) Để kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái, con đường duy nhất phải lựa chọn là sự phát triển theo nguyên tắc bền vững

Trong những năm qua, du lịch Việt Nam luôn đạt được tốc độ tăng trưởng khá Với tốc độ tăng trưởng 11-15%/năm Đạt được những kết quả trên, có sự đóng góp không nhỏ của lĩnh vực du lịch sinh thái nói chung và du lịch sinh thái nông thôn nói riêng

Thái Nguyên là tỉnh nằm trong trung tâm vùng trung du miền núi Bắc Bộ, là phụ cận của Thủ đô Hà Nội - trung tâm du lịch của cả nước Đồng thời, trong quy hoạch phát triển trung du miền núi Bắc Bộ, Thái Nguyên thuộc 2 tuyến du lịch quốc gia Hà Nội - Thái Nguyên - Cao bằng - Lạng sơn; Hà Nội - Bắc Giang - Lạng Sơn -

Trang 9

Cao Bằng - Thái Nguyên - Tuyên Quang - Hà Giang và khu nghỉ dưỡng cuối tuần của nhân dân Thủ đô Hà Nội Thái Nguyên có bề dầy lịch sử văn hoá, cùng với thế mạnh du lịch sinh thái đa dạng, hấp dẫn du khách Trong đó, đặc biệt là Khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc với nhiều danh lam thắng cảnh phong phú, các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể được bảo tồn trong cộng đồng các dân tộc tỉnh Thái Nguyên

Trong những năm qua, du lịch Thái Nguyên đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, đặc biệt sau Năm du lịch quốc gia Thái Nguyên 2007 được tổ chức thành công tại Thái Nguyên, tổng doanh thu toàn xã hội về các dịch vụ du lịch của Thái Nguyên đã tăng lên rõ rệt, đóng góp vào sự tăng trưởng chung của toàn tỉnh Năm

2008 doanh thu du lịch đạt 647 tỷ đồng, năm 2009 là 685 tỷ đồng, năm 2010 là 794

tỷ đồng Tuy nhiên, du lịch Thái Nguyên vẫn còn những bất cập, phát triển du lịch chưa tương xứng tiềm năng, phát triển sản phẩm du lịch chưa bền vững Để phát triển du lịch Thái Nguyên một cách có hiệu quả và toàn diện xứng tầm là trung tâm vùng trung du miền núi Bắc Bộ, cần tính tới yếu tố phát triển du lịch theo nguyên tắc bền vững Khai thác các tài nguyên du lịch phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội xong vẫn duy trì và giữ gìn được bản sắc văn hoá dân tộc, sự đa dạng sinh học và môi trường sinh cảnh tự nhiên Xuất phát từ quan điểm trên, việc nghiên cứu kinh tế du lịch sinh thái tại những vùng nông thôn, vùng cao, vùng xa của tỉnh Thái Nguyên là rất cần thiết Trong công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch cần được chủ động Kế hoạch phát triển và khai thác có hiệu quả tiềm năng Khu du lịch sinh thái trọng điểm vùng Hồ Núi Cốc đóng vai trò quan trọng, nhanh chóng đưa Khu du lịch

Hồ Núi Cốc vào danh sách Khu du lịch trọng điểm quốc gia theo kết luận của Chính phủ Trước thực trạng này, việc đề ra các giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc là một yêu cầu khách quan và cấp thiết đối với sự phát triển kinh tế xã hội chung của tỉnhnhằm đảm bảo phát triển bền vững có định hướng, góp phần giải quyết những yêu cầu của cuộc sống đặt ra Thực hiện chủ trương của Nhà nước về xóa đói giảm nghèo, giảm bớt sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị Với mong muốn được góp phần vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh của khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc, tạo ra thế và lực vững chắc cho sự phát

Trang 10

triển kinh tế xã hội chung của tỉnh, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Một số giải pháp

chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở nghiên cứu và đánh giá thực trạng đầu tư, khai thác, kinh doanh

và phát triển Khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc của tỉnh Thái Nguyên Đề tài nghiên cứu đưa ra các kiến nghị, giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh để đạt được mục tiêu ổn định và phát triển bền vững cho Khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc tỉnh Thái Nguyên

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về marketing, cạnh tranh

có liên quan đến thị trường kinh doanh và khai thác sản phẩm du lịch bản địa và du lịch nội địa

- Phân tích, đánh giá thực trạng quá trình cạnh tranh của Khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc trong thời gian 3 đến 5 năm gần đây

- Đề ra các giải pháp, đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cũng như mục tiêu lâu dài chiếm được thị phần cao đối với khách du lịch nội địa và các tỉnh lân cận Đặc biệt là xây dựng được thị trường mục tiêu đối với khách du lịch của Thủ đô Hà Nội; tiến tới phát triển thị phần rộng và bền vững hơn ra thị trường quốc tế

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Cơ chế, hành lang pháp lý liên quan tới lĩnh vực khai thác, kinh doanh và đầu tư phát triển du lịch

- Các vấn đề liên quan tới hoạt động khai thác, kinh doanh và đầu tư phát triển du lịch sinh thái

- Nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có đã khai thác và chưa được khai thác tại Khu du lịch Hồ Núi Cốc

Trang 11

3.2 Phạm vi nghiên cứu

* Về nội dung: Do điều kiện nghiên cứu có hạn, nội dung nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của khu du lịch lại là một vấn đề rất rộng, vì vậy luận văn chỉ tập trung nghiên cứu một số nội dung về phát triển bền vững Từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh cho Khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc tỉnh Thái Nguyên

* Về không gian: Luận văn được thực hiện tại huyện Đại Từ, huyện Phổ Yên,

TP Thái Nguyên và khu Du lịch vùng Hồ Núi Cốc

* Về thời gian: Thực trạng khai thác, kinh doanh và đầu tư phát triển trong những năm gần đây từ 2005 - 2010 Định hướng đến năm 2015 và tầm nhìn chiến lược 2020

4 Ý nghĩa khoa học của luận văn

Luận văn là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực, là tài liệu giúp cho các nhà quản lý của tỉnh Thái Nguyên đưa ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho chính Khu du lịch sinh thái trọng điểm của tỉnh; Khu

du lịch sinh thái trọng điểm của quốc gia trong tương lai gần

Luận văn nghiên cứu khá toàn diện và có hệ thống về thực trạng và những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy phát triển sản phẩm nhằm thu hút ngày một đông đảo du khách đến với Hồ Núi Cốc nói riêng cũng như đến với Tỉnh Thái Nguyên nói chung

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của luận văn bao gồm 3 phần: Chương 1: Cơ sở lý luận chung của để tài và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Thực trạng của khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc và đánh giá năng lực cạnh tranh của Khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc Tỉnh Thái Nguyên

Chương 3: Các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc Tỉnh Thái Nguyên

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA ĐỀ TÀI

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA ĐỀ TÀI

1.1.1 Lý luận cơ bản về du lịch

1.1.1.1 Khái niệm về khách du lịch

Khách du lịch là chủ thể của hoạt động du lịch, giữ vị trí quan trọng trong hoạt động du lịch; là chỗ dựa khách quan cho sự tồn tại và phát triển của ngành du lịch, là đối tượng chủ yếu và xuất phát điểm cơ bản cho khai thác kinh doanh và phục vụ của ngành du lịch, đồng thời là chỗ dựa chủ yếu để ngành du lịch thu được những lợi ích kinh tế, xã hội và văn hoá

Định nghĩa về khách du lịch xuất hiện sớm nhất trong cuốn Từ điển Oxford xuất bản năm 1811 như sau: “khách du lịch đến từ ngoài với mục đích tham quan,

du ngoạn” Năm 1968, Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) chấp nhận khái niệm về khách du lịch quốc tế như sau: “Khách du lịch quốc tế là người viếng thăm và lưu lại một hoặc một số nước khác ngoài nước cư trú của mình, với thời gian ít nhất 24 giờ, vì bất kỳ lý do nào, ngoài mục đích hành nghề để nhận thu nhập” Khách du lịch nội địa được phân biệt với khách du lịch quốc tế ở chỗ là nơi đến du lịch của họ cũng chính là nước họ cư trú thường xuyên

Khách du lịch được phân thành hai loại: du khách (tourist) và khách tham quan (excursionist) Du khách (tourist) là một khách du lịch đến một nơi nào đó trên

24 giờ và nghỉ qua đêm tại nơi đến; khách tham quan (excursionist) là khách du lịch đến một nơi nào đó dưới 24 giờ và không nghỉ qua đêm tại nơi đến

1.1.1.2 Khái niệm về sản phẩm du lịch

Hiện nay có rất nhiều khái niệm về sản phẩm du lịch (DL) Khái niệm được nhiều người sử dụng là khái niệm trong Từ điển Du lịch -Tiếng Đức do Nhà xuất bản kinh tế Berlin xuất bản năm 1984: “Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch

vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung

Trang 13

cấp cho du khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và

sự hài lòng”

Sản phẩm du lịch có những đặc tính chung của nó như sau:

- Khách mua sản phẩm trước khi thấy sản phẩm;

- Sản phẩm du lịch thường là một kinh nghiệm nên dễ bắt chước;

- Khoảng thời gian mua sản phẩm, thấy và sử dụng sản phẩm quá lâu;

- Các sản phẩm du lịch thường ở xa nơi khách hàng cư trú;

- Sản phẩm du lịch không thể để tồn kho;

- Trong một thời gian ngắn, lượng cung sản phẩm là cố định;

- Khách mua sản phẩm du lịch ít trung thành với công ty bán sản phẩm;

- Nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm du lịch dễ thay đổi vì sự dao động về tỷ giá tiền tệ, tình hình kinh tế bất ổn, biến động chính trị

Từ những thành phần cấu tạo của sản phẩm du lịch, người ta đã lập ra những

mô hình sản phẩm du lịch Một số mô hình sản phẩm du lịch như 4S, 3H và 6S (phụ lục 1)

1.1.1.3 Khái niệm về du lịch

Hiện nay trên thế giới cũng có nhiều khái niệm về du lịch, tuỳ thuộc vào góc

độ tiếp cận du lịch khác nhau của mỗi quan điểm Ngành Du lịch học cho rằng: “Du lịch là tổng thể của những hiện tượng và những mối quan hệ phát sinh từ sự tác động qua lại lẫn nhau giữa khách du lịch, những nhà kinh doanh du lịch, chính

Trang 14

quyền sở tại và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút và lưu giữ khách du lịch”

Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) thì: “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ, các hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ sự hình thành và lưu trú của các cá thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên với mục đích hoà bình và nơi họ đến không phải là nơi họ làm việc”

Luật Du lịch của Việt Nam được Quốc hội thông qua tháng 6/2005 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 định nghĩa: “Du lịch là một trong những hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định”

Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi người ta thường phân biệt hai hình thức du lịch đó là du lịch nội địa và du lịch quốc tế Du lịch nội địa là loại hình

du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến du lịch cùng nằm trong biên giới của một quốc gia Du lịch quốc tế là loại hình du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến du lịch nằm trên hai hoặc nhiều nước khác nhau

1.1.1.4 Khái niệm về ngành du lịch

Ngành du lịch là ngành cung cấp các loại sản phẩm và dịch vụ cho khách du lịch tiến hành hoạt động lữ hành, du ngoạn, tham quan nhằm mục đích thu phí Ngành du lịch lấy du khách làm đối tượng, lấy tài nguyên du lịch làm chỗ dựa, lấy

cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch làm điều kiện vật chất, cung cấp các loại sản phẩm và dịch vụ cho hoạt động du lịch Ngành du lịch đóng vai trò thiết lập mối liên hệ giữa

du khách với tài nguyên du lịch, đồng thời thông qua hoạt động kinh doanh của mình thúc đẩy sự phát triển kinh tế của địa phương, khu vực

Ngành du lịch chủ yếu do các nhân tố chính sau hình thành: các công ty du lịch,

hệ thống giao thông du lịch, các khách sạn du lịch, tổ chức quản lý du lịch các cấp

1.1.1.5 Khái niệm về khu du lịch

Theo Luật Du lịch Việt Nam: “Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch ưu thế nổi bật về cảnh quan thiên nhiên được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm thỏa

Trang 15

mãn đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường” (Khoản 7, Điều 4, Chương I - Luật Du lịch Việt Nam năm 2005) Thực tế nhiều khu

du lịch (KDL) có ưu thế nổi bật về cả tự nhiên và nhân văn

* Theo Luật Du lịch Việt Nam cũng như ý kiến của các nhà khoa học DL các nước cho thấy KDL có một số đặc điểm sau:

- KDL phải có tài nguyên đủ sức hấp dẫn khách DL, lấy hoạt động DL làm chức năng

- Thu nhập từ hoạt động DL phải chiếm tỷ trọng tương đối lớn và được xếp

vị trí ưu tiên số một so với các ngành khác

- Có kết cấu hạ tầng, các dịch vụ DL đáp ứng nhu cầu DL hoặc mua sắm của du khách

* KDL được phân loại theo nhiều cách:

- Theo thực trạng phát triển có KDL đã hình thành và KDL tiềm năng

- Theo yếu tố địa lí có KDL ven biển, KDL vùng núi, KDL rừng, KDL ven

hồ, KDL suối khoáng, KDL đồng bằng…

- Theo hình thức hoạt động có KDL tham quan, KDL nghỉ dưỡng, KDL săn bắn, KDL thể thao

- Theo nguồn gốc hình thành có KDL tự nhiên và KDL văn hóa

* KDL có đủ điều kiện sau đây được công nhận là KDL Quốc Gia:

- Có tài nguyên DL đặc biết hấp dẫn với ưu thế cảnh quan thiên nhiên, có khả năng thu hút lượng khách cao

- Có diện tích tối thiểu 1000 ha, trong đó diện tích cần thiết kế để xây dựng các công trình, cơ sở dịch vụ DL phù hợp với cảnh quan, môi trường của KDL; trường hợp đặc biệt mà diện tích nhỏ hơn thì cơ quan quản lý Nhà nước về DL ở Trung Ương trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định

- Có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật DL đồng bộ, có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất một triệu lượt khách DL một năm, trong đó có cơ sở lưu trú và dịch vụ DL cần thiết phù hợp với đặc điểm của KDL

Trang 16

1.1.2 Lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh

1.1.2.1 Khái niệm về cạnh tranh

Các học thuyết kinh tế thị trường, dù thuộc trường phái nào cũng đều thừa nhận rằng: cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế thị trường, nơi mà cung, cầu và giá cả hàng hoá là những nhân tố cơ bản của thị trường; cạnh tranh là đặc trưng cơ bản của cơ chế thị trường và là linh hồn sống của thị trường

Cạnh tranh là một hiện tượng kinh tế, xã hội phức tạp Do cách tiếp cận khác nhau nên có các quan niệm khác nhau về cạnh tranh Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra định nghĩa như sau: “Cạnh tranh là khái niệm của doanh nghiệp, quốc gia và vùng trong việc tạo việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế” Theo cuốn Kinh tế học của P.Samuelson thì: “Cạnh tranh

là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trường” Theo cuốn “Thị trường, Chiến lược, Cơ cấu” của Tôn Thất Nguyễn Thiêm thì: “trong kinh tế, cạnh tranh không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà chính là phải mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không lựa chọn các đối thủ cạnh tranh của mình”

Ngoài ra, còn có thể dẫn thêm nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm cạnh tranh, song qua các định nghĩa trên có thể tiếp cận về cạnh tranh như sau:

Thứ nhất, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua nhằm giành lấy phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham gia;

Thứ hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tượng cụ thể nào đó mà các bên đều muốn giành giật, một loạt các điều kiện có lợi Mục đích cuối cùng là kiếm được lợi nhuận cao;

Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có các ràng buộc chung mà các bên tham gia phải tuân thủ như: đặc điểm sản phẩm, thị trường, các điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh;

Thứ tư, trong quá trình cạnh tranh các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản phẩm, cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm, cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm, cạnh tranh nhờ dịch vụ bán hàng tốt, cạnh tranh thông qua hình thức thanh toán

Trang 17

1.1.2.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh

Khái niệm về năng lực cạnh tranh là một khái niệm phức hợp được xem xét

ở các cấp độ khác nhau như: năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ

- Khái niệm về năng lực cạnh tranh quốc gia: Theo định nghĩa của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) thì năng lực cạnh tranh của một quốc gia là khả năng đạt và duy trì được mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế vững bền tương đối và các đặc trưng kinh tế khác Theo M.Porter thì: “Khái niệm có ý nghĩa nhất về năng lực cạnh tranh ở cấp quốc gia là năng suất lao động”

- Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: về khái niệm này, phần lớn các nhà kinh tế đều gắn năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường hoặc gắn năng lực cạnh tranh với

vị trí của doanh nghiệp trên thị trường thông qua thị phần mà nó chiếm giữ Theo Fafchamps, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp đó có thể sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trường; Randall lại cho rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng giành được và duy trì thị phần trên thị trường với lợi nhuận nhất định

- Khái niệm về năng lực cạnh tranh của sản phẩm: Đối với khái niệm này, cho đến nay các tác giả, nhà nghiên cứu cũng chưa đưa ra một định nghĩa thống nhất Các khái niệm mà các tác giả đưa ra dựa trên khái niệm về sức cạnh tranh của quốc gia, của doanh nghiệp Mặc dù chưa có khái niệm thống nhất, song

có thể hiểu rằng, năng lực cạnh tranh của sản phẩm được cấu thành bởi nhiều yếu

tố, trong đó có các yếu tố chính như: khả năng sử dụng thay thế cho một sản phẩm khác biệt tương tự với loại sản phẩm đó, yếu tố về chất lượng sản phẩm, yếu tố về giá cả của sản phẩm

1.1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng và cấu thành năng lực cạnh tranh của ngành du lịch

* Môi trường vĩ mô

Môi trường vĩ mô bao gồm các yếu tố mang tính rộng lớn, chúng có tác động

và ảnh hưởng tới toàn bộ môi trường cạnh tranh và môi trường bên trong của tổ

Trang 18

chức Các tổ chức không thể kiểm soát được những biến đổi của các yếu tố trong môi trường vĩ mô, nhưng tổ chức có thể tận dụng những thuận lợi và khó khăn do

nó gây ra, biến nó thành cơ hội kinh doanh của mình Các yếu tố quan trọng trong môi trường vĩ mô có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp trong ngành du lịch bao gồm: các yếu tố kinh tế, yếu tố chính trị và luật pháp, yếu tố xã hội, yếu tố tự nhiên và yếu tố công nghệ

- Yếu tố kinh tế: các yếu tố kinh tế có vai trò quan trọng và quyết định đến

hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Tốc độ tăng trưởng kinh tế, cơ cấu nền kinh tế, tỷ giá hối đoái là những yếu tố kinh tế thường xuyên tác động đến hoạt động của mọi tổ chức nói chung và ngành du lịch nói riêng Đối với ngành du lịch nếu các chỉ số của nền kinh tế tăng trưởng tốt sẽ làm cho thu nhập của dân cư gia tăng, đời sống được cải thiện, nhu cầu du lịch vì thế cũng sẽ gia tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành

- Yếu tố chính trị và luật pháp: Một thể chế chính trị, luật pháp rõ ràng,

rộng mở và ổn định sẽ là cơ sở đảm bảo cho sự thuận lợi, bình đẳng cho các tổ chức trong nền kinh tế Đặc biệt, Ngành du lịch là ngành chịu sự tác động trực tiếp toàn diện của môi trường chính trị, luật pháp và do đó nó rất nhạy cảm với những biến động của môi trường này Ngành chịu sự tác động của đường lối phát triển của quốc gia thể hiện ở hệ thống luật và các văn bản dưới luật, các công cụ chính sách của nhà nước và tổ chức bộ máy cơ chế điều hành từ trung ương đến địa phương Chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá các mối quan hệ quốc tế, coi trọng các quốc gia là bạn và là đối tác tin cậy của nhau là cơ hội thuận lợi cho ngành du lịch phát triển trên các phương diện khai thác thị trường, tránh được các rủi ro trong kinh doanh do bạo loạn chính trị, đảm bảo được sự an toàn và an ninh cho khách du lịch quốc tế

- Yếu tố văn hoá - xã hội: Đây là nhóm yếu tố quan trọng tạo lập nên nhân cách và lối sống của người tiêu dùng, đồng thời cũng là cơ sở để các ngành kinh doanh trong đó có ngành du lịch lựa chọn và điều chỉnh các quyết định kinh doanh Trong ngành du lịch, trình độ văn hoá và dân trí cao hay thấp quyết định đến thái độ

cư xử đối với du khách trong giao tiếp, ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ du khách, tạo nên sự hấp dẫn thu hút du khách

Trang 19

* Những yếu tố tự nhiên: môi trường tự nhiên không chỉ là yếu tố tạo cầu,

tạo cung trong du lịch mà còn mang tính quyết định trong việc tạo ra sản phẩm du lịch và việc tổ chức thực hiện chương trình du lịch của các doanh nghiệp trong ngành du lịch; tính hữu ích của các yếu tố trong môi trường tự nhiên phục vụ cho việc sản xuất và tiêu dùng du lịch được gọi là tài nguyên du lịch tự nhiên

- Yếu tố công nghệ và kỹ thuật: sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin và quá trình đô thị hoá tác động sâu sắc đến toàn bộ các hoạt động kinh tế và xã hội, trong đó có du lịch Một mặt nó tạo điều kiện cần thiết để hình thành các nhu cầu du lịch, mặt khác các yếu tố này làm cho sự cân bằng nhịp sống bị phá vỡ, buộc con người phải nghỉ ngơi để khôi phục lại, từ đó nảy sinh nhu cầu du lịch dưới nhiều dạng khác nhau Ngoài ra, việc áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật để cải tiến công nghệ trong sản xuất du lịch sẽ góp phần nâng cao năng suất, giảm chi phí sản xuất và do vậy làm tăng khả năng cạnh tranh của ngành du lịch

* Môi trường vi môi

Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố trong ngành và là các yếu tố ngoại cảnh đối với doanh nghiệp, quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành sản xuất kinh doanh đó Đối với hoạt động kinh doanh của ngành du lịch thì hai yếu

tố cơ bản ảnh hưởng chủ yếu đến sự cạnh tranh trong ngành đó là: đối thủ cạnh tranh và khách hàng Sự phân tích, đánh giá chính xác các yếu tố này giúp ngành du lịch nhận ra các mặt mạnh và mặt yếu của mình liên quan đến các cơ hội và nguy cơ

mà ngành đối diện

- Đối thủ cạnh tranh: sự hiểu biết về các đối thủ cạnh tranh có một ý nghĩa quan trọng đối với các tổ chức do nhiều lý do Các đối thủ cạnh tranh với nhau quyết định tính chất và mức độ tranh đua, hoặc thủ thuật giành lợi thế trong ngành phụ thuộc vào các đối thủ cạnh tranh Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào mối tương tác giữa các yếu tố như số lượng doanh nghiệp tham gia cạnh tranh, mức độ tăng trưởng của ngành, cơ cấu chi phí cố định và mức độ đa dạng hoá sản phẩm Để cạnh tranh trên thị trường du lịch, ngành du lịch của một địa phương cần xác định được

Trang 20

thị trường mục tiêu và phát huy được lợi thế cạnh tranh của ngành để áp dụng đúng các chiến lược cho phù hợp với lợi thế cạnh tranh và thị trường mục tiêu

- Khách hàng (người mua): sự tín nhiệm của khách hàng có thể là tài sản có giá trị lớn lao của doanh nghiệp Sự tín nhiệm đó đạt được khi tổ chức thoả mãn các nhu cầu và thị hiếu của khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh Các doanh nghiệp cần lập bảng phân loại khách hàng hiện tại và tương lai Các thông tin có được từ bảng phân loại là cơ sở định hướng quan trọng cho việc hoạch định chiến lược nhất

là các chiến lược liên quan trực tiếp đến marketing

* Môi trường nội bộ

Các yếu tố của môi trường nội bộ cấu thành năng lực cạnh tranh của ngành

du lịch bao gồm các lĩnh vực chủ yếu như: nguồn nhân lực, nguồn lực vật chất, hoạt động marketing

- Nguồn nhân lực: phân tích nguồn nhân lực thường xuyên là cơ sở giúp các doanh nghiệp đánh giá kịp thời các điểm mạnh và điểm yếu của các thành viên trong tổ chức so với yêu cầu về tiêu chuẩn nhân sự trong từng khâu công việc và so với nguồn nhân lực của đối thủ cạnh tranh nhằm có kế hoạch bố trí, sử dụng nguồn nhân lực hiện có Đánh giá khách quan nguồn nhân lực giúp cho tổ chức chủ động thực hiện việc đào tạo và tái đào tạo cho các thành viên của tổ chức nhằm đảm bảo thực hiện chiến lược thành công lâu dài và thích nghi với những yêu cầu về nâng cao liên tục chất lượng con người trong môi trường cạnh tranh

- Nguồn lực vật chất: phân tích và đánh giá đúng mức các nguồn lực vật chất là cơ sở quan trọng để tổ chức hiểu rõ các nguồn lực vật chất tiềm tàng, những hạn chế để có các quyết định quản trị thích nghi với thực tế Tổ chức cần đánh giá

và xác định các điểm mạnh và điểm yếu về từng nguồn lực vật chất so với những đối thủ cạnh tranh trong ngành và trên thị trường theo khu vực địa lý

- Hoạt động marketing: nghiên cứu môi trường marketing giúp tổ chức nhận diện các cơ hội thị trường, phân khúc thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu và định vị thị trường; đồng thời phân tích khách hàng và các yếu tố liên quan để hình thành các chiến lược marketing định hướng khách hàng và marketing cạnh tranh

Trang 21

1.1.3 Khái quát tình hình hoạt động du lịch trên thế giới, khu vực Đông Nam Á và Việt Nam

1.1.3.1 Khái quát tình hình du lịch thế giới

Ngày nay trên thế giới, du lịch đang phát triển với một tốc độ nhanh, trở thành hiện tượng phổ biến trong đời sống kinh tế xã hội của các quốc gia và ngày càng khẳng định vị trí vai trò của nó trong nền kinh tế thế giới Do hiệu quả nhiều mặt của hoạt động du lịch, nhiều nước trên thế giới đã tập trung đẩy mạnh phát triển ngành du lịch, coi du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc gia Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO), nếu như năm 1990 số lượng khách du lịch quốc tế chỉ đạt 458 triệu lượt người và doanh thu từ du lịch là 268 tỷ USD thì đến năm 2000, số lượng du khách quốc tế trên toàn thế giới là 698 triệu lượt người, doanh thu đạt 476 tỷ USD Năm 2005, ngành du lịch thế giới đón 763 triệu lượt khách quốc tế, doanh thu đạt 622 tỷ USD, tương đương 9% tổng sản phẩm quốc dân (GDP) toàn cầu; thu hút 240 triệu người lao động trực tiếp, tức là cứ 9 người lao động thì có 1 người làm việc trong lĩnh vực du lịch Năm 2007, ngành du lịch thế giới đón 913 triệu lượt khách, doanh thu đạt 1.000 tỷ USD Tuy nhiên, đà phát triển bắt đầu chậm lại từ năm 2008 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảnh kinh tế Mức tăng trưởng năm 2008 chỉ đạt 1.9%, tăng 16 triệu du khách, nâng tổng số du khách của năm lên 922 triệu lượt, doanh thu du lịch trên thế giới năm 2008 đạt

1100 tỷ USD

Năm 2010 được thúc đẩy bởi sự phục hồi của các nền kinh tế thế giới, ngành

du lịch cũng đã vượt qua được những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu vào cuối năm 2008 và 2009 Lượng khách du lịch trên toàn thế giới tăng 6.7% so với năm 2009, với sự tăng trưởng được báo cáo diễn ra tại tất cả các vùng Số lượng người đi du lịch trên toàn cầu đạt đến con số 935 triệu lượt khách, tăng 58 triệu so với năm 2009 và tăng 22 triệu so với mức đỉnh của thời

kỳ trước khủng hoảng năm 2008 (913 triệu lượt) Doanh thu từ du lịch quốc tế trong năm 2010 có tăng nhưng vẫn phần nào đó tụt hậu hơn so với số lượng khách chỉ đạt 1.200 tỷ USD, đây là một xu thế trong giai đoạn hồi phục Trong số những thị

Trang 22

trường du lịch đứng đầu về chi tiêu tại nước ngoài, những nền kinh tế mới nổi tiếp tục là các động lực thúc đẩy tăng trưởng: Trung Quốc (+17%), Nga (+26%), Ả Rập

Xê Út (+28%) và Brazil (+52%) Trong số các thị trường nguồn truyền thống như Australia (+9%), Canada (+8%), Nhật (7%) và Pháp (+4%) đã có sự phục hồi, trong

đó một số thị trường tăng trưởng khiêm tốn hơn với mức 2% là Mỹ, Đức và Italy Ngược lại, chi tiêu ở nước ngoài của vương quốc Anh vẫn giảm 4% trong năm 2010 Tiếp theo một năm 2010 kinh tế thế giới phục hồi, năm 2011 đã duy trì được đà tăng trưởng nhưng với một tốc độ chậm hơn, lượng khách du lịch quốc tế đã tăng từ

4 đến 5% trong năm 2011, một tỷ lệ cao hơn tốc độ tăng trưởng trung bình trong giai đoạn dài

Biểu 1.1: Sự tăng trưởng của du lịch quốc tế giai đoạn 1990-2010

Tốc độ tăng doanh thu binh quân

(%/năm)

Nguồn: Viện nghiên cứu phát triển du lịch (www.itdr.org.vn)

1.1.3.2 Khái quát tình hình du lịch của các nước trong khu vực Đông Nam Á (ASEAN)

Trong lĩnh vực du lịch, ASEAN đang được đánh giá là một trong những khu vực năng động nhất trên thế giới Phần lớn các nước trong khu vực đều có chiến lược tập trung đẩy mạnh và phát triển du lịch, xác định du lịch là ngành kinh tế quan trọng của quốc gia Các nước Singapore, Thailand, Malaysia và Indonesia đã trở thành những điểm du lịch hấp dẫn, thu hút du khách trên toàn thế giới Năm

1990 số khách du lịch quốc tế đến các nước ASEAN đạt 21,5 triệu lượt người, chiếm 4,7% tổng số khách du lịch quốc tế toàn thế giới Đến năm 1995, các nước

Trang 23

trong khu vực đã đón được 29,2 triệu lượt khách quốc tế, đến năm 2000 con số này

là 37 triệu lượt người chiếm 4,8% tổng số khách du lịch quốc tế toàn thế giới Năm

2009 các nước ASEAN đón kỷ lục hơn 65 triệu lượt khách quốc tế, trong đó điểm đến số 1 là Malaysia, tiếp theo đến Thái Lan, Singapore, Indonesia, Việt Nam, Philippines, Campuchia, Myanmar và Brunei

Theo của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO), năm 2010 lượng du khách quốc

tế đến khu vực ASEAN là 72 triệu lượt người, mức tăng trưởng du khách bình quân giai đoạn 1995-2010 sẽ là 6%/năm so với tốc độ tăng trưởng 1-2%/năm trong thời

kỳ 1998-2000 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực

1.1.3.3 Khái quát tình hình du lịch Việt Nam

VN có đủ các yếu tố để phát triển ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Với tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú, đất nước ta đang là điểm đến nổi tiếng của thế giới Năm 2000, Việt Nam đã đón 2,1 triệu lượt khách quốc tế, đến năm 2005 đón 3,4 triệu lượt, năm 2008 con số này tăng lên 4,218 triệu lượt khách quốc tế, con số này năm 2009 là 3,8 triệu lượt, giảm 11% so với năm trước, năm

2010 Việt Nam đã đón 5,0 triệu lượt khách, số lượt khách du lịch nội địa là 28 triệu lượt năm 2010, tăng 12% so với năm 2009 Doanh thu ngành du lịch Việt Nam năm

2009 đạt từ 68.000 đến 70.000 tỷ đồng

Theo dự báo của Tổng cục du lịch Việt Nam, năm 2015 ngành du lịch Việt Nam sẽ thu hút 7-8 triệu lượt khách quốc tế, 32-35 triệu khách nội địa, con số tương ứng năm 2020 là 11-12 triệu khách quốc tế; 45-48 triệu khách nội địa Doanh thu từ

du lịch sẽ đạt 18-19 tỷ USD năm 2020

Du lịch ngày càng có vai trò quan trọng tại Việt Nam Đối với khách du lịch ba-lô, những người du lịch khám phá văn hóa và thiên nhiên, bãi biển và các cựu chiến binh Mỹ và Pháp, Việt Nam đang trở thành một địa điểm du lịch mới ở Đông Nam Á Các dự án đầu tư vào bất động sản du lịch dọc theo bờ biển hơn 3.000 km

và tại và các thành phố lớn đang gia tăng nhanh chóng Dịch vụ du lịch ngày càng

đa dạng Công ty lữ hành địa phương và quốc tế cung cấp các tour du lịch tham quan các bản làng dân tộc thiểu số, đi bộ và tour du lịch xe đạp, đi thuyền kayak và

Trang 24

du lịch ra nước ngoài cho du khách Việt Nam, đặc biệt là gắn kết với các quốc gia láng giềng Campuchia, Lào và Thái Lan Ngoài ra, nhờ vào việc nới lỏng các quy định về đi lại, xuất cảnh, khách du lịch nước ngoài đã có thể đi lại tự do trong nước

từ năm 1997

Nền kinh tế Việt Nam đang chuyển đổi từ nông nghiệp sang nền kinh tế dịch

vụ Hơn một phần ba của tổng sản phẩm trong nước được tạo ra bởi các dịch vụ, trong đó bao gồm khách sạn và phục vụ công nghiệp và giao thông vận tải Nhà sản xuất và xây dựng (28 %) nông nghiệp, và thuỷ sản (20 %) và khai thác mỏ (10 %) Trong khi đó, du lịch đóng góp 4,5% trong tổng sản phẩm quốc nội (thời điểm 2007) Ngày càng có nhiều dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào ngành du lịch Sau các ngành công nghiệp nặng và phát triển đô thị, đầu tư nước ngoài hầu hết đã được tập trung vào du lịch, đặc biệt là trong các dự án khách sạn

1.1.3.4 Khái quát tình hình du lịch tỉnh Thái nguyên

Từ năm 2005 đến nay, thực hiện Chương trình hành động quốc gia về du lịch, du lịch Thái Nguyên đã có sự chuyển biến tích cực về đầu tư xây dựng cơ sở

hạ tầng, cơ sở dịch vụ, nâng cao chất lượng sản phẩm và đào tạo nguồn nhân lực du lịch Công tác bảo tồn, tôn tạo di tích lịch sử cách mạng ATK thuộc chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa được triển khai đúng tiến độ

Số cơ sở lưu trú, nhà hàng thuộc mọi thành phần kinh tế trong tỉnh tăng bình quân 15%/năm, hiện có 135 cơ sở, đáp ứng nhu cầu cho các đối tượng từ bình dân đến cao cấp với công suất phục vụ trên 3.000 lượt khách/ngày-đêm Các chỉ tiêu kinh tế cơ bản trong hoạt động kinh doanh du lịch có tốc độ tăng trưởng liên tục năm sau cao hơn năm trước

Tính đến hết tháng 9/2011 tổng số lượt khách đến Thái Nguyên đạt 1.149.100 lượt, trong đó khách quốc tế đạt 18.360 lượt, đạt 109% so với cùng kỳ, khách lưu trú đạt 481.800 lượt, tổng doanh thu toàn xã hội về du lịch đạt 768 tỷ đồng, công suất sử dụng buồng phòng đạt 67%

Bên cạnh đó, tỉnh Thái Nguyên còn quan tâm đến công tác quy hoạch phát triển du lịch, trong đó có việc phê duyệt và công bố quy hoạch vùng du lịch Hồ Núi Cốc vào tháng 6 vừa qua

Trang 25

Tuy nhiên, du lịch Thái Nguyên vẫn còn có những khó khăn, hạn chế như: hệ thống đường giao thông quốc lộ đến Thái Nguyên đã xuống cấp; nguồn vốn đối ứng của tỉnh đối với các dự án hạ tầng du lịch hạn chế, dẫn đến một số dự án chậm tiến độ; Thái Nguyên còn thiếu những dịch vụ du lịch cao cấp, lượng khách quốc tế đến Thái Nguyên còn thấp

1.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ HỆ THỐNG CÁC CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU 1.2.1 Phương pháp nghiên cứu

1.2.1.1 Phương pháp luận

Phương pháp luận được sử dụng trong nghiên cứu đề tài là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin Phân tích tổng hợp kết hợp lịch sử logic, liên hệ so sánh kết hợp với điều tra nghiên cứu thực tiễn, để có thể rút ra kết luận phản ánh đúng thực trạng

1.2.1.2 Phương pháp thu thập thông tin

* Thu thập tài liệu và thông tin thứ cấp Từ các thông tin công bố chính thức

của các cơ quan nhà nước Các nghiên cứu của cá nhân, tổ chức về phát triển kinh

tế, về tình hình đầu tư phát triển, khai thác và kinh doanh loại hình du lịch sinh thái Những thông tin về tình hình cơ bản của tỉnh, hoạt động của hệ thống văn hoá

và du lịch do các cơ quan chức năng của huyện, tỉnh cung cấp

* Thu thập tài liệu và thông tin sơ cấp

Các số liệu sơ cấp phục vụ cho nghiên cứu đề tài được thu thập dựa trên phương pháp điều tra chọn mẫu, thu thập số liệu của thống kê và phương pháp điều tra xã hội học Mục tiêu của điều tra nhằm thu thập thông tin sau và những thông tin còn thiếu trong hệ thống thông tin để phục vụ cho nghiên cứu và phân tích

Việc thu thập tài liệu chủ yếu dựa trên cơ sở quản lý, kiểm tra giám sát hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch, điều tra tài nguyên du lịch do sở Văn hóa Thể thao

và Du lịch Thái Nguyên; Ban Quản lý Khu du lịch vùng Hồ Núi Cốc; Ủy ban nhân dân huyện Đại Từ, Phổ Yên, Thành phố Thái Nguyên cung cấp

Trang 26

1.2.1.3 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu điều tra thu thập được tiến hành chọn lọc, hệ thống hoá để tính toán các chỉ tiêu phù hợp cho phân tích đề tài Sử dụng phương pháp thống kê để hệ thống và tổng hợp tài liệu Số liệu sẽ được cập nhật và xử lý bằng chương trình phần mềm hữu ích

1.2.1.4 Phương pháp phân tích số liệu

* Phương pháp phân tích thống kê: Phương pháp này dùng để phân tích các

số liệu cụ thể và thường kết hợp với so sánh để làm rõ các vấn đề

- Tình hình biến động của các hiện tượng qua các giai đoạn thời gian

- Mức độ hiện tượng

- Mối quan hệ giữa các hiện tượng

Được thể hiện qua các chỉ tiêu về số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân, tốc độ phát triển từ đó đưa ra các kết luận có căn cứ khoa học

* Phương pháp chuyên khảo: Phương pháp này dùng để phân tích đánh giá tại một số đơn vị kinh doanh trong lĩnh vực du lịch

* Phương pháp chuyên gia: Dựa trên sự đánh giá của những người đại diện trong lĩnh vực nghiên cứu như là cán bộ các đơn vị trong lĩnh vực kinh doanh du lịch, những người am hiểu về ngành du lịch, về thị trường du lịch từ đó giúp chúng ta có những nhận xét đánh giá chung về vấn đề nghiên cứu, giúp cho việc nghiên cứu được chính xác và thực tế hơn

* Phương pháp cân đối: Đây là phương pháp quan trọng, dùng để cân đối giữa cung và cầu về du lịch Phương pháp này làm cho con số biểu hiện được ý nghĩa đích thực và làm nổi bật thực trạng tình hình

* Phương pháp dự tính dự báo: Từ việc phân tích thực trạng của lĩnh vực kinh doanh du lịch trong giai đoạn hiện nay kết hợp với việc đánh giá thời gian về trước, cũng như xem xét đến thực trạng và xu hướng của lĩnh vực du lịch trên đại bàn Rút ra các kết luận làm cơ sở có căn cứ, Tác giả còn dựa vào các căn cứ đó để đưa ra kế hoạch trong tương lai, cũng như các giải pháp để đạt được kế hoạch đó

1.2.2 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

Đề tài sử dụng các hệ thống chỉ tiêu sau trong nghiên cứu:

Trang 27

1.2.2.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh quá trình phát triển, khai thác, kinh doanh loại hình du lịch

- Số đơn vị khai thác, kinh doanh

- Lượng vốn kinh doanh

- Giá thành, doanh thu, lợi nhuận

1.2.2.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả của quá trình cạnh tranh

* Thị phần: Là tỷ lệ thị trường mà sản phẩm chiếm lĩnh được so với các đối thủ cạnh tranh Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất đánh giá kết quả khả năng cạnh tranh của sản phẩm Thị phần càng lớn càng thể hiện rõ khả năng cạnh tranh của sản phẩm càng mạnh Để tồn tại và có sức cạnh tranh sản phẩm phải chiếm lĩnh thị phần bất kể nhiều hay ít, điều này phản ánh được quy mô phát triển của cả vùng Qua đó chúng ta đánh giá được khả năng cạnh tranh của sản phẩm cũng như điểm mạnh điểm yếu tương đối của sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh của địa phương khác trong toàn khu vực

Thị phần được thể thiện qua hai khái niệm:

- Thị phần tương đối: Là tỷ trọng phần doanh thu của sản phẩm so với phần doanh thu của đối thủ cạnh tranh trên thị trường

- Thị phần tuyệt đối: Là tỷ trọng phần doanh thu của sản phẩm so với doanh thu của toàn ngành

Hai chỉ tiêu này có mối quan hệ hữu cơ với nhau dù không phải lúc nào cũng

có quan hệ thuận chiều

Chỉ tiêu này dễ tính toán và người quản lý dễ bao quát sản phẩm xem khả năng cạnh tranh đạt được ở vị trí nào trong thị trường

* Tỷ suất lợi nhuận: Chỉ tiêu này, thể hiện tiềm năng cạnh tranh trên thị trường của sản phẩm được đo lường qua chỉ số

- Tỷ suất lợi nhuận / doanh thu

- Tổng doanh thu / năm

- Tổng lợi nhuận / năm

- Chênh lệch (giá bán - giá thành) / giá bán

Trang 28

Nếu chỉ tiêu này thấp thì chứng tỏ khả năng cạnh tranh trên thị trường rất gay gắt Ngược lại, nếu chỉ tiêu này cao thì có nghĩa là sản phẩm kinh doanh đang thuận lợi

- Tỷ lệ chi phí marketing / tổng doanh thu

Chỉ tiêu này hiện nay được nhiều đơn vị sử dụng để đánh giá hoạt động của mình Nếu chỉ tiêu này cao có nghĩa là đơn vị đã đầu tư quá nhiều vào chi phí marketing mà không có hiệu quả Ngược lại, chỉ tiêu này thấp chứng tỏ là đơn vị sử dụng hiệu quả chi phí cho hoạt động marketing

Trang 29

Chương 2 THỰC TRẠNG KHU DU LỊCH SINH THÁI HỒ NÚI CỐC

TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA KHU DU LỊCH SINH THÁI HỒ NÚI CỐC TỈNH THÁI NGUYÊN

2.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN SỐ VÀ XÃ HỘI

2.1.1 Vị trí địa lý

Khu du lịch vùng Hồ Núi Cốc cách phía Tây Nam trung tâm thành phố Thái Nguyên 15km, cách phía Bắc Vườn quốc gia Tam Đảo 10km và cách Thủ đô Hà Nội 100km Với diện tích 18.940,77 ha (189,4km2), bao gồm 03 xã thuộc Thành phố Thái Nguyên (Phúc Xuân, Phúc Trìu, Tân Cương), 05 xã và 01 thị trấn thuộc huyện Đại Từ (Tân Thái, Bình Thuận, Lục Ba, Vạn Thọ, Quân Chu và Thị trấn Quân Chu), và 01 xã thuộc huyện Phổ Yên (xã Phúc Tân)

Giới hạn Khu du lịch Vùng Hồ Núi Cốc cụ thể như sau:

+ Phía Đông: giáp các xã Thịnh Đức, Quyết Thắng, Phúc Hà (Thành phố Thái Nguyên) và xã Bình Sơn (thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên);

+ Phía Tây: giáp dãy núi Tam Đảo (tỉnh Vĩnh Phúc) và các xã Cát Nê, Ký Phú, Văn Yên (huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên);

+ Phía Nam: giáp dãy núi Tam Đảo (tỉnh Vĩnh Phúc) và xã Phúc Thuận (huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên);

+ Phía Bắc: giáp các xã An Khánh, Cù Vân, Hà Thượng, Hùng Sơn (huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên)

Hồ Núi Cốc có diện tích khoảng 2.500ha (25km2) nằm ở giữa Vùng du lịch, trên địa bàn các xã Phúc Xuân, Phúc Trìu, Tân Thái, Bình Thuận, Lục Ba, Vạn Thọ

và Phúc Tân

Trang 30

Biểu 2.1: Diện tích đất tự nhiên phân theo đơn vị hành chính vùng HNC

(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên)

2.1.2 Điều kiện tự nhiên

2.1.2.1 Khí hậu

Khu du lịch vùng Hồ Núi Cốc có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa; mỗi năm

có bốn mùa Xuân - Hạ - Thu - Đông và mang tính chất khí hậu chung của khí hậu miền Bắc Việt Nam Đặc trưng cơ bản của nền khí hậu này là có mùa đông lạnh, khô hanh, ít mưa và mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều

Lượng mưa

Thuộc vùng mưa nhiều của tỉnh Thái Nguyên do ảnh hưởng của dãy Tam Đảo Một năm bình quân có 198 ngày mưa và chia làm 2 mùa khô và mùa mưa Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10

và chiếm 80-85% tổng lượng mưa hàng năm Mưa nhiều nhất vào tháng 8 và ít nhất vào tháng 1 hàng năm

Trang 31

Lượng mưa trung bình hàng năm là H = 2.007mm Lượng mưa cao nhất Hmax = 3.008mm và thấp nhất Hmin = 977mm

Một số trận mưa lịch sử gây ra lũ đặc biệt lớn trên sông Cầu và gây ra ngập úng trong thành phố Thái Nguyên:

- Ngày 9-10/8/1968: Lượng mưa 118,7mm

- Từ 1-7giờ ngày 26/7/1973: Lượng mưa 312mm

- Ngày 25/7/1959: Lượng mưa 544mm

Tình hình gió, bão

Khu vực này ít ảnh hưởng trực tiếp của bão vì có vị trí xa biển Theo số liệu thống kê, chỉ có một cơn bão ngày 02/7/1964 đổ bộ qua tỉnh Bắc Thái (nay là tỉnh Thái Nguyên) với lực gió cấp 9, đôi khi gió giật cấp 10

Trong năm, tổng số giờ nắng khoảng từ 1.300-1.700 giờ và tổng số ngày có mây khoảng 200 ngày

Độ ẩm tuyệt đối thấp nhất là 2-2,5milibar, cao nhất là 30-32,5 milibar và độ

ẩm tương đối trung bình khá thấp vào khoảng 80%

* Tóm lại, khí hậu vùng Hồ Núi Cốc có nhiệt độ gió mùa, nóng ẩm với lượng mưa khá phong phú, thuận lợi cho sự phát triển du lịch sinh thái Khí hậu chia theo mùa rõ rệt tạo thuận lợi cho việc đầu tư xây dựng

2.1.2.2 Thủy văn, sông hồ

Vùng Hồ Núi Cốc chịu ảnh hưởng chế độ thuỷ văn của sông Công Sông Công bắt nguồn từ núi Ba Lan thuộc huyện Định Hoá, dài khoảng 96km với diện tích lưu vực khoảng 951km2

và độ dốc bình quân khoảng 1,03% Lưu lượng bình quân mùa lũ khoảng 3,32m3/s và mùa cạn là khoảng 1,03m3/s Đoạn qua vùng Hồ Núi Cốc dài 8,86km

Trang 32

Sông Công chảy qua vùng Hồ Núi Cốc tại địa phận thành phố Thái Nguyên, huyện Đại Từ và huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên Đây là hồ quan trọng nhất với chức năng điều tiết nước phục vụ cho nông nghiệp và cho sinh hoạt của thành phố Thái Nguyên và vùng hạ lưu, cung cấp nước bổ xung cho sông Cầu, đồng thời là khu du lịch sinh thái của tỉnh Thái Nguyên Hồ Núi Cốc có diện tích trung bình khoảng 2.500ha; lưu vực Hồ Núi Cốc có độ dốc lớn hơn 41,3%, độ dốc lòng sông 1,62%, độ cao bình quân lưu vực là 312m; dung tích trung bình khoảng 160.000.000m3, dung tích lũ khoảng 200.000.000m3 Đập điều tiết chính có cao độ đỉnh đập là +50,0m và đáy đập là +24,0m

2.1.3 Dân số và xã hội

2.1.3.1 Dân số, lao động và nghề nghiệp, di dân

Dân số: Năm 2009, tổng dân số là 41,87 nghìn người, mật độ trung bình là

235 người/km2

Xã Bình Thuận tập trung đông dân cư nhất trên 5,74 nghìn người, mật độ trung bình cao nhất 597 người/km2 Xã Quân Chu và Phúc Tân có mật độ dân số thấp nhất 91 người/km2 Hai xã này nằm ở phía Nam của hồ, chủ yếu là đất lâm nghiệp có địa hình dốc

Giai đoạn trước 2008, các xã Tân Thái, Bình Thuận, Lục Ba có tốc độ tăng trưởng dân số cao (>1,2%/năm), các xã còn lại tăng trưởng thấp (<1%/năm) Tốc độ tăng trưởng dân số toàn vùng chỉ đạt <0,9%/năm, thấp hơn tốc độ tăng trưởng dân

số tự nhiên của các tỉnh miền núi và trung du là 1,1-1,2%/năm Điều này cho thấy

có sự di cư ra khỏi vùng nghiên cứu, chủ yếu là lao động đi làm việc ở các khu vực phát triển hơn

Tuy nhiên, đến năm 2009, tốc độ tăng trưởng dân số tự nhiên của toàn vùng nghiên cứu đạt 1,18%/năm, trong đó các xã Phúc Tân, Phúc Trìu, Tân Thái, Bình Thuận, Lục Ba có tốc độ tăng trưởng dân số cao (1,1-2,1%/năm) Điều này phản ánh đúng mức độ phát triển kinh tế - xã hội đã tốt hơn tại khu vực vùng Hồ

Trang 33

Biểu 2.2: Hiện trạng dân số và tăng trưởng dân số vùng Hồ Núi Cốc

TT

Đơn vị hành chính

Tổng dân số (nghìn người)

Tốc độ TTDS (%/năm)

(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên và các xã trong vùng Hồ cung cấp)

Lao động và nghề nghiệp: Lao động chiếm trên 57% dân số trong vùng, tập

trung chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp (gần 80% tổng số lao động) Tỷ lệ lao

động thời vụ và thất nghiệp cao tại khu vực này Tốc độ chuyển đổi cơ cấu lao động

của vùng Hồ Núi Cốc nói riêng và toàn tỉnh Thái Nguyên nói chung diễn ra chậm

Trang 34

Biểu 2.3: Hiện trạng lao động vùng Hồ Núi Cốc

hành chính

Tổng số lao động (nghìn người)

Tỷ lệ lao động trong tổng dân số (%)

(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên và các xã trong vùng Hồ cung cấp)

Nghề nghiệp chủ yếu của lao động trong vùng nghiên cứu là nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và thương mại, dịch vụ phục vụ dân sinh và du lịch Các nghề khác, đặc biệt là TTCN không có điều kiện phát triển Số lao động trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chỉ chiếm chưa tới 5% tổng số lao động Các ngành nghề phục vụ du lịch cũng chỉ phát triển mạnh vào mùa du lịch (từ tháng 4 đến tháng 9) Tuy nhiên, tỷ lệ lao động dịch vụ chỉ đạt dưới 16% Ngoài mùa du lịch, lao động dịch vụ sang làm việc chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp

Biểu 2.4: Hiện trạng cơ cấu lao động vùng Hồ Núi Cốc

%/

năm

Nghìn người

%/ năm

(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên và các xã trong vùng Hồ cung cấp)

Trang 35

Di dân: Di dân là hiện tượng phổ biến ở các vùng nông thôn chậm phát triển

(chủ yếu dựa trên phát triển nông nghiệp) hiện nay ở Việt Nam Tuy nhiên, tốc độ

di dân tại vùng nghiên cứu mới ở mức thấp, khoảng 0,1-0,2%/năm Điều này cho thấy du lịch có thể phát huy được tiềm năng tại đây nếu có những giải pháp và chính sách thu hút hấp dẫn

2.1.3.2 Dân tộc

Có 9 dân tộc sinh sống trên địa bàn vùng Hồ Núi Cốc, bao gồm Tày, Nùng, Dao, H'mông, Sán Chay, Sán Dìu, Hoa và Kinh Trong vùng nghiên cứu, người Kinh là dân tộc chiếm đa số (86,95%) Các dân tộc còn lại thì nhiều nhất là Nùng (3,69%), tiếp theo là Sán Dìu (3,24%), Dao (3,15%) và Tày (2,28%)

Biểu 2.5: Hiện trạng dân số các dân tộc vùng Hồ Núi Cốc

Trang 36

2.1.3.3 Các chỉ tiêu chủ yếu

- Tốc độ tăng trưởng dân số trung bình: ~1,18%/năm;

- Tốc độ tăng trưởng lao động trung bình: ~1,2%/năm;

- Tốc độ giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp trung bình: Không giảm, có xu hướng gia tăng;

- Tốc độ tăng tỷ trọng lao động công nghiệp trung bình: Không tăng, có xu hướng giảm dần;

- Tốc độ tăng tỷ trọng lao động dịch vụ trung bình: Không tăng, có xu hướng giảm dần

2.2 THỰC TRẠNG CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA KHU DU LỊCH SINH THÁI HỒ NÚI CỐC TỈNH THÁI NGUYÊN

77, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp là 117 người, số còn lại 331 là lao động có trình độ từ sơ cấp trở xuống Ngoài ra lực lượng lao động gián tiếp phục vụ trong lĩnh vực du lịch theo dạng lao động thời vụ thường xuyên được sử dụng là 400 người Từ năm 2005 đến nay Sở Thương mại Du lịch và Sở Văn hóa, Thể thao và

Du lịch đã phối hợp với các Trường đại học, cao đẳng và đơn vị chức năng tổ chức đào tạo cho đại đa số các cán bộ quản lý và nhân viên phục vụ trực tiếp và gián tiếp trong lĩnh vực du lịch tại vùng Hồ Núi Cốc Nhìn chung, qua điều tra hiện trạng lao động và nghiên cứu thực tế về đào tạo lại lao động trong khu du lịch cho thấy: mặc

dù công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch trong khu du lịch vùng Hồ Núi Cốc những năm qua đã được quan tâm, nhưng so với nhu cầu phát triển du lịch hiện nay thì lực lượng lao động trong khu du lịch còn rất thiếu và yếu cả về số lượng cũng như chất lượng; Khu du lịch vùng Hồ Núi Cốc vẫn còn thiếu cán bộ quản lý giỏi và

Trang 37

nhân viên phục vụ có kỹ năng chuyên môn cao được đào tạo trong và ngoài nước, đặc biệt là bộ phận quản lý cấp cao, bộ phận tổ chức quảng bá du lịch có chiến lược, qui mô và đội ngũ hướng dẫn viên du lịch có bằng cấp, có ngoại ngữ giỏi

Hệ thống quản lý Nhà nước về lĩnh vực du lịch tỉnh Thái Nguyên

Trong những năm qua nhằm đạt được mục tiêu đưa Thái Nguyên trở thành một trung tâm du lịch lớn, nổi tiếng của vùng Việt Bắc, tỉnh đã tăng cường và hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về du lịch Chính quyền tỉnh Thái Nguyên đã thông qua các chương trình phát triển du lịch, đồng thời hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước ở địa phương, thành lập Ban Quản lý Khu du lịch vùng Hồ Núi Cốc là đơn vị trực thuộc UBND tỉnh để thực hiện nhiệm vụ quản lý và phát triển Khu du lịch vùng Hồ Núi Cốc; công khai quy hoạch tổng thể, quy hoạch cụ thể phát triển khu du lịch; kiểm tra tình hình thực hiện các qui định của nhà nước; kiểm tra việc giữ gìn

an ninh trật tự cũng như việc bảo vệ, tôn tạo tài nguyên và môi trường trong khu du lịch; tổ chức cứu hộ cứu nạn Hoạt động của Ban quản lý Khu du lịch vùng Hồ Núi Cốc trong thời gian qua đã thể hiện được vai trò quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn vùng Hồ Núi Cốc, từng bước tạo ra sự đồng bộ trong công tác phối hợp thực hiện nhiệm vụ quản lý phát triển du lịch vùng Hồ Núi Cốc có hiệu quả Bên cạnh đó tỉnh Thái Nguyên cũng đã thành lập Hội du lịch, Ban chấp hành Hội du lịch tỉnh Thái Nguyên cũng đã xây dựng quy chế hoạt động và Kế hoạch hoạt động hàng năm qua công tác triển khai cụ thể hàng năm, phân công và chỉ đạo các hội viên có trách nhiệm đưa kế hoạch triển khai chương trình phát triển du lịch vào kế hoạch chung của hội, của từng đơn vị tạo ra sự tin tưởng thống nhất cao, phối hợp thực hiện chương trình có hiệu quả (phụ lục 2: Sơ đồ hệ thống quản lý nhà nước về lĩnh vực du lịch tỉnh Thái Nguyên)

2.2.1.2 Tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch tự nhiên

Khu du lịch sinh thái vùng Hồ Núi cốc tỉnh Thái nguyên nằm về phía tây nam cách trung tâm TP Thái Nguyên 15km Với diện tích 18.940,77ha (189,4km2), trong đó diện tích mặt hồ khoảng 2.500ha (25km2) nằm ở giữa Vùng du lịch Hồ

Trang 38

nằm giữa một khung cảnh thiên nhiên kỳ thú, sơn thuỷ hữu tình được thiên nhiên ưu

ái khí hậu trong lành mát mẻ, Khu du lịch vùng Hồ Núi Cốc được bao bọc bởi Dãy Tam Đảo kéo dài từ Tây Bắc xuống Đông Nam; Dải Ngân Sơn chạy từ Bắc Kạn đến huyện Võ Nhai ở phía Đông Nam-Đông Bắc; Dãy Bắc Sơn chạy theo hướng Đông Bắc-Tây Nam Ba dãy núi cao có chức năng như tấm chắn gió Khu du lịch vùng Hồ Núi Cốc trong mùa đông không phải hứng chịu những kiểu thời tiết giá buốt Đây là một yếu tố vô cùng thuận lợi cho việc phát triển du lịch tại đây

Mặt hồ trải rộng 25km2 với 89 hòn đảo lớn nhỏ, mỗi đảo có một đặc trưng về cảnh quan thiên nhiên, hệ động thực vật cũng như các di tích văn hóa lịch sử riêng

có Xung quanh hồ là những dãy núi, cây rừng bao phủ và những đồi chè xanh mướt nhấp nhô tạo nên một bức tranh thiên nhiên sơn thủy hữu tình phảng phất một chút màu huyền thoại Trong phạm vi vùng Hồ Núi Cốc với tổng diện tích rừng là 6.146,5ha đã đem lại hiệu quả kinh tế cao cho khu vực Hệ sinh thái thực vật có 130 loài, 344 chi với 49 loài tiêu biểu Bao gồm các rừng cây lá tràm, rừng cây tai tượng, rừng cây bạch đàn trắng, vườn cây ăn quả, cây công nghiệp chè và các thảm thực vật khác

Hiện nay tại các khu rừng phía Tây và Nam hồ, vùng rừng giáp chân núi Tam Đảo có 7 bộ, 21 họ, 58 loài Với các loài chim, thú quý hiếm như họ nhà Cầy, Hươu Nai, họ Bồ Nông, họ Hạc Đặc biệt Hồ Núi Cốc có hệ sinh thái dưới nước rất phong phú như các loài cá, các loài phù du động vật, các loài phù du thực vật

Hệ sinh thái tại Hồ Núi Cốc đang được phục hồi nhờ có các dự án, thực hiện đúng đắn chính sách trồng rừng, giao rừng và ý thức bảo vệ hệ sinh thái của người dân Đây là yếu tố vô cùng quan trong việc phát triển hệ sinh thái trong khu vực Hồ Núi Cốc giống như một chiếc gương khổng lồ soi chiếu tất cả mọi vật, tạo nên cảnh sắc huyền ảo lung linh lúc ẩn lúc hiện Đứng trước hồ, người ta có thể cảm nhận được sự mênh mông của nước hồ, sự bao la của đất trời Đây là địa điểm lý tưởng

để nghỉ ngơi, thư giãn, vui chơi giải trí, vui chơi có thưởng, cũng như cho các tour

du lịch sinh thái, khám phá Đây cũng là địa điểm lý tưởng cho việc phát triển sân Golf, các khu Resort, biệt thự nghỉ dưỡng và các khu dịch vụ cao cấp ven hồ

Trang 39

Bên cạnh đó, vùng chè Tân Cương nổi tiếng được coi là một phần của nền văn hóa Thái Nguyên và Việt Nam với ngút ngàn một màu xanh của núi rừng, của những đồi chè, của các khu sinh thái ẩm thực đầy tiềm năng Huyền thoại Hồ Núi Cốc, văn hóa vùng chè, đền Bà Chúa thượng ngàn, Chùa Thác vàng, chùa Thiên Tây chúc, Chùa Thượng và Đảo chùa, cùng các di tích văn hóa lịch sử khác trong vùng Hồ Núi Cốc là cơ sở để phát triển các tour du lịch văn hóa, tâm linh đậm đà bản sắc dân tộc

- Các điểm du lịch hấp dẫn đang hoạt động trong vùng Hồ Núi Cốc bao gồm: + Khu vực hồ lướt sóng;

+ Khu nghỉ dưỡng sinh thái - ẩm thực và hoạt động thể thao giải trí;

+ Tham quan các đảo, bán đảo trong và xung quanh hồ;

+ Khách sạn, nhà nghỉ, các trung tâm thư giãn;

+ Núi, suối và rừng tự nhiên xung quanh hồ và khu vực ven Tam Đảo;

+ Cảnh quan thiên nhiên xung quanh và trong hồ với 89 hòn đảo;

+ Đền Bà Chúa thượng ngàn; Chùa Thác vàng; Chùa Thiên tây chúc; Chùa Thượng và Đảo chùa, các di tích văn hóa lịch sử;

+ Khu vực trồng và sản xuất chè đặc sản với không gian văn hóa Trà Tân Cương đã được phê duyệt quy hoạch và đầu tư phát triển

+ Hệ thống các hang động nhân tạo được xây dựng trên diện tích 3.000m2với công viên nước, huyền thoại cung, thế giới âm phủ, công viên thú và các dịch

vụ vui chơi giải trí khác

Trang 40

Biểu 2.6: Hiện trạng công suất phòng buồng các cơ sở lưu trú trong Khu du

lịch vùng Hồ Núi Cốc

CƠ SỞ LƯU TRÚ

Số phòng (Phòng)

Số giường (Giường)

Tổng cộng các cơ sở lưu trú trong vùng Hồ Núi Cốc có

tổng công suấtbao gồm:

404 phòng 736 giường

(Nguồn: Ban Quản lý Khu du lịch vùng Hồ Núi Cốc và điều tra khảo sát)

Ngày đăng: 13/05/2014, 22:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
21. Trần Nhạn(1996), Du lịch và Kinh doanh du lịch, NXB Văn Hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch và Kinh doanh du lịch
Tác giả: Trần Nhạn
Nhà XB: NXB Văn Hoá
Năm: 1996
22. Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2003), Thị trường, Chiến lược, Cơ cấu, NXB TPHCM, TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường, Chiến lược, Cơ cấu
Tác giả: Tôn Thất Nguyễn Thiêm
Nhà XB: NXB TPHCM
Năm: 2003
23. Tổng cục Du lịch (1998), Marketing trong lĩnh vực lữ hành và khách sạn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing trong lĩnh vực lữ hành và khách sạn
Tác giả: Tổng cục Du lịch
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1998
25. Tỉnh ủy - Hội đồng nhân dân - UBND tỉnh Thái Nguyên (2009), Địa chí Thái Nguyên, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Thái Nguyên
Tác giả: Tỉnh ủy - Hội đồng nhân dân - UBND tỉnh Thái Nguyên
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2009
26. Tìm trong di sản văn hóa Việt Nam, Thăng Long - Hà Nội (2002), NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm trong di sản văn hóa Việt Nam, Thăng Long - Hà Nội
Tác giả: Tìm trong di sản văn hóa Việt Nam, Thăng Long - Hà Nội
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2002
28. UBND tỉnh Thái Nguyên (2009), Đề án phát triển du lịch Thái Nguyên (2009-2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án phát triển du lịch Thái Nguyên (2009-2015)
Tác giả: UBND tỉnh Thái Nguyên
Năm: 2009
30. Vũ Đức Minh (2000), Tổng quan về du lịch, NXB Giáo dục, Hà Nội 31. www. world-toursim.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về du lịch
Tác giả: Vũ Đức Minh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
18. Quốc hội nước CHXHCNVN (2005), Luật Du lịch Việt Nam Khác
19. Sở GDĐT Thái Nguyên (1999), Địa lý tỉnh Thái Nguyên Khác
20. Sở VHTT Thái Nguyên (2003), Thái Nguyên đất và người Khác
24. Tổng cục Du lịch (2006), Chương trình hành động quốc gia về du lịch, Hà Nội Khác
27. UBND tỉnh Thái Nguyên (2006), Quy hoạch phát triển du lịch Thái Nguyên điều chỉnh, bổ sung đến năm 2010, định hướng đến năm 2015 và tầm nhìn chiến lược đến năm 2020 Khác
29. UBND Tỉnh Thái Nguyên (2010), Thuyết minh tổng hợp Đồ án quy hoạch xây dựng vùng du lịch quốc gia Hồ Núi Cốc tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ HỆ THỐNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC  NGÀNH DU LỊCH TỈNH THÁI NGUYÊN - Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của khu du lịch sinh thái hồ núi cốc tỉnh thái nguyên
SƠ ĐỒ HỆ THỐNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC NGÀNH DU LỊCH TỈNH THÁI NGUYÊN (Trang 97)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w